1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển kinh tế làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Bắc Ninh và vấn đề ô nhiễm môi trường

100 567 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 904,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Tính cấp thiết của đề tàiQuá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra là một tất yếu khách quan đặc biệt dưới tác động của toàn cầu hóa như hiện nay.Quá trình CNH,ĐTH tạo ra nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân nhưng cũng tạo ra không ít bức xúc, khó khăn. Các làng nghề tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho lao động ở nông thôn; giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp ở khu vực nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và góp phần bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc...Tuy nhiên, trong những năm qua, tình trạng ONMT ở các làng nghề ngày càng nghiêm trọng, diễn biến chất lượng môi trường nước, môi trường không khí và môi trường đất ngày càng xấu đi, sự đa dạng hoá sinh học bị xâm phạm, tại một số làng nghề ONMT đã ở tình trạng báo động. Tình trạng này đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của người dân và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của các làng nghề.Khu vực nhà nước nói chung và Chính quyền tỉnh Bắc Ninh nói riêng, bằng các công cụ quản lý của mình đã có những biện pháp tích cực nhằm giảm thiểu ONMT ở các làng nghề. Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tế đã chứng minh là công tác quản lý nhà nước đối với vấn đề BVMT ở các làng nghề còn nhiều bất cập, hiệu quả đạt được không cao, tình trạng ONMT được cải thiện chậm chạp, tại một số địa phương không có chuyển biến tích cực.Giải pháp thiết thực là cần giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường ở các làng nghề. Câu hỏi đặt ra là: làm thế nào để giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề ? Ô nhiễm môi trường có quan hệ chặt chẽ với quá trình phát triển kinh tế. Để có thể phát triển làng nghề bền vững thì đòi hỏi các làng nghề phải có những biện pháp như thế nào? hướng phát triển ra sao để tránh gây ô nhiễm môi trường đồng thời cũng không ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh? Thấy được tầm quan trọng của việc phát triển làng nghề với bảo vệ môi trường nên em đã chọn đề tài : « Phát triển kinh tế làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Bắc Ninh và vấn đề ô nhiễm môi trường » làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp.2. Mục tiêu của đề tài nghiên cứu + Đánh giá thực trạng thực trạng kinh tế làng nghề và ô nhiễm môi trường tại làng nghề Đồng Kỵ Bắc Ninh. + Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và phát triển bền vững làng nghề.3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài nằm gọn trong khu vực làng nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ của huyện Từ Sơn Bắc Ninh gồm có 2 làng nghề Phù Khê và làng Đồng Kỵ. Tuy nhiên tập trung chủ yếu vào làng nghề Đồng Kỵ bởi tính chất đặc trưng của làng nghề.4. Phương pháp nghiên cứuSử dụng các phương pháp sau Thu thập số liệu từ các nguồn có sẵn, tài liệu sơ cấp Phương pháp xử lý và phân tích số liệu Phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh 5. Bố cục đề tài bao gồmNgoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo. Chuyên đề được chia làm 3 chương, gồm:Chương I :Cơ sở lý luận về ảnh hưởng ô nhiễm môi trường đến sự phát triển kinh tế làng nghề.Chương II :Thực trạng ô nhiễm môi trường và quản lý nhà nước đối với việc giải quyết ONMT ở làng nghề Đồng Kỵ Bắc Ninh.Chương III :Các giải pháp pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế làng nghề và giải quyết vấn đề ONMT tại làng nghề Đồng Kỵ Bắc Ninh.Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót, kính mong sự góp ý của các thầy cô giáo. Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị Hòa Loan đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành bản khóa luận này.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra là một tất yếu khách quanđặc biệt dưới tác động của toàn cầu hóa như hiện nay.Quá trình CNH,ĐTH tạo ranhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân nhưng cũngtạo ra không ít bức xúc, khó khăn Các làng nghề tạo công ăn việc làm và tăng thunhập cho lao động ở nông thôn; giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp ở khu vựcnông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theohướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và góp phần bảotồn giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Tuy nhiên, trong những năm qua, tìnhtrạng ONMT ở các làng nghề ngày càng nghiêm trọng, diễn biến chất lượng môitrường nước, môi trường không khí và môi trường đất ngày càng xấu đi, sự đa dạnghoá sinh học bị xâm phạm, tại một số làng nghề ONMT đã ở tình trạng báo động.Tình trạng này đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của người dân và ảnh hưởng trựctiếp đến sự phát triển bền vững của các làng nghề

Khu vực nhà nước nói chung và Chính quyền tỉnh Bắc Ninh nói riêng, bằngcác công cụ quản lý của mình đã có những biện pháp tích cực nhằm giảm thiểuONMT ở các làng nghề Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tế đã chứng minh

là công tác quản lý nhà nước đối với vấn đề BVMT ở các làng nghề còn nhiều bấtcập, hiệu quả đạt được không cao, tình trạng ONMT được cải thiện chậm chạp, tạimột số địa phương không có chuyển biến tích cực

Giải pháp thiết thực là cần giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường ở các làngnghề Câu hỏi đặt ra là: làm thế nào để giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề ?

Ô nhiễm môi trường có quan hệ chặt chẽ với quá trình phát triển kinh tế Để có thểphát triển làng nghề bền vững thì đòi hỏi các làng nghề phải có những biện phápnhư thế nào? hướng phát triển ra sao để tránh gây ô nhiễm môi trường đồng thờicũng không ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh? Thấy được tầm quan trọng của

việc phát triển làng nghề với bảo vệ môi trường nên em đã chọn đề tài : « Phát

Trang 2

triển kinh tế làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ - Bắc Ninh và vấn đề ô nhiễm môi trường » làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp.

2 Mục tiêu của đề tài nghiên cứu

+ Đánh giá thực trạng thực trạng kinh tế làng nghề và ô nhiễm môi trường tạilàng nghề Đồng Kỵ - Bắc Ninh

+ Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và pháttriển bền vững làng nghề

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài nằm gọn trong khu vực làngnghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ của huyện Từ Sơn - Bắc Ninh gồm có 2 làng nghềPhù Khê và làng Đồng Kỵ Tuy nhiên tập trung chủ yếu vào làng nghề Đồng Kỵ bởitính chất đặc trưng của làng nghề

4 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng các phương pháp sau

- Thu thập số liệu từ các nguồn có sẵn, tài liệu sơ cấp

- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

- Phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh

Chương II :Thực trạng ô nhiễm môi trường và quản lý nhà nước đối với việc

giải quyết ONMT ở làng nghề Đồng Kỵ - Bắc Ninh

Chương III :Các giải pháp pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế làng nghề và

giải quyết vấn đề ONMT tại làng nghề Đồng Kỵ - Bắc Ninh

Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót, kínhmong sự góp ý của các thầy cô giáo Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn ThịHòa Loan đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành bản khóa luận này

Trang 3

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ VÀ VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm chung về làng nghề

Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm chính thống về làng nghề, có nhiều kháiniệm về làng nghề khác nhau như TS Dương Bá Phượng trong “ Bảo tồn và pháttriển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hoá” đã định nghĩa làng nghề là

những làng ở nông thôn có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ,

số lao động và số thu nhập so với nghề nông hay Ths Nguyễn-Sỹ trong Luận văn

Thạc sĩ “Sự phát triển làng nghề truyền thống ở tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ đẩy

mạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá” đã đưa ra khái niệm làng nghề là một cụm dân

cư sinh sống trong một thôn (làng), có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập Như vậy, ta có thể định nghĩa làng nghề như sau: “làng nghề là một thôn ( làng) có một nghề được tách ra khỏi nông nghiệp

để sản xuất kinh doanh độc lập và nghề đó thu hút đại đa số lao động trong làng đồng thời đem lại thu nhập chính cho người dân của thôn (làng) đó”.

Hiện tại cả nước có hơn 1.450 làng nghề phân bố trên 58 tỉnh thành trong cảnước, riêng vùng đồng bằng sông Hồng chiếm 55,2% với hơn 800 làng nghề Trong

số này có những làng nghề truyền thống như làng nghề gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội),làng dệt lụa Hà Đông (Hà Tây), làng chạm bạc Đồng Xâm (Thái Bình), làng tranhdân gian Đông Hồ (Bắc Ninh), làng đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ (Bắc Ninh) và cónhững làng nghề mới được hình thành trên cơ sở sự lan toả của các làng nghềtruyền thống như làng nghề xây dựng Nội Duệ, làng chế biến lương thực thực phẩmCát Quế (Hà Tây) Xét về yếu tố ngành nghề có làng nghề tiểu thủ công nghiệp(chiếm khoảng 85%), làng nghề dịch vụ như làng nghề dịch vụ vận tải thuỷ TrungKênh (Bắc Ninh), làng nuôi trồng thủy sản An Bình (Bắc Ninh)

Trang 4

Làng nghề truyền thống

Một bộ phận không nhỏ trong làng nghề ở nước ta đó là các làng nghề truyềnthống Đối tượng này chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các làng nghề, khoảng 85%.Làng nghề truyền thống là khái niệm bao hàm khái niệm về “làng nghề” và “nghềtruyền thống” Nghề truyền thống ở đây là những nghề cổ truyền, có lịch sử lâu đời

và còn duy trì được đến ngày nay Các tiêu chí là nghề truyền thống gồm 3 tiêu chísau: Nghề xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính từ thời điểm đề nghị côngnhận; Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc dân tộc; Nghề gắn với tên tuổi củamột hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề

Nghề truyền thống tạo nên nét văn hoá đặc trưng cho vùng nghề và cho cả

dân tộc Như vậy, làng nghề truyền thống có thể được hiểu là một làng nghề đã hình thành từ lâu đời và còn được duy trì đến ngày nay; sản phẩm có tính cách riêng biệt đặc thù, có giá trị văn hoá lịch sử của địa phương được nhiều nơi biết đến, phương thức truyền nghề theo cha truyền con nối hoặc gia đình, dòng tộc”

