1. Tính cấp thiết của đề tài Từ sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, thị trường trong nước đang phát triển theo xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng cao, việc cạnh tranh là không thể tránh khỏi. Nhất là khi các ngân hàng nước ngoài được phép gia nhập vào nước ta một cách tự do thì các ngân hàng trong nước đang đứng trước nguy cơ bị mất thị phần, nếu không kịp thời thích ứng và thay đổi thì chắc chắn sẽ bị đào thải. Hoạt động của một ngân hàng được đánh giá qua nhiều chỉ tiêu, và một chỉ tiêu quan trọng không thể thiếu là tín dụng đầu tư. Ngân hàng nào càng có dư nợ tín dụng cao, chất lượng tín dụng tốt thì càng chứng tỏ Ngân hàng đó kinh doanh có hiệu quả. Do vậy, công tác tín dụng thường được quan tâm chú trọng nhiều. Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) được đánh giá là ngân hàng hoạt động khá mạnh trong lĩnh vực tín dụng với quy trình một cửa chặt chẽ. Để hỗ trợ cho hoạt động tín dụng, Ban lãnh đạo Ngân hàng đã ban hành thêm hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng, hệ thống này sẽ hoàn thiện và giúp cho công tác tín dụng ngày càng phát triển, đem lại nhiều lợi ích cho cả khách hàng lẫn Ngân hàng. Xuất phát từ thực tế trên, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn” để nghiên cứu. 2. Mục tiêu nghiên cứu Mục đích của luận văn là phân tích hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn để đánh giá những ưu khuyết điểm của nó, từ đó mới có giải pháp khắc phục khuyết điểm và phát huy ưu điểm nhằm giúp hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp hoàn thành vai trò trong việc hỗ trợ công tác tín dụng tại SCB. 3. Phạm vi nghiên cứu Trong chuyên đề này không đề cập đến toàn bộ khách hàng mà chỉ xét mảng khách hàng doanh nghiệp bởi việc chấm điểm cho các doanh nghiệp phức tạp và nhiều vấn đề hơn so với chấm điểm khách hàng cá nhân. Hơn nữa, hệ thống xếp hạng tín dụng tại SCB mới chỉ được áp dụng đối với khách hàng doanh nghiệp. 4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu của đề tài chủ yếu là phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp xử lý số liệu, phương pháp phân tích đối chiếu, so sánh kết hợp với lý luận với thực tiễn để trình bày các quan điểm. 5. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, bài viết gồm 3 chương: Chương 1: Tín dụng và xếp hạng tín dụng khách hàng trong hoạt động của Ngân hàng Thương mại Chương 2: Thực trạng hệ thống xếp hạng tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
-
-1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, thị trường trong nướcđang phát triển theo xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng cao, việc cạnhtranh là không thể tránh khỏi Nhất là khi các ngân hàng nước ngoài đượcphép gia nhập vào nước ta một cách tự do thì các ngân hàng trong nước đangđứng trước nguy cơ bị mất thị phần, nếu không kịp thời thích ứng và thay đổithì chắc chắn sẽ bị đào thải
Hoạt động của một ngân hàng được đánh giá qua nhiều chỉ tiêu, và mộtchỉ tiêu quan trọng không thể thiếu là tín dụng đầu tư Ngân hàng nào càng có
dư nợ tín dụng cao, chất lượng tín dụng tốt thì càng chứng tỏ Ngân hàng đókinh doanh có hiệu quả Do vậy, công tác tín dụng thường được quan tâm chútrọng nhiều Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) được đánh giá làngân hàng hoạt động khá mạnh trong lĩnh vực tín dụng với quy trình một cửachặt chẽ Để hỗ trợ cho hoạt động tín dụng, Ban lãnh đạo Ngân hàng đã banhành thêm hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng, hệ thống này sẽ hoànthiện và giúp cho công tác tín dụng ngày càng phát triển, đem lại nhiều lợi íchcho cả khách hàng lẫn Ngân hàng
Xuất phát từ thực tế trên, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn” để
nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của luận văn là phân tích hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàngtại Ngân hàng TMCP Sài Gòn để đánh giá những ưu khuyết điểm của nó, từ đómới có giải pháp khắc phục khuyết điểm và phát huy ưu điểm nhằm giúp hệ
Trang 2thống xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp hoàn thành vai trò trongviệc hỗ trợ công tác tín dụng tại SCB.
3 Phạm vi nghiên cứu
Trong chuyên đề này không đề cập đến toàn bộ khách hàng mà chỉ xétmảng khách hàng doanh nghiệp bởi việc chấm điểm cho các doanh nghiệpphức tạp và nhiều vấn đề hơn so với chấm điểm khách hàng cá nhân Hơnnữa, hệ thống xếp hạng tín dụng tại SCB mới chỉ được áp dụng đối với kháchhàng doanh nghiệp
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài chủ yếu là phương pháp phân tíchtổng hợp, phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp xử lý số liệu, phươngpháp phân tích đối chiếu, so sánh kết hợp với lý luận với thực tiễn để trìnhbày các quan điểm
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, bàiviết gồm 3 chương:
Chương 1: Tín dụng và xếp hạng tín dụng khách hàng trong hoạt độngcủa Ngân hàng Thương mại
Chương 2: Thực trạng hệ thống xếp hạng tín dụng tại Ngân hàngThương mại cổ phần Sài Gòn
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng tại Ngânhàng Thương mại cổ phần Sài Gòn
Trang 3Chương 1 TÍN DỤNG VÀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM
1.1 Khái quát về tín dụng của NHTM
1.1.1 Khái niệm
Tín dụng Ngân hàng là quan hệ vay mượn về vốn giữa một bên là Ngânhàng với một bên là các tổ chức kinh tế, cá nhân mà theo đó Ngân hàngchuyển nhượng quyền sử dụng tạm thời một lượng giá trị cho khách hàngtheo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
Có nhiều cách diễn đạt khái niệm tín dụng Ngân hàng, nhưng chủ yếuđều thể hiện qua các nội dung cơ bản sau :
- Là quan hệ vay mượn về vốn giữa hai đối tác: một đối tác là chủ thểcho vay, còn đối tác kia là người đi vay
- Sự chuyển dịch vốn giữa hai đối tác là sự chuyển dịch quyền sử dụngvốn tạm thời, người vay phải trả gốc và lãi cho đối tác sở hữu vốn sau mộtthời gian thỏa thuận
* Đặc điểm của tín dụng Ngân hàng:
- Hoạt động tín dụng Ngân hàng được thực hiện dưới hình thức tiền tệ Khi nói đến các hình thức tín dụng khác, chẳng hạn tín dụng thươngmại, là nói đến việc vay mượn dưới hình thức hiện vật (hàng hóa), ngược lạicác nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng đều được thực hiện bằng tiền tệ Trên cơ sởhuy động mọi nguồn vốn tiền tệ tạm thời trong nền kinh tế để hình thành quỹcho vay, các NHTM cũng tiến hành cho các tổ chức, cá nhân vay để bổ sungvốn cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng Do huy động và chovay bằng tiền nên đối tượng cho vay của Ngân hàng rất linh hoạt, có thể đápứng mọi nhu cầu của khách hàng
Trang 4Tuy nhiên, hiện nay hoạt động tín dụng của Ngân hàng ngày càng đadạng, phong phú và đã xuất hiện hình thức cho vay bằng hiện vật, như nghiệp
vụ tín dụng thuê mua chẳng hạn Ở nghiệp vụ này, Ngân hàng là người chothuê (cho vay) cho người đi thuê (người vay) thuê một tài sản nào đó (thường
là máy móc, thiết bị) trong một thời hạn nhất định, đồng thời người thuê phảitrả một khoản tiền nhất định theo định kỳ gọi là tiền thuê Hết thời hạn thuê,người cho thuê có thể bán lại tài sản này cho người đi thuê (có tính đến số tiềnthuê đã trả)
- Ngân hàng có vai trò là một trung gian tài chính thực hiện huy độngvốn để cho vay Ngân hàng thực hiện huy động các nguồn vốn nhàn rỗi từ cáctầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế và có trách nhiệm hoàn trả tiền gốc và lãicho người gủi tiền Đồng thời, khi thực hiện các khoản vay, Ngân hàng cóquyền yêu cầu người vay hoàn trả nợ gốc và lãi theo cam kết
- Quá trình vận động và phát triển của tín dụng Ngân hàng độc lậptương đối với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội Đây
là đặc trưng quan trọng nhất của tín dụng Ngân hàng Thông thường, khi sảnxuất và lưu thông hàng hóa tăng lên thì khối lượng tín dụng cũng tăng lên,nhưng đối với tín dụng Ngân hàng thì có thể không tăng, vì có thể có nhiềunguồn tín dụng đầu tư cho các mục đích phi sản xuất Hơn nữa, cũng có thể
có những thời kỳ kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp mở mang sản xuấtkinh doanh có nhu cầu vốn rất lớn nhưng tín dụng Ngân hàng không đáp ứngđược
