Với điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử, văn hoá ... đã tạo cho Việt Nam có tiềm năng du lịch dồi dào: Tiềm năng du lịch biển, rừng, vùng núi cao, hang động, kiến trúc cổ, lễ hội… Việt Nam nằm trong khu vực châu Á Thái Bình Dương, là khu vực đang nổi lên như một điểm đến mới, hấp dẫn đối với khách du lịch. Việt Nam là đất nước của biển cả, chiều dài bờ biển 3.260 km, dài hơn cả chiều dài đất nước, trên suốt chiều dài đó có tới 20 bãi tắm nổi tiếng, ở miền Bắc có Trà Cổ, Hạ Long, Ðồ Sơn ... Vào mùa đông các vùng biển này lạnh giá, còn các vùng biển phía nam vẫn ấm áp và chói chang ánh nắng mặt trời như biển Ðà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, Hà Tiên .v.v.. Tại đây, bạn có thể tắm biển suốt bốn mùa. Ðặc biệt vùng biển Hạ Long không chỉ là bãi tắm đẹp mà còn là một kỳ quan thiên nhiên. Là một đất nước nhiệt đới, nhưng Việt Nam có nhiều điểm nghỉ mát vùng núi mang dáng dấp ôn đới như : Sa Pa, Tam Ðảo, Bạch Mã, Ðà Lạt ... Các điểm nghỉ mát này thường ở độ cao trên 1000 m so với mặt biển. Thành phố Ðà Lạt không chỉ là nơi nghỉ mát lý tưởng mà còn là thành phố của rừng Thông, thác nước và hoa đẹp. Khách du lịch tới Ðà Lạt còn bị quyến rũ bởi những âm hưởng trầm hùng, tha thiết của tiếng đàn Tơ rưng và Cồng chiêng Tây Nguyên trong đêm văn nghệ. Trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 20012010 định hướng cho du lịch Việt Nam là “Phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành mũi nhọn; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá, lịch sử”. Theo đó, mục tiêu tổng quát chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 20012010 là “Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch có tầm cỡ của khu vực, phấn đấu đến năm 2020 đưa du lịch Việt Nam vào nhóm nước có ngành du lịch phát triển hàng đầu trong khu vực”. Nền kinh tế nước ta trong đang trong thời kỳ phát triển cực kỳ mạnh mẽ, hoạt động đầu tư diễn ra sôi nổi ở mọi ngành, mọi lĩnh vực cả về chiều sâu và chiều rộng. Thực tế các nước trên thế giới cho thấy, du lịch là ngành kinh tế không bao giờ lạc hậu và luôn mang lai một nguồn thu nhập đáng kể vào GDP của đất nước. Du lịch thực sự là một “ngành công nghiệp không khói” cần được chú trọng đầu tư. Trong thời gian qua, du lịch Việt Nam đã đạt được những thành tích đáng khích lệ. Thị trường du lịch không ngừng mở rộng. Du lịch đã và đang phát triển theo đúng định hướng: bền vững, giữ gìn được truyền thống văn hoá lịch sử, môi trường. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đang dần dần được đầu tư nâng cấp, môi trường du lịch ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên, kết quả của đầu tư phát triển cho du lịch vẫn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của ngành. Dịch vụ du lịch còn đơn giản, tính đa dạng chưa cao, chất lượng dich vụ kém, chưa tạo được tính cạnh tranh so với các quốc gia trong khu vực, cơ sở vật chất kỹ thuật chưa đồng bộ… Chúng ta còn phải đối mặt với những tồn tại và thách thức lớn. Trước thực tế đó, sau thời gian thực tập tại Vụ Kinh tế quốc dân, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, em đã quyết định chọn đề tài: “Đầu tư phát triển du lịch Việt Nam. Thực trạng và giải pháp.” làm khoá luận tốt nghiệp của mình. Kết cấu của khoá luận bao gồm 2 chương : Chương 1: Thực trạng tình hình đầu tư phát triển vào ngành du lịch Việt Nam giai đoạn 20012007. Chương 2: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển du lịch Việt Nam. Do sự hạn chế về thông tin cũng như tài liệu và sự hạn chế về năng lực và kinh nghiệm của bản thân nên khoá luận của em không tránh khỏi những sai sót, hạn chế. Vì vậy, rất mong thầy cô có những góp ý giúp em có được sự hiểu biết sâu sắc hơn về vấn đề và hoàn thiện hơn khoá luận của mình. Trong quá trình thực hiện chuyên đề, em xin chân thành cảm ơn Th.s Trần Thị Mai Hoa đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này. Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong thời gian thực tập vừa qua.
Trang 1Lời cam đoan
Họ tên sinh viên: Đinh Thị Thu Hà
Nếu không đúng với những gì đã cam đoan, em xin hoàn toàn chịu tráchnhiệm
Hà Nội, ngày 21 tháng 4 năm 2008
Sinh viên
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Trang 4Lời mở đầu
Với điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử, văn hoá đã tạo cho Việt Nam cótiềm năng du lịch dồi dào: Tiềm năng du lịch biển, rừng, vùng núi cao, hangđộng, kiến trúc cổ, lễ hội… Việt Nam nằm trong khu vực châu Á Thái BìnhDương, là khu vực đang nổi lên như một điểm đến mới, hấp dẫn đối vớikhách du lịch
Việt Nam là đất nước của biển cả, chiều dài bờ biển 3.260 km, dài hơn
cả chiều dài đất nước, trên suốt chiều dài đó có tới 20 bãi tắm nổi tiếng, ởmiền Bắc có Trà Cổ, Hạ Long, Ðồ Sơn Vào mùa đông các vùng biển nàylạnh giá, còn các vùng biển phía nam vẫn ấm áp và chói chang ánh nắng mặttrời như biển Ðà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, Hà Tiên v.v Tại đây, bạn cóthể tắm biển suốt bốn mùa Ðặc biệt vùng biển Hạ Long không chỉ là bãi tắmđẹp mà còn là một kỳ quan thiên nhiên Là một đất nước nhiệt đới, nhưngViệt Nam có nhiều điểm nghỉ mát vùng núi mang dáng dấp ôn đới như : Sa
Pa, Tam Ðảo, Bạch Mã, Ðà Lạt Các điểm nghỉ mát này thường ở độ caotrên 1000 m so với mặt biển Thành phố Ðà Lạt không chỉ là nơi nghỉ mát lýtưởng mà còn là thành phố của rừng Thông, thác nước và hoa đẹp Khách dulịch tới Ðà Lạt còn bị quyến rũ bởi những âm hưởng trầm hùng, tha thiết củatiếng đàn Tơ rưng và Cồng chiêng Tây Nguyên trong đêm văn nghệ
Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 định hướng cho
du lịch Việt Nam là “Phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành mũi nhọn;nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế về điềukiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá, lịch sử” Theo đó, mục tiêutổng quát chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001-2010 là
“Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch có tầm cỡ của khuvực, phấn đấu đến năm 2020 đưa du lịch Việt Nam vào nhóm nước có ngành
du lịch phát triển hàng đầu trong khu vực”
Nền kinh tế nước ta trong đang trong thời kỳ phát triển cực kỳ mạnh mẽ,hoạt động đầu tư diễn ra sôi nổi ở mọi ngành, mọi lĩnh vực cả về chiều sâu vàchiều rộng Thực tế các nước trên thế giới cho thấy, du lịch là ngành kinh tế
Trang 5không bao giờ lạc hậu và luôn mang lai một nguồn thu nhập đáng kể vàoGDP của đất nước Du lịch thực sự là một “ngành công nghiệp không khói”cần được chú trọng đầu tư Trong thời gian qua, du lịch Việt Nam đã đạt đượcnhững thành tích đáng khích lệ Thị trường du lịch không ngừng mở rộng Dulịch đã và đang phát triển theo đúng định hướng: bền vững, giữ gìn đượctruyền thống văn hoá lịch sử, môi trường Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuậtđang dần dần được đầu tư nâng cấp, môi trường du lịch ngày càng được cảithiện Tuy nhiên, kết quả của đầu tư phát triển cho du lịch vẫn chưa tươngxứng với tiềm năng sẵn có của ngành Dịch vụ du lịch còn đơn giản, tính đadạng chưa cao, chất lượng dich vụ kém, chưa tạo được tính cạnh tranh so vớicác quốc gia trong khu vực, cơ sở vật chất kỹ thuật chưa đồng bộ… Chúng tacòn phải đối mặt với những tồn tại và thách thức lớn.
Trước thực tế đó, sau thời gian thực tập tại Vụ Kinh tế quốc dân, Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, em đã quyết định chọn đề tài: “Đầu tư phát triển du lịch Việt Nam Thực trạng và giải pháp.” làm khoá luận tốt nghiệp của mình
Kết cấu của khoá luận bao gồm 2 chương :
Chương 1: Thực trạng tình hình đầu tư phát triển vào ngành du lịch Việt
Nam giai đoạn 2001-2007
Chương 2: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển du lịch
Việt Nam
Do sự hạn chế về thông tin cũng như tài liệu và sự hạn chế về năng lực
và kinh nghiệm của bản thân nên khoá luận của em không tránh khỏi nhữngsai sót, hạn chế Vì vậy, rất mong thầy cô có những góp ý giúp em có được sựhiểu biết sâu sắc hơn về vấn đề và hoàn thiện hơn khoá luận của mình
Trong quá trình thực hiện chuyên đề, em xin chân thành cảm ơn Th.sTrần Thị Mai Hoa đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khoá luậnnày Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ Vụ Tổng hợp kinh tế quốcdân thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ emtrong thời gian thực tập vừa qua
Trang 6Chương 1 Thực trạng tình hình đầu tư phát triển vào ngành
du lịch Việt Nam giai đoạn 2001-2007
1.1 Khái quát chung về đầu tư vào du lịch.
1.1.1 Khái niệm chung về du lịch.
Hoạt động du lịch đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển của loàingười Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổbiến Theo Hội đồng Lữ hành và Du lịch quốc tế (World Travel and TourismCouncil – WTTC) đánh giá thì du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới,vượt trên cả ngành sản xuất ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp Ở một số quốcgia, du lịch là một trong những ngành kinh tế hàng đầu, là nguồn thu ngoại tệlớn nhất trong ngoại thương
Mặc dù được hình thành từ rất sớm và phát triển với tốc độ rất nhanh,tuy nhiên “du lịch” được hiểu theo nhiều cách khác nhau, với nhiều cách tiếpcận khác nhau Với chuyên ngành kinh tế đầu tư, em xin nêu hai định nghĩa
về “du lịch” dưới hai góc độ tiếp cận sau:
- Tiếp cận trên góc độ của người kinh doanh du lịch:
Du lịch là quá trình tổ chức các điều kiện về sản xuất và phục vụ nhằmthoả mãn, đáp ứng các nhu cầu của người đi du lịch
- Tiếp cận trên góc độ của chính quyền địa phương:
Du lịch là việc tổ chức các điều kiện về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ
sở vật chất kỹ thuật để phục vụ du khách Du lịch là tổng hợp các hoạt độngkinh doanh đa dạng, được tổ chức nhằm giúp đỡ việc hành trình và lưu trútạm thời của cá thể
Trang 71.1.2 Nội dung đầu tư trong ngành du lịch.
