TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH TRẦN ĐỖ THANH HƯNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG CÀ PHÊ VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG LIÊN MINH CHÂU ÂU LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRẦN ĐỖ THANH HƯNG
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG
CÀ PHÊ VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG
LIÊN MINH CHÂU ÂU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Kinh doanh quốc tế
Mã số ngành: D340120
Tháng 9 - Năm 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRẦN ĐỖ THANH HƯNG MSSV: 4114754
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG
CÀ PHÊ VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG
LIÊN MINH CHÂU ÂU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Kinh doanh quốc tế
Mã số ngành: D340120
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS VÕ VĂN DỨT
Tháng 9 - Năm 2014
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn TS.Võ Văn Dứt đã tận tâm hướng dẫn em qua từng
buổi cũng như những buổi nói chuyện, thảo luận về lĩnh vực sáng tạo trong nghiên khoa học Nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của thầy thì em nghĩ bài thu hoạch này của em rất khó có thể hoàn thiện được
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em cam đoan rằng đề tài này là do chính em thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào
Ngày … tháng … năm …
Sinh viên thực hiện
(ký và ghi họ tên)
Trang 5NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Ngày … tháng … năm …
Giáo viên hướng dẫn
(ký và ghi họ tên)
Trang 6MỤC LỤC
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Không gian 2
1.3.2 Thời gian 2
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH 3
2.1.1 Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh 3
2.1.2 Các cấp độ của năng lực cạnh tranh 3
2.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm 5
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của mặt hàng cà phê xuất khẩu 8
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 10
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 10
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ TẠI LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG CÀ PHÊ VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG LIÊN MINH CHÂU ÂU 12
3.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÀNH CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM 12
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 12
3.1.2 Thực trạng sản xuất cà phê của Việt Nam 13
3.2 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ TẠI LIÊN MINH CHÂU ÂU 18
Trang 73.2.1 Đặc điểm thị trường cà phê tại liên minh Châu Âu 18
3.2.2 Tình hình nhập khẩu cà phê tại liên minh Châu Âu 19
3.2.3 Một số quy định về nhập khẩu cà phê vào thị trường liên minh Châu Âu 24
3.3 KINH NGHIỆM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH MẶT HÀNG CÀ PHÊ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA XUẤT KHẨU VÀO LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 26
3.3.1 Braxin 26
3.3.2 Indonesia 28
3.3.3 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 29
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH MẶT HÀNG CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG LIÊN MINH CHÂU ÂU 31
4.1 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM TẠI LIÊN MINH CHÂU ÂU 31
4.1.1 Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu 31
4.1.2 Về chất lượng cà phê xuất khẩu 32
4.1.3 Cơ cấu chủng loại xuất khẩu 34
4.1.4 Giá xuất khẩu 35
4.2 CÁC CHI TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG CÀ PHÊ VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG LIÊN MINH CHÂU ÂU 36
4.2.1 Các chỉ tiêu định lượng 36
4.2.2 Các chỉ tiêu định tính 43
4.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG CÀ PHÊ VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG LIÊN MINH CHÂU ÂU THEO MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA M.PORTER 46
4.3.1 Điều kiện các yếu tố sản xuất 48
4.3.2 Điều kiện nhu cầu trong nước 50
4.3.3 Các ngành hỗ trợ và có liên quan đến mặt hàng cà phê xuất khẩu 51
4.3.4 Môi trường cạnh tranh và cơ cấu ngành 52
4.3.5 Vai trò của nhà nước 53
4.3.6 Vai trò của cơ hội 54
Trang 84.4 NHẬN XÉT CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG CÀ
PHÊ VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG LIÊN MINH CHÂU ÂU 54
4.4.1 Những thành công đạt được 54
4.4.2 Điểm yếu và nguyên nhân 55
CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG CÀ PHÊ VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG LIÊN MINH CHÂU ÂU 58
5.1 ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG CÀ PHÊ VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG LIÊN MINH CHÂU ÂU
58
5.1.1 Định hướng 58
5.1.2 Mục tiêu 59
5.2 DỰ BÁO NHU CẦU NHẬP KHẨU CÀ PHÊ CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU; NHỮNG ĐIỂM MẠNH, ĐIỂM YẾU, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM SANG LIÊN MINH CHÂU ÂU 59
5.2.1 Dự báo nhu cầu nhập khẩu cà phê của liên minh Châu Âu 59
5.2.2 Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của mặt hàng cà phê Việt Nam tại thị trường liên minh Châu Âu 60
5.3 CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG CÀ PHÊ VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG LIÊN MINH CHÂU ÂU 63
5.3.1 Các giải pháp từ phía doanh nghiệp 63
5.3.2 Các kiến nghị về phía chính phú và hiệp hội cà phê 64
5.3.3 Xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, đẩy mạnh kênh phân phối sang thị trường liên minh Châu Âu 65
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
6.1 KẾT LUẬN 67
6.2 KIẾN NGHỊ 67
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam năm 2013 14 Bảng 3.2 Tổng sản lượng cà phê trong niên vụ từ 2006-2013 15 Bảng 3.3: Sản lượng cà phê sản xuất tại liên minh Châu Âu giai đoạn 2005-
2013 18 Bảng 3.4: Tình hình nhập khẩu cà phê tại liên minh Châu Âu giai đoạn 2005-
2013 19 Bảng 3.5: Khối lượng cà phê nhập khẩu của liên minh Châu Âu giai đoạn
2005-2013 20 Bảng 3.6: Kim ngạch nhập khẩu cà phê của liên minh Châu Âu giai đoạn 2005-
2013 21 Bảng 3.7: Khối lượng cà phê 10 quốc gia hàng đầu xuất khẩu cà phê nhân vào
thị trường liên minh Châu Âu, giai đoạn 2010-2013 23 Bảng 4.1: Sản lượng và kim ngạch nhập khẩu cà phê Việt Nam của liên minh
Châu Âu giai đoạn 2005-2013 31 Bảng 4.2: Tiêu chuẩn về cà phê của Việt Nam 33 Bảng 4.3: Các chi tiêu để tính hệ số RCA của mặt hàng cà phê Việt Nam giai
đoạn 2005-2013 37 Bảng 4.4: Chỉ số RCA của mặt hàng cà phê Việt Nam giai đoạn 2005-2013 37 Bảng 4.5: Mức thị phần các quốc gia xuất khẩu cà phê nhân vào thị trường liên
minh Châu Âu qua các năm, giai đoạn 2005-2013 38 Bảng 4.6: Giá cà phê nhân xuất khẩu của một số quốc gia vào thị trường liên
minh Châu Âu giai đoạn 2005-2013 42
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Trang
Biểu đồ 3.1: Tình hình sản xuất cà phê Việt Nam (2005 – 2013) 16 Biểu đồ 3.2: Sản lượng cà phê Việt Nam theo tỉnh thành (2013) 17 Biểu đồ 3.3: Thị phần các quốc gia xuất khẩu cà phê rang xay và hoà tan vào
thị trường liên minh Châu Âu năm 2013 24 Biểu đồ 4.1: Sản lượng và kim ngạch cà phê xuất khẩu của Việt Nam sang thị
trường liên minh Châu Âu giai đoạn 2005-2013 32 Biểu đồ 4.2: Giá cà phê xuất khẩu trung bình của Việt Nam sang thị trường
liên minh Châu Âu, giai đoạn 2005-2013 35 Biểu đồ 4.3: Thị phần trung bình các quốc gia xuất khẩu cà phê hàng đầu vào
thị trường liên minh Châu Âu năm 2013 38 Biểu đồ 4.4: Thị phần trung bình của một số quốc gia xuất khẩu cà phê rang
xay và hòa tan vào thị trường liên minh Châu Âu năm 2013 40 Biểu đồ 4.5: Giá cà phê nhân xuất khẩu của một số quốc gia vào thị trường liên
minh Châu Âu giai đoạn 2005-2013 43
Trang 11DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ECF : European Coffee Federation
RCA : Revealed Comparative Advantage
SWOT : Strengths, weaknesses, opportunities, threats USD : United States of Dollar
ICO : International Coffee Organization
IFC : The International Finance Corporation
VICOFA : Vietnam Coffee and Cocoa Association CQP : Coffee Quality Improvement Program
GAP : Good Agriculture Practice
GSP : Generalized System of Preferences
Trang 12CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, xuất khẩu là một khâu rất quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân của một nước Thực tiễn những năm qua cho thấy nhờ thực hiện những chủ trương của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là chủ trương hướng mạnh vào xuất khẩu nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển mạnh Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra một cách mạnh mẽ, nó lôi cuốn các ngành, các lĩnh vực tham gia cuộc chơi chung vì lợi ích của hội nhập kinh tế quốc tế đem lại Trong xu hướng này, Việt Nam nói chung và ngành cà phê nói riêng đã và đang tích cực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Khi mà thị trường trong nước ngày càng trở nên chật chọi thì việc tìm kiếm thị trường nước ngoài là cần thiết để mở rộng quy mô cũa mỗi doanh nghiệp
Ngành cà phê là một ngành mới ở Việt Nam, cà phê du nhập vào nước ta trong giai đoạn thị trường cà phê thương mại thế giới phát triển mạnh mẽ và được biết đến ở Việt Nam vào những năm 1857 Qua hơn 150 năm tồn tại và phát triển, cà phê hiện nay đã trở thành một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đứng vị trí thứ 2 sau gạo, cây lương thực truyền thống Với những điều kiện vị trí địa
lý đất đai thổ nhưỡng, nguồn nhân lực dồi dào Việt Nam hội tụ đủ điều kiện để trở thành nước xuất khẩu cà phê có chất lượng trên thế giới Hiện xuất khẩu cà phê của Việt Nam đang đứng vị trí thứ 2 trên thế giới, đứng sau Brazil Riêng cà phê Robusta xuất khẩu, Việt Nam đứng trên cả Brazil và trở thành nước đứng đầu thế giới
