1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất giải pháp tổng hợp xử lý ô nhiễm nhằm bảo vệ môi trường và phát triển theo hướng bền vững cho làng nghề chế biến tinh bột sắn cát quế hoài đức hà tây luận văn t

95 659 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 3,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm qua trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tập trung phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng của chủ nghĩa xã

Trang 1

MỤC LỤC

CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vi

Mở đầu 1

Chương 1: Tổng quan 10

1.1 Giới thiệu chung 10

1.1.1 Quy mô hoạt động, phân bố của các làng nghề tỉnh Hà Tây 11

1.1.2 Quá trình sản xuất, phát triển kinh tế làng nghề 14

1.1.3 Tổ chức và quy mô hoạt động của làng nghề 15

1.2 Tình hình phát triển sản xuất và hiện trạng môi trường ở một số làng nghề điển hình tỉnh Hà Tây 16

1.2.1 Tình hình phát triển sản xuất 16

1.2.1.1 Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm 17

1.2.1.2 Làng nghề tái chế phế thải - tái chế sắt 20

1.2.1.3 Làng nghề dệt nhuộm 22

1.2.2 Hiện trạng môi trường 23

1.2.2.1 Làng nghề chế biến lương thực thực phẩm 25

1.2.2.2 Làng nghề tái chế phế thải - tái chế sắt 27

1.2.2.3 Làng nghề dệt nhuộm 31

1.3 Tác động của làng nghề đến đời sống kinh tế - xã hội 32

1.3.1 Nguyên nhân và nhân tố tác động chủ yếu đến môi trường ở các làng nghề 33

1.3.2 Hệ quả tác động của tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường đến sức khoẻ và đời sống của dân cư và người lao động 34

1.4 Hiện trạng công tác quản lý môi trường làng nghề tỉnh Hà Tây 36

Trang 2

1.4.1 Bộ máy tổ chức quản lý môi trường 36

1.4.2 Công tác quản lý chất thải làng nghề của địa phương 39

Chương 2: Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu 45

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 45

2.2 Phương pháp nghiên cứu 45

2.2.1 Phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu và số liệu thứ cấp 45

2.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa 46

2.2.3 Phương pháp bản đồ 46

2.2.4 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) 47

2.2.5 Phương pháp tham gia ý kiến chuyên gia 48

Chương 3: kết quả nghiên cứu 49

3.1 Hiện trạng làng nghề chế biến tinh bột sắn Cát Quế - Hoài Đức - Hà Tây 49

3.2 Công nghệ xử lý nước thải làng nghề chế biến nông sản và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường làng nghề 53

3.2.1 Công nghệ xử lý nước thải chế biến tinh bột sắn Cát Quế - Hoài Đức - Hà Tây 53

3.2.1.1 Cơ sở khoa học cho giải pháp xử lý nước thải 53

3.2.1.2 Xử lý nước thải bằng biogas 55

3.2.1.3 Xử lý nước thải bằng hồ sinh học 55

3.2.1.4 Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải chế biến tinh bột sắn 56

3.2.2 Các giải pháp quản lý môi trường làng nghề 59

3.3 Xây dựng mô hình xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề chế biến tinh bột sắn tại xã Cát Quế - Hoài Đức - Hà Tây 67

3.3.1 Quy hoạch và thiết kế hệ thống xử lý chất thải 67

3.3.1.1 Bố trí quy hoạch 67

3.3.1.2 Thiết kế hệ thống xử lý nước thải 67

Trang 3

3.3.1.3.Quy hoạch đường giao thông 75

3.3.1.4 Quy hoạch cây xanh 76

3.3.2 Xây dựng mô hình thí điểm 76

3.3.2.1 Nội dung xây dựng mô hình 76

3.3.2.2 Tổng dự toán 76

3.3.3 Kết quả xây dựng hệ thống xử lý nước thải 77

3.3.4 Mô hình tổ chức quản lý môi trường 82

3.3.4.1 Tình hình chung 82

3.3.4.2 Thực trạng công tác quản lý môi trường ở Cát Quế 83

3.3.5 Xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý vệ sinh môi trường làng nghề Cát Quế 85

3.3.5.1 Ban quản lý xã 85

3.3.5.2 Tổ quản lý vệ sinh môi trường thôn, xóm 86

3.3.5.3 Quản lý tài chính 86

Kết luận và kiến nghị 88

Kết luận 88

Kiến nghị 90

Tài liệu tham khảo 93

Trang 4

CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

GDP : Tổng sản phẩm quốc nội

KH – CN : Khoa học công nghệ

ĐTM : Đánh giá tác động môi trường

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Danh mục Trang Bảng 1.1: Phân loại làng nghề theo nhóm sản phẩm 5

Bảng 1.2: Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 8

Bảng 3.4: Lưu lượng nước thải tính toán của làng nghề Cát Quế 45

Bảng 3.5: Kết quả phân tích nước thải tại mương tiêu nước chính 46

Bảng 3.8: Thành phần nước thải tại rãnh tiêu làng nghề Cát Quế 59

Bảng 3.9: Tổng lượng nước thải các hộ trong thôn 5 Cát Quế 60

Bảng 3.10: Kích thước rãnh tiêu trong mô hình 61

Bảng 3.11: Số gia đình chăn nuôi lợn trong khu vực xây dựng dự án 64

Bảng 3.12: Kết quả phân tích nước thải tại hồ sinh học 69

Bảng 3.13: Diễn biễn trung bình của chất lượng nước thải dọc theo hệ

thống thoát nước thải trước khi xây dựng hệ thống 69

Bảng 3.14: Diễn biễn trung bình của chất lượng nước thải dọc theo hệ

thống thoát nước thải sau khi xây dựng hệ thống 70

Bảng 3.15: Hiệu qủa xử lí nước thải sau khi xây dựng hệ thống 72

Trang 6

Hình 3.2: Tổ chức phân nhóm các cơ sở sản xuất 35

Hình 3.3: Sản xuất tinh bột sắn tại xã Cát Quế 41

Hình 3.4: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất 42

Hình 3.5: Ô nhiễm nước mặt và bã thải tại làng nghề Cát Quế 43

Hình 3.7: Sơ đồ quy trình chế biến tinh bột sắn Cát Quế 48

Hình 3.9: Sơ đồ hệ thống xử lí thải làng nghề Cát Quế 50

Hình 3.10: Chất thải rắn chưa được thu gom tại Cát Quế 53

Hình 3.11: Hiện trạng hệ thống tiêu thoát nước tại Cát Quế 54

Hình 3.12: Sơ đồ tổ chức quản lí vệ sinh môi trường xã 55

Hình 3.13: Sơ đồ xử lí nước thải sinh hoạt và sản xuất 60

Hình 3.14: Xây dựng hệ thống tiêu thoát nước thải 61

Hình 3.15: Sơ đồ xử lí chất thải bằng bể Biogas 64

Hình 3.16: Bể Biogas xử lí chất thải cho người và gia súc 65

Hình 3.17: So sánh giá trị diễn biến giá trị pH dọc theo HTTN

trước và sau khi xây dựng hệ thống xử lí nước thải 70

Hình 3.18: So sánh giá trị diễn biến giá trị COD dọc theo

HTTN trước và sau khi xây dựng hệ thống xử lí nước thải 71

Hình 3.19: So sánh giá trị diễn biến giá trị SS dọc theo HTTN

trước và sau khi xây dựng hệ thống xử lí nước thải 71

Trang 7

MỞ ĐẦU

Làng nghề nông thôn đã có một truyền thống lâu dài và đóng vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Những năm qua trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tập trung phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng của chủ nghĩa xã hội, nhiều ngành nghề truyền thống được khôi phục và phát triển mạnh mẽ để giải quyết những áp lực nặng nề về công ăn việc làm cho lực lượng lao động dư thừa từ các vùng nông thôn Việt Nam, chấn hưng các làng nghề truyền thống và phát triển các làng nghề mới là chủ trương đúng đắn của Đảng, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, chiến lược này làm thay đổi bộ mặt của nông thôn Việt Nam, góp phần xoá đói giảm nghèo, giải quyết công ăn việc làm lúc nông nhàn, nâng cao thu nhập cho người dân , góp phần

ổn định kinh tế, xã hội khu vực

Vấn đề bùng nổ dân số, tài nguyên nông nghiệp ngày càng hạn chế, quá trình phát triển các khu công nghiệp và tốc độ đô thị hoá nhanh ngày càng cao làm mất, giảm diện tích canh tác, tăng tỷ lệ thất nghiệp dư thừa lao động, sẽ làm mất tính ổn định môi trường xã hội, là mầm mống của sự phát triển tệ nạn

xã hội Việc củng cố và phát triển các làng nghề sẽ giải quyết được nhiều vấn

đề kinh tế - xã hội, nó đóng vai trò hết sức quan trọng cho đất nước trong quá trình khôi phục kinh tế và phát triển trong tương lai

Chính phủ đánh giá rất cao vai trò của làng nghề thôn và đã đưa ra chương trình phát triển mở rộng với quy mô và số lượng trong cả nước Các làng nghề ở khu vực Sông Hồng cũng nằm trong mục tiêu chương trình phát triển này Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, đến nay cả nước có khoảng 1.450 làng nghề với 108 ngành nghề và giải quyết

Trang 8

được việc làm cho trên 10 triệu lao động nông thôn Khu vực Đồng bằng Sông Hồng có khoảng 800 làng nghề [20]

Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) có diện tích khoảng 12.663 km2 chiếm khoảng 4% diện tích tự nhiên của cả nước Thuộc địa bàn hành chính - kinh tế của 11 tỉnh thành phố Đây là khu vực tập trung đông dân cư và phần lớn ở nông thôn, (với hơn 13,59 triệu người chiếm 80,5% dân số của toàn vùng và 23% dân số nông thôn cả nước) Thu nhập từ nông nghiệp nói chung hiện vẫn chiếm trên 60% thu nhập của các hộ nông thôn và chiếm gần 30% GDP của các tỉnh trong vùng[23] Song nông thôn Đồng bằng Sông Hồng cũng là nơi

có truyền thống phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp với sự hình thành và phát triển đa dạng của nhiều ngành nghề (làng nghề mà từ lâu đã nổi tiếng trong cả nước) Sự phát triển của làng nghề đã tác động tích cực đến phát triển kinh tế xã hội nông thôn trong vùng, thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội nông thôn Các ngành nghề, làng nghề đã tạo ra việc làm cho hàng triệu lao động, góp phần vào tăng trưởng GDP của các địa phương và cải thiện, nâng cao thu nhập mức sống của dân

cư trong vùng và ở các làng nghề

Hà Tây có diện tích đất tự nhiên trung bình so với các tỉnh khác trong cả nước với tổng số 2191,6 km2; Hà Tây có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và hệ thống giao thông thuận tiện cho việc phát triển công thương, là một trong những vùng trọng điểm phát triển kinh tế Cùng với sự phát triển của cả nước, sản xuất công nghiệp của tỉnh Hà Tây cũng phát triển rất mạnh, góp phần không nhỏ vào tổng sản phẩm quốc nội hàng năm của nước ta GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 6,1 triệu đồng, thu ngân sách Nhà nước năm

2005 đạt gần 2.000 tỷ đồng Mật độ dân số của Hà Tây thuộc loại cao trong khu vực ĐBSH (1141người/km2) và phần lớn tập trung ở vùng nông thôn (2.245.075 người chiếm 90% dân số)[22] Lực lượng lao động vùng nông

Trang 9

thôn khá dồi dào Ngoài sản xuất nông nghiệp thì phần lớn họ tham gia sản xuất tiểu thủ công nghiệp làng nghề Song song với việc phát triển làng nghề, vấn đề xử lý chất thải đang trở nên cấp bách cho các ngành chức năng về quản lý môi trường Ví dụ điển hình làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm tại xã Cát Quế - Hoài Đức - Hà Tây hàng ngày thải xuống sông, ao, hồ bình quân 1.200m3 nước thải có chỉ số ô nhiễm rất cao (COD, BOD5, OSS, NH4, Coliform) thải bỏ 10,75 tấn chất thải rắn ra môi trường, ngoài ra còn khí thải

do đun nấu chế biến và khí do quá trình phân huỷ chất hữu cơ của các bãi rác

và nước thải gây ô nhiễm nghiêm trọng vùng làng nghề này Vấn đề nhức nhối của môi trường làng nghề không chỉ của Cát Quế - Hà Tây mà cũng là vấn đề chung của các làng nghề khác trong tỉnh, là thách thức của nhà quản lý phải cố gắng tìm được mô hình và các biện pháp quản lý môi trường làng nghề hữu hiệu Tuy nhiên vấn đề này hiện nay vẫn còn là một bài toán khó cần tìm lời giải phù hợp

Nội dung chính của Luận văn này nhằm đánh giá được mức độ phát triển của làng nghề Cát Quế - Hoài Đức - Hà Tây, hiện trạng môi trường và công tác quản lí môi trường hiện nay của địa phương đồng thời đưa ra các giải pháp tổng hợp xử lý ô nhiễm môi trường cho làng nghề chế biến tinh bột sắn tại xã Cát Quế - Hoài Đức - Hà Tây, với mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển theo hướng bền vững

Trang 10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 Giới thiệu chung

Trước đây tất cả các làng nghề đều coi là các làng nghề thủ công Trong quá trình theo thời gian và xu hướng phát triển, người ta thay đổi cách gọi, thuật ngữ “Làng nghề thủ công truyền thống” bằng “Làng nghề” nhằm thay đổi theo nghĩa rộng hơn, không bị bó buộc trong phạm vi nghề thủ công truyền thống Trên cơ sở đó người ta phân loại làng nghề theo các nhóm gồm

6 loại:

- Các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm: Các sản phẩm chính là tinh bột sắn, dong, miến dong, bún gạo khô, đường mạch nha,

- Các làng nghề dệt nhuộm: Sản phẩm chính của các làng nghề dệt nhuộm là lụa tơ tằm, vải lụa, các màu in hoa

- Các làng nghề kim khí: Sản phẩm chính là hàng kim khí, đồ gỗ cao cấp

- Các làng nghề mây tre đan, sơn mài, điêu khắc, đồ gỗ: Các sản phẩm chính là mây tre đan, hàng sơn mài, điêu khắc đồ gỗ

- Các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng: Sản phẩm là gạch viên, gạch ngói

- Các làng nghề chăn nuôi: Sản phẩm chính là gia súc, gia cầm

Nằm trong danh mục các làng nghề Việt Nam xã Cát Quế - Hoài Đức -

Hà Tây là nơi nổi tiếng với sản phẩm tinh bột sắn Với nghề chế biến tinh bột sắn nguyên liệu đã mang lại cho người dân ở Cát Quế những cải thiện nhất định về kinh tế và giải quyết triệt để đầu ra cho mặt hàng nông sản cây sắn của người dân trong vùng Tuy nhiên, hiện nay cùng với sự phát triển mạnh

mẽ của nghề chế biến tinh bột sắn, đã kéo theo những vấn đề về môi trường

Do vậy cần phải có những nghiên cứu, đánh giá và đề xuất biện pháp xử lý môi trường đảm bảo cho sự phát triển sản xuất theo hướng bền vững

Trang 11

1.1.1 Quy mô hoạt động, phân bố của các làng nghề tỉnh Hà Tây

Theo báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Hà Tây năm 1998, toàn tỉnh có

88 làng nghề Phân bố các làng nghề như sau: (Bảng 1.1)

Bảng 1.1: Phân loại làng nghề theo nhóm sản phẩm ở tỉnh Hà Tây

khắc, đồ gỗ

Xã: Phú Nghĩa, Duyên Thái, Sơn Đồng, Tràng Sơn, Hữu Bằng 43 48,86 Sản xuất vật liệu xây dựng, dịch

Tại làng nghề, các cơ sở sản xuất ngày càng phát triển, thu hút một lượng lớn lao động tại chỗ và từ các làng xung quanh Mật độ dân cư làng nghề tới 3.000 người/km2

Đến năm 2001, trên địa bàn toàn tỉnh số lượng đã tăng lên 972 làng nghề, trong đó có 120 làng nghề được tỉnh công nhận; Nhưng đến nay đã có khoảng 1.160 làng nghề với khoảng 200 làng nghề được tỉnh công nhận và trên 80.000 hộ sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp [25]

Nhiều làng nghề truyền thống đã được khôi phục, ngành nghề thủ công được phát triển và được hình thành nhiều làng nghề mới Có nhiều mô hình sản xuất và chế biến nông sản như: Chế biến tinh bột sắn ở Minh Khai, Cát Quế, Dương Liễu (Huyện Hoài Đức); huyện Quốc Oai; Chương Mỹ; Chế biến dong giềng, chế biến gỗ, hàng mộc ở Liên Chung (huyện Đan Phượng), hàng

Trang 12

thêu ren Đồng Tâm, Mỹ Đức, Thường Tín,…

Các làng nghề trong tỉnh sản xuất theo mô hình nhỏ, phân tán theo hộ gia đình Phương thức và công cụ sản xuất của các làng nghề thô sơ lạc hậu, lao động bằng sức người là chính Đặc biệt môi trường làm việc độc hại chính là nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và cộng đồng Một số các ngành cơ khí, dệt, nhuộm, chế biến lương thực thải ra nhiều các chất độc hại, nước thải, khí thải không được xử lý, được đổ thẳng vào môi trường xung quanh của chính người lao động Nước thải của hoạt động sản xuất cơ khí mạ, đúc kim loại, như ở làng nghề kim khí Phùng Xá, Thành Thuý, Đa Sỹ, có chứa các hợp chất vô cơ độc hại như axit, muối, kim loại nặng không được xử

lý gây ảnh hưởng tới nguồn nước mặt và nước ngầm Hàm lượng SS trong nước mặt là 103 – 242 mg/lít; COD là 93  142 mg/lít Nước ao có nơi màu xỉn, có những vùng màu vàng lét (báo cáo hiện trạng môi trường Hà Tây) Sự phát triển của nghề chế biến tinh bột sắn ở xã Cát Quế, Dương Liễu, Minh Khai, Tân Hoà, Cư Đà, Cự Khê, đã gây ô nhiễm môi trường và nguồn nước Những năm gần đây nền kinh tế thị trường phát triển, sản xuất mang tính sản phẩm hàng hoá, sản phẩm càng gia tăng thì lượng nước thải càng lớn Trong khi đó hệ thống cấp, thoát nước trong làng nghề chưa được quy hoạch, nhỏ bé dẫn đến tình trạng quá tải gây tình trạng ứ đọng nước thải tại khu vực dân cư trong xã Lượng bã thải trong nước thải quá lớn gây bồi lắng, tích tụ, phân huỷ và thối dữa dẫn tới làm giảm khả năng thoát nước Nước ở các mương và ao hồ bị ô nhiễm, hàm lượng SS vượt 5 lần tiêu chuẩn cho phép, BOD5 vượt từ 4  9 lần Nước không có khả năng tự làm sạch, có màu đen, nổi váng bọt, cả vùng bị ô nhiễm nặng nề Mùi xù uế bốc lên từ các thuỷ vực

bị ô nhiễm, ruồi muỗi phát sinh nhiều tạo ra các ổ dịch bệnh Tỷ lệ dân cư mắc bệnh ngoài ra và mắt cao, Từ các làng nghề chuyên dệt, tẩy, nhuộm, thêu ren như làng nghề truyền thống Vạn Phúc, in nhuộm Dương Nội do quá