Việt Nam xác định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng,mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoácao Do đó đầu tư trong lĩnh vực du lịch diễn ra rất sâu rộng, bao gồm nhiềunội dung Trong phạm vi của chuyên đề, em xin trình bày các nội dung chủyếu sau:
- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ngành du lịch
- Đầu tư phát triển các loại hình du lịch
- Đầu tư phát triển các loại hình vận chuyển khách du lịch
- Đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch
- Đầu tư quảng bá, xúc tiến du lịch
1.1.3 Đặc điểm của đầu tư trong du lịch.
- Lượng vốn đầu tư cho du lịch là lớn, đặc biệt là vốn để xây dựng cơ sở
hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Cũng như nhiều ngành kinh tế khác,
cơ sở vật chất kỹ thuật là nhân tố để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinhdoanh được diễn ra Hơn nữa, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch còn làyếu tố quan trọng tác động đến mức độ thoả mãn nhu cầu của du khách
- Lao động trực tiếp cho các dự án đầu tư du lịch ít nhưng lao động giántiếp mà đầu tư du lịch tạo ra là rất lớn do các dịch vụ đi kèm
- Nếu đầu tư có hiệu quả thì hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực du lịchthường lớn hơn rất nhiều so với các ngành khác, tốc độ thu hồi vốn nhanh,nhưng cần thường xuyên đầu tư bổ trợ, nâng cấp, mở rộng
- Hoạt động đầu tư trong du lịch tác động tới nhiều ngành cùng pháttriển: thương mại, công nghiệp nhẹ, giao thông vận tải…
Trang 81.1.4 Mối quan hệ giữa đầu tư và du lịch
1.1.4.1 Tác động của hoạt động du lịch đến hoạt động đầu tư.
- Du lịch góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam với thế giới, từ đókhuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Du lịch đem lại tỷ suất lợinhuận cao, vì vốn đầu tư vào du lịch so với ngành công nghiệp nặng, giaothông vận tải thì ít hơn mà khả năng thu hồi vốn lại nhanh, kỹ thuật khôngphức tạp
- Du lịch tạo ra sự phát triển giữa các vùng Thông qua đầu tư trong dulịch có sự phân phối vốn đầu tư giữa các vùng, tạo công ăn việc làm, tăng thunhập cho người dân Qua đó càng thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển khôngnhững chỉ trong ngành du lịch mà cả các ngành khác nữa như: tiểu thủ côngnghiệp, thương mại…
- Du lịch tạo ra một cách nhìn khác về con người và đất nước Việt Nam– cái nhìn chân thực hơn Từ đó giúp các nhà đầu tư hiểu hơn về Việt Nam vàtăng cường đầu tư
- Du lịch tạo ra sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong khu vực và trênthế giới, tăng cường đầu tư xuyên quốc gia làm tăng hiệu quả đầu tư, mở rộngthị trường
1.1.4.2 Tác động của hoạt động đầu tư đối với sự phát triển của ngành du lịch.
- Đầu tư góp phần phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông đường bộ, tạođiều kiện cho du lịch
- Đầu tư vào các khu du lịch thu hút khách du lịch đến với Việt Namngày càng nhiều hơn
- Đầu tư vào quảng bá, giới thiệu hình ảnh Việt Nam để Việt Nam gầngũi hơn trong con mắt bạn bè thế giới
Trang 91.2 Thực trạng hoạt động đầu tư phát triển ngành du lịch Việt Nam giai đoạn 2001-2007.
1.2.1.Khái quát hoạt động đầu tư phát triển du lịch Việt Nam
Ngày nay, xu hướng đi du lịch ngày càng phát triển Các nước vì nhu cầuhội nhập, du lịch và giao lưu văn hoá đã hợp tác với nhau cùng phát triển dulịch 5 năm 2001-2005 là giai đoạn ngành du lịch thực hiện mục tiêu “Pháttriển du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn” đã được Nghịquyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IX đặt ra Trong giai đoạn nàymặc dù chịu nhiều bất lợi: thiên tai xảy ra liên tiếp, giá xăng-dầu thế giới tăngdẫn tới giá tiêu dùng, dịch vụ trong nước cũng tăng cao, dịch cúm gia cầmtiếp tục diễn biến phức tạp, với sự cố gắng của ngành du lịch, du lịch ViệtNam đã vượt qua khó khăn và khắc phục kịp thời hậu quả của dịch SARS,dịch bệnh cúm gia cầm và khủng bố trên thế giới, tốc độ tăng trưởng khách dulịch vẫn đảm bảo ở mức cao
Tài nguyên du lịch là một yếu tố sẵn có thuận lợi cho đầu tư phát triển
du lịch Việt Nam mà không phải quốc gia nào cũng có được
Tài nguyên du lịch tự nhiên: Sự đa dạng về cấu trúc địa hình biển và hải
đảo, đồng bằng, đồi núi, cao nguyên đã tạo cho lãnh thổ Việt Nam một hệthống tài nguyên du lịch tự nhiên hết sức phong phú và đặc sắc, đặc biệt làcác cảnh quan tự nhiên, hệ sinh thái biển - đảo, hệ sinh thái sông hồ, hệ sinhthái rừng, hang động… thích hợp để phát triển nhiều loại hình du lịch hấpdẫn Giá trị của hệ thống các tài nguyên du lịch tự nhiên ngày càng đượckhẳng định, đặc biệt là các khu vực được xếp hạng “di sản thiên nhiên thếgiới” trở thành nguồn tài nguyên Du lịch tự nhiên có sức hấp dẫn khách dulịch rất cao
Trang 10Tài nguyên du lịch nhân văn: Với lịch sử phát triển lâu đời, có nền văn
hoá giàu bản sắc, Việt Nam có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn hết sứcphong phú Tài nguyên du lịch nhân văn ở nước ta bao gồm tài nguyên vật thể
và tài nguyên phi vật thể
Tài nguyên vật thể bao gồm các di tích (lịch sử văn hoá, lịch sử CáchMạng, kiến trúc nghệ thuật…), các di chỉ khảo cổ, làng nghề… ở Việt Namrất đa dạng được phát hiện đánh giá, cập nhật và bảo tồn tôn tạo Hiện nay,tổng số di tích xếp hạng quốc gia đã lên tới 2569 Hệ thống tài nguyên du lịchnhân văn có giá trị văn hoá lịch sử được đánh giá cao Trong thời gian qua, số
di sản văn hoá có giá trị quốc tế tăng từ 1 lên 4 di sản: ngoài Cố đô Huế, ditích Mỹ Sơn, phố cổ Hội An tỉnh Quảng Nam đã được UNESCO công nhận
di sản văn hoá thế giới, nhã nhạc cung đình Huế được công nhận di sản vănhoá phi vật thể của thế giới, tạo sức hấp dẫn và khả năng khai thác phục vụ dulịch của tài nguyên du lịch nhân văn nước ta ngày càng lớn
Hơn nữa, nền kinh tế trong nước ổn định và tăng trưởng liên tục Chínhphủ đã có nhiều biện pháp điều hành để thực hiện các mục tiêu đề ra, quantâm tới khả năng đóng góp tích cực của khu vực dịch vụ, trong đó có du lịch.Nhận thức của xã hội về du lịch đã có bước chuyển biến tích cực Cùng vớiviệc mức sống của nhân dân được nâng lên, nhu cầu đi du lịch của người dântrong nước ngày càng tăng đã tạo nên môi trường thuận lợi cho du lịch pháttriển Mới đây, du lịch Việt Nam đã được Hội đồng du lịch thế giới (WTTC)xếp vị trí thứ bảy thế giới về mức tăng trưởng và sẽ là một trong mười điểmđến hàng đầu của du lịch thế giới trong mười năm tới Báo chí nước ngoài đềuđánh giá cao về du lịch Việt Nam với nhận xét chung: Việt Nam là điểm đếnmang nhiều nét Á Ðông hấp dẫn, gợi mở những khám phá, nhưng điều quantrọng nhất, đây còn là điểm đến thân thiện, an ninh được bảo đảm trong mộtthế giới đầy biến động So với các nước khu vực, từ chỗ nằm trong nhóm cuối
Trang 11của ASEAN, trong mười năm, Việt Nam đã vươn lên vị trí trung bình vềlượng khách du lịch nhưng lại là nền du lịch đầy tiềm năng.
