Công nghệ thông tin từ cuối thế kỷ 20 cho đến nay đã có những sự phát triển hết sức mạnh mẽ, nó có tác động đến toàn bộ đời sống của con người. Hiện tại, nó đã được ứng dụng trong rất nhiều quốc gia, nhiều ngành, nhiều tổ chức,… Chính vì những ứng dụng này đã làm cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý,… của con người trở nên hết sức dễ dàng và tiện lợi. Công nghệ thông tin ngày càng khẳng định vai trò của mình trong đời sống của con người.Hiện nay, ở nước ta, công nghệ thông tin đã không còn xa lạ mà trái lại nó đang được ứng dụng rộng rãi trong các ngành, các tổ chức và rất nhiều lĩnh vực.Ngân hàng – Tài chính là một trong những ngành đang được đầu tư để ứng dụng công nghệ thông tin nhiều nhất hiện nay đặc biệt là trong hệ thống nghiệp vụ của nó. Hệ thống nghiệp vụ của ngân hàng thường rất phức tạp và đòi hỏi phải có hệ thống lưu trữ, quản lý, bảo mật rất cao.Trước kia các công việc lưu trữ, quản lý của các ngân hàng là hết sức khó khăn, thêm nữa để lưu trữ, quản lý thông tin tốt đòi hỏi rất nhiều chi phí và thời gian. Nhưng ngày nay, do ứng dụng công nghệ thông tin nên hầu hết các công việc này lại trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, một trong bốn ngân hàng quốc doanh lớn nhất Việt Nam hiện nay và là một ngân hàng có sự ứng dụng Công nghệ thông tin một cách mạnh mẽ vào các hoạt của mình. Đầu tư tiền gửi là một loại hình đặc thù của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam với các khách hàng (Khách hàng chủ yếu là các Ngân hàng khác). Để loại hình đầu tư này đạt hiệu quả cao, cần phải có hệ thống lưu trữ, quản lý, theo dõi, các khoản tiền đầu tư. Trên cơ sở các quy tắc nghiệp vụ được phòng kinh doanh tiền tệ đưa ra, em đã lựa chọn đề tài “Xây dựng hệ thống thông tin quản lý đầu tư tiền gửi của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” nhằm mục đích đảm bảo quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi của toàn bộ hệ thống với quy mô hàng trăm triệu USD.Chương trình quản lý đầu tư tiền gửi có ứng dụng của tin học sẽ trợ giúp cho cán bộ phòng kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam quản lý mọi thông tin, những hoạt động chuyên môn một cách dễ dàng, nhanh chóng, chính xác. Bố cục của luận văn tốt nghiệp bao gồm:Lời mở đầuChương I: Tổng quan về cơ sở thực tậpChương này trình bày các vấn đề tổng quan về cơ sở thực tập (Trung tâm công nghệ thông tin Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam) và nêu ra vấn đề sơ bộ lý do chọn đề tài.Chương II: Cơ sở phương pháp luậnChương này nêu một cách chọn lọc các cơ sở, phương pháp luận cơ bản để nghiên cứu đề tài.Chương III: Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin quản lý đầu tư tiền gửi của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt NamChương này trình bày các vấn đề quan trọng nhất của việc nghiên cứu đề tài: Phân tích chi tiết hệ thống, thiết kế cơ sở dữ liệu, thiết kế module chương trình, thuật toán xử lý, thiết kế các màn hình giao diện.Kết luậnTài liệu tham khảoPhụ lục.Trong thời gian thực tập tốt nghiệp, mặc dù bản thân em đã có những cố gắng tuy nhiên do có sự hạn chế về thời gian và trình độ nên luận văn tốt nghiệp này không thể tránh khỏi những thiếu sót, cần phải hoàn thiện hơn nữa. Em rất mong được sự chỉ bảo, hướng dẫn của thầy cô và ý kiến đóng góp của bạn bè để luận văn tốt nghiệp này có thể hoàn thiện hơn nữa.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong khoảng thời gian thực tập tuy rất ngắn ngủi nhưng rất hữu ích cho em với thời gian như vậy em đã học hỏi và vận dụng rất nhiều các kiến thức đã được tiếp thu từ các thầy cô giáo trong suốt thời gian học đại học Trong quá trình thực tập, em đã được nhiều người trực tiếp hoặc gián tiếp tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên, chỉ bảo và hướng dẫn em hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Trước hết, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn ThS Nguyễn Văn Thư - Giảng viên khoa Tin học kinh tế, trường Đại học Kinh tế Quốc dân
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn tốt nghiệp này Đồng thời, em cũng xin cảm
ơn các thầy cô giáo trong khoa Tin học kinh tế đã giảng dạy em trong quá trình học tập.
Em xin cảm ơn các cán bộ Trung tâm công nghệ thông tin Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, đặc biệt là chị Nguyễn Thị Bích Ngọc là cán
bộ hướng dẫn trực tiếp em trong thời gian thực tập tại cơ quan, chị đã chỉ bảo tận tình và tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ em trong quá trình thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Công nghệ thông tin từ cuối thế kỷ 20 cho đến nay đã có những sự phát triển hết sức mạnh mẽ, nó có tác động đến toàn bộ đời sống của con người Hiện tại, nó đã được ứng dụng trong rất nhiều quốc gia, nhiều ngành, nhiều
tổ chức,… Chính vì những ứng dụng này đã làm cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý,… của con người trở nên hết sức dễ dàng và tiện lợi Công nghệ thông tin ngày càng khẳng định vai trò của mình trong đời sống của con người.
Hiện nay, ở nước ta, công nghệ thông tin đã không còn xa lạ mà trái lại
nó đang được ứng dụng rộng rãi trong các ngành, các tổ chức và rất nhiều lĩnh vực.
Ngân hàng – Tài chính là một trong những ngành đang được đầu tư để ứng dụng công nghệ thông tin nhiều nhất hiện nay đặc biệt là trong hệ thống nghiệp vụ của nó Hệ thống nghiệp vụ của ngân hàng thường rất phức tạp và đòi hỏi phải có hệ thống lưu trữ, quản lý, bảo mật rất cao.
Trước kia các công việc lưu trữ, quản lý của các ngân hàng là hết sức khó khăn, thêm nữa để lưu trữ, quản lý thông tin tốt đòi hỏi rất nhiều chi phí
và thời gian Nhưng ngày nay, do ứng dụng công nghệ thông tin nên hầu hết các công việc này lại trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, một trong bốn ngân hàng quốc doanh lớn nhất Việt Nam hiện nay và là một ngân hàng có sự ứng dụng Công nghệ thông tin một cách mạnh mẽ vào các hoạt của mình.
Đầu tư tiền gửi là một loại hình đặc thù của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam với các khách hàng (Khách hàng chủ yếu là các Ngân hàng
Trang 3khác) Để loại hình đầu tư này đạt hiệu quả cao, cần phải có hệ thống lưu trữ, quản lý, theo dõi, các khoản tiền đầu tư Trên cơ sở các quy tắc nghiệp
vụ được phòng kinh doanh tiền tệ đưa ra, em đã lựa chọn đề tài “Xây dựng
hệ thống thông tin quản lý đầu tư tiền gửi của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” nhằm mục đích đảm bảo quản lý và sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn nhàn rỗi của toàn bộ hệ thống với quy mô hàng trăm triệu USD Chương trình quản lý đầu tư tiền gửi có ứng dụng của tin học sẽ trợ giúp cho cán bộ phòng kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam quản lý mọi thông tin, những hoạt động chuyên môn một cách
dễ dàng, nhanh chóng, chính xác
Bố cục của luận văn tốt nghiệp bao gồm:
Lời mở đầu
Chương I: Tổng quan về cơ sở thực tập
Chương này trình bày các vấn đề tổng quan về cơ sở thực tập (Trung tâm công nghệ thông tin Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam) và nêu ra vấn đề sơ bộ lý do chọn đề tài.
Chương II: Cơ sở phương pháp luận
Chương này nêu một cách chọn lọc các cơ sở, phương pháp luận cơ bản
để nghiên cứu đề tài.
Chương III: Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin quản lý đầu tư tiền gửi của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Chương này trình bày các vấn đề quan trọng nhất của việc nghiên cứu
đề tài: Phân tích chi tiết hệ thống, thiết kế cơ sở dữ liệu, thiết kế module chương trình, thuật toán xử lý, thiết kế các màn hình giao diện.
