TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾTừ khóa: tái cấu trúc ngân hàng Việt Nam, ngân hàng thương mại Việt Nam, Đề án 254.. 77Bà
Trang 1TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ
Từ khóa: tái cấu trúc ngân hàng Việt Nam, ngân hàng thương mại Việt Nam, Đề án 254
77Bài nghiên cứu này được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài:“Khuôn khổ pháp lý cho tái cơ
cấu hệ thống ngân hàng thương mại trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế”, do Trường Đại học
KTQD chủ trì, GS.TS Trần Thọ Đạt làm chủ nhiệm với sự tham gia viết và đóng góp ý kiến của các chuyên gia từ NHNN Việt Nam: ThS Nguyễn Hữu Nghĩa (Cơ quan Thanh tra Giám sát Ngân hàng), TS Nguyễn Đức Trung (Vụ Dự báo, Thống kê tiền tệ) và các giảng viên của Viện Ngân hàng - Tài chính, Trường Đại học KTQD: TS Đặng Ngọc Đức, TS Nguyễn Đức Hiển, ThS Đào Lê Trang Anh, TS Hà Quỳnh Hoa, ThS Trần Phi Long, ThS Trần Trọng Phong, ThS Nguyễn Hương Giang, CN Nguyễn Thị Quỳnh Loan
Trang 2KếT quả Thực hiện Tái cơ cấu hệ Thống ngân
i
hàng Thương mại ViệT nam giai đoạn 2012-2014
1.1 Những thành công
Thứ nhất, về cơ bản đã kiểm soát được tình hình của các NHTM
cổ phần yếu kém Khả năng chi trả của các ngân hàng này đã được cải
thiện đáng kể, tài sản của Nhà nước và quyền lợi của người gửi tiền được bảo đảm, an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng được kiểm soát, an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững; không để xảy ra các đợt rút tiền hàng loạt ngoài tầm kiểm soát, đặc biệt ở một số NHTM cổ phần yếu kém phải cơ cấu lại
Thứ hai, từng bước giảm bớt số lượng các NHTM thông qua cơ cấu lại Trong số 9 NHTMCP yếu kém được xác định từ năm 2012,
NHNN đã phê duyệt 8 phương án cơ cấu lại Trong thời gian tới, NHNN sẽ trình Thủ tướng Chính phủ phương án cơ cấu lại đối với 1 ngân hàng còn lại Hiện nay, các ngân hàng này đang tích cực triển khai các giải pháp cơ cấu lại theo đúng phương án được duyệt Một số NHTM cổ phần yếu kém được xác định trong năm 2013 đang được NHNN áp dụng các biện pháp giám sát chặt chẽ và chỉ đạo xây dựng phương án tái cơ cấu Đến nay, số lượng NHTMCP giảm bớt 5 ngân hàng qua hoạt động sáp nhập, hợp nhất (Đệ Nhất, Tín Nghĩa, Nhà Hà Nội, Phương Tây, Đại Á)
Thứ ba, chất lượng hoạt động của các NHTM đã được cơ cấu lại có một số chuyển biến tích cực Cho đến nay, tất cả các phương án cơ
cấu lại NHTM cổ phần yếu kém, kể cả sáp nhập, hợp nhất đều được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện NHNN chưa phải áp dụng biện pháp can thiệp bắt buộc đối với trường hợp nào theo quy định của pháp luật Sau khi sáp nhập, hợp nhất hoặc phương án cơ cấu lại được NHNN chấp thuận, các ngân hàng đã và đang tích cực triển khai các giải pháp
cơ cấu lại toàn diện về tài chính, hoạt động, quản trị và khắc phục các sai phạm dưới sự giám sát của NHNN Đối với các ngân hàng không thuộc diện yếu kém bắt buộc phải tái cơ cấu đã triển khai các giải pháp
Trang 3cơ cấu lại, xử lý nợ xấu; tập trung củng cố, chấn chỉnh những tồn tại, hạn chế và tăng cường năng lực tài chính, quản trị, hoạt động và năng lực cạnh tranh Một số ngân hàng đang thực hiện sáp nhập, mua lại tổ chức tín dụng (TCTD) khác để tăng quy mô và khả năng cạnh tranh
Thứ tư, đã bước đầu thực hiện sắp xếp lại các TCTD phi ngân hàng và Quỹ Tín dụng Nhân dân NHNN đã chỉ đạo xây dựng và trình
NHNN phương án cơ cấu lại, đồng thời đề nghị các tập đoàn, tổng công ty nhà nước thực hiện cơ cấu lại các TCTD này Hiện nay, đa số các TCTD phi ngân hàng đã trình hoặc đang hoàn thiện phương án để trình NHNN phê duyệt Năm 2013, có 2 công ty tài chính đã được hợp nhất, mua lại với 2 NHTM, giải thể, rút giấy phép 1 công ty cho thuê tài chính và 1 công ty tài chính đã được NHNN ủng hộ chủ trương bán lại cho tổ chức khác Một số TCTD phi ngân hàng quá yếu kém, chi phí cơ cấu lại quá lớn so với lợi ích đem lại từ việc duy trì hoạt động, NHNN đang rà soát, đánh giá và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét
xử lý thông qua giải thể, phá sản Một số tập đoàn và tổng công ty nhà
nước đang trong quá trình đàm phán bán lại công ty tài chính cho nhà đầu tư khác Những TCTD phi ngân hàng hoạt động bình thường cũng đang triển khai cơ cấu lại theo Quyết định số 254/QĐ-TTg để nâng cao mức độ an toàn, hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh Đối với
quỹ tín dụng nhân dân, Qũy tín dụng nhân dân (QTDND) Trung ương
đã hoàn thành việc chuyển mô hình hoạt động thành Ngân hàng Hợp tác xã nhằm thực hiện tốt mục tiêu liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính và điều hòa vốn trong hệ thống các QTDND, góp phần giúp các QTDND
cơ sở hoạt động hiệu quả theo nguyên tắc hợp tác xã
Thứ năm, tăng cường năng lực tài chính đối với các TCTD Năng
lực tài chính của hệ thống từng bước được lành mạnh thông qua tăng vốn điều lệ và xử lý nợ xấu Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn nhưng các TCTD vẫn nỗ lực cải thiện năng lực tài chính và tăng vốn điều lệ để tạo điều kiện mở rộng hoạt động và nâng cao khả năng đối phó với các rủi
ro trong hoạt động Năm 2012, vốn điều lệ toàn hệ thống tăng 11,29%
Trang 4và đến cuối năm 2013 vốn điều lệ của toàn hệ thống là 423,98 nghìn tỷ đồng, tăng 31,8 nghìn tỷ đồng (8,12%) so với cuối năm 2012
Bên cạnh đó, ngày 31/5/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 843/QĐ-TTg phê duyệt 2 đề án thành lập Công ty Quản lý tài sản Việt Nam (VAMC) Ngoài ra, để triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp xử lý nợ xấu quy định tại Quyết định số 843, gắn với các giải pháp tổng thể cơ cấu lại hệ thống các TCTD theo Đề án 254, NHNN đã trình và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 363/QĐ-TTg ngày 11/3/2014 về việc thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành triển khai Đề
án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015” và Đề án “Xử