Trong số các thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam thì thị trường Châu Âu đóng vai trò rất quan trọng Trong suốt nhiều năm liền, thị trường liên minh Châu Âu cũng như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản… là những thị trường xuất khẩu cà phê lớn của Việt Nam, nhưng xét về cả khối lượng và giá trị xuất khẩu cà phê của Việt Nam thì Châu Âu là thị trường tiêu thụ và nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới và cũng là thị trường chủ lực định hướng xuất khẩu cà phê của Việt Nam Tuy nhiên, không chỉ riêng Việt Nam, mà rất nhiều quốc gia khác cũng đang chú trọng đầu tư phát triển cho cây cà phê, cạnh tranh trong ngành ngày càng trở nên gay gắt Trong khi đó, ngành cà phê Việt Nam lại còn khá non trẻ nên đã phải đối mặt với không ít khó khăn, cả trong lĩnh vực trồng trọt lẫn chế biến kinh doanh và xuất khẩu Việt Nam là quốc gia xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 trên thị trường thế giới nói chung và thị trường liên minh Châu
Âu nói riêng, nhưng đó chỉ là cái tiếng về mặt sản lượng Trên thực tế, đến 99% lượng
cà phê của Việt Nam xuất khẩu sang liên minh Châu Âu còn dưới dạng nguyên liệu thô, chủng loại đơn điệu, rất ít các sản phẩm cà phê đặc biệt và giá trị cao; chất lượng thì còn quá thấp, số lượng cà phê bị thải loại chiếm tỉ lệ cao nhất thế giới, chưa xây
Trang 13Việt Nam xuất sang thị trường này thấp hơn rất nhiều so với mặt hàng cùng loại của các nước khác, đặc biệt là khi so sánh với các nước như Colombia, Peru, Braxin
Nhận thấy được vị trị của việc xuất khẩu cà phê sang thị trường liên minh Châu
Âu trong thời gian tới và nhằm đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam, chỉ ra những điểm mạnh và yếu của mình với đối thủ cạnh tranh, từ đó vạch những giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của mặt hàng cà phê Việt Nam Với những lý do trên tôi xin đưa ra đề tài “Năng lực cạnh tranh của mặt hàng cà phê Việt Nam tại thị trường liên minh Châu Âu”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
so với đối thủ cạnh tranh
Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng
cà phê Việt Nam tại thị trường liên minh Châu Âu
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là năng lực cạnh tranh của mặt hàng cà phê
Việt Nam khi xuất khẩu sang liên minh Châu Âu
Trang 14CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH
2.1.1 Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh
2.1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, chính trị, quân sự, luật, thể thao và được sự quan tâm của nhiều chủ thể, xem xét ở các góc độ khác nhau tùy thuộc vào hướng tiếp cận của từng chủ thể Vì thế có rất nhiều khái niệm xoay quanh thuật ngữ “cạnh tranh”
Theo quan điểm của Marx “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”
Theo quan điểm của Michael Porter thì “Cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”
Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Nó buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học công nghệ, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế
2.1.1.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, người ta đã sử dụng khái niệm năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ
Michael Porter cho rằng: “năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có qui trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, có chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận”
2.1.2 Các cấp độ của năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt thành bốn cấp độ: Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia, cấp ngành, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của sản phẩm hàng hoá Chúng có mối tương quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau
Trang 15Đề cập đến phạm vi quốc gia, năng lực cạnh tranh ở cấp độ này thường phụ thuộc vào năng suất sử dụng nguồn lực con người, tài nguyên và vốn của quốc gia đó,
nó gắn liền với năng lực cạnh tranh của tất cả các chủ thể bên trong nền kinh tế
Trong một báo cáo về tính cạnh tranh tổng thể của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 1997 đã nêu ra: “Năng cạnh tranh của một quốc gia là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác”
Như vậy, năng lực cạnh tranh cấp quốc gia có thể hiểu là việc xây dựng một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo phân bố có hiệu quả các nguồn lực, để đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững
2.1.2.2 Năng lực cạnh tranh cấp ngành
Năng lực cạnh tranh của ngành là khả năng của ngành trong việc tạo ra việc làm
và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế Định nghĩa này rất hợp lý trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Năng lực cạnh tranh cấp ngành là tổng hợp năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong một ngành và mối quan hệ giữa chúng
Theo như Michael Porter (năm 1979), cường độ cạnh tranh trong một ngành bất
kì đều chịu tác động bởi 5 lực lượng, đó là sức mạnh nhà cung cấp, nguy cơ thay thế, các rào cản gia nhập ngành, sức mạnh khách hàng và mức độ cạnh tranh ngành
Nói chung, năng lực của tranh của một ngành tùy thuộc vào khả năng sản xuất hàng hóa dịch vụ, chất lượng, mức giá bằng hoặc thấp hơn mức giá phổ biến trên thị trường mà không cần trợ giá
2.1.2.3 Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp tung ra thị trường, với thị phần sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm cả những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp như thị trường, thể chế chính sách, kết cấu hạ tầng lẫn các yếu tố nội hàm bên trong bản thân doanh nghiệp như trình độ công nghệ, khả năng tổ chức quản lý, tài chính, nhân lực, uy tín
2.1.2.4 Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm hàng hóa
Một sản phẩm hàng hoá được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo
Trang 16cùng loại Nhưng năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá lại được định đoạt bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Sẽ không có năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá cao khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm
đó thấp Các cấp độ của năng lực cạnh tranh có mối quan hệ phụ thuộc, gắn kết, tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển
Lý thuyết tổ chức công nghiệp xem xét năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên khả năng sản xuất ra sản phẩm ở một mức giá ngang bằng hay thấp hơn giá phổ biến mà không có trợ cấp; đảm bảo cho ngành, doanh nghiệp đứng vững trước các đối thủ khác hay sản phẩm thay thế
2.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm
2.1.3.1 Các chỉ tiêu định lượng
Chỉ tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm nhờ đầu tư sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó, bao gồm cả chi phí cơ hội; là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp cùng thu về một khoản lợi nhuận như nhau nhưng vẫn tồn tại các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh khác nhau Điều này được giải thích qua hệ số tỷ suất lợi nhuận khác nhau
Tỷ suất lợi nhuận = Lợi nhuận / Tổng chi phí
Hệ số lợi thế so sánh biểu hiện (Revealed Competitive Advantage)
Lợi thế so sánh là nền tảng để xác định mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh hoặc mặt hàng xuất khẩu chủ lực của một quốc gia hoặc một doanh nghiệp trong một thời
kỳ nhất định Việc trao đổi dựa trên cơ sở lợi thế so sánh mang lại lợi ích cho các bên tham gia Lợi thế so sánh càng cao càng tạo khả năng cho chủ thể mang lại lợi ich từ thương mại càng lớn Lợi thế so sánh là quy luật cơ bản của việc xây dựng cơ sở trao
Trang 17Hệ số RCA do nhà kinh tế học Balassa đề xuất năm 1965 để đo lường lợi thế so sánh theo số liệu xuất khẩu, chỉ ra khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu của một quốc gia về một sản phẩm trong mối tương quan với mức xuất khẩu về sản phẩm đó của thế giới
RCA = (Xij / Xi) / (Wj / W) trong đó:
RCA: chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu của mặt hàng i của nước j trong một thời
kỳ nhất định
Xij: kim ngạch xuất khẩu mặt hàng i của nước j trong thời kỳ tương ứng
Xi: tổng kim ngạch xuất khẩu của nước i
Wj: kim ngạch xuất khẩu sản phẩm j của thế giới
W: tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới
Kết quả tính toán:
RCA<1: sản phẩm xem xét không có khả năng cạnh tranh
1<RCA<2,5: sản phẩm có lợi thế cạnh tranh thấp
RCA>2,5: sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cao
Khi so sánh hệ số RCA của cùng mặt hàng của hai nước thì nước nào có hệ số RCA lớn hơn sẽ có lợi thế xuất khẩu cao hơn
Giá xuất khẩu
Giá xuất khẩu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất, cung cầu trên thị trường, thuế quan, mức độ cạnh tranh Có thể tính theo công thức sau:
Ci = Pi / (Pf)wTrong đó:
Pi và Pf: giá cánh kéo của sản phẩm đầu ra i và của đầu vào trung gian f
W: tỉ lệ chi phí của đầu vào trung gian trong tổng giá trị sản phẩm đầu ra
2.1.3.1 Các chỉ tiêu định tính
Uy tín, thương hiệu
Đây là một chi tiêu có tính khái quát, nó bao gồm rất nhiều yếu tố như: chất lượng sản phẩm, các hoạt động dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp, hoạt động Marketing Đây là tài sản vô hình và vô giá mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng coi trọng
Trang 18Thương hiệu của mặt hàng càng nổi tiếng thì năng lực cạnh tranh của nó càng cao, thương hiệu thể hiện uy tín và biểu hiện niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm, khách hàng sẽ yên tâm hơn về chất lượng, giảm thiểu được rủi ro mua sắm đối với những mặt hàng có thương hiệu Vì vậy, xây dựng thương hiệu là yếu tố quan trọng để giành được lợi thế cạnh tranh trên trường quốc tế
Chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm
Chất lượng sản phẩm là mức độ các đặc tính của sản phẩm đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng Đây là tiêu chí quan trọng nhất quyết định đến năng lực cạnh tranh của mặt hàng cà phê xuất khẩu Với một mặt hàng cùng loại có chất lượng tốt hơn, nước nhập khẩu sẽ sẵn sàng đưa ra mức giá cao hơn cho mặt hàng này, có được nhiều lợi thế cạnh tranh hơn
Chất lượng cà phê là tổng hợp của các yếu tố: chủng loại thực vật, điều kiện địa hình, khí hậu, thời tiết, cách chăm sóc, thu hái, bảo quản, chuẩn bị xuất khẩu và vận chuyển Đề cập đến an toàn thực phẩm là đề cập đến lượng hóa chất tồn dư trong cà phê, các độc tố và nấm mốc, ngoài ra còn có các điều kiện tiêu chuẩn vệ sinh ở các cơ