Trang 13

lạm dụng hoá chất, thuốc nhuộm với nhiều loại hoá chất khác nhau, rẻ tiền nên nước thải ở đây có độ mặn đặc biệt cao gấp từ 16,7  32,7 lần so với tiêu chuẩn cho phép Hàm lượng các chất ô nhiễm cao, lượng nước thải lớn gây ô nhiễm trầm trọng đến môi trường khu vực, sức khoẻ con người bị đe doạ nghiêm trọng, nhiều bệnh tật ở con người xuất hiện và phát triển gây hoang mang cho cuộc sống của cộng đồng

Các làng nghề ở tỉnh Hà Tây rất đa dạng, nó được phân bố tại các nơi trong tỉnh và nằm các khu vực dọc theo 2 tuyến quốc lộ nối Hà Tây với Hà Nội và đi các tỉnh khác, quốc lộ Láng - Hoà Lạc và quốc lộ 32 gặp quốc lộ 6 nối Hà Nội với Hoà Bình, Sơn La, Hệ thống giao thông trong khu vực là yếu tố quan trọng tác động thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển

Hình 1.1: Bản đồ phân bố các làng nghề Hà Tây

Trang 14

1.1.2 Quá trình sản xuất, phát triển kinh tế làng nghề

Trước giai đoạn đổi mới, trong cơ chế tập trung bao cấp, nhà nước giao

kế hoạch và thu mua sản phẩm Sản xuất được tập trung vào các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, lúc này các làng nghề trong tỉnh đã từng bước phát triển Song sự phát triển còn khó khăn, chưa có môi trường kinh doanh phù hợp Chính sách giá cả không hợp lý đã làm cho sản xuất giảm sút, thu nhập không đạt mong muốn Người thợ thủ công không sống được bằng nghề nghiệp của mình, nhiều người phải đi làm việc khác, còn nghệ nhân và thợ tài hoa ngày một ít đi

Thực hiện công cuộc đổi mới, các ngành nghề được khôi phục nhanh với các nhóm nghề: Chế biến nông sản thực phẩm, sản xuất các mặt hàng tiêu dùng, hàng thủ công, mỹ nghệ, sản xuất vật liệu xây dựng và các ngành nghề dịch vụ như: Vận tải, thương nghiệp và các dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp Theo các nguồn cung cấp của Chính phủ, trong vòng 10 năm gần đây các làng nghề có mức độ tăng trưởng (tính theo giá trị sản lượng) vào khoảng 8  10%/năm

Bảng 1.2: Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 phân theo thành

Năm Tổng số

có vốn đầu tư nước ngoài

Trung ương

Địa phương

Tập thể

Hỗn hợp

1999 2615,7 175,4 237,0 29,4 26,1 1244,7 108,8 794,4

2000 3080,1 223,7 283,5 40,3 49,6 1437,7 154,9 890,3

2001 3678,3 289,3 271,1 40,4 55,8 1660,7 346,8 1014,2

Trang 15

Từ sau năm 1992 trở lại đây, với sự cố gắng tìm tòi và bám sát nhu cầu thị trường nhạy bén trong việc cải tiến mẫu mã, thay đổi mặt hàng, đổi mới công nghệ, làm cho hàng hoá thích ứng với thị trường về số lượng, chất lượng cũng như chủng loại Sản xuất trong các làng nghề của tỉnh ngày càng phục hồi và phát triển Các hình thức sản xuất kinh doanh ngày càng đa dạng phong phú Nhiều làng nghề đã xác định được cách làm ăn mới, nắm được thông tin

về thị trường và có nhiều đối tác mới, biết áp dụng kỹ thuật mới trong từng công đoạn sản xuất Đồng thời đã tạo ra sản phẩm thích hợp với thị hiếu của người tiêu dùng

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp trong các làng nghề tỉnh Hà Tây được xem như một nguồn tiềm năng, tạo ra nhiều công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động khu vực nông thôn Đã thực sự góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hàng năm giá trị sản xuất công nghiệp do các làng nghề tạo ra chiếm từ 75  80% giá trị sản xuất của khối công nghiệp ngoài quốc doanh

1.1.3 Tổ chức và quy mô hoạt động của làng nghề

Phần lớn các xưởng ở các làng nghề là các doanh nghiệp gia đình Các doanh nghiệp hộ gia đình ở các làng nghề hiện nay có các thuận lợi giống

Trang 16

nhau, sự thuận lợi ở vị trí thị trường đó là các hộ vừa đóng vai trò sản xuất vừa tiêu thụ sản phẩm Chính vì vậy mà các nhân công lao động ở các hộ gia đình được tiền lãi cổ phần thay cho khoản tiền lương Doanh nghiệp hộ gia đình hoạt động, dưới các phương cách tổ chức rất khác nhau (có thể là sự phân chia tài sản cho con cái khi họ xây dựng gia đình) Phần lớn những người làm thuê là nông dân, lương của họ có thể thấp hơn so với lương các công ty ở thành thị và thường được trả theo mức lương thay đổi tuỳ theo điều kiện thị trường Các doanh nghiệp thông thường hoạt động với mức lương linh động hơn mức lương tính theo giờ bằng hợp đồng Khi cần giảm có thể dẫn đến ngày công thấp hoặc nghỉ việc định kỳ Cần tăng dẫn đến công lao động dài hơn Sự linh hoạt đó cho phép các xưởng hoạt động trên lợi nhuận liên cơ bản, hơn là chi phí trung bình cho lao động, một lợi nhuận dễ nhận thấy là sản phẩm thấp và thất thường Tuy nhiên, thậm chí lương trực tiếp nếu

có thể so sánh được với các doanh nghiệp Nhà nước và công ty tư nhân thì doanh nghiệp hộ gia đình vẫn hoạt động tốt hơn bằng việc trúng được các khoản chi trả theo luật lao động của Việt Nam

1.2 Tình hình phát triển sản xuất và hiện trạng môi trường ở một số làng nghề điển hình tỉnh Hà Tây

1.2.1 Tình hình phát triển sản xuất

Các làng nghề tỉnh Hà Tây được phân loại theo kiểu sản phẩm và phương thức sản xuất Điểm chung của sản xuất làng nghề là sản xuất và kinh doanh hộ gia đình với các loại hình sản xuất thủ công, bán cơ giới, công nghệ sản xuất đều mang tính chất truyền thống, công cụ lao động của người thợ chủ yếu là các thiết bị thủ công, đơn giản, do vậy chỉ sản xuất được với quy mô nhỏ, năng suất thấp Có nhiều làng sản xuất cùng một loại sản phẩm nhưng quy mô và hình thức khác nhau Có làng nghề thì sản xuất sản phẩm ra làm nguyên liệu cho làng khác Do công nghệ sản xuất thủ công, lạc hậu, hơn nữa

Trang 17

hầu hết các chủ sản xuất chỉ chạy theo lợi nhuận mà không quan tâm thích đáng đến bảo vệ môi trường nên tình trạng ô nhiễm môi trường các làng nghề ngày một nghiêm trọng Các biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm và quản lý môi trường làng nghề đang là một chủ trương lớn của Chính phủ và được nhiều cơ quan chức năng quan tâm

1.2.1.1 Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm

Đây là loại hình sản xuất tiểu thủ công nghiệp có từ lâu đời và phổ biến ở nông thôn Hà Tây (13 làng nghề) và chiếm tỷ trọng đứng thứ ba (15%) trong tổng số làng nghề của Tỉnh Được phân bố ở tất cả các huyện trong tỉnh và nhiều nhất ở xã Dương Liễu - Hà Tây giá trị sản phẩm đạt trên 30 tỷ đồng/năm Làng nghề chế biến tinh bột sắn, dong, miến dong, bún gạo khô Cát Quế - Hoài Đức là một trong những làng nghề tiêu biểu Là một xã đất chật người đông, được chia là 4 cụm dân cư chính; đó là cụm Xuân Thắng, Tam Hiệp, Tháp Thuổng và Cát Ngòi Trong 4 cụm dân cư trên, mỗi cụm dân cư có những đặc điểm quản lý khác nhau về môi trường Trong đó nổi cộm là cụm dân cư Xuân Thắng có số dân cư đông đúc chiếm 70% dân số trong toàn xã Đồng thời cụm dân cư này là khu tập trung các làng nghề chế biến nông sản và dịch vụ, là nơi phát sinh chất thải do chế biến nông sản và chăn nuôi lợn

Sản phẩm chính của làng nghề là bún khô, mỳ khô, Với quy mô sản xuất chủ yếu là hộ gia đình, toàn xã có khoảng 1300 hộ sản xuất tinh bột, 68

hộ làm miến, 63 hộ làm bún, mỳ khô, 167 hộ sản xuất nhà và 29 hộ sản xuất mật chiếm 70  80% trong tổng số hộ của xã Bún, mỳ khô được sản xuất theo quy trình công nghệ đơn giản

Theo quy trình công nghệ, gạo được vo trước khi ngâm, nhằm tẩy trắng Thời gian ngâm có thể kéo dài từ 4  8 tiếng Sau khi ngâm, gạo được xay nhỏ thành bột mịn, và được ép tách nước (độ ẩm còn lại khoảng 20%) trước khi vào máy tráng bánh hay đùn mỳ Bún và mỳ được phơi khô tự nhiên, từ