1.1.2 Phân loại tín dụng ngân hàng
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản theo từng nhóm dựa trên một
số tiêu thức nhất định Việc phân loại tín dụng có cơ sở khoa học là tiền đề đểcác Ngân hàng thiết lập quy trình tín dụng thích hợp và giúp cho người vay sửdụng vốn một cách hiệu quả, và từ đó nâng cao được chất lượng công tácquản trị rủi ro tín dụng
Trang 5Dựa trên nhiều tiêu thức, chúng ta có thể phân loại tín dụng Ngân hàngtheo nhiều cách khác nhau Tùy vào mục đích nghiên cứu và sử dụng củatừng người mà chúng ta có thể phân loại theo một số tiêu thức sau:
1.1.2.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng
Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm và
thường được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt vốn lưu động tạm thời củacác doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt của cá nhân
Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng này được cung cấp để mua sắm
tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các côngtrình nhỏ công trình nhỏ, có thời gian thu hồi vốn nhanh Tín dụng trung hạn
có thừi hạn trên một năm và ít hơn năm năm
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên năm năm và được
sử dụng để cáp vốn cho các doanh nghiệp để đầu tư xây dựng cơ bản, xâydựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mởrộng sản xuất có quy mô lớn
1.1.2.2 Căn cứ vào đối tượng tín dụng
Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được dùng hình thành vốn lưu
động của các tổ chức kinh tế như dự trữ hàng hoá đối với các doanh nghiệpthương nghiệp, cho vay để mua phân bón, giống, thuốc trừ sâu đối với các hộsản xuất nông nghiệp
Tín dụng vốn lưu động thường cho vay để bù đắp mức vốn lưu độngthiếu hụt tạm thời, loại tín dụng thường được chia làm hai loại sau: cho vay
dự trữ hàng hoá, cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiếtkhấu thương phiếu
Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được dùng để hình thành tài sản
cố định Loại tín dụng này thường được đầu tư để mua tài sản cố định, cải tiến
và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trìnhmới, thời hạn cho vay đối với loại tín dụng này là trung và dài hạn
Trang 61.1.2.3 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn
Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng dành cho
các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác để tiến hành sản xuất hànghoá và lưu thông hàng hoá
Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng dành cho cá nhân để đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, xe cộ,… Tín dụng tiêu dùng được thểhiện bằng hình thức tiền hoặc bán chịu hàng hoá, việc cấp tín dụng bằng tiềnthường do các ngân hàng, quỹ tiết kiệm, hợp tác xã tín dụng và các tổ chức tíndụng khác cung cấp Bên cạnh hình thức tín dụng bằng tiền còn có hình thứctín dụng được biểu hiện dưới hình thức bán hàng trả góp do các công ty, cửahàng thực hiện
1.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng
1.1.3.1 Tín dụng Ngân hàng đã thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất
Sự tồn tại khách quan của phạm trù tín dụng là một tiền đề quan trọngcho sự vận động liên tục vốn của nền kinh tế quốc dân Những nguồn vốnchưa được sử dụng trong nền kinh tế quốc dân (vốn tạm thời nhàn rỗi) baogồm:
+ Vốn tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế: đó là thu nhập bằngtiền của xí nghiệp để bù đắp hao phí vật chất trong quá trình sản xuất, thunhập bằng tiền của người lao động hình thành do quỹ lương tích lũy tiền tệthu nhập thuần túy sáng tạo từ các xí nghiệp sản xuất…
+ Vốn tạm thời nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư
Tín dụng Ngân hàng đã động viên, tập trung các nguồn vốn đó về mộtmối thông qua hoạt động huy động của mình Trên cơ sở đó các nguồn tàichính tạm thời nêu trên sẽ được Ngân hàng khai thác và sử dụng triệt để nhằmmang lại hiệu quả kinh tế cao, tránh tình trạng vốn chết, đồng thời thúc đẩynền kinh tế phát triển Tín dụng Ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu về vốn
Trang 7cho quá trình sản xuất được liên tục, tập trung vốn cho quá trình tái sản xuất
mở rộng với quy mô ngày càng lớn cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
1.1.3.2 Tín dụng Ngân hàng góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất
mở rộng, góp phần đầu tư phát triển
Muốn hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường, các doanh nghiệpcần phải có một số vốn nhất định, trong trường hợp muốn mở rộng sản xuấtkinh doanh thì họ cần phải có một số vốn lớn hơn Vấn đề thiếu vốn tạm thờithường xuyên xảy ra ở các doanh nghiệp Không phải bất cứ một doanhnghiệp nào và không phải bất cứ lúc nào họ cũng đáp ứng nổi những nhu cầu
đó Trong trường hợp thiếu vốn để phục vụ cho quá trình sản xuất và tái sảnxuất, họ cần phải đi vay vốn Ngân hàng Tín dụng Ngân hàng đã góp phầnđiều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo cho quá trình sản xuất được diễn
ra liên tục
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, tín dụng Ngân hàng là một trongnhững nguồn hình thành vốn lưu động và vốn cố định của các doanh nghiệp
Vì vậy, việc đầu tư tín dụng sẽ góp phần sắp xếp, tổ chức sản xuất, hình thành
cơ cấu kinh tế hợp lý Mặt khác, hoạt động tín dụng Ngân hàng đã đẩy nhanhquá trình tăng trưởng kinh tế, đồng thời cũng giải quyết các vấn đề xã hội
1.1.3.3 Tín dụng Ngân hàng có vai trò quan trọng trong tổ chức điều hòa lưu thông tiền tệ
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng của mình, các Ngân hàng
đã huy động và tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi, đồng thời đã rút khỏi lưuthông một bộ phận tiền tệ không cần thiết (việc Ngân hàng Nhà nước pháthành tiền để tạo nguồn vốn đầu tư sẽ làm tăng khối lượng tiền trong lưuthông, gây nên sự mất cân đối trong quan hệ tiền – hàng, dẫn đến lạm phátnền kinh tế) Mặt khác, dựa vào quy luật của lưu thông tiền tệ trong quá trìnhcân đối nguồn vốn tín dụng với nhu cầu vay, NHNN thực hiện đưa tiền vào
Trang 8lưu thông Do đó, sự vận động của vốn tín dụng là trên nguyên tắc đảm bảohiệu quả kinh tế để tổ chức điều hòa lưu thông tiền tệ.
Hơn nữa, quá trình hoạt động tín dụng Ngân hàng gắn liền với việcthanh toán không dùng tiền mặt góp phần làm giảm bớt lượng tiền mặt lưuthông trên thị trường, điều này đồng nghĩa với việc hạn chế lạm phát
1.1.3.4 Tín dụng Ngân hàng góp phần tăng cường chế độ hạch toán trong các doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Đặc trưng cơ bản của tín dụng Ngân hàng là sự vận động trên cơ sởhoàn trả các lợi tức của con nợ đối với Ngân hàng Các đơn vị kinh tế, cánhân khi vay đều phải cam kết thực hiện đầy đủ các điều kiện mà Ngân hàngđưa ra nhằm đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả, phù hợp vớiđiều kiện sản xuất kinh doanh của đơn vị và hoàn trả vốn và lãi đúng thời hạn.Nếu đơn vị không thực hiện đúng cam kết thì Ngân hàng sẽ phải dùng cácbiện pháp chế tài tín dụng Do đó mà các đơn vị sản xuất kinh doanh tìm mọibiện pháp để tăng hiệu quả sử dụng vốn như đẩy nhanh vòng quay vốn, tăngnăng suất, giảm giá thành nhằm tạo ra lợi nhuận cao hơn, hoàn trả vốn và lãiđúng hạn Điều này thúc đẩy đơn vị sản xuất kinh doanh tăng cường khâuhạch toán kế toán một cách chặt chẽ để đảm bảo doanh lợi ngày càng cao,tăng hiệu quả sử dụng vốn tín dụng
1.1.3.5 Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện phát triển các ngành kinh tế kém phát triển, là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thờinhàn rỗi chưa sử dụng nằm phân tán ở mọi nơi: trong tay các doanh nghiệp,các cơ quan Nhà nước, các cá nhân để cho các đơn vị kinh tế vay Nhưngtrong quá trình đầu tư tín dụng không phải trải đều cho các chủ thể có nhu cầu
mà việc đầu tư được thực hiện một cách tập trung chủ yếu vào các đơn vị cótriển vọng phát triển sản xuất kinh doanh Quá trình đầu tư này là điều tất yếu
Trang 9vì vừa đảm bảo tránh rủi ro tín dụng, vừa thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinhtế.