sở sản xuất, chế biến, quy trình áp dụng Sản phẩm phải đảm bảo không có nguy cơ gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng, kể cả các nguy cơ tiềm ẩn
Chủng loại sản phẩm
Một mặt hàng xuất khẩu càng có nhiều chủng loại thì càng có khả năng bao phủ, đáp ứng được đầy đủ nhu cầu, thị hiếu của khách hàng, giúp khai thác tối đa các phân khúc, chiếm được nhiều thị phần hơn trên thị trường Cà phê thường được chia làm 2 loại chính là cà phê Robusta, cà phê Arabica Ngoài ra còn có cà phê Kopi Luwak nhưng rất đắt và hiếm Cà phê cũng có thể phân loại theo phương thức chế biến thành cà phê nhân, cà phê rang xay và cà phê hòa tan Hiện nay cũng xuất hiện nhiều loại cà phê mới như cà phê sạch, cà phê hữu cơ, cà phê đạt chứng nhận quốc tế như Fair-trade, UTZ, RFA, những sản phẩm cà phê này thường không sử dụng hoá chất và thân thiện với môi trường
Kênh phân phối
Kênh phân phối có thể hiểu là một tập hợp có hệ thống các phần tử tham gia vào quá trình chuyển đưa hàng hóa từ nhà sản xuất đến người sử dụng Việc quyết định loại kênh nào có thể giúp đưa sản phẩm cà phê đến người tiêu dùng một cách hiệu quả và kinh tế nhất cũng là một vấn đề mà mỗi quốc gia xuất khẩu cần quan tâm Các doanh nghiệp không chỉ cung cấp sản phẩm tốt hơn đối thủ cạnh tranh mà còn phải làm cho sản phẩm có mặt ở đúng thời gian, địa điểm và phương thức người tiêu dùng mong muốn Hiện nay, cà phê được phân phối thông qua các kênh gián tiếp như bán cho nhà trung gian, mô giới, nhà nhập khẩu đầu mối, các đại lý phân phối hoặc đến trực tiếp các nhà rang xay chế biến, người tiêu dùng ở nước xuất khẩu qua hệ thống
Trang 192.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của mặt hàng cà phê xuất khẩu
2.1.4.1 Điều kiện các yếu tố sản xuất
Sự phong phú và dồi dào của các yếu tố sản xuất có vai trò nhất định đối với năng lực cạnh tranh quốc gia, các quốc gia có lợi hơn khi sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố đầu vào mà quốc gia đó có lợi thế
Các yếu tố sản xuất có thể được chia thành:
Nhóm yếu tố cơ bản: lợi thế vị trí, khí hậu, tài nguyên, nguồn nhân lực
Nhóm yếu tố cao cấp: cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin, kỹ năng lao động, khoa học, công nghệ
Những nền kinh tế nắm giữ được các yếu tố này với chi phí thấp sẽ chiếm được lợi thế cạnh tranh
Vị trí đại lý: là yếu tố sẽ tác động đến chất lượng và hương vị tự nhiên của cây trồng nói chung và cà phê nói riêng Ở mỗi vùng có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng khác nhau nên cây cà phê cũng có hương vị đặc trưng riêng biệt Cà phê thích hợp phát triển ở những vùng có đất bazan màu mỡ, diện tích rộng, khí hậu có tính chất cận xích đạo, độ cao địa hình thích hợp
Tài nguyên: Đất trồng cà phê tốt nhất là đất đõ bazan, ngoài ra cũng có thể trồng cà phê trên đất đỏ đá voi, cả trên đất hoa cương hay phiến thạch Nước ta có hơn
3 triệu hecta đất bazan màu mở thích hợp trồng cà phê, riêng khu vực Tây Nguyên có hơn 2 triệu hecta, chiếm hơn 60% diện tích đất bazan của cả nước
Nguồn nhân lực: theo kết quả điều tra mới nhất năm 2013, dân số Việt Nam là 87.610.947 người trong đó cơ cấu dân số trẻ chiếm trên 60% dân số, đảm bảo cả về mặt số lượng lẫn chất lượng Số lượng là nói đến lượng lao động hoạt động trong ngành như người trồng trọt, số lượng công ty sản xuất, chế biến, kinh doanh, xuất nhập khẩu
Cơ sở hạ tầng: các công trình giao thông, truyền thông, thủy lợi, điện được nhà nước đầu tư xây dựng Mạng lưới giao thông vận tải nâng cấp tạo thuận lợi cho công tác chuyên chở sản phẩm từ vùng sản xuất đến nơi thiêu thụ, cũng như vận chuyển nguyên liệu, máy móc thiết bị Áp dụng được nhiều công nghệ và khoa học kĩ thuật sẽ góp phần làm tăng năng suất sản xuất, chế biến, nâng cao chất lượng sản phẩm cà phê
Nguồn vốn: được hình thành từ nhiều nguồn, vốn huy động từ trong nước và nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài
2.1.4.2 Điều kiện trong nước đối với mặt hàng cà phê
Trang 20Thông qua các tác động động và tĩnh, nhu cầu trong nước xác định mức đầu tư,
tốc độ và động cơ đổi mới của các doanh nghiệp trong nước Ba khía cạnh của nhu cầu trong nước có ảnh hưởng lớn tới lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp là: bản chất nhu cầu, dung lượng, mô hình tăng trưởng của nhu cầu và cơ chế lan truyền nhu cầu trong nước ra môi trường quốc tế
Nhu cầu về cà phê trong nước sẽ quyết định các doanh nghiệp sản xuất cái gì và như thế nào, ngoài ra còn tác động đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu Doanh nghiệp nên quan tâm đến chất lượng của nhu cầu hơn là số lượng của nhu cầu trong việc quyết định lợi thế cạnh tranh
2.1.4.3 Các ngành hổ trợ có liên quan đến mặt hàng cà phê
Ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan đến ngành cà phê như ngành sản xuất phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, vận tải chuyên chở, công nghệ chế biến, công nghệ sinh học Công nghệ chế biến phát triển giúp tạo ra nhiều sản phẩm cà phê có giá trị gia tăng cao, chất lượng được cải thiện, từ đó từng bước xây dựng thương hiệu cho cà phê xuất khẩu của Việt Nam
Như vậy, ta thấy được một quốc gia có lợi thế cạnh tranh trong nhiều ngành hỗ trợ và nhiều ngành liên quan sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho mặt hàng của họ Lợi thế cạnh tranh của các ngành hỗ trợ và có liên quan sẽ tạo ra lợi thế tiềm tàng cho sản phẩm cà phê như cung cấp trong thời gian ngắn và với chi phí thấp, duy trì quan hệ hợp tác liên tục
2.1.4.4 Cơ cấu, chiến lược và môi trường cạnh tranh ngành
Cơ cấu ngành chặt chẽ sẽ giúp hoạt động trong ngành trở nên thông suốt, chẳng hạn, doanh nghiệp hỗ trợ vốn, kĩ thuật, có sự phối hợp với nông dân sẽ giúp nông dân cải thiện cây trồng, nâng cao năng suất và chất lượng, còn doanh nghiệp cũng an tâm hơn trong việc thu mua gom hàng, chất lượng cà phê đảm bảo giúp xây dựng uy tín cho doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh còn được quyết định bởi các yếu tố như mục tiêu, chiến lược Lợi thế cạnh tranh thường là kết quả của việc kết hợp tất cả các yếu tố trên với
cơ sở của lợi thế cạnh tranh Những khác biệt về trình độ quản lý và kỹ năng tổ chức như trình độ học vấn, sức mạnh động cơ cá nhân, các công cụ ra quyết định, quan hệ với khách hàng
Mức cạnh tranh của ngành cà phê trên thị trường nội địa sẽ ảnh hưởng đến sự thành công của các doanh nghiệp trong nước trên thị trường quốc tế Thành công của
Trang 21các đối thủ hiện tại ra sức tìm kiếm các cách cải tiến hiệu quả sản xuất, làm gia tăng sức mạnh của doanh nghiệp
2.1.4.5 Vai trò của chính phủ và cơ hội
Các tác động của chính phủ có thể tích cực hoặc tiêu cực Chính phủ có thể tác động tới các điều kiện đầu vào thông qua các công cụ trợ cấp, chính sách thị trường vốn, chính sách y tế, giáo dục Vai trò của chính phủ đối với nhu cầu trong nước thường phức tạp hơn, có thể thúc đẩy hoặc gây bất lợi cho lợi thế cạnh tranh Các cơ quan chính phủ có thể xác lập các tiêu chuẩn hoặc quy định về sản phẩm trong nước
có ảnh hưởng lớn tới cầu của người mua
Một yếu tố khác cũng có tác động đến năng lực cạnh tranh của mặt hàng xuất khẩu, đó là yếu tố cơ hội, các cơ hội cũng thực hiện vai trò của mình một phần thông qua thay đổi các điều kiện của mô hình kim cương Chẳng hạn, những thay đổi về chi phí đầu vào hay tỷ giá hối đoái tạo ra những bất lợi thế về nhân tố sẽ có tác dụng thúc đẩy những giai đoạn đổi mới mạnh mẽ Do vậy, các doanh nghiệp cần phải nhanh chóng nắm bắt cơ hội, kịp thời thích nghi với sự thay đổi, nâng cao năng lực cạnh tranh cà phê xuất khẩu ra thị trường thế giới
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu thứ cấp từ báo, tạp chí và từ nguồn Internet trong giai đoạn từ năm 2005 đến tháng 6 năm 2014 để phục vụ cho việc phân tích
Tổ chức cà phê thế giới: ICO (International Coffee Organization)
Liên đoàn cà phê Châu Âu: ECF (European Coffee Federation)
Hiệp hội Cà phê ca cao Việt Nam: VICOFA (Vietnam Coffee and Cocoa Association)
Chương trình cải thiện chất lượng cà phê: CQP (Coffee Quality Improvement Program)
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Mục tiêu 1: Đánh giá mặt hàng cà phê Việt Nam tại thị trường liên minh Châu
Âu Với mục tiêu này sử dụng phương pháp thống kê mô tả
Thống kê là một hệ thống các phương pháp bao gồm thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu, tính toán các đặc trưng của đối tựng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và đề ra quyết định
Thu thập số liệu thống kế một cách chính xác, kịp thời và đầy đủ phản ánh tình hình sử dụng và hiểu quả sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất, đồng thời nghiên cứu năng lực cạnh tranh của mặt hàng cà phê Việt Nam tại liên minh Châu Âu
Trang 22Mục tiêu 2: sử dụng phương pháp so sánh để đối chiếu số liệu qua các năm và một số chi tiêu để phân tích năng lực cạnh tranh của cà phê Việt Nam tại thị trường liên minh Châu Âu qua các năm
Phương pháp so sánh là phương pháp xem xét một chi tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh với một chỉ tiêu gốc Đây là phương pháp đơn giản và được sử dụng nhiều nhất trong phân tích cũng như dự báo các chỉ tiêu kinh tế, xả hội thuộc lĩnh vực vĩ mô
Mục tiêu 3: Sử dụng phương pháp phân tích và xây dựng ma trận SWOT để biết được các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức hiện tại, từ đó đưa ra các chiến lược phù hợp Từ các chiến lược đề ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng cà phê Việt Nam tại thị trường liên minh Châu Âu
Ma trận SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức kinh doanh nào Viết tắt của 4 chữ Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội) và Threats (nguy cơ), SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng của một công ty hay của một đề án kinh doanh
Strengths: Lợi thế của mình là gì? Công việc nào mình làm tốt nhất? Nguồn lực nào mính cần, có thể sử dụng?