Trang 18

trước khi phơi khô được cắt với kích thước phù hợp yêu cầu thị trường Nước giếng khoan dùng cho toàn bộ quá trình sản xuất của làng nghề, khoảng 25.000m3/năm Nhiên liệu được sử dụng là than hoặc điện

Trang 20

1.2.1.2 Làng nghề tái chế phế thải - tái chế sắt

Làng nghề Vĩnh Lộc trước kia chủ yếu làm nghề rèn, gia công các loại mặt hàng công cụ thô sơ như liềm, hái, cày, cuốc, dao, kéo, khi cơ chế thị trường ra đời, lượng phế thải kim loại rồi rào, nhu cầu sử dụng của người dân cao đã thúc đẩy làng nghề Vĩnh Lộc phát triển mạnh mẽ Sản phẩm làng nghề ngoài các mặt hàng truyền thống còn làm thêm cửa sắt, cửa sổ, cửa xếp, bản lề, Từ năm 1997 làng đã có 2 lò nấu tái chế sắt bằng nhiệt năng và cho tới nay đã có 33 lò mạ kim loại lớn nhỏ

Các hộ đúc thép ở Vĩnh Lộc, Phùng Xá đều sử dụng lò nấu thép bằng nhiệt năng, nhiêu liệu tiêu thụ là than Kiple dạng cục, nhiệt độ trong lò khoảng 1.000  1.3000C Thép được nung trong lò từ nhiệt độ 500  9000C, trước khi chuyển sang công đoạn cán định hình sản phẩm Bên cạnh các dạng trang thiết

bị chính này, cơ sở còn sử dụng một số thiết bị phụ trợ khác như hàn hơi, hàn điện, các bể mạ tự tạo,

Nghề tái chế sắt thép đã phát triển và mở rộng không ngừng, lan dần sang các khu vực lân cận, với công đoạn tái chế chủ yếu là đúc thép Trong quá trình sản xuất các cơ sở đã và đang sử dụng một số hoá chất như H2SO4, ZnSO4, Cr2O3, NaO4, Nước thải của quá trình gia công, xử lý bề mặt trên loại nước bể mạ được xả thải thẳng ra hệ thống thoát nước chung của làng mà không qua xử lý Đây là nguồn ô nhiễm rất nghiêm trọng đối với môi trường đất và nước

Trang 21

Nguyên liệu thu mua Phân loại

Lò đúc thép Điện

Khuôn đúc Phôi

Thùng quay HNO3 Than Lò ủ thép

Trấu

Mạ kẽm

H 2 SO 4 ,HCN, N n , NaOH, nước

Trang 22

Hình 1.3: Quy trình tái chế sắt

1.2.1.3 Làng nghề dệt nhuộm

Làng vạn phúc thuộc thành phố Hà Đông tỉnh Hà Tây, nằm cạnh quốc

lộ 6, giáp thành phố Hà Nội Làng có hơn 1.276 hộ trong đó có hơn 1.092 hộ sản xuất và kinh doanh các mặt hàng dệt lụa tơ tằm thu hút hơn 1.000 lao

động trên tổng số hơn 2.700 lao động trên địa bàn (TCCN- tháng 1/2007- Hà Tây) Tại đây đã hình thành nhiều doanh nghiệp kinh doanh hàng dệt lụa với

vốn đầu tư lớn, nhiều công nghệ và máy móc tiên tiến đã được ứng dụng để

đa dạng hoá mẫu mã, chủng loại và tăng giá trị sản phẩm

Với đặc thù thuận lợi về vị trí địa lí, thuận lợi trong việc giao thông đi lại, việc sản xuất nghề dệt ở Vạn Phúc rất có điều kiện để phát triển gắn với

du lịch làng nghề, góp phần đáng kể cho việc phát triển kinh tế địa phương Hàng năm, giá trị sản xuất kinh doanh của làng đạt hơn 100 tỷ đồng, sản lượng lụa đạt hơn 2 triệu m/năm, cho thu nhập bình quân đầu người đạt trên

1,4 triệu/người/tháng.(TCCN- tháng 1/2007- Hà Tây, trang 1)

Trên cơ sở điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề dệt lụa Vạn Phúc - Hà Tây cho thấy: Các hộ sản xuất khi thực hiện công đoạn chuội nhuộm lụa thường dùng các thiết bị chuội nhuộm dung tích khoảng từ 0,5 - 1,0 m3 (Đặng Kim Chi)[24] Lượng nước thải sản xuất, thải ra môi trường chưa qua xử lí trung bình cho mỗi mẻ chuội nhuộm là tương đối lớn Tổng lượng nước thải trong quá trình sản xuất hàng tháng là vấn đề đáng quan tâm Độ kiềm, COD, BOD5, SS, độ màu trong nước quá cao so với tỉ lệ cho phép, gây ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng tới môi trường

Nước thải và phương án xử lí nước thải nhằm làm giảm ô nhiễm môi trường ở các hộ sản xuất dệt nhuộm quy mô nhỏ làng nghề Vạn Phúc được thực hiện theo sơ đồ sau:

Trang 23

1 Song chắn rắc, lưới chắn

2 Thiết bị lọc qua xỉ than với lắng sơ bộ, điều chỉnh pH

1.2.2 Hiện trạng môi trường

Như chúng ta đã biết, công nghệ sản xuất tại các làng nghề thuộc loại lạc hậu, sản xuất chủ yếu theo phương thức thủ công, dựa vào kinh nghiệm là chính Bên cạnh đó trang thiết bị sử dụng chắp vá, hoặc là loại đã hết khấu hao tại các cơ sở sản xuất công nghiệp Do đó định mức tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu lớn, giá thành sản phẩm cao, khó cạnh tranh trên thị trường và đồng thời tình trạng ô nhiễm môi trường cao, môi trường không khí bị ô nhiễm nặng nề Dựa vào kết quả phân tích quy trình sản xuất, loại nguyên, nhiên liệu sử dụng có thể tóm tắt theo bảng 1.3

Bùn cặn lắng

Trang 24

Xỉ than, bông vụn, kén, phế liệu, tơ vụn

Nhiệt độ, tiếng ồn Bụi

3 Làng nghề tác chế giấy

CO, CO 2 , SO 2 ,

NO x , Cl 2 , hơi kiềm

COD, BOD,

SS, PH, S2 Xỉ than, nhựa, đinh gim, băng dính Nhiệt độ, tiếng ồn bụi

4 Làng sắt thép đúc kim loại CO, CO2 , SO 2 ,

NO x ,

Dầu mỡ, PH, acid, CN-, kim loại nặng Xỉ than, xỉ kim loại

Bụi, bụi kim loại

5 Làng nghề đồ gốm mỹ nghệ Hơi dung môi sơn Dăm bào, gỗ vụn, mùn cưa Tiếng ồn Bụi

6 Các làng nghề SX vật liệu xây dựng CO, CO2 , SO 2 ,

NO x , Xỉ than, sản phẩm bị hỏng, đá vụn Tiếng ồn Khói, bụi Ngoài các đặc trưng chưng về trình độ kỹ thuật và phương thức tổ chức hoạt động sản xuất của làng nghề như trên, thì các làng nghề với những loại hình sản phẩm khác nhau, sản lượng và chất thải khác nhau ngoài việc tạo ra tốc độ phát triển, thu nhập cải thiện đời sống cho người dân ở nông thôn làng nghề Song kéo theo sự ô nhiễm môi trường ở những cấp độ khác nhau tại các địa phương làng nghề đó Đây là vấn đề cần được quan tâm trong thời đại công nghiệp hoá và hiện đại hoá hiện nay

Theo kết quả đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề năm 2005 của Sở Tài nguyên môi trường Hà Tây cho thấy: Hầu hết các làng nghề phát triển đều

có vấn đề môi trường đang ở mức độ báo động, các làng nghề hiện nay hoạt

Trang 25

động ở mức độ khôi phục và duy trì, tình trạng ô nhiễm bắt đầu xảy ra Ô nhiễm môi trường nước mặt là vấn đề đang cần được quan tâm nhất

Có thể tiến hành đánh giá phân loại mức độ ô nhiễm của các làng nghề tỉnh Hà Tây như sau [6]:

Các làng nghề ít ô nhiễm là các làng nghề có hầu hết các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường đều dưới TCCP, các chất thải ít độc hại, dễ xử lý, tải lượng và lưu lượng không lớn

Làng nghề ô nhiễm vừa là các làng nghề có một số chỉ tiêu chất lượng môi trường vượt TCCP, các chất thải có thành phần độc hại gây ô nhiễm chủ yếu với một thành phần môi trường, tải lượng thải trung bình vì quy mô sản xuất nhỏ

Làng nghề ô nhiễm nặng là các làng nghề có chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường vượt TCCP, gây ô nhiễm nhiều thành phần môi trường, các chất thải có thành phần độc hại và nguy hiểm, tải lượng lớn, ảnh hưởng rõ nét tới sức khoẻ cộng đồng và gây ô nhiễm môi trường nặng nề

Tuy nhiên, căn cứ việc đánh giá phân loại mức độ ô nhiễm này còn nhiều tranh cãi và chỉ có ý nghĩa trong mội thời gian nhất định Do khả năng biến động rất lớn, phát triển nhanh và suy yếu cũng nhanh Tuỳ thuộc vào nhu cầu

xã hội, nên mức độ ô nhiễm môi trường cũng theo đó thay đổi từ nhẹ sang nặng và ngược lại

Các loại hình sản xuất khác nhau có mức độ ô nhiễm môi trường làng nghề khác nhau

