Phương pháp xác định hoạt tính sinh học từ dịch chiết nước phần thân của loài Adenosma indiana Lour.. Kết luận về hoạt tính sinh học của dịch chiết nước phần thân của loài Adenosma india
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
DƯƠNG HỒNG NHUNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT
TÍNH SINH HỌC CỦA LOÀI BỒ BỒ (ADENOSMA INDIANA (LOUR.) MERR.) PHÂN BỐ Ở ĐỊA BÀN
HUYỆN ĐẠI TỪ- TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC VẬT CHẤT
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
DƯƠNG HỒNG NHUNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT
TÍNH SINH HỌC CỦA LOÀI BỒ BỒ (ADENOSMA INDIANA (LOUR.) MERR.) PHÂN BỐ Ở ĐỊA BÀN
HUYỆN ĐẠI TỪ- TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Hóa hữu cơ
Mã số: 60 44 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC VẬT CHẤT
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thanh Hương
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực chưa từng được công bổ trong một công trình khoa học nào khác
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2015
Tác giả luận văn
Dương Hồng Nhung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bảy tỏ lòng biệt ơn sâu sắc tới cô giáo TS Nguyễn Thị Thanh Hương đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Thạc sỹ Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, khoa Sau Đại học, khoa Hóa học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên và đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ phòng thí nghiệm Khoa Hóa học trường ĐHSP Thái Nguyên, phòng tổng hợp hữu cơ - Viện Hóa học, Phòng nghiên cứu hoạt tính Sinh học - Viện Công nghệ Sinh học- Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam và các bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Học viên
Dương Hồng Nhung
Trang 5MỤC LỤC TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ iv
DANH MỤC CÁC ẢNH, HÌNH v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
3 Nội dung nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Dự kiến kết quả đạt được 4
6 Dự kiến cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 5
1.1 Tổng quan về chi Andenosma và loài Adenosma indiana (Lour.) Merr 6
1.1.1 Tổng quan về chi Adenosma (Họ Scrophulariaceae) 6
1.1.2 Đặc điểm thực vật loài Adenosma indiana (Lour.) Merr 7
1.1.2.1 Tên khoa học 7
1.1.2.2 Đặc điểm thực vật và phân bố trong tự nhiên 8
1.1.3 Đặc điểm thực vật loài Adenosma caeruleum R Br 9
1.1.3.1 Tên khoa học 10
1.1.3.2 Đặc điểm thực vật và phân bố trong tự nhiên 10
1.2 Tình hình nghiên cứu về thành phần hóa học của một số loài thuộc chi Adenosma 11
1.2.1 Nghiên cứu về loài Adenosma caeruleum R.Br 12
1.2.2 Nghiên cứu về loài Adenosma bracteosa Bonati 12
1.2.3 Nghiên cứu về loài Adenosma indiana (Lour.) Merr 12
1.3 Axit betulinic và một số dẫn xuất của axit betulinic 22
1.3.1 Axit betulinic 22
1.3 2 Một số dẫn xuất của axit betulinic 23
1.4 Hoạt tính sinh học của một số loài thuộc chi Adenosma 25
Trang 61.5 Tác dụng dược lý của một số loài thuộc chi Adenosma ở Việt Nam 25
1.5.1 Tác dụng dược lý của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr 25
1.5.2 Tác dụng dược lý của loài Adenosma caeruleum R Br 27
1.5.3 Tác dụng dược lý của loài Adenosma bracteosum Bonati 27
CHƯƠNG 2 : THỰC NGHIỆM 28
2.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.2 Hóa chất, thiết bị 28
2.2.1 Hóa chất 28
2.2.1.1 Hóa chất dùng để phân lập các chất từ phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr 28
2.2.1.2 Hóa chất dùng để thử hoạt tính sinh học từ phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr 28
2.2.2 Thiết bị 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu xác định sự phân bố các loài của chi Adenosma trên địa bàn huyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên 29
2.4 Phương pháp xử lý mẫu thực vật, chiết tách và xác định cấu trúc các chất phân lập được 29
2.4.2 Chiết tách các chất 30
2.4.3 Xác định cấu trúc các chất 30
2.5 Phương pháp xác định hoạt tính sinh học từ dịch chiết nước phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr dạng tươi và dạng khô 30
2.5.1 Xác định khả năng ức chế peroxy hoá lipid (thử nghiệm MDA) 30
2.5.2 Xác định khả năng ức chế α-glucoside 30
2.6 Thực nghiệm 31
2.6.1 Quá trình phân lập các chất từ phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr 31
2.6.1.1 Chiết, tách mẫu phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr 31
2.6.1.2 Phân lập các chất từ cặn chiết etyl axetat 31
2.6.2.1 Chất AC4: 2-(4’-hydroxyphenyl)etyl triacontanoat 33
2.6.2.2 Chất AC1: Axit betulinic 33
2.6.2.3 Chất AC9: β-sitosterol-3-O- β-D-glucopyranosid (β-sitosterol glucosid) 33
2.6.3 Xác định khả năng ức chế peroxy hoá lipid (thử nghiệm MDA) 34
2.6.4 Xác định khả năng ức chế α-glucoside 35
2.7 Phương pháp xử lí số liệu 35
Trang 7CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Xác định sự phân bố các loài thuộc chi Adenosma ở huyện Đại Từ- tỉnh Thái nguyên 37
3.2 Phân lập các chất từ cặn chiết etyl axetat phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr 37
3.3 Xác định cấu trúc chất tách được 38
3.3.1 Chất AC4 : 2-(4’-hydroxyphenyl)etyl triacontanoat 38
3.3.1.1 Phân tích phổ khối HR-ESI-MS 38
3.3.1.2 Phân tích phổ 1 H-NMR (CDCl3, δH ppm) 39
3.1.3.3 Phân tích phổ 13 C-NMR và DEPT (CDCl3, δC ppm) 40