Làng nghề truyền thống là một di sản văn hoá vật thể quan trọng trong nền văn hoá Việt Nam, những làng nghề như tranh dân gian Đông Hồ, gốm sứ Bát Tràng, đồ gỗ

mỹ nghệ Đồng Kỵ đã và đang tạo nên vốn quý đó cho dân tộc

Làng nghề mới

Là làng nghề được hình thành cùng với sự phát triển của nền kinh tế, chủ yếu

do sự lan toả của làng nghề truyền thống, có những điều kiện nhất định để hìnhthành và phát triển

Phân loại làng nghề

Có nhiều cách phân loại làng nghề đó là: Phân loại theo làng nghề truyềnthống và làng nghề mới; phân loại theo nghành sản xuất, loại hình sản phẩm; phânloại theo quy mô sản xuất, trình độ công nghệ; phân loại theo nguồn thải và mức độ

ô nhiễm; phân loại theo thị trường tiêu thụ sản phẩm Với những cách phân loại nhưtrên để phuc vụ cho mục đích nghiên cứu chuyên đề lựa chọn cách phân loại theonguồn thải và mức độ ô nhiễm

Trang 5

Phân loại theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm

Theo cách phân loại này ta có làng nghề ô nhiễm nặng, làng nghề ô nhiễm trung bình và làng nghề ô nhiễm nhẹ Căn cứ để xác định mức độ ô nhiễm của làng nghề có thể minh họa ở hình 1

Hình 1: Sơ đồ đánh giá mức độ ô nhiễm tại các làng nghề

Có chất thải nguy hại vượt quá quy định

Có chất thải nguy hại vượt quá quy định

Có ít nhất một thông số môi trường đặc trưng cho làng nghề cao hơn 5 lần TCCP

Có ít nhất một thông số môi trường đặc trưng cho làng nghề cao hơn 5 lần TCCP

Có ít nhất một thông số môi trường đặc trưng cho làng nghề

từ 2 đến 5 lần TCCP

Có ít nhất một thông số môi trường đặc trưng cho làng nghề

từ 2 đến 5 lần TCCP

Có ít nhất một thông số môi trường đặc trưng cho làng nghề nhỏ hơn 2 lần TCCP

Có ít nhất một thông số môi trường đặc trưng cho làng nghề nhỏ hơn 2 lần TCCP

Các số liệu đặc

trưng môi trường

trong dòng thải

của làng nghề

Ô nhiễm nặng

Ô nhiễm nặng

Ô nhiễm trung bình

Ô nhiễm trung bình

Ô nhiễm nhẹ

Ô nhiễm nhẹ

Làng nghề không gây ô

nhiễm

Làng nghề không gây ô

nhiễm

Không Không Không Không

Trang 6

Đánh giá sơ lược về mức độ ô nhiễm môi trường của các làng nghề được thểhiện trong bảng 1

Bảng 1: Đánh giá mức độ ô nhiễm của các nhóm làng nghề

Nhóm LN

Mức độ ô nhiễm Môi trường

Nguồn: Tổng hợp thống kê của nhóm nghiên cứu

1.1.2 Khái niệm ONMT.

Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 tại Điều 1 thì môi trường được địnhnghĩa như sau:

“ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, quan hệmật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại,phát triển của con người và thiên nhiên”

Như vậy, môi trường là tổng hoà các mối quan hệ giữa tự nhiên và con ngườitrong đó bao gồm cả yếu tố vật chất nhân tạo, chúng tạo nên một thể thống nhất tác độngtrực tiếp tới đời sống của con người, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của conngười và thiên nhiên

Vai trò của môi trường: Môi trường là tất cả những gì xung quanh ta, cho ta

cơ sở để tồn tại, sinh sống và phát triển Vai trò của môi trường thể hiện trên các mặt sau:

+ Môi trường là nơi con người khai thác nguồn nguyên vật liệu và năng lượngcần thiết cho hoạt động sản xuất và cuộc sống;

+ Môi trường là nơi cư trú và cung cấp thông tin cho con người;

+ Môi trường là nơi chứa chất thải;

Trang 7

+ Môi trường là không gian sống và cung cấp các dịch vụ cảnh quan.

Như vậy, môi trường có vai trò đặc biệt trong cuộc sống của con người, nó quyếtđịnh đến sự tồn tại và phát triển của con người Bên cạnh đó mối quan hệ giữa con ngườivới môi trường là mối quan hệ hai chiều, có tác động trực tiếp qua lại với nhau Conngười vừa là nhân tố ảnh hưởng đến môi trường đồng thời cũng là tác nhân thúc đẩy môitrường phát triển Để phát huy vai trò của môi trường, làm cho môi trường có tác độngtích cực đến con người thì con người với tư cách là chủ thể tác động phải có trách nhiệm

và ý thức BVMT, làm cho môi trường cân bằng và trong sạch

Liên quan đến khái niệm ONMT là “Tiêu chuẩn môi trường”, theo Luật

BVMT năm 1993 thì “TCMT là những chuẩn mực, giới hạn cho phép, được quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường” Cơ cấu của hệ thống TCMT bao

gồm các nhóm chính sau:

+ Tiêu chuẩn nước, bao gồm nước mặt nội địa, nước ngầm, nước biển và venbiển, nước thải; Tiêu chuẩn không khí, bao gồm khói bụi, khí thải; Tiêu chuẩn liênquan đến bảo vệ đất canh tác, sử dụng phân bón trong sản xuất nông nghiệp; Tiêuchuẩn bảo vệ thực vật, sử dụng thuốc trừ sâu, diệt cỏ

+ Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử,văn hoá và Tiêu chuẩn liên quan đến môi trường do các hoạt động khai thác khoángsản trong lòng đất, ngoài biển…

Hiện nay, ở nước ta đã có trên 200 TCMT quy định về chất lượng môitrường, đây là cơ sở để chúng ta đo mức độ chuẩn của môi trường, đồng thời cũng

là căn cứ để đánh giá mức độ vi phạm môi trường có liên quan

Từ khái niệm về TCMT, khái niệm ONMT được định nghĩa trong LuậtBVMT năm 1993 như sau:

“Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường”

Như vậy ta có thể thấy khái niệm ONMT phụ thuộc vào hai yếu tố: tác độngvật lý của chất thải và phản ứng của con người đối với tác động ấy Tác động vật lý

Trang 8

của chất thải có thể mang tính sinh học như làm thay đổi gen di truyền, giảm đadạng sinh học, ảnh hưởng đến mùa màng hoặc sức khoẻ con người

1.2 Đặc điểm của làng nghề

1.2.1 Làng nghề tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp

Theo điều tra hiện nay thì đa phần các làng nghề tập chung chủ yếu ở các vùngquê nông thôn, số ít còn lại thường nằm trong các thành thị hay ngoại thành Trướcđây các làng nghề chưa được chú trọng phát triển như hiện nay nên các ngành tiểuthủ công nghiệp chỉ được xem như là một ngành phụ, là ngành tạo thêm thu nhập vàviệc làm cho người người nông dân lúc nhàn dỗi, còn nghề chính vẫn là làm nôngnghiệp Do đó các ngành tiểu thủ công nghiệp chưa được chú trọng phát triển nên

sự phát triển của nó chỉ mang tính tự phát và phát triển manh mún và có tính thời

vụ Chính vì vậy mà nó có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp

1.2.2 Tay nghề của người lao động trong làng nghề

Đa phần người lao động trong làng nghề có trình độ kỹ thuật cao, tay nghề tinhxảo, khéo léo có đầu óc thẩm mỹ và đầy tính sáng tạo Đặc biệt trong các làng nghềtồn tại lâu đời từ đó hình thành nên những làng nghề thủ công truyền thống nhưlàng nghề gốm sứ Bát Tràng có bề dày lịch sử 500 năm, nghề khảm trai ChuyênMỹ(Hà Tây) có từ thế kỷ XII, làng giấy gió Dương Ô (Bắc Ninh) có lịch sử trên 800năm thì điều nói trên càng được thể hiện và điều đó giải thích sản phẩm cuả làngnghề là sản phẩm đặc trưng và độc quyền của làng nghề truyền thống

1.2.3 Nguyên vật liệu của làng nghề

Đa phần các làng nghề tồn tại và phát triển là do các làng nghề đó có sẵnnguồn nguyên để duy trì và phục vụ cho hoạt động sản xuất Không chỉ có các sảnphẩm tại địa phương mà còn do một bộ phận thương lái mang từ các địa phươngkhác mang đến nữa Ngoài việc sử dụng các nguyên liệu tự nhiên ra các làng nghềcòn tận dụng được những phế phẩm,phế liệu của các ngành khác như nghề rèn, đúcgang, đồng Như vậy vừa tận dụng được những nguyên liệu thừa của các ngànhkhác vừa bảo vệ được môi trường

Trang 9

Tại làng nghề Đồng Kỵ - Bắc Ninh nguyên vật liệu dùng trong sản xuất là cácloại gỗ như gỗ gụ, gỗ chắc, gỗ lim, gỗ hương, gỗ mun hầu hết các loại gỗ là loại gỗ

có gía trị cao và được nhập từ rừng trong nước như tại Đắc Lắc, Vinh, Thành PhốHCM những lô gỗ được lấy từ kho của kiểm lâm hoặc được vận chuyển từ Làohoặc Campuchia đây là tình trạng đáng báo động về tài nguyên quốc gia vì lượng

gỗ tiêu thụ hàng năm của làng nghề là rất lớn và lượng lớn là gỗ lậu, không đượcphép của kiểm lâm

1.2.4 Sản phẩm của làng nghề chủ yếu mang tính đơn chiếc,có tính thẩm mỹ cao mang đậm bản sắc dân tộc,văn hoá

Số lượng làng nghề nhiều nên rất đa dạng và phong phú.Chính vì thế mà cácsản phẩm làm ra cũng rất đa dạng và phong phú về chủng loại, mẫu mã, kiểu dáng

Do các sản phẩm được làm ra chủ yếu bằng thủ công chứ không phải theo dây truyềnmáy móc nên số lượng làm ra không nhiều, chủ yếu mang tính đơn chiếc Cũng chínhcác sản phẩm mang đặc tính đơn chiếc đồng thời lại được tạo ra dưới bàn tay khéoléo, sáng tạo của người nghệ nhân nên các sản phẩm làm ra có tính thẩm mỹ caomang đậm bản sắc dân tộc

1.2.5 Hình thức tổ chức và quản lý trong các làng nghề chủ yếu dưới dạng hộ gia đình,ngoài ra còn có sự hình thành các tổ hợp tác và các doanh nghiệp.

