Lãnh thổ của tỉnh tiếp giáp với các tỉnh của các nước trong khu vực đó là lợi thế cho du lịch Chăm Pa Sắc phát triển cụ thể là: Tỉnh Chăm Pa Sắc là một tỉnh ở cực Nam Lào; được chia thàn
Trang 1GI Ả I PHÁP CHI Ế N L ƯỢ C PHÁT TRI Ể N DU L Ị CH
CH Ă M PA S Ắ C, N ƯỚ C C Ộ NG HÒA DÂN CH Ủ NHÂN DÂN LÀO
LU Ậ N V Ă N TH Ạ C S Ĩ KINH T ẾCHUYÊN NGÀNH: QU Ả N TR Ị KINH DOANH
MÃ S Ố : 60 34 01 02
Trang 2B Ộ TÀI CHÍNH
TR ƯỜ NG ĐẠ I H Ọ C TÀI CHÍNH - MARKETING
Saiyasith VILAPHATH
GI Ả I PHÁP CHI Ế N L ƯỢ C PHÁT TRI Ể N DU L Ị CH
CH Ă M PA S Ắ C, N ƯỚ C C Ộ NG HÒA DÂN CH Ủ NHÂN DÂN LÀO
LU Ậ N V Ă N TH Ạ C S Ĩ KINH T ẾCHUYÊN NGÀNH: QU Ả N TR Ị KINH DOANH
MÃ S Ố : 60 34 0 02
Giáo viên h ướ ng d ẫ n khoa h ọ c:
VS.TSKH Nguy ễ n V ă n Đ áng
Trang 3Chương 1
HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN SỰ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CHDCND LÀO
1.1.2 Các xu hướng phát triển du lịch trong giai đoạn hiện nay 10
1.3.2 Tổng quan lý thuyết về du lịch và cạnh tranh của sản phẩm du lịch 31
Lào nói chung và của tỉnh Chăm Pa Sắc nói riêng
31
1.4.2 Xây dựng tiêu chí đánh giá sức cạnh tranh của sản phẩm du lịch tổng thể
quốc gia và tỉnh Chăm Pa Sắc
NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
phát tri ển du lịch
37
2.1.1 Những đặc điểm về tự nhiên của tỉnh Chăm Pa Sắc 37
Trang 42.2 Nh ững lợi thế và tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc 42
2.2.1 Lợi thế du lịch Chăm Pa Sắc trong phát triển du lịch cả nước 42 2.2.2 Tiềm năng về tài nguyên du lịch tỉnh Chăm Pa sắc 43
2.3.2 Phân tích các loại hình sản phẩm du lịch ở tỉnh Chăm Pa Sắc 65 2.3.3 So sánh sản phẩm du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc với các sản phẩm cạnh tranh của
QUAN ĐIỂM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN
89
3.1.1 Một số quan điểm cơ bản trong phát triển du lịch ở tỉnh Chăm Pa Sắc 89 3.1.2 Mục tiêu phát triển du lịch Chăm Pa sắc đến năm 2020 91 3.1.3 Định hướng và giải pháp xây dựng sản phẩm du lịch cạnh tranh đến năm
3.2.4 Tăng cường sự phối hợp với các ngành, thực hiện việc liên doanh, liên kết
trong kinh doanh du lịch
Trang 5L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoàn đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn
là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Saiyasith VILAPHATH
Trang 6DANH M ỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
18
khách trên thế giới
19
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong mới thập kỳ qua, dịch vụ được coi là một ngành kinh tế tổng hợp rất lớn
và phát triển nhanh trên toàn thế giới Đó là sự phong phú, đa dạng về hàng hóa và dịch vụ khác nhau cho khách hàng, nhằm thu hút ngoài tệ và tạo công ăn, việc làm cho nhân dân Hàng hóa và dịch vụ bao gồm: giao thông, nhà hàng, khách sạn, mua bán hàng hóa, nghỉ ngơi và nơi vui chơi giải trí Nói cách khác, du lịch của các nước đang phát triển là kinh tế sử dụng nhiều lao động tạo công ăn, việc làm và mang lại thu nhập cho người lao động Bên cảnh đó việc phát triển du lịch đã trở thành một yếu tố thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, là động lực làm tăng tiến trình giao lưu kinh tế, chính trị, xã hội giữa các quốc gia, dân tộc trên cơ sở hợp tác quốc tế trên lĩnh vực sản xuất và lưu thông hàng hóa
Du lịch là yếu tố quan trọng trong lĩnh vực Đông Nam Á Sự hòa nhập giữa các nước hạ lưu song MeKong được coi là nơi du lịch nổi tiếng thu hút du khách từ khắp nơi trên toàn thế giới và là nơi du lịch phát triển nhanh nhất
Nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào sau hơn 20 năm đổi mới nền kinh tế đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa quan trọng Cùng với các ngành kinh tế khác, trong những năm qua du lịch Lào đã và đang chú trọng đầu tư phát triển Đặc biệt vào năm 1999 - 2000 là năm du lịch Lào Ngành du lịch Lào đang được Chính phủ quan tâm đẩy nhanh tốc độ theo kịp các nước trong khu vực và thế giới Tốc độ phát triển của toàn ngành tùy thuộc rất nhiều vào sự phát triển du lịch ở các tỉnh, các địa phương Mấy năm vưa qua tiềm năng du lịch ở địa phương đã được khai thác ở những mức độ khác nhau tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bàn trong cả nước
Lãnh thổ của tỉnh tiếp giáp với các tỉnh của các nước trong khu vực đó là lợi thế cho du lịch Chăm Pa Sắc phát triển cụ thể là: Tỉnh Chăm Pa Sắc là một tỉnh ở cực Nam Lào; được chia thành 2 vùng: vùng Đồng bằng, vùng cao nguyên và núi; có biên giới giáp với các tỉnh và các nước láng giềng như: phía Bắc giáp tỉnh Xa La Văn, phía
Trang 8Cong và tỉnh Ắt Ta Pư, phía Tây giáp tỉnh U Bôn Lạt Xa Tha Ni của Vương quốc Thái Lan Trên tuyến đường biên giới quốc gia giữa Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào với Vương quốc Thái Lan và Vương quốc Căm Pu Chia thuộc địa phận tỉnh Chăm Pa Sắc