Weaknesses: Có thể cải thiện điều gì? Công việc nào mình làm tốt nhất? Cần tránh làm gì? Phải xem xét vấn đề cơ sở bên trong và cả bên ngoài
Opportunities: Cơ hội tốt đang ở đâu? Xu hướng đáng quan tâm nào mình đã biết? Cơ hội có thế xuất phát từ sự thay đổi công nghệ
Những trở ngại đang phải? Các đối thủ đang làm gì? Những đòi hỏi đặc thù về công việc
(Oppotunities)
Thách thức (Threats) Điểm mạnh
Điễm yếu
Trang 23CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ TẠI LIÊN MINH CHÂU ÂU
VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG CÀ PHÊ VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG LIÊN MINH
CHÂU ÂU 3.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÀNH CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Cà phê được người Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1870 Ngành
cà phê thực sự phát triển từ sau năm 1975, đến nay cả nước có khoảng 540.000 ha diện tích trồng cà phê Cà phê được trồng ở một số tỉnh phía Bắc như Tuyên Quang, Lạng Sơn và Ninh Bình Cà phê Arabica (cà phê chè ) cũng được trồng ở khu vực miền Trung như các tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Mặc dù cà phê Arabica xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam nhưng cũng có rất nhiều vườn cà phê Liberia (Cà phê mít ) được trồng trong thời gian này Phải rất lâu sau đó, người Pháp mới bắt đầu canh tác các vườn cà phê trên vùng đất thuộc Tây nguyên ngày nay Ban đầu, người ta trồng cà phê Arabica trên vùng đất Tây nguyên Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, các cây cà phê Chè bị
rỉ sắt quá nặng nên thoái hóa dần Cuối cùng, người ta quyết định thay thế cà phê Chè bằng cà phê Vối và cà phê Mít
Trong khoảng thập niên 90, sản lượng cà phê của Việt Nam đã tăng lên nhanh
chóng, nguyên nhân chủ yếu là do:
Thực hiện chủ trương giao đất cho nông dân
Giá cà phê tăng cao trong năm 1994 và giai đoạn 1996 – 1998
Cùng với chính sách định canh định cư, nhiều người dân đồng bằng đã di cư lên sinh sống và thâm canh cà phê ở vùng Tây Nguyên Việc thâm canh cà phê trên quy mô rộng diễn ra điển hình nhất ở khu vực Tây Nguyên Hầu hết các vườn cà phê mới trồng trong giai đoạn này là cà phê Vối (Robusta) Tỉnh Đăklăk trở thành tỉnh có diện tích cà phê lớn nhất Việt Nam và sản lượng cà phê của Đăklăk chiếm gần một nửa tổng sản lượng cà phê toàn quốc
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO (World Trade Organization) tổ chức thương mại thế giới năm 2007, nền kinh tế bước vào một giai đoạn phát triển mới Trong đó lĩnh vực xuất khẩu cà phê cũng chuyển sang một bước ngoặc lớn Đến năm 2011, kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt hơn 2,7 tỷ USD, tăng hơn so với năm 2010 khoảng 45,4% Xuất khẩu cà phê đem lại nguồn thu ngoại hối đứng thứ hai cho quốc gia (trong lĩnh vực xuất khẩu nông nghiệp), chỉ đứng sau gạo Sản phẩm cà phê Việt Nam đã bán
Trang 24được trên nhiều quốc gia trên thế giới Bên cạnh các thị trường tiêu thụ lớn như châu
Âu, châu Mỹ,… cà phê còn được xuất khẩu sang các nước Nam Mỹ, Trung Đông
Trong những năm gần đây, sản lượng cà phê Việt Nam luôn đạt mức trên 1.200 nghìn tần/ năm, với năng suất khoảng 2 tấn/ha Giá trị tổng sản lượng chiếm khoảng 2% GDP Ngành cà phê đã có đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng của đất nước, đồng thời góp phần giải quyết việc làm cho khoảng 700.000 lao động Kim ngạch xuất khẩu cà phê nhiều năm liền đạt trên 1,5 tỉ USD, năm 2013 đạt trên 3 tỉ USD, xếp thứ 2 trong các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam
3.1.2 Thực trạng sản xuất cà phê của Việt Nam
Cùng với sự mở cửa phát triển kinh tế của đất nước, thị trường của cà phê xuất khẩu Việt Nam cũng được mở rộng Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương Việt Nam, Xuất khẩu cà phê của Việt Nam năm 2013 đạt 1,3 triệu tấn với mức kim ngạch xuất khẩu đạt 2,7 tỷ USD, giảm 24,8% về lượng và 25,9% về kim ngạch Nếu so với các năm trước đây, năm 2013 là năm mà ngành hàng cà phê đã bị sụt giảm đáng kể về lượng xuất khẩu cũng như kim ngạch xuất khẩu Xét trong vòng 5 năm trở lại đây, xuất khẩu cà phê của Việt Nam ngày càng tăng trưởng trong 5 năm đầu (từ năm 2009 đến năm 2013) với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 17,7%/năm Điều này cho thấy các thị trường chính nhập khẩu mặt hàng này ngày càng ưa chuộng cà phê Việt Nam và số lượng thị trường xuất khẩu của mặt hàng cà phê ngày càng được mở rộng (năm 2008 cà phê Việt Nam xuất khẩu được sang 74 thị trường, đến hết năm 2013 đã lên tới 86 thị trường) Tuy nhiên, với tình hình kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn, nhu cầu tiêu dùng mặt hàng này tại các thị trường nhập khẩu hiện đang giảm mạnh do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, tình hình thiên tai dịch bệnh (như mưa đá, thiếu nước tưới, bệnh gỉ sắt) làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất cũng như chất lượng của mặt hàng cà phê, dẫn đến việc xuất khẩu cà phê của nước ta trong năm 2013 sụt giảm
cả về lượng, cả về kim ngạch
Trang 25Bảng 3.1: Thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam năm 2013
Thị trường Số lượng
(Tấn)
Giá trị (1000 USD)
Thị phần (%)
Số lượng (Tấn)
Giá trị (1000 USD)
Thị phần (%)
(Nguồn: Bộ Công Thương Việt Nam, năm 2013)
Từ bảng 3.1 ta có thể thấy, năm 2013 so với năm 2012, khối lượng và giá trị xuất khẩu cà phê của Việt Nam giảm mạnh Đức, Hoa Kỳ và Tây Ban Nha là 3 thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam
Năm 2012, Đức là thị trường nhập khẩu cà phê lớn nhất chiếm 11.77% thị phần
cà phê xuất khẩu của Việt Nam, với khối lượng đạt gần 190.132 tấn, trị giá 393,52 triệu USD Đến năm 2013 thị trường có nhiều biến động, thị phần cà phê xuất khẩu của Việt Nam tại Đức tăng 1,35% chiếm 13.12% nhưng sản lượng và giá trị giảm mạnh, cụ thể sản lượng giảm 14,96% còn 161.689 tấn, giá trị giảm 17,69% đạt 323,89 triệu USD so với năm 2012 Đứng thứ 2 là Hoa Kỳ chiếm 12.03% thị phần, khối lượng đạt 175.323 tấn, trị giá 402,04 triệu USD trong năm 2012 Nhưng đến năm 2013 khối lượng giảm xuống 29,72% còn 126.225 tấn và giá trị giảm mạnh còn 271,78 triệu USD, giảm 32,40% so với năm 2012, thị phần giảm 1,01% đạt 11.02% thị phần cà phê xuất khẩu của Việt Nam Đứng thứ 3 là Tây Ban Nha với sản lượng nhập khẩu đạt 93,994 tấn, giá trị đạt 193,65 triệu USD, chiếm 5,79% thị phần trong năm 2012 Năm
2013 sản lượng giảm xuống 5,06% còn 89.236 tấn; giá trị giảm 8,53% còn 177,13 triệu USD chiếm 7,18% thị phần, tăng 1,39% so với năm 2012
Trang 26Có thể thấy trừ một số thị trường có mức tăng nhẹ là Nga, Anh, Nhật Bản thì xuất khẩu sang các thị trường chủ chốt khác đều giảm, trong đó xuất khẩu sang Bỉ giảm mạnh nhất với mức 33,4%, tiếp đến là Trung Quốc giảm 30,5%
Xét trên bình diện thế giới, Việt Nam đứng chỉ thứ 2 thế giới sau Braxin về sản xuất và xuất khẩu cà phê Hiện nay cà phê Việt Nam đã có mặt trên 86 quốc gia trên thế giới, thị phần đạt 17% sản lượng thế giới (số liệu năm 2013, nguồn ICO – International Coffee Organization) Riêng đối với cà phê Robusta (cà phê vối) Việt Nam chiếm tỉ trọng sản lượng lớn nhất của thế giới, chiếm 37% năm 2013 Tuy nhiên
cà phê Robusta là cà phê có chất lượng và giá thành kém hơn cà phê Arabica (cà phê chè)
Bảng 3.2 Tổng sản lượng cà phê trong niên vụ từ 2006-2013
(Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của FAS/USDA, năm 2013)
Theo báo cáo của FAS/USDA thì tổng sản lượng cà phê trên thế giới niên vụ 2006-2007 là 7,91 triệu tấn trong đó cà phê Arabica chiếm 4,93 triệu tấn, cà phê Robusta chiếm 2,97 triệu tấn Đến niên vụ 2007-2008 sản lượng cà phê của thế giới giảm xuống còn 7,31 triệu tấn, giảm so với cùng kỳ năm trước là 7,59%; nguyên nhân
