Nói đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thì vốn có vai trò rất quan trọng . Nó là điều kiện tiền đề cho sự ra đời và là cơ sở để mở rộng sản xuất kinh doanh .Bởi vậy bất kì một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển đều phải quan tâm đến vấn đề tạo lập vốn và quản lí vốn sao cho có hiệu quả nhằm mang lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc quản lí tài chính, tín dụng và chấp hành đúng pháp luật của nhà nước.
Trang 1MỤC LỤC
Bảng danh mục ký hiệu và các từ viết tắt ……… 01
LỜI MỞ ĐẦU ……… … 02
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN, HUY ĐỘNG VÀ SỦ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG……… … 05
1.1 Vấn đề chung về vốn trong doanh nghiệp xây dựng……… ….05
1.1.1 Khái niệm chung về vốn……… … 05
1.1.2 Vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ……… … 07
1.1.3 Đặc trưng cơ bản của vốn……….08
1.1.4 Phân loại vốn trong doanh nghiêp xây dựng……… … 11
1.2 Huy động vốn trong doanh nghiệp……… ….14
1.2.1 Sự cần thiết phải huy động vốn……… … 14
1.2.2 Trình tự huy động vốn……… …14
1.2.3.Các hình thức huy động vốn……… ……15
1.2.4 Các căn cứ lựa chọn hình thức huy động vốn……… 36
1.3 Các chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp……… ….36
1.3.1 Chính sách sử dụng vốn an toàn……… … 37
1.3.2 Chính sách sử dụng vốn vững chắc……… ….37
1.3.3 Chính sách sử dụng vốn mạo hiểm……… ….38
1.4 Hiệu quả sử dụng vốn và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn…… 39
1.4.1 Hiệu quả sử dụng vốn……… …39
1.4.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn……….40
Trang 2CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỐN, HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN CẦU 14 ………48
2.1 Giới thiệu chung về công ty cổ phần cầu 14 ……… 48
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển……… 48
2.1.2 Sơ đồ tổ chức của công ty……… 50
2.2 Chức năng nhiệm vụ của các phong ban……… 52
2.2.1 Phòng kĩ thuật thi công……….52
2.2.2 Phòng máy- thiết bị……….53
2.2 3 Phòng kế hoạch kinh doanh……… 54
2.2 4 Phòng vật tư ……….…… 55
2.2.5 Phòng kế toán- tài chính ………56
2.2.6 Phòng tổ chức lao động- cán bộ ……….57
2.2.7 Phòng pháp chế ……… 58
2.2.8 Phòng thì nghiệm ……… 59
2.2.9 Phòng hành chính quản trị ……… 60
2.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần cầu 14 qua báo cáo kết quả kinh doanh……….………61
2.4 Thực trạng vốn của công ty cổ phần cầu 14 ……….65
2.4.1 Về tình hình vốn cố định……….67
2.4.2 Về tình hình vốn lưu động……… 69
2.5 Thực trạng huy động và sử dụng vốn của công ty cổ phần cầu 14 …….…….70
2.5.1 Tình hình huy động vốn của công ty cổ phần cầu 14 ……….…70
Trang 32.5.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ phần cầu 14 ……….752.6 Xác định nhu cầu vốn và lựa chọn hình thức huy động vốn cho năm kế hoạch
……….89
Bảng danh mục ký hiệu và các từ viết tắt
Ký hiệu Giải thích
DN Doanh nghiệp
XDGT Xây dựng giao thông
DNXDGT Doanh nghiệp xây dựng giao thông
Trang 4Trong cơ chế bao cấp trước đây , mọi nhu cầu về vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước đều được nhà nước bao cấp dưới hình thức ngân sách cấp hoặc qua nguồn tín dụng ngân hàng với lãi xuất ưu đãi Do đó , các doanh nghiệp
ít quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường ,
có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng , cho sự vận động và phát triển nền kinh tế thị trường nói chung ,trở thành vấn đề bức xúc Hoạt động sản xuất kinh doanh với qui mô ngày càng lớn của doanh nghiệp đòi hỏi phải có một lượng vốn ngày càng nhiều Mặt khác, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường ngày càng gay gắt và mạnh mẽ Để có thể đứng vững ,tồn tại và phát triển lâu dài trên thương trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm đến vấn đề tạo lập, quản lí và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhằm đạt tới mục đích tối đa hoá lợi nhuận Để thực hiện điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải huy động cao độ không những nguồn vốn bên trong mà còn phải tìm cách huy động nguồn vốn bên
Trang 5ngoài và phải sử dụng đồng vốn một cách có hiệu quả nhất nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư và phát triển.
Vậy tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần phải có một lượng vốn tối thiểu nhất định Vốn là điều kiện tiên quyết, có
ý nghĩa quyết định tới các bước tiếp theo của quá trình kinh doanh, quyết định tới mức độ tăng trưởng hoặc suy thoái của một doanh nghiệp
Trong điều kiện cụ thể của nước ta, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, đời sốngnhân dân chưa cao, mặt khác chúng ta đang trong thời kỳ đổi mới, tích cực hộinhập với thế giới bên ngoài, do vậy mà nhu cầu vốn phục vụ cho công cuộc xâydựng đất nước lại càng cấp bách hơn bao giờ hết
Trong công cuộc xây dựng phát triển kinh tế của đất nước, các doanh nghiệpxây dựng giao thông đóng một vai trò hết sức quan trọng vì nó tạo nên cơ sở hạtầng xã hội Nhất là khi đất nước ta đang trên đà phát triển thì xây dựng các côngtrình giao thông vận tải phục vụ cho nhu cầu giao lưu kinh tế là một yêu cầu khôngthể thiếu được Do đặc điểm của xây dựng giao thông là khối lượng thi công lớn,thời gian thi công kéo dài, đòi hỏi kỹ thuật công nghệ máy móc thi công hiện đạinên phải huy động một lượng vốn rất lớn Đây chính là vấn đề mấu chốt của cácdoanh nghiệp xây dựng giao thông hiện nay
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã nảy sinh nhiều hình thứcmới cho phép các doanh nghiệp huy động vốn từ bên ngoài Việc huy động kịpthời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp có thể nắm bắt đượccác cơ hội kinh doanh Doanh nghiệp cần phải chủ động lựa chọn các hình thứchuy động vốn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục và có hiệu quảvới chi phí sử dụng vốn ở mức thấp nhất Bên cạnh đó, hiệu quả hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp cũng phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức sử dụng vốn Việchuy động và sử dụng vốn một cách hợp lý sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy nâng
Trang 6cao năng suất lao động, cải tiến kỹ thuật, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp.
Huy động và sử dụng vốn trong doanh nghiệp như thế nào để đạt được hiệuquả cao là có ý nghĩa hết sức quan trọng, là điều kiện để các doanh nghiệp khẳngđịnh được vị thế của mình trong cơ chế thị trường Em đã được giao nhiệm vụ thựchiện đề tài thiết kế tốt nghiệp “Huy động và sử dụng vốn trong doanh nghiệp xâydựng” với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé của mình qua quá trìnhhọc tập dạy dỗ của các thầy cô và quá trình tìm hiểu thực tế ở công ty cổ phần cầu
14 để phân tích tình hình và đưa ra một vài ý kiến trong việc áp dụng huy động và
sử dụng vốn cho một doanh nghiệp xây dựng giao thông trong cơ chế thị trườnghiện nay
Đề tài tốt nghiệp của em gồm ba chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về vốn, huy động và sủ dụng vốn trongdoanh nghiệp xây dựng
Chương 2: Thực trạng vốn, huy động và sử dụng vốn ở Công ty cổ phầncầu14
Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp xâydựng
Trang 7CHƯƠNG 1:
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN, HUY ĐỘNG VÀ SỦ DỤNG VỐN
TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG
1.1.Vấn đề chung về vốn trong doanh nghiệp xây dựng giao thông
1.1.1Khái niệm chung về vốn
Trong bất cứ phương thức sản xuất xã hội nào, muốn tiến hành các hoạtđộng sản xuất kinh doanh cần phải có 3 yếu tố sản xuất: sức lao động, đối tượnglao động và tư liệu lao động Điều đó đòi hỏi chủ thể kinh doanh phải ứng trướcmột số tiền để mua sắm, dự trữ và trang trải các hao phí cần thiết cho quá trình sảnxuất kinh doanh của mình Toàn bộ số tiền ứng trước đó được gọi là vốn sản xuấtkinh doanh Vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định đến các bước tiếptheo của quá trình kinh doanh
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp dùng vốn đểmua sắm các yếu tố của quá trình kinh doanh như sức lao động, đối tượng lao động
và tư liệu lao động Do sự tác động của lao động vào đối tượng lao động thông qua
tư liệu lao động mà sản phẩm hàng hoá dịch vụ được tạo ra và được tiêu thụ trênthị trường, doanh nghiệp thu hồi được vốn đầu tư ứng trước đó để tiếp tục một chu
kỳ kinh doanh khác Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, số tiềnthu được sau mỗi chu kỳ kinh doanh phải đảm bảo bù đắp được toàn bộ các chi phí
đã bỏ ra và có lãi Như vậy, số tiền vốn ứng ra ban đầu không những được bảo toàn
mà còn được tăng thêm do hoạt động kinh doanh mang lại
Trong quá trình kinh doanh, số vốn ứng trước luôn vận động và thay đổihình thái, nó được biểu hiện cả dưới hình thái tiền tệ và hình thái giá trị của vật tưhàng hoá, cả dưới hình thái vật chất cụ thể Tuy nhiên, về bản chất cũng như hìnhthức, nó đều là biểu hiện bằng tiền của các tài sản đầu tư vào kinh doanh để đạtđược các mục đích của doanh nghiệp
Trang 8Có thể hiểu vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền củatoàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mụcđích sinh lời.