Trang 4gắng tuy nhiên do có sự hạn chế về thời gian và trình độ nên luận văn tốt nghiệp này không thể tránh khỏi những thiếu sót, cần phải hoàn thiện hơn nữa Em rất mong được sự chỉ bảo, hướng dẫn của thầy cô và ý kiến đóng góp của bạn bè để luận văn tốt nghiệp này có thể hoàn thiện hơn nữa.
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP1.1 NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM.
1.1.1 Giới thiệu chung.
Tên đầy đủ: Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam
Tên giao dịch quốc tế: Bank for Investment and Development of
Vietnam
Địa chỉ: Tháp A, toà nhà VINCOM, 191 Bà Triệu, Quận
Hai Bà Trưng, Hà Nội
Trang 5Email: bidv@hn.vnn.vn
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (Bank for Investment andDevelopment of Vietnam – BIDV) là một trong bốn ngân hàng thương mạiNhà nước lớn nhất ở Việt Nam được hình thành sớm nhất và lâu đời nhất.Ngân hàng được thành lập theo quyết định 177/TTg ngày 26/04/1957 của Thủtướng chính phủ Trong quá trình hoạt động, Ngân hàng đã được mang tên gọikhác nhau phù hợp với từng thời kỳ xây dựng và phát triển của đất nước
1.1.2.1 Thời kỳ Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam (1975 - 1980)
Ngày 26/4/1957, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam (trực thuộc Bộ Tàichính) là tiền thân của Ngân hàng ĐT&PTVN - được thành lập theo quyếtđịnh 177/TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ Quy mô ban đầugồm 8 chi nhánh, 200 cán bộ
Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Kiến thiết là thực hiện cấp phát, quản
lý vốn kiến thiết cơ bản từ nguồn vốn ngân sách cho tất các các lĩnh vực kinh
Trang 6đọng và lãng phí vốn, có tác dụng góp phần vào việc thăng bằng thu chi, tạothuận lợi cho việc quản lý thị trường, giữ vững giá cả
Giai đoạn 1965-1975
Giai đoạn này, Ngân hàng Kiến thiết đã cùng với nhân dân cả nước thựchiện nhiệm vụ xây dựng cơ bản thời chiến, cung ứng vốn kịp thời cho cáccông trình phòng không, sơ tán, di chuyển các xí nghiệp công nghiệp quantrọng, cấp vốn kịp thời cho công tác cứu chữa, phục hồi và đảm bảo giaothông thời chiến, xây dựng công nghiệp địa phương
Giai đoạn 1975- 1980
Ngân hàng Kiến thiết đã cùng nhân dân cả nước khôi phục và hàn gắnvết thương chiến tranh, tiếp quản, cải tạo và xây dựng các cơ sở kinh tế ởmiền Nam, xây dựng các công trình quốc kế dân sinh mới trên nền đổ nátcủa chiến tranh Hàng loạt công trình mới được mọc lên trên một nửa đấtnước vừa được giải phóng: các rừng cây cao su, cà phê mới ở Tây Nguyên,Đông Nam Bộ và Quảng Trị; Hồ thuỷ lợi Dầu Tiếng (Tây Ninh), Phú Ninh(Quảng Nam),…
Ngân hàng Kiến thiết đã cung ứng vốn cho các công trình công nghiệp,nông nghiệp, giao thông vận tải, công trình phúc lợi và đặc biệt ưu tiên vốn
Trang 7cho những công trình trọng điểm, then chốt của nền kinh tế quốc dân, gópphần đưa vào sử dụng 358 công trình lớn trên hạn ngạch Trong đó có nhữngcông trình quan trọng như: Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đài truyền hình ViệtNam, 3 tổ máy của nhà máy nhiệt điện Phả Lại, 2 Nhà máy xi măng Bỉm Sơn
Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng là cấp phát, chovay và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tất cả các lĩnh vực của nền kinh tếthuộc kế hoạch nhà nước
Việc ra đời Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam có ý nghĩa quantrọng trong việc cải tiến các phương pháp cung ứng và quản lý vốn đầu tư cơbản, nâng cao vai trò tín dụng phù hợp với khối lượng vốn đầu tư cơ bản tănglên và nhu cầu xây dựng phát triển rộng rãi Chỉ sau một thời gian ngắn, Ngânhàng Đầu tư và Xây dựng đã nhanh chóng ổn định công tác tổ chức từ TrungƯơng đến cơ sở, đảm bảo các hoạt động cấp phát và tín dụng đầu tư cơ bảnkhông bị ách tắc Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng đảm bảo cung ứng vốn lưuđộng cho các tổ chức xây lắp, khuyến khích các đơn vị xây lắp đẩy nhanh tiến
độ xây dựng, cải tiến kỹ thuật, mở rộng năng lực sản xuất, tăng cường chế độhạch toán kinh tế
Trong khoảng từ 1981- 1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam
đã từng bước vượt qua khó khăn, hoàn thiện các cơ chế nghiệp vụ, tiếp tụckhẳng định để đứng vững và phát triển Đây cũng là thời kỳ ngân hàng đã cóbước chuyển mình theo định hướng của sự nghiệp đổi mới của cả nước nói
Trang 8chung và ngành ngân hàng nói riêng, từng bước trở thành một trong các ngânhàng chuyên doanh hàng đầu trong nền kinh tế
Thời kỳ này đã hình thành và đưa vào hoạt động hàng loạt những côngtrình to lớn có “ý nghĩa thế kỷ” của đất nước, cả trong lĩnh vực sản xuất lẫntrong lĩnh vực sự nghiệp và phúc lợi như: công trình thủy điện Sông Đà, cầuThăng Long, cầu Chương Dương, cảng Chùa Vẽ, nhà máy xi măng HoàngThạch, nhà máy xi măng Bỉm Sơn, nhà máy đóng tàu Hạ Long,
1.1.2.3 Thời kỳ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (1990 2007)
Ngày 14/11/1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được đổitên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo Quyết định số 401-
CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đây là thời kỳ thực hiện đường lối đổimới của Đảng và Nhà nước, chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơchế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Nhiệm vụ của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thay đổi
cơ bản: Tiếp tục nhận vốn ngân sách để cho vay các dự án thuộc chỉ tiêu kếhoạch nhà nước; Huy động các nguồn vốn trung dài hạn để cho vay đầu tưphát triển; kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng chủ yếu tronglĩnh vực xây lắp phục vụ đầu tư phát triển Trong thời kỳ này gồm có 2 giaiđoạn phát triển:
Giai đoạn 1990 - 2000
Nhờ việc triển khai đồng bộ các giải pháp nên kết quả hoạt động của giaiđoạn này cũng rất khả quan, được thể hiện trên các mặt sau:
* Tự lo vốn để phục vụ đầu tư phát triển
BIDV đã chủ động, sáng tạo, đi đầu trong việc áp dụng các hình thứchuy động nguồn vốn bằng VNĐ và ngoại tệ Ngoài các hình thức huy động
Trang 9vốn trong nước, BIDV còn huy động vốn ngoài nước, tranh thủ tối đa nguồnvốn nước ngoài thông qua nhiều hình thức vay vốn khác nhau như vay thươngmại, vay hợp vốn, vay qua các hạn mức thanh toán, vay theo các hiệp địnhthương mại, vay hợp vốn dài hạn, vay tài trợ xuất nhập khẩu, đồng tài trợ vàbảo lãnh
* Phục vụ đầu tư phát triển theo đường lối Công nghiệp hóa- hiện đại
hóa
Mười năm đổi mới, với nguồn vốn huy động được thông qua nhiều hìnhthức, BIDV đã tập trung đầu tư cho những chương trình lớn, những dự ántrọng điểm, các ngành then chốt của nền kinh tế như: Ngành điện lực, Bưuchính viễn thông, Các khu công nghiệp với doanh số cho vay đạt 35.000 tỷ
* Hoàn thành các nhiệm vụ đặc biệt
Thực hiện chủ trương của Chính phủ về đẩy mạnh và phát triển mạnh mẽhơn nữa quan hệ hợp tác toàn diện về kinh tế, thương mại và đầu tư giữa ViệtNam và Lào, BIDV đã nỗ lực phối hợp với Ngân hàng Ngoại thương Làonhanh chóng thành lập Ngân hàng liên doanh Lào - Việt
* Kinh doanh đa năng, tổng hợp theo chức năng của Ngân hàng thương mại
Trong giai đoạn này, nhất là từ năm 1996, Ngân hàng Đầu tư và Pháttriển Việt Nam đã hoạch định chiến lược phát triển vừa nỗ lực cao nhất phục
vụ đầu tư phát triển, vừa tập trung nguồn lực để nghiên cứu, xây dựng và hìnhthành các sản phẩm, dịch vụ mới, từng bước xoá thế “độc canh tín dụng”trong hoạt động ngân hàng Phát triển mạnh mẽ các dịch vụ như thanh toánquốc tế, thanh toán trong nước, bảo lãnh, chuyển tiền kiều hối… từng bướcđiều chỉnh cơ cấu nguồn thu theo hướng tăng dần tỷ trọng thu từ dịch vụ vàkinh doanh tiền tệ liên ngân hàng
Trang 10* Xây dựng ngành vững mạnh
Từ chỗ chỉ có 8 chi nhánh và 200 cán bộ khi mới thành lập, trải quanhiều giai đoạn phát triển thăng trầm, sát nhập, chia tách, BIDV đã tiến mộtbước dài trong quá trình phát triển, tự hoàn thiện mình Đặc biệt trong 10 nămđổi mới và nhất là từ 1996 đến nay cơ cấu tổ chức và quản lý, mạng lưới hoạtđộng đã phát triển mạnh mẽ phù hợp với mô hình Tổng công ty nhà nước
* Đổi mới công nghệ ngân hàng để nâng cao sức cạnh tranh
Trong 10 năm đổi mới Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã cóbước phát triển mạnh mẽ về công nghệ từ không đến có, từ thủ công đến hiệnđại Công nghệ tin học được ứng dụng và phát huy hiệu quả trong các nghiệp
