Các mô hình được áp dụng rộng rãi như là: mô hình 2 lúa – 1 màu, mô hình lúa – cá, mô hình lúa – khoai lang, mô hình 2 vụ lúa – 1 vụ tôm,… Trong đó, mô hình luân canh lúa – cá được nhiều
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
- -
DƯƠNG HƯƠNG GIANG
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SẢN XUẤT, TIÊU THỤ VÀ KÊNH PHÂN PHỐI SẢN PHẨM CÁ THỊT TRONG MÔ HÌNH LUÂN CANH LÚA – CÁ Ở TỈNH HẬU GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành Kinh tế Nông nghiệp
Mã số ngành: 52620115
08 – 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
- -
DƯƠNG HƯƠNG GIANG MSSV: 4114611
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SẢN XUẤT, TIÊU THỤ VÀ KÊNH PHÂN PHỐI SẢN PHẨM CÁ THỊT TRONG MÔ HÌNH LUÂN CANH LÚA – CÁ Ở TỈNH HẬU GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành Kinh tế Nông nghiệp
Mã số ngành: 52620115
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
LÊ NGUYỄN ĐOAN KHÔI
08 – 2014
Trang 3i
LỜI CẢM TẠ
Kính thưa Quý thầy cô!
Suốt khoảng thời gian hơn 3 năm theo học chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Khoa Kinh tế & QTKD thuộc Trường Đại học Cần Thơ, với kiến thức
đã được thầy cô truyền đạt ở trường và những kinh nghiệm thực tế từ chuyến
đi thu thập số liệu, em đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình Em xin chân thành cảm ơn đến:
Con xin chân thành cảm ơn cha mẹ đã nuôi dạy con từ bé đến tận khi trưởng thành
Em chân thành cám ơn thầy Lê Nguyễn Đoan Khôi, người thầy đã giúp
đỡ, hướng dẫn em tận tình để em có thể hoàn thành luận văn này
Em xin cám ơn thầy Cao Quốc Nam đã giúp đỡ em trong suốt quá trình thu thập số liệu, định hướng và hỗ trợ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Em chân thành cám ơn quý Thầy Cô trường Đại học Cần Thơ, đặc biệt là Khoa Kinh tế & QTKD và Khoa Phát triển Nông thôn Khu Hòa An đã giảng dạy, hỗ trợ, giúp đỡ em về chuyên môn để em có nền tảng kiến thức vững vàng để hoàn thành luận văn này
Chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị Sở Nông nghiệp thuộc tỉnh Hậu Giang, các chú, các cô tại các xã, ấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho em thực hiện luận văn của mình
Cuối cùng, em kính chúc quý Thầy, Cô Khoa Kinh tế & QTKD, Khoa Phát triển Nông thôn cùng các Cô Chú, Anh Chị tại Sở Nông nghiệp và các chú, các cô tại các xã, ấp được dồi dào sức khỏe, công tác tốt, vui vẻ và may mắn trong cuộc sống
Trang 4ii
TRANG CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả
nghiên cứu của tôi trong khuôn khổ của đề tài Phát triển thị trường tiêu thụ cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá vùng Đồng bằng sông Cửu Long Dự án
có quyền sử dụng kết quả của luận văn này để phục vụ cho dự án
Cần Thơ, ngày… tháng……năm……
Người thực hiện
Dương Hương Giang
Trang 5iii
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
Cần Thơ, ngày…….tháng…….năm……
Thủ trưởng đơn vị
(Ký tên và đóng dấu)
Trang 6iv
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Cần Thơ, ngày…….tháng…….năm……
Giảng viên hướng dẫn
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
Trang 7v
MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 - MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.1.1 Mục tiêu chung 2
1.1.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.4.1 Không gian 2
1.4.2 Thời gian 2
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.4 Nội dung nghiên cứu 3
CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
2.1.1 Mô hình lúa – cá 4
2.1.2 Tiêu thụ 5
2.1.3 Kênh phân phối 5
2.1.4 Tác nhân 8
2.1.5 Chi phí marketing 9
2.1.6 Một số khái niệm liên quan 9
2.2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 10
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 12
2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu 13
CHƯƠNG 3 - GIỚI THIỆU TỔNG QUAN TỈNH HẬU GIANG 16
3.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH HẬU GIANG 16
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 16
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 18
3.1.3 Các huyện thuộc địa bàn nghiên cứu 20
3.2 KÊNH PHÂN PHỐI CÁ THỊT TRONG MÔ HÌNH LUÂN CANH LÚA – CÁ 22
3.2.1 Tổng quan về mô hình luân canh lúa – cá ở Hậu Giang 22
3.2.2 Kênh phân phối cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá 23
Trang 8vi
CHƯƠNG 4 - PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SẢN XUẤT, TIÊU THỤ VÀ
KÊNH PHÂN PHỐI CÁ THỊT Ở TỈNH HẬU GIANG 25
4.1 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT, TIÊU THỤ VÀ KÊNH PHÂN PHỐI CÁ THỊT TRONG MÔ HÌNH LUÂN CANH LÚA – CÁ Ở HẬU GIANG 25
4.1.1 Đặc điểm chung của các tác nhân 25
4.1.2 Người nuôi cá 25
4.1.3 Thương lái địa phương 36
4.1.4 Người bán lẻ 40
4.1.5 Người tiêu dùng 43
4.1.6 Thực trạng kênh phân phối 43
4.1.7 Phân tích tổng hợp chi phí Marketing và lợi nhuận 44
4.2 PHÂN TÍCH CẤU TRÚC KÊNH PHÂN PHỐI CÁ THỊT TRONG MÔ HÌNH LÚA – CÁ Ở HẬU GIANG 45
4.2.1 Cấu trúc kênh phân phối cá thịt ở Hậu Giang 45
4.2.2 Phân tích kinh tế cấu trúc kênh 46
CHƯƠNG 5 - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KÊNH PHÂN PHỐI CÁ THỊT TRONG MÔ HÌNH LUÂN CANH LÚA – CÁ Ở TỈNH HẬU GIANG 50
5.1 THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ GIẢI PHÁP CỦA NGƯỜI NUÔI CÁ TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CÁ THỊT 50
5.2 NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ GIẢI PHÁP CHO THƯƠNG LÁI VÀ BÁN LẺ 52
5.3 CÁC GIẢI PHÁP CHUNG 53
5.3.1 Đối với hoạt động sản xuất 53
5.3.2 Đối với hoạt động tiêu thụ 54
CHƯƠNG 6 - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
6.1 KẾT LUẬN 55
6.2 KIẾN NGHỊ 55
6.2.1 Đối với Hậu Giang 55
6.2.2 Kiến nghị ngành thủy sản 56
6.2.3 Kiến nghị đối với Nhà nước 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC 1 58
PHỤ LỤC 2 64
PHỤ LỤC 3 68
PHỤ LỤC 4 71
PHỤ LỤC 5 73
Trang 9vii
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Cơ cấu mẫu phỏng vấn điều tra và cỡ mẫu 12
Bảng 3.1 Diện tích ruộng lúa – cá giai đoạn 2011 - 2014 22
Bảng 3.2 Diện tích và sản lượng cá tại một số xã của huyện Long Mỹ năm 2013 23
Bảng 4.1 Độ tuổi của các tác nhân 25
Bảng 4.2 Sự tham gia tổ chức xã hội, đoàn thể 26
Bảng 4.3 Kinh nghiệm sản xuất luân canh lúa – cá 26
Bảng 4.4 Diện tích ruộng lúa – cá 27
Bảng 4.5 Tỷ lệ nuôi các loài cá và chi phí giống trong mô hình lúa – cá 27
Bảng 4.6 Bảng phân tích so sánh chi phí giữa 3 huyện bằng ANOVA – Phi tham số (*) 29
Bảng 4.7 So sánh hiệu quả tài chính giữa 3 huyện (*) 30
Bảng 4.8 Thị trường cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá 31
Bảng 4.9 Tham gia hợp đồng mua bán giữa thương lái và người nuôi cá 33
Bảng 4.10 Giá trị trung bình (TB), độ lệch chuẩn (SD), giá trị nhỏ nhất (min) và giá trị lớn nhất (max) của các biến độc lập trong phương trình hồi qui tuyến tính bội giải thích biến thu nhập từ cá(*) 35