Vốn kinh doanh trong doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt, phục vụ chohoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lời cho chủ sở hữu của nó Vốn kinhdoanh bắt đầu vòng tuần hoàn và kết thúc phải là giá trị – là tiền Tuy nhiên, khôngphải tất cả tiền đều là vốn, tiền chỉ trở thành vốn với ba điều kiện:
Thứ nhất, tiền phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định, hay phải được đảmbảo bằng một lượng tài sản có thực
Thứ hai, tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định, đủ sức để đầu
tư cho một dự án kinh doanh
Thứ ba, khi đã tích tụ đủ số lượng, tiền phải được vận động nhằm mục đích sinhlời Cách vận động và phương thức vận động của tiền lại do phương thức đầu tưkinh doanh quyết định Các phương thức đầu tư có thể mô phỏng theo sơ đồ sau:
SLĐ
T – H sản xuất H’ – T’ : Trường hợp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất
T – H – T’ : Trường hợp đầu tư vào lĩnh vực thương mại
T – T’ : Trường hợp đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu, góp vốn liên doanh
Trong thực tế, một doanh nghiệp có thể sử dụng đồng thời cả ba phương thứcđầu tư vốn theo các mô hình trên miễn sao đạt được mục tiêu có mức doanh lợi cao
và nằm trong khuôn khổ của pháp luật
Những nhận thức trên đây về vốn kinh doanh không chỉ giúp cho việc xácđịnh giá trị thực của một doanh nghiệp, mà còn giúp cho công tác quản lý vốn cótầm nhìn rộng để khai thác, sử dụng những tiềm năng sẵn có của doanh nghiệp phục
vụ cho đầu tư kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
Trang 91.1.2 Vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì vốn đóng một vai trò hết sức quantrọng không thể thiếu được, nó là một trong những yếu tố căn bản quyết định đến sựtồn tại và phát triển của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp xây dựng giaothông Bởi vì đối với doanh nghiệp xây dựng giao thông thì việc ứng dụng khoa học
kỹ thuật, công nghệ thi công tiên tiến và hiện đại là một nhu cầu không thể thiếutrong cơ chế thị trường hiện nay Điều đó chỉ có thể thực hiện được nếu có vốn
Vốn là điều kiện ban đầu, cần thiết để hình thành doanh nghiệp Khi doanhnghiệp mới thành lập thì trước hết phải có vốn ban đầu Nó là số vốn tối thiểu cầnphải có khi thành lập doanh nghiệp, tuỳ theo đối tượng bỏ vốn mà xác định loạihình doanh nghiệp
Vốn là điều kiện đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp được tiến hành một cách liên tục và thuận lợi Nếu như các doanh nghiệpxây dựng giao thông không đủ vốn thì việc tổ chức sử dụng vốn sẽ gặp nhiều khókhăn, do đó quá trình sản xuất sẽ bị trở ngại hoặc bị gián đoạn Như ta đã biết thìsản phẩn xây dựng Giao thông có khối lượng lớn, thi công dài ngày và trải dài theotuyến, quá trình thi công thì lại đòi hỏi trang thiết bị máy móc phức tạp, kỹ thuậtthi công cao Do vậy nếu thiếu vốn sẽ dẫn đến không đảm bảo vật tư dự trữ cho sảnxuất, làm chậm tiến độ thi công hoặc thậm chí làm cho quá trình thi công bị giánđoạn; làm cho các doanh nghiệp xây dựng giao thông bị ứ đọng vốn, dẫn đến chiềudài vòng quay vốn tăng, khả năng thu hồi vốn chậm kéo theo tình trạng chậm thayđổi trang thiết bị máy móc và công nghệ thi công lạc hậu
Vốn là điều kiện cần thiết để cho doanh nghiệp chủ động thực hiện cácphương án kinh doanh, thực hiện các dự án
Vốn là phương tiện để đạt mục đích phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vậtchất và tinh thần của người lao động
Trang 10Do vậy việc huy động, bảo toàn và phát triển vốn là một nhiệm vụ quantrọng của doanh nghiệp vì nó là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của Doanhnghiệp.
1.1.3 Đặc trưng cơ bản của vốn
Một là, trong nền kinh tế thị trường, vốn phải được quan niệm là một hàng
hoá (“hàng hoá vốn”)
“Hàng hóa vốn” có hai thuộc tính cơ bản là giá trị và giá trị sử dụng Giá trịcủa “hàng hoá vốn” là giá trị của bản thân nó, còn giá trị sử dụng của “hàng hoávốn” là khi sử dụng sẽ tạo ra được một lượng giá trị lớn hơn Giá trị sử dụng của
“hàng hóa vốn” chính là khả năng sinh lời của nó Mặt khác, đã là hàng hoá thì
“hàng hoá vốn” cũng như mọi hàng hoá khác phải được mua bán trên thị trường,nhưng thị trường ở đây không phải là thị trường hàng hoá thông thường mà là thịtrường vốn bao gồm thị trường vốn ngắn hạn và thị trường vốn trung, dài hạn
Việc mua bán “hàng hoá vốn” trên thị trường vốn cũng phải thông qua “giácả” Giá cả “hàng hoá vốn” tăng hay giảm tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: yếu tốchất lượng hàng hoá, yếu tố về môi trường, về thị trường nhưng yếu tố đặc biệtquan trọng là quan hệ cung cầu vốn Giá cả “hàng hoá vốn” chính là chi phí sửdụng vốn Trong sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng nhiều nguồn vốn khácnhau bằng nhiều cách thức huy động khác nhau (vay ngân hàng, phát hành tráiphiếu, cổ phiếu, vốn của chủ sở hữu, ) Để được quyền sử dụng các nguồn vốnnày, doanh nghiệp phải trả cho chủ sở hữu của các nguồn vốn đó một lượng giá trịnhất định, đó là giá của việc sử dụng các nguồn tài trợ hay còn được gọi là chi phí
sử dụng các nguồn tài trợ (chi phí sử dụng vốn) Khái niệm chi phí sử dụng vốn ởđây được hiểu dưới góc độ chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn Chi phí sử dụngvốn của doanh nghiệp bao gồm chi phí sử dụng vốn vay và chi phí sử dụng vốnchủ sở hữu Chi phí sử dụng vốn vay được hiểu là tỷ suất lợi nhuận tối thiểu phảithu được do đầu tư bằng nợ vay để giữ không làm thay đổi số lợi nhuận dành cho
Trang 11chủ doanh nghiệp Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu chính là doanh lợi vốn chủ sởhữu tối thiểu mà người đầu tư trù tính sẽ nhận được trên số vốn mà họ đã đầu tư.
Như đã trình bày ở trên, để có đủ vốn đáp ứng yêu cầu của sản xuất kinhdoanh, doanh nghiệp phải huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, mỗi nguồn vốn
có chi phí sử dụng vốn khác nhau Do đó, cần phải xác định chi phí sử dụng vốnbình quân của các nguồn đó Chi phí sử dụng vốn bình quân là mức doanh lợi vốntối thiểu cần phải đạt được từ việc sử dụng các nguồn vốn đã huy động Chi phí sửdụng vốn bình quân phụ thuộc vào hai yếu tố là: chi phí sử dụng của từng nguồnvốn và tỷ trọng của từng nguồn vốn trong tổng số vốn huy động Đây là một đặctrưng hết sức quan trọng đòi hỏi doanh nghiệp phải biết tính toán để lựa chọn nhằmtìm được nhiều nguồn vốn với chi phí sử dụng vốn thấp nhất đáp ứng yêu cầu củasản xuất kinh doanh Bởi đã là hàng hoá thì người bán phải biết bán cho ai, bán lúcnào, bán với giá bao nhiêu để có lãi Ngược lại, người mua phải biết mua baonhiêu, mua lúc nào, mua của ai để có chi phí rẻ nhất Đây là quy luật sống còn củaviệc trao đổi hàng hoá trong kinh tế thị trường nói chung và điều đó cũng khôngngoại lệ đối với “hàng hoá vốn”
Hai là, vốn có giá trị về mặt thời gian.
Trong nền kinh tế thị trường, giá trị của một đồng vốn không phải là cố định(bất biến) mà luôn biến động theo thời gian Cũng là một đồng vốn nhưng giá trịcủa nó tại thời điểm hiện tại khác với tương lai Một đồng vốn ở thời điểm hiện tại
có giá trị lớn hơn chính nó trong tương lai
Sở dĩ vốn có giá trị về mặt thời gian vì những lý do sau:
Lý do thứ nhất là, một đồng hôm nay đưa vào kinh doanh đến ngày này năm sau sẽ
có giá trị ngoài tiền gốc còn có tiền lãi do chính nó sinh ra Ngược lại, một đồng tạithời điểm này năm sau vẫn là một đồng Như vậy, ngoài giá trị bản thân nó, khiđưa vào kinh doanh, đồng vốn có khả năng sinh lời theo thời gian
Lý do thứ hai là, sức mua của đồng vốn ở các thời điểm khác nhau cũng khác nhau
Trang 12Lý do thứ ba là, chính sách, cơ chế (thuế, lãi suất, tỷ giá) cũng tạo ra rủi ro chođồng vốn khi hoạt động trong tương lai.
Nhận thức đặc trưng này giúp cho doanh nghiệp biết lựa chọn thời điểm vayvốn và sử dụng vốn có hiệu quả cao nhất để tránh cho đồng vốn khỏi thất thoát doảnh hưởng bởi tính thời gian của vốn
Ba là, vốn phải gắn với chủ sở hữu.
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi đồng vốn phải gắn với một chủ sở hữunhất định, nghĩa là không thể có đồng vốn vô chủ Ở đâu có những đồng vốn vôchủ thì ở đó sẽ chi tiêu lãng phí, kém hiệu quả
Nhận thức được đặc trưng này có ý nghĩa rất lớn trong việc phân định quyền
sở hữu và quyền sử dụng vốn, vấn đề có ý nghĩa cấp thiết và bức xúc hiện nay
Bốn là, vốn phải đại diện cho một lượng giá trị tài sản.
Điều đó có nghĩa là vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản hữuhình và tài sản vô hình Mặt khác, vốn là một bộ phận của tài sản, nhưng khôngphải toàn bộ tài sản là vốn Tài sản ở trạng thái tĩnh chỉ là vốn tiềm năng, tài sảnhoạt động mới gọi là vốn
Năm là, vốn phải vận động sinh lời.