1.2.2.1 Làng nghề chế biến lương thực thực phẩm

Kết quả đo đạc phân tích hiện trạng môi trường tại các làng nghề Cát Quế, Dương Liễu - Hà Tây cho thấy:

Chất thải sản xuất và gây ô nhiễm môi trường ở xã Cát Quế, Dương Liễu

là nước thải và bãi thải từ sản xuất tinh bột Các chất thải này đều chưa được

Trang 26

xử lý đúng kỹ thuật đã gây ra ô nhiễm trầm trọng đối với môi trường nước trong xã Theo số liệu khảo sát của đề tài “Nghiên cứu công nghệ thích hợp nhằm xử lý chất thải … và từ các cơ sở sản xuất quy mô vừa và nhỏ”(KHCN -

07, Bộ KHCN&MT)[4], hàm lượng cặn lơ lửng SS, BOD5, COD trong nước thải rất lớn, vượt TCCP đối với nguồn thải vào môi trường nước mặt loại B là từ 6,6

- 22,5 lần về chỉ tiêu cặn lơ lửng từ 7,6 - 104 lần về chỉ tiêu BOD5 và từ 5,8 - 77,5 lần về chỉ tiêu COD Nước thải từ sản xuất tinh bột dong và sản xuất tinh bột sắn làm cho môi trường nước mặt (ao, hồ) ở xã Cát Quế, Dương Liễu bị ô nhiễm nặng nề, lượng bã thải trung bình hàng ngày thải ra môi trường là 168,6 tấn

Tình trạng bã thải cùng với nước thải sản xuất từ các hộ chế biến thoát theo mương rãnh mà không qua xử lý, xuống các ao hồ vẫn tiếp tục xảy ra, nước tiêu thoát các cặn bã đã tích đọng và phân huỷ gây mùi hôi thối trên mặt nước, không chỉ ô nhiễm cho khu dân cư tại chỗ mà còn lan ra các vùng lân cận Qua khảo sát của Sở Khoa học - Công nghê & Môi trường và sở Công nghiệp Hà Tây năm 1994, lượng bã thải rữa và bùn đất trong khu vực Dương Liễu là trên 4000m3 có 300 ha diện tích mặt nước bị ô nhiễm Sự ô nhiễm này không chỉ làm ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt của dân cư mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới cảnh quan làng xóm

Môi trường không khí: Hàm lượng H2S cũng như NH3 trong không khí của các làng nghề chế biến nông sản TCVN rất nhiều lần, như H2S vượt TCVN 3 - 4 lần, NH3 vượt sấp sỉ 2 lần, H2S và NH3 phátsinh từ chất thải chăn nuôi của quá trình liên hoàn kết hợp chế biến nông sản và chăn nuôi lợn thịt tại các làng nghề này (trung bình mỗi nhà nuôi từ 5 - 7 con lợn) và các chất hữu cơ có trong nước thải bị phân huỷ trong điều kiện yếm khí là do không khí tại các làng nghề bị ô nhiễm bởi hai loại khí trên

Từ các kết quả phân tích trên, có thể nhận xét hoạt động sản xuất của

Trang 27

làng nghề chế biến lương thực thực phẩm chủ yếu gây ô nhiễm môi trường nước, mặc dù lượng nước thải không lớn Song song với hoạt động của nghề phụ, người dân đã tận dụng chất thải sản xuất để chăn nuôi và đây là nguyên nhân chính dẫn đến sự ô nhiễm khí và nước một cách trầm trọng

1.2.2.2 Làng nghề tái chế phế thải - tái chế sắt

Kết quả phân tích chất lượng môi trường cụm làng nghề tái chế kim loại được so sánh với TCVN 1995 tương ứng có thể đưa ra một số nhận xét về hiện trạng môi trường như sau:

- Môi trường không khí:

Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí của mọi làng nghề tái chế kim loại được trình bày trong bảng (3-4) cho thấy:

Hàm lượng bụi trong không khí của làng nghề khảo sát đều vượt quá TCVN từ 1 đến 10 lần mà đặc biệt khu vực cạnh lò đúc thép hàm lượng bụi rất cao (khoảng 3mg/m3) Bên cạnh đó, bụi còn chứa kim loại chủ yếu là Fe với hàm lượng cũng rất lớn ( khoảng 0,5mg/m3) nên không khí có mùi “tanh” Hàm lượng các chất khí khác khảo sát thấp hơn tiêu chuẩn, nhưng cần lưu ý rằng các cơ sở này hoạt động suốt ngày đêm do đó mặc dù hàm lượng các khí như SO2, CO và NO2 không vượt TCVN trung bình trong một giờ nhưng ảnh hưởng của chúng đến sức khoẻ cộng đồng là rất lớn

- Môi trường nước:

Kết quả phân tích chất lượng môi trường nước thải của cụm làng nghề tái chế kim loại cho thấy nước thải của các hộ sản xuất chủ yếu chủ là nước làm mát nên hàm lượng các chất ô nhiễm không vượt TCVN Bên cạnh đó, làng Vĩnh Lộc còn sản xuất các loại sản phẩm mạ nên nước thải của các hộ gia đình này vượt tiêu chuẩn, cụ thể là:

Nước thải mang tính axit và có độ PH cao (3 - 5)

NH+4vượt tiêu chuẩn 5,6 lần

Trang 28

Fe vượt tiêu chuẩn 660 lần

Zn vượt tiêu chuẩn gần 10 lần

Mặc dù nước thải của các hộ sản xuất ít ô nhiễm nhưng cũng gây ô nhiễm cho nguồn nước mặt trong làng như hàm lượng các chất hữu cơ, COD vượt tiêu chuẩn trên dưới 2 lần, hàm lượng kim loại (Fe, Zn) cũng như dầu mỡ, khoáng không vượt quá tiêu chuẩn nhưng giá trị cũng tương đối cao, chỉ tiêu vi sinh vượt tiêu chuẩn từ 2  3 lần

- Tiếng ồn và yếu tố khí hậu:

Tiếng ồn là loại ô nhiễm đặc trưng của làng nghề Hầu hết tại các điểm khảo sát của các làng nghề, tiếng ồn đều vượt TCVN từ 1 đến 15dBA Tiếng

ồn cao đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân trong làng Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm nhiệt cũng là điểm đáng quan tâm vì tại các khu vực có lò nung, lò đúc, nhiệt độ môi trường cao hơn so với điểm nền 5 

COD (mg/l)

Zn (mg/l)

Trang 29

Lò nấu thép 40 65 1,0 78,3 80,7 77,3 35,9 47,3 61,9 68,9 76,5 Xưởng cán

thép

39 85 1,0 79,7 80,3 78,8 50,3 62,2 74,5 74,6 69,2

Đường làng 38 80 1,5 77,6 79,9 78,1 51,2 59,8 72,4 72,7 71,1 Đường cuối

làng

39 82,5 1,5 77,1 71,5 69,5 59,4 64,3 72,8 77,0 69,4

(Nguồn: Sở Khoa học công nghệ và môi trường năm 2001) Kết quả đo các thông số vi khí hậu và mức độ được trình bày trong bảng (3-7), kết hợp với số liệu phân tích các thành phần môi trường có thể rút ra kết luận rằng hoạt động của các làng nghề tái chế kim loại gây ô nhiễm chủ yếu về ô nhiễm khí (bụi, bụi kim loại), tiếng ồn và nhiệt

Trong quá trình sản xuất, các cơ sở đã và đang sử dụng một số hoá chất như H2SO4, ZnSO4, CrO3, NaOH, … Nước thải của quá trình gia công xử lý bề mặt kim loại, nước bể mạ được xả thải thẳng ra hệ thống thoát nước chung của làng mà không qua xử lý Đây là nguồn gây ô nhiễm rất nghiêm trọng đối với môi trường đất và nước

Trang 30

Kết quả phân tích hàm lượng kim loại trong các mẫu nước thể hiện ở bảng 1.6

Bảng 1.6: Hàm lượng một số kim loại nặng trong nước thôn Vĩnh Lộc

Cu (mg/l)

Pb (mg/l)

Kết quả phân tích cho thấy:

- Hàm lượng Fe dao động từ 14,2 đến 130mg/l, vượt quá ngưỡng cho phép từ 7- 65 lần Mặt nước tại mương tưới hàm lượng sắt cao làm cho nước thường xuyên vàng, có mùi hắc thối

- Hàm lượng Zn dao động từ 1,4 đến 3,1 mg/l vượt 1,5 lần so với tiêu chuẩn cho phép với nước mặt (TCVN 5945/1995)

- Hàm lượng Cu dao động trong khoảng 0,6 -1,2 mg/l vượt quá tiêu chuẩn cho phép

- Hàm lượng Pb dao động từ 0,09 đến 1,5 mg/l đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép Kết quả phân tích các mẫu đất trình bày trong bảng 1.7 sau:

Bảng 1.7: Hàm lượng một số kim loại trong mẫu đất thôn Vĩnh Lộc (ppm)

Trang 31

Pb2+ 26,12 14,23 31,63 28,28 30,79 25,86 34,36 30,76 Ghi chú: Mẫu 1, 2, 3: Mẫu đất sử dụng nước mương thoát nước để tưới

Mẫu 4: Mẫu đất gần khu dân cư

Kết quả phân tích mẫu đất cho thấy:

- PHKCl dao động từ 5,72 đến 6,21 thuộc loại đất trung tính và gần trung tính

- Hàm lượng Fc2+ ở tầng o - 20cm dao động từ 110,8 - 210,8 PPm Hàm lượng Fe2+ cao có ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh trưởng và làm ngừng trệ

sự phát triển của rễ cây lúa

Như vậy quá trình tái chế sắt, mạ kẽm bản lề gia công cơ khí đã làm tăng đáng kể hàm lượng Fe và Zn trong đất và nước của khu vực làng nghề này, làm ảnh hưởng tới môi trường sống của vi sinh vật và con người trong khu vực

Bảng 1.8: Kết quả phân tích chất lượng không khí tại làng nghề dệt nhuộm:

Trang 32

2 Cơ sở sản xuất tơ tằm

(Nguồn: Sở KH-CN & Môi trường Hà Tây)

- Môi trường nước: Đối với loại hình sản xuất dệt nhuộm, hầu hết các hộ sản xuất đều chưa có hệ thống xử lý nước thải, nước thải được thải thẳng ra mương tiêu thoát nước gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Trong quá trình sản xuất tại làng nghề dệt nhuộm Vạn Phúc có sử dụng hoá chất thuốc nhuộm nên nước thải ở đây các chỉ tiêu COD, BOD, độ kiềm, độ màu cao, chứa nhiều chất hữu cơ độc hại và các loại hoá chất hàm lượng các chất hữu

cơ và các chất dinh dưỡng trong nước khá cao Tuỳ theo tính chất và loại hình sản xuất mà mức độ ảnh hưởng của nước thải đến môi trường khác nhau

1.3 Tác động của làng nghề đến đời sống kinh tế - xã hội

Báo cáo của Sở Khoa học - Công nghệ - Môi trường Hà Tây cho rằng sự phát triển của các làng nghề đã làm cho chất lượng của môi trường, đất, nước không khí bị suy giảm một cách nghiêm trọng, sản xuất đồ mỹ nghệ Hạ Trái, Sơn Đồng, rèn dao kéo Đa Sỹ, sản xuất da giày Giẽ Thượng Các làng nghề gây ô nhiễm vừa, là vùng sản xuất đồ gỗ cao cấp Hữu Bằng, mây tre đan Phúc Nghĩa, Tràng Sơn, dệt Vạn Phúc, Các làng nghề gây ô nhiễm nặng, là các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm: Dương Liễu, Cát Quế, Minh Khai, Dương Nội, La Phù,

Ở làng Cát Quế, Dương Liễu, các chất thải do sản xuất tinh bột, chăn nuôi là vấn đề gây cấn nhất Mỗi năm toàn xã sản xuất khoảng trên 20.000 tấn tinh bột, thải ra 8.000 tấn bã, 2000 tấn vỏ, 600.000m3 nước bẩn Toàn xã nuôi khoảng 7.000 con lợn mỗi năm thải 2.500 tấn phân lợn và 4.00m3 nước bẩn

Trang 33

Toàn xã với 10.479 nhân khẩu thì một năm thải khoảng 1.144 tấn rác, 149.000m3 nước sinh hoạt, lượng chất thải này trước đây đổ xuống ao, làm cho tất cả các ao trong toàn xã bị ngập bùn hữu cơ, 35km đường cống được hoàn thiện, nối tất cả các cống của các hộ gia đình với hệ thống cống thải chung Nhưng nước thải và chất thải khác vẫn bị đổ xuống đây, nên tình trạng tắc cống, ngập úng khi mưa vẫn tồn tại Với không gian sản xuất chật hẹp, cường độ lao động căng thẳng, điều kiện lao động thấp kém, cộng với một lượng chất thải rất lớn gây ô nhiễm đất, nguồn nước và không khí, đã và đang

là nguy cơ đe doạ sức khoẻ và môi trường sống

Ô nhiễm, suy thoái môi trường ở nhiều dạng, nhiều yếu tố, thành phần môi trường ở các làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng Nhìn chung hoạt động sản xuất làng nghề hiện nay đều ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường ở các mức

độ khác nhau Đó là sự ô nhiễm suy thoái môi trường đất, nước, không khí, môi trường khu dân cư, tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan làng xã dưới nhiều dạng lý học, hoá học, sinh học,

Ở tỉnh Hà Tây, tình trạng ô nhiễm nguồn nước đang ở mức độ báo động

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, như chưa có quy hoạch hệ thống thoát nước một cách hoàn chỉnh nên hầu như toàn bộ diện tích ao, hồ trong vùng bị ô nhiễm nặng (nước có váng, màu đen, mùi hôi) Những năm gần đây, do dân số tăng, nghề chế biến lương thực thực phẩm phát triển, các

hộ gia đình mở rộng sản xuất bằng cách mở rộng diện tích mặt bằng, cho nên

ao hồ dần dần bị lấp đi, các thuỷ vực nước bị thu hẹp, lượng nước thải bị đẩy

ra các vùng xung quanh Các làng nghề bị ô nhiễm nhiều nhất là Cát Quế, Dương Nội, La Phù, Vạn Phúc, Minh Khai, Dương Liễu Đó là các làng nghề dệt nhuộm và chế biến nông sản Các làng nghề này thường sử dụng nhiều hoá chất, lại không được xử lý khi thải nên hàm lượng ô nhiễm rất cao

1.3.1 Nguyên nhân và nhân tố tác động chủ yếu đến môi trường ở

Trang 34

các làng nghề

Thực trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường ở các làng nghề nông thôn tỉnh Hà tây là hệ quả bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân và nhân tố tác động chủ yếu sau:

Nguyên nhân nội tại bắt nguồn từ chính các đặc điểm, tính chất và điều kiện của quá trình phát triển của các làng nghề Trong đó đặc điểm của các loại hình ngành nghề, quy mô và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, nguồn nguyên liệu và trang bị công nghệ kỹ thuật của các hộ, cơ sở sản xuất, là những yếu tố liên quan trực tiếp đến các yếu tố, thành phần môi trường

và rác thải gây ô nhiễm, suy thoái môi trường của làng nghề

Tuy nhiên, qua nghiên cứu thực tế cũng thấy một lý do quan trọng là sự chậm trễ trong công tác quy hoạch phát triển và quy hoạch bảo vệ môi trường của các địa phương, các làng nghề, và của chính các hộ, cơ sở sản xuất kinh doanh ngành nghề Sự phát triển tự phát của các ngành nghề, làng nghề trong điều kiện thiếu hụt về nhận thức, năng lực và hành vi ứng xử môi trường của người dân, các cơ sở sản xuất kinh doanh và cộng đồng làng nghề là những nhân tố chủ quan góp phần làm tăng các nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái môi trường của làng nghề

Tình trạng gia tăng ô nhiễm, suy thoái môi trường ở các làng nghề Hà Tây còn có những lý do khách quan và chủ quan thuộc về công tác tổ chức quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường Những bất cập về thể chế chính sách,

về bộ máy và cơ chế quản lý, về năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước

về bảo vệ môi trường và vai trò cấp chính quyền địa phương, là những lý

do quan trọng dẫn tới sự chậm trễ trong việc kiểm soát, ngăn chặn và xử lý quá trình phát thải ô nhiễm, suy thoái môi trường và những tác động xấu của

1.3.2 Hệ quả tác động của tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường

Trang 35

đến sức khoẻ và đời sống của dân cư và người lao động

Chất thải trong hoạt động sản xuất của các làng nghề ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sức khoẻ của người sản xuất và cộng đồng nói chung

Số liệu thống kê của phòng y tế các huyện và trạm y tế xã về tình hình sức khoẻ của nhân dân làng nghề cho thấy: ở từng làng nghề khác nhau thì các bệnh nghề nghiệp cũng như tỉ lệ người mắc bệnh nghề nghiệp có khác nhau: ở Làng nghề cơ khí, đúc, sản xuất nguyên vật liệu… do sử dụng lượng than lớn để phục vụ sản xuất nên tỉ lệ người mắc bệnh về phổi, phế quản cao; Làng nghề tẩy nhuộm vải sợi, tẩy, mạ kim loại, sử dụng nhiều hoá chất độc hại, kim loại nặng thì người mắc bệnh ung thư cao, tuổi thọ giảm; Làng nghề gây ô nhiễm nguồn nước như chế biến lương thực thực phẩm, mây tre đan, chế biến gỗ, thì người mắc bệnh ngoài da, bệnh mắt hột, bệnh phụ khoa tăng; Làng nghề gây tiếng ồn lớn thì tỉ lệ người mắc bệnh não, thần kinh, cao tuổi thọ giảm

Cụ thể như sau: Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm Cát Quế, Dương Liễu (Hà Tây) hằng năm có tỉ lệ người mắc bệnh ngoài da, đau mắt hột chiếm hơn 70% dân số do ô nhiễm nguồn nước Qua điều tra sức khoẻ của

223 người dân Bát Tràng thì có 76 người mắc bệnh về đường hô hấp và 23 người bệnh Lao (VNN6/6/1996) Trong năm 1995 có 23 người làng này chết

vì bệnh ung thư Cư dân làng gốm này chiếm 70% số bệnh nhân bị ung thư ở các bệnh viện Hà Nội năm 1996 (VNN 03/6/1997) Theo kết quả điều tra

2270 người lao động trong các ngành ở làng nghề tình trạng sức khoẻ của người lao động thường gặp những bệnh như những bệnh của người lao động trong các thành phần kinh tế khác của đất nước (Doanh nghiệp nhà nước, Công ty TNHH, Tư nhân, ) Tỉ lệ người lao động mắc bệnh đau lưng, các bệnh về hô hấp cao hơn so với các loại bệnh khác So sánh các loại bệnh của người lao động trong 4 ngành kinh tế được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 1.9: So sánh các loại bệnh của người lao động trong 4 ngành kinh tế