Bảng 4.11 Kết quả phân tích hồi qui tuyến tính giữa Log10 (Thu nhập) từ cá thịt trong mô hình luân canh lúa-cá (đồng/ha/vụ) với các biến độc lập(*) 36
Bảng 4.12 Chi phí, thu nhập và lợi nhuận của thương lái thu mua cá ruộng luân canh 39
Bảng 4.13 Kích cỡ của từng loại cá được ưa chuộng mua 41
Bảng 4.14 Hiệu quả hoạt động của người bán lẻ cá ruộng 42
Bảng 4.15 Tổng hợp chi phí Marketing và lợi nhuận của các tác nhân 44
Bảng 4.16 Phân phối lợi nhuận của các thành viên 47
Bảng 4.17 Kết quả hoạt động của các tác nhân theo đơn vị đồng/kg 47
Bảng 4.18 Kết quả hoạt động của các tác nhân 48
Bảng 4.19 Tổng hợp kết quả hoạt động Marketing của các tác nhân 49
Bảng 5.1 Thuận lợi, khó khăn và giải pháp của người nuôi cá trong sản xuất và tiêu thụ 51
Bảng 5.2 Thuận lợi, khó khăn và giải pháp cho thương lái và bán lẻ 53
Trang 10viii
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1 Cấu trúc kênh phân phối 6
Hình 2.2 Cấu trúc kênh phân phối sản phẩm nông nghiệp tiêu dùng 7
Hình 3.1 Cấu trúc kênh phân phối cá thịt trong mô hình lúa – cá 24
Hình 4.1 Cách tiếp cận thương lái của người nuôi cá 31
Hình 4.2 Thị trường đầu vào và đầu ra của người nuôi cá 32
Hình 4.3 Thị trường đầu vào và đầu ra của thương lái 40
Hình 4.4 Thị trường đầu vào và đầu ra của người bán lẻ 42
Hình 4.5 Tổng hợp kênh phân phối cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá ở Hậu Giang 43
Trang 11ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 121
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Hiện nay, có nhiều mô hình sản xuất trên ruộng lúa được các hộ nông dân triển khai để thay thế lúa vụ 3 cũng như nâng cao hiệu quả về kinh tế Các
mô hình được áp dụng rộng rãi như là: mô hình 2 lúa – 1 màu, mô hình lúa –
cá, mô hình lúa – khoai lang, mô hình 2 vụ lúa – 1 vụ tôm,… Trong đó, mô hình luân canh lúa – cá được nhiều hộ nông dân ở các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là những vùng ngập lũ như tỉnh Hậu Giang, Thành phố Cần Thơ, Đồng Tháp,… áp dụng nhằm chuyển đổi sản xuất thích ứng với môi trường đặc thù của vùng, đồng thời gia tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích
Hậu Giang là một trong những trung tâm lúa gạo của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, được tách ra từ tỉnh Cần Thơ cũ vào năm 2004 Tổng diện tích của tỉnh khoảng 160,2 nghìn ha, diện tích đất nông nghiệp khoảng 140,4 nghìn ha, trong đó diện tích đất canh tác lúa là 82,5 nghìn ha, chiếm 58,77% tổng diện tích đất nông nghiệp (Cổng thông tin điện tử Hậu Giang, 2012) Do đặc điểm địa lý của Hậu Giang là phần cuối Đồng bằng sông Cửu Long, địa hình thấp, diện tích đất chưa hoàn toàn kiểm soát lũ là tương đối lớn, thích hợp
để phát triển nuôi cá tôm Với những thuận lợi như ít tốn chi phí đầu vào cũng như không mất diện tích đất trồng lúa, mô hình luân canh lúa – cá có tiềm năng phát triển rất lớn Thực tế, mô hình luân canh lúa – cá đã được áp dụng
từ 10 năm trước và đang được Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn khuyến khích mở rộng diện tích, quy mô canh tác thông qua phê duyệt dự án “Phát triển mô hình lúa – cá” (1265/QĐ-BNN-KHCN, ký ngày 29 tháng 05 năm 2012)
Tuy nhiên, việc gia tăng diện tích sản xuất sẽ dẫn đến những khó khăn về thị trường tiêu thụ cá thịt, do các loài cá nuôi trong mô hình lúa – cá chỉ tiêu thụ nội địa Ngoài ra, các hộ nông dân còn gặp nhiều hạn chế trong khâu bảo quản sau thu hoạch do cá rất dễ chết, hư thối, khó chế biến gây tổn thất, khó khăn trong khâu tiêu thụ và bán sản phẩm Ngoài ra, đa số hộ nông dân thu hoạch cuối vụ một cách đồng loạt dẫn đến hiện tượng cung vượt cầu trong thời gian ngắn và việc thương lái mua cá thịt ép giá khiến cho giá bán cá rất thấp, gây bất lợi cho các hộ nông dân áp dụng mô hình
Xuất phát từ thực tế trên, để có được những luận cứ khoa học cung cấp cho các nhà nghiên cứu trong khuôn khổ dự án “Phát triển thị trường tiêu thụ
Trang 132
cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá vùng Đồng bằng sông Cửu Long”, tác
giả đã quyết định tham gia và chọn nghiên cứu đề tài: “Phân tích thực trạng sản xuất, tiêu thụ và kênh phân phối sản phẩm cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá ở tỉnh Hậu Giang”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.1.1 Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng sản xuất, tiêu thụ và kênh phân phối, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện kênh phân phối cá thịt trong mô hình luân canh lúa - cá ở tỉnh Hậu Giang
1.1.2 Mục tiêu cụ thể
Đề tài thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu cụ thể sau:
(1) Phân tích thực trạng sản xuất, tiêu thụ cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá ở tỉnh Hậu Giang;
(2) Phân tích kênh phân phối cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá ở Hậu Giang;
(3) Đề xuất giải pháp hoàn thiện kênh phân phối cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá ở tỉnh Hậu Giang
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Thực trạng sản xuất, tiêu thụ cá thịt trong mô hình lúa – cá như thế nào?
- Hệ thống kênh phân phối sản phẩm cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá như thế nào?
- Giải pháp hoàn thiện kênh phân phối ra sao?
Trang 143
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kênh phân phối cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá tỉnh Hậu Giang
1.4.4 Nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu, đánh giá thực trạng sản xuất, tiêu thụ và kênh phân phối cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện kênh phân phối sản phẩm cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá tỉnh Hậu Giang
Trang 154
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Mô hình luân canh lúa – cá
2.1.1.1 Khái niệm mô hình luân canh lúa – cá
Nuôi cá trong ruộng lúa đã được thực hiện ở nhiều vùng châu Á như: Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Indonesia, Malaysia, Thái Lan,… Có 2 hình thức nuôi cá trong ruộng lúa: nuôi kết hợp 2 – 3 vụ lúa và 1 vụ cá/năm và nuôi luân canh 1 – 2 vụ lúa theo sau là 1 vụ cá/năm
Mô hình lúa – cá mang tính quảng canh và quảng canh cải tiến và là một dạng trong hệ thống canh tác kết hợp Diện tích của mô hình lúa – cá khoảng vài hecta Trên bờ bao, người dân sử dụng lưới chắn để bao chắn cá trong ruộng lúa (hoặc trồng cây) Thời gian thả giống thường từ đầu tháng 6 (sau vụ lúa Hè – Thu) và thu hoạch vào cuối tháng 11 (trước vụ Đông Xuân) Các giống loài cá được nuôi ghép trong ruộng là cá chép, cá rô phi, cá mè vinh, cá
mè hoa, cá mè trắng,… Với nguồn thức ăn tự nhiên phong phú trong ruộng lúa vào mùa lũ, cá phát triển rất tốt
2.1.1.2 Lợi ích của việc nuôi cá kết hợp trong ruộng lúa
Trong Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Canh tác lúa – cá, 2001 trình bày một số
lợi ích thiết thực được tổng hợp lại là:
- Cá có thể tận dụng thức ăn tự nhiên có sẵn trên đồng ruộng và sục bùn làm đất tơi xốp, vì thế góp phần hạn chế sâu bệnh, cỏ dại, làm tăng năng suất lúa