lý nợ xấu của hệ thống các TCTD”
Đến nay, các NHTM đã ban hành và gửi NHNN kế hoạch xử lý nợ xấu đến 2015; đồng thời, các TCTD đã và đang tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý nợ xấu trong khả năng tài chính của mình, song song với việc hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, kinh doanh của các khách hàng Về thành lập, tổ chức và hoạt động của VAMC, mặc dù mới được thành lập và đi vào hoạt động với nhiều khó khăn, còn thiếu thốn về điều kiện cơ sở vật chất nhưng kết quả đạt được bước đầu của VAMC có vai trò quan trọng và tạo nền tảng cho việc đẩy nhanh việc xử lý nợ xấu trong thời gian tới, đặc biệt là tạo được niềm tin về tính khả thi của một công cụ xử lý nợ xấu rất đặc thù Tính đến hết tháng 8/2014, VAMC báo cáo đã mua được 59.511 tỷ đồng nợ xấu từ 35 TCTD, cùng với các NHTM báo cáo đã tự xử lý thêm được 20.000 tỷ đồng so với tháng 12/2013, nâng tổng số nợ xấu được xử lý khoảng 105.000 tỷ đồng Kết quả bước đầu đạt được là nợ xấu đã được kiềm chế và có xu hướng giảm; các giải pháp xử lý nợ xấu phát huy tác dụng ngay trong thời gian qua chủ yếu xuất phát là từ sự nỗ lực, quyết liệt của ngành Ngân hàng, trong khi nhiều Bộ, ngành, địa phương chưa thực sự quan tâm triển khai các giải pháp xử lý xử lý nợ xấu được giao trong phạm vi quản lý của ngành, địa phương Mặc dù gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên ngành Ngân hàng đã quyết tâm triển khai có kết quả các giải pháp xử
Trang 5lý nợ xấu theo phân công tại Quyết định số 843 trong khi vẫn bảo đảm tiếp tục tái cơ cấu, tăng trưởng tín dụng cho nền kinh tế, hạ mặt bằng lãi suất, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và góp phần ổn định hệ thống ngân hàng, kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thứ sáu, từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tiền tệ và ngân hàng, nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý nhà được, chỉ đạo, điều hành của NHNN trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, hỗ trợ cơ cấu lại các TCTD: Ngoài các văn bản liên quan tới hoạt động của VAMC,
để hỗ trợ cho quá trình cơ cấu lại các TCTD và bảo đảm cho các TCTD hoạt động an toàn, lành mạnh, Chính phủ và NHNN đã ban hành các văn bản như: Nghị định số 101/2012/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt; Nghị định số 01/2013/NĐ-CP về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam; Quyết định số 48/2013/QĐ-TTg ngày 1/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc góp vốn, mua cổ phần bắt buộc của TCTD được kiểm soát đặc biệt; các Thông tư của NHNN bao gồm các quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro (Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013); kiểm soát, toán độc lập, cấp phép; quản lý mạng lưới; niêm yết cổ phiếu của các TCTD trên thị trường chứng khoán; ngân hàng hợp tác xã; mua, bán nợ xấu; kiểm soát đặc biệt TCTD, v.v
Ngoài ra, NHNN đang khẩn trương hoàn thiện để trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản pháp lý về thanh tra, giám sát; xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng; quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng; ủy thác, nhận ủy thác, quy định về quản lý rủi ro của các TCTD
1.2 Phân tích định tính kết quả tái cơ cấu
Tính đến ngày 30/6/2014, hệ thống ngân hàng Việt Nam có 1 NHTM nhà nước (Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam), 37 ngân hàng thương mại cổ phần, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 4 ngân hàng liên doanh, 1 ngân hàng chính sách và 1 ngân hàng hợp tác xã Với tổng số lượng là 38 ngân hàng, các NHTM đang đóng
Trang 6vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam và là đối tượng chính của quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng giai đoạn 2011 - 2015 Do vậy, phần nghiên cứu đánh giá kết quả của hệ thống ngân hàng trước và sau tái cấu trúc cũng sẽ tập trung vào các NHTM nói trên
1.1.1 Tác động của tái cơ cấu đến sự phát triển tài chính
Một trong những mục tiêu chính của tái cấu trúc hệ thống NHTM là phát triển hệ thống tài chính quốc gia Ngoài ra, việc tái cấu trúc cũng giúp đẩy mạnh tính cạnh tranh giữa các ngân hàng và cải thiện khả năng sinh lợi của các ngân hàng đó Vì vậy, nghiên cứu này sẽ xem xét sự phát triển tài chính toàn diện trên những khía cạnh: (i) Tăng trưởng tài chính; (ii) Sự cạnh tranh trong ngành ngân hàng; và (iii) Khả năng sinh lợi của ngành ngân hàng
Tăng trưởng tài chính (financial deepening):
•
Khi đánh giá tăng trưởng tài chính, Shaw (1973) lần lượt quan sát các góc độ: quy mô ngành ngân hàng, huy động tiết kiệm, sự kích thích cho tiết kiệm dài hạn, sự cải thiện trong lưu chuyển tiền tệ đối với hệ thống ngân hàng Đối với trường hợp của Việt Nam, nhóm nghiên cứu áp dụng các chỉ tiêu sau đây để phân tích những thay đổi của hệ thống ngân hàng:
(1) Các tỷ lệ M2/GDP, tín dụng cá nhân/GDP đại diện cho quy mô của ngành ngân hàng
(2) Tỷ lệ M1/M2 được sử dụng như một phương pháp đo lường
truyền thống của huy động tiết kiệm
Trong đó: M1: bằng tổng lượng tiền mặt (M0) và tiền mà các NHTM gửi tại ngân hàng trung ương; M2: bằng M1 cộng với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
Quy mô ngành ngân hàng
-
Tăng trưởng về quy mô của ngành ngân hàng Việt Nam từ năm
2008 đến 2013 không ổn định theo thời gian Trong giai đoạn từ năm
2008 đến 2010, quy mô ngành ngân hàng liên tục tăng Cụ thể, năm
Trang 72008, chỉ số M2/GDP và tín dụng cá nhân/GDP năm 2008 lần lượt là 0,86 và 1,08 Sang năm 2010, M2 và tín dụng cá nhân đã gấp 1,16 và 1,27 lần GDP Tuy nhiên bắt đầu từ năm 2011, quy mô ngành ngân hàng có dấu hiệu suy giảm Đặc biệt, đến cuối năm 2012, tỷ lệ M2/GDP và tín dụng cá nhân/GDP chỉ còn 0,95 và 1,13, cao hơn năm 2008 nhưng thấp hơn 2009 Năm 2013, quy mô ngành ngân hàng đã tăng trưởng trở lại, M2/GDP đạt 0,97 lần và tín dụng cá nhân/GDP đạt 1,21 lần.