Vốn được biểu hiện bằng tiền, nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn Đểtiền biến thành vốn thì đồng tiền đó phải được vận động sinh lời
Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện,nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị – làtiền Đồng tiền phải trở về nơi xuất phát với giá trị lớn hơn Đó cũng là nguyên lýcủa đầu tư, sử dụng và bảo toàn vốn
Sáu là, vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể
phát huy được tác dụng
Trang 13Để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, dịch vụ, vốn phải được gom lại thànhnhững món lớn Vì vậy, trong hoạt động kinh doanh, dân gian ta đã có câu “Buôntài không bằng dài vốn”.
Mỗi đặc trưng của vốn phản ánh một mặt bản chất của vốn Vì vậy, việcnhận thức đúng những đặc trưng của vốn là hết sức quan trọng, là cơ sở để xâydựng cơ chế, chính sách huy động vốn phù hợp, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp
1.1.4.Phân loại vốn trong doanh nghiêp xây dựng
Vốn của doanh nghiệp dùng vào sản xuất kinh doanh có thể được phân loạitheo nhiều cách thức khác nhau Sau đây là một số cách phân loại chủ yếu:
1.1.4.1 Phân loại theo chức năng và công dụng kinh tế của vốn
Theo cách phân loại này, vốn được chia làm ba loại sau:
- Vốn cố định:
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước vềtài sản cố định Đặc điểm của nó là luân chuyển dần từng phần qua nhiều chu kỳsản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng tuần hoàn vốn khi tài sản đó hết thờigian sử dụng Đặc điểm vận động về hiện vật và giá trị của tài sản cố định sẽ quyếtđịnh đến đặc điểm vận động của vốn cố định Chính đặc điểm này đòi hỏi doanhnghiệp phải quan tâm đến toàn bộ quá trình huy động, đầu tư sử dụng vốn cố định
- Vốn lưu động:
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn bằng tiền được ứng ra để mua sắmcác tài sản lưu động phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh Đặc điểm luânchuyển của loại vốn này là chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm mới
và luôn thay đổi hình thái biểu hiện
Việc phân loại vốn kinh doanh của doanh nghiệp thành vốn cố định và vốnlưu động nhằm giúp cho việc nhận thức đầy đủ đặc điểm vận động của từng loạivốn, nhằm đưa ra những giải pháp phù hợp cho huy động và sử dụng vốn Trong
Trang 14quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp được quyền sử dụng linh hoạt các loại
vốn, quỹ theo nguyên tắc có hoàn trả, bảo toàn và phát triển vốn
- Vốn đầu tư tài chính:
Là một bộ phận của vốn kinh doanh doanh của doanh nghiệp được đàu tư ra bên
ngoai nhằm mục đích sinh lợi
Theo công dụng kinh tế Theo đối tượng đầu tư
Vốn ban đầu Vốn bổ
sung
Vốn vôhình
Vốn hữuhình
Vốn do nợvay
Vốn chủ sởhữuPhân loại vốn trong doanh nghiệp
Vốn cố định Vốn lưu động Vốn đầu tư tài
chính
Đầu tư bêntrong
Đầu tư ra bên ngoài
Theo quá trình
hình thànhvốn
Theo nguồn hìnhthành
Theo hình tháibiểu hiện
Trang 15Tóm lại, vốn của DNXDGT, như đã phân tích ở trên là biểu hiện bằng tiền củatoàn bộ tài sản hữu hình và vô hinh được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đíchsinh lợi Tùy theo tungwfloaij hình doanh nghiệp mà quy mô và cơ cấu vốn cũngkhác nhau Trong thực tế, cách phân loại theo công dụng kinh tế được sủ dụng kháphổ biến, biểu hiện tương đối rõ nét Theo đó, vốn của DNXDGT bao gồm bathành phần vốn cố định, vốn lưu động và vốn đầu tư tài chính doanh nghiệp.
1.1.4.2 Phân loại vốn theo hình thức sở hữu
Theo cách này, vốn được chia thành 2 loại:
- Vốn chủ sở hữu:
Đây là nguồn vốn của chủ sở hữu đầu tư ban đầu để hình thành doanhnghiệp và đầu tư bổ sung hàng năm cho sản xuất kinh doanh
Đối với doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư ban đầu để hình thành doanh nghiệp
do ngân sách nhà nước cấp và vốn góp dưới hình thức mua cổ phần của các cổđông (trường hợp doanh nghiệp nhà nước có huy động vốn bằng phát hành cổphiếu)
- Các khoản nợ phải trả:
Đây là loại vốn mà doanh nghiệp tự huy động cho nhu cầu sản xuất kinhdoanh trong khuôn khổ pháp luật như: vốn vay ngắn hạn, dài hạn của các ngânhàng thương mại, các tổ chức tín dụng, các tổ chức tài chính, các cá nhân trong vàngoài nước, vốn huy động từ thị trường chứng khoán thông qua việc phát hành tráiphiếu, vốn liên doanh liên kết là vốn do các đơn vị khác tham gia liên doanh liênkết với doanh nghiệp để cùng kinh doanh hưởng lợi nhuận
1.1.4.3 Phân loại vốn theo cách thức huy động
Vốn của doanh nghiệp được huy động theo các cách thức sau:
- Vốn được cấp từ ngân sách nhà nước đối với doanh nghiệp
- Vay ngắn hạn, dài hạn từ các ngân hàng thương mại
- Huy động từ nội bộ doanh nghiệp
Trang 16- Phát hành cổ phiếu, trái phiếu.
- Thuê tài chính
- Các hình thức khác
Mỗi hình thức có những ưu nhược điểm nhất định Vì vậy, doanh nghiệpphải biết cân nhắc, lựa chọn hình thức huy động nào, vào thời gian nào, mức độhuy động là bao nhiêu để có một cơ cấu vốn tối ưu Cụ thể các hình thức huy độngvốn sẽ được phân tích kỹ trong chương sau
1.2 Huy động vốn trong doanh nghiệp
1.2.1.Sự cần thiết phải huy động vốn
Để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trongđiều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay thì doanh nghiệp cần phải thực hiện cácphương thức hoạt động mới, phát huy quyền chủ động kinh doanh của doanhnghiệp Quyền chủ động trong điều hành và quản lý sản xuất kinh doanh bao gồmhàng loạt các vấn đề như: chủ động lựa chọn phương án kinh doanh, phương ánsản xuất sản phẩm trên cơ sở tiếp cận thị trường, chủ động xây dựng kế hoạch vàđiều hành việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm, trong đó quyềnchủ động tạo vốn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Bởi vì trong nền kinh tế thị trường,mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của hầu hết các doanh nghiệp, không phânbiệt các thành phần kinh tế, là lợi nhuận tối đa Thực chất của quá trình đạt lợinhuận tối đa là chính quá trình sử dụng tối ưu các yếu tố đầu vào, trong đó các quátrình sử dụng tiết kiệm, nâng cao hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh, khai thác triệt
để các nguồn vốn phục vụ kịp thời cho sản xuất kinh doanh
Huy động vốn của doanh nghiệp xây dựng giao thông được hiểu là tổng thể cácbiện pháp làm tăng vốn kinh doanh của doanh nghiệp nhằm bổ sung nhu cầu vốncho doanh nghiệp
1.2.2 Trình tự huy động vốn
Quá trình huy động vốn được diễn ra trong ba bước:
Trang 17- Xác định nhu cầu vốn: căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh ta sẽ xácđịnh được nhu cầu vốn của doanh nghiệp.
- Nghiên cứu lựa chọn hình thức huy động vốn: căn cứ vào nhu cầu vốn,những chỉ tiêu tài chính và mục đích sử dụng vốn ta sẽ lựa chọn hình thức huyđộng vốn cho thích hợp với doanh nghiệp
- Tiến hành huy động vốn: là công việc diễn ra từ khi tiếp xúc với nhà tài trợvốn đến khi nhận được vốn về
Sau đây là các hình thức huy động vốn mà các doanh nghiệp có thể sử dụng:
1.2.3.1.Các hình thức huy động vốn ngắn hạn
Hình thức huy động vốn ngắn hạn là việc huy động vốn từ các nguồn vốn cótính chất ngắn hạn (dưới một năm) mà doanh nghiệp có thể tạm thời sử dụng Việchuy động vốn ngắn hạn nhằm phục vụ cho việc tài trợ vốn lưu động bị thiếu trongsản xuất kinh doanh, thông thường bao gồm các hình thức sau:
1.2.3.1.1 Hình thức tín dụng thương mại
Nguồn vốn tín dụng thương mại chiếm một vị trí quan trọng trong nguồn tàitrợ ngắn hạn của doanh nghiệp Nó được hình thành khi doanh nghiệp nhận đượctài sản, dịch vụ của người cung cấp song chưa phải trả tiền ngay Doanh nghiệp cóthể sử dụng các khoản phải trả khi chưa đến kỳ hạn thanh toán với khách hàng nhưmột nguồn vốn bổ sung để tài trợ cho các nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn củadoanh nghiệp Điều này cũng có nghĩa như doanh nghiệp được tài trợ thêm vốn
Trang 18Quy mô nguồn vốn tín dụng thương mại phụ thuộc vào số lượng hàng hóa,dịch vụ mua chịu và thời hạn mua chịu của khách hàng Nếu giá trị hàng hoá, dịch
vụ mua chịu càng lớn, thời hạn mua chịu càng dài thì nguồn vốn tín dụng thươngmại càng lớn Các nhân tố chính ảnh hưởng đến thời hạn mua chịu là tình hình tàichính của cả người mua và người bán, chiết khấu giảm giá hàng bán, tính chất kinh
tế và khả năng cạnh tranh của sản phẩm được cung cấp
Khi tham gia tín dụng thương mại sẽ xuất hiện các loại chi phí khác nhau,trong đó, có hai loại chi phí cần quan tâm: Chi phí thứ nhất là phần chênh lệch giữagiá mua chịu và giá thanh toán ngay; chi phí thứ hai là chi phí cơ hội khi thanhtoán ngoài thời hạn chiết khấu Hai loại chi phí này có thể lấy làm cơ sở để so sánh
về chi phí huy động vốn khi lựa chọn các nguồn tài trợ
Việc sử dụng tín dụng thương mại có nhiều ưu điểm: Nó là hình thức tíndụng thông thường và giản đơn, tiện lợi trong hoạt động kinh doanh Nếu doanhnghiệp bán hàng biết rõ khách hàng của mình thì vẫn có thể đánh giá đúng khảnăng thu nợ hoặc những rủi ro có thể gặp trong việc bán chịu tương đối dễ dàng
Tuy nhiên trong một số trường hợp, việc sử dụng tín dụng thương mại cũngtiềm ẩn những rủi ro đối với doanh nghiệp Việc mua chịu sẽ làm tăng hệ số nợ củadoanh nghiệp, điều này cũng làm tăng nguy cơ phá sản đối với doanh nghiệp Vìthế mà doanh nghiệp phải tính toán, cân nhắc thận trọng, vừa phải biết sử dụngviệc mua chịu như một hình thức huy động vốn ngắn hạn, đồng thời, phải giảm đếnmức tối thiểu các khoản phải thu của mình đang bị khách hàng chiếm dụng trongquá trình thanh toán Việc lạm dụng nguồn vốn tín dụng thương mại có thể gây ranhững hậu quả như làm giảm uy tín của doanh nghiệp, hoặc trong các giao dịchsau doanh nghiệp sẽ phải chịu các chi phí tín dụng cao hơn, bởi vì các nhà cungcấp sẽ thắt chặt hơn các điều kiện trong thực hiện hợp đồng như tiền phạt hoặcthanh toán lãi trả chậm
Trang 19Nhìn chung đây là cách thức huy động vốn được ưa chuộng và sử dụng phổbiến cho các doanh nghiệp bởi vì nó rất linh hoạt và có lợi cho cả người cung cấpcũng như người nhận tín dụng.