- Giúp nông dân hạn chế sử dụng hóa chất nông nghiệp, bảo vệ sinh thái, môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng
- Kết hợp đa dạng hóa sản phẩm trong hệ thống canh tác và làm đa dạng hóa sinh học (lúa trên đồng ruộng, hoa màu, cây trái trên bờ kênh và cá dưới nước) Mô hình này có tính lâu bền về mặt sinh thái cao hơn hệ thống độc canh cây lúa đơn thuần
- Có lãi thuần và hiệu quả đầu tư cao hơn giúp nông dân cải thiện thu nhập
- Tăng nguồn thực phẩm cho nông hộ và cho xã hội
- Tạo thêm công ăn, việc làm để giải quyết lao động nông dân
Trang 16Trong kỳ phân tích doanh nghiệp tiêu thụ nhiều hay ít là biểu hiện ở chỉ tiêu khối lượng sản phẩm hàng hóa tiêu thụ, chỉ tiêu này được tính bằng đơn vị giá trị và được gọi là giá trị sản lượng hàng hóa tiêu thụ hay doanh thu bán hàng
2.1.3 Kênh phân phối
2.1.3.1 Định nghĩa kênh phân phối
Kênh phân phối là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình tạo ra dòng vận chuyển hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng
Tất cả những người tham gia vào kênh phân phối được gọi là các thành viên của kênh, các thành viên nằm giữa người sản xuất và người tiêu dùng là những trung gian thương mại, các thành viên này tham gia nhiều kênh phân phối và thực hiện các chức năng khác nhau:
- Nhà buôn bán: là những trung gian bán hàng hóa, dịch vụ cho các trung gian khác nhau như các nhà bán lẻ hoặc những nhà sử dụng công nghiệp;
- Nhà bán lẻ: là những trung gian bán hàng hóa và dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng;
- Đại lý và môi giới: là những trung gian có quyền hợp pháp thay mặt cho các nhà sản xuất cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các trung gian khác;
- Nhà phân phối: là chỉ chung những người trung gian thực hiện chức năng phân phối trên thị trường (Trương Đình Chiến, 2010)
Trang 176
2.1.3.2 Vai trò của kênh phân phối
Vai trò chính của các trung tâm thương mại là làm cho cung và cầu phù hợp một cách trật tự và hiệu quả Việc tiêu thụ sản phẩm qua các bộ phận trung gian biểu hiện quá trình chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội
rõ nét, tạo được nhiều lợi thế cho nhà sản xuất:
- Các bộ phận trung gian chịu phần chi phí trong việc bán hàng trực tiếp đến tay người tiêu dùng
- Nhà sản xuất có điều kiện tập trung đầu tư vào công việc sản xuất của mình, đầu tư chuyên môn hóa cao sẽ tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm
- Thông qua trung gian sẽ làm giảm số lượng các mối quan hệ giao dịch, làm tăng hiệu quả của phân phối trong xã hội (Trương Đình Chiến, 2010)
2.1.3.3 Cấu trúc kênh phân phối
Cấu trúc kênh là một nhóm các thành viên của kênh mà tập hợp các công việc phân phối được phân bổ cho họ Các cấu trúc kênh khác nhau có cách phân chia các công việc phân phối cho các thành viên kênh khác nhau
Nguồn: Trương Đình Chiến, 2010
Hình 2.1 Cấu trúc kênh phân phối Trong đó: M: Người sản xuất, A: Đại lý, W: Người bán buôn,
Người sản xuất: Người đưa ra những sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu thị trường
Người bán buôn: bao gồm các doanh nghiệp có liên quan đến mua hàng hóa để bán cho những người bán lại hoặc sử dụng kinh doanh như những người bán lẻ, công ty sản xuất công nghiệp, tổ chức ngành nghề hoặc cơ quan nhà nước cũng như cho những người bán buôn khác Nó cũng bao gồm các công ty hoạt động như các đại lý hoặc người môi giới trong việc mua hoặc bán hàng hóa cho các khách hàng như vậy
Trang 187
Người bán lẻ: bao gồm các doanh nghiệp kinh doanh bán hàng hóa cho tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình và các dịch vụ cho thuê bổ trợ cho việc bán hàng hóa (Trương Đình Chiến, 2010)
2.1.3.4 Kênh phân phối sản phẩm nông nghiệp tiêu dùng
Kênh phân phối sản phẩm nông nghiệp tiêu dùng được thể hiện ở hình 2.2:
Bán buôn Người xuất khẩu
TRƯỜNG NƯỚC
Nguồn: Nguyễn Nguyên Cự, 2008
Hình 2.2 Cấu trúc kênh phân phối sản phẩm nông nghiệp tiêu dùng Trong hệ thống kênh phân phối này có những điểm chú ý sau:
- Tùy theo trình độ chuyên môn hóa, qui mô sản xuất và mức độ gắn kết với thị trường mà kênh phân phối được tổ chức dài hay ngắn Hai kênh K1 và K2 là hai kênh ngắn, chủ yếu hoạt động ở thị trường nông thôn Các kênh còn lại đáp ứng cho người tiêu dùng thành phố và xuất khẩu
- Ngoài kênh K1 và K2 thì 5 kênh còn lại là khâu trung gian đầu tiên là người thu gom hoặc người chế biến nhưng có chức năng thu mua Đặc trưng
Trang 192.1.4 Tác nhân
Tác nhân là một tế bào sơ cấp với các hoạt động kinh tế, là trung tâm hoạt động độc lập và tự quyết định hành vi của mình Tác nhân là những hộ doanh nghiệp tham gia trong một ngành hàng thông qua hoạt động kinh tế của
họ
Một tác nhân có thể tham gia duy nhất một ngành hàng hoặc tham gia nhiều ngành hàng trong nền kinh tế Có thể phân loại tác nhân thành một số nhóm tùy theo bản chất hoạt động chủ yếu của tác nhân trong ngành hàng như sản xuất, chế biến, tiêu thụ và dịch vụ, hoạt động tài chính và phân phối
2.1.4.1 Tác nhân kinh tế
- Theo nghĩa hẹp, tác nhân kinh tế là khái niệm để chỉ các cơ sở kinh doanh cơ bản trong xã hội, những tế bào cơ bản hoạt động trong nền kinh tế Tác nhân kinh tế là chủ thể kinh tế có quyền tự quyết định và hành động Tác nhân kinh tế có thể là người thực hiện như nông dân, thương nhân…hay có thể
là người tinh thần như xí nghiệp, cơ quan quản lý, cơ quan khuyến nông,… (Phạm Văn Khôi, 2007)
Theo nghĩa rộng, tác nhân kinh tế là tập hợp các nhân tố kinh tế có tác động hay hoạt động cùng loại
Theo phân loại của kế toán quốc gia, có 5 loại tác nhân kinh tế cơ bản
- Các xí nghiệp: tiến hành sản xuất các hàng hóa hay dịch vụ để bán
- Các cơ quan tài chính: hoạt động cho vay, bảo hiểm,…
- Các hộ gia đình: Đơn vị vừa hoạt động sản xuất, vừa tiêu dùng
- Các cơ quan quản lý hành chính kinh tế: Phục vụ không được bù đắp trực tiếp Hoạt động không thu phí
- Bên ngoài: Tất cả tác nhân ngoài biên giới quốc gia
Trang 209
2.1.4.2 Tác nhân sản xuất
Tác nhân sản xuất là những tác nhân kinh tế, nhưng là những tác nhân trực tiếp tạo ra các sản phẩm hay dịch vụ của ngành nông sản (Phạm Văn Khôi, 2007)
2.1.5 Chi phí marketing
- Biên tế Marketing (marketing cận biên) là khoảng cách giữa giá bán của nông dân và giá mua của người tiêu dùng Biên tế Marketing tồn tại bởi hai nguyên nhân: Lợi nhuận và chi phí marketing
- Lợi nhuận: Phần thu được của người kinh doanh
- Chi phí marketing: Bao gồm toàn bộ phí tổn phải chi ra cho dịch vụ có liên quan đến việc chuyển sản phẩm từ người bán đến người tiêu dùng (như vận chuyển, chế biến, dự trữ, bảo quản, hao hụt, thuế suất,…)
- Chi phí Marketing trong nông nghiệp: là chi phí cho sản phẩm nông nghiệp sau khi rời khỏi nông trại (hoặc nông hộ) cho đến khi được người tiêu dùng mua Các chi phí Marketing chủ yếu trong nông nghiệp gồm: Chuẩn bị sản phẩm (làm sạch, phân loại), đóng gói, bóc dỡ, vận chuyển, hao hụt sản phẩm, lưu kho, chế biến,…