Tuy nhiên, trong nền kinh tế vẫn có một số ngành kinh tế phải thực sựđược đầu tư cho dù các ngành đó không đạt hiệu quả cao Đây là các ngànhkinh tế mũi nhọn, xương sống của nền kinh tế, bởi chính chúng mới tạo rađược sự phát triển cho các ngành khác, giúp cho nền kinh tế tăng trưởng vữngmạnh Do vậy, tín dụng Ngân hàng với một mức lãi suất ưu đãi sẽ giúp chomột số ngành kinh tế kém phát triển có cơ hội phát triển
1.1.3.6 Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện để phát triển kinh tế đối ngoại
Tín dụng Ngân hàng đẫ trở thành một phương tiện nối liền kinh tế cácnước với nhau Tín dụng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tài trợxuất nhập khẩu hàng hóa và hiện đại hóa nền kinh tế Sở dĩ nó có tầm quantrọng như vậy bởi các hoạt động này đòi hỏi phải có một lương vốn lớn, đặcbiệt là vốn ngoại tệ mà số vốn này không một tổ chức kinh tế hoặc cá nhânnào có thể có đủ Chính vì vậy mà tín dụng Ngân hàng sẽ là nguồn vốn tài trợđắc lực cho các nhà đầu tư và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ.Hơn nữa, nếu Ngân hàng có một chính sách tín dụng đúng đắn thì nó sẽ có tácdụng tích cực đến việc xuất nhập khẩu hàng hóa Một chính sách tín dụng ưuđãi với các sản phẩm xuất khẩu sẽ làm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa nàytrên thị trường quốc tế, tức là đẩy mạnh được xuất khẩu, đem lại nhiều lợi íchcho quốc gia
1.1.4 Các phương thức cho vay
Cho vay từng lần: mỗi lần cho vay vốn, khách hàng và tổ chức tín
dụng làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký hợp đồng
Cho vay theo hạn mức tín dụng: tổ chức tín dụng và khách hàng xác
định và thoả thuận một hạn mức tín dụng nhất định duy trì trong một thời hạnnhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh
Trang 10Cho vay theo dự án đầu tư: tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn
để thực hiện các dự án đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các
dự án phục vụ đời sống
Cho vay hợp vốn: một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với
một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một
tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụngkhác
Cho vay trả góp: khi vay vốn tổ chức tín dụng và khách hàng thoả
thuận số lãi tiền vay phải trả, cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ chonhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay Tài sản mua bằng vốn vay chỉ thuộc sởhữu của bên vay khi trả đủ nợ gốc và lãi
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: tổ chức tín dụng cam kết
bảo đảm sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức nhất định
Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tíndụng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: tổ
chức tín dụng chấp nhận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trongphạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rúttiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổchức tín dụng
Các phương thức cho vay khác phù hợp với quy định của Nhà nước 1.1.5 Rủi ro tín dụng
1.1.5.1 Khái niệm
Rủi ro tín dụng là khả năng chủ thể vay vốn hay chủ thể tham gia hợpđồng tín dụng không thực hiện đúng với hợp đồng tín dụng đã cam kết vớiNgân hàng Hay nói rõ ràng hơn, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổnthất mà Ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đầy đủ vốn và lãihoặc trả không đúng hạn hoặc không trả
Trang 11Rủi ro tín dụng là một tất yếu trong hoạt động kinh doanh của Ngânhàng, chỉ có thể tìm ra phương pháp quản lý, hạn chế nó mà thôi Để làmđược điều đó, không những phải hiểu đầy đủ về rủi ro tín dụng mà còn hiểuthật sâu sắc tình hình kinh doanh thực tế của Ngân hàng.
1.1.5.2 Những thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra
Đối với Ngân hàng: rủi ro tín dụng sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng như: thiếu tiền chi trả cho khách hàng lợi nhuậnngày cành giảm dẫn đến lỗ và mất khả năng thanh toán
Đối với xã hội: hoạt động của Ngân hàng có liên quan đến hoạt động
của toàn bộ nền kinh tế Vì vậy, khi rủi ro tín dụng xảy ra có thể làm phá sảnmột ngân hàng, sau đó lây lan sang các ngân hàng khác tạo tâm lý bất ổntrong dân chúng, đua nhau đến các ngân hàng rút tiền trước thời hạn Điều đó
có thể dẫn đến phá sản hàng loạt các ngân hàng và tác động xấu đến nền kinh
tế Rủi ro tín dụng là vấn đề Chính phủ phải quan tâm, Ngân hàng TrungƯơng phải khuyến cáo thường xuyên thông qua công tác kiểm tra, thanh tra,chiết khấu và sẵn sàng tài trợ cho các NHTM khi có các biến cố rủi ro xảy ra
1.1.5.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Nguyên nhân từ khách hàng vay vốn:
- Đối với khách hàng là cá nhân: một số nguyên nhân có thể làm chokhách hàng vay vốn không thể trả nợ cho ngân hàng đầy đủ cả vốn lẫn lãi là:thu nhập không ổn định, bị thất nghiệp, tai nạn lao động, thiên tai, hỏa hoạn,
sử dụng vốn vay sai mục đích,…
- Đối với khách hàng là các doanh nghiệp: thường không trả được nợ làdo: khả năng tài chính của doanh nghiệp suy giảm và lỗ trong kinh doanh, Sửdụng vốn vay sai mục đích, thị trường cung cấp vật tư bị đột biến, bị cạnhtranh và mất thị trường tiêu thụ, sự thay đổi trong chính sách của Nhà nước,…
Nguyên nhân từ phía ngân hàng:
Trang 12Nguyên nhân đầu tiên và quan trọng nhất là con người Nguyên nhân
này cũng là nguyên nhân gây nhức nhối cho các Ngân hàng hiện nay, vìkhông ai khác mà chính cán bộ Ngân hàng mình không những là nguyên nhângây ra rủi ro, mà còn làm hạn chế kết quả đạt được khi Ngân hàng thực thi cácbiiện pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng Hơn nữa, khi công nghệ Ngân hàngphát triển, xu thế của các Ngân hàng là tiến tới hình thức hoạt động một cửa,điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho những cán bộ Ngân hàng không có đủtrình độ, suy giảm phẩm chất đạo đức, “rút ruột” chính Ngân hàng mình Các
lý do chủ yếu của nhóm nhân tố này là do sự yếu kém về trình độ nghiệp vụcũng như tư cách đạo đức của cán bộ trong Ngân hàng Nguyên nhân này thểhiện ở sự yếu kém về trình độ cán bộ tín dụng, thể hiện ở phẩm chất đạo đức
và thái độ thiếu tinh thần trách nhiệm của cán bộ tín dụng Những yếu kém vềtrình độ và tinh thần trách nhiệm đó làm cho quá trình phân tích, thẩm địnhkhách hàng bị kém chất lượng, thậm chí còn làm vô hiệu chính sách quy trìnhtín dụng Nguy hiểm hơn nữa là cán bộ có thể móc nối với khách hàng để “rútruột” Ngân hàng
Ngoài ra, nguyên nhân do cơ cấu tổ chức tín dụng, chính sách, quy trình tín dụng, khả năng nhận biết rủi ro, công cụ đánh giá rủi ro, công nghệ,…của
NHTM còn chưa đồng bộ, đầy đủ, còn nhiều rườm rà và hay thay đổi gây bấtlợi cho hệ thống kiểm soát rủi ro tín dụng của các Ngân hàng Đây cũng chính
là các nguyên nhân quan trọng gây rủi ro tín dụng của các NHTM hiện nay
Các nguyên nhân khách quan:
* Môi trường tự nhiên
Bất kỳ hoạt động nào cũng chịu tác động củ môi trường tự nhiên, đặcbiệt là hoạt động sản xuất kinh doanh trong các ngành nông – lâm – ngưnghiệp Điều kiện tự nhiên thuận lợi hay khắc nghiệt sẽ ảnh hưởng trực tiếpđến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và từ đó ảnh hưởnggián tiếp đến các Ngân hàng là người cung ứng vốn sản xuất Thiên tai, lũ lụt,
Trang 13động đất, hỏa hoạn, dịch bệnh,… là những hiện tượng mà con người dần dần
có thể kiểm soát được và hạn chế tổn thất đến mức thấp nhất có thể bằng cácbiện pháp phòng ngừa thích hợp
* Môi trường kinh tế
Là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, hoạt động trongnền kinh tế thị trường, không thể tránh khỏi những tác động đa chiều của môitrường kinh tế như: sự suy thoái, biến động tỷ giá hay lạm phát… Những biếnđộng này ít nhiều ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hiệu quả hoạt độngcủa doanh nghiệp, của khách hàng vay vốn, từ đó ảnh hưởng đến khả năngthanh toán nợ của khách hàng, gây rủi ro tín dụng cho Ngân hàng
* Môi trường chính trị
Môi trường chính trị đóng vai trò rất lớn trong việc phát triển của nềnkinh tế nói chung và của doanh nghiệp nói riêng Trong môi trường chính trịkhông ổn định: sự thay đổi về chính trị, điều chỉnh chính sách, chế độ hoặcthay đổi địa giới hành chính các địa phương, sự tách hay sát nhập của các bộngành, sát nhập hay chia tách địa giới hành chính,… sẽ tác động đến hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến khảnăng hoàn trả tín dụng của khách hàng đối với Ngân hàng Thêm nữa, hoạtđộng kinh doanh của Ngân hàng liên quan tới rất nhiều Bộ ngành và lĩnh vựckhác nhau Vì vậy, mỗi thay đổi trong bộ máy quản lý Nhà nước đều tác độngtới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
* Môi trường xã hội
Môi trường xã hội bao gồm nhận thức, phong tục tập quán, trình độ vănhóa, mức sống của con người trong một vùng lãnh thổ nhất định Đối với xãhội đang phát triển thì nhu cầu và nhận thức trong việc sử dụng các sản phẩmNgân hàng chưa cao do nhiều yếu tố, có thể chưa có đủ điều kiện sử dụng haychưa hiểu hết các tiện ích của sản phẩm này, nhận thức chưa đầy đủ về giá trị
Trang 14khoản tiền có được từ tài khoản vay ở Ngân hàng mà đem sử dụng bừa bãi,sai mục đích, thiếu trách nhiệm dẫn đến tổn thất cho Ngân hàng.