1.2.3.1.2 Vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tài chính tín dụng
Khi nhu cầu vốn lưu động gia tăng, doanh nghiệp có thể sử dụng nguồn vốntín dụng ngân hàng như một nguồn tài trợ thêm vốn của mình Do đặc điểm vốnlưu động là luân chuyển nhanh, do đó các doanh nghiệp thường sử dụng các khoảnvay ngắn hạn để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động thiếu Các nguyên tắc cơ bản màcác doanh nghiệp phải tôn trọng khi sử dụng vốn vay là phải sử dụng đúng mụcđích và có hiệu quả; phải có vật tư hàng hoá đảm bảo; phải hoàn trả đầy đủ vàđúng hạn cả vốn lẫn lãi vay
Tùy theo từng doanh nghiệp đi vay, sau khi kiểm tra các điều kiện vay, nếu
đủ điều kiện, các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tín dụng sẽ xác định cụthể đối tượng cho vay và thời hạn cho vay Đối tượng cho vay vốn lưu động thôngthường là vật tư, hàng hoá và những chi phí cần thiết phục vụ trực tiếp cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Còn thời hạn cho vay thường đượcxác định căn cứ vào thời gian quay vòng của vốn vay; khả năng trả nợ ngân hàngcủa đơn vị vay; thời gian sử dụng nguồn vốn cho vay của ngân hàng
Phương pháp cho vay của các ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp
có 2 hình thức chủ yếu là:
a) Các hình thức vay không có đảm bảo
Theo hình thức này thì số lượng vay sẽ bị hạn chế Hình thức này thườngbao gồm một số loại sau:
Vay theo hạn mức tín dụng:
Đây là một thỏa thuận giữa doanh nghiệp và ngân hàng, theo đó, ngân hàngtạo sẵn cho doanh nghiệp một khoản tín dụng với một hạn mức nhất định, tronghạn mức đó doanh nghiệp có thể rút tiền vượt quá khỏi số dư trên tài khoản của
Trang 20mình mà không phải thế chấp Loại tín dụng này có thời hạn tối đa là một năm vàcuối mỗi năm, ngân hàng sẽ xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp để giahạn hay điều chỉnh tổng mức tín dụng cho doanh nghiệp vào năm kế tiếp Chi phí
sử dụng vốn được tính cho tổng mức tín dụng mà doanh nghiệp đã sử dụng Hìnhthức này có ưu điểm là chi phí thấp nhưng doanh nghiệp phải chủ động về mặt tàichính vì ngân hàng có thể thu hồi bất kỳ lúc nào hoặc không tiếp tục cho vay nữa
Tín dụng tuần hoàn:
Đây là hình thức mà các ngân hàng thương mại tạo ra để phục vụ các doanhnghiệp Tín dụng tuần hoàn là hình thức cho vay của ngân hàng trên cơ sở tổngmức tín dụng thỏa thuận hàng năm Doanh nghiệp có thể sử dụng linh hoạt toàn bộhạn mức vào bất cứ thời điểm nào và phải trả chi phí cho toàn bộ hạn mức dù có sửdụng hay không
Hình thức cho vay theo hợp đồng:
Theo hình thức thỏa thuận này thì khi doanh nghiệp nhận được hợp đồngxây lắp công trình, doanh nghiệp có thể tiếp xúc với một ngân hàng nào đó và yêucầu ngân hàng cho vay một khoản tiền để thực hiện hợp đồng Sau khi xem xét cácchứng từ, văn bản là hợp lệ và thấy khả năng thanh toán của khách hàng là đáng tincậy thì doanh nghiệp có thể cấp tín dụng cho doanh nghiệp để thực hiện hợp đồng.Thời gian cho vay thường là ba tháng, sáu tháng hoặc chín tháng tùy theo từngngân hàng và uy tín của doanh nghiệp Ngân hàng thường tạo điều kiện thuận lợi
để tài trợ theo thể thức này nhất là khi khoản tiền mà họ cho vay được sử dụng chomột hợp đồng ký kết giữa doanh nghiệp mượn tiền với một doanh nghiệp lớn vàđáng tin cậy, bởi như vậy họ có được sự đảm bảo cao để thu hồi nợ đúng hạn
Hình thức tài trợ theo hợp đồng thường rất hay được sử dụng để tài trợ chocác doanh nghiệp nhỏ, nhất là các nhà thầu Đây là hình thức huy động vốn kháphổ biến hiện nay trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông
Thư tín dụng:
Trang 21Hình thức này thường được áp dụng đối với các doanh nghiệp có nhu cầunhập khẩu hàng hoá Khi đó, doanh nghiệp sẽ đề nghị với ngân hàng phục vụ mìnhcấp một khoản tín dụng để nhập khẩu hàng hoá Nếu ngân hàng chấp nhận, họ sẽphát hành một thư tín dụng cam kết sẽ trả tiền cho nhà xuất khẩu thông qua ngânhàng phục vụ nhà xuất khẩu.
Sau khi nhận được thông báo, nhà xuất khẩu chuyển toàn bộ hàng hoá chodoanh nghiệp đồng thời gửi các chứng từ hóa đơn về việc chuyển hàng hoá đếnngân hàng phục vụ mình nhờ thanh toán tiền Sau khi số tiền trên thư tín dụngđược thanh toán thì nó cũng trở thành khoản nợ đối với doanh nghiệp
b) Các hình thức vay ngắn hạn có đảm bảo
Vay có đảm bảo là hình thức tín dụng có thế chấp bằng tài sản của doanhnghiệp để đảm bảo khả năng thanh toán cả tiền gốc và lãi khi đến hạn để nhậnđược một khoản vay từ các nhà tài trợ Hình thức này có thể được thực hiện bằngcác khoản thế chấp khác nhau như tài sản, hàng hoá, các khoản phải thu, bán nợ,bảo lãnh
Vay có thế chấp bằng các khoản phải thu:
Theo hình thức này, doanh nghiệp có thể vay ngân hàng hoặc các công ty tàichính bằng cách sử dụng các hóa đơn thu tiền để đảm bảo cho các khoản vay.Ngân hàng sẽ đánh giá chất lượng của hóa đơn thu tiền và xác định số tiền cho vaytương ứng, thông thường dao động từ 20-90% giá trị danh nghĩa của các khoản thu
Mua bán nợ:
Theo hình thức này, doanh nghiệp có thể mang những khoản phải thu đếnbán cho ngân hàng hoặc một công ty tài chính nào đó Sau khi cuộc mua bán hoàntất, bên mua nợ sẽ có trách nhiệm thu hồi các khoản nợ theo các chứng từ đã mua
và chịu mọi rủi ro khi gặp phải những khoản nợ không thu hồi được
Hình thức này có ưu điểm là doanh nghiệp sẽ có được nguồn tài trợ nhưmong muốn và không phải gánh chịu những rủi ro nếu như không đòi được nợ vì
Trang 22rủi ro là do ngân hàng chịu Tuy nhiên, chi phí huy động vốn theo hình thức thỏathuận mua bán nợ là khá cao, bởi nó bao gồm nhiều loại chi phí như chi phí kiểmtra tư cách tín dụng của khách hàng hay những rủi ro không thu hồi được nợ.
Vay có thế chấp bằng tài sản:
Vay thế chấp bằng tài sản hàng hoá là khi muốn vay, doanh nghiệp phảidùng tài sản hàng hoá của mình, thường là tài sản cố định làm vật đảm bảo, thôngqua việc doanh nghiệp giao cho ngân hàng các giấy tờ chứng minh tài sản đó thuộcquyền sở hữu của doanh nghiệp, đổi lại, doanh nghiệp sẽ nhận được một hối phiếurút tiền trong một khoảng thời gian nhất định để phục vụ cho kinh doanh Theohình thức này, giá trị khoản vay phụ thuộc vào mức độ rủi ro, khả năng chuyển đổinhanh và tính ổn định về giá cả của các loại tài sản mà doanh nghiệp đem thế chấp
Vay có bảo lãnh:
Doanh nghiệp có thể vay được những khoản tiền ngắn hạn nếu như được các
cổ đông chính thức hay một bên thứ ba có tư cách tín dụng tốt bảo đảm với Ngânhàng, đồng ý là người bảo đảm cho các khoản nợ Khi đó người bảo lãnh sẽ làmcam kết gửi ngân hàng, nhận trách nhiệm trả món nợ thay cho doanh nghiệp vaytrong trường hợp doanh nghiệp vay không có khả năng chi trả
Sự bảo lãnh này có thể là riêng biệt hay bảo lãnh nối tiếp Nếu là bảo lãnhriêng biệt thì đó là bảo lãnh cho món nợ duy nhất, còn nếu là bảo lãnh nối tiếp thì
nó bao trùm hàng loạt giao dịch vay mượn Ngoài ra bảo lãnh có thể là toàn bộhoặc từng phần của khoản vay
Việc sử dụng nguồn vốn tín dụng ngân hàng để tài trợ cho nhu cầu vốn lưuđộng trong phạm vi hệ số nợ cho phép không chỉ giúp doanh nghiệp khắc phụcđược những khó khăn về vốn mà còn có tác dụng phân tán rủi ro trong kinh doanh.Tuy nhiên, để sử dụng nguồn vốn tín dụng có hiệu quả, doanh nghiệp cũng cầnphân tích, đánh giá nhiều mặt khi quyết định sử dụng vốn vay, đặc biệt là việc lựa
Trang 23chọn ngân hàng cho vay cũng như khả năng trả nợ và chi phí sử dụng vốn vay từcác ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tín dụng.