Trang 36

Đơn vị tính: %

gặp

Làng nghề

DN ngoài quốc doanh

Sản xuất

NN

DN nhà nước

(Nguồn: Môi trường lao động và tình trạng sức khoẻ người lao động trong các làng

nghề truyền thống Việt Nam - Vương Nam)

1.4 Hiện trạng công tác quản lý môi trường làng nghề tỉnh Hà Tây

Công tác quản lý môi trường đang dần đi vào nền nếp, hệ thống quản lý môi trường tỉnh được thành lập và bước đầu được kiện toàn Tuy nhiên, vấn

đề quản lý môi trường làng nghề đang còn nhiều bất cập Khâu đánh giá thực trạng môi trường và đưa ra các đề xuất về giải pháp quản lý đối với môi trường làng nghề hiện đang còn nhiều hạn chế Nhằm giải quyết các vấn đề trên tác giả đã tìm hiểu, phân tích đánh giá hệ thống quản lí môi trường của tỉnh Hà Tây, trước hết về bộ máy tổ chức quản lý môi trường của địa bàn nghiên cứu

1.4.1 Bộ máy tổ chức quản lý môi trường

Bộ tài nguyên và

UBND huyện, thị xã

Phòng quản lý môi trường

1 CB bán chuyên

trách về MT

Trang 37

Hình 3.1: Hệ thống quản lý môi trường được thành lập theo sơ đồ

Từ khi Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 27/12/1993 và có hiệu lực từ ngày 01/1/1994 Công tác quản lý môi trường được hoạt động với quy mô và hiệu quả hơn Phòng Quản lý môi trường được kiện toàn và là phòng chuyên môn độc lập, hoạt động trong lĩnh vực quản lý môi trường nhằm phục vụ cho công tác quản lý môi trường một cách hiệu quả Với biên chế chính thức 05 cán bộ

và 03 hợp đồng công việc

Ở cấp huyện có 01 cán bộ chuyên trách về quản lý môi trường, ở cấp xã, phường, thị trấn có một cán bộ bán chuyên trách về môi trường giúp UBND cùng cấp trong việc quản lý môi trường ở địa phương

Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành nhiều văn bản pháp quy làm cơ sở cho việc triển khai các hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường như Quy định về việc lập và thẩm định báo cáo ĐTM; Quy định về chính sách khuyến khích và biện pháp quản lý các hoạt động khoa học công nghệ và môi trường trên địa bàn tỉnh; Quy chế về bảo vệ môi trường tỉnh, các quy hoạch, kế hoạch, định hướng, các đề án cụ thể để bảo vệ môi trường, phục vụ cho phát triển kinh

tế bền vững của địa phương

Trang 38

Việc thực hiện chủ trương và các giải pháp phát triển làng nghề trong tỉnh được Tỉnh uỷ giao cho Sở Công nghiệp tỉnh kết hợp với các ban ngành khác liên quan, chủ trì thực hiện và giám sát

Đứng trước thực trạng môi trường làng nghề như trên Bộ Công nghiệp

và Uỷ ban nhân dân tỉnh đã có những quyết sách trình Chính phủ phê duyệt

về xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đa nghề, chuyển một phần đất nông nghiệp sang đất chuyên dùng cho mục đích sản xuất công nghiệp để di chuyển các cơ sở sản xuất trong làng nghề ra cụm công nghiệp tập trung Giải pháp này tạo cho các cơ sở có một mặt bằng sản xuất ổn định, phù hợp với năng lực hiện có, có tính đến xu hướng phát triển lâu dài nhằm đầu tư phát triển kết hợp với công nghệ hiện đại với công nghệ

cổ truyền, đồng thời cũng góp phần cho công tác quản lý nhà nước của các ngành chức năng được thuận lợi Đặc biệt đây là những giải pháp giảm thiểu đến mức thấp nhất ô nhiễm và bảo vệ môi trường sống của con người Bởi vì, với hình thức sản xuất tập trung thì việc tách được khu sản xuất ra khỏi khu dân cư đã cải thiện đáng kể chất lượng môi trường sống của nhân dân và có thể đầu tư được hệ thống xử lý chất thải tập trung, giảm thiểu ô nnhhiễm và kiểm soát được các nguồn thải Điều này có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý môi trường

Nhằm thu hút và khuyến khích các nhà đầu tư, các cơ sở sản xuất nằm trong khu dân cư ra khu công nghiệp Uỷ ban nhân dân tỉnh đã có nhiều chính sách và biện pháp khuyến khích ưu đãi đầu tư phát triển công nghệ trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên ở một số địa phương có làng nghề phát triển, do điều kiện

tự nhiên và quỹ đất có hạn nên việc di chuyển hết các cơ sở sản xuất nằm trong khu vực dân cư ra cụm công nghiệp còn chưa thực hiện được Số lượng đất quy hoạch cụm công nghiệp nhỏ so với số thực tế để di chuyển hết các cơ

Trang 39

sở sản xuất này Do đó việc mở rộng thêm khu quy hoạch ở nơi này đang được quan tâm, nghiên cứu

1.4.2 Công tác quản lý chất thải làng nghề của địa phương

Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25/5/1998 của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam “Về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” xác định 4 quan điểm cơ bản là:

- Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân

- Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng, đảm bảo phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên tắc chủ đạo kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên

- Kết hợp phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết TW 2 (khoá VIII), kế hoạch thực hiện chỉ thị 36/CT-TW của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá, các đề án về phát triển công nghệ thông tin, công nghệ sinh học Các chính sách, kế hoạch về bảo vệ môi trường của địa phương được xây dựng có sự tham gia của các cơ quan, ban ngành của Trung ương và địa phương, nhưng hầu như không có sự tham gia của cộng đồng dân cư Hiện nay, đối với các chủ trương, chính sách, kế hoạch họ chỉ được thông báo và thực hiện Đây là một hạn chế, bởi vì họ chính là những người có thể ủng hộ tích cực hoặc phản đối cũng như là những người giám sát tích cực nhất đối với các chính sách, kế hoạch này

Trang 40

Sở Tài nguyên và môi trường đã tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh xây dựng quy định về bảo vệ môi trường đối với các dự án đầu tư và các cơ

sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Bắc buộc phải đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đối với các cơ sở đang hoạt động và các dự án có quy mô lớn Điều này góp phần kiểm soát và quản lý nguồn thải từ các hộ sản xuất làng nghề Sản xuất làng nghề ngày càng phát triển về cả quy mô và vị trí sản xuất Các cơ sở sản xuất trong làng nghề mở rộng sản xuất hoặc thành lập cơ sở mới đều phải thực hiện ĐTM và xây dựng hệ thống xử lý

Tiến hành cụ thể hoá Luật Bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành quy chế bảo vệ môi trường Quy chế này chỉ rõ tổ chức quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường trên cơ sở các nội dung:

- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường

- Chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện các quy định của nhà nước và của

Uỷ ban nhân dân tỉnh về công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn

- Sở Tài nguyên môi trường chủ trì tổ chức và chịu trách nhiệm thực hiện việc quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường: Xây dựng các văn bản pháp quy, quy hoạch chiến lược và lập kế hoạch bảo vệ môi trường, tham gia quy trình xét duyệt các dự án đầu tư trên địa bàn Cùng các sở ban ngành liên quan xây dựng kế hoạch hàng năm, trung hạn và dài hạn về công tác bảo vệ môi trường, giám sát việc thực hiện Luật Bảo vệ môi trường và các kế hoạch đã đề

ra Thanh tra kiểm tra hướng dẫn việc thực hiện Luật Bảo vệ môi trường và các băn bản quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường, kiểm soát nguồn phát sinh chất thải trên địa bàn, lập báo cáo hiện trạng môi trường trên địa bàn tỉnh Tổ chức thực hiện công tác truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức môi trường các huyện, thị xã trong việc tổ chức thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường và quy định của Uỷ ban nhân dân tỉnh về bảo vệ môi trường