vụ thanh toán quốc tế, thanh toán trong nước, huy động vốn, quản lý tín dụng,kinh doanh tiền tệ và quản trị điều hành Các sản phẩm mới như HomeBanking, ATM… được thử nghiệm và thu được kết quả khả quan Những tiến
bộ về công nghệ ngân hàng đã góp phần quan trọng vào kết quả và sự pháttriển của BIDV trong 10 năm đổi mới
Giai đoạn đổi mới và hội nhập (2000 – 2007)
Sau những năm thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng Để tạo đượcnhững bước bứt phá trong xu thế mới, BIDV đã chủ động thực hiện nhiềubiện pháp cải cách, trong đó có việc triển khai Đề án Cơ cấu lại Sau 5 nămthực hiện Đề án cơ cấu lại (2001 – 2005) và thực hiện các cải cách khác trongnăm 2006, 2007 đã tạo ra bước chuyển biến căn bản về chất trong hoạt độngcủa BIDV, làm tiền đề cho giai đoạn phát triển mới Những thành quả đóđược thể hiện trên một số bình diện sau đây:
* Quy mô tăng trưởng và năng lực tài chính được nâng cao
Trang 11Đến 30/6/2007, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã đạt mộtquy mô hoạt động vào loại khá, với tổng tài sản đạt hơn 202.000 tỷ đồng, quy
mô hoạt động của NHĐT&PTVN tăng gấp 10 lần so với năm 1995
BIDV vẫn tiếp tục phát huy vai trò phục vụ đầu tư phát triển bằng việc
ký kết các thoả thuận hợp tác toàn diện cùng phát triển bền vững với hơn 20Tổng Công ty lớn BIDV đã và đang ngày càng nâng cao được uy tín về cungứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đồng bộ cho lực lượng “chủ công” nàycủa nền kinh tế đồng thời khẳng định giá trị của thương hiệu BIDV trong lĩnhvực phục vụ các dự án, chương trình lớn của đất nước Bên cạnh tăng cườngcác quan hệ hợp tác với các “quả đấm thép” của nền kinh tế, BIDV cũng đãchú trọng đến việc mở rộng khách hàng là doanh nghiệp ngoài quốc doanh,doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nềnkhách hàng đã đa dạng hơn cả về loại hình sở hữu và ngành nghề
* Cơ cấu lại hoạt động theo hướng hợp lý hơn
BIDV đã tích cực chuyển dịch cơ cấu khách hàng để giảm tỷ trong dư nợtín dụng trong khách hàng doanh nghiệp Nhà nước và hướng tới đối tượngkhách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp ngoài quốc doanh
BIDV cũng tích cực chuyển dịch cơ cấu tín dụng, giảm bớt tỷ trọng chovay trung dài hạn, chuyển sang tập trung nhiều hơn cho các khoản tín dụngngắn hạn BIDV cũng chú trọng phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại,nhằm tăng thu dịch vụ trên tổng nguồn thu của ngân hàng
* Lành mạnh hóa tài chính và năng lực tài chính tăng lên rõ rệt
BIDV đã chủ động thực hiện minh bạch và công khai các hoạt động kinhdoanh, là ngân hàng đi tiên phong trong việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế
Từ 1996, BIDV liên tục thực hiện kiểm toán quốc tế độc lập và công bố kếtquả báo cáo Năm 2006, BIDV cũng là ngân hàng đầu tiên thuê Tổ chức định
Trang 12hạng hàng đầu thế giới Moody’s thực hiện định hạng tín nhiệm cho BIDV vàđạt mức trần quốc gia Với sự tư vấn của Earns & Young, BIDV đã triển khaithực hiện xếp hạng tín dụng nội bộ theo điều 7 Quyết định 493 phù hợp vớichuẩn mực quốc tế và được NHNN công nhận
* Đầu tư phát triển công nghệ thông tin
Nhận thức công nghệ Thông tin hiện đại là nền tảng cho hoạt động củamột ngân hàng hiện đại, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ và sức mạnh
cạnh tranh của BIDV trên thị trường, BIDV đã hiện đại hóa công nghệ bằng
việc hoàn thành triển khai dự án hiện đại hoá giai đoạn I, Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển đã xây dựng được nền móng công nghệ cơ bản cho một ngânhàng hiện đại đa năng, tạo ra bước phát triển mới về chất lượng dịch vụ, tiếntới trình độ của các ngân hàng trong khu vực BIDV đã gia tăng hơn 40 sảnphẩm, dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao, thoả mãn được các nhu cầu củakhách hàng Bên cạnh đó, hiện đại hoá cũng mở ra những cơ hội mới chocông tác quản trị điều hành hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo hướngtập trung, minh bạch, hiệu quả và kịp thời
* Đầu tư, tạo dựng tiềm lực cơ sở vật chất và mở rộng kênh phân phối sản phẩm:
Xác định tầm quan trọng của việc xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, ương xứng với tầm vóc, quy mô và vị thế hoạt động của ngân hàng Trongnăm 2004 - 2005, BIDV đã thực hiện triển khai một cách bài bản quy hoạch
t-và có kế hoạch đầu tư hệ thống tháp Văn phòng BIDV với tổng diện tích sàntrên 600.000m2, vận hành dự án BIDV Tower tại 194 Trần Quang Khải, Hànội
Với mục tiêu phát triển mạng lưới, kênh phân phối để tăng trưởng hoạtđộng, là cơ sở, nền tảng để triển khai các hoạt động kinh doanh, cung cấp các
Trang 13sản phẩm, dịch vụ đồng thời nâng cao hiệu quả quảng bá và khẳng định ơng hiệu của ngân hàng Đến nay BIDV đã có 103 chi nhánh cấp 1 với gần
thư-200 phòng giao dịch trên toàn quốc
* Không ngừng đầu tư cho chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực:
BIDV luôn quan tâm thoả đáng tới đời sống vật chất, tinh thần của ngườilao động Bên cạnh việc tiếp tục bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nòng cốt chongành, đào tạo và đào tạo lại cán bộ, BIDV đã liên tục tuyển dụng nguồnnhân lực trẻ có tri thức và kỹ năng đáp ứng các yêu cầu của hội nhập Toàn hệthống đã thực thi một chính sách sử dụng lao động tương đối đồng bộ, trảcông xứng đáng với năng lực và kết quả làm việc của mỗi cá nhân đồng thờitạo ra môi trường làm việc cạnh tranh có văn hoá, khuyến khích được sứcsáng tạo của các thành viên…
* Tiếp tục mở rộng và nâng tầm quan hệ đối ngoại lên tầm cao mới
Song song với việc tiếp tục duy trì các mối quan hệ truyền thống với cácđịnh chế tài chính, các tổ chức ngân hàng quốc tế, trong một vài năm trở lạiđây, BIDV đã bắt đầu mở rộng quan hệ hợp tác sang thị trường mới Các hoạtđộng thanh toán quốc tế cũng đã đạt được những bước tiến đáng kể
Liên tục trong 5 năm từ 2001- 2005, BIDV đều được các ngân hàng lớn
trên thế giới trao tặng chứng nhận Chất lượng thanh toán qua SWIFT tốt nhất
của Citibank, HSBC, Bank of new york, Amex…
* Chuẩn bị tốt các tiền đề cho Cổ phần hóa BIDV:
BIDV đã chủ động xây dựng Đề án cổ phần hóa BIDV, trình và đượcChính phủ chấp thuận Nỗ lực nâng cao năng lực tài chính bằng việc pháthành 3.200 tỷ đồng trái phiếu tăng vốn cấp 2; minh bạch hóa hoạt động kinhdoanh với việc thực hiện và công bố kết quả kiểm toán quốc tế; Thực hiện
Trang 14định hạng tín nhiệm và đạt mức trần quốc gia do Moody’s đánh giá;…
* Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để phát triển theo mô hình Tập đoàn:
Được sự chấp thuận của Chính phủ, BIDV đang xây dựng đề án hìnhthành Tập đoàn Tài chính với 4 trụ cột là Ngân hàng – Bảo hiểm – Chứngkhoán – Đầu tư Tài chính trình Thủ tướng xem xét và quyết định
Ghi nhận những đóng góp của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Namqua các thời kỳ, Đảng và Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
đã tặng BIDV nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quý: Huân chương Độclập hạng Nhất, hạng Ba; Huân chương Lao động Nhất, hạng Nhì, hạng Ba;Danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, Huân chương Hồ Chí Minh,…
1.1.3 Quy mô của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là doanh nghiệp Nhà nướchạng đặc biệt, được tổ chức hoạt động theo mô hình Tổng công ty Nhà nước.Tính đến 30/6/2007, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã đạt mộtquy mô hoạt động vào loại khá, với tổng tài sản đạt hơn 202.000 tỷ đồng, quy
mô hoạt động của NHĐT&PTVN tăng gấp 10 lần so với năm 1995
BIDV vẫn tiếp tục phát huy vai trò phục vụ đầu tư phát triển bằng việc
ký kết các thoả thuận hợp tác toàn diện cùng phát triển bền vững với hơn 20Tổng Công ty lớn BIDV đã và đang ngày càng nâng cao được uy tín về cungứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đồng bộ cho lực lượng “chủ công” nàycủa nền kinh tế đồng thời khẳng định giá trị của thương hiệu BIDV trong lĩnhvực phục vụ các dự án, chương trình lớn của đất nước Bên cạnh tăng cườngcác quan hệ hợp tác với các “quả đấm thép” của nền kinh tế, BIDV cũng đãchú trọng đến việc mở rộng khách hàng là doanh nghiệp ngoài quốc doanh,doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nền
Trang 15khách hàng đã đa dạng hơn cả về loại hình sở hữu và ngành nghề.