là do sản lượng cà phê Arabica tại một số quốc gia giảm sút, cụ thể là ở Braxin sản lượng niên vụ 2007-2008 chỉ đạt 1,66 triệu tấn, giảm 23,14% so với niên vụ trước Đến niên vụ 2008-2009 sản lượng cà phê thế giới đã tăng trở lại với sản lượng đạt 8 triệu tấn, tăng 9,43% so với niên vụ 2007-2008 Niên vụ 2009-2010 sản lượng cà phê thế giới chỉ còn 7,61 triệu tấn, nguyên nhân sản lượng cà phê thế giới niên vụ này giảm là do sự điều chỉnh giảm sản lượng cà phê từ Colombia, Việt Nam, Ấn Độ; thêm
Trang 27vào đó sản lượng cà phê của Braxin cũng giảm sút dẫn đến thị trường cà phê thế giới
bị thâm hụt
Trong những năm gần đây, sản lượng cà phê của thế giới bắt đầu tăng cao trở lại, nguyên nhân là do sản lượng cà phê tại Braxin tăng lên, do Braxin là nước trồng cà phê lớn nhất thế giới nên sự gia tăng về sản lượng của nước này cũng giúp cho sản lượng của thế giới tăng cao Niên vụ 2010-2011 sản lượng cà phê thế giới đạt 8,92 triệu tấn và đến niên vụ 2011-2012 sản lượng tăng lên thành 8,92 triệu tấn, tăng 17,21% so với niên vụ 2009-2010 Tuy nhiên ở niên vụ 2012-2013, tuy sản lượng cà phê ở Braxin giảm mạnh do ảnh hưởng bởi đợt hạn hán kéo dài hồi đầu năm, sản lượng cà phê Arabica chỉ còn 2,31 triệu tấn giảm 12,83%, sản lượng Robusta chỉ đạt 0,64 triệu tấn, giảm 20% so với niên vụ 2011-2012 nhưng sản lượng của thế giới vẫn tăng cao, nguyên nhân là do sản lượng hầu như dung hòa, Braxin bị mất mùa nhưng đổi lại những nước khác lại được mùa Cụ thể ở niên vụ 2012-2013 tổng sản lượng cà phê thế giới đạt 9,19 triệu tấn, tăng 3,03% so với niên vụ 2011-2012, trong đó sản lượng cà phê Arabica đạt 6,04 triệu tấn và sản lượng cà phê Robusta đạt 3,15 triệu tấn Năng suất trung bình cà phê của Việt Nam vào loại cao nhất thế giới, khoảng 2 tấn/ha, thường cao hơn 1 tấn/ha đối với các nước trồng cà phê trên thế giới Tuy nhiên,
vị trí đứng đầu thuộc về Braxin với tổng sản lượng tăng đều qua các năm; từ 2,8 triệu tấn niên vụ 2006-2007 đến niên vụ 2011-2012 tăng lên thành 3,85 triệu tấn
Tuy là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới nhưng giá trị cà phê mang lại cho người nông dân và xuất khẩu lại không cao do hầu hết cà phê được xuất khẩu dưới dạng nhân khô, không qua chế biến, có đến 98% cà phê chưa rang xay, phương pháp chế biến còn lạc hậu
Biểu đồ 3.1: Tình hình sản xuất cà phê Việt Nam (2005 – 2013)
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Trang 28Nhìn chung, diện tích trồng cà phê của nước ta ngày càng tăng cao, đặc biệt từ năm 2005 diện tích trồng cà phê khoảng 490 nghìn ha đến năm 2013 đã tăng lên thành 633,3 nghìn ha Sản lượng cà phê nước ta vào năm 2005 đạt khoảng 0,75 nghìn tấn Sản lượng trung bình khoảng 1,53 tấn/ha, đến năm 2012 sản lượng sản lượng tăng lên thành 1,45 nghìn tấn Nhưng đến năm 2013 do hiện tượng biến đổi khí hậu, hạn hán từ đầu năm làm cho sản lượng cà phê của Việt Nam giảm mạnh còn 1,374 nghìn tấn, giảm 0,76 nghìn tấn so với năm 2012 Trong một vài mùa vụ gần đây, người nông dân gặp rất nhiều khó khăn như mưa quá nhiều, hạn hán kéo dài, năng suất và chất lượng
cà phê giảm Hiệp hội cà phê và ca cao Việt Nam khuyến nghị người nông dân nên phát triển các giống mới có thể kháng lại với các điều kiện thay đổi khi gieo trồng có liên quan tới hiện tượng biến đổi khí hậu
Chính phủ vẫn tiếp tục khuyến khích nông dân áp dụng GAP (một công cụ nhằm nâng cao sản lượng và duy trì tính bền vững trong sản xuất) Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên cũng đã tiến hành nghiên cứu, lựa chọn và cho lai nhiều giống cà phê mới đồng thời hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân trong việc thay thế các cây cà phê lâu năm cho phù hợp với điều kiện của khu vực canh tác và thu được lợi nhuận cao Cà phê nước ta vẫn được trồng chủ yếu ở 5 tỉnh Tây Nguyên, chiếm trên 85% diện tích cà phê của cả nước
Biểu đồ 3.2: Sản lượng cà phê Việt Nam theo tỉnh thành (2013)
Đơn vị tính: %
(Nguồn: Bộ NN&PTNT Việt Nam, năm 2013)
Dựa vào biểu đồ 3.2 ta có thể thấy Đăk Lăk là tình thành có sản lượng cà phê lớn nhất nước ta, với 34% sản lượng cà phê của quốc gia, tiếp đến là Lâm Đồng với 24% sản lượng Đăk Nông chiếm 19% và Gia Lai chiếm 12% sản lượng, còn lại là những tình thành khác Tỉnh Đăk Lăk có sản lượng cà phê lớn nhất nước là do ngoài thời tiết thuận lợi ra thì các nông hộ, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê ở tỉnh
Trang 29đúng thời vụ, đúng thời điểm, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cân đối, hợp lý để không những tăng hiệu quả sản xuất mà còn tiết giảm chi phí đầu tư đầu vào, hạn chế ô nhiễm môi trường sinh thái, môi trường đất, nước, giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính
3.2 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ TẠI LIÊN MINH CHÂU ÂU
3.2.1 Đặc điểm thị trường cà phê tại liên minh Châu Âu
Liên minh Châu Âu là thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới Với dân số trên 505,7 triệu người vào năm 2013, mức tiêu thụ trên thị trường liên minh Châu Âu chiếm khoảng 34% tổng sản lượng tiêu thụ cà phê của thế giới Trung bình mỗi người dân liên minh Châu Âu tiêu thụ khoảng 4-6 kg cà phê mỗi năm (năm 2013 là 4,89 kg/người) Trong giai đoạn 2005-2013, mức tiêu thụ cà phê bình quân đầu người tại liên minh Châu Âu tuy có tăng giảm qua các năm nhưng chênh lệch không nhiều và vẫn cao hơn mức tiêu thụ cà phê bình quân đầu người tại Hoa Kỳ (4,32 kg/người năm 2013), thuộc mức cao trên thế giới Luxembourg là nước có mức tiêu thụ cà phê bình quân lớn nhất trong khối Liên minh Châu Âu (24,40 kg/người năm 2013), đứng thứ hai là Phần Lan (12,00 kg/người năm 2013)
Bảng 3.3: Sản lượng cà phê sản xuất tại liên minh Châu Âu giai đoạn 2005-2013
(Nguồn: Liên đoàn cà phê Châu Âu ECF- European Coffee Federation, năm 2013)
Dựa vào bảng 3.3 ta có thể thấy, giai đoạn 2005-2013, sản lượng cà phê sản xuất của liên minh Châu Âu luôn giữ ở mức ổn định trên 2,3 triệu tấn mỗi năm, bao gồm cả cà phê nhân, cà phê rang xay và cà phê hoà tan Có thể thấy sản lượng cà phê sản xuất tại liên minh Châu Âu tăng đều qua các năm, năm 2005 sản lượng đạt 2,321 triệu tấn, đến năm 2006 sản lượng tăng 0,89% đạt 2,323 triệu tấn Đến năm 2007 sản
Trang 30lượng cà phê sản xuất tại liên minh Châu Âu đạt 2,489 triệu tấn với tốc độ tăng trưởng đạt 3,56% Năm 2008 sản lượng cà phê sản xuất có giảm nhưng không đáng kể, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 2,30% so với năm 2005 Từ năm 2009 trở đi, sản lượng sản xuất cà phê tại liên minh Châu Âu có xu hướng tăng cao, với sản lượng năm 2009 đạt 2,686 triệu tấn, tăng 201 triệu tấn so với năm 2008 với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 3,72% Năm 2010 sản lượng đạt 2,749 triệu tấn tăng 63 triệu tấn so với năm 2009, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 3,45% Năm 2011 sản lượng giảm xuống còn 2,730 triệu tấn và năm 2012 sản lượng đạt 2,773 triệu tấn, tốc độ tăng trưởng đạt 2,57% Đến năm 2013 sản lượng tăng lên thành 2,806 triệu tấn tăng 20,9% sản lượng so với năm
2005 với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 2,40% Để phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ nội địa, sản xuất và chế biến lớn như vậy, hàng năm thị trường này nhập khẩu một lượng lớn cà phê từ các nước trên thế giới
3.2.2 Tình hình nhập khẩu cà phê tại liên minh Châu Âu
Liên minh Châu Âu có nền ngoại thương lớn thứ hai thế giới sau Mỹ, là thị trờng xuất khẩu lớn nhất và thị trường nhập khẩu lớn thứ hai thế giới Hàng năm liên minh Châu Âu nhập khẩu một khối lượng lớn từ khắp các nước trên thế giới
Năm 2013 quan hệ kinh tế Việt Nam - liên minh Châu Âu tiếp tục phát triển cả
về bề rộng và chiều sâu, thương mại song phương giữa Việt Nam và liên minh Châu