Như vậy, sau một thời gian phát triển bùng nổ của hệ thống ngân hàng những năm 2008 - 2010, từ năm 2011, hệ thống ngân hàng bắt đầu thu hẹp quy mô cùng với những thương vụ mua bán, sáp nhập của quá trình tái cơ cấu, tập trung chủ yếu vào năm 2012 Đến cuối năm 2013, hệ thống ngân hàng dần đi vào ổn định và quy mô tăng trưởng trở lại
Huy động tiết kiệm
-
Các dữ liệu thống kê ngành ngân hàng cho thấy tỷ lệ huy động tiết kiệm giảm dần qua các năm Sự suy giảm tỷ lệ huy động tiết kiệm cũng không đồng nhất qua các năm Đặc biệt, trong hai năm 2009 và 2010,
tỷ lệ huy động tiết kiệm giảm mạnh, chỉ số M1/M2 năm 2008 là 1,01 đã giảm xuống còn 0,27 vào cuối năm 2010 Nguyên nhân của thực trạng này là do trong giai đoạn 2009 - 2010, lãi suất cơ bản liên tục được giảm xuống, các ngân hàng chú trọng nhiều hơn đến tăng trưởng tín dụng thay vì tăng trưởng huy động tiết kiệm
Tuy nhiên, bắt đầu từ 2011, với chính sách ổn định kinh tế cùng các biện pháp tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, tỷ lệ huy động tiết kiệm M1/M2 đã không suy giảm tiếp mà duy trì ở mức 0,25 năm 2011 và 0,24 năm 2012
Cạnh tranh trong ngành ngân hàng
•
Cạnh tranh là một trong những động lực quan trọng nhất để nền kinh tế phát triển Nhóm nghiên cứu tiến hành so sánh cạnh tranh của ngân hàng trước và sau quá trình tái cấu trúc qua thước đo “mức độ tập trung tài sản” (tiền gửi) Mức độ tập trung tài sản là tỷ lệ nắm giữ tổng tiền gửi của nhóm 5 ngân hàng đứng đầu (Barth, Caprio, Levine, 2001)
Trang 8qua các năm Nếu tỷ lệ này ngày càng giảm đi chứng tỏ sự cạnh tranh trong ngành ngân hàng ngày càng gia tăng và ngược lại.
Để đo lường sự cạnh tranh trong ngành ngân hàng, nghiên cứu thu thập dữ liệu 5 ngân hàng TMCP không bị mua bán, sáp nhập giai đoạn 2011-2013 và luôn nằm trong tốp các ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất là: ACB, BIDV, Vietinbank, MBBank và Vietcombank Tỷ lệ nắm giữ tiền gửi của 5 NHTM này so với tổng tiền gửi của toàn bộ hệ thống các NHTM như sau:
Bảng 1.1 Tỷ lệ nắm giữ tiền gửi của 5 NHTM lớn nhất so với tổng tiền gửi của hệ
thống các NHTM giai đoạn 2008 - 2013
% tổng tiền gửi của 5 NHTM cổ phần lớn
nhất / Tổng tiền gửi của tất cả các NHTM 46.06% 42.84% 42.64% 43.96% 40.82% 40.13%
Nguồn: Số liệu tổng hợp từ các báo cáo tài chính.
Có thể thấy là mặc dù trong 6 năm từ 2008 đến 2013, tổng tiền gửi tại toàn bộ hệ thống các NHTM và tổng tiền gửi tại 5 ngân hàng TMCP lớn nhất đều liên tục tăng trưởng, tuy nhiên, xét trên khía cạnh mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, có thể nhận thấy mức độ này đang ngày càng tăng lên, đặc biệt trong hai năm 2012 và 2013 Cụ thể, tỷ lệ nắm giữ tiền gửi của 5 ngân hàng TMCP lớn nhất so với cả hệ thống các NHTM từ 46,6% năm 2008 xuống chỉ còn 42,64% năm 2010 và đạt 40,13% năm 2013 Đây là dấu hiệu tốt để nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng ngày càng phát triển trên cơ sở gia tăng cạnh tranh
Khả năng sinh lợi của ngành ngân hàng
•
Các chỉ số của khả năng sinh lợi, bao gồm ROA, ROE là những chỉ số quan trọng để đánh giá khả năng cải thiện sau tái cấu trúc của hệ thống ngân hàng (Xiaoqing và Shelagh Heffernan, 2005) Kết quả ROA và ROE cho thấy khả năng sinh lợi của hệ thống ngân hàng đạt mức cao nhất vào năm 2009, khi hệ thống NHTM bùng nổ, tăng trưởng tín dụng đạt mức cao Tỷ lệ ROA và ROE giữ ổn định trong hai năm tiếp
Trang 9theo là 2010 và 2011 Mặc dù vậy, sang đến năm 2012, khả năng sinh lợi của hệ thống NHTM sụt giảm nghiêm trọng ROE từ 12,87% năm
2011 chỉ còn 6,55% năm 2012 (giảm 49%) Tương tự, ROA năm 2012 cũng giảm gần một nửa so với năm 2011 Kết quả này phản ánh chính xác thực tế là kể từ năm 2011, ngành ngân hàng bước vào suy thoái và khủng hoảng, tỷ lệ nợ xấu tăng cao Sang năm 2013, nhờ kết quả bước đầu của quá trình tái cơ cấu với những biện pháp cứng rắn làm lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng cùng những thương vụ mua bán, sáp nhập xử lý những ngân hàng yếu kém, khả năng sinh lợi của ngành ngân hàng đã có những chuyển biến tích cực
1.2.2 Tác động của tái cấu trúc đến kết quả hoạt động của các NHTM