có ba cửa khẩu quốc tế đó là sân bay quốc tế (Tp.Pakse), cửa khẩu Vơn Kham và cửa khẩu Văng Tâu Chăm Pa Sắc nằm trên trục đường giao thông quan trọng của đất nước như Quốc lộ số 13 và điểm nối đường giao thông đi vào ba tỉnh miền Nam Lào
Tỉnh có sông MeKong chạy dọc theo chiều Tây Bắc xuống Đông Nam qua 8 huyện, trong đó có một huyện đảo (huyện Khổng) trên song MeKong; chính sông
bên phía Tây có 4 huyện và 1 huyện trên đảo)
Đây là điểm lợi thế về vị trí địa lý của tỉnh trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung, về du lịch nói riêng; nhưng đồng thời việc có biên giới giáp với Thái Lan là một trong những điểm khó khăn, phức tạp về quốc phòng an ninh của tỉnh, bọn xấu thường sử dụng đất Thái Lan và qua đó xâm nhập vào gây rối trật tự an ninh của tỉnh
Chính vì vậy, việc đánh giá đúng tiềm năng du lịch Chăm Pa Sắc, thực trạng phát triển du lịch trong những năm qua, từ đó đề xuất những giải pháp có tính khả thi
để khai thác triệt để tiềm năng du lịch ở địa bàn này được coi là hết sức cần thiết Do
2 Tình hình nghiên cứu
Du lịch Lào nói chung, Chăm Pa Sắc nói riêng trong những năm gần đây đã có những bước phát triển đáng kể Tuy nhiên đây là một ngành khá mới mẻ Ở Lào du lịch và du lịch còn non kém so với các nước trong khu vực và thế giới Thời gian vừa qua ở Lào cũng có một số đề tài nghiên cứu phương hướng, chính sách phát triển du lịch, một số đề tài tập trung vào việc giải quyết vấn đề kỹ thuật, nghiệp vụ du lịch, ở tâm quốc gia đã có bài viết trên một số tạp chí:
hòa dân chủ Nhân dân Lào", Tạp chí nghiên cứu lý luận, số 4
Trang 9- Hum Phăn KHUA PA SIT (2008), "Phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Luang Pra Bang trong giai đoạn hiện nay"
hòa dân chủ Nhân dân Lào"
Ở Việt Nam liên quan đến vấn đề du lịch đó có những công trình khoa học nghiên cứu vấn đề du lịch và du lịch Chẳng hạn:
ở Hà Nội, Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý, Học viện Chính trị - Hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh
pháp phát triển, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ
Chí Minh
hướng và giải pháp, Luận văn tốt nghiệp lý luận chính trị cao cấp, Học viện Chính trị -
Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
pháp”, Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh
khoa học kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
sĩ khoa học kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Và các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề du lịch và du lịch
Ở tỉnh Chăm Pa Sắc cũng có một số bài viết về du lịch nhưng chưa phân tích toàn tích toàn diện và làm rõ tiềm năng cũng như mặt tồn tại của du lịch trên địa bàn tỉnh Đề tài phát triển du lịch ở tỉnh Chăm Pa Sắc chưa có tác giả nào tiếp cận lý giải
và cố gắng làm rõ về lý luận gắn liền với thực tiễn dưới tốc độ quản lý kinh tế
Trang 103 Phạm vi nghiên cứu
có thể nghiên cứu nhiều mặt khác nhau Ở đây chỉ tập trung và phân tích quan điểm, giải pháp nhằm phát triển ngành du lịch có hiệu quả
- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu việc phát triển du lịch của tỉnh trong
thời gian qua để rút ra những kết luận cần thiết cho việc phát triển du lịch đến 2015-2020
4 Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn
trạng và đề xuất các giải pháp, khai thác các tiềm năng để phát triển du lịch ở tỉnh Chăm Pa Sắc
- Nhiệm vụ:
+ Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về du lịch và phát triển du lịch
+ Đánh giá đúng thực trạng và rút ra những mâu thuẫn trong quá trình phát triển
du lịch ở tỉnh Chăm Pa Sắc
+ Đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển du lịch
5 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu:
và Nhà nước về phát triển du lịch Chăm Pa Sắc Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào
- Tiếp thu có chọn lọc những lý luận phát triển của các học giả trên thế giới từ
đó vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Lào nói chung, tỉnh Chăm Pa Sắc nói riêng
các hiện tượng dịch vụ du lịch Đồng thời kết hợp với phương pháp điều tra thống kê, lập bảng biểu so sánh tổng hợp để rút ra những kết luận cần thiết
Những kết quả nghiên cứu này có thể dùng làm tài liệu tham khảo, là cơ sở để xây dựng các chủ trương biện pháp phát triển du lịch ở tỉnh Chăm Pa Sắc Tổ chức chỉ đạo các đơn vị làm công tác du lịch trên địa bàn tỉnh
Trang 117 Kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Hoạt động du lịch và sự tác động của nó đến sự phát triển kinh tế -
xã hội của Cộng hòa dân chảu Nhân dân Lào
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch ở tỉnh Chăm Pa Sắc nước Cộng hòa