3.3.2 Chất AC1: Axit betulinic ( axit (3β)-3-Hydroxy-lup-20(29)-en-28-oic) 42
3.3.2.1 Phân tích phổ 1 H-NMR (CDCl3, δH ppm) 42
3.3.2.2 Phổ 13 C-NMR và DEPT (CDCl3, δC ppm) 43
3.3.3 Chất AC9: β-sitosterol-3-O-β–D-glucopyranosid (β-sitosterol glucosid) 47
3.3.3.1 Phân tích phổ 1 H-NMR (DMSO-d6, δH ppm) của chất AC9 47
3.3.3.2 Phân tích phổ 13 C-NMR và DEPT (DMSO-d6, δC ppm) 48
3.4 Kết quả thử hoạt tính sinh học từ dịch chiết nước thân loài Adenosma indiana (Lour.) Merr 51
3.4.1 Kết quả xác định khả năng ức chế peroxy hoá lipid (thử nghiệm MDA) 51
3.4.1.1 Chuẩn bị mẫu thử và cách xác định giá trị IC50 51
3.4.1.2 Khả năng ức chế peroxy hoá lipid (thử nghiệm MDA) của dịch chiết nước phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr dạng tươi và dạng khô 52
3.4.2 Kết quả nghiên cứu hoạt tính ức chế enzyme α- glucosidase của dịch chiết nước phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr dạng khô 55
3.4.2.1 Chuẩn bị mẫu thử và cách xác định giá trị IC50 55
3.4.2.2 Khả năng ức chế enzyme α-glucoside của dịch chiết nước phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr dạng khô 56
3.4.3 Kết luận về hoạt tính sinh học của dịch chiết nước phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr 57
KẾT LUẬN 58
KIẾN NGHỊ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
AC1 Axit betulinic
AC4 2-(4’-hydroxyphenyl)etyl triacontanoat
AC9 β-sitosterol-3-O- β –D-glucopyranosid (β-sitosterol glucosid)
13C-NMR Phổ cộng hưởng từ hạt nhân của nguyên tử 13C
1
H-NMR Phổ cộng hưởng từ hạt nhân của nguyên tử 1H
HR-ESI-MS Phổ khối phân giải cao
IC50 Nồng độ gây ra tác động sinh học cho 50% mẫu thử nghiệm
ODC Mật độ quang học của dung môi
ODT Mật độ quang học của mẫu thử
pNPG p-nitrophenyl-α-D-glucopyranozit
SKC Sắc ký cột
SK-MEL-2 Tế bào ung thư hắc tố
TCA Axit tricloaxetic
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng 1.1 Các thành phần hóa học của tinh dầu từ các bộ phận trên mặt đất
của loài Adenosma indiana (Lour ) Merr 15 Bảng 1.2 Các thành phần hóa học của các thành phần dễ bay hơi từ loài
Adenosma indiana (Lour ) Merr 18 Bảng 1.3 Các thành phần dễ bay hơi chiếm tỉ lệ lớn của loài Adenosma
indiana(Lour ) Merr 20 Bảng 1.4 Khả năng gây độc tế bào một số loại ung thư ở người của axit
betulinic 23 Bảng 3.1 Số liệu phổ 1
H-NMR của chất AC4 và 2-(4’-hydroxyphenyl) etyl
triacontanoat 39 Bảng 3.2 Số liệu phổ 13
C-NMR của chất AC4 và 2-(4’-hydroxyphenyl)etyl
triacontanoat 40 Bảng 3.3 Số liệu phổ 1
H-NMR của chất AC1 và axit betulinic 42
Bảng 3.7 Kết quả xác định khả năng ức chế peroxy hoá lipid của dịch chiết
nước phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr dạng tươi và dạng khô 53 Bảng 3.8 Kết quả xác định khả năng ức chế enzyme α-glucoside của dịch
chiết nước phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr dạng khô 56
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ chiết, tách các chất từ phần thân của loài Adenosma indiana
(Lour.) Merr 28
Trang 10DANH MỤC CÁC ẢNH, HÌNH
Hình 1.1 Lá của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr 8
Hình 1.2 Bụi cây của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr 8
Hình 1.3 Hình vẽ mô tả của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr 8
Hình1.4 Hoa của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr 8
Hình 1.5 Thân, lá, hoa của loài Adenosma caeruleum R Br mọc tự nhiên tại huyện Đại Từ 10
Hình 1.6 Bụi cây của loài Adenosma caeruleum R Br mọc tự nhiên tại huyện Đại Từ 10
Hình 1.7 Các chất phân lập được từ dịch chiết clorofom của loài Adenosma caeruleum R.Br 14
Hình 1.8 Các chất phân lập được từ dịch chiết n-hexan và etyl axetat từ phần trên mặt đất của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr 15
Hình 1.9: Công thức cấu tạo của axit betulinic 22
Hình 1.10 Một số dẫn xuất của axit betulinic có hoạt tính độc tế bào ung thư và ức chế tế bào HIV 24
Hình 3.1 Phổ HR-ESI-MS của chất AC4 38
Hình 3.2 Phổ 1 H–NMR của chất AC4 39
Hình 3.3 Phổ 13C-NMR của chất AC4 41
Hình 3.4 Phổ 13 C-NMR và DEPT của chất AC4 41
Hình 3.5 Công thức cấu tạo của chất AC4 42
Hình 3.6 Phổ 1 H–NMR của chất AC1 43
Hình 3.7 Phổ 13 C-NMR của chất AC1 45
Hình 3.8 Phổ 13 C-NMR và DEPT của chất AC1 46
Hình 3.9 Công thức cấu tạo của chất AC1: (3β)-3-hydroxy-lup-20(29)-en-28-oic 46
Hình 3.10 Phổ 1 H–NMR của chất AC9 48
Hình 3.11 Phổ 13 C-NMR của chất AC9 49
Hình 3.12 Phổ 13 C-NMR và DEPT của chất AC9 50
Hình 3.13 Công thức cấu tạo của chất AC9 51
Hình 3.14 MDA của dịch chiết nước phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr (Bồ bồ) dạng tươi và dạng khô 54
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm nên có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng Theo thống kê sơ bộ, ở Việt Nam hiện đã biết khoảng 12 000 loài thực vật bậc cao có mạch, khoảng 800 loài Rêu, 600 loài Nấm và hơn 2000 loài Tảo, trong đó có nhiều loài được dùng làm thuốc [6]
Ngày nay, việc tìm kiếm các hoạt chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao để làm thuốc là một xu thế được rất nhiều các nhà khoa học quan tâm Việt Nam là một trong những quốc gia thuộc các vùng nhiệt đới, nơi chứa đựng giá trị đa dạng sinh học cao chưa được khám phá Bên cạnh đó, cộng đồng các dân tộc ở nước ta cũng có vốn tri thức bản địa sử dụng các loài động vật, thực vật và khoáng vật làm thuốc Hai lĩnh vực này được các nhà khoa học coi là một tiềm năng, trong việc tìm kiếm nghiên cứu tạo ra những loại thuốc mới, có hiệu lực điều trị cao trong tương lai Theo kết quả điều tra của Viện Dược Liệu Việt Nam, đã cho thấy nguồn dược liệu ở nước ta rất phong phú với 3948 loài thực vật và nấm lớn có công dụng làm thuốc; trong