* Môi trường pháp lý
Rủi ro tín dụng là rủi ro có ảnh hưởng lan truyền đến rất nhiều hoạtđộng của nền kinh tế, do vậy các hoạt động này bị giám sát bởi nhiều quyđịnh, quy chế, văn bản pháp lý Song hành lang pháp luật chưa đồng bộ, chưađầy đủ, còn nhiều sơ hở đã dẫn đến không thể kiểm soát được hết các hiệntượng lừa đảo của khách hàng trong việc sử dụng vốn vay, gây hậu quả choNgân hàng Mặt khác, còn gây nhiều khó khăn cho các Ngân hàng trong xử lýthu hồi nợ, điều đó làm gia tăng rủi ro tín dụng cho các Ngân hàng
Bên cạnh tác động trực tiếp đến hoạt động tín dụng, môi trường pháp lýkhông đồng bộ, không phù hợp với xu thế phát triển kinh tế hiện tại sẽ tạo ramôi trường cạnh tranh không lành mạnh, tạo cho các doanh nghiệp yếu kémlàm ăn bất chính, lừa đảo lẫn nhau và lừa đảo chính Ngân hàng Đồng thờikhiến cho các nhà đầu tư trung thực e dè, đặc biệt đối với các nhà đầu tư nướcngoài, do đó hạn chế về nhu cầu vốn, có thể gây ra ứ đọng vốn, điều này cũnggây nên tổn thất cho các Ngân hàng
1.2 Hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng trong quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại
1.2.1 Đặc điểm và vai trò của xếp hạng tín dụng trong quản lý rủi ro tín dụng của NHTM
1.2.1.1 Đặc điểm chung của xếp hạng tín dụng của NHTM
Xếp hạng tín dụng khách hàng (XHTDKH) đang ngày càng trở nênquan trọng trong quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại ViệtNam XHTDKH của ngân hàng cũng gần giống như XHTDKH của các tổchức xếp hạng quốc tế như Moody, Standard & Poor và các tổ chức xếp hạngkhác ở chỗ các tổ chức này đều cố gắng tổng hợp đánh giá về rủi ro không trảđược nợ như đã cam kết của khách hàng vay vốn Tuy nhiên, XHTDKH của
Trang 15ngân hàng có những điểm khác so với các tổ chức quốc tế (bản thân giữa các
tổ chức quốc tế cũng khác nhau) như: cơ cấu và tính chất của các mức xếphạng, thiết kế của cơ chế chấm điểm xếp hạng, cũng như cách sử dụng kếtquả xếp hạng Một trong những lý do giải thích cho những điểm khác nhautrên là: XHTDKH của ngân hàng sẽ do chính các cán bộ của ngân hàng thựchiện và không được tiết lộ cho người ngoài ngân hàng
Với một số lượng lớn các khách hàng vay vốn, thường từ vài nghìn đếnvài chục nghìn khách hàng, thì XHTDKH là một công cụ thực sự đắc lựctrong quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng Nếu không có một hệ thống tổnghợp và xử lý thông tin sẵn có thì các ngân hàng sẽ rất khó khăn trong việcđánh giá và so sánh rủi ro của rất nhiều khách hàng khác nhau với các thôngtin đa dạng của từng khách hàng Theo thông lệ, XHTDKH có thể được sửdụng trong các lĩnh vực quản lý rủi ro tín dụng như sau: Chính sách và quytrình cho vay, giám sát rủi ro danh mục tín dụng, lập báo các quản trị rủi ro,lập dự phòng rủi ro tín dụng, xác định mức vốn an toàn tối thiểu, phân tíchhiệu quả sinh lời của danh mục tín dụng và xác định khung lãi suất tiêuchuẩn
Tóm lại, XHTDKH là một cấu phần trọng yếu trong hệ thống tín dụng vàquản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Nó là một trong những tiêuchí phản ánh rủi ro của khoản mục tín dụng của ngân hàng; cũng như gópphần hình thành và phản ánh bản chất của các quyết định tín dụng mà cácngân hàng thương mại thực hiện hàng ngày Việc thấu hiểu XHTDKH đượcnhận thức, thiết kế, vận hành và sử dụng như thế nào trong quản lý rủi ro tíndụng là vấn đề thiết yếu để có thể thấu hiểu được các ngân hàng thương mạithực hiện chức năng tín dụng và kiểm soát rủi ro tín dụng như thế nào
Các đặc điểm về cấu trúc, thiết kế và vận hành của XHTDKH rất khácnhau giữa các ngân hàng khác nhau, ví dụ như: số lượng các mức xếp hạng,rủi ro gắn liền với các mức xếp hạng, cũng như các quyết định về việc phân
Trang 16công cán bộ đánh giá và lựa chọn cách thức xem xét kết quả xếp hạng Nóichung, khi thiết kế XHTDKH, các ngân hàng phải cân nhắc nhiều yếu tố như:chi phí và hiệu quả của việc thu thập thông tin, tính nhất quán của các mứcxếp hạng, các khuyến khích đối với nhân viên, bản chất của hoạt động kinhdoanh của ngân hàng, và việc ứng dụng các kết quả xếp hạng vào hoạt độngquản lý.
Thực tế đã chứng minh rằng không có một XHTDKH “phù hợp” chotất cả các ngân hàng Sự “phù hợp” của một quy trình chỉ có thể được chứngminh qua việc quy trình đó được xây dựng và vận hành như thế nào trongthực tế
sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động cũng như giảm thiểu những gian lận tronghoạt động tín dụng
XHTDKH sẽ góp phần quan trọng việc xác định mức tổn thất tín dụng vàchi phí vốn tương ứng với từng loại hình sản phẩm, lĩnh vực tín dụng, tạođiều kiện định hướng xây dựng chiến lược cho hoạt động tín dụng trên cơ sởcân nhắc rủi ro và lợi nhuận đem lại
XHTDKH góp phần hoàn thiện khung quản lý rủi ro tín dụng, trong đóbao gồm: Xác định mức rủi ro tín dụng hợp lý, Kiểm soát và giảm thiểu rủi rotín dụng kịp thời, ngăn chặn gian lận và xây dựng văn hóa trong quản lý tíndụng
Trang 17XHTDKH góp phần thiết kế quy trình tín dụng hiệu quả hơn, cung cấpdịch vụ cho khách hàng nhanh hơn do vậy sẽ tiết kiệm được nhiều chi phíquản lý hơn và tạo được nhiều lợi nhuận hơn.