Các làng nghề chủ yếu được hình thành và phát triển từ lâu đời nên yêu cầu về

cơ sở hạ tầng không đòi hỏi cao như các ngành nghề khác Trong khi đó vốn đầu tưcho phát triển làng nghề không lớn nhưng giá trị làm ra thì không nhỏ, thời gian thuhồi vốn kinh doanh nhanh, độ rủi ro ít Nếu như các ngành nghề cao như dịch vụ,công nghiệp, xây dưng…đòi hỏi phải có trình độ quản lý cao và phức tạp thì việcquản lý cơ sở làng nghề không đòi hỏi phải có trình độ cao hiểu biết rộng, khôngphúc tạp, phù hợp với trình độ của chủ hộ, chủ doanh nghiệp vốn xuất thân từ nôngdân Các hộ cá thể là các tổ chức kinh tế đóng vai trò chủ đạo chính trong việc pháttriển các làng nghề Các sản phẩm ở các làng nghề được làm ra chủ yếu dựa trêncông nghệ, quy trình sản xuất thủ công hoặc bán cơ khí Các hoạt động sản xuất chủyếu diễn ra tại nhà đó vừa là nơi sinh hoạt hàng ngày của hộ vừa là nơi diễn ra sản

Trang 10

xuất do đó mà các nhà xưởng, nơi sản xuất ra sản phẩm làng nghề đa phần là củachủ hộ chứ không phải thuê mướn.

Trang 11

1.3.1 Các làng nghề góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn

Khả năng giải quyết việc làm của các làng nghề cho lao động nhàn rỗi ở nôngthôn là rất lớn Hàng năm, các làng nghề đã giải quyết việc làm cho hàng vạn laođộng nông thôn, riêng năm 2005 giải quyết việc làm cho hơn 3 vạn lao động Hiệnnay, trong các làng nghề, bình quân mỗi hộ gia đình làm nghề truyền thống có từ 5-

6 thợ lao động thường xuyên và 3-4 thợ lao động thời vụ, ở các cơ sở bình quân từ30-32 lao động và 10-12 lao động thời vụ Các làng nghề không chỉ thu hút laođộng trong làng mà còn thu hút lao động ở các vùng lân cận Làng nghề đồ gỗ Đồng

Kỵ đã giải quyết việc làm cho hơn 8.000 lao động của thôn và gần 4.000 lao độngcủa các xã khác, hầu hết tất cả người dân trong làng đều có việc làm, từ người trungtuổi cho đến thanh thiếu niên nghỉ học đều có phần việc tuỳ theo khả năng sức khoẻcủa mình Riêng làng nghề sắt thép Đa Hội, hàng năm tạo công ăn việc làm cho gần1.500 lao động của làng và thu hút từ 800 - 1.000 lao động ở các vùng xung quanh

Từ chỗ có việc làm ổn định thì thu nhập của người lao động cũng được cải thiện

rõ rệt Nơi nào có làng nghề phát triển thì nơi đó người lao động có thu nhập cao vàmức sống cao hơn các vùng khác Nếu so sánh mức thu nhập của lao động thì thu nhậpcủa lao động ngành nghề cao hơn khoảng 4-5 lần của lao động thuần nông Thu nhậpbình quân của lao động tại làng nghề Đồng Kỵ khoảng 1,5-2triệu đồng/tháng, vớinhững ông chủ sản xuất mức thu nhập cao hơn nhiều lần, có khi lên đến vài chục triệuđồng/tháng; Làng Đa Hội, ngày công bình quân của người lao động vào khoảng70.000đ, hiện nay Đa Hội đã có hàng chục ông tỷ phú với doanh thu hàng năm khoảng

Trang 12

vài tỷ đồng Thu nhập bình quân đầu người của các làng nghề ở Bắc Ninh hiện nay đạtkhoảng 600USD/năm, cao hơn mức thu nhập bình quân của tỉnh khoảng 150 USD vàcao hơn mức của cả nước khoảng 200USD.

1.3.2 Các làng nghề góp phần làm tăng giá trị sản xuất và tăng thu ngân sách của tỉnh.

Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực làng nghề, nhất là những làng nghề TTCNtrong những năm qua đã góp phần không nhỏ vào tổng giá trị sản xuất và tốc độ tăngtrưởng kinh tế của Bắc Ninh Tổng giá trị sản xuất của các làng nghề liên tục tăng quacác năm, với tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm 2001-2005 là 31,9% Năm 2001, tổnggiá trị sản xuất của các làng nghề là 923.610 triệu đồng chiếm 11,2% tổng giá trị sản xuấtcủa cả tỉnh và chiếm 78,2% giá trị sản xuất ngoài quốc doanh Sang năm 2005, tổng giátrị sản xuất của khu vực làng nghề tăng lên 2.783.667 triệu đồng, gấp 3 lần năm 2001,chiếm 75% giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh và hơn 30% giá trị sản xuấtcông nghiệp của toàn tỉnh Theo đà tăng trưởng này thì đóng góp của các làng nghề vàotổng giá trị sản xuất của tỉnh có thể lên tới trên 3.000 tỷ đồng

Đóng góp ngân sách của các làng nghề trong tỉnh cũng tăng theo mức tăng củagiá trị sản xuất Năm 2003, tổng số thuế thu được từ các làng nghề đạt 18.934 triệuđồng, chiếm 4,2% tổng thu ngân sách của tỉnh; năm 2004 là 42.991, chiếm 4,4% triệuđồng; năm 2005 tăng lên 49.248 triệu đồng, chiếm 4,6% [15] Trong số các làng nghề

có đóng góp vào ngân sách nhà nước cao thì Đa Hội, Phong Khê, Phú Lâm, Đồng Kỵ

và Văn Môn là những làng nghề tiêu biểu Đây là những làng nghề phát triển, có giá trịsản xuất hàng năm cao và có số doanh nghiệp nhiều Làng nghề giấy Phong Khê, năm

2003 nộp ngân sách Nhà nước 5.794 triệu đồng, năm 2004 nộp 6.913 triệu đồng vànăm 2005 là 9.338 triệu đồng Làng sắt thép Đa Hội năm 2004 tổng số thuế nộp ngânsách là 4.365 triệu đồng, năm 2005 là 5.892 triệu đồng

1.3.3 Các làng nghề góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Bắc Ninh theo hướng CNH, HĐH.

Trong quá trình vận động và phát triển, các làng nghề đã có vai trò tích cực trong

Trang 13

chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nôngnghiệp có thu nhập cao hơn Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ chiếm 70-80% Rõ ràng là

sự phát triển của các làng nghề có tác động tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông thôn theo hướng CNH, HĐH và xu hướng này đang ngày một gia tăng khi mà cáclàng nghề ngày càng phát triển

1.3.4 Các làng nghề góp phần xây dựng cuộc sống nông thôn mới và giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp

Cùng với sự phát triển kinh tế của các làng nghề là sự thay đổi nhanh chóng bộmặt nông thôn ngày nay Hạ tầng cơ sở kỹ thuật của các làng nghề như đường xá, cầucống đã được bê tông hoá toàn bộ; tỷ lệ các hộ được dùng nước sạch từng bước đượcnâng cao; điện, điện thoại và phát thanh truyền hình được phủ sóng ở tất cả các làngnghề; nhà cao tầng nhiều hơn; đời sống của người dân ngày càng văn minh, chất lượngcuộc được cải thiện rõ rệt, họ nhạy bén và khôn khéo trong nền kinh tế thị trường hơn sovới người dân ở những vùng nông thôn thuần nông Bên cạnh đó, do có công việc ổnđịnh với mức thu nhập khá mà các tệ nạn xã hội như trộm cắp, cờ bạc, rượu chè, nghiệnhút…cho đến các vấn đề xã hội mang tính chất vĩ mô như thất nghiệp, di dân tự do đãgiảm đáng kể, mô hình nông thôn mới đang dần được hình thành và phát triển

1.3.5 Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống.

Làng nghề, ngành nghề phát triển kéo theo sự đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầnglàng nghề: như giao thông được nâng cấp và cải tạo, thiết chế văn hoá ở cơ sở đượcquan tâm xây dựng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt về vật chất, đồng thời bảo tồn pháthuy giá trị bản sắc văn hoá của các làng nghề tại địa phương

Lịch sử phát triển làng nghề gắn với sự phát triển văn hoá của dân tộc Mỗilàng nghề gắn với các sản phẩm làm ra chứa đựng nét độc đáo của văn hoá dân tộc,

là di sản quý báo mà cha ông ta đã tạo ra và truyền laị cho con cháu làm vẻ vangcho tỉnh và cho đất nước Vì vậy bảo tồn và phát triển các ngành nghề thủ công làtăng thêm sức mạnh cội nguồn, tăng giá trị văn hoá truyền thống của Việt Nam đốivới bạn bè thế giới

Trang 14

1.4 Làng nghề và phát triển bền vững.

1.4.1 Định nghĩa phát triển bền vững.

Trước hết ta xem xét về phát triển bền vững các làng nghề như sau: Uỷ ban

thế giới về Môi trường và phát triển lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm về phát triển

bền vững, đó là: “ Sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai.’’ Như vậy

phát triển làng nghề bền vững là tạo cho thế hệ tương lai của các làng nghề mộtcuộc sống tốt hơn Do đó cần quan tâm tới mục tiêu phát triển bền vững các làngnghề trong nước

Phát triển bền vững các làng nghề là một bộ phận trong chiến lược phát triểnbền vững của đất nước, được đặt ra trong khuôn khổ quan niệm về phát triển bền

vững đất nước có chú ý tới những yếu tố đặc thù của các làng nghề Theo đó, phát triển bền vững làng nghề là việc bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế ổn định, có hiệu quả ngày càng cao trong bản thân làng nghề, bảo đảm các vấn đề về xã hội làng nghề lành mạnh như về việc làm và thu nhập của người dân, về tình hình sức khoẻ

và y tế cộng đồng… gắn với việc bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống của làng nghề.