Từ ngày đầu thành lập, bộ máy tổ chức của ngân hàng mới chỉ có 8 chinhánh với trên 200 cán bộ công nhân viên Đến năm 1990 có 45 chi nhánh với
2000 cán bộ nhân viên Hiện nay, BIDV là một trong những ngân hàng cómạng lưới phân phối lớn nhất trong hệ thống các ngân hàng tại Việt Nam,chia thành 5 khối:
Trang 16Hình1.1: Sơ đồ hệ thống BIDV
Trang 17Khối kinh doanh: trong các lĩnh vực sau:
Ngân hàng thương mại:
+ 103 chi nhánh cấp 1 với gần 400 điểm giao dịch, hơn 700 máy ATM
và hàng chục ngàn điểm POS trên toàn phạm vi lãnh thổ, sẵn sàng phục vụmọi nhu cầu khách hàng
+ Trong đó có 2 đơn vị chuyên biệt là:
- Ngân hàng chỉ định thanh toán phục vụ thị trường chứng khoán (Nam
Kì Khởi Nghĩa)
- Ngân hàng bán buôn phục vụ làm đại lý ủy thác giải ngân nguồn vốnODA (Sở Giao dịch 3)
Chứng khoán: Công ty chứng khoán BIDV (BSC).
Bảo hiểm: Công ty Bảo hiểm BIDV (BIC): Gồm Hội sở chính và 10 chi
nhánh
Đầu tư – Tài chính:
+ Công ty Cho thuê Tài chính I, II; Công ty Đầu tư Tài chính (BFC),Công ty Quản lý Quỹ Công nghiệp và Năng lượng,
+ Các Liên doanh: Công ty Quản lý Đầu tư BVIM, Ngân hàng Liêndoanh VID Public (VID Public Bank), Ngân hàng Liên doanh Lào Việt(LVB), Ngân hàng Liên doanh Việt Nga (VRB), Công ty liên doanh ThápBIDV
Khối sự nghiệp:
- Trung tâm Đào tạo (BTC)
- Trung tâm Công nghệ thông tin (BITC)
Ban lãnh đạo:
Trang 18Cán bộ công nhân viên:
Hơn 10.200 người làm việc chuyên nghiệp, nghiêm túc và hiệu quả, đặc
biệt có kinh nghiệm trong lĩnh vực đầu tư phát triển, là thế mạnh cạnh tranhcủa BIDV
Trang 191.2 TRUNG TÂM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÂN HÀNG ĐẦU
TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM.
Trung tâm Công nghệ Thông tin Ngân hàng Đầu tư và Phát triển ViệtNam, được thành lập theo quyết định số 3049/QĐ-NHĐT-HĐQT ngày08/11/2001 của Hội đồng Quản trị Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.Tên tiếng Anh là Information Technology Centre of Bank for Investment andDevelopment of VietNam, viết tắt: BITC
Mô hình tổ chức:
Hình 1.2: Sơ đồ tổ chức của Trung tâm Công nghệ Thông tin
Trang 20tư và phát triển Việt Nam quy định.
Các phòng ban:
Phòng tổng hợp hành chính:
Thực hiện các công tác hành chính, lưu trữ giấy tờ, tài liệu, văn bản, hồ
sơ, công văn, quản lý con dấu
Thực hiện nghiêm ngặt chế độ bảo mật hiện hành về mặt nội dung vănbản, công văn giấy tờ đi, đến
Thực hiện các công tác quản lý nhân sự theo luật định
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Trung tâm công nghệ thôngtin ngân hàng quy định
Phòng dịch vụ kỹ thuật 1:
Sửa chữa, xử lý các sự cố kỹ thuật liên quan đến các sản phẩm phầnmềm ứng dụng
Bảo hành, bảo trì máy tính trong hệ thống ngân hàng
Thực hiện công tác triển khai các phương án kỹ thuật liên quan đến hệ
Trang 21 Phòng dịch vụ kỹ thuật 4:
Quản lý hệ thống máy chủ, hệ thống dữ liệu chuyên ngành ngân hàng
Tổ chức chỉ đạo thu thập, xử lý, liên kết các thông tin ngân hàng một cáchkhoa học, toàn vẹn, chính xác, nhanh chóng, an toàn
Phòng kế toán tài vụ:
Trang 22Thực hiện chức năng chi trả tiền lương cho cán bộ công nhân viên củaTrung tâm Công nghệ thông tin – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.Thực hiện các chế độ như: Bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội theo đúngnhư quy định của bộ tài chính.
Định kỳ tháng, đột xuất kiểm tra tồn kho quỹ tiền mặt với sổ sách
Thực hiện đúng các nguyên tắc về tài chính của bộ tài chính trong việcquản lý tài chính của cục công nghệ: lưu trữ, bảo quản chứng từ kế toán theođúng chế độ quy định
Tóm lại, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của các phòng cũng như chứcnăng và nhiệm vụ của các trưởng phòng và phó phòng đều do Giám đốcTrung tâm công nghệ thông tin Ngân hàng Đầu tư và phát triển quy định
Chức năng:
Trung tâm Công nghệ Thông tin có các chức năng và nhiệm vụ sau:
Tham mưu giúp việc cho Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc Ngânhàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong việc xây dựng và tổ chức thực hiệnchiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển công nghệ, nghiên cứu, ứngdụng công nghệ thông tin để phục vụ yêu cầu quản lý và phát triển hoạt độngnâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ
Đảm bảo hệ thống công nghệ thông tin của toàn hệ thống Ngân hàngĐầu tư và phát triển Việt Nam hoạt động liên tục, thông suốt và an toàn, phùhợp với chiến lược phát triển bền vững và hội nhập
Thực hiện các dịch vụ về công nghệ thông tin: phát triển, chuyển giao,triển khai, bảo dưỡng, bảo trì và sửa chữa phần cứng, phần mềm công nghệthông tin; tư vấn, cung cấp các giải pháp, sản phẩm công nghệ thông tin
Liên doanh, liên kết với các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực công
Trang 23nghệ thông tin về tư vấn, cung cấp, xây dựng và triển khai hệ thống ứng dụngtrong và ngoài hệ thống trong phạm vi được Ngân hàng Đầu tư và Phát triểnViệt Nam cho phép.