dân chủ Nhân dân Lào
Chương 3: Quan điểm và những giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch ở tỉnh
Chăm Pa Sắc nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào
Trang 12Chương 1
HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 1.1 Du lịch và xu hướng phát triển du lịch trong giai đoạn hiện nay
1.1.1 Du lịch
Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như là một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hoá xã hội ở các nước Về mặt du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước công nghiệp phát triển Du lịch được coi là ngành công nghiệp mà hiện nay ngành công nghiệp này chỉ đứng sau công nghiệp dầu khí và ô tô [14; tr 6] Đối với các nước phát triển, du lịch chính là cứu cánh để vực dạy nền kinh tế ốm yếu của nhiều quốc gia Tuy nhiên theo các chuyên gia của du lịch thế giới (WTO), sự bùng nổ của du lịch, chỉ mới được bắt đầu từ thế kỷ XX, và các số liệu về hoạt động du lịch mới bắt đầu được quan tâm, từ những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai trở lại đây
Thuật ngữ du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước, bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là đi một vòng Thuật ngữ này được Latinh hoá thành Toruns và sau đó là TOURISME (tiếng Pháp), Tourism lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800
Do hoàn cảnh khác nhau, dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, cho nên có rất nhiều các học giả đưa ra các định nghĩa về du lịch không hoàn toàn như nhau Định nghĩa ngắn gọn nhất phải kể đến Ausher và Nguyễn Khắc Viện Theo Ausher du lịch
là nghệ thuật đi chơi của cá nhân Còn Nguyễn Khắc Viện quan niệm rằng: Du lịch là
sự mở rộng không gian văn hoá của con người Trong từ điển tiếng việt du lịch được giải thích là: đi chơi cho biết xứ lạ khác với nơi mình ở Trong cuốn “Du lịch và kinh doanh du lịch” của PTS Trần Nhạn, ông cho rằng du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được cảm
Trang 13nhận những giá trị vật chất, tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lời được tính bằng đồng tiền
Những quan điểm trên đây đều coi du lịch là một hiện tượng xã hội và đều xuất phát từ phía cầu (nhu cầu của du khách), tức là đứng ở góc độ người du lịch để định nghĩa du lịch, Một cách tiếp cận khác, đó là cách tiếp cận phạm trù du lịch của các nhà kinh tế Dưới con mắt của các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần, mà nó phải gắn chặt với các hoạt động kinh tế
Nhà kinh tế học Kalfiotis cho rằng: Du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi ở đến một nơi khác nhằm thỏa mãn tinh thần, đạo đức, do đã tạo nên các hoạt động kinh tế
tất cả các hoạt động tổ chức, kỹ thuật và kinh tế phục vụ các cuộc hành trình và lưu trú của con người ngoài nơi cư trú với nhiều mục đích ngoài mục đích kiếm việc làm và thăm viaangs người thân là Du lịch
Giáo trình thống kê du lịch của Nguyễn Cao Thường và Tô Đăng Hải cho rằng:
du lịch là một ngành kinh tế xã hội, dịch vụ, có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao nghiên cứu khoa học và nhu cầu khác
Các quan điểm này lại xuất phát từ phía cung (đáp ứng nhu cầu của du khách), tức là đứng ở góc độ người kinh doanh du lịch để định nghĩa du lịch Ở đây họ coi du lịch trước hết là một hoạt động kinh tế
Từ hai cách tiếp cận trên, một số học giả có chủ trương gắn kết cả hai cách nhìn nhận về du lịch từ phía người du lịch và người kinh doanh du lịch để định nghĩa Tiêu biểu cho quan điểm này là hai học giả Hoa kỳ là Watthieson và Wall Hai ông cho rằng: "Du lịch là sự di chuyển tạm thời của người dân đến ngoài nơi ở và làm việc của
họ, là những hoạt động xảy ra rong quá trình lưu lại nơi đến và các cơ sở vật chất tạo
ra để đáp ứng những nhu cầu của họ"
Kaspar cũng cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân mà phải là tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó Vì vậy, ông đưa ra định
Trang 14nghĩa: "Du lịch là toàn bộ những quan hệ với hiện tượng xảy ra trong quá trình di chuyển và lưu trú của con người tại nơi không phải là nơi ở thường xuyên hoặc nơi làm việc của họ"
Năm 1963, tại Hội nghị liên hợp quốc về du lịch họp ở Roma(Italia) Các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa: Du lịch là tổng hợp mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú cá nhân hay tập thể ở ngoài nơi thường xuyên của họ, hay ngoài nước họ, với mục đích hòa bình
Qua các định nghĩa trên có thể thấy sự biến đổi trong nhân thức về nội dung thuật ngữ du lịch Một số chỉ cho rằng du lịch là một hiện tượng xã hội Số khác lại
dung trên vào định nghĩa của thuật ngữ này, tức là tất cả các quan hệ (xã hội và kinh tế) phát sinh từ hoạt động di chuyển