Hai nguyên nhân làm cho biên tế marketing cao hay thấp:
+ Chi phí marketing cao làm cho giá về phía người tiêu dùng lớn hơn nhiều so với giá bán của nông hộ
+ Các yếu tố độc quyền trong hệ thống marketing thu lợi nhuận quá độ làm cho chênh lệch marketing tăng cao gây bất lợi cho người sản xuất và người tiêu dùng
2.1.6 Một số khái niệm liên quan
- Chi phí
Chi phí là sự hao phí thể hiện bằng tiền trong quá trình kinh doanh với mong muốn mang về một sản phẩm, dịch vụ hoàn thành hoặc một kết quả kinh doanh nhất định Chi phí phát sinh trong hoạt động sản xuất của nông hộ nhắm đến việc đạt được mục tiêu cuối cùng là doanh thu và lợi nhuận
- Chi phí cơ hội
Theo Robert S.Pindyck và Daniel L.Rubinfeld định nghĩa trong Kinh tế học vi mô, chi phí cơ hội là chi phí liên quan đến những cơ hội đã bị bỏ qua do
nguồn lực của hãng không được sử dụng vào công việc đem lại nhiều giá trị nhất
Trang 21Thu nhập là số tiền dôi ra từ doanh thu sau khi trừ đi các khoản chi phí
để có được các nguồn đầu vào trong sản xuất nông nghiệp Đây là kết quả cuối cùng của sản xuất nông nghiệp đối với người nông dân
Thu nhập = Tổng doanh thu – Tổng chi phí (chưa tính lao động nhà)
- Lợi nhuận
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của sản xuất kinh doanh, là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí
Lợi nhuận = Thu nhập – Chi phí
2.2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Tiếp cận theo phương pháp phân tích kênh thị trường
Phan Thị Ngọc Vân, 2013 “Phân tích kênh phân phối sản phẩm heo thịt
ở tỉnh Hậu Giang” Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích: thống kê
mô tả, xếp hạng, các chỉ số tài chính, kênh thị trường, giá trị gia tăng và cuối cùng là ma trận SWOT để đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện kênh phân phối Qua nghiên cứu cho thấy hộ chăn nuôi đạt được lợi nhuận theo quy mô: chăn nuôi quy mô nhỏ đặt lợi nhuận thấp, với quy mô vừa thì hộ bán lẻ đạt lợi nhuận cao nhất Các tác nhân trong kênh có mối quan hệ mật thiết với nhau, vì vậy yếu tố truyền thống gia đình là yếu tố chủ yếu gia nhập ngành Nghiên cứu cũng cho thấy kênh phân phối theo quy mô nhỏ thì chênh lệch lợi nhuận nhiều nhất và giá heo trên thị trường đa phần do thương lái quyết định Tuy nhiên, nghiên cứu chưa mô tả cụ thể mối quan hệ của các tác nhân, lợi nhuận của các tác nhân trên cơ sở ước lượng
Nguyễn Vũ Trâm Anh, 2010 “Phân tích kênh phân phối sản phẩm bưởi Năm Roi Vĩnh Long” Nghiên cứu có sử dụng phương pháp phân tích kênh thị
trường, phân tích phân biệt để xác định lợi nhuận của nông hộ phụ thuộc vào yếu tố nào Qua nghiên cứu cho thấy hoạt động sản xuất bưởi mang lại hiệu quả cao cho người sản xuất về mặt tài chính Nghiên cứu phát hiện khó khăn nhất của người nông dân khi tiêu thụ trái cây như: rớt giá khi đến mùa thu hoạch, bán sản phẩm thường bị thương lái ép giá, thiếu thông tin thị trường
Trang 22 Tiếp cận theo phương pháp cấu trúc thị trường
Lưu Thanh Đức Hải, 2006 “Cấu trúc thị trường tiêu thụ và hệ thống phân phối heo thịt Đồng bằng sông Cửu Long” Bài viết trình bày phương
pháp phân tích cấu trúc thị trường dùng để nghiên cứu mối quan hệ, đặc tính của các đối tượng mua bán trên thị trường để xác định cấu trúc, dạng của thị trường Tác giả dùng hệ số GINI và đồ thị Lorenz để tính mức độ tập trung của hoạt động kinh doanh mua bán Kết quả nghiên cứu cho thấy thị trường heo thịt ĐBSCL là thị trường cạnh tranh, do đó thông tin về giá cả thị trường không bị cản trở Việc tham gia thị trường ở mức độ dễ dàng Người chăn nuôi chủ động liên hệ trước với người mua và thanh toán bằng tiền mặt Chi phí trong quá trình chăn nuôi thì chi phí thức ăn và chi phí con giống là hai chi phí cao nhất Ngoài ra, tình trạng giá cả không ổn định và thiếu vốn sản xuất gây khó khăn cho người chăn nuôi
Nghiên cứu phân tích từng loại thị trường cho mỗi tác nhân đồng thời phân tích mối quan hệ giữa các thành viên trung gian trong hệ thống marketing
Từ nội dung của các lược khảo trên, đề tài sử dụng các phương pháp phân tích: thống kê mô tả, xếp hạng, các chỉ số tài chính, phương trình hồi quy tuyến tính bội để làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người nuôi cá, những thuận lợi và khó khăn của các tác nhân để từ đó đưa ra giải pháp Bên cạnh đó, đề tài so sánh các chỉ tiêu chi phí, hiệu quả tài chính của
mô hình thông qua phân tích ANOVA giữa các huyện trong tỉnh Hậu Giang để
có cái nhìn cụ thể, toàn diện về thực trạng sản xuất, tiêu thụ của người nuôi cá trong mô hình luân canh lúa – cá ở Hậu Giang
Trang 2312
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được sử dụng trong nghiên cứu được thu thập qua:
- Internet: Cổng thông tin điện tử Hậu Giang, các trang web có số liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội, thị trường tiêu thụ cá thịt ở Hậu Giang;
- Tạp chí khoa học
- Các báo cáo hàng năm của Phòng nông nghiệp huyện và báo cáo năm của các xã
2.3.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập từ phỏng vấn, lấy ý kiến trực tiếp từ các nhóm đối tượng nghiên cứu thông qua bảng câu hỏi được soạn
Mẫu nghiên cứu gồm 4 đối tượng thuộc các tác nhân tham gia kênh phân phối cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá ở Hậu Giang Quan sát mẫu chọn bằng phương pháp thuận tiện tại các xã của mỗi 3 huyện trong tỉnh Hậu Giang
là huyện Châu Thành A, huyện Long Mỹ và huyện Phụng Hiệp Quan sát được chọn dựa trên tiêu chí người nuôi cá có thu nhập từ cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá Số liệu cần điều tra là số liệu của vụ cá gần nhất năm 2014, thời gian ghi nhận số liệu là tháng 8 – 2014
Bảng 2.1 Cơ cấu mẫu phỏng vấn điều tra và cỡ mẫu
1 Nông dân nuôi cá thịt - Huyện Châu Thành A
4 quan sát
- Huyện Long Mỹ -Huyện Phụng Hiệp
10 quan sát
- Huyện Long Mỹ -Huyện Phụng Hiệp
10 quan sát
Trang 2413
2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu
Dùng phương pháp phân tích thống kê mô tả, các chỉ số tài chính và
phương pháp phân tích kênh thị trường để đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá
- Phương pháp thống kê mô tả: là phương pháp dùng để mô tả, thống kê mẫu thông qua các đo lường mức độ tập trung như: trung bình, trung vị, mode,
và mức độ phân tác như: phương sai, độ lệch chuẩn, khoảng biến thiên của các
+ Lợi nhuận/chi phí: Cho biết 1 đồng chi phí nông hộ đầu tư thì thu
được bao nhiêu đồng lợi nhuận;
+ Lợi nhuận/thu nhập: Cho biết 1 đồng thu nhập có bao nhiêu đồng lợi nhuận hay phản ánh mức lợi nhuận so với thu nhập
Trang 2514
của hệ số hồi qui chuẩn hóa () được tính toán để so sánh tầm quan trọng của các biến độc lập (X1, X2, …Xn) góp phần giải thích về sự biến động của biến phụ thuộc Y Phần mềm thống kê R (version 3.1.2) được sử dụng trong phân
tích hồi qui tuyến tính bội.