Cùng với các ban, ngành liên quan và nỗ lực tự thân của toàn ngành, dulịch Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đang từng bước hộinhập vào quá trình phát triển của du lịch thế giới Vị thế du lịch Việt Namngày càng được khẳng định và nâng cao Thực hiện Chiến lược phát triển dulịch và Chương trình hành động quốc gia về du lịch, chúng ta đã đầu tư hàngnghìn tỷ đồng, riêng trong 5 năm 2001-2005 là 2.146 tỷ đồng hỗ trợ đầu tư hạtầng kỹ thuật ở các khu du lịch trọng điểm và thu hút được hơn 190 dự án đầu
tư trực tiếp của nước ngoài vào du lịch với tổng số vốn là 806,5 triệu USD.Hàng trăm khách sạn, khu du lịch cao cấp được xây mới, gia tăng số lượngphòng khách sạn và những sản phẩm du lịch đạt tiêu chuẩn phục vụ kháchquốc tế Công tác xúc tiến, quảng bá, đào tạo nhân lực cũng được đẩy mạnh.Những yếu tố đó dẫn đến việc lượng du khách đến nước ta ngày càng đông vàđạt gần 4,2 triệu lượt khách quốc tế trong năm 2007
Bảng 1.1: Vốn đầu tư phát triển phân theo các ngành kinh tế
Đơn vị: tỷ VN đồng
Nông-lâm-thuỷ sản 16414,8 17448,1 19575,5 23300 28400 29365,6Công nghiệp-xây dựng 72249 84294 95643,6 113800 138700 153083,2
Trong đó:
Nguồn: Bộ Kế hoạch Đầu tư
Ðặc biệt, khả năng thu hút vốn FDI của ta ngày càng được cải thiện Ðây
là nguồn vốn quan trọng để phát triển ngành du lịch nước ta theo kịp trình độcủa các nước trong khu vực và thế giới WTO đang mở ra những viễn cảnh
Trang 12đầu tư mới Hiện tại nhiều tập đoàn kinh tế lớn đang hướng sự chú ý đến ViệtNam và "đổ bộ" vào đầu tư đón đầu trong lĩnh vực du lịch
Bảng 1.2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Du lịch Việt Nam
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài
1.2.2 Tình hình huy động vốn cho đầu tư phát triển du lịch.
Bất kể hoạt động đầu tư nào cũng cần phải huy động và sử dụng có hiệuquả các nguồn vốn đầu tư Đặc biệt, đầu tư vào du lịch còn đòi hỏi dunglượng vốn đầu tư lớn Trong những năm qua, vốn đầu tư phát triển vào nềnkinh tế nói chung, cũng như ngành dịch vụ và du lịch nói riêng đều tăng Điều
đó thể hiện ở bảng số liệu sau:
Bảng 1.3: Tỷ trọng vốn đầu tư cho du lịch
Đơn vị: %
Trang 13Năm Tỷ trọng VĐT du lịch so
với VĐT chung
Tỷ trọng VĐT dulịch so với VĐTvào dịch vụ
Tốc độ gia tăng VĐTcho du lịch năm sau
so với năm trước
Nguồn: Vụ tổng hợp kinh tế quốc dân
Từ bảng 1.3 ta thấy, vốn đầu tư cho ngành dịch vụ luôn chiếm tỷ trọngcao nhất trong cơ cấu vốn đầu tư chung cho nền kinh tế, phù hợp với mục tiêucông nghiệp hoá - hiện đại hoá của nước ta Trong đó, vốn đầu tư cho du lịchchiếm khoảng 21% vốn đầu tư chung và khoảng 43% vốn đầu tư của ngành dulịch Điều này chứng tỏ, đầu tư vào du lịch đang ngày càng được chú trọng.Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng diễn ra mạnh mẽ vàsâu rộng, nước ta lại là nước đi lên từ nông nghiệp thì việc huy động vốn từnhiều nguồn khác nhau có ý nghĩa rất quan trọng
Biểu 1.4: Cơ cấu vốn đầu tư phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 2001-2007
1.2.2.1 Nguồn vốn trong nước.
a Vốn Ngân sách Nhà nước
Trang 14Vốn ngân sách Nhà nước (NSNN) chủ yếu là dành cho việc đầu tư vào
cơ sở hạ tầng du lịch Kể từ năm 2000 trở về trước, việc đầu tư cơ sở hạ tầng
du lịch còn rất hạn chế Từ năm 2001, thực hiện chủ trương tập trung cho pháttriển du lịch theo công văn 1095/ CP-KTTH ngày 28/11/2000 về việc xâydựng các khu du lịch, NSNN đã được bố trí hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng dulịch của các địa phương Đây là nguồn vốn quan trọng song chỉ là vốn ‘mồi’
để thu hút các nguồn lực khác tham gia đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch cũng nhưđầu tư vào các cơ sở kinh doanh du lịch Nguồn hỗ trợ này được tập trung đầu
tư vào xây mới và nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, như đường du lịch, cấpđiện, cấp thoát nước, bảo vệ môi trường cho các khu, điểm du lịch nhằm tăngkhả năng đón khách du lịch
Chi NSNN giai đoạn 2001-2006 cho hoạt động du lịch tăng lên đáng kểchủ yếu là dành cho xây dựng cơ bản
Bảng 1.5: Tổng chi Ngân sách Nhà nước cho du lịch
Nguồn: Vụ tổng hợp Kinh tế Quốc dân
Năm 2006, tổng chi NSNN cho du lịch tăng lên đáng kể là do chi thườngxuyên tăng nhiều, mà chủ yếu là chi sự nghiệp kinh tế để thực hiện các dự án:điều tra chi tiêu của khách du lịch nội địa, điều tra tài nguyên du lịch, thực
Trang 15hiện nhiệm vụ môi trường, chi chương trình hành động quốc gia về du lịch,nguồn thực hiện chế độ tiền lương mới…
Trong thời kỳ 2001-2007, NSNN đã hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch
là 3.516 tỷ đồng, năm sau vốn được bố trí cao hơn năm trước Hàng năm sốtỉnh được thụ hưởng cũng tăng lên Tới hết năm 2007, đã có 64 tỉnh, thànhphố được hỗ trợ vốn đầu tư Song riêng các Tỉnh, thành phố Hà Nội, Hồ ChíMinh, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương có khả năng tự cân đốinguồn vốn này, nên từ năm 2004, các địa phương này không thuộc đối tượngnhận hỗ trợ vốn đầu tư cơ sở hạ tầng nêu trên Cụ thể, vốn hỗ trợ qua các nămnhư sau:
Bảng 1.6: Vốn Ngân sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch
Nguồn: Vụ tổng hợp Kinh tế Quốc dân
Nguồn vốn hỗ trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch được ưu tiên tậptrung vào các địa bàn đầu tư và cơ cấu đầu tư như sau:
• Về địa bàn đầu tư:
- Ưu tiên cho các dự án thuộc các địa phương có Khu du lịch Quốc gia
Theo Chiến lược phát triển du lịch, hiện có 21 khu du lịch quốc gia, baogồm 4 khu du lịch tổng hợp thuộc 6 tỉnh ( Khu du lịch biển đảo Hạ Long –Cát Bà thuộc Quảng Ninh - Hải Phòng, khu du lịch giải trí thể thao biển CảnhDương - Hải Vân – Non Nước thuộc Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng, khu du lịch
Trang 16biển tổng hợp Văn Phong - Đại Lãnh thuộc Khánh Hoà, khu du lịch sinh tháinghỉ dưỡng núi Đan Kia - Suối Vàng thuộc Lâm Đồng) và 17 khu du lịchchuyên đề thuộc 14 tỉnh, thành phố khác Trong thời kỳ 2001-2007, tổng vốnđầu tư cho các địa phương có các khu du lịch quốc gia là 1.984 tỷ đồng với 20tỉnh có khu du lịch quốc gia được hỗ trợ (chiếm 31,36% tổng số tỉnh được hỗtrợ của cả nước) chiếm 56,4% tổng vốn đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch của cảnước Mức bình quân hỗ trợ hàng năm mỗi tỉnh, thành phố có khu du lịchquốc gia khoảng 14 tỷ đồng.
- Khai thác các điểm du lịch có khả năng thu hút nhiều khách du lịch của vùng phụ cận các trung tâm du lịch (Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, TP Hồ Chí
Minh…) để giải quyết nhu cầu du lịch cuối tuần của nhân dân và khách quốc
tế Thời kỳ 2001-2007, với 22 tỉnh (chiếm 34,37% tổng số tỉnh được hỗ trợtrên cả nước) được hỗ trợ 850 tỷ đồng chiếm 24,2% tổng vốn hỗ trợ cơ sở hạtầng du lịch của cả nước
- Quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch gắn với các điểm, tuyến du lịch thuộc các tỉnh khó khăn, vùng sâu, vùng xa có khả năng liên kết với các tuyến
du lịch tạo thế liên hoàn thu hút khách du lịch, góp phần xoá đói giảm nghèo.Thời kỳ 2001-2007, với 22 tỉnh (chiếm 34,37% tổng số tỉnh được hỗ trợ trên
cả nước) được hỗ trợ 682 tỷ đồng chiếm 19,4% tổng vốn này của cả nước
- Địa bàn trọng điểm phát triển du lịch miền Trung-Tây Nguyên:
Miền Trung – Tây Nguyên là địa bàn trọng điểm phát triển du lịch củaViệt Nam Với 19 tỉnh bao gồm các tỉnh ven biển từ Thanh Hoá tới BìnhThuận và 5 tỉnh Tây Nguyên Là khu vực có nhiều tài nguyên du lịch tự nhiênnhư du lịch biển, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng… và tài nguyên du lịch nhânvăn phong phú có khả năng phát triển mạnh du lịch Ngày 5 tháng 8 năm
2005 thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 194/2005/QĐ-TTg phê duyệt
đề án phát triển mạnh du lịch miền Trung – Tây Nguyên Theo đó, miền
Trang 17Trung – Tây Nguyên là địa bàn động lực phát triển du lịch của cả nước Thời
kỳ 2001-2007 với 19 tỉnh trên địa bàn miền Trung – Tây Nguyên (chiếm29,8% tổng số tỉnh được hỗ trợ trên cả nước) được hỗ trợ 1.526,5 tỷ đồng,chiếm 43,41% tổng vốn này của cả nước
• Về cơ cấu được hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch
Nguồn vốn hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch vào đối tượng bao gồmđường du lịch, cấp điện, cấp thoát nước, bảo vệ môi trường cho các khu, điểm
du lịch Trong đó, tập trung cho nhu cầu bức xúc của các địa phương là đường
để đưa khách tới các khu, điểm du lịch Trong tổng số vốn là 3.516 tỷ đồngđầu tư cơ sở hạ tầng du lịch 2001-2007, chiếm 90% là đầu tư các dự án đườngvào các khu du lịch và đường trong các khu du lịch, số còn lại là đầu tư chocác dự án điện, cấp thoát nước, bảo vệ môi trường…
b Vốn của các Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN).