Trong phần này, nghiên cứu phân tích các chỉ số dựa trên nền tảng các tiêu chí của CAMEL (Capital adequacy, Assets quality, Management efficiency, Earnings performances, Liquidity) cho từng nhóm trong hệ thống ngân hàng của Việt Nam Trong các tiêu chí của CAMEL, các chỉ số được lựa chọn như sau: Để đánh giá Độ an toàn vốn (Capital Adequacy) của các ngân hàng, nghiên cứu sử dụng tỷ lệ CAR được xác định như trong Basel II Với chất lượng tài sản (Assets quality), tỷ lệ phần trăm của nợ xấu là chỉ số quan trọng nhất để đánh giá chỉ tiêu này Đối với hiệu quả quản lý (Management efficiency), tỷ lệ được sử dụng cho từng nhóm ngân hàng để so sánh qua các năm là tỷ lệ chi tiêu/thu nhập Kết quả hoạt động (Earnings performance) được đo lường thông qua các chỉ số ROA, ROE và NIE (Net interest earnings - thu nhập ròng
từ lãi suất cho vay) Cuối cùng, tính thanh khoản (Liquidity) được xác định bởi tỷ lệ các tài sản có tính thanh khoản cao/các khoản tiền gửi của nhóm ngân hàng được đánh giá
Nghiên cứu tiến hành đánh giá hai nhóm ngân hàng chính sau: (i) Nhóm 5 ngân hàng TMCP có tổng tài sản lớn nhất hệ thống ngân hàng
Trang 10TMCP Việt Nam và không bị mua bán, sáp nhập giai đoạn 2011-2013
; và (ii) Nhóm các ngân hàng bị mua bán, sáp nhập hoặc tự tái cấu trúc giai đoạn 2011-2013
Nhóm 5 ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất (theo tổng
•
tài sản)
Như đã đề cập ở phần xác định tính cạnh tranh của hệ thống ngân hàng, 5 ngân hàng TMCP có tổng tài sản lớn nhất gồm: ACB, BIDV, Vietinbank, MBBank và Vietcombank
Trước hết, về độ an toàn vốn, hệ số CAR của 5 ngân hàng trên tăng dần trong giai đoạn 2009-2011, suy giảm ở năm 2012 và tăng nhẹ trong năm 2013 So với giai đoạn trước quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, độ an toàn vốn của nhóm ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất đã tăng lên đáng kể Thực tế, hệ số CAR của nhóm ngân hàng này được nâng lên sau khi thông tư 13/2010/TT-NHNN được ban hành ngày 20/8/2010 thay thế Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng Một trong những thay đổi đáng chú ý trong Thông tư 13 là tăng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu từ 8% lên 9% Mặc
dù trước đó, hệ số CAR bình quân của nhóm ngân hàng này xấp xỉ 10%, các ngân hàng vẫn tăng hệ số CAR lên mức an toàn
Bảng 1.2 Hệ số CAR bình quân của nhóm 5 ngân hàng TMCP lớn nhất (theo tổng
tài sản) giai đoạn 2009 - 2013
Nguồn: Số liệu tổng hợp từ các báo cáo tài chính.
Tiếp theo, về chất lượng tài sản được xác định bởi tỷ lệ nợ xấu, số
liệu tổng hợp từ các báo cáo tài chính của các NHTM cho thấy tỷ lệ nợ xấu giảm xuống trong giai đoạn 2008-2010 và tăng lên trong ba năm tiếp theo
Trang 11Bảng 1.3 Tỷ lệ nợ xấu bình quân của nhóm 5 ngân hàng TMCP lớn nhất
(theo tổng tài sản) giai đoạn 2008-2013
Tỷ lệ nợ xấu 2.54% 1.79% 1.71% 1.75% 2.05% 2.18%
Nguồn: Số liệu tổng hợp từ các báo cáo tài chính.
Trong ba năm 2008-2010, ngành ngân hàng phát triển mạnh mẽ cùng sự tăng trưởng liên tục của nền kinh tế Đây là giai đoạn các doanh nghiệp hoạt động tốt, khiến các khoản vay nhanh chóng được thu hồi và làm giảm tỷ lệ nợ xấu của ngành ngân hàng Tuy nhiên, kể từ năm
2011, nền kinh tế suy thoái đã gây khó khăn cho các doanh nghiệp khiến các doanh nghiệp này không trả được nợ, tạo ra nhiều nợ xấu cho ngân hàng Đồng thời, trong giai đoạn 2009-2010, các ngân hàng giảm lãi suất tối đa, cho vay ồ ạt cũng là một lý do khiến tỷ lệ nợ xấu tăng cao trong những năm tiếp theo
Thứ ba, về hiệu quả quản lý, tỷ lệ chi tiêu/thu nhập tăng dần trong
giai đoạn 2008-2012 và giảm nhẹ năm 2013 Như vậy, trong 5 năm liên tiếp, hiệu quả quản lý của 5 ngân hàng TMCP có tổng tài sản lớn nhất liên tục bị suy giảm, với chi phí tăng nhiều hơn so với thu nhập đạt được Sang năm 2013, hiệu quả quản lý đã có dấu hiệu được cải thiện, tuy nhiên tỷ lệ chi tiêu/thu nhập vẫn ở mức cao
Bảng 1.4 Tỷ lệ chi tiêu/thu nhập bình quân của nhóm 5 ngân hàng TMCP lớn nhất
(theo tổng tài sản) giai đoạn 2008-2013
Chi tiêu/Thu nhập 0.400 0.417 0.413 0.414 0.459 0.454
Nguồn: Số liệu tổng hợp từ các báo cáo tài chính.