Âu tiếp tục tăng cao so với các năm trước Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào liên minh Châu Âu đạt 24,4 tỷ USD, tăng 24,4% so với năm 2012; trong đó cà phê chiếm 14% trong tổng kim ngạch, liên minh Châu Âu là thị trường nước ngoài lớn nhất cho mặt hàng cà phê của Việt Nam, đã tiêu thụ một lượng khá lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của đất nước Vì là một trong những khu vực có nhu cầu tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới nên hàng năm liên minh Châu Âu nhập khẩu cà phê từ nhiều quốc gia trên thế như Braxin, Việt Nam, Colombia, Indonesia…
Bảng 3.4: Tình hình nhập khẩu cà phê tại liên minh Châu Âu giai đoạn 2008 - 2013
(Nguồn: Liên đoàn cà phê Châu Âu ECF- European Coffee Federation, năm 2013)
Nhìn vào bảng 3.4 ta có thể thấy, liên minh Châu Âu chủ yếu là tiêu thụ cà phê
Trang 31chiếm 64,3% sản lượng cà phê nhập khẩu, cà phê Robusta chiếm 35,4% Đến năm
2009 sản lượng cà phê Arabica nhập khẩu lại tiếp tục tăng chiếm 66% trong khi đó cà phê Robusta lại giảm xuống còn 33,8% Đến những năm gần đây do xu hướng tiêu dùng thay đổi, người dân liên minh Châu Âu có xu hướng sử dụng cà phê Robusta nhiều hơn, năm 2013 sản lượng cà phê Arabica nhập khẩu chiếm 62,8%; cà phê Robusta chiếm 37,1% tăng 3,3% so với năm 2009 Tuy nhiên, nếu so sánh với sản lượng cà phê Arabica thì cà phê Robusta chỉ bằng ½ sản lượng cà phê Arabica nhập khẩu Trong khi đó, Việt Nam phần lớn xuất khẩu cà phê Robusta, mà hiện nay liên minh Châu Âu lại có nhu cầu lớn về cà phê Arabica Do vậy, trong một vài năm tới Việt Nam cần nâng cao khả năng xuất khẩu cà phê Arabica vào thị trường này Có như vậy thì mới có khả năng giữ được thị phần trên thị trường liên minh Châu Âu
Sản lượng và kim ngạch nhập khẩu
Bảng 3.5: Khối lượng cà phê nhập khẩu của liên minh Châu Âu giai đoạn 2005-2013
(tấn)
Tăng giảm so với năm
trước đó (%)
Tốc độ tăng trưởng bình quân (%)
(Nguồn: Liên đoàn cà phê Châu Âu ECF- European Coffee Federation, năm 2013)
Hàng năm, liên minh Châu Âu nhập khẩu một lượng lớn cà phê và là thị trường nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới Nhìn chung, trong giai đoạn 2005-2013, khối lượng cà phê nhập khẩu của liên minh Châu Âu có tăng giảm nhưng tương đối ổn định Năm 2005 sản lượng cà phê nhập khẩu vào liên minh Châu Âu là 2,574 triệu tấn, đến năm 2006 sản lượng nhập khẩu tăng 6,04% so với năm 2005 đạt 2,729 triệu tấn Năm 2007 sản lượng cà phê nhập khẩu của liên minh Châu Âu đạt 2,804 triệu tấn, tăng 2,72% so với năm 2006 và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân là 4,37% Sang giai đoạn 2008-2009 sản lượng có giảm 1,86%, nguyên nhân là do sự giảm sút trong sản lượng
Trang 32cà phê của Colombia, nước này lúc đó đang bị ảnh hưởng bởi thời tiết xấu và chương trình trẻ hoá quốc gia, cụ thể năm 2009 sản lượng giảm còn 2,762 triệu tấn với tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 1,78%
Đến năm 2010 sản lượng cà phê nhập khẩu bắt đầu tăng trở lại, với sản lượng đạt 2,833 triệu tấn, tăng 2,57% so với năm 2009 và tốc độ phát triển bình quân là 1,94% Sang năm 2011 khối lượng cà phê giảm xuống nhưng không nhiều, giảm 0,79% so với năm trước đó, và tốc độ phát triển chỉ đạt 1,48% Từ năm 2012 sản lượng cà phê nhập khẩu vào liên minh Châu Âu có xu hướng tăng, với sản lượng năm
2012 đạt 2,849 triệu tấn, tăng 1,37% so với năm 2011 với tốc độ phát triển đạt 1,47% Năm 2013 là năm có sản lượng cà phê nhập khẩu nhiều nhất vào liên minh Châu Âu trong những năm gần đây, chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2013 thì sản lượng cà phê nhập khẩu đã đạt 1,582 triệu tấn, đến cuối năm 2013 con số này đã đạt 3,082 triệu tấn, tăng 8,13% so với năm 2012 và đạt mức tăng trưởng bình quân 2,28% Sang 6 tháng đầu năm 2014 thì sản lượng cà phê nhập khẩu của liên minh Châu Âu có thấp hơn so với 6 tháng đầu năm 2013, sản lượng chỉ đạt 1,049 triệu tấn, giảm 533 nghìn tấn so với cùng kì năm 2013
Bảng 3.6: Kim ngạch nhập khẩu cà phê của liên minh Châu Âu giai đoạn 2005-2013
Đơn vị tính: 1000 EUR
Năm Cà phê
nhân
Cà phê rang xay
Cà phê hòa tan
Tổng kim ngạch
Mức thay đổi
so với năm trước đó (%)
Tốc độ tăng trưởng bình quân (%)
(Nguồn: Liên đoàn cà phê Châu Âu, ECF- European Coffee Federation, năm 2013)
Từ bảng số liệu 3.6 ta có thể thấy kim ngạch nhập khẩu cà phê của liên minh Châu Âu tăng giảm tương đối qua các năm Năm 2005 kim ngạch nhập khẩu cà phê
Trang 33so với năm 2005, năm 2007 kim ngạch đạt 5,16 tỉ EUR tăng 11,72% so với năm 2006
và tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 14,25%, năm 2008 đạt 5,92 tỉ EUR với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 14,40% Tuy nhiên đến năm 2009 có sự giảm sút 5,68% do sự sụt giảm trong sản lượng cà phê nhập khẩu, kim ngạch chỉ đạt 5,59 tỉ EUR và tốc độ tăng trưởng bình quân chỉ đạt 9,01% Từ 2010 sản lượng và kim ngạch nhập khẩu cà phê bắt đầu tăng trở lại, kèm theo giá thị trường tăng dẫn đến kim ngạch nhập khẩu đạt 6,89 tỉ EUR tăng 23,30% so với năm 2009 và tốc độ tăng trưởng đạt 11,73% so với năm 2005, đến năm 2011 con số này lạ tiếp tục tăng và đạt mức kỷ lục trong 10 năm trở lại đây, kim ngạch đạt 9,74 tỉ EUR, gấp 2,47 lần so với năm 2005 và tốc độ tăng trưởng bình quân là 16,20% Sang đến giai đoạn 2012-2013, tuy sản lượng cà phê nhập khẩu tăng so với những năm trước nhưng kim ngạch nhập khẩu lại giảm đi, nguyên nhân là do giá cà phê giảm mạnh, đặc biệt là là ở cà phê nhân Năm 2012 kim ngạch đạt 9,42 tỉ EUR, đến năm 2013 giảm còn 7,64 tỉ EUR, giảm 18,92 % so với năm
2012 và tốc độ tăng trưởng bình quân đạt chỉ đạt 8,57% so với năm 2005
Cơ cấu thị trường nhập khẩu
Liên minh Châu Âu nhập khẩu cà phê từ rất nhiều nước trên thế giới Các quốc gia cung ứng cà phê nhân hàng đầu vào liên minh Châu Âu là Braxin, Việt Nam, Honduras, Indonexia, Colombia, Peru Trong đó, năm 2013, chỉ riêng 3 quốc gia đứng đầu là Braxin, Việt Nam, Honduras đã chiếm đến 58,2% trong tổng khối lượng
cà phê nhân nhập khẩu của liên minh Châu Âu
Trang 34Bảng 3.7: Khối lượng cà phê 10 quốc gia hàng đầu xuất khẩu cà phê nhân vào thị
trường liên minh Châu Âu, giai đoạn 2010-2013
Quốc gia Bao
(60kg) %
Bao (60kg) %
Bao (60kg) %
Bao (60kg) % Braxin 14.938.048 32,6 14.563.353 31,9 12.711.232 27,3 13.395.995 28,6 Việt Nam 9.032.193 19,7 9.044.382 19,8 11.970.522 25,7 10.974.765 23,5 Honduras 2.589.897 5,7 2.509.743 5,5 3.140.923 6,8 2.837.088 6,1 Indonesia 2.652.785 5,8 1.992.437 4,4 1.994.040 4,3 2.781.382 5,9 Peru 2.414.587 5,3 2.489.993 5,5 2.615.155 5,6 2.478.210 5,3 Colombia 1.503.543 3,3 1.784.615 3,9 1.685.947 3,6 2.201.523 4,7
Ấn Độ 1.814.795 4,0 2.578.338 5,7 2.351.910 5,1 2.122.855 4,5 Uganda 1.752.312 3,8 1.839.303 4,0 1.615.952 3,5 2.116.038 4,5 Ethiopia 1.685.012 3,7 1.746.985 3,8 1.605.250 3,5 1.450.562 3,1 Trung
Quốc 360.612 0,8 262.295 0,6 673.545 1,4 723.645 1,5
(Nguồn:Liên đoàn cà phê Châu Âu, ECF- European Coffee Federation, năm 2013)
Dựa vào bảng 3.7 ta thấy trong năm 2010, Braxin, Việt Nam và Indonesia là 3 nhà cung ứng cà phê nhân hàng đầu cho liên minh Châu Âu; Braxin chiếm 32,6% thị phần cà phê xuất khẩu với khối lượng đạt 14,938 triệu bao cà phê, Việt Nam đứng thứ
2 chiếm 19,7% thị phần, sản lượng đạt 9,032 triệu bao cà phê; Indonesia tuy đứng vị trí thứ 3 nhưng thị phần chỉ có 5,8%, hơn Honduras ở vị trí thứ 4 chỉ có 0,1% Thế nên đến năm 2011, Ấn Độ đã vương thế Indonesia trở thành nước xuất khẩu lớn thứ 3 với khối lượng đạt 2,578 triệu bao, sản lượng xuất khẩu của Ấn Độ tăng 42,07% so với năm 2010 chiếm 5,7% thị phần cà phê xuất khẩu vào liên minh Châu Âu, Indonesia bị đẩy xuống vị trí thứ 6 khối lượng đạt 1,992 triệu bao, giảm 24,89% so với năm 2010 Đến năm 2012, Honduras lại thay thế Ấn Độ vưng lên vị trí thứ 3 với khối lượng xuất khẩu đạt 3,140 triệu bao, tăng 21,28% so với năm 2010 chiếm 6,8% trong tổng thị phần cà phê xuất khẩu vào liên minh Châu Âu Như vậy chỉ có Braxin và Việt Nam là duy trì ổn định ở 2 vị trí đầu, mặc dù trong những năm gần đây sản lượng cà phê của Braxin có giảm sút so với những năm trước nhưng Braxin vẫn là quốc gia có tổng sản lượng cà phê xuất khẩu vào liên minh Châu Âu lớn nhất với tổng sản lượng năm 2012 đạt 12,711 triệu bao chiếm 27,3%; Việt Nam đứng vị trí thứ 2 với sản lượng đạt