Đối với các DNNN một số năm trở lại đây việc huy động vốn đầu tư từnguồn này đã bắt đầu có hiệu quả, tập trung ở các công ty du lịch lớn như SàiGòn Tourist, công ty du lịch Việt Nam… Các công ty này đã huy động vốnmột cách có hiệu quả từ lợi nhuận của doanh nghiệp, từ các nguồn khác: đivay thương mại, Nhà nước hỗ trợ để thực hiện các dự án đầu tư phát triển dulịch Một trong những chiến lược lớn của Sài Gòn Tourist là tăng tốc cácchương trình đầu tư xây dựng và nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạngcủa khách du lịch trong nước, đồng thời tăng cường công tác quảng bá, đặcbiệt tại thị trường quốc tế nhằm xây dựng và phát triển thương hiệu Sài GònTourist
Ngoài ra, công ty du lịch Việt Nam cũng là một DNNN làm ăn có hiệuquả Hàng năm công ty huy động hàng triệu USD để đầu tư xây dựng nhiềuloại hình du lịch mới, tour mới để hấp dẫn, thu hút khách du lịch
Các DNNN hoạt động trong lĩnh vực du lịch ở các tỉnh, thành phố khác
Trang 18có dấu hiệu làm ăn có hiệu quả và việc huy động vốn ngày càng cao, tập trung
ở các tỉnh có truyền thống du lịch như: Lâm Đồng, Quảng Ninh, Huế, ĐàNẵng… Hàng năm, các DNNN ở các tỉnh này huy động hàng trăm tỷ đồngđầu tư vào khách sạn, nhà nghỉ, các hoạt động du lịch mới Những tỉnh mớiđưa du lịch vào ngành kinh tế mũi nhọn, nhiều nhà đầu tư chưa sẵn sàng đầu
tư vào vì nghi ngờ tính hiệu quả của đầu tư và DNNN ở các địa phương này
đã đóng vai trò tiên phong trong việc huy động vốn để đầu tư
1.2.2.2 Nguồn vốn nước ngoài:
Xuất phát điểm là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, nếu chỉ dựavào nguồn vốn trong nước thì không thể đủ mà chúng ta cần huy động cả từnguồn vốn nước ngoài
Bảng 1.7: FDI vào Việt Nam phân theo ngành (tính đến hết tháng 2/2008)
Đơn vị: triệu USD
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài
Hầu hết các dự án du lịch lớn ở Việt Nam đều có mặt của nhà đầu tưnước ngoài Các khách sạn lớn như Deawoo, Hanoi Nikko, Melia, Hilton…đều liên doanh với nước ngoài hoặc 100% vốn đầu tư nước ngoài Từ năm
1998 đến nay, số dự án đầu tư nước ngoài vào du lịch là 235 dự án với tổng
Trang 19vốn đầu tư 6,16 tỷ USD Tổng cục Du lịch cho biết, năm 2007, đã có 47 dự ánđầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực du lịch với tổng số vốn hơn 1,8
tỷ USD, tăng xấp xỉ 200% so với năm 2006
Hết tháng 2-2008, cả nước đã thu hút gần 1,7 tỉ USD vốn FDI, tăng gấpnăm lần so với cùng kỳ năm trước Trong 35 dự án được cấp giấy chứngnhận, có hai dự án du lịch thu hút nguồn vốn đầu tư rất lớn
Đầu tiên là dự án xây dựng cụm du lịch tại Bà Rịa – Vũng Tàu của Tậpđoàn Good Choise (Hoa Kỳ) với vốn đầu tư 1,299 tỉ USD Theo ông MaiNgọc Thuận, Phó Giám đốc Sở KH-ĐT Bà Rịa - Vũng Tàu: Dự án này là mộtcông viên chuyên đề gồm một khách sạn năm sao có 2.500 phòng và bốn cụmkhách sạn khác với khoảng 4.000 phòng, khu ẩm thực, vui chơi giải trí, trungtâm hội nghị và hội thảo Dự án này hứa hẹn sẽ giải quyết lượng lao động lớntại địa phương Bên cạnh đó, một dự án trong lĩnh vực du lịch tại khu du lịchLộc Vĩnh (Thừa Thiên-Huế) cũng vừa được cấp phép và dự kiến khởi cônggiai đoạn 1 với vốn đầu tư gần 260 triệu USD (trong bốn giai đoạn với vốnđầu tư khoảng 1 tỉ USD) của Tập đoàn Banyan Tree (Singapore) Khi hoàn tấtcác giai đoạn, trên diện tích rộng 300 ha, khu du lịch này sẽ có khoảng 10khách sạn với 3.000 phòng đạt tiêu chuẩn 5-6 sao, sân golf 18 lỗ, trung tâmhội nghị triển lãm
Một dự án lớn khác cũng vừa được cơ quan chức năng thông tin với vốnđầu tư lên tới 2 tỉ euro của Thụy Sĩ có thể được thực hiện trong năm nay
“Hòn ngọc châu Á” – tên gọi của một khu phức hợp đô thị và du lịch, kháchsạn, nhà vườn, điểm vui chơi - có diện tích rộng hơn 200 ha sẽ được xâydựng phía Bắc đảo Phú Quốc
Trong năm 2007, một trong những sự kiện nổi bật của du lịch Việt Nam
là sự bùng nổ của các dự án FDI đầu tư vào du lịch Cùng với dòng vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đổ vào nước ta, ngành du lịch cũng hút nhiều dự
Trang 20án FDI lớn 10 tháng đầu năm 2007, cả nước đã có 41 dự án đầu tư mới vàolĩnh vực khách sạn với tổng số vốn gần 1,8 tỷ USD, tăng 17% so với cùng kỳnăm 2006 Ông Hồ Việt Hà - Vụ trưởng Vụ Kế hoạch và Tài chính (Tổng cục
Du lịch), nhận định, đây là năm mà đầu tư nước ngoài vào du lịch bằng 7-8năm trước cộng lại, tập trung vào các dự án có quy mô lớn, dịch vụ chấtlượng cao để phục vụ du khách nước ngoài
Điển hình là các dự án: tổ hợp khách sạn 5 sao do Tập đoàn Keangnam(Hàn Quốc) đầu tư 500 triệu USD tại Hà Nội; khu nghỉ cao cấp Chân Mây(Huế) 276 triệu USD của Singapore; sân gofl 36 lỗ 176 triệu USD của HànQuốc đầu tư vào Long An
Cho đến nay chúng ta đã huy động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ 27quốc gia, trong đó Hồng Kông là nhà đầu tư lớn nhất có tổng số vốn đầu tưlên đến 802,6 triệu USD, tiếp đến là Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản… Ngoài
ra một số địa phương có chính sách thu hút đầu tư cởi mở dựa trên nguồntiềm năng sẵn có đã huy động tốt vốn đầu tư nước ngoài như Bình Thuận, HạLong, Đà Nẵng… góp phần làm sôi động trong việc huy động vốn đầu tưnước ngoài hiện nay
1.2.3 Nội dung đầu tư phát triển ngành du lịch Việt Nam
1.2.3.1 Đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật ngành du lịch.
Cơ sở vật chất kỹ thuật là một trong những nhân tố quan trọng đối vớiquá trình sản xuất kinh doanh Theo nghĩa rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật dulịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật được huy độngtham gia vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiệncác dịch vụ và hàng hoá thoả mãn nhu cầu của du khách trong các chuyếnhành trình của họ Nó bao gồm cơ sở vật chất kỹ thuật của chính ngành dulịch như cơ sở lưu trú (khách sạn, nhà hàng), cơ sở vui chơi giải trí và cơ sở
Trang 21vật chất kỹ thuật của các ngành khác như hệ thống đường xá, cầu cống, điệnnước, thông tin liên lạc… Những yếu tố này gọi chung là các yếu tố thuộc cơ
sở hạ tầng
Tình hình thực hiện vốn đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch.
Qua các năm, việc thực hiện vốn đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch đã đạtđược kết quả tích cực Hàng năm, hầu hết nguồn vốn này đã được thực hiệntheo tiến độ, không để tình trạng bỏ vốn Nhìn chung, các dự án chấp hànhđúng quy trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, đảm bảo chất lượng côngtrình Qua 7 năm thực hiện nguồn vốn NSNN hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng dulịch, tuy nguồn này còn thấp nhiều so với nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng du lịchcủa thời kỳ 2001-2007, nhưng đã có kết quả khích lệ Lãnh đạo các tỉnh,thành phố đều rất quan tâm, có chỉ đạo cụ thể để quản lý, sử dụng hiệu quảnguồn vốn Một số dự án hay hạng mục đã hoàn thành và phát huy hiệu quảphục vụ du lịch như tại Quảng Ninh, việc hỗ trợ đầu tư đường ra đảo TuầnChâu, dự án đường bao núi Bài Thơ, đường du lịch Hồng Thắng - Hạ Long đãtạo bộ mặt mới cho khu du lịch Hạ Long, tăng khả năng thu hút khách du lịch,
dự án đường du lịch Labiang (khu du lịch Đà Lạt) sau khi hoàn thành đã thuhút khách du lịch tới khu du lịch này tăng 30% so với trước đây Tại NinhBình, sau khi đầu tư xong một số hạng mục công trình cơ sở hạ tầng khu dulịch Tam Cốc – Bích Động, khả năng thu hút khách du lịch đã tăng hơn, một
số nhà đầu tư đã đăng ký đầu tư hơn 400 tỷ vào khu vực này Đường LiênChiểu - Thuận Phước, Sơn Trà - Điện Ngọc (Đà Nẵng); đường du lịch venbiển, đường vào khu di sản văn hoá thế giới Mỹ Sơn (Quảng Nam) đã đưavào sử dụng và được khai thác hiệu quả; đường khu du lịch Lăng Cô (ThừaThiên Huế), đường du lịch xuyên đảo Cát Bà (Hải Phòng) đã tạo nên nhữngthay đổi cơ bản về khả năng thu hút khách du lịch ở các địa bàn này; đườngvào khu du lịch Chùa Hương đã cải thiện điều kiện đón khách vào mùa lễ hội,
Trang 22khách du lịch cuối tuần; đường vào và đường nội bộ khu di sản thiên nhiênthế giới Phong Nha - Kẻ Bàng ( Quảng Bình)… đã tạo điều kiện thuận lợi thuhút đầu tư và đón khách du lịch trong và ngoài nước Tại Cà Mau, hạng mụcthuộc đường du lịch Khe Long – Đất Mũi hoàn thành không chỉ tạo thuận lợicho khách du lịch đến đây mà còn góp phần phát triển kinh tế - xã hội khuvực này, cải thiện cơ bản cho người dân đi lại bằng đường bộ thuận lợi thaycho vận chuyển khó khăn bằng đường thuỷ trước đây Một số tỉnh khó khăn
về ngân sách hoặc vùng sâu, vùng xa khi được hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng dulịch đã sử dụng hiệu quả khai thác tiềm năng du lịch của địa phương, gópphần nâng cao tỷ lệ thu hút khách du lịch như Hoà Bình, Yên Bái, Bắc Kạn…
Biểu 1.8: Tổng vốn NSNN hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch giai đoạn
2001-2007
Nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch đã góp phần quan trọng trongviệc tăng cường khả năng thu hút khách du lịch và thu nhập từ du lịch trên cảnước Khách du lịch quốc tế tới Việt Nam ngày càng tăng, đạt tốc độ tăngtrưởng trung bình 10%/năm Trong đó khách quốc tế đến Việt Nam từ năm
2001 là 2,33 triệu thì năm 2005 đạt 3,46 triệu lượt khách; năm 2007 đạt 4,2
Trang 23triệu lượt khách; khách nội địa năm 2001 đạt 12 triệu lượt, năm 2005 đạt 16triệu lượt, năm 2007 đạt 19,2 triệu lượt Tốc độ tăng trưởng GDP du lịch đạtkhoảng 6% tăng cao hơn so với kế hoạch 4,5%.