1.3 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI THỰC TẬP.
Đầu tư tiền gửi là một loại hình đặc thù của Ngân hàng Đầu tư và pháttriển Việt Nam với các khách hàng (Khách hàng chủ yếu là các Ngân hàngkhác) Để loại hình đầu tư này đạt hiệu quả cao, cần phải có hệ thống lưu trữ,quản lý, theo dõi, các khoản tiền đầu tư Trên cơ sở các quy tắc nghiệp vụđược phòng kinh doanh tiền tệ đưa ra, cần thiết phải xây dựng chương trìnhquản lý đầu tư tiền gửi để đáp ứng nhu cầu trên
Đề tài “Xây dựng hệ thống thông tin quản lý đầu tư tiền gửi của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” nhằm mục đích đảm bảo quản lý và sử
dụng có hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi của toàn bộ hệ thống với quy mô hàngtrăm triệu USD Đồng thời để hội nhập với mô hình hiện đại hoá, việc xâydựng chương trình quản lý vốn đầu tư tiền gửi là hết sức cần thiết…
Chương trình quản lý đầu tư tiền gửi hiện nay mới chỉ bước đầu hạn chếđược các công việc thủ công trong việc giao dịch và quản lý tiền gửi Với tốc
độ phát triển của Công nghệ thông tin cùng với sự đòi hỏi nhanh nhạy của thịtrường trong thời gian tới thì công việc đáp ứng của chương trình quản lý hiệnđang sử dụng vẫn còn nhiều bất cập, chưa có tính chuyên sâu, chưa có tínhtổng hợp phân tích
Chương trình được xây dựng gồm các việc:
Đảm bảo tính bảo mật của hệ thống quản lý đầu tư tiền gửi
Xây dựng hệ thống các phiếu giao dịch phản ánh các nghiệp vụ trênthị trường tiền tệ
Hệ thống báo cáo để quản lý các giao dịch đã thực hiện có tính tổng
Trang 24hợp cao.
Trang 25CHƯƠNG II
CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN
Để có thể phân tích và thiết kế một hệ thống thông tin hoàn hảo yêu cầu
ta phải nắm vững cơ sở phương pháp luận của nó Chính vì vậy việc hiểu vànắm rõ được những vấn đề cơ bản luôn là một điều kiện tiên quyết để phântích và thiết kế một hệ thống thông tin hoàn chỉnh Thêm vào đó việc chỉ racác phương pháp dùng để thiết kế sẽ giúp cho công việc thiết kế trở nên dễdàng hơn rất nhiều
2.1.1 Định nghĩa và các bộ phận cấu thành hệ thống thông tin
Hệ thống thông tin quản lý là sự tổ hợp của phần cứng, con người, phầnmềm, viễn thông, dữ liệu nhằm thu thập, xử lý, lưu trữ, phân phối thông tin đểphục vụ việc quản lý và hoạt động tác nghiệp trong một tổ chức
Nó được thực hiện bởi những con người, các thủ tục, dữ liệu và thiết bị
tin học hoặc không tin học Đầu vào (Inputs) của hệ thống thông tin được lấy
từ các nguồn (Sources) và được xử lý bởi hệ thống sử dụng nó cùng với các
dữ liệu đã được lưu trữ trước Kết quả xử lý (Outputs) được chuyển đến các đích (Destination) hoặc cập nhật vào kho lưu trữ dữ liệu (Storage).
Trang 26Hình 3: Mô hình hệ thống thông tin
Hệ thông thông tin bao gồm hai thành phần cơ bản: Các dữ liệu ghi nhậnthực trạng của doanh nghiệp và các xử lý cho phép biến đổi các dữ liệu
Các dữ liệu: Đó là các thông tin được lưu và duy trì nhằm phản ánh thựctrạng hiện thời hay quá khứ của doanh nghiệp Có thể tách các dữ liệu nàythành hai phần:
- Các dữ liệu phản ánh cấu trúc nội bộ cơ quan, như dữ liệu về nhân sự,nhà xưởng, thiết bị v.v Cấu trúc cơ quan không phải là cố định, mà có thể
có biến động khi có một sự kiện xảy ra (chẳng hạn khi một nhân viên thuyênchuyển, một thiết bị mới được bổ sung ) Sự kiện thường xảy ra bất chợt,ngoài ý muốn của con người Việc điều chỉnh lại các dữ liệu cho thích hợpkhi có một sự kiện xảy ra gọi là cập nhật
- Các dữ liệu phản ánh các hoạt động kinh doanh/ dịch vụ của cơ quan,như dữ liệu về sản xuất, mua bán, giao dịch v.v Hoạt động kinh doanh/ dịch
vụ biến đổi luồng vào/ra của doanh nghiệp có thể coi là chuỗi các sự việc sơđẳng, gọi là một tác nghiệp (operation - chẳng hạn nhận một lô hàng, hoànthành một mẻ sản phẩm, một đơn hàng tới, thanh toán một hóa đơn v.v ).Khi có một tác nghiệp xảy ra, sự kiện này cần được ghi nhận, và như vậy làmthay đổi các dữ liệu phản ánh các hoạt động kinh doanh/dịch vụ của doanhnghiệp
Các xử lý: Đó là những quá trình biến đổi thông tin, nhằm vào hai mụcđích chính:
- Sản sinh các thông tin theo thể thức quy định, chẳng hạn lập các chứng
từ giao dịch (đơn mua hàng, hóa đơn ), lập các báo cáo, lập các bản thống kêv.v
- Trợ giúp ra các quyết định, thông thường là cung cấp những thông tin
Trang 27cần thiết cho việc thực hiện lựa chọn một quyết định của lãnh đạo, nhưngcũng có thể là lựa chọn quyết định (một cách tự động), nếu đó là loại quyếtđịnh dựa trên giải thuật (khác với loại quyết định dựa trên trực giác).
Mỗi xử lý thường áp dụng một số quy tắc quản lý định sẵn và diễn ratheo một trật tự định sẵn (gọi là thủ tục) Các quy tắc quản lý và các thủ tục cóthể được ấn định bởi hệ thống lãnh đạo của doanh nghiệp, và như vậy có thểđiều chỉnh theo ý muốn (chẳng hạn các quy tắc tiêu thụ sản phẩm, phươngpháp phân phối các trợ cấp, các quy định về khuyến mãi ), cũng có thể được
ấn định từ bên ngoài doanh nghiệp, đặc biệt là bởi Nhà nước (ví dụ quy tắctính thuế VAT, cách tính lương và bảo hiểm xã hội v.v ) và như vậy doanhnghiệp không được tùy tiện thay đổi
Đầu vào của một xử lý có thể là các thông tin phản ánh cấu trúc doanhnghiệp và/ hoặc các thông tin phản ánh hoạt động của doanh nghiệp
Đầu ra có thể là:
- Các kết quả chuyển trực tiếp cho các cá nhân hay tổ chức ngoài doanhnghiệp (chẳng hạn đơn đặt hàng, hóa đơn, thống kê sinh viên, báo cáo tàichính v.v )
- Các kết quả được lưu trữ, để sau này dùng làm đầu vào cho các xử lýkhác (thường là các thông tin về tình trạng, về lịch sử hay thông tin lưu trữ).Trong thực tế, thuật ngữ hệ thống thông tin thường được dùng để chỉmôi trường điện tử - tin học trợ giúp cho một công việc quản lý cụ thể nào đó,hay nói cách khác, là để chỉ cái đích đạt được sau quá trình xây dựng nhằmtin học hoá trợ giúp cho công tác quản lý của một hệ thống kinh tế - xã hội
2.1.2 Phân loại hệ thống thông tin trong một tổ chức.
Phân loại theo mục đích phục vụ của thông tin đầu ra thì hệ thống tinđược chia làm 5 loại:
Trang 28 Hệ thống thông tin xử lý giao dịch TPS (Transaction Processing
System)
Hệ thống thông tin xử lý giao dịch, xử lý các dữ liệu mà tổ chức thựchiện hoặc với khách hàng, với nhà cung cấp, những người cho vay hoặc vớinhân viên của nó Các giao dịch sản sinh ra các tài liệu và các giấy tờ sản sinh
ra các giao dịch đó Các hệ thống xử lý giao dịch có nhiệm vụ tập hợp tất cảcác dữ liệu cho phép theo dõi các hoạt động của tổ chức Chúng trợ giúp cáchoạt động ở mức tác nghiệp
Hệ thống thông tin quản lý MIS (management Information System).