Thứ tư, về kết quả hoạt động, các chỉ số ROA và ROE của 5 ngân
hàng TMCP có tổng tài sản lớn nhất giảm dần từ 2008 đến 2013, đặc biệt giảm mạnh trong 2012 và 2013 Đối với thu nhập thuần từ lãi vay, chỉ tiêu NIE tăng mạnh trong giai đoạn 2008-2011 và giảm dần trong hai năm 2012 và 2013 Các kết quả này phản ánh khá rõ những khó
Trang 12khăn chung của ngành ngân hàng và của nền kinh tế, khi trong hai năm
2012 và 2013, nền kinh tế suy thoái dẫn đến các doanh nghiệp đều gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh, không trả được nợ cho ngân hàng khiến các ngân hàng phải tăng dự phòng rủi ro và giảm đáng kể lợi nhuận
Bảng 1.5 Hệ số sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) bình quân, hệ số sinh lợi trên vốn CSH (ROE) bình quân và thu nhập thuần từ lãi vay (NIE) bình quân của nhóm 5 ngân hàng TMCP lớn nhất (theo tổng tài sản) giai đoạn 2008-2013
ROE 0.1842 0.1952 0.1897 0.1972 0.1307 0.1104 ROA 0.0131 0.0129 0.0121 0.0119 0.0094 0.0089 NIE (tỷ VND) 4,839.63 5,209.57 7,431.73 11,387.73 11,208.27 10,704.11
Nguồn: Số liệu tổng hợp từ các báo cáo tài chính.
Cuối cùng, tính thanh khoản của các ngân hàng trong nhóm 5 ngân
hàng TMCP có tổng tài sản lớn nhất hệ thống ngân hàng TMCP cũng giảm dần theo thời gian Cụ thể, tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản cao/tổng tiền gửi từ 5% năm 2008 chỉ còn 2,1% năm 2013, có nghĩa là tỷ lệ này đã giảm hơn một nửa trong vòng 6 năm
Bảng 1.6 Chỉ số thanh khoản bình quân của nhóm 5 ngân hàng TMCP lớn nhất
(theo tổng tài sản) giai đoạn 2008-2013
Tài sản có tính thanh
khoản cao/Tổng tiền gửi 0.050 0.036 0.043 0.031 0.027 0.021
Nguồn: Số liệu tổng hợp từ các báo cáo tài chính.
Nhìn chung, xét theo các tiêu chí của CAMEL, 5 ngân hàng TMCP có tổng tài sản lớn nhất trong hệ thống các ngân hàng TMCP Việt Nam không nhận được những sự thay đổi khả quan từ quá trình tái cơ cấu Trên các khía cạnh: chất lượng tài sản, hiệu quả quản lý, kết quả hoạt động và tính thanh khoản, 5 ngân hàng này đều có kết quả giảm sút so với giai đoạn trước tái cơ cấu (2008-2010) Nguyên
Trang 13nhân dẫn đến thực trạng này là do những khó khăn của nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng bắt đầu từ năm 2011 đã kéo theo những khó khăn cho các ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất hệ thống ngân hàng TMCP này
Nhóm các ngân hàng TMCP thực hiện mua bán, sáp nhập và
•
tự tái cấu trúc giai đoạn 2011-2013
Trong giai đoạn 2011-2013, các NHTM yếu kém đã bị khoanh vùng và lần lượt được tiến hành các thương vụ mua bán, sáp nhập hoặc được NHNN phê duyệt cho tự tái cấu trúc Trong phần này, nhóm nghiên cứu phân tích các chỉ số CAMEL của nhóm các ngân hàng được mua bán, sáp nhập hoặc tự tái cơ cấu sau: HDBank, LienVietpostbank, Navibank, PVcombank, SCB, SHB và Tienphongbank
Đầu tiên, về độ an toàn vốn, hệ số CAR trung bình của 7 ngân
hàng trong nhóm được tái cấu trúc tăng lên trong giai đoạn 2009-2012 và giảm mạnh năm 2013 Nguyên nhân của hiện tượng này là do quá trình sáp nhập của một số ngân hàng khỏe vào các ngân hàng yếu kém (ba ngân hàng yếu kém là ngân hàng TMCP SCB, ngân hàng TMCP Đệ Nhất và ngân hàng TMCP Tín Nghĩa sáp nhập với nhau thành SCB cuối năm 2011, Habubank sáp nhập vào SHB cuối năm 2012, DaiA Bank sáp nhập vào HDBank cuối năm 2013), khiến mức tăng của tài sản đã điều chỉnh rủi ro cao hơn so với mức tăng của vốn cấp 1 và vốn cấp 2,
từ đó dẫn đến giá trị hệ số CAR giảm sút dù vẫn ở mức bảo đảm
Bảng 1.7 Hệ số CAR bình quân của của nhóm các ngân hàng TMCP được tái cấu
trúc giai đoạn 2008-2013
Nguồn: Số liệu tổng hợp từ các báo cáo tài chính.
Thứ hai, chất lượng tài sản được thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu bình
quân của 7 ngân hàng được phân tích tăng lên vào năm 2012 và giảm xuống trong năm 2013 So với 2011, tỷ lệ nợ xấu của 7 ngân hàng trong
Trang 14nhóm được tái cơ cấu tăng lên gấp đối trong năm 2012 Trước khi tái cơ cấu, các ngân hàng được sáp nhập vào SHB và SCB đều là những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu ở mức báo động Do vậy sau khi diễn ra các thương vụ mua bán, sáp nhập vào cuối năm 2011 và 2012, tỷ lệ nợ xấu của SHB và SCB tăng lên đáng kể Tuy nhiên, sang năm 2013, các ngân hàng hậu sáp nhập đã cơ cấu lại tổ chức, xử lý nợ xấu thành công, khiến tỷ lệ nợ xấu trung bình của bảy ngân hàng này giảm xuống chỉ còn 3,48%, tức là giảm 1,19% so với năm 2012
Bảng 1.8 Tỷ lệ nợ xấu bình quân của nhóm các ngân hàng TMCP được tái cấu trúc
giai đoạn 2008 - 2013
Tỷ lệ nợ xấu 1.63% 1.54% 3.04% 2.34% 4.67% 3.48%
Nguồn: Số liệu tổng hợp từ các báo cáo tài chính.
Xét trên khía cạnh hiệu quả quản lý, tỷ lệ chi tiêu/thu nhập của
7 ngân hàng được tái cấu trúc tăng lên đột ngột trong 2 năm liên tiếp 2011-2012 và giảm mạnh vào năm 2013 Trên thực tế, cả chi phí hoạt động và thu nhập hoạt động của 7 ngân hàng này giảm dần qua các năm Tuy nhiên, tốc độ giảm của thu nhập nhanh hơn tốc độ giảm của các khoản chi, từ đó dẫn đến sự gia tăng của tỷ lệ chi tiêu/thu nhập giai đoạn 2009-2012, đặc biệt là năm 2012 khi chi tiêu đã vượt quá thu nhập Sang năm 2013, do những thành công bước đầu của quá trình tái cấu trúc ngân hàng, chi tiêu bình quân của 7 ngân hàng này đã giảm xuống đáng kể, khiến cho tốc độ giảm của chi tiêu lớn hơn tốc độ giảm của thu nhập
Bảng 1.9 Tỷ lệ chi tiêu/thu nhập bình quân của nhóm các ngân hàng TMCP được
tái cấu trúc giai đoạn 2008-2013
Chi tiêu/Thu nhập 45.10% 37.61% 45.47% 76.29% 107.83% 69.23%
Nguồn: Số liệu tổng hợp từ các báo cáo tài chính.