Các học giả biện soạn Bách khoa toàn Việt Nam đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt Theo các chuyên gia này, nghĩa thứ nhất của từ này là: Một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam tháng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật Theo nghĩa thứ hai: Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có hiệu quả cao, về nhiều mặt, nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa của dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu nước, đối với người ngoài nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh tế mang lại hiệu quả rất lớn, có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ tại chỗ
Từ những cách tiếp cận trên, có thể rút ra hai đặc trưng của du lịch là:
Thứ nhất, nhu cầu về sự di chuyển và lưu trú tậm thời trong thời gian rảnh rỗi
của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức thế giới xung quanh có hoặc không kèm theo việc thụ hưởng một số sản phẩm tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng
Thứ hai, đây là một lĩnh vực cung ứng dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh
trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm, tạm thời, trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể, ngoài nơi cư trú
Trang 15Việc phân định rõ rang hai đặc trưng cơ bản là cung và cầu trong phạm trù du lịch có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch, khác phục tình trạng chỉ coi du lịch là một ngành kinh tế hoặc là một hiện tượng xã hội đơn thuần Chính vì vậy việc đầu tư cho du lịch phát triển là trách nhiệm của toàn xã hội giống như đầu tư vào ngành khác như: giáo dục, thể thao hay một lĩnh vực văn hóa khác
Như vậy, du lịch là một khái niệm bao hàm nội dung kép Một mặt mang ý nghĩa
mục đích nghỉ ngơi, giải trí Mặt khác, du lịch được nhìn nhận là một ngành kinh doanh, hoạt động gắn chặt với những kết quả kinh tế Bản chất kinh tế của nó là ở chỗ cung cấp
và sản xuất hàng hoá nhằm thoả mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần của du khách
Từ sự phân tích trên đây, dưới góc độ kinh tế, chúng ta có thể định nghĩa: Du
lịch là một phạm trù kinh tế, phản ánh mối quan hệ giữa người với người trong việc cung ứng và thụ hưởng các sản phẩm của tự nhiên và xã hội nhằm thoả mãn một
số nhu cầu nào đó về tinh thần và thể chất của du khách
Ngày nay trên thế giới, du lịch trở thành hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến, là cầu nối hữu nghị, phương tiện gìn giữ hoà bình và hợp tác giữa các quốc gia dân tộc
Du lịch hiện được coi là một trong những ngành kinh tế hàng đầu, phát triển với tốc độ cao, thu hút được nhiều quốc gia tham gia vì những lợi ích to lớn về nhiều mặt mà nó đem lại
Hoạt động du lịch ngày càng gia tăng về quy mô, phong phú về loại hình Xét ở góc độ loại hình du lịch, có rất nhiều cách phân loại, tuy theo các tiêu chí đưa ra để phân loại Hiện nay các chuyên gia nghiên cứu về du lịch ở Việt Nam tiến hành phân chia các loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản sau đây:
lớn là: du lịch văn hóa và du lịch thiên nhiên Người ta gọi là du lịch văn hóa khi hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn Ngược lại du lịch thiên nhiên diễn ra nhằm thỏa mãn nhu cầu về thiên nhiên của con người
Trang 16Theo mục đích chuyến đi có:
1.1.2 Các xu hướng phát triển du lịch trong giai đoạn hiện nay
Trước thềm của thiên niên kỷ mới, con người đã đạt được nhiều thành tựu trên mọi mặt đời sống xã hội Với mức sống bình quân trên thế giới ngày càng tăng, nhu cầu hưởng thụ của con người ngày càng đa dạng phong phú, đòi hỏi sự phát triển không ngừng của lĩnh vực kinh tế, xã hội trong đó có sự gia tăng nhu cầu du lịch Cùng với các yếu tố trên, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện nay, ngành du lịch đã và đang phát triển theo một số xu hướng cơ bản sau:
1.1.2.1 Sự gia tăng nhanh chóng về mặt số lượng du khách
Trong nhiều năm qua, số lượng khách du lịch nước ngoài ngày càng tăng nhanh Một số yếu tố được coi là nguyên nhân chính dẫn đến sự tăng trưởng này là mức thu nhập của đại đa số dân chúng ngày càng tăng Trong khi giá cả dịch vụ có xu hướng giảm Mặt khác, cơ sở vật chất kỹ thuật như: Lưu trú, vận chuyển, ngày càng
Trang 17thuận tiện và thoải mái hơn Trong lúc đó, tại nơi ở thường xuyên của du khách, mức
độ ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, đã trở thành một yếu tố không nhỏ thúc đẩy họ đi du lịch
Điều kiện sống của nhân dân là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch Khi thu nhập tăng thì nhu cầu du lịch và chi phí cho du lịch cũng tăng nhanh Thu nhập càng cao, càng nhiều gia đình có nhu cầu đi du lịch Bởi vì để có thể đi du lịch và thực hiện tiêu dùng dịch vụ, con người phải có điều kiện vật chất đầy đủ Đó là điều cần thiết để biến nguyện vọng du lịch thành hiện thực