Như vậy, bảo đảm phát triển bền vững làng nghề ở Việt Nam phải được xemxét trên hai góc độ:

Thứ nhất: Bảo đảm duy trì tính chất bền vững và hiệu quả trong hoạt động

sản xuất kinh doanh và dịch vụ của bản thân làng nghề Bao gồm bảo đảm các chỉtiêu về hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh của làng nghề; bảođảm khả năng cạnh tranh của các làng nghề và bảo đảm chất lượng môi trườngtrong nội bộ các làng nghề

Thứ hai: Tác động lan toả tích cực của làng nghề đến hoạt động KTXH và

môi trường của địa phương, khu vực có làng nghề Đây là yếu tố hết sức quan trọng

để đánh giá sự phát triển bền vững của làng nghề Nó không chỉ thể hiện sự pháttriển “khoẻ mạnh” của làng nghề mà còn biểu hiện “sức khoẻ” đó có tác dụng nhưthế nào đối với vùng, địa phương có làng nghề

Trang 15

Phát triển bền vững

MT bền vững

Kinh tế bền vững

Xã hội bền vững

1.4.2 Nội dung của phát triển bền vững

Từ khái niệm phát triển bền vững, thực chất là một sự phát triển có tính tổnghợp cao và có hệ thống ta thấy nội dung của phát triển bền vững gồm ba thành phần

Tiêu chí phản ánh môi trường:

Đây là tiêu chí quan trọng, nó phản ánh tính bền vững của làng nghề vànhững ảnh hưởng ngoại lai tích cực đến các vùng xung quanh làng nghề Làng nghềphát triển bền vững trước hết phải có khả năng tự tổ chức, xử lý tốt vấn đề môitrường do mình gây nên, ngoài ra còn phải làm thế nào để nó không gây ảnh hưởngtiêu cực đến môi trường sống và sức khoẻ của con người, BVMT sinh thái

Trang 16

Tiêu thức đánh giá việc bảo đảm môi trường cho khu vực trong và ngoài làngnghề cần tập trung vào ba yếu tố chính sau đây:

+ Khả năng duy trì vấn đề đa dạng hoá sinh học: hình thành những khu vực,những hình thức tạo môi trường phong phú cho làng nghề, có thể là trong hoặc bêncạnh làng nghề

+ Chống ONMT: có phương án xử lý ô nhiễm, hệ thống kỹ thuật chống ônhiễm, các phương án phòng chống và giải quyết hệ quả ô nhiễm

Đánh giá môi trường dựa trên những chỉ tiêu về môi trường, cụ thể là về môitrường đất, môi trường nước, môi trường không khí, chất thải, dựa trên những chỉtiêu đánh giá môi trường nêu rõ qua các bảng sau :

B ng 2 : M t s ch tiêu chuyên môn ánh giá môi tr ột số chỉ tiêu chuyên môn đánh giá môi trường không khí ố chỉ tiêu chuyên môn đánh giá môi trường không khí ỉ tiêu chuyên môn đánh giá môi trường không khí đánh giá môi trường không khí ường không khí ng không khí

Thông số Giải thích tên chất Đơn vị TVVN

5937 - 5938/1995

Nguồn: theo tiêu chuẩn ISO 14000 về quản lý môi trường

Trang 17

Bảng 3 : Một số chỉ tiêu chuyên môn đánh giá môi trường nước thải

Trang 18

Bảng 4: Một số chỉ tiêu chuyên môn đánh giá môi trường nước mặt

5942 - 1995

Nguồn: theo tiêu chuẩn ISO 14000 về quản lý môi trường

B ng 5 : M t s ch tiêu chuyên môn ánh giá môi tr ột số chỉ tiêu chuyên môn đánh giá môi trường không khí ố chỉ tiêu chuyên môn đánh giá môi trường không khí ỉ tiêu chuyên môn đánh giá môi trường không khí đánh giá môi trường không khí ường không khí ng n ước ngầm c ng m ầm

Thông số Giải thích tên chất Đơn vị TVVN

5944 -1995*

1329 – 2002BYT/QĐ**

Trang 19

B ng 6: M t s ch tiêu chuyên môn ánh giá môi tr ột số chỉ tiêu chuyên môn đánh giá môi trường không khí ố chỉ tiêu chuyên môn đánh giá môi trường không khí ỉ tiêu chuyên môn đánh giá môi trường không khí đánh giá môi trường không khí ường không khí ng đánh giá môi trường không khíất t

cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận

được Thông qua các chỉ số như “chỉ số phát triển con người (HDI)”, người ta có

thể đo được mức độ phát triển xã hội bền vững, cụ thể như sau: chỉ số HDI càng gần

1 thì càng phát triển Một đất nước mà có hệ số Gini càng nhỏ và chỉ số HDI cànggần 1 thì nước đó được coi là có xã hội bền vững

1.4.2.3 Bền vững về kinh tế

Đòi hỏi nền kinh tế phải tăng trưởng GDP và GDP bình quân đầu người cao;

cơ cấu kinh tế phải hợp lý, đảm bảo cho tăng trưởng GDP ổn định; lấy hiệu quảKTXH làm tiêu chí phấn đấu cho tăng trưởng Trong điều kiện hiện nay, nước có thunhập thấp phải có GDP bình quân đầu người tăng vào khoảng 5% mới có thể xem làbền vững về kinh tế Nếu thấp hơn, nền kinh tế ấy không thể xem là bền vững

1.4.3 Xu hướng phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 20

Hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực càng tạo điều kiện cho làngnghề phát triển theo hướng xuất khẩu Xu hướng thị trường hoá nền kinh tế, quốc tếhóa kinh tế và việc hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực ngày càng tạo điều kiệncho làng nghề phát triển theo hướng xuất khẩu thuận lợi hơn Bên cạnh đó xu hướngphát triển làng nghề bền vững Từ đó làng nghề sẽ chuyển từ thủ công sang công nghiệpvừa và nhỏ hiện đại Bên cạnh đó, do chính sách mở cửa hội nhập kinh tế quốc tếgiúp cho hàng ngoại tràn vào trong nước cũng tạo ra sự cạnh tranh găy gắt hơn,một bộ phận TTCN của làng nghề có nguy cơ không cạnh tranh được ngay ở thịtrường trong nước Đặc biệt đối với một số mặt hàng mang đậm bản sắc văn hoádân tộc, nhưng không được chú trọng hiện đại hoá, cho nên đã để mất thị trườngnội địa cũng như thị trường quốc tế.

Xu hướng đưa cơ khí thay thế một phần lao động thủ công Trong điều kiệnđổi mới cơ chế kinh tế hiện nay, ở nhiều làng nghề đã có xu hướng đưa cơ khí thaythế một phần lao động thủ công như nghề mộc đã sử dụng máy cưa, máy bào, máykhoan… nghề làm bún, bánh đa, giò chả đã làm bằng máy, ở các làng dệt phần lớncác hộ gia đình đã sử dụng máy dệt hiện đại

Tóm lại, làng nghề ở nước ta đang tích cực vận động theo hướng ngày càng

mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá, trên cơ sở đó để duy trì và mở rộng ngànhnghề Ngoài ra còn tập trung đổi mới công nghệ, trang thiết bị cơ khí kết hợp vớicông nghệ truyền thống để sản phẩm làm ra có chất lượng ngày càng cao đáp ứngnhu cầu của thị trường trong và ngoài nước

1.4.4 Những đặc điểm của làng nghề liên quan đến phát triển bền vững

Bên cạnh những vai trò không thể phủ nhận của các làng nghề thì cũng tồnnhững hạn chế đáng quan tâm mà chúng ta phải nghiên cứu, xem xét và tìm giảipháp khắc phục, cụ thể là:

Thứ nhất: do kinh tế hộ và doanh nghiệp tư nhân là chủ yếu vì vậy nó chứa

đựng trong mình nguy cơ tiềm tàng dẫn đến vô chính phủ trong sản xuất kinhdoanh, vì mục tiêu hàng đầu là chạy theo lợi nhuận cho nên trong việc sản xuất kinhdoang các doanh nghiệp nhiều khi bất chấp mọi thủ đoạn như ép giá, tăng giá, chất

Trang 21

lượng sản phẩm không đảm bảo, sự cạnh tranh giữa các cơ sở sản xuất trong làngnghề tăng lên nhiều khi dẫn đến sự tự huỷ hoại lẫn nhau trong sản xuất kinh doanh

do sự cạnh tranh về sản phẩm về lợi nhuận, về thị trường…vì vậy đôi khi dẫn đếnsản phẩm sản xuất ra mất dần ý nghĩa truyền thống

Thứ hai: Kinh tế làng nghề phát triển cũng là nhân tố góp phần làm phân hoá

giàu nghèo trong xã hội nông thôn, năng lực quản lý, năng lực kinh doanh và vốn,những mặt này trong hoạt động làng nghề có sự chênh lệch giữa các cơ sở sản xuất,

sự chênh lệch càng lớn thì sự phân hóa giàu nghèo càng trở lên sâu sắc hơn

Thứ ba: Hầu hết các làng nghề truyền thống đều có lịch sử tồn tại và phát

triển lâu đời, công nghệ sản xuất và cách thức quản lý đều rất lạc hậu Việc sản xuấtkinh doanh đều nằm trong khu dân cư, các khu sản xuất không được quy hoạch từđầu nên hệ thống cơ sở hạ tầng đều đã không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất vàngày càng xuống cấp trầm trọng Do tính chất lạc hậu cộng thêm ý thức trong côngtác BVMT yếu kém nên hầu hết các làng nghề truyền thống ở nước ta hiện nay đềugặp phải tình trạng ONMT trầm trọng, từ môi trường không khí, môi trường nướcđến môi trường đất đều bị ô nhiễm Có những làng nghề tình trạng ONMT đã ở mứcbáo động

1.5 Mối quan hệ giữa phát triển làng nghề và ô nhiễm môi trường

1.5.1 Thực trạng và những thách thức đối với môi trường Việt Nam

Hiện trạng môi trường nước ta trong những năm vừa qua cho thấy ONMT đangngày một gia tăng, môi trương đất, môi trường nước và môi trường không khí ngày càngxuống cấp, sự đa dạng hoá sinh học bị xâm phạm nghiêm trọng Tình trạng ONMT diễn

ra ở cả khu vực thành thị lẫn khu vực nông thôn và miền núi ảnh hưởng nặng nề đến sứckhoẻ của người dân Bên cạnh đó,ONMT đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trìnhthực hiện phát triển bền vững, đó là:

- ONMT ảnh hưởng trực tiếp đến tính ổn định và bền vững của sự phát triểnKTXH Phát triển KTXH là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thầncủa con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chấtlượng văn hoá Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân cũng như của cả loài người

Trang 22

trong quá trình phát triển Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ chặt chẽ: môitrường là địa bàn và là đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nêncác biến đổi của môi trường.

Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi làcải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, nhưng có thểgây ra ONMT tự nhiên hoặc nhân tạo Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tácđộng đến phát triển KTXH thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên đang là đốitượng của hoạt động phát triển hoặc gây ra thảm hoạ, thiên tai đối với các hoạt độngKTXH trong khu vực

- ONMT là một trở ngại to lớn trong sự phát triển của đất nước và làm nguy hạiđến tương lai của các thế hệ sau

ONMT càng cao đòi hỏi chúng ta phải bỏ ra những chi phí càng lớn để khắc phụctình trạng ô nhiễm và duy trì chất lượng môi trường Việc này không chỉ làm cạn kiệtnguồn lực của nền kinh tế mà còn ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận những cơ hội cho sựphát triển Nhằm giảm thiểu ONMT chúng ta cần phải đẩy mạnh công tác bảo vệ môitrường Bảo vệ môi trường chính là để giúp cho sự phát triển kinh tế cũng như xã hộiđược bền vững BVMT là việc làm không chỉ có ý nghĩa hiện tại mà quan trọng hơn, cao

cả hơn là nó có ý nghĩa cho tương lai Nếu một sự phát triển có mang lại những lợi íchkinh tế trước mắt mà khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, huỷ hoại môi trường, làmcho các thế hệ sau không còn điều kiện để phát triển mọi mặt (cả về kinh tế, xã hội, thểchất, trí tuệ con người…), thì sự phát triển đó không có ích gì Nếu hôm nay thế hệchúng ta không quan tâm và không làm tốt công tác bảo vệ môi trường, làm cho môitrường bị huỷ hoại thì trong tương lai, con cháu chúng ta sẽ phải gánh chịu những hậuquả tồi tệ

Trang 23

1.5.2 Những nguyên nhân dẫn đến ONMT tại các làng nghề

Vai trò của các làng nghề trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn ngàycàng được khẳng định Hàng năm, các làng nghề đã cung cấp cho hàng vạn laođộng nông thôn có việc làm ổn định với mức thu nhập khá; làm tăng giá trị tổng sảnphẩm hàng hoá cho nền kinh tế; đa dạng hoá kinh tế nông thôn và thúc đẩy chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo tồngiá trị văn hoá dân tộc Các kết quả đó là bằng chứng cho một hướng đi đúng gópphần thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực nông thôn Tuy nhiên, bên cạnh những kếtquả đạt được thì tình trạng ONMT trong các làng nghề đã trở lên bức xúc, nguyênnhân xuất phát từ:

Một là, hầu hết các làng nghề đều có lịch sử phát triển lâu đời thậm chí

có làng nghề đã có lịch sử 600-700 năm, khu vực sản xuất ở liền với khu dân cư,việc quy hoạch các làng nghề là không có, hạ tầng cơ sở đã hư hỏng hoặc có làmmới nhưng lại chắp vá và không có quy hoạch để đảm bảo vệ sinh môi trường.Hàng ngày ô nhiễm từ khâu sản xuất đã ảnh hưởng trực tiếp đến người dân Ngườilao động ở trong các làng nghề hầu như phải hứng chịu trọn vẹn những loại ô nhiễm

do việc nhà ở của mình cũng là công xưởng sản xuất Việc không có quy hoạch và

hạ tầng cơ sở cũ kỹ càng làm cho ONMT trở lên trầm trọng do không xử lý đượcchất thải từ các khu sản xuất và sinh hoạt của người dân, các chất thải bị lắng đọngkhông có chỗ thoát đã làm cho môi trường nước và môi trường đất vốn đã bị ônhiễm lại càng ô nhiễm hơn

Hai là, do tính chất là truyền thống, các nghề tiểu thủ công nghiệp lại sử

dụng những công cụ lao động thô sơ, kỹ thuật lao động và công nghệ sản xuất thìlạc hậu, cũ kỹ nên việc ONMT là không thể tránh khỏi Việc sản xuất không đi đôivới việc BVMT, các chất thải độc hại được thải ra từ những dây truyền sản xuất lạchậu không được xử lý ngay trong quá trình sản xuất đã làm gia tăng thêm mật độ ônhiễm

Ba là, nhận thức của người dân về BVMT kém Người lao động ở đây

vốn là những lao động thủ công có được nghề nghiệp thông qua việc kế thừa và

Trang 24

truyền nghề từ đời này qua đời khác, cuộc sống và công việc sản xuất của họ chủyếu dựa vào thói quen và đã tạo ra một nếp sinh hoạt khó thay đổi Thêm vào đó là

ý thức BVMT kém, người dân hết sức bàng quản trước tình trạng ONMT Xuhướng chạy theo lợi nhuận đã khiến những hộ sản xuất kinh doanh trong các làngnghề không mấy quan tâm đến trách nhiệm BVMT Đây chính là một trở ngạikhông nhỏ trong việc giảm thiểu ONMT ở các làng nghề

Bốn là, dù đã có sự quan tâm từ các cấp chính quyền địa phương trong

việc quản lý và cải thiện môi trường các làng nghề nhưng hiệu quả không cao Các

dự án BVMT làng nghề những năm gần đây thường là những giải pháp tình thếhoặc là giải quyết được chỗ này nhưng lại làm ô nhiễm chỗ khác Việc tuyên truyềnvận động người dân trong việc BVMT không thường xuyên, còn mang nặng tínhhình thức, phong trào, công tác quản lý ô nhiễm không được chú trọng, quy hoạchthiếu đồng bộ… là những nguyên nhân làm cho tình trạng ONMT trong các làngnghề không những không giảm đi mà đôi khi còn gia tăng

Những nguyên nhân trên đây lý giải phần nào về tình trạng ONMT trong cáclàng nghề ngày càng gia tăng và trầm trọng Tình trạng ô nhiễm này ảnh hưởngnghiêm trọng đến phát triển bền vững các làng nghề truyền thống Bên cạnh nhữngmặt tích cực mà làng nghề đã đem lại như phát triển kinh tế, phát triển xã hội, làmcho xã hội nông thôn Việt Nam ngày càng một khởi sắc thì tình trạng ONMT lạiảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ của người dân Một lý do đơn giản là việcONMT ngày một lan rộng từ môi trường không khí, môi trường nước đến môitrường đất Các chất thải ngày ngày được tích tụ trong không khí, trong nước vàtrong đất không được xứ lý là những hiểm hoạ mà con cháu chúng ta phải gánhchịu Tình trạng ô nhiễm môi trường ở làng nghề đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọngđến sức khoẻ của cộng đồng dân cư sống trong làng nghề và khu vực xung quanh Dođặc trưng sản xuất làng nghề nên khối lượng nước thải lớn Cống rãnh chứa nước thải lànhững ổ dịch bệnh tiềm tàng, là môi trường tốt cho côn trùng truyền bệnh ra người và giasúc Như vậy tình trạng ONMT trong làng nghề ở Bắc Ninh đang ngày một giatăng.Điều này đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của người dân, ảnh

Trang 25

hưởng đến sản xuất nông nghiệp, đến đất đai và nguồn nước sinh hoạt, đồng thời còn ảnhhưởng đến chính các cơ sở sản xuất trong làng nghề Rõ ràng là việc phát triển KTXHhiện tại đã và đang làm tổn hại đến lợi ích của thế hệ tương lai và điều này có nghĩa

là không có phát triển bền vững

1.5.3 Vai trò của bảo vệ môi trường trong sự nghiệp phát triển bền vững

Môi trường đã trở thành vấn đề toàn cầu, được tất cả các quốc gia quan tâmđặc biệt Quỹ môi trường thế giới (World environment fund- WEF) sẵn sàng hỗ trợ

và cho các quốc gia vay ưu đãi để thực hiện các dự án BVMT Đối với Việt Nam,vấn đề BVMT đã được xây dựng thành “Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010.Mới đây nhất, Luật BVMT ra đời và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày1/7/2006 đã tạo ra khung khổ chính sách pháp lý cụ thể cho hoạt động quản lý vàBVMT Như vậy, Đảng và Nhà nước đã thực sự quan tâm đến vấn đề môi trường,coi BVMT là một trong 3 chính sách hàng đầu của quốc gia (môi trường, kinh tế và

xã hội) Trong các chính sách phát triển kinh tế – xã hội, chính sách về BVMT luônđược lồng ghép và thực hiện song song Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đã chú trọngđầu tư ngân sách cho các hoạt động sự nghiệp BVMT, chiếm khoảng 1% tổng chingân sách nhà nước từ năm 2006 và theo Chiến lược là 2% vào năm 2010 Tỷ lệnày tuy còn nhỏ so với các nước phát triển song cũng đã thể hiện quyết tâm củaViệt Nam trong vấn đề BVMT và thực hiện phát triển bền vững

Phát triển bền vững là một vấn đề có tính cấp thiết liên quan đến nhiềungành, lĩnh vực và xuyên suốt nhiều thời đại Quản lý môi trường, bảo vệ, cải thiệnmôi trường, sử dụng hợp lý các yếu tố môi trường và các điều kiện thuận lợi củamôi trường nhằm phục vụ sự tồn tại và phát triển kinh tế-xã hội là những nội dungquan trọng trong hoạt động hiện nay và mai sau của toàn thế giới

Ngày nay, nhiều nước trên thế giới đã coi phát triển bền vững được thể hiệntrước tiên ở việc nâng cao, cải thiện chất lượng sống của con người theo phạm vikhả năng chịu đựng được của các hệ sinh thái Đó chính là mục tiêu về phát triểnbền vững

Trang 26

Một sự phát triển mà BVMT không được nhất thể hoá trong quá trình phát triển,không được coi là bộ phận cấu thành của quá trình phát triển thì sự phát triển đó khôngthể bền vững Một nền kinh tế bền vững về mặt môi trường là một nền kinh tế tuân thủcác nguyên lý cơ bản hoặc các quy luật về khả năng bền vững Đó là các nguyên lý cóthực, giống như các nguyên lý về khí động lực học hoặc nhiệt động lực học; cũng nhưvậy, một hệ thống kinh tế bền vững về mặt môi trường cũng phải tuân thủ nguyên lý vềkhả năng bền vững Một xã hội có thể vi phạm các quy luật về bền vững môi trườngtrong thời gian ngắn, nhưng không thể vi phạm trong thời gian dài.