Hiện trạng đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch.
• Cơ sở lưu trú, ăn uống
Nguồn vốn đầu tư vào khách sạn chủ yếu là vốn nước ngoài hoặc vốnliên doanh với nước ngoài Lượng vốn này chiếm một tỷ trọng lớn trong tổngvốn đầu tư phát triển du lịch
Bảng 1.9: Vốn đầu tư cho khách sạn nhà hàng
Nguồn: Vụ Tổng hợp Kinh tế Quốc dân
Số lượng các khách sạn du lịch ngày càng tăng nhưng vẫn xảy ra tình trạng thiếu phòng Các khách sạn cao sao của Việt Nam hiện vẫn chủ yếu tập
trung tại các thành phố lớn và các trung tâm du lịch Công suất sử dụng củacác khách sạn cao cấp 4-5 sao tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội hiện nay lên tới90-95%, trong đó có những khách sạn luôn đạt tới 99% Điều đó đã gây ratình trạng thiếu buồng phòng khách sạn cao cấp 4-5 sao tại các tỉnh, thànhphố, những trung tâm du lịch lớn Ngoài ra, tại một số trung tâm du lịch nhưNha Trang (Khánh Hòa), Phan Thiết (Bình Thuận), Hội An (Quảng Nam),Phú Quốc (Kiên Giang) … trong mùa cao điểm hoặc vào các ngày lễ hội tìnhtrạng thiếu phòng cũng thường xuyên diễn ra, dẫn tới việc tăng giá Vấn đềnày đang được lãnh đạo ngành du lịch đặc biệt quan tâm và đang tích cựcphối hợp với các địa phương để tìm biện pháp tháo gỡ Hiện nay, tổng sốkhách sạn cao cấp đặc biệt là khách sạn 5 sao của nước ta còn quá ít Một số
Trang 24địa phương, việc đầu tư cơ sở lưu trú còn tự phát, không theo quy hoạch,không có sự tư vấn của các cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch nên mặc dùđược đầu tư lớn, trang thiết bị hiện đại nhưng nhiều cơ sở lưu trú du lịchkhông phù hợp với tiêu chuẩn xếp hạng, thiếu dịch vụ bổ sung Vấn đề nàychủ yếu xảy ra đối với các cơ sở lưu trú 1, 2 sao trở xuống của Việt Nam Mộtvấn đề hiện nay đang được quan tâm là các cơ sở lưu trú của nước ta cònmang tính thời vụ nên doanh thu thấp Đây là bài toán khó cho việc đầu tư,nâng cao chất lượng cơ sở vật chất trang thiết bị cũng như việc giữ chân độingũ lao động có nghiệp vụ và kinh nghiệm từ đó gây khó khăn trong quản lýchất lượng các cơ sở lưu trú du lịch
Với lượng cơ sở lưu trú du lịch như hiện nay, chúng ta cũng đang gặpmột số khó khăn khi đón và phục vụ khoảng 4,2 triệu lượt khách quốc tế và19,2 triệu lượt khách nội địa (số liệu năm 2007) Như vậy nếu chúng ta đón 6triệu lượt khách quốc tế và 25 triệu lượt khách nội địa vào năm 2010 thì lượng
cơ sở lưu trú có lẽ ít nhất phải tăng gấp rưỡi đặc biệt là các khách sạn cao cấp
Cụ thể như Hà Nội, theo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam,khách tới Hà Nội thường chiếm thị phần 1/3 lượng khách quốc tế tới ViệtNam như vậy thì năm 2010 dự báo Hà Nội phải có 26.100 buồng trong đó 16
cơ sở lưu trú du lịch 5 sao (6300 buồng), 16 cơ sở lưu trú du lịch 4 sao (4.200buồng), 50 cơ sở du lịch 3 sao (4.000buồng)
Không những thế, chất lượng của các cơ sở lưu trú cũng là vấn đề đang
được đặt ra Chất lượng của các cơ sở lưu trú có ảnh hưởng khá lớn tới lượngkhách du lịch ở Việt Nam Hầu hết các cơ sở lưu trú du lịch có quy mô nhỏ,chủ yếu thuộc thành phần tư nhân Các cơ sở lưu trú du lịch này hầu hết códiện tích nhỏ, thiếu tính chuyên nghiệp trong thiết kế, bài trí, trang trí, ít dịch
vụ, trình độ quản lý và phục vụ yếu kém do chủ đầu tư tự quản, không quan
Trang 25tâm tới đào tạo bồi dưỡng trình độ quản lý, nghiệp vụ và ngoại ngữ cho laođộng, ảnh hưởng tới chất lượng phục vụ, vì vậy các đoàn khách quốc tế caocấp không chấp nhận lưu trú trong các cơ sở loại này
Trước thực tế này, nhiều cơ sở lưu trú mới đã ra đời đồng thời các cơ sở
cũ được nâng cấp nhiều để đảm bảo chất lượng, đáp ứng nhu cầu của dukhách, tăng doanh thu cho doanh nghiệp
Hiện nay, nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đang rất quan tâm tớilĩnh vực dịch vụ du lịch nhất là xây dựng các khách sạn cao cấp tại Việt Nam.Riêng Hà Nội, căn cứ số lượng các dự án có nhiều khả năng thực hiện và các
dự án đã được cấp phép, ước tính từ nay tới năm 2010 có khoảng 28 dự ánkhách sạn từ 3-5 sao với khoảng 6.000 buồng Hà Nội đang triển khai xâydựng quy hoạch phát triển du lịch đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 Theo bà Đỗ Hồng Xoan, để nâng cao chất lượng dịch vụ trong các cơ sở lưutrú thì trước tiên phải nâng cao chất lượng trang thiết bị tiện nghi Đối với khuvực dịch vụ, vui chơi giải trí cần thường xuyên chú ý đến việc đầu tư, nângcấp, tăng quy mô về số lượng dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ, tạokhông gian xanh, sạch, đẹp thoáng mát Đảm bảo số lượng cán bộ quản lý vànhân viên phục vụ trong mỗi cơ sở lưu trú phải tương xứng với quy mô, cấphạng và phù hợp về trình độ và kỹ năng đồng thời thường xuyên được bổsung nhân lực, có kế hoạch đào tạo nhân viên theo những hình thức khác nhau
để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh một cách tốt nhất Một vấn đề khá quan trọng đối với sự phát triển của các cơ sở lưu trú chính làviệc tăng cường công tác an ninh, bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm
Bên cạnh việc chú trọng tới đội ngũ marketing, xây dựng các chiếnlược marketing để tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của khách để có chiến lược kinhdoanh phù hợp, các cơ sở lưu trú cũng cần quan tâm tới hợp tác quốc tế đểkhông ngừng nâng cao chất lượng các cơ sở lưu trú của mình, đủ sức cạnh
Trang 26tranh với các cơ sở lưu trú của các nước trên thế giới
• Cơ sở vui chơi, giải trí
Nhắc đến cơ sở vui chơi giải trí không thể không nhắc đến hệ thống cáccông viên Tuy nhiên thực tế cho thấy, hầu hết các công viên chưa có sức hấpdẫn với du khách Phần lớn mô hình quản lý của các công viên vườn hoa hiệnnay do các đơn vị chuyên ngành của các Sở giao thông công chính các địaphương quản lý Các công viên được xây dựng với mục đích phục vụ khách
du lịch tham quan, thư giãn đều được hưởng 100% đầu tư, hỗ trợ từ Ngânsách UBND thành phố Hà Nội cũng đã đồng ý về nguyên tắc việc đầu tư dự
án công viên Yên Sở theo đề nghị của tập đoàn Gamuda Berhard (Malaysia).Tuy nhiên, Thành phố yêu cầu các nhà đầu tư phải thực hiện dự án một cáchtổng thể và phải thực hiện nghiêm túc việc xử lý môi trường liên quan đếncác hồ chứa nước Theo dự kiến, Công ty địa ốc Gamuda Land thuộc Tậpđoàn Gamuda (Malaysia) sẽ đầu tư vào dự án tổ hợp Công viên Yên Sở tại
Hà Nội với tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng 1 tỷ USD Dự án sẽ được xâydựng trên diện tích 324 ha với các hạng mục công trình chính như kháchsạn 5 sao, trung tâm hội nghị, căn hộ cao cấp và biệt thự, câu lạc bộ giải trí
Trang 27và Đầu tư Phát triển Hà Nội (trực thuộc Thành Đoàn Hà Nội) lập dự án xâydựng Công viên Tuổi trẻ thủ đô Ngày 12-5-2003, UBND thành phố Hà Nội
ra Quyết định số 2576/QĐ-UB chuyển Công ty Thương mại và Đầu tư Pháttriển Hà Nội trực thuộc Thành Đoàn về Sở Du lịch Hà Nội Sau hơn một năm(12-7-2004), UBND thành phố lại có Quyết định số 106/QĐ-UB chuyểnCông ty Thương mại và Đầu tư Phát triển Hà Nội về Tổng công ty Du lịch HàNội, hoạt động thí điểm theo mô hình công ty mẹ, công ty con Ngoài nguồnvốn ban đầu 8,5 tỷ đồng, Công ty Thương mại và Đầu tư Phát triển Hà Nộiđược UBND thành phố giao quản lý, sử dụng 262.776 m2 đất tại Công viênTuổi trẻ thủ đô Thế nhưng, chỉ sau một thời gian hoạt động, phần lớn cáchạng mục đầu tư cho khu vui chơi giải trí đã trở thành những đống sắt vụn,đứng dãi nắng dầm mưa, nép mình bên cạnh sự hoành tráng, hoa lệ của hàngchục “đại nhà hàng” và 9 sân chuyên dành để đánh tennis Điều mà bất cứngười dân nào cũng có thể nhận ra, Công viên Tuổi trẻ thủ đô giờ là khu “ănchơi” chứ không phải khu vui chơi giải trí như mục đích ban đầu đặt ra Mặtcông viên bên đường Võ Thị Sáu dài hàng trăm mét đã được giăng kín bởicác nhà hàng, quán bia, ga-ra ô tô, bãi đỗ xe và lố nhố hàng chục điểm dịch