Đây là hệ thống trợ giúp các hoạt động quản lý của hệ thống, các hoạtđộng này nằm ở mức tác nghiệp, điều khiển quản lý hoặc lập kế hoạch chiếnlược Chúng dựa chủ yếu vào các cơ sở dữ liệu được tạo ra bởi các hệ xử lýgiao dịch cũng như từ các nguồn dữ liệu ngoài tổ chức Nói chung chúng tạo
ra cho các báo cáo một cách định kỳ, hoặc theo yêu cầu Các báo cáo này tómlược tình hình về một mặt đặc biệt nào đó của tổ chức Vì các hệ thống thôngthông tin quản lý phần lớn dựa vào các dữ liệu sản sinh từ các xử lý giao dịch
do đó chất lượng thông tin mà chúng sản sinh phụ thuộc rất nhiều vào việcvận hành tốt hay xấu của hệ xử lý giao dịch
Đặc trưng của MIS:
Hỗ trợ chức năng xử lý dữ liệu trong giao dịch và lưu trữ
Dùng cơ sở dữ liệu hợp nhất và hỗ trợ nhiều lĩnh vực chức năng
Cung cấp cho các nhà quản lý chiến lược, sách lược và tác nghiệp khảnăng thâm nhập các thông tin theo thời gian
Linh hoạt, có thể thích ứng với các nhu cầu thay đổi về thông tin của
Trang 29tổ chức.
Cơ chế bảo mật thông tin theo từng cấp có thẩm quyền sử dụng
Hệ thống trợ giúp ra quyết định DSS (Decision Support System).
Đây là hệ thống được thiết kế với mục đích rõ ràng là trợ giúp các hoạtđộng ra quyết định Có một số quyết định ở mức chiến lược và sách lược cácthông tin cần thu thập và tổng hợp rất phức tạp mà hệ thống MIS không thể đápứng đầy đủ Khi đó các quyết định này cần đến hệ thống trợ giúp ra quyết định.Khả năng của hệ thống trợ giúp ra quyết định là:
Chọn lựa giúp một phương án
Cung cấp, sắp xếp các phương án theo tiêu chuẩn của người làm quyếtđịnh
Cung cấp và phân tích dữ liệu, các đồ thị một cách tự động
Về nguyên tắc, một hệ thống trợ giúp ra quyết định phải cung cấp thôngtin cho phép người ra quyết định xác định rõ tình hình mà một quyết định cầnphải ra Thêm vào đó nó còn phải có khả năng mô tả hoá để có thể phân lớp
và đánh giá các giải pháp Nói chung đây là hệ thống đối thoại có khả năngtiếp cận một hoặc nhiều cơ sở dữ liệu và sử dụng một hoặc nhiều mô hình đểbiểu diễn và đánh giá tình hình
Quá trình ra quyết định thường được mô tả như là một quy trình đượctạo thành từ 3 giai đoạn:
Xác định vấn đề
Xây dựng vấn đề
Đánh giá các phương án giải quyết
Hệ thống chuyên gia ES (Expert System).
Đó là hệ thống cơ sở trí tuệ, có nguồn gốc nghiên cứu từ trí tuệ nhân tạo,trong đó có sự biểu diễn bằng các công cụ tin học những tri thức của một
Trang 30chuyên gia về lĩnh vực nào đó Hệ thống chuyên gia được hình thành bởi một
cơ sở trí tuệ và một động cơ suy diễn Có thể xem lĩnh vực hệ thống chuyêngia như là mở rộng của hệ thống đối ngoại trợ giúp ra quyết định có tínhchuyên gia hoặc như một sự tiếp nối của lĩnh vực hệ thống trợ giúp lao độngtrí tuệ Tuy nhiên đặc trưng riêng của nó nằm ở việc sử dụng một số kỹ thuậtchuyên gia trong cơ sở trí tuệ bao chứa các sự kiện và các quy tắc đượcchuyên gia sử dụng
Hệ thống thông tin tăng cường khả năng cạnh tranh ISCA
(Information System For Competitive Advatage).
Hệ thống thông tin loại này được sử dụng như một trợ giúp chiến lược.Khi nghiên cứu một hệ thống thông tin mà không tính đến lý do cài đặt nóhoặc không tính đến môi trường trong đó nó được phát triển, ta nghĩ rằng đóchỉ đơn giản là một hệ thống xử lý giao dịch, hệ thống trợ giúp ra quyết địnhhoặc một hệ chuyên gia Hệ thống thông tin tăng cường khả năng cạnh tranhđược thiết kế cho những người sử dụng là những người ngoài tổ chức, có thể
là một khách hàng, một nhà cung cấp sản phẩm, hoặc cũng có thể là một tổchức khác của cùng một ngành công nghiệp Nếu như những hệ thống đượcxác định trước đây có mục đích trợ giúp các hoạt động quản lý của tổ chức thì
hệ thống tăng cường sức cạnh tranh của tổ chức hay công ty trên thị trường
2.1.3 Các tiêu chuẩn để một hệ thống thông tin hoạt động tốt
Trong quá trình quản lý kinh tế vĩ mô hay vi mô, đòi hỏi người lao độngphải có trình độ cả chuyên môn lẫn nghiệp vụ Hơn nữa họ phải có một tư duysáng tạo để giải quyết những vấn đề nảy sinh như đưa ra được một quyết địnhđúng đắn có lợi cho cấp cho ngành mình Vì vậy để giải quyết tốt một vấn đềtrên thì phụ thuộc vào một số yếu tố như trình độ lãnh đạo, mức độ sử dụngcác phương tiện khoa học kỹ thuật, khả năng vận dụng kịp thời số lượng vàchất lượng nguồn thông tin cung cấp Trong một số vấn đề nêu ra thì thông tin
Trang 31là yếu tố cần thiết Chỉ có thể khi nguồn thông tin được kịp thời, chính xác vàđầy đủ cho người cán bộ quản lý nói chung, mới đưa ra được những biệnpháp những quyết định đúng đắn, kịp thời phù hợp với xu thế tất yếu của thờiđại công nghệ thông tin phát triển vượt bậc Ngoài ra sự tiếp cận của thông tincấp dưới cũng đòi hỏi ngày càng hoàn thiện.
Khi nói đến thông tin người ta thường bàn đến một vấn đề nội bản nhấttrong thông tin đó là tính chất mà thông tin mang:
Độ tin cậy
Tiêu chuẩn này được thể hiện bởi các mặt về độ xác thực và độ chínhxác Thông tin ít độ tin cậy dĩ nhiên là gây cho tổ chức hậu quả tồi tệ
Tính đầy đủ
Thông tin thể hiện sự bao quát các vấn đề đáp ứng yêu cầu của nhà quản
lý tức là mang tính đầy đủ Nhà quản lý sử dụng một thông tin không đầy đủ
có thể dẫn đến các quyết định và hành động không đáp ứng với đòi hỏi củatình hình thực tế
Tính thích hợp và dễ hiểu
Đầu ra của một hệ thống thông tin phải phù hợp với đối tượng sử dụng
hệ thống thông tin Do đó thông tin phải thích hợp và dễ hiểu, tránh tình trạng
hệ thống thông tin phù hợp với người này, nhóm này nhưng lại không phùhợp với nhóm khác, người khác
Trang 32có thể gây ra những thiệt hại lớn về tổ chức
Tính kịp thời
Thông tin có thể là tin cậy, dễ hiểu, thích ứng và được bảo vệ an toànnhưng sẽ không có ích khi nó không được gửi kịp thời tới người sử dụng lúccần thiết
Giá trị thông tin chỉ có ý nghĩa trong một mảng vấn đề nào đó và phục
vụ ra quyết định của một số người Ngoài lĩnh vực đó nó sẽ bị giảm giá trị cònthậm chí bị vô nghĩa nữa Do đó thông tin còn mang một số khía cạnh sau:
- Thuộc tính giảm độ bất định
- Có khả năng liên hệ và trao đổi giữa một số bộ phận với nhau
- Thông tin mang tính tương đối
- Thông tin mang tính cục bộ
2.1.4 Các phương pháp xây dựng hệ thống thông tin.
Phương pháp tổng hợp
Phương pháp này đòi hỏi phải xây dựng nhiệm vụ cho từng bộ phận,nhưng phải đảm bảo toán học trong hệ thống để sau này có thể xây dựng đượccác mảng cơ bản trên cơ sở từng nhiệm vụ đó
Ưu điểm: Cho phép đưa hệ thống vào làm việc theo từng giai đoạn vànhanh chóng thu được kết quả
Nhược điểm: Các thông tin dễ bị trùng lặp, sinh ra các thao tác khôngcần thiết
Phương pháp phân tích
Trong phương pháp này nhiệm vụ đầu tiên là phải xây dựng bảo đảm
Trang 33toán học cho hệ thống, sau đó xây dựng các chương trình làm việc và thiết lậpcác mảng làm việc một cách thủ công cho chương trình đó.