Trong thập niên đầu của thế kỷ 21, quan điểm phát triển bền vững của ViệtNam đã được thể hiện rõ trong văn kiện Đại hội Đảng IX và Chiến lược phát triểnKTXH 2001-2010 Theo đó, phát triển bền vững của Việt Nam là: “phát triển nhanh,hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xãhội và BVMT” và “phát triển KTX gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảođảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạngsinh học” Phát triển bền vững ở Việt Nam nhằm hướng tới mục tiêu: “dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

1.6 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với vấn đề ô nhiễm môi trường ở các làng nghề.

1.6.1 ONMT là khuyết tật của nền kinh tế thị trường

Nói như vậy bởi lý do sau : Ô nhiễm Trong xã hội hiện đại, nền kinh tế thịtrường đôi khi chúng ta dễ dàng bỏ qua sự kiện rằng hoạt động kinh tế sử dụng mộtlượng lớn tài nguyên thiên nhiên đầu vào khác nhau Ví dụ các nguồn năng lượng từnhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ và khí thiên nhiên, năng lượng mặt trời vàgió cung cấp các nguồn đầu vào.).Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệpthường không quan tâm triệt để tới vấn đề ô nhiễm môi trường mà họ chỉ quan tâmtới lợi nhuận,làm thế nào để có thể thu được nhiều lợi nhất Họ thường không đầu tưvào cải tạo môi trường, rác thải công nghiệp thường đổ ra môi trường mà không hềqua xử lý Họ không phải bỏ ra chí phí để xử lý rác thải ONMT là ngoại ứng tiêucực của nền kinh tế thị trường Như vậy trong nền king tế thị trường mọi chủ thể

Trang 27

kinh tế đều chạy theo mục tiêu “lợi nhuận” thì vấn đề BVMT sẽ bị bỏ quên Vì vậy tanói ONMT là khuyết tật của nền kinh tế thị trường Lý thuyết kinh tế hiện đại chỉ ra rằngchỉ với “bàn tay vô hình” của thị trường thì không thể điều tiết và khắc phục những thấtbại mà cần phải có “bàn tay hữu hình” của Nhà nước Nhà nước với các công cụ quản lýcủa mình, can thiệp vào thị trường để điều tiết sản xuất, khắc phục những thất bại dokinh tế thị trường gây ra

1.6.2 Sở hữu Nhà nước về tài nguyên và môi trường

Tài nguyên thiên nhiên và môi trường là sở hữu của toàn dân và Nhà nước làđại diện chủ sở hữu Như vậy, Nhà nước không thể giao cho đối tượng nào khácchịu trách nhiệm chính về quản lý môi trường, trách nhiệm đó phải thuộc về nhàNhà nước Hơn nữa, với quyền lực và các công cụ quản lý của mình thì chỉ có Nhànước mới có đủ năng lực để quản lý và chịu trách nhiệm trước toàn dân các vấn đề

về tài nguyên và môi trường

1.6.3 Những bài học của các quốc gia trên thế giới

Kinh nghiệm thực tế của các quốc gia trên thế giới chỉ ra rằng cần phải có sựquản lý Nhà nước về BVMT Đối với các nước phát triển, ví dụ như Nhật Bản làquốc gia tiên phong đi đầu trong nhóm các nước đã phát triển, hiện nay đang truyền

bá kinh nghiệm cho các quốc gia phát triển sau là cùng với sự phát triển KTXH phải

có sự quản lý Nhà nước về môi trường, bởi lẽ như họ trước đây do không quan tâmtới vấn đề môi trường mà chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế nên phải trả giá quá đắtcho sự phát triển của mình Kinh nghiệm của Singapore cũng chỉ ra rằng, ngaytrong chiến lược phát triển KTXH của mình, Nhà nước đã rất chú trọng đến quản lýmôi trường, chính vì vậy mà thành tựu đạt được của họ hiện nay đã được thế giớithừa nhận là có tình bền vững

1.6.4 Tình trạng và những thách thức đối với môi trường Việt Nam

Hiện trạng môi trường nước ta trong những năm vừa qua cho thấy ONMTđang ngày một gia tăng, môi trương đất, môi trường nước và môi trường không khíngày càng xuống cấp, sự đa dạng hoá sinh học bị xâm phạm nghiêm trọng Tìnhtrạng ONMT diễn ra ở cả khu vực thành thị lẫn khu vực nông thôn và miền núi ảnh

Trang 28

hưởng nặng nề đến sức khoẻ của người dân Bên cạnh đó, trong những năm tới,chúng ta còn phải đối mặt với nhứng thách thức về môi trường như:

+ Đó là tình trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị BVMT thấp kém, lạchậu, ONMT ngày một gia tăng, trong khi đó khả năng đầu tư cho môi trường củaNhà nước cũng như các doanh nghiệp đều bị hạn chế

+ Sự gia tăng dân số, di dân tự do và đói nghèo tiếp tục gây ra những áp lựclớn đối với tài nguyên và môi trường

+ Nhận thức về môi trường và phát triển bền vững chưa đẩy đủ, ý thứcBVMT trong xã hội còn thấp

+ Tổ chức và năng lực quản lý môi trường chưa đáp ứng yêu cầu

+ Thách thức trong việc lựa chọn các lợi ích trước mắt về kinh tế và lâu dài

về môi trường và phát triển bền vững

+ Những mặt trái của hội nhập quốc tế và tự do hoá thương mại toàn cầunhất là sắp tới Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO gây ra nhiều tácđộng phức tạp về mặt môi trường

Trang 29

Từ Sơn có vị trí tiếp giáp như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Yên Phong - Bắc Ninh,

- Phía Nam giáp huyện Gia Lâm - Hà Nội,

- Phía Đông giáp huyện Tiên Du - Bắc Ninh,

- Phía Tây giáp huyện Gia Lâm và Đông Anh - Hà Nội

2.1.2 Địa hình

Khu vực Từ Sơn nói chung có địa hình cao ráo bằng phẳng, cốt cao độ daođộng từ 4,5m - 6,5m độ, có chỗ gò cao 7,0m-15m Cấu tạo địa tầng chủ yếu là đấtsét pha có cường độ chịu lực khá và ổn định, đáp ứng nhu cầu xây dựng công trình

Nhìn chung địa hình của huyện thuận lợi cho việc phát triển mạng lưới giaothông, thuỷ lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng mạng lưới khu dân cư, các khu côngnghiệp, TTCN…

2.1.3 Khí hậu và thời tiết

Do nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nên khí hậu thời tiết của huyện TừSơn mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm với hai mùa rõrệt

Ngoài ra ở Từ Sơn vào các tháng mùa hạ còn bị ảnh hưởng của gió bão kèmtheo mưa lớn kéo dài nhiều ngày, tạo ngập úng cho một số vùng trũng của huyệngây không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống của dân cư Vào mùa đông đôi khi

có sương muối xuất hiện làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp

Trang 30

2.1.4 Đặc điểm đất đai của huyện

Huyện Từ Sơn có tổng diện tích (DT) đất tự nhiên là 6133,23 ha (chiếm 7,64%diện tích tự nhiên của tỉnh), phân bố không đều giữa các đơn vị hành chính xã Toànhuyện có 10 xã và một thị trấn, xã có diện tích đất tự nhiên lớn nhất là xã Đình Bảng có845,2 ha chiếm 13,78%, thị trấn Từ Sơn có diện tích đất tự nhiên nhỏ nhất là 29,44 hachiếm 0,48%, diện tích đất tự nhiên bình quân trên đầu người 0,05 ha, đây là mức thấp

so với toàn tỉnh (bình quân toàn tỉnh khoảng 0,09 ha/người) [19]

Đất nông nghiệp có diện tích lớn nhất, chiếm 3739,28 ha (chiếm 60,97%),tiếp đó là đến đất chuyên dùng, đất thổ cư, đất chưa sử dụng Diện tích đất nôngnghiệp trong những năm qua giảm bình quân mỗi năm 2,11%, diện tích đất này có xuhướng giảm qua các năm do nhu cầu về đất thổ cư và đất chuyên dùng tăng lên cùngvới sự phát triển kinh tế của huyện, năm 2006 giảm so với năm 2004 là 162,99 ha.Đất chuyên dùng có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của huyện,đặc biệt là đối với sự phát triển ngành nghề CN-TTCN nông thôn Trước tình hìnhphát triển kinh tế như hiện nay, việc tăng lên của diện tích đất chuyên dùng là tất yếu

và việc lấn sang đất sản xuất nông nghiệp là không tránh khỏi

2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.2.1 Đặc điểm dân số lao động và xã hội

+ Tình hình dân số - lao động của huyện qua các năm 2004 - 2006 được thể hiệnqua bảng 7 Hiện nay, toàn huyện có 32.804 hộ với 129.452 nhân khẩu; số hộ nôngnghiệp là 4.942 hộ (chiếm 15,07%), hộ phi nông nghiệp là 27.862 hộ (chiếm 84,93%),trong đó hộ ngành nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) là 12.180 hộ (chiếm 43,72% số hộphi nông nghiệp) Trong những năm qua, hộ phi nông nghiệp có xu hướng tăng lên, năm

2004 là 24.051 hộ (chiếm 80,56%) thì năm 2006 là 27.862 hộ, bình quân mỗi năm tăng7,63% Mặt khác, số hộ nông nghiệp có xu hướng giảm, bình quân mỗi năm giảm7,71% Điều này cho thấy số hộ làm nông nghiệp đã chuyển dần sang các lĩnh vựckhác, chủ yếu là ngành nghề TTCN Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thônngày càng tăng, tỷ trọng ngành TTCN đã chiếm phần đa số, bên cạnh ngành thươngmại - dịch vụ

Trang 31

+ Hệ thống giao thông – vận tải: huyện có hệ thống giao thông đường bộ tươngđối hoàn chỉnh: quốc lộ 1A đi qua, có chiều dài 8 km, đường sắt Hà Nội- Lạng Sơn chạyqua huyện, quốc lộ 1B đi qua với chiều dài 4,5 km Đường liên xã, trục thôn, ngõ xómhầu hết được bê tông hóa.