Trang 15Thứ tư, về kết quả hoạt động, các chỉ số ROE và ROA đều đạt mức
cao nhất năm 2009, sau đó giảm dần qua các năm 2010, 2011 và 2012 Đặc biệt, ROE và ROA bình quân của 7 ngân hàng năm 2012 chỉ lần lượt bằng 26% và 23% so với ROE và ROA của năm 2009 Đối với số liệu về thu nhập thuẩn từ lãi suất, mặc dù các con số liên tục tăng trưởng nhưng tốc độ tăng đã chậm lại trong hai năm 2012 và 2013 Như vậy, các chỉ số trên đã phản ánh chính xác những tác động của suy thoái kinh tế cùng với quá trình mua bán, sáp nhập và tự tái cơ cấu năm 2011 và
2012 đến kết quả hoạt động của các ngân hàng Sang đến năm 2013, hoạt động tái cấu trúc của các ngân hàng đã dần đi vào ổn định, khiến kết quả hoạt động của các ngân hàng này dần được hồi phục, ROE và ROA năm 2013 đều đạt gấp đôi số liệu năm 2012
Bảng 1.10 Hệ số sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) bình quân, hệ số sinh lợi trên vốn CSH (ROE) bình quân và thu nhập thuần từ lãi vay (NIE) bình quân của nhóm các
ngân hàng TMCP được tái cấu trúc giai đoạn 2008-2013
ROE 0.0740 0.1054 0.0935 0.0740 0.0277 0.0425 ROA 0.0168 0.0124 0.0092 0.0072 0.0029 0.0040 NIE (tỷ VND) 379.90 412.97 610.21 990.14 1,155.51 1,310.03
Nguồn: Số liệu tổng hợp từ các báo cáo tài chính.
Tiêu chí cuối cùng của CAMEL đánh giá tính thanh khoản của
nhóm các ngân hàng tái cấu trúc được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.11 Chỉ số thanh khoản bình quân của nhóm các ngân hàng TMCP được tái
cấu trúc giai đoạn 2008-2013
Tài sản có tính thanh khoản
cao/Tổng tiền gửi 0.105 0.053 0.049 0.031 0.023 0.014
Nguồn: Số liệu tổng hợp từ các báo cáo tài chính.
So với những thay đổi tích cực các tiêu chí khác, tiêu chí tính thanh khoản chưa có sự cải thiện sau quá trình tái cấu trúc Giá trị bình quân
Trang 16của tỷ lệ giữa tài sản có tính thanh khoản cao và tổng tiền gửi của 7 ngân hàng trong nhóm tái cấu trúc giảm dần qua các năm Trong vòng 6 năm,
tỷ lệ này đã giảm 7,5 lần (10,5% năm 2008 và 1,4% năm 2013)
Tóm lại, kể từ năm 2011 đến nay, hoạt động của các ngân hàng TMCP trong nhóm được tái cơ cấu đã có những biến chuyển tích cực như giảm tỷ lệ nợ xấu, hiệu quả quản lý và kết quả hoạt động bước đầu đã được cải thiện Trong khi đó, các ngân hàng này vẫn cần rất nhiều
nỗ lực để duy trì tỷ lệ an toàn vốn và đưa tính thanh khoản lên mức cao hơn
Từ hai nhóm ngân hàng được nghiên cứu: nhóm 5 ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất và không trải qua mua bán, sáp nhập hay tự tái cơ cấu; và nhóm 7 ngân hàng bị mua bán, sáp nhập hoặc tự tái cấu trúc giai đoạn 2011-2013, các kết quả cho thấy quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng có tác động khác nhau đến những nhóm ngân hàng khác nhau Cụ thể, quá trình tái cấu trúc không có ảnh hưởng rõ rệt đối với các ngân hàng có quy mô lớn, đang chiếm lĩnh thị trường và không bị tái cơ cấu, trong khi các ngân hàng vừa trải qua tái cơ cấu trực tiếp lại có được những kết quả tích cực trong năm 2013
1.3 Phân tích định lượng kết quả tái cơ cấu
Trong báo cáo này, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu phi tham số DEA để tính toán hiệu quả về lợi nhuận và hiệu quả sản xuất của 7 ngân hàng trước khi tái cấu trúc hoặc tự tái cấu trúc (năm 2011) và sau khi thực hiện tái cấu trúc (năm 2013), từ đó rút ra nhận xét về kết quả bước đầu của quá trình tái cấu trúc tại những ngân hàng này Bảy ngân hàng được phân tích gồm có: NHTMCP phát triển nhà TP Hồ Chí Minh (HDBank), NHTMCP LienVietPostBank, NHTMCP Nam Việt (NaviBank), NHTMCP Đại Chúng Việt Nam (PVcombank), NHTMCP Sài Gòn Hà Nội (SHB), NHTMCP Tiên Phong (TPBank) và NHTMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) Bảy ngân hàng này chính là bảy thực thể ra quyết định (DMUs) trong
mô hình Đối với hiệu quả về lợi nhuận, các chỉ tiêu đầu vào là chi phí
Trang 17từ lãi vay và chi phí hoạt động, các chỉ tiêu đầu ra lần lượt là thu nhập
từ lãi vay và thu nhập hoạt động (số liệu chi tiết xem phần phụ lục) Đối với hiệu quả sản xuất, chỉ tiêu đầu vào là tiền thanh toán cho nhân viên và nhà cung cấp, các chỉ tiêu đầu ra được sử dụng để phân tích là tiền gửi của khách hàng và cho vay khách hàng