Ưu điểm: Cho phép tránh được các mảng làm việc một cách thủ công.Nhược điểm: Môi trường chỉ hoạt động được khi đưa vào hệ thống đồngthời các mảng này
Phương pháp phân tích và tổng hợp
Đây là phương pháp kết hợp đồng thời cả hai phương pháp trên, tiếnhành đồng thời việc xây dựng các mảng cơ bản và một số các thao tác cũngnhư nhiệm vụ cần thiết
2.1.5 Quy trình phát triển hệ thống thông tin
a Đánh giá yêu cầu.
Là giai đoạn tìm hiểu quy trình hoạt động của hệ thống thực, các nhu cầuthông tin chính làm cơ sở xác định các yêu cầu, phạm vi của hệ thống thôngtin Kết quả là hồ sơ khảo sát chiếm khoảng 10-15% công sức
Việc khảo sát thường được tiến hành qua các bước sau:
- Lập kế hoạch: Nhằm xác định thông tin phải thu thập cũng như nguồn
- Đánh giá khả thi của một dự án là tìm xem có yếu tố nào ngăn cản nhàphân tích thực hiện, cài đặt thành công giải pháp đã đề xuất hay không?Những vấn đề chính về khả năng thực thi đó là:
Trang 34+ Khả thi về tổ chức: Đánh giá khả thi về mặt tổ chức đòi hỏi phải có sựhoà hợp giữa giải pháp dự kiến với môi trường tổ chức Dự án có tôn trọngchính sách quản lý của doanh nghiệp không? Người sử dụng sẵn sàng thamgia vào sự phát triển hệ thống?
+ Khả thi về kỹ thuật: Tính khả thi kỹ thuật được đánh giá bằng cách sosánh công nghệ hiện có hoặc có thể mua sắm được với yêu cầu kỹ thuật của
dự án
Tóm lại, ở giai đoạn đánh giá cần xác định rõ những nhu cầu, vấn đềquan tâm, để có giới hạn chính xác của công việc (Phạm vi dự án là những gìphải làm được, chưa làm được và những gì đã vượt ra ngoài phạm vi của vấnđề) Cũng ở giai đoạn này, cần tìm hiểu và xác định cụ thể đối tượng sử dụng
dù họ có thể sẽ bị biến động cả về số lượng và loại công việc
b Phân tích chi tiết hệ thống thông tin.
Giai đoạn này nhằm đưa ra được các chẩn đoán về hệ thống đang tồn tại
có nghĩa là xác định được những vấn đề chính cũng như các nguyên nhânchính của chúng, xác định được mục tiêu cần đạt được của hệ thống mới và
đề xuất ra các yếu tố giải pháp cho phép đạt được những mục tiêu đã nêu
Các công cụ phân tích như các phương pháp thu thập thông tin( phỏngvấn, nghiên cứu, bảng hỏi, quan sát), phương pháp mã hoá( mã phân cấp, mãgợi nhớ, phân khoảng, liên tiếp, ghép nối), sơ đồ chức năng BFD, sơ đồ luồng
Trang 35thông tin IFD, sơ đồ luồng dữ liệu DFD được sử dụng trong các bước khácnhau của giai đoạn phân tích chi tiết Việc sử dụng các công cụ là không bắtbuộc và tuỳ thuộc vào sở trường của đội ngũ phân tích viên hệ thống.
Các công đoạn của giai đoạn phân tích chi tiết hệ thống thông tin là:
- Lập kế hoạch giai đoạn phân tích chi tiết: Trước khi giai đoạn phân tíchthực sự bắt đầu thì người chịu trách nhiệm của giai đoạn này phải căn cứ vàobáo cáo đánh giá yêu cầu để lập kế hoạch cụ thể về các nhiệm vụ cần thựchiện Công đoạn này gồm có thành lập nhóm phân tích, phân chia nhiệm vụ,chọn phương pháp, công cụ và kỹ thuật sẽ dùng và xây dựng thời hạn chocông việc
- Nghiên cứu môi trường của hệ thống đang tồn tại: Một hệ thống thôngtin không phát triển trong một cái bình rỗng Nó bị ảnh hưởng bởi rất nhiềunhân tố bên ngoài, bên trong tổ chức, môi trường vật lý, môi trường kỹ thuật
và ngược lại nó có ảnh hưởng tới các nhân tố đó Tập hợp các nhân tố đóđược gọi là các ràng buộc của hệ thống Như chúng ta đã biết giá trị của một
hệ thống thông tin phụ thuộc vào năng lực tôn trọng của các ràng buộc này.Khi đưa ra các chẩn đoán về hệ thống hiện thời, phân tích viên phải cố gắng
để có được sự hiểu biết sâu sắc về môi trường hệ thống nghiên cứu để đánhgiá mức độ phù hợp giữa các đặc trưng của hệ thống với các ràng buộc củamôi trường
- Nghiên cứu hệ thống thông tin hiện có: Khi việc nghiên cứu hệ thốngđang tồn tại kết thúc, đội ngũ phân tích viên phải có sự hiểu biết đầy đủ về hệthống thông tin nghiên cứu Có nghĩa là hiểu lý do tồn tại của nó, các mối liên
hệ của nó với hệ thống khác trong tổ chức, những người sử dụng, cán bộ cấuthành, các phương thức mà nó xử lý, thông tin ra, dữ liệu thu nhận,…Thêmvào đó cần phải xác định những vấn đề có liên quan với hệ thống và nguyênnhân của chúng Khối lượng thông tin thu thập và phân tích lớn hơn nhiều so
Trang 36với các hoạt động trước đây Trong công đoạn này bao gồm ba nhiệm vụchính: thu thập thông tin về hệ thống như hoạt động chung của hệ thống, dữliệu vào, thông tin ra, xử lý, cơ sở dữ liệu; xây dựng các mô hình vật lý ngoàidựa vào các dữ liệu mô tả đã thu thập được về hệ thống; xây dựng mô logíc từ
mô hình vật lý ngoài và từ các dữ liệu thu thập được trước đây
- Chẩn đoàn và xây dựng các yếu tố giải pháp: Công đoạn này bao gồmchủ yếu ba nhiệm vụ có liên quan chặt chẽ cái lọ cái kia Đó là việc đưa rachẩn đoán, xác định các mục tiêu mà hệ thống được sửa chữa hoặc hệ thốngmới cần phải đạt được và xác định các yếu tố của giải pháp
- Đánh giá lại tính khả thi: Trong giai đoạn đánh giá khả thi đội ngũ phântích viên đã thực hiện sơ bộ việc đánh giá mức khả thi của dự án Khi có thêmmột khối lượng lớn thông tin về hệ thống và môi trường, về các nguyên nhân
và các giải pháp do đó việc đánh giá khả thi trong giai đoạn này sẽ chính xáchơn Nội dung cơ bản vẫn nhằm khẳng định tính khả thi trong tổ chức, tàichính, kỹ thuật và thời hạn
- Sửa chữa và chi tiết dự án: Phần cuối của giai đoạn đánh giá khả thi,nhóm phân tích đã phác hoạ một đề xuất của dự án và được những người sửdụng chấp thuận Nhưng trên thực tế với những thông tin vừa mới thu thậpđược và việc đánh giá lại khả thi ở bước trên, chúng ta cần xem xét và sửa đổi
đề xuất của dự án
- Chuẩn bị và trình bày báo cáo phân tích chi tiết: Nhóm phân tích viênchuẩn bị và trình bày báo cáo dưới các nhà lãnh đạo để phục vụ cho việc raquyết định tiếp tục hay huỷ bỏ dự án
c Thiết kế logic cho hệ thống thông tin.
Sau khi trình bày báo cáo phân tích chi tiết và có quyền tiếp tục pháttriển dự án thì đội ngũ phân tích chuyển sang giai đoạn thiết kế logic cho hệ
Trang 37thống thông tin mới Mục đích của giai đoạn này là mô tả các yếu tố giải phápmột cách chi tiết và chính xác sao cho hệ thống mới thực hiện được các mụctiêu đã đặt ra trong giai đoạn phân tích chi tiết mà vẫn luôn tuân thủ nhữngràng buộc của môi trường.