1.2.3.1.3 Vay ngắn hạn các doanh nghiệp khác
Đây là hình thức vay mượn giữa các doanh nghiệp dựa trên những quan hệnhất định
Trong nền kinh tế thị trường, vay vốn ngắn hạn giữa các doanh nghiệp làhình thức huy động vốn quan trọng vì nó có nhiều ưu điểm hơn so với các hìnhthức khác Phương pháp này linh hoạt, có thể vay trong một số ngày hay một thờigian nhất định, vì thế nên nó rất thuận lợi cho việc giải quyết các nhu cầu vốn cấpbách tạm thời Bên cạnh đó, hình thức này còn có ưu điểm là không cần vật thếchấp Trong lúc tiền tệ căng thẳng thì hình thức này còn có thể điều hòa được thừathiếu vốn và giảm bớt được những quy định tài chính khắt khe Vì vậy nó trở thànhmột phương thức điều hòa tiền vốn ngắn ngày có hiệu quả được các doanh nghiệp,các tổ chức tài chính của các nước trên thế giới áp dụng phổ biến Thực tế là códoanh nghiệp đang ở trong tình trạng thiếu vốn, nhưng lại có các doanh nghiệp cóphần tiền vốn tạm thời nhàn rỗi chưa dùng đến Cho phép các doanh nghiệp vayvốn của nhau sẽ làm tăng khả năng điều hòa linh họat từ nơi thừa sang nơi thiếu,rút ngắn tới mức thấp nhất thời gian ứ đọng trong sử dụng và luân chuyển vốn
Tuy nhiên, hình thức này cũng có nhược điểm là dễ dẫn đến tình trạng công
nợ dây dưa giữa các doanh nghiệp; số lượng tiền vay được ít vì chủ yếu dựa trênmối quan hệ quen biết, sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa những công ty trongcùng một tổng
1.2.3.1.4 Nhận tiền đặt trước của khách hàng
Đây là hình thức huy động vốn mà các doanh nghiệp xây dựng giao thôngthường làm Khi nhận được đơn đặt hàng hay hợp đồng của khách hàng (bên A),doanh nghiệp sẽ thỏa thuận với chủ đầu tư ứng trước một số tiền nhất định để
Trang 24doanh nghiệp có tiền mua nguyên vật liệu phục vụ cho việc thực hiện hợp đồng.Đây là hình thức tài trợ vốn ngắn hạn rất có lợi vì doanh nghiệp khong phải trả lãicho việc sử dụng vốn Đối với hợp đồng xây lắp các công trình, thông thường bên
A thanh toán cho bên B theo hạng mục công trình đã hoàn thành Vì thế doanhnghiệp cần làm tốt công tác thanh toán cũng như thi công xây lắp đúng tiến độ,đảm bảo hoàn thành dứt điểm các hạng mục công trình để được bên A thanh toánnhanh
1.2.3.1.5 Vay vốn và nhận vốn góp của cán bộ công nhân viên trong công ty
Đây là hình thức huy động vốn tạo điều kiện cho doanh nghiệp huy độngđược vốn nhàn rỗi của cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp Nó vừa tạo điềukiện cho công nhân viên có được khoản lợi tức nhất định và vừa gắn trách nhiệmcủa họ đối với các khoản nợ của doanh nghiệp
1.2.3.1.6 Các hình thức khác
Ngoài các nguồn vốn trên, doanh nghiệp còn có thể sử dụng các khoản nợkhác để đáp ứng các nhu cầu tạm thời về vốn lưu động phát sinh trong hoạt độngkinh doanh như các khoản nợ thuế, phí đối với ngân sách; nợ tiền lương và bảohiểm xã hội đối với người lao động; các khoản lợi tức cổ phần chưa phải trả chocác cổ đông; các khoản phải trả khác; Các nguồn tài trợ này (gọi chung là nợ tíchluỹ) doanh nghiệp chỉ có thể sử dụng trong thời gian ngắn Đối với các khoản này,doanh nghiệp được chiếm dụng thường xuyên hợp pháp nhưng không phải trả lãi,
số lượng tùy thuộc vào kết quả và quy mô sản xuất kinh doanh
Nợ tích luỹ cũng là một nguồn bổ sung vốn ngắn hạn quan trọng cho doanhnghiệp bởi vì nó phát sinh và tồn tại gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp, cho nên doanh nghiệp có thể chiếm dùng thường xuyên và hợp lệ
Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần phải lưu ý: Đối với tiền lương, các khoảnphụ cấp, các khoản phải trả khác cho cán bộ công nhân viên, trong điều kiện thực
sự khó khăn về tài chính thì mới sử dụng nguồn này và chỉ được thực hiện trong
Trang 25một khoảng thời gian nhất định, không làm ảnh hưởng đến tinh thần làm việc củangười lao động Thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước phải được thực hiệnđúng hạn, trong trường hợp cực kỳ khó khăn về tài chính thì doanh nghiệp có thể
sử dụng như một nguồn tài trợ thông qua việc chậm nộp
1.2.3.2 Các hình thức huy động vốn dài hạn
Để tiến hành hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải
có một lượng vốn tiền tệ nhất định Đó là tiền đề cần thiết cho việc hình thành vàhoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp
Sự phát triển kinh doanh với quy mô ngày càng lớn hơn của doanh nghiệpđòi hỏi phải có lượng vốn ngày càng nhiều Mặt khác, ngày nay sự tiến bộ củakhoa học và công nghệ phát triển với tốc độ cao, thêm vào đó, các doanh nghiệphoạt động kinh doanh trong điều kiện của nền kinh tế mở với xu thế quốc tế hóangày càng cao, sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng mạnh mẽ Do vậy, nhu cầuvốn cho hoạt động kinh doanh và nhất là nhu cầu vốn dài hạn của doanh nghiệpcho sự đầu tư phát triển ngày càng lớn Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải huyđộng cao độ nguồn vốn bên trong, đồng thời, phải tìm cách huy động nguồn vốnbên ngoài để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển
Nguồn vốn dài hạn là khoản vốn vay có thời gian thanh toán trên một năm
kể từ ngày nhận vốn Nguồn vốn này thường được doanh nghiệp sử dụng cho việcmua sắm máy móc thiết bị hay xây dựng nhà cửa,
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp xây dựng giao thông có thể
sử dụng hình thức huy động vốn dài hạn sau:
1.2.3.2.1 Vốn tự có của doanh nghiệp
Theo quy định hiện hành của pháp luật, các doanh nghiệp khi được thành lậpphải có một số vốn ban đầu nhất định để đăng ký thành lập doanh nghiệp (vốnpháp định) Tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp mà vốn ban đầu có nguồn
Trang 26gốc khác nhau; quy mô vốn thì phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp, quy mô sảnxuất kinh doanh và ngành nghề kinh doanh.
Đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn ban đầu do ngân sách Nhà nước cấp vàdoanh nghiệp phải có nghĩa vụ bảo toàn và phát triển nguồn vốn này Trong quátrình hoạt động, doanh nghiệp có thể được cấp thêm từ nguồn này
Đối với công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, vốn đầu tư ban đầu đượchình thành từ việc góp vốn dưới hình thức cổ phần hoặc hùn vốn Tùy theo tìnhhình cụ thể, vốn góp có thể bằng tiền mặt, nhà cửa, máy móc thiết bị,
Theo quy định hiện hành thì các doanh nghiệp có thể tăng thêm số vốn tự cóban đầu lớn hơn số vốn pháp định đăng ký Nguồn bổ sung được lấy từ số lợinhuận để lại để tái đầu tư khi tiến hành phân phối lợi nhuận và các nguồn hợp lệkhác Mọi thay đổi phải được hạch toán đầy đủ theo chế độ kế toán hiện hành
Về nguyên tắc, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ được chia thành hai phần, mộtphần đem chia cho các bên góp vốn, phần còn lại để đầu tư phát triển doanhnghiệp Bên cạnh đó, trong thời gian chưa tái sản xuất tài sản cố định thì tiền khấuhao là một nguồn vốn dài hạn dùng để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Trên ý nghĩa đó cho thấy tiền trích khấu hao tài sản cố địnhkhông chỉ có tác dụng tái sản xuất giản đơn tài sản cố định mà còn có tác dụng táisản xuất mở rộng đối với doanh nghiệp
Vốn tự có là nguồn vốn quan trọng nhất đối với doanh nghiệp, đảm bảo chohoạt động của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, ổn định và chủ động
1.2.3.2.2 Vay có kỳ hạn
Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, ít có doanh nghiệp nào khôngphải vay vốn, tuy nhiên nhu cầu vay vốn dài hạn đối với các doanh nghiệp khácnhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và quan điểm kinh doanh của doanh nghiệp.Khi nguồn vốn từ bên trong không đủ đáp ứng thì doanh nghiệp có thể vay vốn tíndụng dài hạn để đảm bảo nguồn tài chính trong những trường hợp cần thiết
Trang 27Vay có kỳ hạn là một thỏa ước tín dụng dưới dạng một hợp đồng diễn ragiữa người vay (các doanh nghiệp) và người cho vay (các ngân hàng, các công tytài chính) mà thời gian thanh toán trên một năm Theo đó, người vay có nghĩa vụhoàn trả khoản tiền vay theo lịch trình đã định Việc hoàn trả được thực hiện theođịnh kỳ đều nhau gồm cả gốc và lãi trong suốt thời gian diễn ra giao dịch vớinhững khoản tiền bằng nhau Doanh nghiệp đi vay có thể thiết lập một lịch trình trả
nợ phù hợp với dòng tiền thu nhập của doanh nghiệp
Lãi suất áp dụng cho loại này có thể là lãi suất thả nổi hoặc lãi suất cố địnhtùy theo thỏa thuận giữa hai bên
Để vay được theo hình thức này, doanh nghiệp phải có tài sản nhất định đểlàm vật thế chấp, ví dụ như quyền sử dụng đất, các máy móc thiết bị, các khoảnngoại tệ,
Hình thức này được áp dụng rất phổ biến, có ưu điểm giúp doanh nghiệp chủđộng được kế hoạch trả nợ, và là nguồn ổn định lâu dài phù hợp với các dự án đầu
tư dài hạn
1.2.3.2.3 Vay dự phần
Vay dự phần là hình thức mà người cho vay (Ngân hàng hoặc các tổ chức tàichính) không chỉ là những người chủ nợ thuần tuý mà còn là người tham gia gópvốn kinh doanh vào doanh nghiệp Vì vậy ngoài tỷ lệ lãi suất cố định, chủ nợ đòiđược dự phần trên lợi nhuận của doanh nghiệp theo tỷ lệ vốn góp Đây là hình thứchuy động vốn không có lợi cho doanh nghiệp vì mọi rủi ro chủ nợ không gánhchịu Tuy nhiên, nó lại là một hình thức rất phù hợp với các doanh nghiệp có quy
mô nhỏ, vốn hạn chế nhưng lại có mong muốn nhanh chóng đầu tư phát triển màchưa đủ điều kiện để tham gia thị trường chứng khoán
Hình thức này có ưu điểm là doanh nghiệp không chỉ huy động vốn từ ngânhàng mà còn có thể huy động vốn từ các tổ chức tài chính khác như các công tybảo hiểm, Do đó, cơ hội tạo ra các khoản vay lớn hơn nhiều Bên cạnh đó, vì là
Trang 28vốn vay dự phần nên các ngân hàng và các tổ chức tài chính cùng tham gia vào quátrình kinh doanh của doanh nghiệp nên doanh nghiệp có cơ hội thành công lớnhơn Ngoài ra, doanh nghiệp còn chủ động hơn đối với vốn vay Điều này thể hiện
ở chỗ doanh nghiệp có thể thanh toán nợ trước thời hạn khi kinh doanh phát đạt,đồng thời có thể kéo giãn nợ giảm bớt được nguy cơ phá sản
Nhược điểm của hình thức này là: Doanh nghiệp vừa phải trả lãi vay, vừaphải chia lợi nhuận cho các chủ nợ, dẫn đến chi phí sử dụng vốn cao Ngoài ra,doanh nghiệp phải chấp nhận phân chia quyền kiểm soát cho các chủ nợ Khoảnvay này còn làm tăng hệ số nợ, ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanhnghiệp
Hình thức vay vốn dự phần thường được sử dụng ở các nước có nền kinh tếthị trường phát triển
1.2.3.2.4 Thuê mua trả góp
Thuê mua trả góp là hình thức doanh nghiệp mua máy móc thiết bị của chủtài sản và trả dần tiền mua theo thỏa thuận Doanh nghiệp có thể trả ngay một phầngiá trị tài sản, phần còn lại được thanh toán trong nhiều kỳ vào những thời điểmđược ấn định trước Trong thời gian thực hiện hợp đồng, quyền sở hữu tài sảnthuộc về người bán (người cho thuê) Nó sẽ được chuyển giao cho người mua(doanh nghiệp) vào thời điểm hết hạn hợp đồng
Bằng hình thức này, doanh nghiệp có thể nhận được tài sản mà không cầnphải thương lượng với ngân hàng hay một tổ chức tài chính để vay tiền và cũngkhông phải cầm cố bất cứ loại tài sản nào Doanh nghiệp chỉ cần trả một khoản tiềncủa kỳ đầu tiên, có thể bằng 1/3 giá trị của tài sản và có thể trả dần trong khoảng từ
1 đến 5 năm để thanh toán xong toàn bộ chi phí Trong suốt thời gian thuê mướn,doanh nghiệp có thể được phép áp dụng phương pháp khấu hao nhanh đối vớinhững tài sản này mặc dù phương pháp này không được áp dụng đối với tài sảnriêng của doanh nghiệp Tuy nhiên, chi phí mua tài sản theo hình thức này khá cao
Trang 29vì doanh nghiệp không được hưởng phần triết khấu mà các nhà cung cấp thường ápdụng đối với những tài sản mua trả tiền ngay Hơn nữa, tỷ lệ lãi suất trong các giaodịch thuê mua trả góp là khá cao Một bất lợi nữa đối với doanh nghiệp đi thuê lànếu không thực hiện đúng tiến độ thanh toán, họ có nguy cơ bị mất quyền sở hữutài sản vào thời điểm kết thúc hợp đồng.
1.2.3.2.5 Tín dụng thuê mua
Tín dụng thuê mua là hình thức tài trợ tín dụng thông qua các loại tài sản(máy móc thiết bị, ) Đây là phương thức tài trợ có lịch sử lâu đời nhưng chỉ mớixuất hiện ở nước ta trong những năm gần đây và đang có xu hướng phát triểnmạnh
Tín dụng thuê mua là bản hợp đồng được ký kết giữa bên thuê và công ty tàichính, trong đó bên cho thuê chuyển giao quyền sử dụng một hoặc nhiều tài sảncho bên đi thuê trong thời gian quy định và bên đi thuê phải trả tiền thuê theo thỏathuận, người cho thuê là người sở hữu tài sản và nhận được tiền cho thuê tài sản
Phương thức chủ yếu thường áp dụng ở đây là thuê vận hành và thuê tàichính Dưới đây xem xét một số vấn đề chủ yếu của hai phương thức thuê này dướigóc độ của doanh nghiệp với tư cách là người thuê
a) Thuê hoạt động
Phương thức thuê hoạt động là hình thức thuê ngắn hạn tài sản
Hình thức thuê này có những đặc trưng chủ yếu sau:
Thứ nhất là thời hạn thuê rất ngắn so với đời sống hữu ích của tài sản
Thứ hai là người cho thuê chịu trách nhiệm bảo trì, bảo hiểm, thuế tài sản vàchịu mọi rủi ro, thiệt hại về tài sản cho thuê Mặt khác, người cho thuê được hưởngtiền cho thuê và những quyền lợi do quyền sở hữu tài sản mang lại như có thể đượchưởng ưu đãi về giảm thuế lợi tức do chính sách khuyến khích của Nhà nước
Trang 30Thứ ba là, trong hợp đồng thuê hoạt động thường có điều khoản người thuê
có quyền hủy ngang hợp đồng bằng một thông báo ngắn gửi người cho thuê vềchấm dứt hợp đồng thuê, trả lại tài sản trước ngày hết thời hạn hợp đồng
Thuê hoạt động là hình thức thuê ngắn hạn nên tổng số tiền mà người thuêtrả cho người cho thuê có giá trị thấp hơn nhiều so với toàn bộ giá trị của tài sản
Do vậy, khi hợp đồng hết hạn, người cho thuê là người chủ sở hữu tài sản có thểbán tài sản đó, hoặc gia hạn hợp đồng cho thuê đối với người thuê hiện hành haycho thuê với khách hàng mới
Trong thuê hoạt động, người thuê được quyền sử dụng tài sản trong thời gian
đã thỏa thuận và phải có nghĩa vụ trả tiền thuê cho người cho thuê Người thuêkhông chịu trách nhiệm về bảo trì, bảo hiểm tài sản và những rủi ro liên quan đếntài sản nếu không phải do lỗi của người thuê gây ra Một điều rất quan trọng đốivới người thuê trong vận hành là có quyền hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn Điềunày tạo cho người thuê một lợi thế không phải gánh chịu những thiệt hại do sự lạchậu về kỹ thuật của tài sản gây ra
Có thể thấy, thuê hoạt động là một phương thức đã được sử dụng rất phổbiến trong đời sống xã hội và hoạt động kinh doanh ở nước ta Loại thuê này được
sử dụng trong việc thuê động sản như thuê phương tiện vận tải, các thiết bị và công
cụ lao động khác và cũng được sử dụng vào việc thuê bất động sản như thuê nhà ở,văn phòng, nhà kho,
b) Thuê tài chính
Thuê tài chính là một phương thức tín dụng trung, dài hạn Theo phươngthức này, người cho thuê cam kết mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người thuê
và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Người thuê sử dụng tài sản thuê
và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn đã được thỏa thuận và không được hủy
bỏ hợp đồng trước thời hạn Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển
Trang 31quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuậntrong hợp đồng thuê.