Từ những lợi ích đem lại như trên, XHTDKH đã góp phần nâng cao nănglực cạnh tranh của ngân hàng Uy tín và vị thế của ngân hàng trên thị trườngtrong nước và trên tầm quốc tế được đánh giá cao Trên cơ sở đó, quy môhoạt động và tầm ảnh hưởng của ngân hàng sẽ ngày càng được mở rộng, đápứng chiến lược phát triển của ngân hàng trong tương lai
1.2.2 Nội dung của hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng
1.2.2.1 Đối tượng được xếp hạng
Đối tượng được xếp hạng là các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng và cánhân vay vốn ngân hàng
1.2.2.2 Cơ chế xếp hạng của hệ thống
Cơ chế xếp hạng của hệ thống căn cứ vào số điểm có được sau khi đánhgiá và chấm điểm cho bộ chỉ tiêu tiêu chuẩn Bộ chỉ tiêu sẽ do các ngân hàngthiết kế và xây dựng dựa trên các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng vàcác đặc điểm riêng phù hợp với điều kiện của từng ngân hàng
Bộ chỉ tiêu này sẽ bao gồm những yếu tố sau: Số lượng các chỉ tiêu,tính chất của các chỉ tiêu, số điểm phân bổ cho các tiêu chuẩn xếp hạng vàtrọng số của các chỉ tiêu trong tổng số điểm đánh giá
1.2.2.3 Nhân tố được xét để xếp hạng
Các nhân tố được xem xét trong hệ thống xếp hạng tín dụng kháchhàng sẽ được áp dụng theo thông lệ, bao gồm các nhân tố tài chính và phi tàichính có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng Các nhân tố tài chính bao gồm: tìnhhình tài chính, các chỉ số tài chính, mức độ tin cậy của báo cáo tài chính
Các nhân tố phi tài chính bao gồm: đặc điểm hoạt động kinh doanh, xuhướng phát triển ngành kinh tế, quy mô hoạt động, chính sách của nhà nước,tình hình nhân sự, trình độ quản lý, khả năng lãnh đạo của người đứng đầu
Trang 18doanh nghiệp, mối quan hệ của doanh nghiệp với cơ quan hữu quan, uy tínhay thương hiệu của doanh nghiệp, tình hình quan hệ tín dụng hiện với ngânhàng… và rất nhiều các nhân tố khác.
1.2.2.4 Căn cứ và cách thức xếp hạn tín dụng khách hàng
Xếp hạng tín dụng được thực hiện căn cứ trên việc đánh giá và chấmđiếm cho các tiêu chí tài chính và phi tài chính đã được xây dựng tiêu chuẩnhoá
Người xếp hạng sẽ thu thập các thông tin liên quan đến người vay, baogồm các thông mang tính chất định tính và định lượng, so sánh chúng vớinhững tiêu chuẩn đã được xây dựng cho từng lĩnh vực, cân nhắc đánh giá vàcho điểm từng tiêu chí đánh giá Quá trình so sánh, cân nhắc, đánh giá và chođiểm đối với các tiêu chí có thể phụ thuộc nhiều vào mối liên hệ so sánhtương quan với các khách hàng khác nhau Phải phụ thuộc một phần vào đánhgiá chủ quan của người đánh giá là đặc điểm chung của tất cả các hệ thốngxếp hạng nội bộ của các ngân hàng thương mại Điều này đòi hỏi người cán
bộ đánh giá phải có kiến thức và kinh nghiệm tốt về lĩnh vực mà minh đangđánh giá Đây cũng là một trong những đòi hỏi đối với các ngân hàng trongquá trình thực hiện hệ thống này
Một trong những thách thức nữa đặt ra cho hệ thống xếp hạng của ngânhàng là các nguồn dữ liệu, thông tin cho việc đánh giá có thể không sẵn có vàđáng tin cậy Tuy nhiên vấn đề này sẽ được xử lý ở nhiều khâu khác nhau của
hệ thống, từ việc thiết kế các chỉ tiêu, vận hành và đánh giá hệ thống
1.2.2.5 Kiểm soát và đánh giá kết quả xếp hạng
Để bảo đảm Kết quả xếp hạng phản ánh kịp thời, thực tế và hợp lý mức
độ rủi ro, Hệ thống Xếp hạng sẽ được thường xuyên và định kỳ xem xét vàđánh giá bằng các thủ tục sau:
Trang 19- Ngân hàng phải có phương pháp phân công đánh giá, cũng như ápdụng các chính sách thưởng phạt hợp lý đối với những người tham gia đánhgiá để có thể hạn chế ý kiến chủ quan của người đánh giá do nảy sinh nhữngmâu thuẫn về lợi ích Tuy nhiên, ngân hàng cũng cần bảo đảm hiệu quả và chiphí của Hệ thống Xếp hạng.
- Kết quả đánh giá được thực hiện cán bộ đánh giá phải được xem xétlại bởi cán bộ khác độc lập và trưởng bộ phận tín dụng
- Định kỳ, Ngân hàng phải thực hiện đánh giá đối với kết quả xếp hạngbởi một bộ phận hoàn toàn độc lập, trên cơ sở xem xét mẫu Nếu kết quả xemxét cho thấy có sự khác biệt trọng yếu, thì Hệ thống Xếp hạng cần được xemxét điều chính lại kịp thời
Trang 20Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN
2.1 Giới thiệu về ngân hàng TMCP Sài Gòn
2.1.1 Ngân hàng TMCP Sài Gòn
Theo quyết định số 00018/NH-GP ngày 06/06/1992 của Thống đốcNgân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn, tiềnthân là Ngân hàng thương mại cổ phần Quế Đô đã chính thức ra đời với sốvốn điều lệ ban đầu là 10 tỷ đồng
NHTMCP Quế Đô bước chân vào thị trường với số vốn khá khiêm tốn,sau một thời gian hoạt động kinh doanh ngân hàng vẫn không có bước tiếntriển và lâm vào tình trạng thua lỗ kéo dài, với khoản nợ quá hạn lớn, không
có khả năng thu hồi Nguyên nhân chủ yếu là do bộ máy quản lý yếu kém,không đưa ra được hướng đi chiến lược giúp cho ngân hàng thoát khỏi giaiđoạn khó khăn, nhân viên ngân hàng tay nghề còn chưa vững vàng, khôngnắm bắt được những thay đổi của thị trường Vào thời điểm này ngân hàngđang đứng trước bờ vực phá sản, việc cải tổ là một nhu cầu cấp bách khôngthể chậm trễ
Trước áp lực phải thay đổi nhanh chóng, ngân hàng đã cải tổ toàn bộ từ
cơ cấu bộ máy tổ chức, phương hướng hoạt động đến tên gọi Từ tháng 4 năm
2003, với thương hiệu mới – Ngân hàng TMCP Sài Gòn đã hồi sinh và khôngngừng phát triển Một ban điều hành mới ra đời cùng với đội ngũ cán bộ nhânviên trẻ trung, năng động , nắm vững nghiệp vụ ngân hàng, dưới sự lãnh đạosáng suốt, kiên quyết của Hội đồng quản trị và sự hỗ trợ đắc lực của Ban tưvấn, SCB đã có một bước tiến vượt bậc về quy mô cũng như chất lượng hoạtđộng kinh doanh SCB đã có một bước ngoặt mới trong lịch sử của mình, một
Trang 21bước làm xoay chuyển cả vận mệnh, đã đưa ngân hàng thoát khỏi sự đe dọaphá sản và bắt đầu những bước phát triển mới.
Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) đã cung cấp nhiều sản phẩm đáp ứngnhu cầu của mọi đối tượng khách hàng, các sản phẩm chính áp dụng cho từngđối tượng khách hàng cá nhân hay doanh nghiệp được chia thành nhiều nhómnhư: nhóm sản phẩm huy động vốn, nhóm sản phẩm sử dụng vốn và các dịch
vụ trung gian
Nhóm sản phẩm huy động vốn chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàngbằng đồng Việt Nam, ngoại tệ và vàng Nhóm sản phẩm này rất đa dạng baogồm tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, tiền gửi ký quỹ, tiền gửi đồng chủtài khoản,… giúp khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn
Nhóm sản phẩm sử dụng vốn chủ yếu là cung cấp tín dụng, đầu tư, hùnvốn liên doanh bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ và vàng Sản phẩm chính là chovay nắng hạn và cho vay trung dài hạn đối với khách hàng cá nhân hay kháchhàng doanh nghiệp
Các dịch vụ trung gian bao gồm thực hiện thanh toán trong và ngoàinước, thực hiện dịch vụ ngân quỹ, chuyển tiền kiều hối và chuyển tiền nhanh,thanh toán quốc tế, phát hành thẻ ATM Các hoạt động này đã đem đến nhiềutiện ích cho khách hàng, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng khi đến vớiSCB
Nhận biết được tầm quan trọng của việc liên kết giữa các ngân hàng
để tạo ra được những sản phẩm mang đến sự thuận tiện cho khách hàng,SCB đã tham gia vào những liên minh lớn như: tham gia vào hệ thốngchuyển tiền nhanh trên toàn thế giới Western Union, tham gia liên minhthẻ Vietcombank
Trang 222.1.2 Bộ máy quản lý của Ngân hàng TMCP Sài Gòn
Sơ đồ 1: Bộ máy tổ chức
2.2 Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn
2.2.1.Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn
Thực tế hiện nay cho thấy các loại hình sản phẩm dịch vụ tại các ngânhàng là hầu hết giống nhau Để cạnh tranh nhằm giữ được khách hàng cũ vàphát triển khách hàng mới, SCB đã không ngừng nâng cao chất lượng phục
vụ khách hàng
Hội đồng quản trị Ban kiểm soát
Phó TGĐ phụ trách tác nghiệp
Phó TGĐ phụ trách TC/
KT
Phó TGĐ phụ trách rủi ro
Phó TGĐ phụ trách
hỗ trợ
Trưởng phòng kiểm soát nội bộ
Các công
ty con
Kiều hối
TK &
HĐ
Tiêu dùng
TT thanh toán
TT quốc tế
Nguồn vốn và kinh doanh ngoại tệ
Báo cáo TC
Kế hoạch tổng hợp
Công nghệ thông tin
RR tín dụng
RR tác nghiệp
RR thị trường
Đào tạo
Trang 23+ Phát huy sáng kiến, cải tiến cách thức phục vụ khách hàng.
+ Thu thập thông tin phản hồi từ khách hàng và nhân viên về chấtlượng phục vụ khách hàng thông qua công tác thăm dò và khảo sát ý kiến củakhách hàng
+ Thiết lập các giải thưởng của SCB dành cho các khách hàng, cũngnhư nhân viên,…
Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng phục vụkhách hàng, cùng với nhiều chương trình thực hiện đã tạo sự phát triển ngàycàng cao cho Ngân hàng thông qua kết quả hoạt động kinh doanh của SCB
2006 và 2007 như sau:
Báo cáo kết quả kinh doanh cho thấy lợi nhuận tăng qua các năm: lợi
nhuận sau thuế năm 2007 đạt 361.323.755.045 đồng, gấp 2,34 lần con số của năm 2006 (154,231,989,025 đồng) do tốc độ tăng doanh thu cao hơn tốc độ
tăng chi phí Tuy nhiên, tỷ lệ lãi thu từ hoạt động dịch vụ trên tổng lợi nhuậnvẫn còn rất thấp Do vậy, trong thời gian tới, đơn vị cần đẩy mạnh các dịch vụhiện có, cũng như phối hợp với các phòng ban chức năng Hội sở đưa ranhững sản phẩm mới nhằm cải thiện tỷ lệ này
Trang 24Bảng 1.1: BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
NĂM 2006 – 2007
1 Thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự 1,702,239,957,448 734,587,784,416
2 Chi phí lãi và các chi phí tương tự (1,257,032,082,321) (479,603,728,430)
I Thu nhập lãi thuần 445,207,875,127 254,984,055,986
3 Thu nhập phí từ hoạt động dịch vụ 142,159,951,855 31,581,048,500
4 Chi phí hoạt động dịch vụ (5,923,450,137) (1,994,926,771)
II Thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ 136,236,501,716 29,586,121,729 III Lãi/lỗ từ hoạt động kinh doanh ngoại hối 2,499,209,563 (149,409,198)
IV Lãi/lỗ thuần từ hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh 69,305,030,992 11,900,684,674
V Lãi/lỗ thuần từ hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư
5 Thu nhập từ hoạt động khác 65,472,946,522 7,270,586,255
6 Chi phí hoạt động khác (24,774,071,114) (1,422,808,138)
VI Lãi/lỗ thuần từ hoạt động khác 40,698,875,408 5,847,778,117 VII Thu nhập vốn góp mua cổ phần 558,000,000 816,497,879 VIII Chi phí hoạt động (274,746,197,142) (118,700,225,222) IX
LN thuần từ hoạt động kinh
doanh trước chi phí dự phòng
rủi ro tín dụng
419,759,295,664 184,285,503,965
X Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng (58,435,540,619) (30,053,514,940)
XI Tổng lợi nhuận trước thuế 361,323,755,045 154,231,989,025
7 Chi phí thuế TNDN hiện hành (101,018,996,370) (30,312,105,089)
8 Chi phí thuế TNDN hoãn lại
XII Chi phí thuế TNDN (101,018,996,370) (30,312,105,089) XIII Lợi nhuận sau thuế 260,304,758,675 123,919,883,936
Trang 25Bảng 1.2: BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
- Chứng khoán kinh doanh 64,038,274,000 227,798,000,000
- Dự phòng giảm giá CK kinh
khoán đầu tư
VIII - Góp vốn, đầu tư dài 57,324,500,000 39,074,500,000
Trang 27V - Vốn tài trợ, ủy thác đầu
tư, cho vay TCTD chịu rủi ro 5,927,000,000
VI - Phát hành giấy tờ có giá 1,399,999,500,000 1,000,000,000,000 VII - Tài sản nợ khác 549,313,407,380 187,803,655,696
1/ Các khoản lãi và phí phải
Trang 284/ Chênh lệch đánh giá lại tài
b Lợi nhuận chưa phân
tự huy động đóng vai trò quan trọng nhất
Đến ngày 31/12/2006, tổng nguồn vốn của SCB đạt 10.943 tỷ đồng,đến cuối năm 2007 tổng nguồn vốn đạt 25.980 tỷ đồng, tăng 15.037 tỷ đồngtương ứng với tăng lên 137,4%
Trang 29Cơ cấu vốn của SCB cân bằng, tận dụng được nhiều nguồn vốn, đảmbảo sự chủ động về nguồn vốn và luôn được cải thiện theo xu hướng ngàycàng hợp lý Hai nguồn vốn chính trong các năm qua là vốn của các tổ chứctín dụng khác và vốn của dân cư, các tổ chức kinh tế Tuy nhiên, tỷ trọng vốn
từ các tổ chức kinh tế và dân cư ngày càng tăng Việc sử dụng vốn thông quatrung gian là các tổ chức tín dụng khác giảm dần phù hợp với cơ cấu nguồnvốn của loại hình Ngân hàng TMCP tại Việt Nam
Hệ số an toàn vốn (vốn chủ sở hữu/tài sản có rủi ro) luôn cao hơn quyđịnh (8%)và ngày càng cao Cuối năm 2006, hệ số an toàn vốn của SCB đạt9,4% và hệ số này được duy trì khá ổn định đến cuối năm 2007
2.2.3 Hoạt động tín dụng – đầu tư
Nét nổi bật trong hoạt động tín dụng – đầu tư của SCB là có sự tăngtrưởng cao, đã giữ chân và phục vụ tốt các khách hàng truyền thống Đồngthời mở rộng đối tượng khách hàng vay mới, nhất là khách hàng loại vừa vànhỏ, đi đôi với việc kiểm soát tín dụng được duy trì thường xuyên, không chỉtrong các bộ phận tác nghiệp kinh doanh mà cả trong hệ thông kiểm tra, kiểmsoát nội bộ Đây là hoạt động chính, có thể nói là hoạt động chủ lực của SCBtrong thời gian qua
Trang 30Hiệu quả từ hoạt động tín dụng – đầu tư tăng mạnh thể hiện rõ nét quatốc độ tăng nhanh của chỉ tiêu dư nợ tín dụng Dư nợ tín dụng năm 2007 tăngtrưởng khá nhanh với tốc độ tăng trung bình là 10,1%/tháng Không chỉ tăngcường hoạt động tiếp thị các khách hàng tiềm năng, SCB còn thu hút kháchhàng bằng các chính sách ưu đãi như: miễn, giảm phí thanh toán trong nước,
hỗ trợ 50% phí bảo hiểm tài sản thế chấp, ưu đãi lãi suất cho khách hàngchuyển doanh thu về SCB,…
Bên cạnh đó, SCB luôn quan tâm đến chất lượng tín dụng và bảo đảm
an toàn trong hoạt động tín dụng Để nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tưtín dụng, đến nay, SCB đã chuẩn hóa quy trình tín dụng thống nhất trong toànngân hàng Mặc dù nợ xấu và nợ quá hạn có tăng lên về số tương đối, nhưngtổng dư nợ tăng trưởng nhanh hơn cả về số tuyệt đối lẫn số tương đối, do đó
tỷ lệ nợ quá hạn trong năm 2007 được duy trì ở mức thấp chỉ có 0,59%
Các hoạt động bảo lãnh phi tín dụng trong năm có tăng nhưng khôngcao là do công tác quan hệ tiếp thị khách hàng chưa tốt Phát triển hoạt độngbảo lãnh phi tín dụng với quy mô lớn hơn nữa, phải trở thành chính sách đầu
tư tín dụng của SCB trong thời gian tới
2.2.4 Hoạt động dịch vụ
2.2.4.1 Bảo lãnh nội địa (không tính bảo lãnh L/C)
Doanh số bảo lãnh năm 2007 đạt khoảng 350 tỷ đồng Nghiệp vụ bảolãnh tuy đã đưa vào áp dụng nhưng thực tế nó vẫn chưa được phát triển tạiSCB, doanh số bảo lãnh vẫn còn rất thấp Đây là loại hình dịch vụ đã có từkhá lâu tại các ngân hàng trên thế giới nhưng đối với nước ta hiện nay thì hiệuquả và phạm vi của hoạt động bảo lãnh còn rất khiêm tốn Do vậy, trong năm
Trang 31tới, để có thể đạt được kế hoạch được giao về thu nhập dịch vụ, đơn vị cầnđẩy mạnh hơn nữa loại hình dịch vụ này.