Giáo dục cũng là một yếu tố kích thích du lịch Khi trình độ giáo dục được nâng cao thì sự ham hiểu biết và mong muốn tìm hiểu cũng tăng lên trong nhân dân Một số kết quả điều tra ở Hoa Kỳ cho thấy những gia đình mà chủ nhà có trình độ văn hoá càng cao thì tỷ lệ du lịch càng lớn
Trong điều kiện hiện nay khi khoa học kỹ thuật càng phát triển, con người ngày càng có điều kiện rút ngắn thời gian làm việc, tăng thời gian nhàn rỗi Nhiều nước trên thế giới từ lâu đã áp dụng chế độ làm việc 5 ngày trong tuần, điều đó làm cho số du khách tăng đáng kể Bên cạnh đó quá trình đô thị hoá một mặt tạo điều kiện cải thiện đời sống vật chất văn hoá cho nhân dân, mặt khác quá trình này cũng dẫn đến sự thay đổi về điều kiện tự nhiên, khí hậu, môi trường có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người Hơn nữa, mật độ dân số cao, lượng thông tin nhiều, tần số tiếp xúc lớn, giao thông ồn ào, ách tắc là nguyên nhân gây ra sự căng thẳng thần kinh Tất cả những điều trên làm xuất hiện nhu cầu du lịch ở người dân thành phố lớn hơn khu vực nông thôn
Một nguyên nhân nữa làm cho số lượng du khách gia tăng là sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện giao thông và thông tin liên lạc Nếu vào cuối thế kỷ thứ 19 mới chỉ xuất hiện các phương tiện giao thông hiện đại như: ôtô, tàu hoả, thì đến thế kỷ 20 người ta đã sáng chế ra máy bay và hiện nay có thể đi du lịch vũ trụ Có thể nói đây là phương tiện giao thông phục vụ cho du lịch quốc tế chủ yếu trong thế kỷ 21, được đánh dấu bằng “chuyến du lịch vũ trụ đầu tiên” Các phương tiện giao thông hiện đại ra đời vừa đảm bảo thời gian di chuyển nhanh chóng, khoảng cách di chuyển xa đồng thời lại ít ảnh hưởng đến sức khỏe những người yếu, trẻ em và người già cũng tham gia đông đảo vào các chuyến đi du lịch
Trang 18Hơn một thập kỷ qua, từ chỗ du lịch mới chỉ được chú ý một cách khiêm tốn và dần đã có sự quan tâm đúng mức trong chính sách phát triển của chính phủ thuộc các nước đang phát triển khu vực châu Á, du lịch đã có dấu hiệu phát triển đáng mừng Đặc biệt, năm 2004 là nằm ngành du lịch toàn thế giới đạt số khách kỷ lục 760 triệu lượt khách tham quan (năm 2000 là 650 triệu lượt người) và châu Á - Thái Bình Dương đã dẫn đầu cuộc đua này có tới 34 triệu lượt khách Các chỉ số lạc quan trên đã khẳng định du lịch là một ngành công nghệ không khói cũng có khả năng thúc đẩy phát triển kinh tế vì nó đóng vai trò quan trọng trong việc tăng trưởng nguồn thu ngoại
tệ, đóng góp tỷ lệ cao vào sự tăng trưởng GDP hàng năm và làm giảm được tỷ lệ đói nghèo trong các nước đang phát triển Ví dụ, nguồn thu từ du lịch năm 2001 đạt dược hơn 142.306 triệu USD, trong khi đó giá trị xuất khẩu du lịch tăng 154% trong những năm 1999 - 2000 [21; tr 12]
1.1.2.2 Thành phần du khách ngày càng mở rộng
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ trong nửa đầu thế kỷ 20 đã biến
động giải trí cho tầng lớp trung lưu trong xã hội Những nhân tố đánh dấu bước phát triển quan trọng nhất của du lịch trong thời đại công nghiệp là ở lĩnh vực giao thông Sự xuất hiện của hai loại hình ôtô và máy bay đã được tầng lớp trung lưu, tầng lớp có số lượng đông đảo, tín nhiệm Tuy nhiên kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, cơ cấu thành phần du khách có nhiều thay đổi Du lịch không còn là đặc quyền của tầng lớp trung lưu quý tộc Xu hướng quần chúng hoá thành phần du khách trở thành phổ biến ở nhiều quốc gia Trong bối cạnh đó, du lịch đại chúng thời hiện đại đã khẳng định mình
Lý do của hiện tượng này là mức sống của người dân được nâng lên, giá cả hàng hoá, dịch vụ không đắt, các phương tiện giao thông, vận tải, lưu trú, phong phú và thuận tiện Ngoài ra còn kể đến chính sách của chính quyền các nước Ví dụ ở Nhật Bản chính phủ
đề ra chủ trương khuyến khích đi du lịch ra nước ngoài trong kỳ nghỉ phép năm Với
và chi tiêu khoảng từ 7-10 tỷ USD Ở Đức hàng năm có trên 70 triệu người Đức đi du lịch ra nước ngoài, chi tiêu trên 50 tỷ USD [21; tr 21] Chính sách khuyến khích đi du
lịch còn thể hiện cụ thể ở việc giảm giá cước đi lại, giảm giá lưu trú thông qua việc giảm
Trang 19công nhân viên, những người có thu nhập thấp và không có khả năng chi trả Chí vì vậy, trong du lịch xuất hiện thuật ngữ: du lịch xã hội, du lịch đại chúng
1.1.2.3 Kéo dài thời vụ du lịch