đó 90 % là cây thuốc mọc tự nhiên, tập trung chủ yếu trong các quần xã rừng Nguồn cây thuốc tự nhiên đã cung cấp tới trên 20.000 tấn mỗi năm Trên thực tế, số loài thực vật được sử dụng để phân lập các hoạt chất phục
vụ cho ngành dược còn rất hạn chế so với tổng số các loài cây thuốc và động vật làm thuốc được phát hiện Với nguồn tài nguyên dược liệu phong phú, cùng với vốn kinh nghiệm của cộng đồng các dân tộc Việt Nam chính là một nguồn tiềm năng để nghiên cứu, chiết xuất các hoạt chất và tạo ra những loại thuốc mới có hiệu lực chữa bệnh cao [2]
Bồ bồ có tên khoa học Adenosma indiana (Lour.) Merr.; thuộc chi
Adenosma là loài thường mọc hoang phổ biến ở các vùng trung du và miền núi
Trang 12bản địa ở Việt Nam và nhiều nước châu Á từ bao đời nay Dịch chiết từ phần
thân và lá loài Adenosma indiana (Lour.) Merr.; có hoạt tính sinh học rất cao,
qua các nghiên cứu khoa học của y học hiện đại, dựa trên nguồn gốc là các bài
thuốc dân gian lưu truyền từ bao đời nay thì Adenosma indiana (Lour.) Merr có
tác dụng làm tăng tiết và thúc đẩy quá trình bài xuất dịch mật, bảo vệ tế bào gan, ngăn ngừa tình trạng gan nhiễm mỡ, làm hạ huyết áp, thúc đẩy tuần hoàn, giải nhiệt, giảm đau và chống viêm Nó có khả năng ức chế một số vi khuẩn như tụ cầu vàng, thương hàn, mủ xanh, e.coli, lỵ, song cầu khuẩn gây viêm não, viêm phổi và một số loại nấm [1], [2], [6], cải thiện công năng miễn dịch và ức chế trực tiếp sự tăng sinh của tế bào ung thư [7], [40]
Đại Từ là huyện miền núi nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Thái Nguyên, cách Thành phố Thái Nguyên 25 km với tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 57.790 ha Vị trí địa lý của huyện Đại Từ được bao bọc xung quanh bởi các dãy núi với nhiều sông ngòi, hồ, đập và có Hồ núi Cốc lớn nhất tỉnh với diện tích mặt nước 769 ha Huyện Đại Từ có lượng mưa lớn nhất tỉnh, khí hậu ẩm ướt với độ ẩm trung bình từ 70 - 80% , nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 - 270, rất phù hợp cho nhiều loại cây trồng, nhất là loài cây làm thuốc phát triển Với điều kiện khí hậu và tự nhiên rất thuận lợi, huyện Đại
Từ-tỉnh Thái Nguyên là địa bàn có sự phân bố tự nhiên của chi Adenosma,
tiềm tàng một nguồn lợi lớn, có thể từ đó tạo ra nguồn nguyên liệu làm thuốc chữa bệnh, bổ dưỡng có giá trị trong công nghiệp thực phẩm [50] Từ lâu
nhân dân huyện Đại Từ mới chỉ sử dụng Adenosma indiana (Lour.) Merr
trên địa bàn như một loài cây có tính thanh nhiệt, giải độc mà chưa có nghiên cứu nào bài bản về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài
Adenosma indiana (Lour.) Merr phân bố ở địa bàn huyện Đại Từ - tỉnh
Thái Nguyên Căn cứ các lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài:
Trang 13"Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài Bồ bồ
Adenosma indiana (Lour.) Merr phân bố ở địa bàn huyện Đại Từ - tỉnh
Thái Nguyên."
2 Mục tiêu của đề tài
- Khẳng định sự phân bố của các loài thuộc chi Adenosma R.Br trên địa
bàn huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên
- Khảo sát thành phần hóa học trong cặn chiết etyl axetat phần thân của loài
Adenosma indiana (Lour.) Merr phân bố trên địa bàn huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên
- Xác định hoạt tính chống oxi hóa của dịch chiết nước phần thân của loài
Adenosma indiana (Lour.) Merr dạng tươi và dạng khô Trong phép thử chống
lipit hóa màng tế bào
- Nghiên cứu hoạt tính ức chế enzyme α- glucosidase của dịch chiết nước phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr dạng tươi và dạng khô
- Định hướng về việc sử dụng các các chế phẩm từ phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Mer phân bố trên địa bàn huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên
3 Nội dung nghiên cứu
- Tiến hành thực địa khảo sát sự phân bố của các loài thuộc chi Adenosma
R.Br phân bố trên địa bàn huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên
- Bằng các phép phân tích hóa học xác định thành phần hóa học trong cặn
chiết etyl axetat phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr phân bố
trên địa bàn huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên
- Bằng phép thử chống lipit hóa màng tề bào xác định hoạt tính chống oxi
hóa của dịch chiết nước phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr
Trang 14- Điều tra, thu thập, phân loại mẫu của loài thuộc chi Adenosma R.Br phân
bố trên địa bàn huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên
- Xử lý mẫu thực vật và chiết mẫu bằng dung môi thích hợp để thu được các dịch chiết nhằm nghiên cứu thành phần hóa học
- Dịch chiết được tinh chế sơ bộ bằng cách chiết phân đoạn trong các dung môi có độ phân cực khác nhau
- Sử dụng các phương pháp sắc ký để phân lập các chất chính nhằm khảo sát thành phần hóa học của mẫu
- Sử dụng các phương pháp phổ để xác định thành phần hóa học của mẫu
- Khảo sát hoạt tính chống oxi hóa của dịch chiết nước phần thân của loài