+ Các cơ sở Y tế: Tuy còn khó khăn về cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị

kỹ thuật nhưng ngành y tế đã có nhiều cố gắng trong việc khám chữa bệnh Đến nayhuyện có 1 bệnh viện đa khoa, 1 trung tâm y tế dự phòng và 11/11 xã, thị trấn có trạm y

tế với đội ngũ y bác sỹ đã được đào tạo chuyên môn tốt phục vụ nhu cầu khám chữabệnh của người dân Tuy vậy việc quản lý hành nghề y dược tư nhân chưa chặt chẽ, côngsuất sử dụng giường bệnh còn thấp, việc kiểm tra vệ sinh môi trường, vệ sinh an toànthực phẩm chưa thường xuyên

+ Hệ thống giáo dục- đào tạo: Được phát triển khá toàn diện, hiện nay toàn huyện

có 4 trường phổ thông trung học (trong đó có 1 trường dân lập), 1 trung tâm giáo dụcthường xuyên, có 22 trường tiểu học và trung học cơ sở, 59 nhà trẻ mẫu giáo Đến nay đã

có 11/11 xã, thị trấn có trường học xây dựng kiên cố Nằm trên địa bàn huyện còn cótrường Đại học Thể dục thể thao Trung ương I, trường Cao đẳng công nghệ Bắc Hà,trường Cao đẳng thuỷ sản và trường Trung cấp quản lý kinh tế

Trang 32

Bảng 7: Tình hình dân số - lao động của huyện qua các năm (2004-2006)

Trang 34

2.2.2 Tình hình phát triển về kinh tế

Với số dân xấp xỉ là 130 nghìn người trên diện tích canh tác là 4.060 ha, huyện TừSơn được coi là nơi đất chật người đông Vì thế từ xưa đến nay người dân nơi đây khôngchỉ trông chờ vào ngành nông nghiệp Nhiều nghề truyền thống ở các làng xã đã được duytrì lâu đời và phát triển qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử, nhất là trong thời kỳ đổimới Đó là nghề đồ gỗ mỹ nghệ ở Đồng Quang, Phù Khê, Hương Mạc; sắt thép ở ChâuKhê, Đình Bảng; dệt ở Tương Giang; sơn mài ở Đình Bảng, Đồng Quang; xây dựng ởĐồng Nguyên, Tương Giang

Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện qua các năm 2005- 2006 Tổng giá trị sảnxuất của huyện không ngừng tăng lên qua các năm, bình quân mỗi năm tăng 17,07%.Đóng góp lớn nhất trong tổng giá trị sản xuất của huyện năm 2006 là ngành CN-TTCNđạt 1.871,8 tỷ đồng (chiếm 60,18%), sau đó đến ngành thương mại dịch vụ đạt 1.080,6 tỷđồng (chiếm 34,74%) và cuối cùng là ngành nông nghiệp đạt 158,17 tỷ đồng (chiếm5,09%) Qua số liệu về cơ cấu các ngành (theo giá cố định năm 1994) chúng ta thấy đã

có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua các năm theo hướng tăng dần tỷ trọng CN- TTCN

và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp Đây là dấu hiệu đáng mừng trong quátrình phát triển kinh tế xã hội của huyện Từ Sơn, khẳng định hướng đi đúng của cáccấp lãnh đạo, đời sống của nhân dân được cải thiện đáng kể

Trang 35

Bảng 8: Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Từ Sơn qua các năm (2004-2006)

Trang 36

2.3 Làng nghề Đồng Kỵ - Bắc Ninh và thực trạng phát triển kinh tế của làng nghề

2.3.1 Qúa trình hình thành làng nghề Đồng Kỵ - Bắc Ninh.

Nằm cách Hà Nội khoảng 25 km, thôn Đồng Kỵ - huyện Từ Sơn, tỉnh BắcNinh từ lâu vốn nổi tiếng với nghề sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ gỗ.Cùng với sự phát triển của tỉnh Bắc Ninh trong những năm gần đây thì bộ mặt củaĐồng Kỵ cũng có nhiều biến đổi Giờ đây làng cổ Đồng Kỵ đã được mở mang vớiquy mô lớn, trực thuộc khu công nghiệp Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và trở thành mộtlàng nghề nổi tiếng không những ở trong nước mà còn ở nhiều nước khác trên thếgiới.Và mỗi khi nhắc tới làng nghề Đồ gỗ Đồng Kỵ người ta lại trầm trồ về mộtngôi làng giàu có với nghề trạm khắc gỗ truyền thống

Làng nghề Đồng Kỵ được hình thành do sức lan toả của làng nghề xung

quanh đó là từ nghề đồ gỗ mỹ nghệ Phù Khê ở Từ Sơn có vị trí địa lý sát với làngnghề Đồng Kỵ Làng nghề này có lịch sử hình thành cách đây hơn 400 năm, từ thờinhà Lê-Trịnh Trải qua hàng trăm năm tồn tại nghề đồ gỗ mỹ nghệ đã hình thànhhoàn thiện tại hai làng Phù Khê Đông và Phù Khê Thượng Trong quá trình pháttriển của làng nghề, nghề trạm mộc của Phù Khê đã lan toả ra hàng loạt các làng lâncận như làng Nghĩa Lập, làng Tiến Bào, làng Đồng Hương, làng Mai Động, làngKim Bảng, làng Hương Mạc, hay đi xa hơn là làng Cao Thọ (Gia Bình), làng Tuyên

Bá (Lương Tài) Điển hình của sự lan toả của nghề trạm mộc Phù Khê này là làngĐồng Kỵ (Từ Sơn) Làng Đồng Kỵ trước đây có nghề làm pháo, nhưng sau khi cóNghị định số 406/NĐ-CP của Chính phủ về việc cấm đốt pháo thì nghề làm pháocủa làng Đồng Kỵ không còn nữa, một số người dân ở đây chuyển sang buôn bánhàng đồ gỗ mỹ nghệ sản xuất từ xã Phù Khê, với sự năng động và nhạy bén củamình, ngày nay làng Đồng Kỵ đã trở thành một làng đồ gỗ mỹ nghệ nổi tiếng trong

cả nước, thậm trí còn nổi tiếng hơn làng đồ gỗ mỹ nghệ gốc Phù Khê

Tổng số dân của Đồng Kỵ hơn 3.300 hộ với hơn 16.880 người, trong đó số hộtham gia sản xuất là 2.691 hộ (chiếm 80%) Thu hút 12.000 lao động (8.000 lao động địaphương và 4.000 lao động làm nghề từ nơi khác) Thu thập bình quân hàng năm của laođộng làm nghề khá cao(10 – 12 triệu /người)

Trang 37

Quy mô sản xuất của hộ gia đình trong thôn có sự khác nhau, phần lớn là các hộsản xuất nhỏ có doanh thu từ 15 đến 20 triệu đồng/tháng với thu nhập 1,5 – 2 triệu đồng/tháng chiếm khoảng 94% Số còn lại là các hộ sản xuất lớn (thành lập hợp tác xã hoặccông ty TNHH) với doanh số có thể đạt tới 100 triệu đồng/tháng.