Trang 352011 Năm 2013 Braxin là quốc gia có sản lượng xuất khẩu cà phê nhân lớn nhất vào liên minh Châu Âu với sản lượng đạt 13,395 triệu bao cà phê, tăng 5,39% so với năm
2012, thị phần chiếm 28,6%; Việt Nam đứng thứ 2 với sản lượng đạt 10,974 triệu bao, giảm 8,32% so với năm 2012, chiếm 23,5% thị phần cà phê xuất khẩu vào liên minh Châu Âu
Bên cạnh cà phê nhân thì mặt hàng cà phê rang xay và hòa tan cũng được xuất khẩu vào thị trường liên minh Châu Âu từ các nước như Ecuador, Braxin, Thụy Sĩ, Columbia Năm 2013, chỉ tính riêng 3 quốc gia xuất khẩu đứng đầu là Thuỵ Sĩ, Ecuador, Braxin đã chiếm trên 71% tổng lượng cà phê rang xay và hoà tan nhập khẩu của liên minh Châu Âu
Biểu đồ 3.3: Thị phần các quốc gia xuất khẩu cà phê rang xay và hoà tan vào thị
trường liên minh Châu Âu năm 2013
Đơn vị tính: %
(Nguồn: Liên đoàn cà phê Châu Âu, ECF- European Coffee Federation, năm 2013)
Dựa vào biểu đồ 3.3 ta thấy mặc dù Braxin và Việt Nam là 2 nước xuất khẩu cà phê lớn nhất vào liên minh Châu Âu, nhưng đối với mặt hàng cà phê rang xay thì vị trí dẫn đầu không thuộc về Braxin, Braxin chỉ đứng vị trị thứ 2 chiếm 24,7% thị phần cà phê rang xay, dần đầu trong lĩnh vực này là Ecuador với thị phần chiếm 34,2%, kế tiếp
là Thụy Sĩ chiếm giử 12,8% thị phần Nhìn chung, liên minh Châu Âu là thị trường hấp dẫn mà các nước xuất khẩu cà phê hướng đến Vì vậy, Việt Nam cần nâng cao nâng cao năng lực hơn nữa để nắm được vị thế dẫn đầu và vững chắc so với các đối thủ cạnh tranh khác như Braxin, Ấn Độ, Colombia
3.2.3 Một số quy định về nhập khẩu cà phê vào thị trường liên minh Châu
Âu
Liên minh Châu Âu là một thị trường lớn với 28 quốc gia và 505,7 triệu dân có thu nhập cao Tổng kim ngạch ngoại thương của toàn khu vực lên tới gần 2.800 tỉ USD
Trang 36(chiếm gần một phần tư thương mại toàn cầu) Đầu tư ra nước ngoài của liên minh Châu Âu chiếm 47% FDI toàn cầu và liên minh Châu Âu nhận lại đầu tư từ bên ngoài
khoảng hơn một nửa tỷ lệ đó (27%) Trong vòng 12 năm từ 2001-2013, kim ngạch
quan hệ thương mại Việt Nam - Liên minh châu Âu đã tăng hơn 7 lần, từ mức 4,5 tỷ USD năm 2001 tăng lên 33,7 tỷ USD năm 2013 Trong đó xuất khẩu của Việt Nam vào liên minh Châu Âu tăng 8 lần và nhập khẩu của Việt Nam từ liên minh Châu Âu tăng 6,2 lần
3.2.3.1 Thuế quan
Liên minh Châu Âu áp dụng biểu thuế quan chung CCT (Common Custom Tariff), được xây dựng dựa trên cơ sở hệ thống hài hòa HS (Harmonized System) Biểu thuế quan của liên minh Châu Âu có các mức thuế khác nhau:
Nhóm thứ nhất áp dụng đối với nhập khẩu từ các nước có thực hiện quy chế tối huệ quốc MFN
Nhóm thứ hai là thuế quan ưu đãi, áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển, được hưởng đơn thuần ưu đãi GSP của liên minh Châu Âu
Nhóm thứ ba, được gọi là thuế quan đặc biệt, thực hiện đối với hàng nhập khẩu
từ các nước đang phát triển được hưởng ưu đãi GSP kèm với những ưu đãi theo các hiệp định song phương
3.2.3.2 Phi thuế quan
Liên minh Châu Âu sử dụng biện pháp phi thuế quan làm biện pháp chủ yếu để bảo hộ sản xuất và tiêu dùng nội địa hiện nay Sản phẩm cà phê nhập khẩu vào liên minh Châu Âu phải thỏa mãn điều kiện của hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật gồm 5 tiêu chuẩn:
Tiêu chuẩn chất lượng: Hiện nay, liên minh Châu Âu áp dụng tiêu chuẩn quốc
tế ISO 10470:2004 cho cà phê xuất khẩu Theo tiêu chuẩn này, hạt cà phê được lựa chọn bằng cách cân các hạt lỗi (hạt đen, hạt nâu và hạt vỡ) và chất lượng cà phê được quyết định bởi số lượng những hạt lỗi có trong cà phê
Tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm: Theo Luật thực phẩm Châu Âu, một mặt hàng thực phẩm được nhập khẩu vào liên minh Châu Âu được coi là vệ sinh nếu tuân thủ các quy định sau:
Các quy định có liên quan đến Luật thực phẩm của liên minh Châu Âu;
Các điều kiện tương đương do liên minh Châu Âu đặt ra; hoặc:
Nếu tồn tại một thỏa thuận riêng giữa liên minh Châu Âu và nước xuất khẩu, phải tuân theo các quy định trong thỏa thuận đó
Để thực hiện yêu cầu về vệ sinh thực phẩm, liên minh Châu Âu có một hệ
Trang 37này giúp các nước thành viên liên minh Châu Âu ngay lập tức thông báo cho các nước thành viên khác nếu có mặt hàng thực phẩm không an toàn nào được phát hiện nhằm ngăn chặn việc mặt hàng đó thâm nhập thị trường liên minh Châu Âu Đối với mặt hàng cà phê có thể đưa ra một số lý do cảnh báo như: Có phân côn trùng, vật thể lạ và phân loài gặm nhấm trong sản phẩm; hoặc bao gói sản phẩm cà phê bị hư hại
Tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng: Mặt hàng cà phê khi nhập khẩu vào thị trường châu Âu phải đáp ứng các tiêu chuẩn gắt gao về an toàn thực phẩm Mới đây, liên minh Châu Âu còn đưa ra các tiêu chuẩn mới và nghiêm ngặt hơn áp dụng với tất
cả các sản phẩm thực phẩm xuất khẩu sang liên minh Châu Âu gồm: Hệ thống giúp nhận diện, đánh giá, và kiểm soát các mối nguy hiểm ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm (HACCP), Hệ thống quản lý chất lượng mới (ISO22000) và quy định mới về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cho phép
Tiêu chuẩn bảo vệ môi trường: Yêu cầu hàng hóa có liên quan đến môi trường phải dán nhãn sinh thái hoặc nhãn tái sinh theo quy định và có chứng chỉ được quốc tế công nhận Ngoài ra, các nhà sản xuất còn phải đảm bảo tuân thủ theo hệ thống quản
lý ISO 14000
Bên cạnh đó, cà phê nhập khẩu vào liên minh Châu Âu còn phải tuân theo các công cụ hành chính khác nhằm kiểm soát nhập khẩu như chính sách chống bán phá giá, chống trợ cấp xuất khẩu và áp dụng thuế “chống xuất khẩu bán phá giá”…
3.3 KINH NGHIỆM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH MẶT HÀNG CÀ PHÊ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA XUẤT KHẨU VÀO LIÊN MINH CHÂU ÂU
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
3.3.1 Braxin
Braxin được xem là cường quốc xuất khẩu cà phê nhân lớn nhất thế giới và Braxin đặt biệt nổi tiếng với việc sản xuất cà phê Arabica do điều kiện thổ nhưởng, khí hậu Không những chú trọng vào việc đảm bảo cà phê nhân xuất khẩu để giử vị trí số 1 trên thị trường thế giới mà Braxin cũng có những định hướng và chính sách của riêng mình cho việc tập trung cà phê nhân vào chế biến không chỉ nhầm phục vụ thị trường nội địa trong nước mà còn nhằm mục tiếu xa hơn đó là xuất khẩu
Braxin chú trọng tới chất lượng của cà phê ngay từ khâu trồng trọt, thu hoạch, chất lượng được bảo đảm ngay từ nguyên liệu đầu vào Bởi ngoài những hương vị vốn
có nhờ vào những ưu thế và điều kiện tự nhiên thì chất lượng cà phê nhân có tốt thì chất lượng cà phê chế biến sau này mới có chất lượng cao Thêm vào đó là việc đầu tư, đổi mới dây chuyền sản xuất chế biến cà phê theo hướng chuyên môn hóa
Hiện nay, vị trí ngành cà phê giảm tương đối trong cơ cấu xuất khẩu nhưng Braxin vẫn là nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới nói chung và vào thị trường liên minh Châu Âu nói riêng Gần đây, Braxin đã bắt đầu chú trọng và đẩy mạnh sản xuất
Trang 38thế giới sau Việt Nam Là quốc gia có lịch sử truyền thống trong ngành và nhiều kinh nghiệm thâm nhập vào thị trường liên minh Châu Âu, Braxin có nhiều kinh nghiệm nâng cao nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng cà phê mà Việt Nam cần học hỏi
3.3.1.1 Cung ứng các sản phẩm đảm bảo chất lượng, đạt tiêu chuẩn
Sản phẩm cà phê của Braxin rất có uy tín trên thị trường thế giới nói chung và liên minh Châu Âu nói riêng nhờ chất lượng cao và đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt các qui định về cà phê của ICO Braxin có giống tốt, điều kiện tự nhiên thuận lợi, máy móc hiện đại và hệ thống nghiên cứu khoa học tiên tiến luôn đảm bảo chất lượng cà phê cao, vệ sinh an toàn thực phẩm, vượt qua được rào cản kĩ thuật khi xâm nhập vào liên minh Châu Âu