Tính thời vụ trong du lịch phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản, đó là yếu tố khí hậu của các quốc gia và các cùng trên thế giới, các yếu tố của quốc gia gửi khách và quốc gia đón khách Đối với yếu tố thứ nhất, do điều kiện khí hậu ở mỗi vùng, mỗi quốc gia khác nhau, nên khi ở châu Âu là mùa đông thì ở vùng châu Á- Thái Bình Dương là mùa hè có thể tắm biển được cho nên khách du lịch từ các nước châu Âu tới đông và được gọi là mùa cao điểm đối với khách nước ngoài Đối với yếu tố thứ hai, phụ thuộc vào chính sách của Nhà nước gửi khách đi du lịch sắp xếp các thời gian nghỉ có lương cho mọi người
Một trong những đặc điểm của hoạt động du lịch là mang tính thời vụ bởi hoạt động du lịch bị lệ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên Tính thời vụ trong du lịch đã gây rất nhiều khó khăn trong việc kinh doanh phát triển của ngành du lịch Do vậy muốn nâng cao hiệu quả của ngành du lịch cần nghiên cứu sâu, tỷ mỷ những nhân tố ảnh hưởng quyết định đến tính thời vụ trong du lịch Đây là hướng mà tất cả các quốc gia đều quan tâm Sự phát triển của các hình thức du lịch trong hai thế kỷ qua cho thấy, thời vụ
du lịch có sự thay đổi đáng kể chứ không phải là một đặc tính bất biến Trước kia đối với tầng lớp quý tộc châu Âu thì mùa đông kéo dài là thời gian để giải trí, còn mùa hè ngắn ngủi là mùa chữa bệnh Do xu hướng quần chúng hoá du lịch cho nên các trung tâm nghỉ mùa hè phát triển và thời gian chính của hoạt động du lịch chuyển sang mùa
hè Về sau này môn du lịch thể thao mùa đông phát triển và vì thế cùng với mùa hè, mùa đông lại được phục hồi thành mùa du lịch chỉ khác là điểm du lịch đã chuyển về các vùng núi, người Pháp gọi là du lịch về vùng vàng trắng Như vậy rõ ràng việc xuất hiện các loại du lịch mới, có ảnh hưởng đến việc kéo dài thời vụ du lịch Ngoài ra còn
có các nhân tố khác như: thái độ sẵn sàng tiếp đón khách, yếu tố tâm lý, phong tục tập quán, tài nguyên du lịch cũng góp phần vào việc kéo dài thời vụ du lịch Ngày nay với trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật, các nước đều tìm mọi cách để hạn chế những bất lợi do tính thời vụ đem lại, nhằm kéo dài thời vụ du lịch như: mở rộng các loại hình du lịch, dịch vụ Có chính sách giảm giá rõ rệt vào trước và sau thời vụ du lịch
Trang 20chính, đồng thời mở rộng quảng cáo điều kiện nghỉ ngơi để thu hút khách, tạo ra những sự thu hút mới v.v Từ xu hướng này, cho thấy ngày nay người ta có thể đi du lịch quanh năm không kể đến mùa vụ [24; tr 56]
Ở Lào tính thời vụ cũng thể hiện khá rõ Ở phía Tây nhất là các bản làng ven bờ
sau (sau lễ hội đua thuyền và lễ hội Tháp Luông ở Thủ đô Viêng Chăn) Tuy nhiên việc tiến hành các biện pháp kéo dài mùa vụ du lịch ở Lào còn nhiều hạn chế Đây cũng là vẫn đề đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu du lịch và những người trực tiếp làm công tác du lịch tìm ra những giải pháp hữu hiệu phù hợp với hoàn cảnh của đất nước để thu hút khách quốc tế ngày càng tăng lên
Cùng với sự phát triển của xã hội, sự tiến bộ về văn minh vật chất và văn minh
về tinh thần của con người, nhiều loại hình du lịch phát triển để đáp ứng nhu cầu về du lịch như: du lịch nghỉ dưỡng, du lịch chữa bệnh, du lịch tham quan văn hoá, du lịch công vụ, du lịch mạo hiểm…v.v Con người ngày nay đi du lịch với nhiều mục đích khác nhau, người ta khó có thể phân loại những mục đích này
Sản phẩm du lịch là toàn bộ những hàng hoá (hữu hình và vô hình, thông thường và đặc biệt) cùng các dịch vụ kèm theo để đáp ứng nhu cầu của du khách Các sản phẩm du lịch được tạo ra bởi nhiều yếu tố: tự nhiên, di sản văn hoá dân tộc, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động dịch vụ du lịch tại một quốc gia, một vùng hay một điểm
du lịch nào đó
Xuất phát từ nhu cầu ngày càng cao về chất lượng và chủng loại của các sản phẩm du lịch Việc cung ứng những sản phẩm du lịch để đáp ứng nhu cầu du khách là hết sức phong phú và đa dạng, tuỳ thuộc vào phong tục tập quán, lịch sử văn hóa xã hội của mỗi vùng, mỗi quốc gia, phụ thuộc vào sở thích cá nhân và độ tuổi Chính vì thế làm xuất hiện xu hướng đa dạng hoá gắn liền với độc đáo hoá sản phẩm du lịch
Đó là xu hướng tất yếu đối với hoạt động du lịch ở các quốc gia
Việc cung ứng các sản phẩm du lịch còn phải chịu tác động của việc thường xuyên thay đổi nhu cầu của du khách do tác động của các nguyên nhân như: thời tiết,
Trang 21chính trị Trong số các sản phẩm dịch vụ du lịch, du khách thường đặc biệt quan tâm đến các dịch vụ thiết yếu như: vận tải, ăn uống, lưu trú, vui chơi giải trí và đây cũng là nhu cầu thường xuyên bị thay đổi nhất
Mặt khác chính sự tiến bộ khoa học - công nghệ cũng tạo ra cho du khách nhiều nhu cầu mới trong nghỉ ngơi, giải trí Tất cả những nhân tố trên đòi hỏi các cơ sở du lịch ở mỗi quốc gia đều phải nỗ lực nhằm tạo ra những sản phẩm độc đáo, đa dạng, chất lượng cao để đứng vững trong thị trường du lịch