Adenosma indiana (Lour.) Merr dạng tươi và dạng khô
- Nghiên cứu hoạt tính ức chế enzyme α- glucosidase của dịch chiết nước phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr dạng tươi và dạng khô
5 Dự kiến kết quả đạt đƣợc
- Sự phân bố của các loài thuộc chi Adenosma R.Br trên địa bàn huyện Đại
Từ - tỉnh Thái Nguyên
- Thành phần hóa học trong cặn chiết etyl axetat phần thân của loài
Adenosma indiana (Lour.) Merr phân bố trên địa bàn huyện Đại Từ - tỉnh Thái
Trang 15Kết luận;
Tài liệu tham khảo
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về chi Andenosma và loài Adenosma indiana (Lour.) Merr
1.1.1 Tổng quan về chi Adenosma (Họ Scrophulariaceae)
Chi Adenosma R.Br xuất phát từ chữ Hy Lạp Aden: tuyến và osmé: mùi
thơm, hương thơm Chi Adenosma có khoảng 15 loài phân bố ở khu vực Bắc Á, Đông Nam Á, Trung Quốc và quần đảo Thái Bình Dương [6], [16]
- Trung Quốc có bốn loài chính, phân bố tập trung ở các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Tây, Hải Nam, Quảng Đông, Vân Nam, Phúc Kiến, Giang
Tây, Vân Nam, gồm: Adenosma glutinosum (Linn.) Druce, Adenosma indianum (Lour.) Merr , Adenosma javanicum (Bl.) Merr., Adenosma retusilobum Tsoong [16]
- Ở Ấn Độ có ba loài chính gồm: Adenosma indianum (Lour.) Merr, Adenosma malabaricum Hook.f, Fl Brit, Adenosma bilabiatum (Roxb.) Merr, Adenosma caeruleum R Br [16]
- Ở Australia có hai loài gồm: Adenosma caerulea R.Br
(Adenosma glutinosum), Adenosma muelleri Benth (Adenosma bracteosum)
- Ở Siri Lanca có một loài phân bố ở Pasdon Corle là: Adenosma subrepens
Trang 17- Campuchia có bốn loài gồm: Adenosma indiana (Lour.) Merr Adenosma caeruleum R Br, Adenosma bracteosa Bonati, Adenosma javanicum ( Bl) Merr [16]
- Mianma có hai loài gồm: Adenosma indiana (Lour.) Merr Adenosma ovatum (Benth.) Hook.f [16]
- Malaixia có một loài phân bố ở Malacca là Adenosma capitatum Benth.Ex Hance [16]
- Singapo chỉ có một loài là Adenosma inopinatum Prain [16]
- Việt Nam là quốc gia có sự phân bố của chi Adenosma nhiều nhất trong
các nước châu Á, có bẩy loài phân bố khắp các tỉnh từ Bắc vào Nam, phổ biến
nhất là ba loài: Adenosma bracteosa Bonati, Adenosma indiana(Lour.) Merr và Adenosma caeruleum R Br [6]
Dưới đây chúng tôi sẽ trình bày tổng quan về một số loài thuộc chi
Adenosma đã được nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về thành phần hóa
học và hoạt tính sinh học cũng như ứng dụng trong y học
1.1.2 Đặc điểm thực vật loài Adenosma indiana (Lour.) Merr
Tên khác: Manulea indiana Lour., Stemodia capitata Benth., Pterostigma
capitatum Benth., Adenosma capitatum Benth ex Hance, Adenosma capitatum var spicata Bonati, Erinus bilabiatus Roxb., Adenosma bilabiatum
Trang 18(Roxb.)Merr., Adenosma buchneroides Bonati
Hình 1.2 Bụi cây của loài Adenosma
indiana (Lour.) Merr
Hình 1.3 Hình vẽ mô tả của loài
Adenosma indiana (Lour.) Merr
Hình1.4 Hoa của loài Adenosma indiana
(Lour.) Merr
Thân hình trụ, cành non mang nhiều lông về sau nhẵn, lúc đầu thân màu xanh sau chuyển sang màu tím nhạt, chiều cao cây 70 cm - 100 cm Lá mọc đối, phiến lá hình mác, đầu nhọn, mép lá có răng cưa, gân lá hình lông chim, mặt trên
Trang 19mang nhiều lông hơn mặt dưới, chiều dài lá 5 cm - 8 cm, rộng lá 2 cm - 4 cm Rễ thuộc loại rễ chùm, có nhiều lông tơ nhỏ màu trắng, rễ dài 10 - 18 cm Hoa nhỏ, màu tím, mọc tụ tập thành đầu nang, đài có lông với hai môi, môi trên nguyên, môi dưới xẻ bốn Tràng cánh hợp với hai môi, môi trên xẻ bốn, môi dưới nguyên, bốn nhị có hai chiếc dài, hai chiếc ngắn Quả thuộc loại quả nang nằm gọn trong
đài hoa Nhiều hạt nhỏ, hình trứng thuôn, có nhiều gai, màu cánh gián [6]
Phân bố
Loài Adenosma indiana (Lour.) Merr phân bố chủ yếu ở Xri Lanca, Ấn
Độ, Mianma, Nam Trung Quốc; ở Campuchia, Lào, Việt Nam, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia và Philippin
Loài Adenosma indiana (Lour.) Merr là loài sống năm một và phát triển
tốt ở vùng khí hậu nhiệt đới Nhiệt độ từ 25-35o
C là thích nghi cho cây sinh trưởng tốt, nhiệt độ thấp cây phát triển kém Là loài ưa sáng, không chịu được
rét, không chịu được úng Loài Adenosma indiana (Lour.) Merr phát triển tốt ở
điều kiện độ ẩm cao, độ ẩm bình quân hàng năm 80-85% và ở độ cao từ 100–800
m so với mực nước biển
Loài Adenosma indiana (Lour.) Merr có phạm vi thích ứng về đất đai
cũng khá rộng Nhưng cây phát triển tốt nhất là ở vùng đất pha cát thoát nước
tốt, giàu mùn, tơi xốp, lớp đất dưới là đất thịt khi đó thân và lá của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr có màu xanh Đất sét dễ úng nước, đất sỏi đá khô
cằn, đất mặn, cây đều sinh trưởng, phát triển kém cây thường cằn cỗi, thân và lá
có màu tím Cuối tháng 2 sang đầu tháng 3 cây bắt đầu mọc, mùa hoa vào tháng 8-
9 Mùa quả vào tháng 9 – 10 sau đó tàn lụi
Ở Việt Nam, loài Adenosma indiana (Lour.) Merr phân bố ở Thái
Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây vào tới Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương Loài này thường được thấy ở ruộng, các rừng thưa cây rụng lá, nơi trống có cát và cỏ, trong các đầm lầy và đất ẩm, từ độ cao 1200m so với mặt nược biển Cây ra hoa kết quả từ tháng 4 - 10 [6]
1.1.3 Đặc điểm thực vật loài Adenosma caeruleum R Br
Trang 201.1.3.1 Tên khoa học
Tên khoa học: Adenosma caeruleum R Br (Adenosma glutinosum (L.) Druce var., caeruleum Tsoong.)