Sử dụng phần mềm MaxDEA 6.2 chạy mô hình phân tích bao dữ liệu phi tham số DEA, nhóm nghiên cứu thu được các kết quả đánh giá hiệu quả về lợi nhuận và hiệu quả sản xuất của 7 ngân hàng như sau:
Hiệu quả về lợi nhuận (profit efficiency)
a
Bảng 1.12 Kết quả mô hình DEA đánh giá hiệu quả về lợi nhuận của ngân hàng
trước và sau tái cấu trúc
STT Ngân hàng Hiệu quả về lợi nhuận 2011 Hiệu quả về lợi nhuận 2013
Đầu tiên, đối với ngân hàng HDBank, hiệu quả lợi nhuận sụt giảm sau khi tiến hành sáp nhập DaiABank Sự thay đổi này có thể được giải thích như sau: Trước M&A, HDBank là ngân hàng có tình hình tài chính lành mạnh và không bị xét vào nhóm ngân hàng yếu kém Ngược lại, DaiABank lại là ngân hàng có quy mô nhỏ và hoạt động mang tính chất địa phương với tỷ lệ nợ xấu liên tục tăng Do vậy, sau khi DaiABank sáp nhập, HDBank phải gánh tỷ lệ nợ xấu khá lớn (hơn 5%) của DaiABank, khiến cho mức độ hiệu quả lợi nhuận của HDB bị giảm từ 1 điểm năm 2011 xuống 0,93 điểm năm 2013
Trang 18Ngoài HDBank, ngân hàng thứ hai cũng bị suy giảm hiệu quả lợi nhuận sau tái cơ cấu là Navibank Khác với HDBank, Navibank được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận tự tái cấu trúc Tuy nhiên, kết quả mô hình DEA cho thấy quá trình tự tái cấu trúc của Navibank đã không tạo được chuyển biến theo chiều hướng tích cực Ngược lại, so với năm
2011, hiệu quả lợi nhuận của Navibank năm 2013 đã bị giảm tới 0,14 điểm Kết quả này khá tương đồng với kết quả thu thập được từ báo cáo tài chính của Navibank, khi đến 31/12/2013 trong cơ cấu tài sản có của Navibank có tới hơn 3.100 tỷ đồng các khoản phải thu, các khoản lãi và phí phải thu, trong đó các khoản lãi và phí phải thu tăng mạnh từ 1.325
tỷ đồng đầu năm 2013 lên tới hơn 2.231 tỷ đồng cuối 2013
Đối với Ngân hàng LienVietPostBank và Vietinbank, cả trước và sau quá trình mua bán, sáp nhập, hai ngân hàng này đều đạt mức hiệu quả lợi nhuận bằng 1 Thực tế, LienVietPostBank được sáp nhập từ
2 tổ chức tín dụng có tình hình tài chính lành mạnh Tương tự, trước khi bán cổ phần cho Bank of Tokyo-Mitsubishi UFJ, VietinBank cũng không nằm trong nhóm các ngân hàng bị khoanh vùng yếu kém Chính vì vậy, cho dù có sự thay đổi về sở hữu, hai ngân hàng LienVietpostbank và Vietinbank đều không gặp khó khăn trong việc duy trì hiệu quả về lợi nhuận
Cuối cùng, kết quả mô hình DEA cho thấy sự chuyển biến tích cực về hiệu quả lợi nhuận của PVcombank, SHB và TPBank sau tái cấu trúc Sau khi hợp nhất PVFC và Westernbank, hiệu quả về lợi nhuận của PVcombank có sự thay đổi nhẹ, tăng 0,06 điểm Đối với SHB, từ hiệu quả lợi nhuận đạt 0,93 điểm năm 2011, sang năm 2013, hiệu quả về lợi nhuận đã đạt 0,96 điểm Điều này thể hiện rằng quá trình sáp nhập Habubank vào SHB bước đầu đã thành công tốt đẹp Tương tự như SHB, TPBank từ mức hiệu quả lợi nhuận chỉ đạt 0,63 điểm năm
2011 đã tăng lên đến 0,99 điểm năm 2013 Kết quả này có được là do TPBank đã tự tái cấu trúc thành công với việc tận dụng thế mạnh của cổ đông chiến lược là Tập đoàn vàng bạc đá quý DOJI Theo như số liệu
Trang 19từ các báo cáo tài chính, sau 2 năm thực hiện tái cơ cấu, vốn điều lệ của ngân hàng đã tăng từ 3.000 tỷ đồng lên tới 5.500 tỷ đồng, vốn huy động dân cư tăng 2 lần, tăng trưởng tín dụng tăng gấp đôi, nợ xấu giảm 6,4% xuống còn 2,7%, số lượng khách hàng tăng 3 lần
Hiệu quả sản xuất (production efficiency)
b
Bảng 1.13: Kết quả mô hình DEA đánh giá hiệu quả sản xuất của ngân hàng trước
và sau tái cấu trúc
Về PVcombank, sau khi hợp nhất PVFC và Westernbank vào tháng 9/2013 và đổi tên thành PVcombank, PVcombank chưa công bố báo cáo tài chính vào cuối năm 2013 để đưa ra được những nhận định ban đầu
Cuối cùng, cả 5 ngân hàng còn lại là HDBank, LienVietpostbank, SHB, Tienphongbank và Vietinbank đều có các chỉ số hiệu quả sản xuất tăng theo thời gian Đối với HDBank, do sáp nhập DaiABank vào cuối
Trang 20năm 2013 nên hiệu quả sản xuất của HDBank chưa thể hiện sự suy giảm Ngoài ra, trong khi LienVietpostbank và SHB chứng tỏ những thành công hậu mua bán sáp nhập thì Tienphongbank lại thể hiện ngân hàng này đang đi đúng hướng trong quá trình tự tái cơ cấu giai đoạn vừa qua Vietinbank sau khi bán 20% cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài chiến lược là Bank of Tokyo đã có những sự chuyển biến đáng kể về hiệu quả sản xuất.