Mấy năm gần đây một luồng khách tùy mới phát triển nhưng rất có triển vọng
đó là luồng khách từ Tây sang Đông Theo các chuyên gia, thế kỷ này được coi là thế
kỷ châu Á- Thái Bình Dương Năm 2004 lượng khách đến châu Á- Thái Bình Dương đạt 34 triệu lượt khách Một số người đến đây để tìm cơ hội làm ăn, ký kết hợp đồng, nghiên cứu điều kiện đầu tư [24; tr 12] Một số khách đi du lịch vì cảnh quan, vì một nền văn hóa phương Đông kỳ bí và đầy bản sắc Những công trình kiến trúc tuy không
đồ sộ những ẩn chứa một giá trị tinh thần to lớn, những phong tục tập quán khác lạ Luôn góp phần tạo nên những sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn
Từ xu hướng trên đã và đang đặt ra cho ngành du lịch Lào phải biết nắm bắt, đón đầu để chuẩn bị cho bước phát triển của ngành kinh tế mũi nhọn này trong giai đoạn tới
1.2 Tác động của du lịch đến sự phát triển kinh tế
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hoá sâu sắc có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao Phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của người dân và khách du lịch quốc tế, góp phần làm nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội của đất nước cho nên hoạt động của ngành du lịch có mối quan hệ tương tác với các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Từ đó du lịch được sử dụng làm phương tiện để phát triển các lĩnh vực trên, nếu người ta biết phát triển du lịch một cách bền vững và đúng hướng
1.2.1 Tác động của du lịch đến kinh tế
Ngày nay mạng lưới du lịch đã được thiết lập ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Các lợi ích kinh tế mang lại từ du lịch là điều kiện không thể phủ nhận, thông qua
Trang 22việc tiêu dung của du khách đối với các sản phẩm của du lịch Nhu cầu tiêu dung của
du khách bên cạnh việc tiêu dung đặc biệt như: nhu cầu nâng cao kiến thức, học hỏi, vãn cảnh, nghỉ ngơi, thư giãn, giải trí, thái độ người phục vụ
Điểm khác biệt giữa tiêu dung dịch vụ du lịch và tiêu dung các hàng hóa khác là tiêu dung sản phẩm du lịch xảy ra cùng lúc, cùng nơi với việc sản xuất ra chúng Đây cũng là lý do làm cho sản phẩm du lịch mang tính đặc thù và không thể so sánh giá cả của sản phẩm du lịch này với sản phẩm du lịch kia một cách tùy tiện được Sự tác động qua lại của quá trình tiêu dung và cung ứng sản phẩm du lịch tác động lên lính vực phân phối lưu thông và do vậy ảnh hưởng đến các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội Bên cảnh đó việc phát triển du lịch sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác vì sản phẩm du lịch mang tính liên ngành và quan hệ đến nhiều lĩnh vực trong nên kinh tế Khi một khu vực nào đó trở thành một điểm du lịch, du khách ở mọi nơi đổ về sẽ làm cho nhu cầu về mọi hàng hóa, dịch vụ tăng lên đáng kể (nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, xây dựng, giao thông vận tải bưu điện) Xuất phát từ nhu cầu tiêu dung đó của du khách mà ngành du lịch không ngừng mở rộng hoạt động của mình, thông qua mối quan hệ liên ngành trong nền kinh tế, đồng thời nó tác động làm biến đổi cơ cấu ngành trong nền kinh tế quốc dân Hơn nữa hàng hóa vật tư cho du lịch đòi hỏi phải có chất lượng cao, phong phú về chủng loại, hình thức đẹp, hấp dẫn Điều mà có nghĩa là hàng hóa phải được sản xuất trên một công nghệ cao, trình độ tiên tiến, do đó buộc các xí nghiệp phải tích cực cải tiến, áp dụng các thành tựu khoa học
Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác dụng làm biến đổi cân bằng thu chi ngoại tệ cho đất nước Du khách vào mang theo ngoại tệ làm tăng thêm nguồn thu ngoại
tệ cho đất nước mà họ đến Trong phạm vi một quốc gia, hoạt động du lịch tác động mạnh
mẽ đến quan hệ hàng hoá tiền tệ, điều hoà vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kém phát triển hơn, kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở các vùng sâu, vùng xa
Một lợi ích kinh tế của du lịch là việc thu hút sử dụng lao động xã hội Du lịch tạo công ăn việc làm cho người lao động như: các nhân viên khách sạn, lái xe taxi, hướng dẫn viên du lịch, công nhân xây dựng, chiêu đãi viên, nhân viên nhà hàng, công nhân vận chuyển, các dịch vụ tư vấn du lịch Bên cạnh đó ngành du lịch còn tạo ra các
Trang 23nguồn thu làm lợi cho dân cư địa phương nhờ việc phát triển các hoạt động kinh tế Các khoản tChăm Pa Sắc thu từ kinh doanh du lịch do khách du lịch đóng góp giúp địa phương chi tiêu cho giáo dục, y tế và các dịch vụ khác Tiền do khách chi tiêu ở các nhà hàng, khách sạn góp phần chi trả tiền lương cho nhân viên và công việc khác Ngoài ra khách còn bỏ tiền mua các hàng hoá dịch vụ, đây chính là một hình thức xuất khẩu tại chỗ đem lại lợi ích kinh tế rất tốt cho đất nước