Sản phẩm đưa ra của giai đoạn thiết kế logic là mô hình hệ thống mớibằng các sơ đồ luồng dữ liệu DFD, các sơ đồ cấu trúc dữ liệu DSD, các sơ đồphân tích tra cứu và các phích logic của từ điển hệ thống Mô hình này phảiđược những người sử dụng xem xét và thông qua đảm bảo rằng, chúng đápứng tốt các yêu cầu của họ
Xây dựng mô hình logic cho hệ thống thông tin mới là một quá trìnhtương đối phức tạp, cần phải có một sự hiểu biết sâu sắc về hệ thống đangnghiên cứu, cần phải biết làm chủ các công cụ tạo ra và hoàn chỉnh các tàiliệu hệ thống mức logic
Việc thiết kế logic nên bắt đầu từ việc thiết kế cơ sở dữ liệu cho hệ thốngthông tin mới Cách tiếp cận như vậy bảo đảm tất cả các dữ liệu cần thiết, chỉnhững dữ liệu đó sẽ được nhập vào và lưu trữ trong hệ thống Sau đó, thựchiện việc thiết kế xử lý và thiết các dòng vào Với mỗi nhiệm vụ trên cần phải
bổ sung hoàn chỉnh tài liệu và hợp thức hoá mô hình logic
d Đề xuất các phương án giải pháp.
Trong giai đoạn thiết kế logíc, nhóm phân tích viên đã xác định về mặtlogíc những đầu vào, những xử lý, những tệp cơ sở dữ liệu và những đầu racho phép giải quyết tốt hơn những vấn đề của hệ thống thông tin hiện có vàđạt được những mục tiêu đề ra của người sử dụng Tuy nhiên ở mức độ logicnhững khía cạnh như: Ai chịu trách nhiệm nhập dữ liệu? Cách xử lý nào được
sử dụng cho mỗi xử lý? Phương tiện xử lý nào được dùng? vẫn chưa đượclàm sáng tỏ Những cái như vậy có rất nhiều khả năng lựa chọn và rất khácnhau Mục đích chủ yếu của giai đoạn này là thiết lập các phác họa cho mô
Trang 38hình vật lý, đánh giá chi phí và lợi ích cho các phác hoạ, xác định khả năngđạt các mục tiêu cũng như sự tác động của chúng vào lĩnh vực tổ chức vànhân sự đang làm việc tại hệ thống và đưa ra những khuyến nghị cho lãnh đạonhững phương án tối ưu nhất.
Các công việc phải làm trong giai đoạn xây dựng các phương án giảipháp là:
- Xác định các ràng buộc tổ chức và tin học: Trong thực tế có những điềuđúng cho mô hình logíc nhưng lại không còn đúng với mô hình vật lý Một
mô hình logíc có thể được chấp nhận cho nhiều môi trường, nhưng mỗi môitrường cụ thể đòi hỏi một cách thức cụ thể hoá khác nhau Đó là vì nhữngràng buộc của tổ chức như việc phân chia trách nhiệm giữa các bộ phận, giữacác nhân viên và cán bộ, tình hình tài chính, quy mô, doanh thu, số lượng giaodịch thực hiện, mức độ phân tán địa lý của tổ chức, , hoặc là do những ràngbuộc về tin học như loại phần cứng, thiết bị đang dùng trong tổ chức, nhữngphần mềm nào đã được cài đặt, đã có ngôn ngữ lập trình gì, nguồn nhân lựctin học có sẵn sàng cho việc phát triển hệ thống thông tin không,…Nhữngràng buộc này đều có tầm quan trọng bậc nhất khi đề xuất các phương án giảipháp vì vậy phân tích viên phải đặc biệt chú ý đến chúng
- Xây dựng các phương án giải pháp: Việc xây dựng một phương án củagiải pháp bắt đầu từ hai khâu chính là xác định biên giới phần tin học hoá vàxác định cách thức cho các xử lý
- Đánh giá các phương án của giải pháp: Để đánh giá được một phương
án của giải pháp ta thực hiện đánh giá về chi phí/ lợi ích, và đánh giá đa tiêuchuẩn
- Đưa ra quyết định lựa chọn phương án: Sau khi đã đánh giá cácphương án của giải pháp thì hội đồng đánh giá sẽ đưa ra quyết định lựa chọnphương án tối ưu nhất
Trang 39Các công việc chính của thiết kế vật lý bao gồm:
- Lập kế hoạch: Ở đây phân tích viên phải lựa chọn phương tiện, khuôndạng của các dòng vào/ ra, xác định cách thức hội thoại với phần tin học hoácủa hệ thống và cách thực hiện các thủ tục thủ công, phân bố thời gian và lậpdanh mục các sản phẩm
- Thiết kế chi tiết giao diện vào/ra: Thiết kế khuôn dạng trình bày củacác đầu ra và thể thức nhập tin cho người sử dụng Công việc này rất quantrọng trên thực tế, vì những nhận xét đánh giá về hệ thống thông tin của người
sử dụng là dựa vào những yếu tố vào/ ra này Họ có thể từ chối sử dụng vìnhững yếu kém ở đây cho dù hệ thống thông tin được đánh giá tốt ở nhữngkhía cạnh khác Khuôn dạng vào/ ra không những đẹp, hợp lý mà còn phảigiúp người dùng thực hiện tốt hơn, dễ dàng hơn công việc của họ Trong giaiđoạn phân tích, cán bộ thiết kế đã xác định các phần tử thông tin trên các đầu
ra, nơi đến, tần xuất và khối lượng của chúng Thiết kế vật lý đầu ra có hainhiệm vụ phải làm là lựa chọn vật mang tin và sắp đặt các thông tin trên đầu
ra Còn thiết kế vào là thiết kế các thủ tục nhập dữ liệu có hiệu quả và giảmthiểu các sai sót Thiết kế vào gồm lựa chọn phương tiện, thiết kế khuôn dạngcho thông tin nhập
- Thiết kế cách thức giao tác với phần tin học hoá: Một hệ thống thôngtin thường phải thực hiện nhiều công việc khác nhau như cập nhật, in ấn báocáo, tra cứu cơ sở dữ liệu,…Thao tác viên hay người sử dụng hệ thống thôngtin phải có khả năng chỉ thị cho hệ thống những công việc cần phải làm
Trang 40Chính bằng cách thông qua các giao tác người – máy mà thao tác viên chỉ cho
hệ thống biết làm gì và kiểm soát trật tự hiện thông tin ra trên màn hình, sảnsinh các thông tin đầu ra Vì vậy, hội thoại người – máy phải được thiết kếcẩn thận, tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng Có 4 cách thức để thựchiện việc tương tác với hệ thống tin học hoá: Giao tác bằng tập hợp lệnh, giaotác bằng các phím trên bàn phím, giao tác qua thực đơn, giao tác dựa vào cácbiểu tượng Thiết kế viên phải biết và kết hợp tốt 4 cách thức đó để tạo ranhững giao tác chuẩn cho hệ thống thông tin tin học hoá
f Triển khai hệ thống thông tin.
Giai đoạn triển khai hệ thống thông tin có nhiệm vụ đưa ra các quyếtđịnh có liên quan tới việc lựa chọn công cụ phát triển hệ thống, tổ chức vật lýcủa cơ sở dữ liệu, cách thức truy nhập tới các bản ghi của các tệp và nhữngchương trình máy tính khác nhau cấu thành nên hệ thống thông tin Việc viếtcác chương trình máy tính, thử nghiệm các chương trình, các mô đun và toàn
bộ hệ thống cũng được thực hiện trong giai đoạn này
Mục đích của giai đoạn triển khai hệ thống là xây dựng một hệ thốnghoạt động tốt Kết quả quan trọng nhất của giai đoạn này là phần tin học hoácủa hệ thống thông tin – đó chính là phần mềm
Những công đoạn chính của giai đoạn triển khai gồm:
- Lập kế hoạch thực hiện: Nhiệm vụ quan trọng nhất của lập kế hoạchtriển khai là lựa chọn các công cụ Sự lựa chọn này sẽ quy định tới nhữnghoạt động thiết kế vật lý trong( thiết kế vật lý cơ sở dữ liệu, thiết kế cácchương trình) cũng những hoạt động lập trình sau này
- Thiết kế vật lý trong nhằm bảo đảm độ chính xác của thông tin và làm
hệ thống mềm dẻo, ít chi phí Thiết kế vật lý trong bao gồm hai nhiệm vụ đó
là thiết kế cơ sở dữ liệu vật lý trong và thiết kế vật lý trong các xử lý