Thuộc họ: Hoa mõm chó Scrophulariaceae
Tên khác: Chè nội, Chè cát, Tuyến hương lam
Tên vị thuốc: Nhân trần
1.1.3.2 Đặc điểm thực vật và phân bố trong tự nhiên
Đặc điểm thực vật
Hình 1.5 Thân, lá, hoa của loài
Adenosma caeruleum R Br
mọc tự nhiên tại huyện Đại Từ
Hình 1.6 Bụi cây của loài Adenosma
caeruleum R Br
mọc tự nhiên tại huyện Đại Từ
Loài Adenosma caeruleum R Br là loài sống năm một, cây cao từ 80 - 110 cm,
thân tròn màu tím sẫm, trên thân có lông trắng mịn, cây có khả năng phân cành nhiều
Lá mọc đối, hình trứng, đầu lá dài, mép lá có răng cưa, phiến lá dài từ 4 - 9 cm Hoa mầu tím, mọc đơn độc, hình ống Quả nang hình trứng, khi chín quả có mầu nâu và tự tách ra, hạt nhỏ mầu nâu Mùa hoa vào tháng 8 - 9 Mùa quả vào tháng 9 – 10
Phân bố
Loài Adenosma caeruleum R Br thường mọc hoang ở những đồi, ruộng ở
tất cả các xã thuộc huyện Đại Từ
Loài Adenosma caeruleum R Br là loài phát triển tốt ở nới có khí hậu nhiệt đới và là loài sống năm một Thời gian gieo hạt của loài Adenosma caeruleum R
Trang 21Br bắt đầu từ cuối tháng 2 sang tháng 3 khi cây được 6 lá đem trồng, sau khi trồng 5 - 6 tháng cây bắt đầu ra hoa, kết hạt sau đó tàn lụi Cây cũng có thể tái sinh nếu gặp điều kiện thuận lợi, gốc cây có thể sống qua đông đến mùa xuân năm sau xuất hiện các chồi mới Nhiệt độ từ 15 - 30o
C là thích nghi cho cây sinh trưởng tốt, nhiệt độ dưới 150C cây phát triển kém Là cây ưa sáng, không chịu
được úng Những cây Adenosma caeruleum R Br mọc hoang dại trong rừng, độ khép tán của rừng quá lớn, quá râm thì cây Adenosma caeruleum R Br mọc rậm rạp, ít ra hoa kết quả, thậm chí không ra hoa kết quả Còn cây Adenosma caeruleum R Br mọc ở rìa rừng, ở đồi, ở ruộng, ánh sáng chiếu xuống tương đối nhiều, cây tuy thấp nhưng đậu quả rất nhiều Loài Adenosma caeruleum R
Br đòi hỏi nước rất nghiêm ngặt, lượng mưa hàng năm từ 1700 - 1800 mm, độ
ẩm bình quân hàng năm trên 70%
Loài Adenosma caeruleum R Br không đòi hỏi đất đai tốt lắm, đất cát, đất
thịt đều có thể trồng được, tốt nhất là đất pha cát thoát nước tốt, giàu mùn, tơi xốp, lớp đất dưới là đất thịt Đất sét dễ úng nước, đất sỏi đá khô cằn, đất mặn,
đều không nên trồng Adenosma caeruleum R Br Adenosma caeruleum R Br
được trồng nhiều ở một số nơi trong huyện Đại Từ như ở xã Cát Nê, xã Vạn
Thọ Loài Adenosma caeruleum R Br trước đây mọc hoang, sau đó nhân dân
đưa về trồng ở các tỉnh vùng trung du miền núi có kết quả
1.2 Tình hình nghiên cứu về thành phần hóa học của một số loài thuộc chi
Trang 22nhiều về hóa học và hoạt tính sinh học cả ở Việt Nam và trên thế giới Cho đến nay ở trên thế giới và ở Việt Nam chỉ có một số công trình khoa học công bố về
thành phần hóa học của hai loài Adenosma caeruleum R.Br, và Adenosma indiana (Lour.) Merr
1.2.1 Nghiên cứu về loài Adenosma caeruleum R.Br
Năm 1975, Lê Tùng Châu và cộng sự phân tích trong Adenosma caeruleum
R.Br có saponin tritecpenic, flavonozit, axit nhân thơm, cumari và tinh dầu Cả cây
có 1% tinh dầu, hoa có 1,86% tinh dầu tỷ trọng 0,8042 (250
) nD=1,4705 (200) aD= +408 [6]
Từ dịch chiết chloroform loài Adenosma caeruleum R.Br lúc ra hoa, các nhà
khoa học Việt Nam đã thu được các chất sau: sitosterol, stigmasterol, campesterol,
axit betulinic (1), monoterpen peroxit (2), enon (3), phenol (4), arbutin (5) và aucubin (6) trong đó monoterpen peroxit (2) là một chất mới (Hình 1.1) [7], [8]
Cũng từ loài này, nhóm nghiên cứu của GS Phan Văn Kiệm đã phân lập
được một iridoid glycoside mới có tên là adenosmoside (7) (Hình 1.1) [30]
Đến nay, vẫn chưa có công trình khoa học nào công bố về hoạt tính sinh
học của các chất, đặc biệt là các chất mới như monoterpen peroxide (2) hay
adenosmoside (7) …đã được phân lập từ chi Adenosma
1.2.2 Nghiên cứu về loài Adenosma bracteosa Bonati
Nguyễn Viết Tựu và cộng sự (PV dược liệu TP Hồ Chí Minh) phân tích thấy
trong Adenosma bracteosum Bonati có 0,25% tinh dầu, mầu vàng sẫm, tỷ trọng
0,890, chỉ số khúc xạ 1,496, sắc ký khí thấy 19 pic trong đó có 5 pic lớn cineol khoảng 18% Ngoài ra còn có flavonoit, hợp chất polyphenol và cumarin [6]
Thành phần hóa học của loài Adenosma bracteosum Bonati mới chỉ dừng
lại ở nghiên cứu về thành phần tinh dầu của loài này [46]
1.2.3 Nghiên cứu về loài Adenosma indiana (Lour.) Merr
Trang 23Năm 1939 F Guichard và J Clemensat phân tích loài Adenosma indiana
(Lour.) Merr dưới định danh Nhân trần và thấy 1,67% kali nitrat, một saponin
có chỉ số bọt 2.600, một glucozit tan trong axeton, trong ete, không tan trong
nước, khoảng 0,7% tinh dầu Tinh dầu của loài Adenosma indiana(Lour.) Merr
lỏng, màu vàng, mùi hăng gần giống như mùi long não và bạc hà, vị nóng; tan trong metanol, etanol, clorofom và các dung môi hữu cơ khác Tỷ trọng ở 150
C
là 0,914, chỉ số khúc xạ ở 200C là 1,4733 và ở 300C là 1,4717 Thành phần chủ yếu của tinh dầu gồm 20% hợp chất oxi tan trong dung dịch reorcin, 50% Chỉ số axit 1,4; chỉ số xà phòng hóa 11,5; chỉ số axetyl hóa 38; chỉ số iot 121,4 [6]
Năm 1950, P.V Nair và cộng sự đã cất được từ loài Adenosma indiana (Lour.)