Trên phương diện doanh nghiệp, người quản lý cần nhận biết các phươngthức thuê tài sản để tận dụng các ưu thế của phương thức thuê phù hợp với tìnhhình của doanh nghiệp, và có biện pháp quản lý phù hợp, thích ứng với đặc điểm
và quy chế của Nhà nước đối với mỗi phương thức thuê như để áp dụng chế độ kếtoán thích hợp hoặc hưởng các ưu đãi nếu có do chính sách Nhà nước quy định
Thông thường, trong khoản tiền thuê mà người thuê trả người cho thuê theođịnh kỳ bao gồm tiền vốn gốc, tiền lãi tín dụng, phần lợi nhuận hợp lý, phần chiphí quản lý Vì vậy, xem xét trên góc độ người thuê thì thuê tài chính là một hìnhthức vay trung hạn hoặc dài hạn và trên góc độ của người cho thuê thì đây là mộthình thức tài trợ tín dụng
Trong một giao dịch thuê tài chính điển hình có mối quan hệ giữa ba bên:Người cho thuê, người thuê và người sản xuất hoặc người phân phối máy móc,thiết bị Mối quan hệ này chủ yếu được thực hiện như sau:
- Người thuê (người sử dụng máy móc thiết bị) lựa chọn thiết bị mà họ cần vàthương lượng giá cả, thời hạn giao hàng với người sản xuất thiết bị hoặc ngườiphân phối
- Tiếp đó, người thuê thương lượng với người cho thuê như công ty cho thuê tàichính để người cho thuê mua thiết bị
- Người sản xuất nhận đơn đặt hàng của người cho thuê, sau đó giao thiết bị chongười thuê và hóa đơn bán hàng cho người cho thuê
- Người cho thuê chấp nhận mua thiết bị và cho người thuê được thuê thiết bị
- Người thuê phải trả tiền thuê cho người cho thuê theo định kỳ (có thể phải trảngay một khoản theo một tỷ lệ nhất định) tùy theo thỏa thuận thanh toán giữa haibên Do vậy, trên góc độ doanh nghiệp là người thuê thì thực chất thuê tài chính làmột hình thức vay vốn trung hạn và dài hạn
Trang 32Đối với doanh nghiệp, việc sử dụng thuê tài chính có những điểm lợi chủyếu sau:
Thứ nhất, thuê tài chính là một công cụ tài chính giúp cho doanh nghiệp cóthêm vốn trung hạn và dài hạn để mở rộng hoạt động kinh doanh Sử dụng thuê tàichính giúp cho doanh nghiệp không phải huy động tập trung tức thời một lượngvốn lớn để mua tài sản và như vậy, với số vốn hạn chế doanh nghiệp vẫn có khảnăng mở rộng kinh doanh
Thứ hai, sử dụng phương thức thuê tài chính giúp cho doanh nghiệp dễ dànghơn trong việc huy động và sử dụng vốn vay Bởi lẽ, một trong những khó khănlớn nhất mà các doanh nghiệp thường gặp phải khi vay vốn từ các tổ chức tài chính
là không đủ tài sản thế chấp Trong khi đó, do đặc thù của thuê tài chính là ngườicho thuê nắm quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản cho thuê Vì vậy, đại bộ phậncác hợp đồng thuê tài chính được ký kết, người cho thuê không đòi hỏi doanhnghiệp là người thuê phải có tài sản thế chấp (có thể người thuê phải trả trước mộtkhoản tiền thuê ban đầu với một tỷ lệ nhất định tùy theo thỏa thuận giữa người chothuê và người thuê) Đây là một ưu thế rất lớn của thuê tài chính so với tín dụngthông thường
Thứ ba, sử dụng thuê tài chính giúp cho doanh nghiệp có thể thực hiệnnhanh chóng dự án đầu tư, chớp được kịp thời cơ hội kinh doanh Bởi lẽ, ngườithuê có quyền lựa chọn tài sản thiết bị và thỏa thuận trước về hợp đồng thiết bị vớingười sản xuất hay người cung ứng, sau đó mới yêu cầu công ty cho thuê tài chínhtài trợ, do vậy có thể rút ngắn được thời gian tiến hành đầu tư vào tài sản thiết bị.Mặt khác, công ty cho thuê tài chính thường có mạng lưới tiếp thị, đại lý rộng rãi
và có đội ngũ chuyên gia có trình độ chuyên sâu về thiết bị, công nghệ nên có thể
tư vấn hữu ích cho người thuê về mặt kỹ thuật, công nghệ của thiết bị mà ngườithuê cần sử dụng
Trang 33Điểm bất lợi chủ yếu đối với doanh nghiệp khi sử dụng thuê tài chính là phảigánh chịu chi phí sử dụng vốn với mức độ tương đối cao so với tín dụng thôngthường.
1.2.3.2.6 Thuê mua lại (Bán và tái thuê)
Theo hình thức này, doanh nghiệp (người thuê) sẽ bán tài sản của chínhmình cho người cho thuê (thường là các công ty thuê tài chính) để lấy tiền, đồngthời, ngay lúc đó một hợp đồng thuê mua được ký kết với nội dung người cho thuêcho doanh nghiệp thuê lại chính tài sản mà họ vừa bán Bán và tái thuê có thể ápdụng đối với tài sản cố định là bất động sản như đất đai, nhà cửa hoặc là động sảnnhư máy móc thiết bị
Như vậy, trong việc thực hiện bán và tái thuê, doanh nghiệp (người thuê) đãthực hiện một loạt các hoạt động nghiệp vụ:
- Bán tài sản của chính mình cho người cho thuê và chuyển giao quyền sở hữu vềmặt pháp lý, đồng thời nhận được tiền bán tài sản theo giá trị tại thời điểm thỏathuận bán
- Thuê lại tài sản vừa bán cho người cho thuê tức là nhận lại quyền sử dụng tài sảnvừa bán
- Trả tiền thuê cho người cho thuê và thực hiện các điều kiện khác tùy theo phươngthức thuê mua
Qua đó, có thể thấy đặc trưng chủ yếu của hình thức bán và tái thuê là ngườithuê giữ lại quyền sử dụng và chuyển giao quyền sở hữu pháp lý cho người chothuê, đồng thời nhận được tiền bán tài sản
Người thuê đã lần lượt với tư cách là người chủ sở hữu ban đầu, người sửdụng và người thuê tài sản Đối với người cho thuê, từ vị thế người mua trở thànhngười chủ sở hữu và người cho thuê tài sản
Thực hiện bán và tái thuê giúp cho doanh nghiệp vừa có thêm vốn nhất làđáp ứng nhu cầu về vốn lưu động vừa vẫn duy trì được việc sử dụng tài sản Điều
Trang 34này càng có ý nghĩa quan trọng hơn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thườngthiếu vốn và không có đủ điều kiện để vay vốn từ các tổ chức tài chính.
1.2.3.2.7 Phát hành cổ phiếu và trái phiếu
Ngoài các hình thức huy động vốn truyền thống, trong nền kinh tế thịtrường, để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệpcòn có thể sử dụng cách thức huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu, tráiphiếu qua thị trường chứng khoán Cách thức này cho phép doanh nghiệp huy động
số tiền nhàn rỗi nằm phân tán, rải rác trong các tầng lớp dân cư, tập trung lại thànhnguồn vốn lớn Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, việc các doanhnghiệp huy động vốn qua thị trường chứng khoán là một hình thức khá phổ biến vàgần như là hình thức chủ yếu Tuy nhiên, việc sử dụng các công cụ tài chính để tậptrung vốn qua thị trường chứng khoán là vấn đề không đơn giản Mỗi công cụ tàichính mà doanh nghiệp sử dụng có thể đem lại những lợi ích nhất định đồng thờicũng có thể đưa đến những điều bất lợi Các công cụ thường được sử dụng để huyđộng vốn từ thị trường chứng khoán gồm có:
a Cổ phiếu
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu một phần vốn góp vàocông ty cổ phần và quyền được hưởng một khoản cổ tức theo định kỳ Hiện nay,lưu hành phổ biến nhất là hai loại cổ phiếu: cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu thường
Cổ phiếu thường là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong công ty và chophép người nắm giữ nó được hưởng quyền lợi thông thường trong công ty cổ phần.Người sở hữu cổ phiếu thường là cổ đông thường của công ty cổ phần
Việc huy động vốn theo phương thức phát hành cổ phiếu thường có nhữnglợi thế chủ yếu sau: So với tiền vay thông thường khác, huy động vốn bằng cáchphát hành cổ phiếu thường có lợi ở chỗ công ty không phải trả vốn gốc và lãi cốđịnh theo kỳ hạn có tính bắt buộc pháp lý giúp công ty có thể sử dụng vốn linh
Trang 35hoạt hơn, chủ động hơn mà không phải lo gánh nặng nợ nần Hình thức này sẽ làmtăng thêm vốn chủ sở hữu của công ty, từ đó làm hệ số nợ giảm xuống, làm tăngthêm mức độ vững chắc về tài chính và mức độ tín nhiệm của công ty Cổ phiếuthường bán ra dễ hơn so với cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu.
Tuy nhiên, khi lựa chọn hình thức phát hành cổ phiếu thường cần chú ýnhững bất lợi sau: Phát hành cổ phiếu thường ra công chúng làm tăng thêm cổđông mới, từ đó phải phân chia quyền bỏ phiếu và quyền kiểm soát công ty cho số
cổ đông mới và như vậy sẽ gây nên bất lợi cho những cổ đông hiện hành Chi phíphát hành cổ phiếu thường cao hơn trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi, do vậy, doanhnghiệp phải chịu chi phí sử dụng cổ phiếu cao hơn làm ảnh hưởng đến lợi nhuậncủa doanh nghiệp Ở nhiều nước khi đánh thuế thu nhập doanh nghiệp, lợi tức cổphần không được tính trừ vào thu nhập chịu thuế, trong khi đó lợi tức trái phiếuhay lợi tức tiền vay được tính trừ vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp
Cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu ưu đãi là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong công ty cổ phần,đồng thời cho phép người nắm giữ loại cổ phiếu này được hưởng một số quyền ưuđãi hơn so với cổ đông thường
Khi huy động vốn trong trường hợp phát hành cổ phiếu ưu đãi, doanh nghiệpcần quan tâm đến những lợi thế chủ yếu sau: Khi công ty phát hành cổ phiếu ưuđãi để huy động vốn, lợi thế trước tiên của hình thức này là mặc dù phải trả lợi tức
cố định nhưng khác với trái phiếu, công ty không nhất thiết bắt buộc phải trả đúnghạn hàng năm mà có thể hoàn trả sang kỳ sau Điều này sẽ giúp cho công ty không
bị đe dọa khi gặp khó khăn trong kinh doanh
Ngoài ra, việc phát hành cổ phiếu ưu đãi giúp cho công ty tránh được việc chiaphần kiểm soát cho cổ đông mới thông qua quyền biểu quyết
Bên cạnh những lợi thế đó, việc phát hành cổ phiếu ưu đãi cũng gặp nhữngbất lợi sau: Lợi tức cổ phiếu ưu đãi cao hơn lợi tức trái phiếu, do đó phần lợi nhuận
Trang 36còn lại để tăng vốn sản xuất kinh doanh sẽ bị hạn chế Lợi tức cổ phiếu ưu đãikhông được trừ vào thu nhập chiụ thuế của công ty Điều này làm cho chi phí sửdụng cổ phiếu ưu đãi lớn hơn nhiều so với chi phí sử dụng trái phiếu.