Dùng phương pháp phân tích kênh thị trường, phương pháp phân tích các chỉ số tài chính, giá trị gia tăng và chi phí trung gian để phân tích kênh phân phối cá thịt
- Phân tích kênh thị trường:
Lợi nhuận biên tế đo lường tỷ lệ của doanh thu sau khi trừ đi toàn bộ chi phí liên quan đến marketing Lợi nhuận biên được tính theo công thức sau:
Lợi nhuận biên = Tổng marketing biên tế - Chi phí marketing Tổng marketing biên tế = Giá bán bình quân – Giá mua bình quân
- Biên tế Marketing:
+ Là sự khác nhau giữa hai giai đoạn marketing;
+ Là sự chênh lệch giữa giá bán và giá mua;
+ Là sự bù đắp chi phí cho các dịch vụ Marketing và lợi nhuận
- Marketing biên tế tuyệt đối: cho biết sự chênh lệch giá bán và giá
mua, qua đó cho thấy sự chênh lệch giá trên thị trường
Marketing biên tế tuyệt đối: ký hiệu AMM (Absolute Marketing Margin)
AMM = Giá bán – Giá mua Marketing biên tế tương đối: ký hiệu RMM (Relavant Marketing Margin)
RMM = (Giá bán – Giá mua)*100/giá bán
- Tổng thu nhập marketing cho biết thu nhập thực của một đối tượng tham gia kênh marketing, viết tắt GMM (Gross Marketing Margin)
GMM = AMM*Q Trong đó: Q là sản lượng kinh doanh (sản lượng bán)
- Khái niệm giá trị gia tăng và phân phối giá trị gia tăng
+ Giá trị gia tăng giữa hai tác nhân: là chênh lệch giá bán sản phẩm giữa hai tác nhân;
+ Giá trị gia tăng trong từng tác nhân: là chênh lệch giá bán và chi phí trung gian (hoặc chi phí đầu vào đối với người sản xuất ban đầu – nông dân); + Chi phí trung gian của mỗi tác nhân: là giá mua sản phẩm của các tác nhân đó Đối với nhà sản xuất ban đầu trong sơ đồ chuỗi (ví dụ nông dân) thì
Trang 2615
chi phí trung gian là chi phí đầu vào bao gồm chi phí trực tiếp sản xuất ra sản phẩm (giống, vật tư/thức ăn, thuốc bảo vệ thực vật/thú y; còn tất cả các chi phí còn lại của nông dân là chi phí tăng thêm);
+ Chi phí tăng thêm: là toàn bộ chi phí còn lại (lao động nhà/thuê, khấu hao, nhiên liệu,…) ngoài chi phí trung gian của mỗi tác nhân;
- Tổng chi phí: là chi phí đầu vào/ trung gian cộng với chi phí tăng thêm;
- Giá trị gia tăng thuần của mỗi tác nhân (lợi nhuận): là giá bán trừ tổng chi phí;
- Phân bổ giá trị gia tăng trong kênh: là phần trăm lợi nhuận của mỗi tác nhân trong kênh (với tổng lợi nhuận của kênh là 100%)
Phân tích phương sai (One way ANOVA) theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên được sử dụng để xác định sự khác biệt có ý nghĩa giữa các huyện (chi phí thu nhập và lợi nhuận) Ở một số trường hợp, các số liệu đã được chuyển sang dạng log10 hay căn bậc hai để thỏa mãn các giả định trong phân tích phương sai Khi kiểm định F trong phân tích phương sai có ý nghĩa (p<0,05), giá trị trung bình của các huyện được so sánh bằng phép thử DUNCAN Mức ý nghĩa 5% được áp dụng khi các giả định trong phân tích phương sai không được thỏa mãn, phương pháp kiểm định phi tham số (Kruskal-Wallis ANOVA & Median Test) đã được áp dụng Phần mềm thống
kê SPSS 17.0 được sử dụng trong phân tích các số liệu
Dùng phương pháp tổng hợp và phân tích tần số để làm cơ sở đề xuất một số giải pháp hoàn thiện kênh phân phối cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá
Trang 2716
CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN TỈNH HẬU GIANG
3.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH HẬU GIANG 3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Hậu Giang là tỉnh ở trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long; Bắc giáp thành phố Cần Thơ; Nam giáp tỉnh Sóc Trăng; Đông giáp sông Hậu và tỉnh Vĩnh Long; Tây giáp tỉnh Kiên Giang và tỉnh Bạc Liêu Lãnh thổ của tỉnh nằm trong tọa độ: từ 9030’35” đến 10019’17” Bắc và từ 105014’03” đến 106017’57” kinh Đông Thị xã Vị Thanh – tỉnh lỵ của tỉnh – cách thành phố Cần Thơ khoảng 60km, cách thành phố Hồ Chí Minh 240km về phía Tây Nam
Tỉnh nằm ở hạ lưu sông Hậu, giữa mạng lưới kênh rạch chằng chịt như: sông Hậu, sông Cần Thơ, sông Cái Tư, kênh Quản Lộ, kênh Phụng Hiệp, kênh
Xà No, sông Cái Sắn,… Các tuyến đường lớn chạy qua tỉnh là quốc lộ 1A, quốc lộ 61, quốc lộ 61B Tỉnh nằm kề thành phố Cần Thơ – trung tâm của vùng Tây Nam Bộ, do đó sự phát triển của thành phố Cần Thơ sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển của tỉnh Hậu Giang, mà trực tiếp là các địa phương giáp thành phố Tuy nhiên, do vị trí nằm sâu trong nội địa nên Hậu Giang gặp không ít khó khăn trong việc khai thác các nguồn lực bên ngoài lãnh thổ, nhất
là trong bối cảnh toàn cầu hóa
3.1.1.2 Địa hình
Hậu Giang là tỉnh nằm ở phần cuối Đồng bằng sông Cửu Long, địa hình thấp, độ cao trung bình dưới 2 m (mét) so với mực nước biển Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây Khu vực ven sông Hậu cao nhất, trung bình khoảng 1 – 1,5 m, độ cao thấp dần về phía Tây Phần lớn lãnh thổ nằm kẹp giữa kênh Xáng Xà No và kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp là vùng trũng thấp, độ cao trung bình chỉ khoảng 0,2 – 0,5 m so với mực nước biển
Bề mặt địa hình bị chia cắt xẻ mạnh bởi hệ thống kênh rạch nhân tạo Việc đào kênh vừa tăng cường khả năng thoát nước và lưu thông, vừa tạo ra các vùng có địa hình cao tương đối hàng mét Sự chênh lệch độ cao giữa các nơi trong tỉnh tuy không lớn lắm nhưng đã tạo ra sự tương phản rõ rệt
3.1.1.3 Đất đai
Hậu Giang nằm trong vùng trũng của Đồng bằng sông Cửu Long, do đó vùng đất ở đây còn mềm yếu, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, chia thành 2 tầng rõ rệt: tầng trên là sét pha thịt có độ dẻo cao, tầng dưới là sét dẻo
Trang 2817
với độ sâu vài chục mét Do đó khả năng chịu lực kém Xét về hóa tính, đất Hậu Giang có tỷ lệ mùn cao, nhất là trong các tầng đất than bùn và phèn
3.1.1.5 Khí hậu – Thời tiết
Hậu Giang có khí hậu cận xích đạo gió mùa Tính chất cận xích đạo thể hiện ở những đặc điểm về quang và nhiệt: số giờ nắng trong năm nhiều (trung bình 2.300 – 2.500 giờ), nhiệt độ trung bình cao khoảng 26,7 – 270C, tổng nhiệt hằng năm là 9.8000C Biên độ nhiệt trong năm thấp, tháng 4 nóng nhất với khoảng 28,60C, tháng 1 lạnh nhất với khoảng 25,50C Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm dao động lớn, khoảng 70
C, mùa khô chênh lệch cao hơn, mùa mưa chênh lệch ít hơn Tính chất mùa thể hiện rõ nét ở chế độ gió và chế độ
ẩm Trong năm, Hậu Giang chịu ảnh hưởng của 2 mùa gió: mùa mưa có gió Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô có gió Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa khoảng 1.800 mm/năm, tập trung cao nhất từ tháng 9 đến tháng 10 Lượng mưa phân bố không đều theo lãnh thổ, khu vực phía Tây có số ngày mưa nhiều hơn, lượng mưa lớn hơn và mùa khô không gay gắt như khu vực phía Đông Độ ẩm trong năm phân hóa theo mùa rõ rệt, chênh lệch độ ẩm trung bình giữa tháng ẩm nhất và tháng ít ẩm nhất khoảng 11% Độ ẩm trung bình thấp nhất vào khoảng tháng 3 và 4 (77%), độ ẩm trung bình trong năm là 82%