Merr 1% tinh dầu và đã phân tích thấy có 5 l.monoterpen và 2 d.secquiterpen trong
đó có 38,5% cineol Ngoài ra còn thấy saponin, tritecpenic, flavonoit, axit nhân thơm
và cumarin Toàn cây có 0,912 (200
) nD=1,4768, D-44,920 [6]
Trang 24OH O
OH
OH OH
H
O H
OH OH
(6)
O O
O O
O
OH
OH
OH OH
(7)
Hình 1.7 Các chất phân lập được từ dịch chiết clorofom của loài Adenosma
caeruleum R.Br
( ( (
) ) )
Trang 25Hình 1.8 Các chất phân lập được từ dịch chiết n-hexan và etyl axetat từ phần trên
mặt đất của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr
Từ dịch chiết n-hexan và etyl axetat từ phần trên mặt đất của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr (với định danh Adenosma capitatum), Nguyễn Minh Phương
và cộng sự đã phân lập được ba flavon metoxy hoá: 4’,5-dihydroxy-3, 3’, 6,
7-tetrametoxy-flavon (chrysosplenetin) (8), artemetin (9) và quercertin trimetyl ete (10) (Hình 1.2) [29]
3,3’,7-Năm 1974 Lê Tùng Châu đã phân tích thấy trong tinh dầu của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr Việt Nam có: 22,6 % l limonen, 11,6% humulen, 33,5 % l
feneccho và 5,9 % cineol Ngoài ra còn thấy saponin, tritecpenic, flavonoit, axit nhân thơm và cumarin Toàn cây có 0,8% tinh dầu, lá 2,15%, hoa 0,82%, tỷ trọng 0,912 (200), nD = 1,4768; D= 44,920 [6]
Năm 2010 Md Nazrul Islam Bhuiyan, Farhana Akter, Jasim Uddin howdhury và Jaripa Begum (Bangladesh) đã công bố kết quả nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu từ các bộ phận trên mặt đất của loài
Adenosma indiana (Lour.) Merr Tinh dầu loài Adenosma indiana (Lour.) Merr chứa 46 thành phần trong đó chủ yếu là: limonen (24,74%), fenchon (21,59%), 2-caren (17,64%), α-caryophyllen 1,62%), γ-terpinen (3,04%), β-bisabolen (2,80%), Fenchyl alcol (2,08%), phytol (1,89%), caryophyllen (1,14%) [11]
Bảng 1.1 Các thành phần hóa học của tinh dầu từ các bộ phận trên mặt đất của
loài Adenosma indiana (Lour ) Merr. [11]
Trang 28Năm 2013 các tác giả Trung Quốc là Zhi Zeng, Chunyan Meng,
Xuening Ye và Zhuo Zeng, phân tích các thành phần dễ bay hơi của Adenosma indianum (Lour.) Merr bằng chưng cất hơi nước và sắc ký khí khối phổ (GC-
MS) Có tổng cộng 49 thành phần dễ bay hơi được xác định bằng phương pháp
GC-MS Các thành phần dễ bay hơi lớn là: α-limonen (20,59-35,07%), fenchon (15,79-31,81%), α-caryophyllen (6,98-10,32%), β-caryophyllen (6,98-10,19%),
piperitenon oxit, (1,96-11,63%), Caryophyllen oxit (1,15-3,55%) [50]
Bảng 1.2 Các thành phần hóa học của các thành phần dễ bay hơi từ loài
Adenosma indiana (Lour ) Merr [50]
Trang 31Tên chất Công thức Tên chất Công thức
Trang 321.3 Axit betulinic và một số dẫn xuất của axit betulinic
1.3.1 Axit betulinic
Từ năm 1995 Axit betulinic được biết tới như là một chất ức chế u ác tính trên người [19], [33], [37], qua thực nghiệm, đã chứng minh được axit betulinic có khả năng phá hủy tế bào trong các hệ thống ung thư [17], [41] Các nghiên cứu ban đầu kết luận rằng axit betulinic chống lại các dòng tế bào u ác tính một cách chọn lọc [33], [49], các nghiên cứu sau đó đã chứng minh
là axit betulinic có khả năng chữa trị các loại bệnh ung thư khác của con người bao gồm: u nguyên bào thần kinh [18], [38], u não [19], bệnh bạch cầu [15], [34] cũng như một số bệnh ung thư, ở vùng đầu, cổ [42], đại tràng, vú, gan, phổi, tuyến tiền liệt, tế bào thận, buồng trứng hoặc ung thư biểu mô cổ tử cung Axit betulinic có thể vượt qua một số hình thức kháng thuốc [10], [17], [24] vì vậy axit betulinic là ưu tiên chỉ định trong quá trình điều trị các dòng u ác tính di căn [13], [22], [37] Axit betulinic kết hợp với các kích thích gây độc tế bào khác nhau để ngăn chặn sự phát triển của khối u, bao gồm cả bức xạ ion hóa [41], các loại thuốc hóa trị liệu [ 13], [46]
Trang 33Bảng 1.4 Khả năng gây độc tế bào một số loại ung thư ở người của axit
betulinic
1.3.2 Một số dẫn xuất của axit betulinic
Nhiều dẫn xuất mới của axit betulinic có hoạt tính sinh học mạnh với virut
và với tế bào ung thư Sự chuyển hóa các nhóm chức hydroxyl ở C-3 và nhóm cacbonyl ở C-28 của axit betulinic tạo thành dãy các dẫn xuất mới có hoạt tính
sinh học cao hơn so với axit betulinic [12], [25], [31] Ví dụ, hợp chất (11) và
(12) (Hình 1.4) thể hiện hoạt tính kháng HIV ức chế dòng tế bào MT-4 với các
giá trị EC50= 0,01µmol/L (IC5 0=12,2 µmol/L) và EC5 0= 0,007µmol/L (IC5 0=11 µmol/L) [13], [27], [30]
Các sản phẩm từ phản ứng este hóa và amit hóa nhóm hydroxyl cùng nhóm cacboxylic của betulinic đều có hoạt tính sinh học cao hơn so với betulinic, như dẫn
xuất mới (13) và (14) (Hình 1.4) đều cho thấy khả năng ức chế mạnh sự sinh trưởng
Trang 34của virut HIV với các nồng độ tác dụng EC50= 0,0047µmol/L (IC50>10 µmol/L) và
EC50= 0,0026µmol/L (IC50=8 µmol/L) [26], [40] Đặc biệt, trong các dẫn xuất mới
của axit betulinic, hợp chất (15) (Hình 1.4), có tác dụng ức chế sự sinh trưởng của
virut HIV và hiện tại đang trong tiến trình thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2b [13], [40] Những biến đổi hóa học trong vòng A của axit betulinic tạo hệ liên hợp 2-cloro- hay 2-formyl-3-oxo-1-en- như các dẫn xuất axit 2-cloro-3-oxo-lup-1,20(29)- dien-28-