Gỗ là nguyên liệu cơ bản cho quá trình sản xuất Gỗ nguyên liệu được sử dụngbao gồm các loại gỗ có giá trị cao thuộc nhóm quý hiếm như gụ, trắc, mun, lim,gương trong đó nhiều nhất là gỗ chắc và gụ, đặc biệt còn có cả pơmu Bên cạnh đó quátrình sản xuất còn sử dụng nhiều nguyên vật liệu và hoá chất khac như keo (cồn), bộtđắp, giấy ráp, và đối với sản phẩm hoàn thiện còn dùng thêm cả sơn và vecni

Lượng gỗ nguyên liệu sử dụng phụ thuộc vào quy mô của cơ sở sản xuất:

+ Tổng lượng gỗ sử dụng cho cả thôn ước tính khoảng 20.000m3/năm

+ Quy mô hộ gia đình 4 – 6 bộ bàn ghế/tháng là khoảng 1 -2 m3 gỗ/tháng

+ Quy mô lớn ƠHTX, công ty TNHH) lượng gỗ sử dụng có thể lên đến trên dưới10m3/tháng

Giấy ráp và keo cồn cũng là loại vật liệu được sử dụng phổ biến và đàng kể trong sảnxuất:

+ Lượng giấy ráp và khoảng từ 0.3 – 0,4 kg/1 đơn vị sản phẩm

+ Lượng keo cồn dùng trong lắp ráp, ghép hình thường là từ 0,3 – 1 kg/1 đơn vịsản phẩm

Thực tế lượng giấy ráp và keo cồn phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng gỗ, diện tích bềmặt sản phẩm cânn đánh bóng(kiểu dáng), mức độ gia công bề mặt(loại sản phẩm).Ngoài ra trong sản xuất còn sử dụng bột đá, bột đắp với số lượng ít Đối với sảnphẩm hoàn chỉnh có sử dụng thêm vecni và sơn BU

Trang 38

Làm nhẵn, sửa khuyết

tật

Làm phẳng, tạo hình

(ch , ánh n n, tr m à, đánh nền, trạm đánh giá môi trường không khí ền, trạm ạm trổ)

B o à, đánh nền, trạm

Đục mộng

Dựng thô, vào khung

Đánh thuốc Điện

Chất thải rắn (dăm bào)

Hơi dung môi hữu cơ

Vỏ hộp sơn, vecni

Tiếng ồn Chất thải rắn (mùn gỗ, vỏ trai

Bụi gỗ, tiếng ồn, hơi keo Chất thải rắn (mùn gỗ, giấy ráp thải)

Làm phẳng, tạo hỡnh(chà, đánh nền, trạm trổ)

Tiếng ồn Chất thải rắn (vụn gỗ)

Tiếng ồn, hơi keo

Bụi, tiếng ồn Chất thải rắn (mùn gỗ)

Trang 39

2.3.2.1 Thực trạng về vốn và công nghệ sản xuất

Vốn và công nghệ sản xuất là hai yếu tố đầu vào quan trọng đối với sự pháttriển của các làng nghề Những năm qua, tình trạng thiếu vốn diễn ra ở hầu hết cáclàng nghề Từ chỗ thiếu vốn, dẫn đến công nghệ sản xuất không được đổi mới đãảnh hưởng đến khả năng phát triển của các làng nghề

Vốn của các doanh nghiệp và các hộ sản xuất trong làng nghề được huy độngchủ yếu từ hai nguồn chính là vốn tự có và vốn vay Thực tế vốn tự có trong cáclàng nghề hiện nay chiếm một tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu tổng vốn huy động, khoảng từ30-40% còn lại chủ yếu là vốn vay Tuy nhiên, nguồn vốn vay từ các tổ chức tíndụng gặp phải nhiều trở ngại Đã có hàng loạt các ngân hàng thương mại như Ngânhàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng Công thương, Ngân hàngĐầu tư và phát triển, Ngân hàng Sài Gòn thương tín…mở chi nhánh tại các vùng cónhiều làng nghề nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho người dân ở đây, song những ràngbuộc về lãi suất vay và điều kiện thế chấp vẫn là những rào cản khiến cho các cơ sởsản xuất khó tiếp cận với nguồn vồn này Nhu cầu vay của các cơ sở sản xuất là rấtlớn, tuy nhiên tài sản lớn nhất của họ chủ yếu là diện tích đất đang ở lại bị định giárất rẻ do đó lượng vốn mà họ vay được quá thấp so với nhu cầu Những lý do nàydẫn đến tình trạng thiếu vốn của các cơ sở sản xuất trong làng nghề ngày một giatăng

Bảng 9: vốn sản xuất nghề mộc của hộ ở làng Đồng Kỵ Tổng vốn

Nguồn: Phòng thống kê huyện Từ Sơn

Qua bảng thấy rằng vốn sản xuất của hộ qua các năm tăng dần Do các hộ mởrộng sản xuất và do giả vật liệu gỗ tăng nhanh qua các năm vì vậy lượng vốn cần đểsản xuất tăng lên

Trang 40

Do thiếu vốn, nên công nghệ sản xuất tại các làng nghề chậm được cải tiến

và nâng cấp Hầu hết các dây truyền sản xuất đều đã lạc hậu, tự tạo, đã qua sử dụngcủa các cơ sở công nghiệp, hiệu suất hoạt động thấp và sản xuất ra những sản phẩmchất lượng không cao, không đáp ứng được nhu cầu của thị trường Tỷ lệ tự độnghoá và cơ khí hóa trong dây truyền sản xuất tại các làng nghề thấp Đối với làngnghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ dây chuyền sản xuất đã được đổi mới tương đối, việc

cơ khí hoá công cụ lao động đã được người lao động dần dần áp dụng như máy cưa,máy bào, mắt khoan, máy quay đã thay thế về cơ bản sức lao động của con người

và cho năng suất lao động cao

Mặc dù đã có nhiều thay đổi nhưng nhìn chung công nghệ sản xuất tronglàng nghề vẫn còn thô sơ, lạc hậu Vấn đề về vốn vẫn là yếu tố quyết định đến côngnghệ sản xuất Do đó, Nhà nước nói chung và chính quyền địa phương nói riêng cầnphải có những biện pháp, chính sách hỗ trợ cụ thể nhằm tháo gỡ những khó khăn vềvốn và công nghệ sản xuất cho làng nghề

2.3.2.2 Thực trạng về mặt bằng cho sản xuất

Nhìn chung diện tích mặt bằng dành cho sản xuất của làng nghề chật hẹp, nhỏ

bé Tình trạng phổ biến là sử dụng ngay nhà ở để làm nơi sản xuất, hầu hết các khusản xuất đều nằm liền kề khu dân cư, thậm chí có nơi khu sản xuất và khu dân cư làmột Diện tích dành cho tập kết nguyên vật liệu cũng nằm trong tình trạng đó Ngườidân ở đây sử dụng ngay đường giao thông trước nhà, hay đường ngõ làm nơi tập kếtnguyên vật liệu Người dân xây xưởng sản xuất ngay trong chính khuôn viên diệntích nhà mình, họ lắp đặt hàng loạt các máy như máy cưa, máy trà, máy bào trước sân

và sản xuất luôn tại đó Nguyên vật liệu được tập kết dải dọc theo con đường làng,bất kỳ chỗ trống nào cũng có thể được sử dụng làm sân bãi chứa vật liệu ngoài ra, hệthống nhà xưởng chủ yếu được làm bằng lán, lợp tấm fibrô xi măng, không có khuvực cho khu máy bào rất bụi Chính những yếu tố này là một trong những nguyênnhân gây lên tình trạng ô nhiễm môi trường trong các làng nghề

Đứng trước tình trạng thiếu diện tích mặt bằng cho sản xuất, trong những năm qua,

Ngày đăng: 27/10/2015, 16:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Sơ đồ đánh giá mức độ ô nhiễm tại các làng nghề - Phát triển kinh tế làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Bắc Ninh và vấn đề ô nhiễm môi trường
Hình 1 Sơ đồ đánh giá mức độ ô nhiễm tại các làng nghề (Trang 5)
Bảng 1: Đánh giá mức độ ô nhiễm của các nhóm làng nghề - Phát triển kinh tế làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Bắc Ninh và vấn đề ô nhiễm môi trường
Bảng 1 Đánh giá mức độ ô nhiễm của các nhóm làng nghề (Trang 6)
Bảng 3 :  Một số chỉ tiêu chuyên môn đánh giá môi trường  nước thải - Phát triển kinh tế làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Bắc Ninh và vấn đề ô nhiễm môi trường
Bảng 3 Một số chỉ tiêu chuyên môn đánh giá môi trường nước thải (Trang 17)
Bảng 5 :  Một số chỉ tiêu chuyên môn đánh giá môi trường  nước ngầm - Phát triển kinh tế làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Bắc Ninh và vấn đề ô nhiễm môi trường
Bảng 5 Một số chỉ tiêu chuyên môn đánh giá môi trường nước ngầm (Trang 18)
Bảng 4:  Một số chỉ tiêu chuyên môn đánh giá môi trường  nước mặt - Phát triển kinh tế làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Bắc Ninh và vấn đề ô nhiễm môi trường
Bảng 4 Một số chỉ tiêu chuyên môn đánh giá môi trường nước mặt (Trang 18)
Bảng 6:  Một số chỉ tiêu chuyên môn đánh giá môi trường  đất - Phát triển kinh tế làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Bắc Ninh và vấn đề ô nhiễm môi trường
Bảng 6 Một số chỉ tiêu chuyên môn đánh giá môi trường đất (Trang 19)
Bảng 9: vốn sản xuất nghề mộc của hộ ở làng Đồng Kỵ Tổng vốn - Phát triển kinh tế làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Bắc Ninh và vấn đề ô nhiễm môi trường
Bảng 9 vốn sản xuất nghề mộc của hộ ở làng Đồng Kỵ Tổng vốn (Trang 38)
Bảng 12: Thu nhập bình quân lao động/tháng của làng nghề Đồng Kỵ  qua các năm - Phát triển kinh tế làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Bắc Ninh và vấn đề ô nhiễm môi trường
Bảng 12 Thu nhập bình quân lao động/tháng của làng nghề Đồng Kỵ qua các năm (Trang 42)
Bảng 19. Kết quả phân tích chất lượng nước ngầm Chỉ tiêu Đơn - Phát triển kinh tế làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Bắc Ninh và vấn đề ô nhiễm môi trường
Bảng 19. Kết quả phân tích chất lượng nước ngầm Chỉ tiêu Đơn (Trang 53)
Bảng 21. Kết quả phân tích chất lượng đất làng nghề đồ gỗ Đồng Kỵ - Phát triển kinh tế làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Bắc Ninh và vấn đề ô nhiễm môi trường
Bảng 21. Kết quả phân tích chất lượng đất làng nghề đồ gỗ Đồng Kỵ (Trang 55)
Bảng 22. Tỷ lệ mắc các bệnh của người dân đến khám tại làng nghề Đồng Kỵ - Phát triển kinh tế làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Bắc Ninh và vấn đề ô nhiễm môi trường
Bảng 22. Tỷ lệ mắc các bệnh của người dân đến khám tại làng nghề Đồng Kỵ (Trang 56)
Bảng 23: năng suất lúa làng Đồng Kỵ theo khu đất qua các năm - Phát triển kinh tế làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Bắc Ninh và vấn đề ô nhiễm môi trường
Bảng 23 năng suất lúa làng Đồng Kỵ theo khu đất qua các năm (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w