Phần lớn lãnh thổ Hậu Giang trong năm đều có thời kỳ ngập nước, bắt đầu từ tháng 7 và kéo dài khoảng 2 - 3 tháng Độ sâu và thời gian ngập nước tùy thuộc vào lượng nước mưa; độ cao tương đối, vị trí so với các dòng sông, kênh rạch Hiện tượng ngập úng thường được bắt đầu do mưa, sau đó tăng cường do lũ sông Hậu Các vùng cao ven sông Hậu và những vùng phía Tây trong lưu vực sông Cái Lớn thoát nước tốt nên ít bị ngập hoặc thời gian ngập ngắn Vùng đất thấp có khả năng thoát nước kém nên thời gian ngập lụt dài hơn Tùy theo mức độ ngập, có thể chia lãnh thổ Hậu Giang thành các vùng:
Trang 2918
- Vùng ngập dưới 30 cm gồm phần lớn huyện Châu Thành, huyện Châu Thành
A, vùng Đồng Gò huyện Phụng Hiệp, phần lớn huyện Long Mỹ
- Vùng ngập từ 30 - 60 cm gồm khu vực phía Nam huyện Châu Thành, phần lớn huyện Vị Thủy
- Vùng ngập từ 60 cm trở lên gồm xã Trường Long Tây của huyện Châu Thành A và phần lớn huyện Phụng Hiệp
- Vùng không bị ngập hoặc thời gian ngập không đáng kể gồm phần lớn thị xã
Vị Thanh, một phần huyện Vị Thủy, do nằm ở lưu vực sông Cái Lớn nên có khả năng thoát nước tốt
Là tỉnh nằm ở hạ nguồn sông Hậu, Hậu Giang chịu tác động mạnh của thủy triều Vào mùa mưa, biên độ triều thấp, khoảng 0,5 m Vào mùa khô, biên
độ thủy triều có thể lên tới vài mét Người ta có thể lợi dụng điều này để xây dựng hệ thống tưới tiêu tự chảy, nhưng đồng thời phải luôn cảnh giác đề phòng nước mặn xâm nhập vào đồng ruộng Vùng Tây Nam của tỉnh nằm trong lưu vực sông Cái Lớn nên chịu ảnh hưởng mạnh bởi chế độ triều của vịnh Thái Lan Nước mặn có thể theo sông Cái Lớn gây ra hiện tượng nhiễm mặn nặng tại khu vực Vị Thanh, Vị Thủy, Long Mỹ; khu vực ven các sông Nước Trong, Cái Tư, Ngan Dừa, Cái Côn; thậm chí nước mặn còn lấn vào cả kênh Quản Lộ
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
3.1.2.1 Dân số và lao động
Quy mô dân số của tỉnh Hậu Giang vào loại nhỏ nhất so với các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, chỉ chiếm 4,3% dân số cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long Tổng dân số tỉnh Hậu Giang đến năm 2013 là 777.844 người Mật độ dân số là 487 người/km2, gấp 1,07 lần mật độ dân số cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long Dân số trong độ tuổi lao động là 575.000 người, chiếm 73,7% tổng dân số; dân số ngoài tuổi lao động là 205.000 người, chiếm 26,3% tổng dân số Dân số thành thị là 187.640 người, chiếm 24,12% tổng dân số; dân số nông thôn là 590.204 người, chiếm 75,88% tổng dân số Tốc độ tăng dân số trung bình của tỉnh giai đoạn 2004 – 2013 đạt 1%/năm
Tổng nguồn lao động của tỉnh đến năm 2013 đạt 585.427 người, lao động trong độ tuổi lao động là 511.331 người
Lao động thực tế làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 431.339 người, lực lượng này luôn tăng chậm, trung bình 0,3%/năm Lao động làm việc trong khu vực I (nông – lâm – thủy sản) khá lớn chiếm 66% số lao động việc; tỷ trọng lao động phi nông nghiệp đạt 34% tổng số lao động
Trang 3019
Lao động trong độ tuổi lao động có khả năng lao động đang đi học là 49.054 người Lao động trong độ tuổi lao động có khả năng lao động làm nội trợ là 46.473 người Lao động có khả năng lao động không làm việc là 7.943 người, lực lượng này ở Hậu Giang không lớn Số người trong độ tuổi có khả năng lao động không có việc làm khoảng 10.799 người, chiếm khoảng 2,17% tổng số lao động trong độ tuổi có khả năng lao động
Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ và chuyên môn khác trong đội ngũ công chức, viên chức do tỉnh quản lý trên 10.000 người, trong đó: Trung học chuyên nghiệp khoảng 5.000 người, cao đẳng khoảng 2.500 người, đại học và trên đại học khoảng 2.600 người
3.1.2.2 Tình hình kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2011 – 2013 đạt 13,27%/năm (kế hoạch 05 năm là 13,5%) Trong đó, khu vực I: nông – lâm – thủy sản tăng bình quân 4,06%/năm; khu vực II: công nghiệp – xây dựng tăng bình quân 15,9%/năm; khu vực III: thương mại – dịch vụ tăng bình quân 17,9%/năm
Tổng giá trị gia tăng năm 2013, đạt 21.292 tỷ đồng theo giá thực tế và 9.239 tỷ đồng theo giá so sánh với năm 1994 Giá trị gia tăng bình quân đầu người là 27,3 triệu đồng
Cơ cấu kinh tế: tỷ trọng khu vực I chiếm 27,78%, khu vực II chiếm 32,73%, khu vực III chiếm 39,5%
3.1.2.3 Kết cấu hạ tầng
Hệ thống giao thông: mạng lưới đường bộ trải rộng khắp địa bàn nhưng chất lượng và cấp kỹ thuật còn thấp, không đảm bảo phục vụ nhu cầu lưu thông an toàn, thuận lợi và liên tục trong tương lai Tuyến đường Quốc lộ mang tính đối ngoại chiếm khoảng 3% tổng số km đường toàn tỉnh là những tuyến đường có cấp kỹ thuật tốt Đường tỉnh và đường huyện chỉ chiếm khoảng 17% Các đường tỉnh đảm bảo thông xe 4 bánh một cách khó khăn, đường huyện hầu hết lưu thông xe tải trọng nhỏ Cầu trên các tuyến không đồng bộ, phần lớn là cầu tải trọng nhỏ Trung tâm các huyện, thị, thành đều có bến xe nhưng chưa được đầu tư đúng cấp Tuyến đường sông quốc gia có 2 luồng chạy qua địa bàn tỉnh Hậu Giang Luồng thứ nhất từ sông Hậu qua kênh
Xà No, sông Cái Nhất, sông Cái Tư đi các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau Luồng thứ hai từ sông Hậu qua kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp đi 3 tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau Các tuyến đường này vừa dài vừa hẹp, mật độ lưu thông của tàu bè khá lớn nên dễ gây mất an toàn giao thông Nhiều sông, kênh, rạch bị
Trang 318 km) nâng cấp mở rộng đạt cấp 3 đồng bằng và đoạn còn lại đến cầu Trà Ban đạt tối thiểu cấp 4 đồng bằng Các tuyến đường tỉnh 925B, 930 được đầu tư xây dựng mới tại nhiều đoạn Đường ô tô về trung tâm các xã Phú Tân, Phú Hữu A (H.Châu Thành), Vĩnh Tường (H.Vị Thủy) sẽ được đầu tư xây dựng mới Về đường thủy, kênh xáng Xà No, kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp, kênh 13, kênh Mười Thước sẽ được nạo vét Bến xe TX.Ngã Bảy cũng được đầu tư xây dựng trong giai đoạn này
Giai đoạn 2016-2020 (kinh phí đầu tư dự kiến trên 14.000 tỉ đồng) sẽ nâng cấp QL 61, QL Nam Sông Hậu, QL Quản Lộ - Phụng Hiệp đạt tiêu chuẩn cấp 3 đồng bằng Nhiều đoạn trên các tuyến đường tỉnh 925C, 926B,
927, 927C, 930B, 931 sẽ được nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới Các cầu Tân Phước Hưng, Lái Hiếu, Xẻo Vẹt cũng sẽ khởi công xây dựng “Giai đoạn này
sẽ dành một khoản không nhỏ để cải tạo, nâng cấp, xây mới các tuyến đường huyện, đường đô thị Song song đó, cảng Vị Thanh, cảng Hậu Giang, cảng Ngã Bảy, cảng chuyên dùng của các nhà máy trên sông Hậu, bến xe Vị Thanh, bến tàu khách Vị Thanh… sẽ được khởi công”