oic (16) và axit metyl 2-formyl-3-oxo-lup-1,20(29)-dien-28-oic (17) (Hình 1.4) có
hoạt tính độc tế bào khá mạnh đối với dòng tế bào ung thư SK-MEL-2, đặc biệt là
hợp chất (16) có hoạt tính mạnh tăng gấp 59 lần so với axit betulinic trên tế bào ung
Trang 351.4 Hoạt tính sinh học của một số loài thuộc chi Adenosma
- Tác dụng trên gan mật: Các loài thuộc chi Adenosma có tác dụng làm tăng
tiết dịch mật, thúc đẩy quá trình bài xuất dịch mật Đồng thời giúp bảo vệ tế bào gan, tăng cường chức năng giải độc của gan, phòng chống tích cực tình trạng gan nhiễm mỡ [2], [3], [6]
- Tác dụng chống viêm: Các loài thuộc chi Adenosma có tác dụng giải nhiệt,
giảm đau, chống viêm Tác dụng chống viêm ở giai đoạn cấp tính mạnh hơn mãn tính [2], [3], [6]
- Tác dụng kháng khuẩn: dịch chiết từ các loài thuộc chi Adenosma có khả
năng ức chế một số vi khuẩn như: tụ cầu vàng, trực khuẩn bạch hầu, thận, thương hàn, phó thương hàn, mủ xanh, E Coli, lỵ, song cầu khuẩn gây viêm não, viêm phổi và một số loại nấm [2], [3], [6]
- Tác dụng trên tuần hoàn: làm hạ huyết áp, điều chỉnh rối loạn lipit máu,
cải thiện lưu lượng tuần hoàn nuôi tim và não [2], [3], [6]
- Ứng dụng trên lâm sàng: Các loài thuộc chi Adenosma được sử dụng để
điều trị các bệnh viêm gan, truyền nhiễm cấp tính thể vàng da, vàng da tán huyết
do thương hàn ở trẻ sơ sinh, giun chui ống mật, rối loạn lipit máu, thiểu năng mạch vành, viêm loét miệng, nấm da, [2], [3], [6]
Các tác dụng trên đã được nghiên cứu và ứng dụng thực tế để chữa bệnh trong y học cổ truyền từ rất lâu Một số nghiên cứu đã được tiến hành đối với các
loài thuộc chi Adenosma ở Việt Nam
1.5 Tác dụng dƣợc lý của một số loài thuộc chi Adenosma ở Việt Nam
1.5.1 Tác dụng dƣợc lý của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr
Tên đông y còn gọi là Nhân trần đực, hay Nhân trần Bồ bồ Năm 1939
Guichard và Clemensat nghiên cứu tác dụng của nước cất loài Adenosma indiana (Lour.) Merr (ngâm tinh dầu với nước trong vài giờ) trên giun
Trang 36Nước bão hòa tinh dầu có tác dụng mạnh hơn nước cất của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr Đối với giun đũa (Ascaris) cũng có hiện tượng như trên
nhưng yếu hơn và con giun chỉ chết sau 2 đến 3 giờ Đối với giun móc câu con giun chết ngay sau 10 đến 15 phút Thí nghiệm độ độc trên thỏ, với liều cao hơn tinh dầu giun thường dùng cho người cũng không thấy hiện tượng ngộ độc nào Hai tác giả đã đi tới kết luận: Có thể dùng tinh dầu của loài
Adenosma indiana (Lour.) Merr làm thuốc tẩy giun [6]
Về tác dụng thông mật của hai loài Adenosma caeruleum R.Br và Adenosma indiana (Lour.) Merr Việt Nam theo như kinh nghiệm dùng trong
dân gian Năm 1957, Lê Tùng Châu (Viện dược liệu Hà Nội) và Nguyễn Viết Tựu (PV dược liệu TP Hồ Chí Minh) đã nghiên cứu tác dụng dược lý của loài
Adenosma caeruleum R.Br và loài Adenosma indiana (Lour.) Merr và loài Adenosma bracteosa Bonati đã có kết quả: loài Adenosma indiana (Lour.) Merr
làm tăng tiết mật rõ rệt ở cả 3 lô thí nghiệm (cao etanol 400, cao nước và tinh dầu) Tác dụng mạnh nhất ở cao etanol, tác dụng tăng thải độc của gan chỉ có ở cao etanol và tinh dầu [6]
Loài Adenosma indiana (Lour.) Merr có tác dụng kháng khuẩn trên nhiều
loại vi khuẩn mạnh nhất là trên 2 chủng trực khuẩn lỵ (Sh Dyénteriae 111 và Sh
Shigae 39) và 2 chủng cầu khuẩn (Staphylococcus aureus 109P và Streptococcus hemolyticus S84) Tác dụng kháng khuẩn mạnh nhất ở cao etanol và cao nước,
yếu ở tinh dầu
Loài Adenosma indiana (Lour.) Merr có tác dụng rõ rệt làm giảm tiết
dịch vị, giảm độ axit tự do và axit toàn phần của dịch vị, làm giảm loét dạ dày của thực nghiệm
Độc tính của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr không đáng kể, với
liều có tác dụng dược lý, dùng liên tục trong thời gian dài không thấy biểu hiện nhiễm độc thuốc Với liều cao hơn liều tác dụng 20 lần không làm súc
Trang 371.5.2 Tác dụng dƣợc lý của loài Adenosma caeruleum R Br
Tên đông y là Nhân trần hoặc Nhân trần nam Loài Adenosma caeruleum R
Br có tác dụng tăng tiết mật và tăng thải độc của gan Nhưng so sánh tác dụng
lên gan, mật của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr và loài Adenosma caeruleum R Br thì tác dụng của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr mạnh hơn Loài Adenosma caeruleum R Br cũng có tác dụng chống viêm Loài Adenosma caeruleum R Br và loài Adenosma indiana (Lour.) Merr có tác dụng
chống viêm tương đương ở mô hình phù caolin và teo tuyến ức nhưng đối với
mô hình u hạt thì loài Adenosma caeruleum R Br chưa bằng 1/2 của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr Trên phù caolin với liều 15g/kg thể trọng thì ức chế phù của loài Adenosma caeruleum R Br lại giảm [6]
Tác dụng kháng khuẩn của loài Adenosma caeruleum R Br kém hơn so với loài Adenosma indiana (Lour.) Merr nhất là với trực khuẩn lỵ Nhưng loài Adenosma caeruleum R Br ức chế mạnh hơn với Staphyllococcus và Steptococcus [6]
Loài Adenosma caeruleum R Br tác dụng không rõ rệt lên tiết dịch vị:
không giảm loét dạ dầy, không giảm tiết vị, có làm giảm axit tự do và axit toàn