Tóm lại, kết quả đánh giá 7 ngân hàng đã thực hiện mua bán, sáp nhập và tái cấu trúc trong giai đoạn vừa qua cho thấy các ngân hàng có sự chuyển biến về hiệu quả lợi nhuận và hiệu quả sản xuất rất khác nhau Vì vậy, việc lựa chọn phương án tái cấu trúc phù hợp và thực hiện tái cấu trúc một cách triệt để là điều rất quan trọng Mỗi ngân hàng có đặc điểm, điều kiện và nguồn lực khác nhau, khiến quá trình tái cấu trúc đòi hỏi sự linh hoạt nhất định của nhà quản lý Trong giai đoạn 2014-
2015, các ngân hàng cần đẩy mạnh tiến độ tái cấu trúc của mình để đạt được các mục tiêu đã đề ra và góp phần làm lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng Việt Nam
1.4 Những hạn chế của quá trình tái cơ cấu và các nguyên nhân chủ yếu
Quá trình tái cơ cấu hệ thống NHTM Việt Nam theo Đề án 254 đã
đi được 2/3 chặng đường Bên cạnh các thành công đã chỉ ra tại phần trên, đối chiếu với các mục tiêu đề ra của Đề án, quá trình tái cơ cấu giai đoạn 2011-6/2014 vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, cụ thể như sau:
Một là, quá trình cơ cấu lại tài chính của các ngân hàng bị chậm trễ và không đạt mục tiêu đề ra
Một nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2014 của Đề án 254 là hoàn thành căn bản cơ cấu lại tài chính của các tổ chức tín dụng hướng đến mục tiêu tăng cường năng lực và lành mạnh tài chính Trong đó, nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn 2011-2013 là giải quyết nợ xấu của các TCTD Tuy nhiên, việc xử lý nợ xấu của các NHTM hiện nay đang rơi vào tình trạng bế tắc vì VAMC không thể bán hoặc xử lý được nợ xấu
Trang 21đã mua Thời gian qua, ngành ngân hàng mới chỉ giải quyết được việc
“dọn dẹp” phần lớn nợ xấu về một đầu mối VAMC với vai trò như một
“kho” lưu giữ nợ xấu của các TCTD Theo báo cáo của VAMC, tính đến hết tháng 8/2014, công ty đã mua được 59.511 tỷ đồng nợ gốc từ 35 tổ chức tín dụng Tuy vậy, cho đến nay VAMC chưa bán được một khoản nợ xấu nào Với cơ chế như hiện nay, sau khi mua lại nợ xấu từ các TCTD, VAMC thực hiện ủy quyền thu hồi nợ xấu cho các TCTD Như vậy, có thể khẳng định việc cơ cấu tài chính của các TCTD thông qua xử lý thu hồi nợ xấu vẫn đang trong tình trạng bế tắc trong khi áp lực gia tăng nợ xấu đối với các TCTD ngày càng lớn Theo số liệu NHNN vừa cập nhật, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống sau khi giảm xuống mức 3,5% vào tháng 12/2013 đã bắt đầu tăng trở lại trong 6 tháng đầu năm 2014, đạt mức 4,84% vào cuối tháng 6/2014
Hai là, xử lý sở hữu chéo trong các TCTD còn lúng túng và không
đạt hiệu quả Hiện nay, xử lý sở hữu chéo đang là một trong hai vấn
đề nổi cộm và nan giải nhất của quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam bên cạnh việc xử lý nợ xấu Hệ thống các TCTD Việt Nam hiện đang tồn tại 6 nhóm sở hữu chéo khác nhau: Nhóm 1 là sở hữu của các ngân hàng trong nước và nước ngoài tại các ngân hàng liên doanh; Nhóm 2 là cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM trong nước; Nhóm 3 là cổ đông tại các ngân hàng là các công ty quản lý quỹ; Nhóm
4 là sở hữu của các NHTMNN tại các NHTMCP; Nhóm 5 là sở hữu lẫn nhau giữa các NHTMCP và Nhóm 6 là sở hữu ngân hàng cổ phần bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân
Cho tới nay, sở hữu chéo đã có xu hướng diễn biến phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro Nhận thức được tác động tiêu cực của sở hữu chéo đối với an toàn hoạt động của từng TCTD nói riêng, an toàn của hệ thống TCTD nói chung, và đặc biệt là những cản trở của sở hữu chéo đối với quá trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD, NHNN Việt Nam đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm xử lý sở hữu chéo, gắn với quá trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD Nhìn về mặt tổng thể của quá trình
Trang 22xử lý sở hữu chéo được triển khai từ năm 2011 cho tới nay, các biện pháp được NHNN Việt Nam triển khai theo một hệ thống gồm 3 nhóm đan xen, hỗ trợ lẫn nhau: Nhóm 1: Đánh giá tình trạng sở hữu chéo tại hệ thống TCTD; Nhóm 2: Xây dựng khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách và triển khai các biện pháp giám sát, ngăn ngừa sở hữu chéo gia tăng và Nhóm 3: Triển khai các biện pháp xử lý toàn diện và dứt điểm tình trạng sở hữu chéo Trong số 45 giải pháp thực hiện tái cơ cấu trong Đề án 254, có đến 24 giải pháp có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến xử lý sở hữu chéo trong hệ thống các TCTD.
Một trong những giải pháp cơ bản và hiệu quả nhất được NHNN
kỳ vọng để xử lý triệt để sở hữu chéo là yêu cầu các TCTD trong liên minh tiến hành sáp nhập hoặc hợp nhất Tuy nhiên, giai đoạn 2011-2013 mới chỉ có 2 trường hợp sáp nhập và hợp nhất do quan hệ sở hữu chéo đó là trường hợp NHTMCP Sài Gòn được hợp nhất từ 3 ngân hàng gồm NHTMCP Sài Gòn, NHTMCP Đệ Nhất, NHTMCP Việt Nam Tín Nghĩa và trường hợp thứ hai là giữa Sacombank và Eximbank Giải pháp được kỳ vọng thứ hai để xử lý sở hữu chéo được đề cập trong Đề án 254 là yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước thoái vốn trong các TCTD với mục tiêu hoàn thành trước 31/12/2015 Nghị định 15/NĐ-CP ngày 6/3/2014 về một số giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn Nhà nước tại doanh nghiệp quy định 4 cách thức thoái vốn Nhà nước tại các NHTM78 song thực tế triển khai cả 4 cách thức này đều đang gặp nhiều khó khăn làm cho thời hạn hoàn thành thoái vốn Nhà nước tại các TCTD trước ngày 31/12/2015 có thể không đạt mục tiêu đề
ra Việc giải quyết sở hữu chéo trong các TCTD chậm trễ là một trong những cản trở lớn nhất đến quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng của Việt Nam hiện nay Một số ý kiến cho rằng, giải pháp dựa vào thị trường để tái cấu trúc các ngân hàng yếu kém làm tăng tính nghiêm trọng và phức tạp của tình trạng sở hữu chéo Theo nguyên tắc “tuyệt đối không
78 4 giải pháp là: (1) Chào bán ra công chúng số cổ phần mà DNNN đã đầu tư tại các công ty đại chúng; (2)Giao các NHTM NN mua lại hoặc (3) Chuyển NHNN Việt Nam làm đại diện chủ sở hữu; (4) Giao Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) xem xét, mua lại.