Khi người tiêu dùng ngày càng chú trọng đến những sản phẩm cà phê có con dấu chứng nhận thì Braxin cũng đã đưa vào các hệ thống cần thiết để đáp ứng các nhu cầu này của thị trường Braxin quản lý chuỗi hoạt động giữa các bên liên quan như người nông dân, người sản xuất, trung gian và người xuất khẩu; đảm bảo chất lượng nghiêm ngặt từ trồng trọt đến chế biến; sản phẩm cà phê đạt chuẩn được chứng nhận bởi các tổ chức thứ 3 như Fai-trade, RFA, UTZ…Tính đến nay đã có hơn 250 nhãn hàng cà phê của Braxin được cấp giấy chứng nhận chất lượng
3.3.1.2 Tổ chức tốt việc điều phối hoạt động dọc chuỗi ngành hàng cà phê
Braxin có một cơ chế tổ chức ngành hàng cà phê rất chặt chẽ, điều tiết và quản
lý hoạt động sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu… bảo đảm lợi ích của các bên tham gia Trước tiên ở khâu sản xuất, Braxin xây dựng theo mô hình HTX Nhiệm vụ chính của HTX là tổng hợp khuyến nông và tìm thị trường đầu ra cho sản phẩm, giúp người dân
có thể an tâm sản xuất mà không cần lo lắng về đầu ra Bên cạnh đó, Braxin có “Tổ chức ngành hàng cà phê Braxin” và sử dụng “Quỹ Cà phê” làm công cụ tài chính thực hiện các chính sách, quyết định mà tổ chức điều phối ban hành
Tập trung hơn nữa vào thị trường nội địa để từ đó làm bàn đạp cho việc xuất khẩu các sản phẩm cà phê Hiện nay Braxin là nước tiêu thụ cà phê vào dạng lớn nhất thế giới, với trung bình hàng năm khoảng 4,9kg/ người Như vậy việc chủ động trong việc sản xuất và chế biến không những giúp Braxin đáp ứng tốt như cầu trong nước mà còn kích thích xuất khẩu
Ngành cà phê của Braxin có 4 nhóm tổ chức chính: tổ chức của các nhà sản xuất bao gồm các nhà sản xuất nhỏ lẻ và các hợp tác xã, tổ chức của các nhà rang xay,
tổ chức của các nhà sản xuất cà phê hoà tan và tổ chức của các nhà xuất khẩu Các tổ chức này tham gia vào quá trình thảo luận, hoạch định và thực hiện chính sách; xác định, điều chỉnh, giám sát và đánh giá nghiên cứu kỹ thuật cà phê; thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại, tăng cường chất lượng cà phê Cà phê Braxin được xuất khẩu trực tiếp không qua trung gian giúp giảm chi phí, có lợi thế về giá, tạo được
Trang 39Ngoài ra, có Bộ Nông nghiệp Braxin chuyên nghiên cứu, hoạch định chính sách, chịu trách nhiệm về vấn đề vệ sinh thực phẩm, phòng chống bệnh dịch Chính phủ có những chương trình tín dụng hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu
cà phê, tài trợ 50% chi phí nghiên cứu và phát triển các sản phẩm cà phê chế biến cho các nhà sản xuất và xuất khẩu cà phê Chính phủ Braxin định hướng trong dài hạn ngành cà phê của mình đi theo hướng xuất khẩu, do đó đã và đang có những kế hoạch
hỗ trợ cho doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thuận lợi hơn
Bên cạnh đó, Braxin còn sử dụng “Quỹ cà phê” để tài trợ chi phí sản xuất, xúc tiến thương mại, quảng bá hình ảnh và nghiên cứu cà phê
3.3.1.3 Nghiên cứu những phương pháp chế biến cà phê mới
Ngoài những phương pháp chế biến thông thường như chế biến khô, chế biến ướt, chế biến nửa ướt thì Braxin còn tiếp tục nghiên cứu những phương thức chế biến
cà phê mới như “khô tự nhiên”, cà phê được để khô ở trên cây nhằm làm tăng hương
vị tự nhiên của hạt cà phê Điều này làm gia tăng sự khác biệt giữa cà phê của Braxin với các đối thủ, giúp nâng cao được giá bán, có nhiều lợi nhuận hơn Hàng năm, Quỹ
Cà phê Braxin dành ngân sách tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu trong chương trình
“Quốc gia nghiên cứu và phát triển cà phê” nhằm tạo ra và chuyển giao kiến thức, công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh của cà phê Braxin
Ngành cà phê cùa Braxin đã được nhiều chuyên gia khái quát bằng 6 chử
“Truyền thống – chất lượng – hiện đại” Cà phê Braxin được sản xuất tại các nông trường lớn chuyên canh, áp dụng kỉ thuật sản xuất tiên tiến và công nghệ chế biến hiện đại đảm bào về số lượng và cả chất lượng nguồn nhiên liệu đầu vào cho quá trình chế biến cà phê Việc sản xuất tại các nông trường lớn chuyên canh không những đem lại thuận lợi về quy mô, năng suất… mà Braxin cũng sẽ có các điều kiện áp dụng các kỉ thuật mới về giống cây trồng, phân bón, chăm sóc, thu hoạch… hay các công nghệ tiên tiến hiện đại Chủng loại cà phê được nghiên cứu và áp dụng những loại mới, chất lượng cao như cà phê hửu cơ, cà phê hảo hạng
3.3.2 Indonesia
Nhờ có điều kiện tự nhiên thuận lợi, lao động dồi dào và chính sách hướng về xuất khẩu hợp lý mà Indonexia trở thành một trong những nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới và đặc biệt là xuất khẩu cà phê Robusta
Các chính sách nhằm tăng cường giám sát chất lượng, đầu tư máy móc thiết bị Cũng như Braxin, Indonexia chú trọng tới chất lượng của cà phê ngay từ khâu trồng trọt, thu hoạch, chất lượng đảm bảo ngay từ khâu đầu vào Trước đây cà phê nhân của Indonexia có chất lượng thấp, thường phơi chưa đến độ khô cần thiết và có chứa tập chất Tuy nhiên, Indonexia đã có những giải pháp hữu hiệu để giảm tỉ lệ các hạt cà phê
ẩm, mốc nâng cao chất lượng cà phê nhân, đảm bảo cho việc chế biến và xuất khẩu,
Trang 40đồng thời đâu tư máy móc thiết bị thu gom, sản xuất, chế biến để nâng cao năng suất
3.3.3 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Từ thực tiễn và kinh nghiệm tổ chức sản xuất cà phê xuất khẩu của một số nước như Braxin, Indonexia, chúng ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong việc xuất khẩu cà phê của mình sang thị trường khác trên thế giới, mà đặc biệt là liên minh châu Âu, một thị trường có mức tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới chứa đựng đầy tiềm năng và phát triển
Hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 trên thị trường liên minh Châu Âu sau Braxin, xuất khẩu đứng đầu chủng loại cà phê Robusta Liên minh Châu
Âu chủ yếu ưa chuộng loại cà phê Arabica, trong khi đó Việt Nam trồng chủ yếu là cà phê Robusta với chất lượng và giá trị thấp hơn Vì vậy, chúng ta cần chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tăng diện tích đất trồng cà phê Arabica như Braxin từng chuyển dịch sang cà phê Robusta những năm gần đây, điều kiện khí hậu miền Bắc nước ta thích hợp trồng loại cà phê Arabica này Kinh nghiệm mà Việt Nam cần học hỏi nữa là nâng cao chất lượng sản phẩm, đầu tư nghiên cứu, tăng cường xúc tiến thương mại để cà phê Việt Nam được chứng nhận chất lượng, xây dựng uy tín, tăng khả năng cạnh tranh trong một thị trường đầy tiềm năng nhưng đòi hỏi tiêu chuẩn khắt khe như liên minh Châu Âu
Xây dựng 1 tổ chức điều phối hoạt động dọc chuỗi ngành cà phê để có sự liên kết chặt chẽ giữa các tác nhân trong chuỗi ngành hàng từ người sản xuất, chế biến, nhà xuất khẩu, các nhà khoa học và cả cơ quan nhà nước có liên quan để tạo được chiến lược và hoạch định chính sách quản lí tốt, phân tích dự báo thông tin thị trường cà phê trong và ngoài nước, xúc tiến thương mại ra nước ngoài, thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế giúp cà phê Việt Nam nâng cao được nâng lực cạnh tranh
Một kinh nghiệm nữa mà chúng ta nên học hỏi là tăng cường giám sát, đảm bảo
số lượng và chất lượng đầu vào Chú trọng từ những hoạt động đầu của sản xuất và trồng trọt, thu hái để chế biến sản phẩm có chất lượng cao đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng của liên minh châu Âu
Tận dụng các mối quan hệ, thúc đẩy hợp tác, tăng khả năng cạnh tranh sẽ thu hút được sự quan tâm của các tổ chức tại liên minh Châu Âu, giúp chúng ta tiếp cận được hệ thống kĩ thuật tiên tiến, vốn hỗ trợ và hệ thống phân phối ở liên minh Châu
Âu Tham dự các cuộc hội nghị, sự kiện chuyên đề để các doanh nghiệp nắm bắt