Trang 28loang bạc màu nắng, mưa Cả khối thiết bị lớn được che bằng một mảnh bạtnhỏ Khối tài sản hơn 3 tỷ đồng của Nhà nước đang bị phơi mưa, nắng Cách
đó không xa, nhà nổi Thuyền Ngự bập bềnh trên mặt hồ Tiếc rằng, trênchiếc thuyền khá sang trọng này chẳng có khách và cũng không thấy bóngchủ 6 sân tennis trị giá 2,5 tỷ đồng cũng rất vắng khách Nguồn nước hồtrong công viên được tích từ các con sông nước thải là Kim Ngưu, Sét, Lừ vàchưa hề được xử lý Khi trời nắng nóng, nước bẩn bốc mùi hôi thối bao phủtoàn bộ công viên Công viên được ví như cái “chảo nước thải” với khoảng40ha mặt nước được nắng hè đun sôi” Để duy trì tồn tại của công viên, ngoàiviệc thành phố đài thọ khoảng 70 triệu đồng, thu từ dịch vụ trông giữ ô tô 30-
40 triệu đồng, mỗi tháng, phải bù lỗ 40 triệu đồng để trả lương cho khoảng
+ Đường sắt: Trong tổng số 7 tuyến đường sắt với tổng chiều dài 3.142
km đường sắt hiện có, 1.813 cầu, 200 km đường sắt đã được làm mới, 2.600mcầu được khôi phục, nâng cao năng lực vận chuyển hành khách và chiếm22,7% tổng khối lượng vận chuyển
+ Đường thuỷ: Hiện cả nước có 166 cảng biển, 266 cầu cảng với tổngchiều dài 35.688m Nhiều hải cảng quan trọng được mở rộng như Sài Gòn,
Trang 29Hải Phòng, Cửa Lò, Đà Nẵng, Quy Nhơn; xây dựng các cảng du lịch BãiCháy, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, Sài Gòn tạo điều kiện thuận lợi chocác tàu du lịch lớn đưa khách đến Việt Nam Năng lực vận chuyển hànhkhách đường sông hiện chiếm 23% tổng khối lượng vận chuyển.
+ Đường không: Đến nay cả nước có 52 sân bay các loại Việc sửa chữa,nâng cấp và hiện đại hoá các sân bay quốc tế lớn như Nội Bài, Tân Sơn Nhất,
Đà Nẵng; mở các đường bay trực tiếp Việt Nam – Hoa Kỳ, Việt Nam – HànQuốc, Việt Nam - Nhật Bản Tất cả góp phần làm tăng năng lực vận chuyểnkhách quốc tế đến Việt Nam
- Bưu chính viễn thông:
Toàn bộ các tỉnh thành phố trong cả nước được nối hệ thống cáp quang
1.2.3.2 Đầu tư phát triển các sản phẩm du lịch.
Các loại sản phẩm du lịch được phát triển phù hợp với từng loại thị
Trang 30trường và loại hình du lịch.
a.Du lịch sinh thái.
Việt Nam với lợi thế có chiều dài bờ biển, rừng núi hoang sơ với nhiềukhu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia và nhiều rừng cấm, đó là những di sảnthiên nhiên của quốc gia,chứa đầy tiềm năng cho phát triển du lịch sinh tháinhư Vịnh Hạ Long, hồ Ba Bể, động Phong Nha, vườn quốc gia Cát Tiên,vườn quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long… Đặc biệt là
đã có tới 6 khu dự trữ sinh quyển Việt Nam được UNESCO công nhận là khu
dự trữ sinh quyển thế giới nằm ở khắp 3 miền Do đó đầu tư vào du lịch sinhthái những năm gần đây ngày càng thu hút được lượng vốn lớn, ở nhiều địaphương trên cả nước
Ví dụ, tỉnh Cà Mau đã thông qua quy hoạch Khu du lịch sinh thái Vườnquốc gia U Minh Hạ, nhằm mời gọi đầu tư phát triển ngành du lịch
Đến nay, có 7 đối tác đăng ký đầu tư phát triển du lịch tại đây được tỉnh
Cà Mau chấp thuận về chủ trương và đang triển khai hoàn tất những điều kiệncần thiết để thực hiện
Theo quy hoạch, khu du lịch sinh thái Vườn quốc gia U Minh Hạ có quy
mô khoảng 1.700ha, bao gồm toàn bộ phân khu dịch vụ hành chính Vườnquốc gia U Minh Hạ và một phần phân khu phục hồi và sử dụng bền vững hệsinh thái rừng ngập nước Dự kiến khu du lịch sinh thái này sẽ bao gồmcác công trình vui chơi, giải trí, khu văn hóa truyền thống, tái tạo làng rừng,vọng lâm đài, khu ẩm thực dân gian, nhà nghỉ truyền thống, khu nuôi thú, bếnbãi câu cá Ngoài khu du lịch sinh thái Vườn quốc gia U Minh Hạ, phía TâyNam Cà Mau còn có nhiều điểm du lịch nổi tiếng đang được đầu tư phát triểnnhư khu du lịch Hòn Đá Bạc, khu du lịch Đầm Thị Tường, khu nhà bác BaPhi, khu đa dạng sinh học Sông Trẹm Khi những khu du lịch này hoàn thành
Trang 31sẽ liên kết với nhau, sẽ tạo nên mạng lưới du lịch sinh thái với sản phẩm dulịch phong phú, đa dạng.
Tỉnh Quảng Ngãi vừa đồng ý cho phép đầu tư xây dựng khu du lịch sinhthái Ánh Sao - Mỹ Khê tại xã Tịnh Khê huyện Sơn Tịnh Khu du lịch rộngkhoảng 13 ha; gồm các phân khu chức năng: trung tâm điều hành và đón tiếp;cửa hàng bán hàng lưu niệm và bách hóa; khu nhà vườn sinh thái biển; khukhách sạn - biệt thự; khu điều dưỡng, vật lý trị liệu; khu thể thao, hội nghị,hội thảo; nhà hàng, chợ ẩm thực; khu cắm trại; tắm biển và công viên sinhthái cùng nhiều hạng mục phụ trợ khác Dự án do Công ty Ánh Sao đầu tư 20triệu USD xây dựng từ nay đến năm 2010
Tập đoàn Banyan Tree (Singapore) sẽ đầu tư khoảng 1 tỷ USD để xâydựng Khu du lịch sinh thái tại thôn Cù Dù, xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc thuộcKhu kinh tế Chân Mây-Lăng Cô Dự án được xây dựng trên diện tích 300 ha
sẽ được khởi công vào 3/2008, được chia làm 4 giai đoạn, trong đó giai đoạn
1 sẽ xây dựng 2 khách sạn với 440 phòng ngủ và các nhà nghỉ (dự kiến hoànthành vào năm 2009) Giai đoạn 2 bao gồm 2 khách sạn 5 sao với quy mô 400phòng, cùng một sân golf 18 lỗ, cùng trung tâm hội nghị triển lãm (hoànthành năm 2010) Giai đoạn 3 sẽ xây dựng 3 khách sạn với quy mô 1.000phòng, trong đó có 1 khách sạn 6 sao (năm 2014 sẽ hoàn tất và đưa vào hoạtđộng) Đây là điều kiện rất thuận lợi để du lịch Huế phát triển tương xứng vớinhững tiềm năng mà tỉnh đang có
Ở miền Trung, du lịch sinh thái được mở rộng, đầu tư một cách mạnh
mẽ Ở khu vực Tây Nguyên, các công ty du lịch và các tỉnh đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng du lịch sinh thái (khách sạn, nhà nghỉ, đường xá) vào các khu dulịch nguyên sơ đồng thời tham gia các lễ hội văn hoá Tây Nguyên vốn rất nổitiếng là phong phú và hấp dẫn mang những nét đặc thù của các dân tộc TâyNguyên Hiện nay có thể nói sôi động nhất trong lĩnh vực đầu tư vào du lịch
Trang 32sinh thái văn hoá là khu vực Quảng Nam - Đà Nẵng như: khu du lịch sinhthái biển Hội An đạt tiêu chuẩn quốc tế 5 sao tại bãi biển Cửa Đại với tổng sốvốn đầu tư là 120 tỷ đồng với hệ thống khách sạn (200 phòng nghỉ đầy đủ tiệnnghi được thiết kế nhìn ra biển và bao bọc xung quanh bởi hồ nước nhân tạocùng hệ thống cây xanh), sân vườn, khu đón tiếp, quầy bar, nhà hàng, hồ bơi,sân golf… Khu du lịch này hoàn thành tạo thêm sức hút hấp dẫn du khách đếnvới Hội An Ngoài ra nó còn tạo ra những hệ thống liên hoàn trong việc gắnkết các loại hình dịch vụ của công ty khách sạn Hội An – khu du lịch biển Hội
An cùng phát triển, đồng thời mở rộng không gian du lịch giữa đô thị cổ Hội
An và bãi biển Cửa Đại, phát triển du lịch ở Cù Lao Chàm cùng với các vùngphụ cận, tạo nên 1 sản phẩm tổng hợp, đa dạng, một mô hình mà các địaphương khác có điều kiện tương tự nên học tập để đầu tư cho có trọng điểm
Ở miền Bắc, một trong những điểm sáng du lịch sinh thái là Hà Tây Cty
cổ phần Tuần Châu Hà Tây (tập đoàn Tuần Châu) chuẩn bị đưa dự án khu dulịch sinh thái và vui chơi giải trí vào hoạt động Theo ông Edward Minh Chi -Giám đốc dự án, sau nhiều năm nghiên cứu và khảo sát dự án này đã chínhthức được UBND tỉnh Hà Tây phê duyệt và cấp phép đầu tư với tổng vốn đầu
tư hơn 5 ngàn tỷ đồng trên tổng diện tích 254 ha cùng 6 dự án thành phần.Đây là một dự án đa năng lớn gồm sân golf diện tích 93 ha; khu vui chơi giảitrí hiện đại đặt bên trong phong cảnh của núi Chùa Thầy thiết kế trên diện tích
22 ha Trung tâm thương mại quốc tế với tổng diện tích 180 ngàn m2; khubiệt thự sang trọng rộng 54 ha được thiết kế theo khuynh hướng kiến trúc sinhthái; khách sạn 5 sao và trung tâm hội nghị đáp ứng yêu cầu chất lượng chonhững dự án mang tầm vóc kinh tế; khu căn hộ cao cấp Dự án chính thứckhởi công vào tháng 1/2008 và dự kiến hoàn thành vào năm 2010
b.Du lịch mạo hiểm.