phần tuy nhiên hai tác dụng này lại giảm khi dùng liều cao [6]
1.5.3 Tác dụng dƣợc lý của loài Adenosma bracteosum Bonati
Tên đông y là Nhân trần tía Dịch chiết etanol 900
có độc tính cao hơn dịch
nước sắc loài Adenosma bracteosum Bonati Với liều lượng 300mg/kg thể trọng
dịch chiết nước không thấy chuột lang chết Làm tăng lượng tiết mật trên chuột lang Lượng mật tăng gần 25% so với lô đối chứng [6]
Trang 38CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Mẫu phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr được thu hái tại
huyện Đại Từ-tỉnh Thái Nguyên vào tháng 4 và 5 năm 2014 do chuyên gia thực vật học Nguyễn Thế Anh, Viện Hóa học-Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam xác định tên khoa học
2.2 Hóa chất, thiết bị
2.2.1 Hóa chất
2.2.1.1 Hóa chất dùng để phân lập các chất từ phần thân của loài Adenosma
indiana (Lour.) Merr
Sử dụng các dung môi n–hexan, etyl axetat, butanol, metanol để ngâm chiết mẫu
Sắc ký bản mỏng phân tích: sử dụng bản mỏng nhôm tráng sẵn silicagel 60 F254, Merck, có độ dày 0,2 mm
Sắc ký cột thường: sử dụng silicagel cỡ hạt 197–400 mesh (0,040–0,063 mm)
Sắc ký cột nhanh: sử dụng silicagel cỡ hạt 70–200 mesh
Bản mỏng: được kiểm tra bằng đèn tử ngoại ở hai bước sóng ngắn và dài (254; 365 nm), sau đó hiện màu bằng thuốc thử vanilin–H2SO4 (vanilin 1,2 g; MeOH 200 mL; CH3COOH 25 mL; H2SO4 11 mL), hơ nóng trên bếp điện cho đến khi các vệt trên bản mỏng hiện màu rõ nhất
Các dung môi n–hexan, etyl axetat, điclometan và metanol đều được cất lại qua cột Vigreux trước khi sử dụng để chạy sắc ký cột và sắc ký bản mỏng
2.2.1.2 Hóa chất dùng để thử hoạt tính sinh học từ phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr
Động vật: chuột BALB/c khoẻ mạnh
Hoá chất: Trolox (Sigma Aldrich), Dimetylsulfoside (DMSO) (Fisher
Scientific), Kali clorid 1,15% (KCl), Axit tricloaxetic (TCA), Axit thiobarbituric
Trang 39glucopyranoside (pNPG) (Sigma Aldrich) và các dung môi thông thường khác
Phổ khối ESI-MS được đo trên máy FT-ICR-MS
Đĩa 96 giếng, pipet, eppendorf và các thiết bị phụ trợ khác
Cân phân tích, máy đo OD Microplate Reader
2.3 Phương pháp nghiên cứu xác định sự phân bố các loài của chi
Adenosma trên địa bàn huyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên
Chúng tôi tiến hành khảo sát thực địa, thu thập thông tin, thu hái tiêu bản, gồm
cả phần rễ, lá, thân, hoa của các loài Adenosma trên địa bàn các xã: Quân Chu, Cát
Nê, K ý Phú, Vạn Thọ, Văn Yên, Mỹ Yên, La Bằng, Bản Ngoại, An khánh, Khôi
Kỳ, Tiên Hội, Bình Thuận, thuộchuyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên vào thời điểm
cây phát triển trong năm là từ tháng 4 tới 8 năm 2014
Mẫu tiêu bản được ghi vùng, thời điểm và được định danh và khẳng định loài bởi chuyên gia thực vật học Nguyễn Thế Anh, Viện Hóa học- Viện Hàn lâm
Khoa học và công nghệ Việt Nam
2.4 Phương pháp xử lý mẫu thực vật, chiết tách và xác định cấu trúc các chất phân lập được
2.4.1 Xử lý mẫu thực vật
Mẫu thân cây Bồ bồ được thu hái tại các xã: Cát Nê, K ý Phú, Mỹ Yên thuộc huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên (tháng 4-5 năm 2014) Mẫu nguyên liệu được rửa sạch, sau khi hong gió 3-4 giờ, xử lý diệt men mẫu bằng cách hấp nguyên liệu bởi hơi etanol 700
trong 3-4 phút Nguyên liệu sau diệt men tiếp tục xử lý để
có mẫu tươi và mẫu khô
Trang 40Khi chiết mẫu tươi, phần thân mẫu sau khi diệt men sẽ chiết nước ngay Khi chiết mẫu khô thì sấy khô trên máy sấy mẫu thực vật ở 400C, xay nhỏ
và tiến hành ngâm chiết trong dung môi
2.4.2 Chiết tách các chất
- Mẫu phần thân của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr được rửa sạch,
hong khô tự nhiên, sấy khô bằng thiết bị sấy thực vật ở nhiệt độ 40oC, xay nhỏ
và ngâm chiết với metanol (4x24 giờ) ở nhiệt độ phòng Quay cất dung môi dưới
áp suất giảm thu được cặn chiết metanol Thêm 50 ml nước, khuấy đều và chiết lần lượt với các dung môi có độ phân cực tăng dần: n-hexan, etyl axetat, butanol Sau đó lọc và gộp các dịch chiết của từng loại dung môi với nhau, quay cất dung môi dưới áp suất giảm thu được các cặn chiết tương ứng
- Phân lập cặn chiết etyl axetat thu được bằng phương pháp sắc ký cột trên silicagel với các hệ dung môi thích hợp
2.4.3 Xác định cấu trúc các chất
Cấu trúc của các hợp chất được xác định bằng sự kết hợp các phương pháp phổ hiện đại như phổ khối phân giải cao (HR-ESI-MS) và phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều (1
H-NMR, 13C-NMR, DEPT)
2.5 Phương pháp xác định hoạt tính sinh học từ dịch chiết nước phần thân
của loài Adenosma indiana (Lour.) Merr dạng tươi và dạng khô
2.5.1 Xác định khả năng ức chế peroxy hoá lipid (thử nghiệm MDA)
Được thực hiện theo phương pháp của Stroev EA, Makarova VG (1998) và của Viện Dược liệu - Bộ Y Tế (2006) có một vài hiệu chỉnh nhỏ Xác định khả năng ức chế peroxy hoá lipid của mẫu nghiên cứu qua việc xác định hàm lượng malonyl diandehit (MDA), là sản phẩm của quá trình peroxy hoá lipid màng tế bào MDA có khả năng phản ứng với axit thiobarbituric để tạo thành phức hợp trimethin (có màu hồng) có đỉnh hấp thu cực đại ở λ = 532 nm
2.5.2 Xác định khả năng ức chế α-glucoside