b Trái phiếu doanh nghiệp
Trái phiếu doanh nghiệp là chứng chỉ vay vốn do doanh nghiệp phát hành,thể hiện nghĩa vụ và sự cam kết của doanh nghiệp thanh toán số lợi tức và tiền vayvào những thời hạn đã xác định cho người nắm giữ trái phiếu Thông qua việc sửdụng trái phiếu, doanh nghiệp có thể thực hiện vay vốn trung hạn và dài hạn quathị trường với một khối lượng lớn
Trong nền kinh tế thị trường, trái phiếu là công cụ rất quan trọng cho phépdoanh nghiệp chủ động huy động vốn qua thị trường Khi huy động vốn bằng công
cụ phát hành trái phiếu, doanh nghiệp phải tận dụng những ưu thế sau: Lợi tức tráiphiếu được giới hạn ở mức độ nhất định Nếu doanh nghiệp có triển vọng tốt trongkinh doanh, có khả năng thu được lợi nhuận thì việc phát hành trái phiếu để huyđộng vốn sẽ giúp cho doanh nghiệp đạt mức doanh lợi vốn chủ sở hữu ở mức cao
và chủ doanh nghiệp không phải phân chia quyền phân phối lợi nhuận cho các tráichủ Chi phí phát hành trái phiếu thấp hơn so với chi phí phát hành cổ phiếuthường và cổ phiếu ưu đãi Ngoài ra, doanh nghiệp phát hành trái phiếu không bịphân chia quyền kiểm soát doanh nghiệp cho các trái chủ Ở hầu hết các nước, lợitức trái phiếu được xem như chi phí và được trừ vào thu nhập chịu thuế của doanhnghiệp
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý những nhược điểm sau: Sử dụng trái phiếu buộcdoanh nghiệp phải có nghĩa vụ trả lợi tức cho các trái chủ đúng kỳ hạn, nếu tìnhhình kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp không ổn định có thể dẫnđến tình trạng không đủ nguồn tài chính để trang trải lợi tức trái phiếu Sử dụngtrái phiếu là sử dụng nợ trong thời gian dài, vì thế tác động của nó đến sự hoạtđộng của doanh nghiệp không ổn định, có lúc nó là đòn bẩy góp phần thúc đẩy sự
Trang 37phát triển của doanh nghiệp, có lúc lại có thể trở thành gánh nặng đe dọa sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp Việc sử dụng trái phiếu có thể giúp doanh nghiệptăng vốn thực hiện các dự án đầu tư mở rộng kinh doanh, nhưng nếu việc đầu tưcủa doanh nghiệp không đúng hướng hoặc bối cảnh thị trường thay đổi theo chiềuhướng bất lợi thì việc phải hoàn trả một số nợ lớn trở thành một gánh nặng đối vớidoanh nghiệp Ngoài ra, cũng cần thấy rằng: việc sử dụng trái phiếu để huy độngvốn cũng có giới hạn nhất định chịu sự chi phối của hệ số nợ Hệ số nợ chính làyếu tố đặt giới hạn cho khả năng vay nợ nói chung cũng như việc sử dụng tráiphiếu
1.2.3.2.8 Huy động vốn bằng liên doanh, liên kết
Đây là cách thức huy động bằng cách các nhà đầu tư, các doanh nghiệp kháctrong và ngoài nước góp vốn để cùng kinh doanh sản xuất trong một lĩnh vực, mộtmặt hàng nào đó để cùng hưởng lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp của các bên liêndoanh Việc huy động vốn bằng cách thức này sẽ hình thành nên các doanh nghiệpliên doanh Ở các doanh nghiệp này, việc góp vốn ban đầu, bổ sung vốn, phân chialợi nhuận và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước đều được xác định trong điều lệhoặc hợp đồng, tuân thủ theo luật đầu tư trong nước và luật đầu tư nước ngoàinhằm đảm bảo lợi ích của mỗi bên liên doanh và lợi ích quốc gia Mức độ chi phốicủa các bên liên doanh đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tùythuộc vào mức độ vốn góp của mỗi bên và các điều khoản đã cam kết trong điều lệdoanh nghiệp hoặc hợp đồng kinh doanh Đây là một đặc điểm cần lưu ý khi doanhnghiệp sử dụng cách thức huy động vốn này để đáp ứng được yêu cầu vừa huyđộng được vốn, nhưng lại vừa đảm bảo được quyền kiểm soát, quyền chi phối củadoanh nghiệp đối với liên doanh
Trên đây là các hình thức huy động vốn dài hạn của doanh nghiệp Việc lựachọn hình thức huy động vốn nào tùy thuộc vào điều kiện và nhu cầu của doanhnghiệp Trong đó việc huy động nguồn vốn bên trong doanh nghiệp là một vấn đề
Trang 38hết sức quan trọng đối với sự phát triển của một doanh nghiệp Huy động vốn từbên ngoài là cần thiết nhưng không nên trông đợi quá mức vào những nguồn vốnbên ngoài doanh nghiệp.
1.2.4 Các căn cứ lựa chọn hình thức huy động vốn
1.2.4.1 Mục tiêu kinh doanh
Xuất phát từ mục đích sử dụng vốn, doanh nghiệp sẽ lựa chọn hình thức huyđộng vốn ngắn hạn hoặc dài hạn Thông thường, nếu sử dụng vốn đầu tư cho tàisản cố định thì doanh nghiệp nên chọn nguồn vốn trung hạn và dài hạn Còn nếuđầu tư tài sản lưu động thì nên chọn nguồn vốn ngắn hạn
1.2.4.2 Tình hình tài chính hiện có và khả năng cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp
Các chủ nợ, các nhà đầu tư thường căn cứ vào các chỉ tiêu tài chính củadoanh nghiệp để xem xét có cung ứng vốn cho doanh nghiệp hay không Nếudoanh nghiệp có các tỷ số về khả năng thanh toán thấp thì khó có thể huy độngđược nguồn vốn ngắn hạn, hoặc tỷ số nợ quá cao thì không hy vọng vay thêm đượctiền của Ngân hàng Vì vậy, trước khi chọn nguồn và hình thức huy động vốn,doanh nghiệp cần phải: Phân tích các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp để thấyđược tình hình tài chính của doanh nghiệp, phân tích những luận chứng kinh tế –
kỹ thuật đối với khoản vốn cần huy động và tính các rủi ro liên quan, phân tích khảnăng cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp, ví dụ có thể tăng cường nỗ lựcthu hồi các khoản phải thu nhằm cải thiện các chỉ số về khả năng thanh toán
1.3 Các chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, để không gặp khó khăn trong huy động vốn,đảm bảo được khả năng thanh toán, doanh nghiệp không chỉ dùng nguồn vốn dàihạn tài trợ cho tài sản cố định mà còn dùng để tài trợ cho một phần tài sản lưuđộng Tài sản lưu động được chia thành hai bộ phận là: Tài sản lưu động thườngxuyên và tài sản lưu động tạm thời Tài sản lưu động thường xuyên là những tài
Trang 39sản lưu động thường xuyên được sử dụng vào sản xuất kinh doanh, gắn với quátrình sản xuất như nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, nhằm đảm bảo choquá trình sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, liên tục Tài sản lưu động tạmthời là những tài sản lưu động chỉ được sử dụng trong những thời gian nhất định,không thường xuyên hoặc có tính thời vụ.
Sau đây là các chính sách sử dụng vốn mà doanh nghiệp có thể áp dụng:
1.3.1 Chính sách sử dụng vốn an toàn
Doanh nghiệp dùng nguồn vốn dài hạn tài trợ cho tài sản cố định và tài sảnlưu động thường xuyên, dùng nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho tài sản lưu động tạmthời
Đây là chính sách khá phổ biến ở các doanh nghiệp Ưu điểm là nó đảm bảocho hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp bằng nguồn vốn tương đối ổn định,chi phí sử dụng vốn và độ rủi ro ở mức trung bình Tuy nhiên, mô hình tài trợ nàyphụ thuộc vào khả năng tài chính và nguồn tài trợ dài hạn có đủ đáp ứng cho nhucầu hay không
Có thể mô tả chính sách này như sau:
1.3.2 Chính sách sử dụng vốn vững chắc
Thời gian Nguồn vốn dài hạn
Nguồn vốn ngắn hạn Vốn kinh doanh
TSLĐ tạm thời TSLĐ thường xuyên TSCĐ
Trang 40Doanh nghiệp sẽ dùng nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho toàn bộ tài sản cốđịnh, tài sản lưu động thường xuyên và một phần tài sản lưu động tạm thời, phầncòn lại sẽ do nguồn vốn ngắn hạn đảm bảo.
Do doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn dài hạn để tài trợ một phần vốn lưuđộng tạm thời nên doanh nghiệp có khả năng thanh toán ngay một phần nhu cầuvốn lưu động tạm thời Tuy nhiên, do lãi tiền vay dài hạn thường cao hơn lãi tiềnvay ngắn hạn nên chi phí tài trợ của doanh nghiệp theo chính sách này thường caohơn chính sách trên Có thể biểu diễn chính sách này dưới dạng mô hình sau:
1.3.3 Chính sách sử dụng vốn mạo hiểm
Doanh nghiệp dùng vốn dài hạn tài trợ cho một phần tài sản lưu độngthường xuyên, dùng vốn ngắn hạn tài trợ cho tài sản lưu động tạm thời và phần cònlại của tài sản lưu động thường xuyên
Với chính sách này, độ rủi ro sẽ cao hơn so với hai chính sách trên do tổng
số nợ lưu động tăng nên khó đảm bảo khả năng thanh toán, nhất là thanh toán ngắnhạn Tuy nhiên, do tỷ trọng nguồn tài trợ ngắn hạn vốn lưu động tăng thêm nên sẽ
TSLĐ tạm thời
Thời gian Nguồn vốn dài hạn
Nguồn vốnngắn hạn Vốn kinh doanh
TSLĐ thường xuyên TSCĐ