Ngoài du lịch sinh thái, du lịch xanh thì các sản phẩm du lịch mới mạo
Trang 33hiểm có sức thu hút khách du lịch rất nhiều như: leo núi, lặn biển, đua thuyền,lướt ván… chưa được khai thác đầu tư thoả đáng Sự kiện Raid Gauloisesđến Việt Nam gần như đặt mốc mới để du lịch mạo hiểm có thể cất cánh.Song, từ đó đến nay, diện mạo du lịch mạo hiểm Việt Nam vẫn là "trẻ, thiếu
kinh nghiệm, thiếu chuyên nghiệp", không tạo được sức bật Trong một bài
viết gần đây nhất, ông Nguyễn Anh Tuấn, chuyên viên chính Vụ Lữ hành (BộVăn hóa Thông tin và Du lịch) đánh giá, thiên nhiên, địa hình đất Việt rất phùhợp với du lịch mạo hiểm, điển hình là các bộ môn đi bộ (trekking), leo núi(hiking), đua ô tô, mô tô, xe đạp, lặn biển, bè mảng, đua thuyền, lướt ván,nhảy dù Địa chỉ vàng cho các chuyến đi mạo hiểm chính là khu vực cáctỉnh miền núi Đông Bắc, Tây Bắc, miền Trung và Tây Nguyên
Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch Phạm TrungLương cũng nói rằng, Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến
2010 đã xác định du lịch mạo hiểm là lĩnh vực đặc thù, cần chú trọng Cụ thể,
từ Hà Giang đến Hà Tĩnh có một số không gian để phát triển tốt du lịch mạohiểm như Sapa, PhanXiPăng, dãy Hoàng Liên Sơn nhờ địa thế hiểm trở,hoang sơ kết hợp yếu tố văn hóa Hà Giang - cực bắc của Tổ quốc, với cácdạng địa hình đặc biệt về cả nghiên cứu khoa học, du lịch, cũng được coi làmiền đất để khám phá Lưu vực dọc sông Hồng cũng đáng "để mắt" phát triển
du lịch vượt thác ghềnh
Song, ông Tuấn nhận xét, các DN lữ hành hiện mới khai thác được tàinguyên du lịch tại đồng bằng, ven biển và một số khu vực miền núi, gần thịtrấn, ven quốc lộ Một phần rất lớn khác, phong phú và quý giá hơn nhiều,
cho các loại hình du lịch mạo hiểm, hiện vẫn ngủ yên
Dấu ấn đậm nhất là sự có mặt của chương trình du lịch thể thao mạohiểm mang tên “Raid Gauloises" vào năm 2002 800 khách du lịch quốc tế,đến từ 17 quốc gia tham gia chuyến đi kéo dài 14 ngày, tại 9 tỉnh vùng núi
Trang 34Đông Bắc Việt Nam Từ đi bộ băng rừng, leo núi, vượt thác, đi bèmảng, thuyền nan trên suối, xe đạp đổ đèo, thuyền kayak trên biển họ đềutham gia Ý nghĩa về quảng bá, xúc tiến cũng như thành công về kinh tế làđiều đáng ghi nhận từ chương trình
Tiếp theo, năm 2004 và 2006, Saigontourist phối hợp với CLB thuyềnbuồm Hongkong và hãng Goodman Marine International tổ chức 2 cuộc đuathuyền buồm từ Hongkong đến Nha Trang, với hơn 200 khách mỗi cuộcđua Từ đó đến nay, Việt Nam vắng hẳn các chương trình du lịch mạo hiểm
có quy mô Ông Tuấn thừa nhận, cũng không có một nghiên cứu lớn nào về
du lịch mạo hiểm ở Việt Nam được công bố Trên thực tế, sản phẩm du lịchmạo hiểm của các DN hiện nghèo nàn, phân tán
Các sản phẩm du lịch mạo hiểm như leo núi, đi xuồng cao su vào đầunguồn các con sông thì thực sự chưa có 1 doanh nghiệp du lịch nào đầu tư vào
mà diễn ra chủ yếu do các nhóm cá nhân tự tổ chức Sở dĩ như vậy là do ởnước ta hiện nay các nhà đầu tư trong nước thì chưa được tiếp xúc với cácloại hình này nhiều do đó còn bỡ ngỡ hoặc không dám mạo hiểm đầu tư vào.Hơn nữa, đầu tư vào du lịch mạo hiểm cần chi phí lớn cho các phương tiện dulịch mạo hiểm Hầu hết toàn bộ đồ cho du lịch mạo hiểm phải mua từ nướcngoài Một chiếc rafting vượt suối làm bằng composite giá 4.000 USD nên
DN lữ hành buộc phải mua thuyền cao su bơm hơi, 500-800 USD/chiếc (độ
an toàn thấp) Xe đạp để du lịch mạo hiểm rẻ cũng phải 400 USD/chiếc, máichèo 300-400 USD/chiếc, dụng cụ leo núi 500-700 USD/chiếc
Tuy nhiên, trong tương lai không xa họng rằng các nhà đầu tư sẽ khôngbỏ lỡ cơ hội đầu tư vào sản phẩm du lịch hấp dẫn đầy tiềm năng này
c.Du lịch MICE.
Trang 35Du lịch điểm hẹn MICE đang là thị trường mới MICE- viết tắt củaMeeting (hội họp), Incentive (khen thưởng), Convention (hội nghị, hội thảo)
và Exhibition (triển lãm) MICE là loại hình du lịch tiềm năng của Việt Nam,
và nếu được phát triển, nó sẽ mang lại lợi ích không chỉ cho ngành du lịch màcòn cho cả thương mại
Hội họp, cho dù ở lĩnh vực kinh tế, thể thao, văn hóa, chính trị đều cóthể mang lại giá trị du lịch cho một vùng Ví dụ SEA Games, hay festivalHuế là những sự kiện Meeting, mang lại cơ hội kinh doanh cho ngành dulịch, và tất nhiên cho nhiều ngành khác Sự kiện thể thao hoặc lễ hội này thuhút nhiều khách trong nước và quốc tế đến tham gia và cổ vũ Incentive (khenthưởng) có tính chất như Meeting, nhưng những cuộc hội họp lại do một công
ty hay một tập thể nào đó tổ chức để khen thưởng nhân viên Vừa hội họp vừavui chơi, tức phát sinh nhu cầu tham quan du lịch và thưởng ngoạn Còn đểkhen thưởng khách hàng hay đại lý thì các công ty tổ chức các hội nghị, hộithảo (convention hay conference) Ngoài ra, convention/conference (hội nghị,hội thảo) còn là những diễn đàn quốc tế, mà những đại biểu tham dự là đốitượng khách của ngành du lịch Trong khi đó, Exhibition (triển lãm) thì liênquan nhiều đến các hội chợ hay triển lãm quốc tế, mà thành phần là nhữngnhóm DN hoặc từng DN riêng lẻ, lại cũng chính là khách hàng tiềm năng củacác công ty du lịch
Theo các chuyên gia kinh tế du lịch, thời gian gần đây lượng du kháchđến Việt Nam du lịch kết hợp dự hội nghị, hội thảo và tìm kiếm cơ hội đầu
tư (du lịch MICE) ngày càng tăng nhanh, mở ra hướng phát triển mới chongành "công nghiệp không khói" của Việt Nam Con số thống kê của Tổngcục Du lịch Việt Nam cho thấy, tuy còn chiếm tỷ lệ khiêm tốn trong tổng số
du khách quốc tế đến Việt Nam nhưng lượng khách đến bằng hình thức MICEđang tăng khá nhanh Sáu tháng đầu năm 2007, trong tổng số gần 1,85 triệu
Trang 36khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, có gần 278.000 người đến dự hội thảo,hội nghị, tăng 26,3% so với cùng kỳ năm ngoái Những doanh nghiệp đi tiênphong trong việc khai thác loại hình du lịch này là Saigontourist, Fiditourist,Bến Thành Tourist, Vietraval, Fitiximo, Hanoi Toserco và Hoàn Mỹ Bến Thành Tourist là doanh nghiệp du lịch đầu tiên ở thành lập Trung tâmMICE chuyên nghiệp (tháng 4/2004), cho biết đã đón rất nhiều đoàn du kháchMICE thuộc nhiều lĩnh vực như dầu khí, y dược, thương mại với số lượngtrung bình mỗi đoàn từ 100 đến 200 người Doanh nghiệp này nhận định, thờigian tới, xu hướng du lịch MICE tại Việt Nam sẽ tiếp tục tăng nhanh, đặc biệt
là lượng khách đến từ các nước ASEAN Công ty du lịch lữ hànhSaigontourist thì cho rằng, những lợi thế của du lịch MICE là lượng kháchđông, tập trung, có mức chi tiêu cao và thời gian lưu trú dài ngày Trong 6tháng đầu năm 2006, riêng công ty này đã phục vụ hơn 1.500 du kháchMICE, đoàn đông nhất lên tới 300 khách Hiện nay, Saigontourist có khoảng
300 đối tác quốc tế tại nhiều quốc gia trên thế giới và đặc biệt là những đốitác từ các nền kinh tế thành viên APEC Vietnam Airlines cũng là một đơn vịxúc tiến mạnh mẽ thị trường MICE với việc mở thêm nhiều đường bay tới 25thành phố ở châu Á, châu Âu, Ôxtrâylia, Mỹ và nâng cao chất lượng phục vụđạt tiêu chuẩn quốc tế Hầu hết số máy bay mua của Boeing và Airbus có khảnăng bay chặng dài đều được đưa vào phục vụ loại hình du lịch MICE Công cuộc hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng cùng với những lợi thế vốn
có về cảnh quan thiên nhiên ưu đãi như nhiều bãi biển đẹp, nhiều di sản vănhoá và thiên nhiên thuộc hàng kỳ quan thế giới đang là những cơ hội để mởrộng phát triển loại hình du lịch MICE Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng của ngành
du lịch, nhất là hệ thống khách sạn và resort cũng đang đuợc đầu tư mạnh.Tính đến hết tháng 5/2006, Việt Nam có 175 khách sạn được xếp hạng từ 3
Trang 37đến 5 sao, vừa đáp ứng được yêu cầu lưu trú của khách, vừa đáp ứng đượcviệc tổ chức các hội nghị, hội thảo và các sự kiện văn hoá, thể thao quốc tế
d.Du lịch thăm quan kết hợp mua sắm.