Ngày đăng: 27/10/2015, 10:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- Báo cáo “Hiện trạng môi trường tỉnh Hà Tây” - Sở Khoa học Công nghệ Môi trường tỉnh Hà Tây, tháng 5/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng môi trường tỉnh Hà Tây”
2- Phạm Ngọc Anh (2000) - “Được - mất” từ một làng nghề tái chế””. Tạp chí Bảo vệ môi trường (số 11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Được - mất” từ một làng nghề tái chế"”
3- Bộ Khoa học và công nghệ môi trường (2002) - Tuyển tập 31 tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường. Trung tâm Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập 31 tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường
Tác giả: Bộ Khoa học và công nghệ môi trường
Nhà XB: Trung tâm Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng
Năm: 2002
5- “Phát triển làng nghề nông thôn - Những vấn đề môi trường cần giải quyết” - Tạp chí khoa học công nghệ. Hà Nội tháng 01/2002. Nguyễn Quang Trung, Hoàng Thu Thủy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển làng nghề nông thôn - Những vấn đề môi trường cần giải quyết
6- Đặng Kim Chi (2003). Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề ô nhiễm ở các làng nghề Việt Nam, Bộ khoa học và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề ô nhiễm ở các làng nghề Việt Nam
Tác giả: Đặng Kim Chi
Nhà XB: Bộ khoa học và công nghệ
Năm: 2003
7- Cục Môi trường (2002) “Các giải pháp cải thiện môi trường làng nghề tiểu thủ công nghiệp” Sổ tay hướng dẫn tập 1, 2, 3, 4, 5, 6 Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp cải thiện môi trường làng nghề tiểu thủ công nghiệp
Tác giả: Cục Môi trường
Nhà XB: Sổ tay hướng dẫn tập 1, 2, 3, 4, 5, 6
Năm: 2002
9- Cục Môi trường (2002). Khuôn khổ chính sách bảo vệ môi trường của Việt Nam giai đoạn 2001  2010. NXB thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuôn khổ chính sách bảo vệ môi trường của Việt Nam giai đoạn 2001  2010
Tác giả: Cục Môi trường
Nhà XB: NXB thế giới
Năm: 2002
10- Đắc Hữu (2002) “Hà Tây giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường”. Thông tin khoa học kỹ thuật, Sở KHCN và MT Hà Tây (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Tây giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường
11- Đắc Hữu (2002). Làm gì để giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Thông tin khoa học kỹ thuật, Sở KHCN và MT Hà Tây (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm gì để giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Tác giả: Đắc Hữu
Năm: 2002
12- Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh (2000). Quản lý môi trường cho phát triển bền vững. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý môi trường cho phát triển bền vững
Tác giả: Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
14- Trương Mạnh tiến (2002). Môi trường và quy hoạch tổng thể, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và quy hoạch tổng thể
Tác giả: Trương Mạnh tiến
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 2002
18- Viện KH & CNMT Đại học Bách Khoa Hà Nội, báo cáo chuyên đề “Phân tích công nghệ và nguồn thải chính gây ô nhiễm môi trường, đối với loại hình làng nghề chế biến nông sản thực phẩm”. Tháng 0/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phân tích công nghệ và nguồn thải chính gây ô nhiễm môi trường, đối với loại hình làng nghề chế biến nông sản thực phẩm
19- UBND tỉnh Hà tây . “Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà tây đến năm 2020”, Tháng 6/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà tây đến năm 2020
Tác giả: UBND tỉnh Hà tây
Năm: 2005
20- Nguyễn Quang Trung “Nghiên cứu biện pháp tổng hợp xử lý môi trường phù hợp ở những vùng nông thôn có “Làng nghề” sảna xuất thủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biện pháp tổng hợp xử lý môi trường phù hợp ở những vùng nông thôn có “Làng nghề” sảna xuất thủ
Tác giả: Nguyễn Quang Trung
21- Hội thảo “Giải pháp cải thiện môi trường làng nghề tại ba tỉnh Bắc Ninh, Hà Tây, Hưng Yên”, tháng 11/2000. Chủ trì trình bày; PGS - TS Đặng Kiên Chi, PGS -TS Nguyễn Đức Khiển, Viện khoa học công nghệ môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp cải thiện môi trường làng nghề tại ba tỉnh Bắc Ninh, Hà Tây, Hưng Yên
Tác giả: PGS - TS Đặng Kiên Chi, PGS - TS Nguyễn Đức Khiển
Nhà XB: Viện khoa học công nghệ môi trường
Năm: 2000
24. Hội thảo “Giải pháp cải thiện môi trường làng nghề tại 3 tỉnh Bắc Ninh, Hà Tây, Hưng Yên”. Tháng 11/2000. ĐH Bách khoa - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp cải thiện môi trường làng nghề tại 3 tỉnh Bắc Ninh, Hà Tây, Hưng Yên
8- Cục Môi trường (2001, 2002, 2003), Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam Khác
15- Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường. Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật 1998. Chất lượng nước tại các làng nghề Khác
16- Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường. Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật 1998. Chất lượng nước tại các làng nghề Khác
17- Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường, Đại học Y Hà Nội (1998). Tác động đến sức khỏe con người tại các làng nghề thủ công, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Bản đồ phân bố các làng nghề Hà Tây. - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tổng hợp xử lý ô nhiễm nhằm bảo vệ môi trường và phát triển theo hướng bền vững cho làng nghề chế biến tinh bột sắn   cát quế   hoài đức   hà tây  luận văn t
Hình 1.1 Bản đồ phân bố các làng nghề Hà Tây (Trang 13)
Hình 1.2: Quy trình công nghệ. - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tổng hợp xử lý ô nhiễm nhằm bảo vệ môi trường và phát triển theo hướng bền vững cho làng nghề chế biến tinh bột sắn   cát quế   hoài đức   hà tây  luận văn t
Hình 1.2 Quy trình công nghệ (Trang 19)
Bảng 1.3: Các dạng chất thải và đặc trưng - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tổng hợp xử lý ô nhiễm nhằm bảo vệ môi trường và phát triển theo hướng bền vững cho làng nghề chế biến tinh bột sắn   cát quế   hoài đức   hà tây  luận văn t
Bảng 1.3 Các dạng chất thải và đặc trưng (Trang 24)
Hình 3.3: Sản xuất tinh bột sắn tại làng nghề Cát Quế. - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tổng hợp xử lý ô nhiễm nhằm bảo vệ môi trường và phát triển theo hướng bền vững cho làng nghề chế biến tinh bột sắn   cát quế   hoài đức   hà tây  luận văn t
Hình 3.3 Sản xuất tinh bột sắn tại làng nghề Cát Quế (Trang 49)
Hình 3.4: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất tinh bột sắn và dong - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tổng hợp xử lý ô nhiễm nhằm bảo vệ môi trường và phát triển theo hướng bền vững cho làng nghề chế biến tinh bột sắn   cát quế   hoài đức   hà tây  luận văn t
Hình 3.4 Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất tinh bột sắn và dong (Trang 51)
Hình 3.6: Sơ đồ hoạt động của hồ sinh học - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tổng hợp xử lý ô nhiễm nhằm bảo vệ môi trường và phát triển theo hướng bền vững cho làng nghề chế biến tinh bột sắn   cát quế   hoài đức   hà tây  luận văn t
Hình 3.6 Sơ đồ hoạt động của hồ sinh học (Trang 55)
Hình 3.7: Sơ đồ quy trình chế biến tinh bột sắn và dòng thải làng nghề Cát - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tổng hợp xử lý ô nhiễm nhằm bảo vệ môi trường và phát triển theo hướng bền vững cho làng nghề chế biến tinh bột sắn   cát quế   hoài đức   hà tây  luận văn t
Hình 3.7 Sơ đồ quy trình chế biến tinh bột sắn và dòng thải làng nghề Cát (Trang 57)
Bảng 3.6: Chỉ tiêu kỹ thuật của hầm biogas: - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tổng hợp xử lý ô nhiễm nhằm bảo vệ môi trường và phát triển theo hướng bền vững cho làng nghề chế biến tinh bột sắn   cát quế   hoài đức   hà tây  luận văn t
Bảng 3.6 Chỉ tiêu kỹ thuật của hầm biogas: (Trang 58)
Hình 3.9: Sơ đồ hệ thống xử lý thải làng nghề Cát Quế - Hoài Đức - Hà Tây. - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tổng hợp xử lý ô nhiễm nhằm bảo vệ môi trường và phát triển theo hướng bền vững cho làng nghề chế biến tinh bột sắn   cát quế   hoài đức   hà tây  luận văn t
Hình 3.9 Sơ đồ hệ thống xử lý thải làng nghề Cát Quế - Hoài Đức - Hà Tây (Trang 59)
Hình 3.10: Chất thải rắn chưa được thu gom tại làng nghề Cát Quế - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tổng hợp xử lý ô nhiễm nhằm bảo vệ môi trường và phát triển theo hướng bền vững cho làng nghề chế biến tinh bột sắn   cát quế   hoài đức   hà tây  luận văn t
Hình 3.10 Chất thải rắn chưa được thu gom tại làng nghề Cát Quế (Trang 62)
Hình 3.11: Hiện trạng hệ thống tiêu thoát nước tại xã Cát Quế - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tổng hợp xử lý ô nhiễm nhằm bảo vệ môi trường và phát triển theo hướng bền vững cho làng nghề chế biến tinh bột sắn   cát quế   hoài đức   hà tây  luận văn t
Hình 3.11 Hiện trạng hệ thống tiêu thoát nước tại xã Cát Quế (Trang 63)
Hình 3.12: Sơ đồ tổ chức quản lý vệ sinh môi trường xã. - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tổng hợp xử lý ô nhiễm nhằm bảo vệ môi trường và phát triển theo hướng bền vững cho làng nghề chế biến tinh bột sắn   cát quế   hoài đức   hà tây  luận văn t
Hình 3.12 Sơ đồ tổ chức quản lý vệ sinh môi trường xã (Trang 64)
Hình 3.15: Sơ đồ xử lý chất thải bằng bể biogas - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tổng hợp xử lý ô nhiễm nhằm bảo vệ môi trường và phát triển theo hướng bền vững cho làng nghề chế biến tinh bột sắn   cát quế   hoài đức   hà tây  luận văn t
Hình 3.15 Sơ đồ xử lý chất thải bằng bể biogas (Trang 74)
Bảng 3.13: Diễn biến trung bình của chất lượng nước thải dọc theo hệ thống - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tổng hợp xử lý ô nhiễm nhằm bảo vệ môi trường và phát triển theo hướng bền vững cho làng nghề chế biến tinh bột sắn   cát quế   hoài đức   hà tây  luận văn t
Bảng 3.13 Diễn biến trung bình của chất lượng nước thải dọc theo hệ thống (Trang 79)
Hình 3.17: So sánh diễn biến giá trị PH dọc theo hệ thống thoát nước trước - Nghiên cứu đề xuất giải pháp tổng hợp xử lý ô nhiễm nhằm bảo vệ môi trường và phát triển theo hướng bền vững cho làng nghề chế biến tinh bột sắn   cát quế   hoài đức   hà tây  luận văn t
Hình 3.17 So sánh diễn biến giá trị PH dọc theo hệ thống thoát nước trước (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w