Đến giai đoạn 2021-2030, với kinh phí trên 9.400 tỉ đồng, tỉnh Hậu Giang sẽ tiếp tục hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng mạng lưới giao thông đường bộ, đường thủy trên địa bàn nhằm góp phần phát triển ổn định, bền vững kinh tế - xã hội, đảm bảo an toàn giao thông
3.1.3 Các huyện thuộc địa bàn nghiên cứu
3.1.3.1 Huyện Châu Thành A
Huyện Châu Thành A nằm trên quốc lộ 1A, tiếp giáp và cách trung tâm
TP Cần Thơ trên 10km về phía Nam, cách thị xã Vị Thanh 25km về hướng đông bắc Hiện Hậu Giang đang xúc tiến xây dựng tại nơi này Cụm công nghiệp Tân Phú Thạnh với diện tích 220 ha, kéo theo là việc hoạch định xây dựng một khu đô thị mới (khu tái định cư, thương mại) Ngoài ra Châu Thành
Trang 323.1.3.2 Huyện Long Mỹ
Long Mỹ cách thị xã Vị Thanh khoảng 21km về phía Nam, cách TP Cần Thơ 60km Ngoài những đặc điểm chung như những nơi khác: canh tác lúa, chăn nuôi, trồng cây ăn trái, Long Mỹ còn từng là vùng căn cứ cách mạng của tỉnh Cần Thơ và khu Tây Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Ở đây còn lưu lại rất nhiều di tích lịch sử như: Đền thờ Bác Hồ ở
xã Lương Tâm, Khu di tích chiến thắng 75 tiểu đoàn địch tại xã Vĩnh Viễn (được xây dựng trên diện tích rộng gần 2 ha) Ngoài những giá trị về truyền thống, Long Mỹ còn có vườn cò được hình thành từ năm 1986 tại xã Xà Phiên, với hàng chục ngàn giống cò các loại cùng 30 loài chim đặc sắc khác
Long Mỹ sẽ là một điểm du lịch sinh thái và văn hóa hấp dẫn của Hậu Giang
3.1.3.3 Huyện Phụng Hiệp
Phụng Hiệp cách TP Cần Thơ khoảng 30km về phía Nam, cách thị xã
Vị Thanh 38km về hướng Nam Phụng Hiệp có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, có truyền thống trồng trọt lâu đời với hệ thống cây ăn trái, mía đường Nơi này đang được quy hoạch thành một trung tâm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp (CN - TTCN) với quy mô địa phương như chế biến lương thực – thực phẩm, may mặc, cơ khí, đồ gia dụng…
Thế mạnh nhất của Phụng Hiệp là du lịch vườn kết hợp du lịch sinh thái Phụng Hiệp có Khu vui chơi sinh thái Tây Đô, Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Lung Ngọc Hoàng… Để đáp ứng cho yêu cầu phát triển, Phụng Hiệp đang cải tạo cơ sở hạ tầng như nâng cấp nhà máy nước, xây dựng khu thương mại Phụng Hiệp, các dự án xây dựng làng du lịch sinh thái Lung Ngọc Hoàng, dự án sân golf 36 lổ vùng đệm Lung Ngọc Hoàng…
Trang 3322
3.2 KÊNH PHÂN PHỐI CÁ THỊT TRONG MÔ HÌNH LUÂN CANH LÚA – CÁ
3.2.1 Tổng quan về mô hình luân canh lúa – cá ở Hậu Giang
Mô hình luân canh lúa – cá là mô hình đã được nông dân trồng lúa vùng ngập lũ ở Hậu Giang áp dụng từ những năm 1990 đến nay Mô hình 2 hoặc 3
vụ lúa và 1 vụ cá, do lợi nhuận đem lại từ canh tác lúa vụ 3 ít hơn nhiều so với
vụ cá nên nhiều hộ chỉ canh tác 2 vụ lúa và 1 vụ cá Đa số các hộ thả cá xuống ruộng sau khi đã thu hoạch xong vụ Hè Thu vào khoảng tháng 5, tháng 6 (âm lịch) và thu hoạch cá vào khoảng tháng 9, tháng 10 (âm lịch) Mô hình nuôi cá trong ruộng lúa đem lại lợi nhuận cao vì tốn ít chi phí, tận dụng thức ăn tự
nhiên trong ruộng lúa Cá được nuôi thường là cá chép (Cyprinus carpio carpio, L.), cá mè hoa (Hypophthalmichthys nobilis R.), cá mè vinh (Barbonymus gonionotus B.), cá mè trắng (Hypophthalmichthys molitrix V.),
rô phi (Oreochromis niloticus niloticus, L.), sặc rằn (Trichogaster pectoralis R.)… là những loài cá có đặc tính như mau lớn, thích ăn tạp Ngoài ra, đây là
những loài cá dễ bán, có giá trị nên được ưa chuộng nuôi nhiều
Mô hình luân canh lúa – cá được nuôi nhiều ở 3 huyện của tỉnh Hậu Giang là huyện Châu Thành A, huyện Long Mỹ và huyện Phụng Hiệp Diện tích ruộng luân canh lúa - cá ở một số xã của 3 huyện qua các năm thay đổi qua bảng 3.1
Bảng 3.1 Diện tích ruộng lúa – cá giai đoạn 2011 - 2014
Nguồn: Số liệu được tổng hợp từ các báo cáo của địa phương giai đoạn 2011 - 2014
Diện tích ruộng canh tác luân canh lúa – cá tại các xã Trường Long A và Trường Long Tây thuộc huyện Châu Thành A nhìn chung có xu hướng giảm trong giai đoạn 2011 – 2014, đặc biệt giảm mạnh từ năm 2013 đến năm 2014
Do ảnh hưởng của diện tích giảm nên sản lượng theo đó cũng sụt giảm mạnh: sản lượng cá ở xã Trường Long A năm 2011 đạt 129,2 tấn, tuy nhiên đến năm
2013 sản lượng cá chỉ đạt 75,96 tấn Nguyên nhân là do đợt lũ năm 2013 quá lớn khiến thất thoát cá, gây tổn thất lớn cho người nuôi cá
Ở xã Phương Phú thuộc huyện Phụng Hiệp, diện tích ruộng năm 2012 là
337 ha, sản lượng là 168,5 tấn Đến năm 2013, với diện tích là 350 ha, sản lượng tăng lên là 1050 tấn Diện tích tăng lên là do phương hướng quy hoạch
Trang 3423
của địa phương là duy trì và phát triển mô hình lúa – cá, thông qua quy hoạch lại khu vực đê bao sản xuất lúa, tổ chức các lớp dạy kỹ thuật nuôi, trồng thủy sản đồng thời quan tâm chính sách đầu tư vốn cho người nuôi
Đối với huyện Long Mỹ, về diện tích và sản lượng cá thịt trong mô hình lúa – cá (cá ruộng) tại một số xã năm 2013 được trình bày trong bảng 3.2 Bảng 3.2 Diện tích và sản lượng cá tại một số xã của huyện Long Mỹ năm
2013
Long Mỹ
Xã Long Trị
Xã Tân Hưng
Xã Tân Hòa
Nguồn: Số liệu thứ cấp từ Khuyến nông huyện Long Mỹ, 2013
Qua bảng 3.2 cho thấy số liệu về diện tích và sản lượng cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá của huyện Long Mỹ và một số xã tiêu biểu như xã Long Trị, xã Tân Hưng và xã Tân Hòa Diện tích ruộng lúa – cá toàn huyện Long Mỹ năm 2013 đạt 2013,58 ha, trong đó xã Tân Hưng chiếm diện tích lớn nhất với 202,35 ha Theo đó, sản lượng cá thịt trong mô hình của huyện Long
Mỹ năm 2013 là 2194,80 tấn, trong đó xã Tân Hưng có sản lượng lớn nhất với 220,56 tấn cá thịt
3.2.2 Kênh phân phối cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá
Đặc điểm
- Cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá khi đến khâu tiêu thụ có thể là
cá tươi, cá chết hoặc là sản phẩm đã chế biến như chả, mắm
- Có nhiều kênh phân phối cá thịt trong mô hình luân canh lúa - cá tùy thuộc vào tình hình địa phương và quy mô tổ chức nuôi của người dân
- Trong quá trình vận chuyển, phân phối đến các chợ để bán, cá chết nhiều với tỷ lệ hao hụt trên 50% Các loài cá mè như cá mè hoa, cá mè trắng khi đến người tiêu dùng đều ở tình trạng đã chết Do đó, các loài cá này thường được chế biến lại thành các sản phẩm khác để dễ tiêu thụ
- Nhiều vấn đề khác cũng được đặt ra như an toàn vệ sinh thực phẩm, chế biến, thời hạn tiêu thụ, bảo quản ở tất cả các khâu trong quá trình phân phối từ người sản xuất đến người tiêu dùng
Trang 3524
Cấu trúc kênh phân phối cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá
Các cấu trúc kênh phân phối cá thịt trong mô hình luân canh lúa – cá hiện tại qua hình 3.1
Bán lẻ
Người tiêu dùng
Nguồn: Tác giả tổng hợp, 2014
Hình 3.1 Cấu trúc kênh phân phối cá thịt trong mô hình lúa – cá