Sản phẩm du lịch này đang được các nhà đầu tư đưa vào tầm ngắm màbắt đầu là các làng nghề truyền thống Đi đầu là làng nghề Bát Tràng đã đượccác nhà đầu tư du lịch kết hợp với các chủ sản xuất quảng cáo đồng thời đưacác khách du lịch đi theo các tour du lịch sông Hồng, thăm quan làng nghề.Thực tế hàng năm Bát Tràng đã thu hút một lượng khách du lịch rất lớn
1.2.3.3 Đầu tư phát triển các loại hình vận chuyển khách du lịch
Dịch vụ vận chuyển khách du lịch cũng có những chuyển biến tích cực,
tăng nhanh về số lượng và đổi mới về chất lượng Mạng lưới giao thông vậntải ở nước ta đã và đang dần được hiện đại hoá, hỗ trợ tích cực cho hoạt động
du lịch quốc tế Khách du lịch đến Việt Nam có thể sử dụng đường không,đường bộ, đường sắt, đường thuỷ
Về vận chuyển hàng không: Trên phạm vi cả nước có 6 sân bay quốctế: Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Cát Bi (Hải Phòng), Phú Bài (Huế),Cam Ranh (Nha Trang) và một hệ thống các sân bay nội địa được phân bốtrên khắp cả nước tạo thành một mạng lưới giao thông hàng không rất thuậnlợi trong việc chuyên chở khách du lịch quốc tế vào Việt Nam thăm quan cácđiểm du lịch trong cả nước Hiện Việt Nam có 2 hãng hàng không trong nướcđược khai thác đường bay quốc tế là Vietnam Airlines và Pacific Airlinesnhưng chỉ riêng Vietnam Airlines đã đưa khách du lịch nước ngoài đến ViệtNam khoảng 70% Dự tính đến năm 2010 chúng ta thu hút khoảng 6 triệukhách du lịch quốc tế thì khoảng 4,2 triệu khách du lịch sẽ sử dụng hàngkhông Việt Nam Tuy nhiên, các hãng hàng không Việt Nam cũng phải đối
Trang 38mặt với năng lực cạnh tranh rất lớn của các hãng hàng không nước ngoài như:Thai Airway, Singapore Airlines, Tiger Airway, AirAsia.
Vận chuyển khách bằng đường bộ phát triển nhanh cả về số lượng, chấtlượng và chủng loại do Nhà nước đã bỏ giấy phép vận chuyển khách du lịch.Các phương tiện vận chuyển chủ yếu là ô tô liên tục được đổi mới và phục vụkịp thời Hầu như các tỉnh phát triển đều có hệ thống xe bus liên tục đượchoàn thiện về chất lượng và tần suất chạy góp phần phục vụ nhóm khách dulịch nội tỉnh, khách du lịch trẻ tuổi thu nhập thấp hoặc các tỉnh lân cận Tuynhiên, nhiều tuyến đường bộ trong nước ta còn chưa được nâng cấp, cải tạo,gây khó khăn cho việc đi lại, ách tắc giao thông thường xuyên xảy ra
Vận chuyển khách bằng đường sắt với phương châm: “thuận tiện – antoàn – giá rẻ”, ngành đường sắt đã tổ chức nhiều tuyến du lịch hấp dẫn, thuhút cả khách trong nước và nước ngoài Các tuyến du lịch dọc hành langĐông Tây, tuyến đường bộ nối các tỉnh miền Trung với các tuyến điểm dulịch của Lào, Thái Lan, Campuchia đã được thiết lập tạo điều kiện đón kháchvào Việt Nam
Vận chuyển khách du lịch bằng đường biển đang tăng nhanh trong cácnăm gần đây Các doanh nghiệp nước ta cũng đang củng cố khả năng đóngtàu, hình thành các đội vận tải chuyên nghiệp và hiệu quả Các tàu chở kháchquốc tế chủ yếu cập cảng thành phố Hồ Chí Minh
Các dự án đầu tư vận chuyển khách du lịch đang rất được quan tâmhiện nay Thường các dự án này có nguồn vốn là vốn liên doanh với nướcngoài trong đó bên Việt Nam thường góp dưới 50%, lượng vốn đầu tư chủyếu là của bên nước ngoài và huy động từ các nguồn vốn vay khác
Bảng 1.10 Một số dự án trong lĩnh vực vận chuyển khách du lịch ở Việt
Nam giai đoạn 2003-2007.
Trang 39Tên dự án Hình thức
Tuyến đường sắt 2 làn Biên Hoà-Vũng Tàu BOT 310 triệu USDSản xuất tàu hoả du lịch 5 sao phục vụ khác
du lịch Nha Trang-TP Hồ Chí Minh
Liên doanh 16 triệu Euro
Vận tải hành khách xuyên Việt chất lượng
cao bằng ô tô
Liên doanh 38 triệu USD
Đóng tàu vận chuyển khách du lịch bằng
đường biển
Liên doanh 40 triệu USD
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài
1.2.3.4 Đầu tư nguồn nhân lực du lịch.
Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển nềnkinh tế Đối với Du lịch Việt Nam, vấn đề đó không phải là ngoại lệ, nhất làtrong xu thế hội nhập quốc tế mạnh mẽ hiện nay của nước ta
a Về số lượng lao động du lịch
Chỉ xét tổng số lao động trực tiếp trong ngành du lịch ở nước ta, năm
2006 là 234.000 người, năm 2007 là 285.000 người theo dự báo đến năm
2010, lực lượng này ước đạt 350.000 người, năm 2015 là hơn 500.000 người.Trong số lao động trực tiếp, năm 2007 có 8% lao động lễ tân; 12% lao độngphục vụ buồng; 15% lao động phục vụ ăn uống (bàn, bar); 10% nhân viên chếbiến món ăn; 7% nhân viên lữ hành và hướng dẫn viên, 10% lái xe, tàu,thuyền du lịch; 38% lao động làm các nghề khác
Biểu 1.11 Cơ cấu lao động trực tiếp ngành du lịch
Trang 40Số lao động trực tiếp này tăng lên để tương xứng với sự phát triển chungcủa ngành du lịch cũng như đáp ứng tốt cho một lượng khách lớn đặc biệt làkhách quốc tế tới Việt Nam song nó lại mâu thuẫn với thực tế đào tạo hiệnnay của nước ta Điều này cũng được GS.TS Nguyễn Văn Đính, Hiệu trưởngtrường Đại học Hà Tĩnh (Nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Du lịch
Hà Nội) phân tích:" Trong thời gian từ năm 2007 - 2015 cần phải thu hút vàđào tạo mới cho khoảng 266.000 người, bình quân mỗi năm là 33.250 người,
và chưa kể 50% số lao động du lịch hiện tại chưa qua đào tạo cần phải đượcđào tạo Đó là một con số không nhỏ, là một thách thức, một nhiệm vụ khôngnhẹ nhàng và đơn giản đối với công tác đào tạo nguồn nhân lực cho du lịchViệt Nam" Quan ngại trước thực trạng đào tạo nguồn nhân lực cho ngành dulịch, ông nói: "Cả nước có khoảng 50 cơ sở đào tạo nghề du lịch từ hệ dạynghề cho đến trung cấp, cao đẳng; 30 cơ sở đào tạo du lịch bậc đại học Sốlượng học sinh, sinh viên ra trường hàng năm khoảng 15.000 người, trong đó
có 3.000 người tốt nghiệp đại học Như vậy chưa cần bàn tới chất lượng đàotạo thì số lượng hàng năm cũng chỉ đáp ứng được một nửa yêu cầu" Việc chútrọng tới xây dựng những khách sạn cao cấp, những khu du lịch đạt tiêu chuẩnquốc tế là cần thiết song nếu không đầu tư đảm bảo phát triển nguồn nhân lực