2.2.4.2 Thanh toán quốc tế
Từ cuối tháng 03/2006, SCB đã được Ngân hàng Nhà nước cho phépthực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế trực tiếp SCB đã nhanh chóng bổ sungnhân sự, củng cố hệ thống quy trình, quy chế hướng dẫn tác nghiệp, cũng nhưtăng cường quảng cáo, tiếp thị khách hàng xuất nhập khẩu về giao dịch tạingân hàng Chỉ trong hơn hai năm hoạt động, dịch vụ này đã đạt được nhiềuthành quả đáng kể
Doanh số hoạt động năm 2006 và 2007 đã chứng tỏ hiệu quả hoạt độngcủa dịch vụ này Về doanh số phát hành L/C năm 2007 đạt hơn 40 tỷ đồng
Dịch vụ chuyển tiền bằng điện/thư nhằm phục vụ các cá nhân, tổ chứcthuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động trong mọi lĩnh vực kinh doanh dịch
vụ Đây là loại hình mang nhiều tiện ích, nhất là trong hoạt động xuất nhậpkhẩu Doanh số TTR năm 2007 đạt hơn 24 tỷ đồng
2.2.4.3 Dịch vụ thẻ
Năm 2007 dịch vụ thẻ tại SCB Hà Nội đã từng bước được mở rộng nhờvào các đợt quảng cáo, khuyến mại, tiếp thị, các chính sách ưu đãi kết hợp vớiviệc tài trợ cho các cuộc thi Qua đó khách hàng đã biết đến thẻ SCB Linknhiều hơn Trong năm 2006 đã phát hành được 5.235 thẻ, đến năm 2007, sốthẻ được phát hành là 5.836 thẻ Tuy nhiên, các tiện ích tăng thêm của thẻSCB Link vẫn còn đơn điệu nên tính hấp dẫn đối với khách hàng chưa cao
2.2.4.4 Kinh doanh ngoại tệ và vàng
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và vàng của SCB ngày càng phát triển,chủ yếu hoạt động kinh doanh vàng trong nước kết hợp với mua vàng nhậpkhẩu, thanh toán bằng USD và hoạt động thanh toán quốc tế cũng tăng mạnh
Năm 2007, SCB đã được giấy phép của NHNN về việc cấp hạng ngạchnhập khẩu 1000 kg vàng phục vụ cho hoạt động kinh doanh SCB là một
Trang 32trong bảy ngân hàng được phép kinh doanh vàng trên tài khoản Tham gia sàngiao dịch vàng, SCB đã tiến hành nhập khẩu được 1.250 kg vàng phục vụ chohoạt động kinh doanh.
2.2.4.5 Dịch vụ kiều hối
Hoạt động chi trả kiều hối được thực hiện thông qua công ty EDEN.Doanh số của hoạt động này phát triển với tốc độ cao, lượng khách hàng tìmđến với SCB ngày càng nhiều Hoạt động này không chỉ mang lại doanh thu
mà còn đa dạng hóa dịch vụ, tạo thế cân bằng trong kinh doanh cho SCB
2.2.4.6 Các hoạt động khác
* Hoạt động quản trị điều hành
Nhằm đảm bảo các đợn vị phát triển theo định hướng chung của toànngân hàng, trong năm 2007, SCB đã tiến hành giao chỉ tiêu kế hoạch kinhdoanh cho từng đơn vị Việc giao chỉ tiêu này, tuy mới đầu có thể gây áp lựcnhưng nó đề ra được mục tiêu cụ thể để từng đơn vị phấn đấu Đối với từngchỉ tiêu, mỗi đơn vị có thể hoàn thành tốt chỉ tiêu này, chưa hoàn thành chỉtiêu kia nhưng nhìn chung cách làm này giúp các đơn vị có động lực, mục tiêu
rõ ràng để phấn đấu
Trong năm 2007, SCB luôn thực hiện tốt các chỉ số an toàn, các quyđịnh của Ngân hàng Nhà nước, không phát sinh sai phạm Để thực hiện đượcđiều đó, ban lãnh đạo đã thiết lập, ban hành các quy chế, quy trình nghiệp vụnhằm chuẩn hóa các hoạt động nghiệp vụ, tạo tính bài bản, chuyên nghiệptrong hoạt động ngân hàng
* Hợp tác với các ngân hàng trong và ngoài nước
Nhằm hỗ trợ cho việc phát triển nghiệp vụ thanh toán quốc tế và gópphần đưa thương hiệu của ngân hàng thâm nhập thị trường quốc tế, SCB đãnhanh chóng xúc tiến việc thiết lập quan hệ đại lý Tình hình phát triển quan
hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài đến cuối năm 2007 đã có nhiều thànhtích đáng kể
Trang 33Ngân hàng đã mở 07 tài khoản Nostro bằng USD, EUR và GBP tại cácngân hàng Wachovia – N.A, Wachovia N.A – Charlotte NC, Citi Bank – NewYork Branch, BHF Bank – Frankfurt, Deutsche Bank – Frankfurt, DeutscheBank Trust Americas Co, Standard Chartered Bank – London.
2.3 Thực trạng xếp hạng tín dụng khách hàng tại ngân hàng TMCP Sài Gòn
Ngân hàng TMCP Sài Gòn đã áp dụng quy trình xếp hạng tín dụngkhách hàng theo quyết định số 67/QĐ-SCB-TGĐ.06 có hiệu lực kể từ ngày15/08/2006
2.3.1 Nguyên tắc chấm điểm tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn
Đối với mỗi tiêu chí trên bảng tiêu chuẩn đánh giá các tiêu chí, chỉ sốthực tế gần với trị số nào nhất thì áp dụng cho loại xếp hạng đó, nếu nằm giữahai trị số thì ưu tiên nghiêng về phía loại tốt hơn
Trong trường hợp khách hàng có bảo lãnh toàn phần của một tổ chức
có năng lực tài chính mạnh hơn thì khách hàng đó có thể được xếp hạng tíndụng tương đương hạng tín dụng của bên bảo lãnh Việc chấm điểm tín dụngcủa bên bảo lãnh cũng tương tự như cách chấm điểm áp dụng cho khách hàng.Trường hợp bảo lãnh một phần thì chỉ tiến hành chấm điểm tín dụng và xếphạng cho chính khách hàng
2.3.2 Quy trình chấm điểm
Sơ đồ 2: Quy trình chấm điểm khách hàng được tóm tắt theo sơ đồ sau:
Thu thập thông tin
Xác định ngành nghề kinh doanh của
Tổng hợp điểm và xếp loại doanh nghiệp
Trang 34* Bước 1 – Thu thập thông tin
Cán bộ tín dụng sẽ chịu trách nhiệm tiến hành các công việc điều tra,thu thập và tổng hợp thông tin từ các nguồn như hồ sơ do khách hàng cungcấp, phỏng vấn trực tiếp khách hàng, đi kiểm tra thực tế, thông tin từ cácphương tiện đại chúng, CIC, các nguồn khác …
Hồ sơ cần thiết mà yêu cầu khách hàng phải cung cấp là kết quả kinhdoanh của năm hoạt động gần nhất, bảng cân đối kế toán, lưu chuyển tiền tệ,
Trang 35… Các thông số này có thể không chính xác với thực tế hoạt động kinh doanhcủa khách hàng do khách hàng luôn muốn đưa ra những con số “quá đẹp” thểhiện mình đang hoạt động bình thường và che dấu những khó khăn nhằmcủng cố sự tin tưởng của Ngân hàng vào khả năng trả nợ của mình, từ đóNgân hàng dễ dàng cho vay hơn Do vậy, cán bộ tín dụng cần kiểm tra tínhchính xác của các hồ sơ này để việc chấm điểm thực sự có hiệu quả.