Cấu trúc kênh phân phối cá thịt trong mô hình lúa – cá gồm 5 tác nhân chính: Người nuôi cá, Thương lái, Chế biến nhỏ lẻ, Bán lẻ và Người tiêu dùng
- Người nuôi cá: Cung cấp cá thịt được nuôi theo mô hình luân canh lúa – cá với thời gian nuôi từ tháng 5, tháng 6 (Âm lịch) sau khi thu hoạch vụ lúa
Hè – Thu và thu hoạch cá vào tháng 9, tháng 10 (Âm lịch) Người nuôi cá đóng vai trò sản xuất sản phẩm đầu kênh và cũng có thể tiêu thụ sản phẩm bằng cách bán lẻ tại chợ địa phương nếu quy mô nuôi nhỏ
- Thương lái (Chủ vựa): Thương lái ở đây có thể là thương lái nhỏ lẻ địa phương, thương lái ngoài địa phương hoặc là chủ vựa cá
- Chế biến nhỏ lẻ: Có thể là cơ sở chế biến hoặc là những người bán lẻ ở chợ làm thủ công Họ mua cá thịt từ thương lái và bán sản phẩm chế biến từ cá thịt như chả cá, mắm,…
- Người bán lẻ: Gồm có các sạp bán lẻ trong chợ Người bán lẻ mua sản phẩm từ người nuôi cá hoặc thương lái và bán lẻ sản phẩm của người nuôi cá hoặc của thương lái
- Người tiêu dùng: gồm có người tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng công nghiệp
+ Tiêu dùng cá nhân: là những người hàng xóm, tiêu dùng địa phương + Tiêu dùng công nghiệp: gồm nhà hàng, quán ăn, nhà máy chế biến,…
Trang 3625
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SẢN XUẤT, TIÊU THỤ VÀ KÊNH
PHÂN PHỐI CÁ THỊT Ở TỈNH HẬU GIANG
4.1 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT, TIÊU THỤ VÀ KÊNH PHÂN PHỐI CÁ THỊT TRONG MÔ HÌNH LUÂN CANH LÚA – CÁ Ở HẬU GIANG 4.1.1 Đặc điểm chung của các tác nhân
Độ tuổi
Kết quả điều tra thực tế về độ tuổi của các tác nhân được xử lý thông qua phần mềm STATA 11, số liệu được thể hiện qua bảng 4.1
Bảng 4.1 Độ tuổi của các tác nhân
Nguồn: Tổng hợp từ điều tra thực tế, 2014
Qua bảng tổng hợp 4.1 cho thấy đặc điểm độ tuổi của các 4 tác nhân: Người nuôi cá, Thương lái và Bán lẻ Cả 3 tác nhân đều có độ tuổi phổ biến nhất vào khoảng từ 35 đến 55, cụ thể là đối với Người nuôi cá là 45%, đối với Thương lái là 100% người được hỏi và 60% đối với Bán lẻ
4.1.2 Người nuôi cá
Qua điều tra thực tế cho thấy sự tham gia vào các tổ chức xã hội, đoàn thể hoặc các câu lạc bộ của người nuôi cá thông qua bảng 4.2
Trang 3726
Bảng 4.2 Sự tham gia tổ chức xã hội, đoàn thể
Nguồn: Tổng hợp từ điều tra thực tế, 2014
Qua bảng 4.2 cho thấy 61% người nuôi cá không tham gia vào các tổ chức xã hội, đoàn thể như Hội nông dân, Hội Khuyến nông, khuyến ngư, Câu lạc bộ Nuôi trồng thủy sản ở địa phương Chính vì vậy, đa số người nuôi cá thiếu kỹ thuật nuôi cá ruộng cũng như thiếu thông tin thị trường, giá cả đầu ra
Từ số liệu điều tra thực tế cho kết quả qua bảng 4.3 về kinh nghiệm sản xuất của người nuôi cá
Bảng 4.3 Kinh nghiệm sản xuất luân canh lúa – cá
Nguồn: Tổng hợp từ điều tra thực tế, 2014
Qua bảng 4.3 cho thấy 37% người được hỏi có kinh nghiệm nuôi cá ruộng từ 5 đến 10 năm, những người nuôi cá có kinh nghiệm trên 10 năm chiếm tỷ lệ thấp nhất là 35% trong số 79 người nuôi cá, những người nuôi cá
có kinh nghiệm dưới 5 năm chiếm tỷ lệ thấp nhất là 28%
Diện tích ruộng lúa – cá
Về diện tích ruộng nuôi lúa – cá thu được từ điều tra thực tế và phân tích phân tần được kết quả qua bảng 4.4
Trang 38Nguồn: Tổng hợp từ điều tra thực tế, 2014
Số liệu về diện tích ruộng lúa – cá qua bảng 4.4 bao gồm ruộng nhà và ruộng thuê Diện tích ruộng từ 1 ha đến 2,5 ha chiếm tỷ lệ nhiều nhất với 57% trong tổng 79 quan sát Diện tích ruộng trên 4 ha chỉ chiếm 9%, điều này cho thấy rất ít hộ nuôi cá ruộng với quy mô lớn Lý do nhiều hộ chỉ nuôi cá ruộng với quy mô nhỏ là để dễ dàng quản lý, chăn sóc cá Ngoài ra, vì bị giới hạn về vốn nên nhiều hộ không có khả năng mở rộng diện tích nuôi cá ruộng
Giống cá và chi phí nuôi cá
Kết quả điều tra và phân tích tần số cho thấy tỷ lệ nuôi các loài cá và chi phí giống cụ thể trong bảng 4.5
Bảng 4.5 Tỷ lệ nuôi các loài cá và chi phí giống trong mô hình lúa – cá
Nguồn: Tổng hợp từ điều tra thực tế, 2014
Các loài cá được nuôi trong mô hình luân canh lúa – cá ở Hậu Giang thường là cá chép, mè hoa, mè vinh, mè trắng, rô phi, sặc rằn,… Cá chép được nuôi phổ biến vì đặc tính dễ nuôi, ăn tạp của cá, dễ bán và giá bán cao; cá mè hoa, mè trắng có đặc tính mau lớn, trọng lượng lớn (800 gram – 1500 gram) khi thu hoạch nhưng cá rất dễ chết, hao nhiều, giá bán thấp
Mô hình luân canh lúa – cá được nhiều hộ ở vùng ngập lũ áp dụng thay cho canh tác lúa vụ 3 là do lợi nhuận cao từ nuôi cá và chi phí nuôi ít Những khoản chi phí nuôi cá ruộng là: chi phí cá giống, thức ăn bổ sung để ương
Trang 3928
dưỡng cá giống ở giai đoạn đầu trước khi thả ra ruộng lúa, thuốc, vôi, lưới, chi phí bơm nước, chi phí thuê lao động… Tuy nhiên, nhiều hộ không ương dưỡng cá giống lúc đầu mà thả vào ruộng để tận dụng thức ăn tự nhiên Thực
tế cho thấy có 40% người nuôi cá có mua thức ăn bổ sung với lý do dưỡng cá cứng cáp hơn trước khi thả vào ruộng để giảm hao hụt trong quá trình sinh trưởng trong ruộng Khi được phỏng vấn, những người nuôi cá cho biết họ có mương với diện tích khoảng 0,01 – 0,8 ha, mục đích để ương dưỡng cá giống khi mua về và chứa cá khi thu hoạch cá để bán Số hộ không dùng thức ăn bổ sung là do họ không có mương chứa cá lúc đầu nên thả trực tiếp vào ruộng để tận dụng thức ăn tự nhiên trong ruộng Tuy nhiên, những hộ thả cá giống trực tiếp vào ruộng có tỷ lệ hao cá cao hơn (khoảng 40 - 70%) những hộ dưỡng cá giai đoạn đầu (khoảng 30%)
So sánh hiệu quả tài chính nuôi cá ruộng trong mô hình luân canh lúa – cá giữa 3 huyện Châu Thành A, Long Mỹ và Phụng Hiệp
Từ kết quả điều tra thực tế, tác giả tổng hợp số liệu để so sánh các chỉ tiêu chi phí về mô hình nuôi lúa - cá luân canh ở 3 huyện Châu Thành A, Long
Mỹ và Phụng Hiệp trong bảng 4.6
Trang 4029
Bảng 4.6 Bảng so sánh chi phí giữa 3 huyện bằng ANOVA – Phi tham số (*)
Đơn vị: Triệu đồng/ha
(*)
Giá trị thể hiện trong bảng là số trung bình và độ lệch chuẩn, trong cùng một hàng các giá trị trung bình theo sau cùng mẫu tự thì không khác biệt ở mức ý nghĩa 5%, nếu khác nhau
về kí tự thì giá trị nào lớn hơn thì lớn hơn
Qua bảng 4.6 cho thấy sự so sánh về các chỉ tiêu chi phí của mô hình luân canh lúa – cá giữa 3 huyện Châu Thành A, Long Mỹ và Phụng Hiệp Nhìn chung về biến phí và định phí không có sự khác biệt trong thống kê giữa
3 huyện Tuy nhiên, xét ở chỉ tiêu chi phí thức ăn bổ sung, có sự khác biệt cụ thể là: chi phí ở huyện Phụng Hiệp cao hơn huyện Châu Thành A với giá trị xấp xỉ 120.000 đồng/ha, chi phí ở huyện Long Mỹ cao hơn Châu Thành A xấp
xỉ 2.308.000 đồng/ha, sự khác biệt về chi phí giữa 2 huyện Long Mỹ và Phụng Hiệp không có ý nghĩa ở mức ý nghĩa 5% Tương tự, ở chi phí cải tạo ruộng nuôi, giữa 2 huyện Châu Thành A và Long Mỹ không có sự khác biệt trong thống kê, nhưng chi phí cải tạo ruộng nuôi ở huyện Phụng Hiệp cao hơn huyện