Về việc phỏng vấn trực tiếp khách hàng, đây là quá trình giúp cán bộtín dụng đánh giá về tính trung thực của khách hàng, việc đánh giá có chínhxác hay không còn tùy thuộc vào khả năng giao tiếp và kinh nghiệm của từngngười Đối với khách hàng là những doanh nghiệp đã hoạt động lâu năm,người đại diện xin vay đã lão luyện trong nghề thì cán bộ tín dụng lại càngphải quan sát và xem xét kỹ lưỡng hơn
Đi kiểm tra thực tế là việc không thể thiếu, cán bộ tín dụng cần xuốngtận nơi trực tiếp sản xuất kinh doanh của khách hàng để có thể nắm rõ tìnhhình hoạt động cũng như tính chính xác của các thông số, cần tìm hiểu địnhmức từng ngành nghề để xác định doanh thu, chi phí của các doanh nghiệpmột cách hợp lý Việc này là vô cùng cần thiết vì nếu chỉ dựa vào các con số
mà doanh nghiệp đưa lên thì sẽ dễ bị mắc những sai lầm trong đánh giá
Về nguồn thông tin từ các phương tiện đại chúng, cán bộ tín dụng phảiđánh giá được sự cần thiết của nguồn thông tin này Hiện chúng ta đang sốngtrong thời đại của công nghệ thông tin, việc cập nhật tin tức thường xuyên làđiều thiết yếu cho công việc Qua các phương tiện như sách báo, ti vi,internet, … thông tin về khách hàng cũng như các tin nóng về mọi ngànhnghề đều được đưa lên hàng ngày, đó cũng là một kênh quan trọng giúpchúng ta đánh giá năng lực cạnh tranh của khách hàng trên thị trường
Về nguồn thông tin từ CIC, đây là trung tâm thông tin tín dụng củaNgân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ cung cấp cho chúng ta những thông tin vềtình hình vay nợ của khách hàng tại các tổ chức tín dụng khác Từ đó giúp
Trang 36chúng ta đánh giá khả năng vay nợ, ý thức trả nợ của khách hàng trong cácmối quan hệ tín dụng trước đây Đây là nguồn thông tin đáng tin cậy do tất cảcác ngân hàng đang hoạt động đều phải cam kết cung cấp thông tin về kháchhàng của mình cho Ngân hàng Nhà nước.
Ngoài ra, cán bộ tín dụng cần phải linh động để lấy được thông tin từcác nguồn khác, các nguồn này có thể tùy thuộc vào các mối quan hệ của cán
bộ tín dụng trên thương trường, có thể lấy từ các đồng nghiệp tại ngân hàngkhác hoặc từ các doanh nghiệp bạn, các đối tác kinh doanh hay ngay từ chínhđối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp Mức độ tin cậy của nó phụ thuộc vàocách đánh giá của cán bộ tín dụng đối với nguồn tin
* Bước 2 – Xác định ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp
SCB phân chia ngành nghề hoạt động của các doanh nghiệp thành bốnnhóm để xây dựng biểu điểm, mỗi một nhóm ngành sẽ có hệ thống điểm đánhgiá phù hợp, do vậy đây là bước không thể thiếu trong quy trình Việc phânloại căn cứ vào ngành nghề chính trên giấy phép đăng ký kinh doanh, nếudoanh nghiệp hoạt động đa ngành nghề thì phân loại theo ngành nghề đem lại
tỷ trọng doanh thu lớn nhất cho doanh nghiệp Bốn nhóm ngành chính lànhóm ngành nông, lâm, ngư nghiệp; nhóm ngành thương mại dịch vụ; nhómngành xây dựng; nhóm ngành công nghiệp
Khai thác lâm sản, khai thác và chế biến lâm sản tại rừng
Đánh bắt, ươm, nuôi trồng thủy hải sản
Làm muối
Các hoạt động dịch vụ có liên quan đến nông, lâm, ngư nghiệp
Trang 37Tư vấn, môi giới
Thiết kế thời trang, gia công may mặc
Bưu chính viễn thông
Vận tải, cho thuê máy móc thiết bị
Vệ sinh môi trường, văn phòngNgành
Sản xuất, chế biến thực phẩm, đồ uống
Sản xuất thuốc lá, dược phẩm, thiết bị y tế, mỹ phẩm, văn hóaphẩm, vật liệu xây dựng, hoá chất, hàng tiêu dùng, hàng mỹthuật, mỹ nghệ, nguyên vật liệu cho các ngành khác
Sản xuất, lắp ráp hàng điện tử, máy móc, phương tiện giaothông vận tải
Sản xuất điện, khí đốt
Khai thác khoáng sản, khai thác than, vật liệu xây dựng, dầukhí
Tái chế phế liệu, chất thải
Khai thác, lọc và phân phối nước
* Bước 3 - Chấm điểm quy mô của doanh nghiệp.
Quy mô của doanh nghiệp được xác định dựa vào các tiêu chí như: nguồnvốn kinh doanh, lao động, doanh thu thuần và giá trị nộp ngân sách nhà nước.Các doanh nghiệp được phân loại quy mô theo các tiêu chí như sau:
Bảng 2.2: Bảng chấm điểm tiêu chí quy mô
Trang 382 Lao động
Từ 1500 người trở lên
Từ 1000 người đến dưới 1500 người
Từ 500 người đến dưới 1000 người
Từ 100 người đến dưới 500 người
Từ 50 người đến dưới 100 người
Dưới 50 người
15 12 9 6 3 1
3 Doanh thu thuần
Sau khi tổng kết điểm từ bảng trên, ta sẽ có tổng điểm của các chỉ tiêuquy mô, từ đó xếp loại các doanh nghiệp theo từng quy mô như bảng sau:
Bảng 2.3: Bảng xếp loại quy mô doanh nghiệp
Trang 39Dưới 30 điểm Nhỏ
* Bước 4 – Chấm điểm các chỉ số tài chính
Việc sử dụng các chỉ số tài chính là rất cần thiết trong chấm điểm vàđánh giá khách hàng doanh nghiệp, việc lựa chọn các chỉ số có ý nghĩa quantrọng vì những chỉ số tài chính này thể hiện được tình hình hoạt động củadoanh nghiệp
Tiến hành chấm điểm các chỉ số tài chính theo hướng dẫn của Phụ lục
từ bảng 1 đến bảng 4 để chấm chính xác điểm của từng doanh nghiệp theotừng nhóm ngành nghề kinh doanh
* Bước 5 – Chấm điểm các tiêu chí phi tài chính
Tiến hành chấm điểm các tiêu chí phi tài chính của doanh nghiệp theocác bảng trong Phụ lục từ bảng 5 đến bảng 9 Sau khi hoàn tất việc chấm điểmcác bảng trên, tổng hợp điểm các tiêu chí phi tài chính theo bảng 10
* Bước 6 – Tổng hợp điểm và xếp loại doanh nghiệp
Sau khi có kết quả từ bước 4 và 5, cộng tổng số điểm tài chính và phi tàichính rồi nhân với trọng số (có tính đến báo cáo tài chính có được kiểm toánhay không) Nếu doanh nghiệp nào có báo cáo tài chính được kiểm toán thìtrọng số của chỉ tiêu tài chính sẽ lớn hơn trọng số của chỉ tiêu phi tài chính vàngược lại Do nếu được kiểm toán thì các thông số của chỉ tiêu tài chính sẽ có
độ tin cậy cao hơn
Trang 40Bảng 2.4: Bảng tổng hợp điểm tín dụng theo trọng số
Chỉ tiêu không được kiểm toán Thông tin tài chính Thông tin tài chính được kiểm toán
Các chỉ tiêu phi tài
* Bước 7 – Trình duyệt kết quả chấm điểm và xếp hạng doanh nghiệp
Sau khi có tổng số điểm từ bước 6, tiếp tục xếp loại doanh nghiệp theobảng sau:
Bảng 2.5: Bảng xếp loại tín dụng doanh nghiệp