Là ngành công nghiệp “không khói” bỏ ít vốn mà quay vòng lại nhanh Do đó Hội đồng lữ hành và du lịch quốc tế (W.T.T.C) đã công bố du lịch là công nghệ lớn nhất thế giới, vượt lên cả công nghệ sản xuất ôtô, thép, điện tử và nông nghiệp Hội nghị các Bộ trưởng du lịch thế giới họp ở OSAKA (Nhật Bản) tháng 11/1994 cũng đã khẳng định: “Du lịch là nguồn lớn nhất tạo GDP và việc làm của thế giới Du lịch sẽ là đầu tàu kéo nền kinh tế thế giới trong thế kỷ XXI” [10; tr 70]
Tình hình phát triển du lịch trên thế giới ngày nay
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, du lịch là một ngành dịch vụ lớn nhất thế giới chiếm 40% thương mại dịch vụ toàn cầu Là ngành sử dụng 1/10 lao động trên toàn thế giới, đặc biệt là tạo ra việc làm cho vùng sâu, vùng xa và nông thôn Trong bức thông điệp nhân Ngày Du lịch thế giới (27-9), Tổng Thư ký Tổ chức Du lịch Thế giới (UN-WTO) đã khẳng định: “Du lịch là chìa khoá mang lại thịnh vượng cho cả nước giàu và nước nghèo” Ngành du lịch đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng nhanh của FDI trên toàn thế giới Ngành du lịch trên thế giới là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, tốc độ tăng trưởng nguồn khách đạt khoảng 3,8%/năm và doanh thu ngoại tệ đạt khoảng 14,6%/năm Năm 1995, khách du lịch quốc tế trên toàn thế giới đạt 563 triệu lượt khách với thu nhập ngoại tệ từ du lịch đạt 401 tỷ USD và dự báo đến năm 2020 số lượng khách du lịch quốc tế trên toàn thế giới là khoảng 1,6 tỷ lượt khách và thu nhập ngoại tệ từ du lịch đạt 2000 tỷ USD Doanh thu ngoại tệ từ du lịch hàng năm đã vượt qua các ngành công nghiệp điện tử, sản xuất ô tô và nông nghiệp
Theo dự báo của Tổ chức Du lịch Thế giới (UN-WTO), sự tăng trưởng nguồn khách du lịch quốc tế sẽ được phân bố theo các vùng sau:
Trang 24Bảng 1.1: Tốc độ tăng trưởng du khách và thu nhập du lịch quốc tế và khu vực
Đông Á - Thái Bình Dương
- Đông Bắc Á (N – E Asia)
Du khách (Triệu người) 26.4 41.3 58.3 85.9 111.5 115.8 122.8 Thu nhập (Tỷ USD) 17.6 33.5 41.1 65.4 128.5 149.6 166.8
Du khách (Triệu người) 21.2 28.4 36.1 48.5 70 77.3 84.6 Thu nhập (Tỷ USD) 14.5 27.9 26.5 33.8 68.4 84.4 91.6
Du khách (Triệu người) 8.3 12.3 15.7 19.1 23.6 25.2 26.2 Thu nhập (Tỷ USD) 7.1 12.3 13.8 35.3 57.7 64.5 65.3
Ng uồn: WTO "Tourism Highlights 2013"
Từ năm 1990 đến năm 2012, số lượng du khách quốc tế đã gia tăng liên tục, tăng khoảng 2.3 lần, trong đó số thu ngoại tệ cũng tăng 4.1 lần Và số du khách quốc tế tăng 4% so với năm 2011, số thu ngoại tệ cũng tăng lên 3.16% Chúng ta có thể nói được, mỗi năm thu ngoại tệ luôn luôn gia tăng cao hơn số tăng lên của số du khách, do
du lịch đã phát triển, cung ứng được nhiều dịch vụ đa dạng cho khách nên tạo sự hấp dẫn để họ chi tiêu nhiều hơn
Khu vực Đông Nam Á -Thái Bình Dương: So với các nơi khác trên thế giới, các nước vùng Đông Nam Á -Thái Dương phát triển du lịch tương đối muộn Vào những năm 1970 - 1980, do chính sách mở cửa kinh tế của các quốc gia tư bản chủ nghĩa trong vùng như Nhật Bản và các nước "Con Rồng" châu Á, đã làm cho ngành du lịch phát triển không ngừng Chính phủ và các nhà kinh doanh đã tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí tạo ra những tiền đề vật chất cần
Trang 25thiết để phát triển du lịch và du lịch trong khu vực này có phát triển liên tục, chung ta có thể thấy được kết quả phát triển của khu vực trong bảng 1.1 Trong năm 1990 khu vực Đông Nam Á - Thái Bình Dương đã thu hút gần 55.8 triệu du khách quốc tế đến thăm, đem lại nguồn thu ngoại tệ gần 39.2 tỷ USD Đến năm 2012 số du khách trong khu vực này chiểm tỷ trọng 22.57% của số du khách toàn cầu, đem lại thu nhập khoảng 30.12% của số thu nhập toàn cầu Và số du khách đến thăm khu vực này tăng lên 233.6 triệu du khách tăng 4.1 lần so với năm 1990 và tăng 7% so với năm 2011, đã đem lại thu nhập 324.8 tỷ USD và có tốc độ tăng trưởng 8.4% so với năm 2011
Riêng trong khu vực Đông Nam Á - Thái Bình Dương, chúng ta thấy hoạt động
du lịch mạnh nhất trong năm 2012 là khu vực Đông Bắc Á, thu hút được 122.8 triệu du
được 84.6 triệu du khách và đem lại 91.6 tỷ USD; cuối cùng là khu vực châu Đại Dương và Nam Á thu hút được 26.2 triệu du khách và đem lại 65.3 tỷ USD Do kinh tế trong khu vực tăng trưởng với tỷ lệ cao và ổn định trong thời gian dài nên thu nhập của người dân tăng lên khá nhanh, thời gian nhàn rỗi nhiều hơn nên dân cư của các quốc gia trong khu vực Đông Á -Thái Bình Dương bắt đầu đi du lịch ngoài khu vực Bên cạnh việc đẩy mạnh du lịch quốc tế chủ động, hoạt động du lịch nội địa và du lịch quốc tế thụ động cũng bắt đầu phát triển mạnh tại các nước trong vùng
Bảng 1.2: Dự báo lượng khách du lịch quốc tế và tốc độ tăng trưởng lượng khách
tốc độ
%
lượng khách
Trang 26Sự phát triển du lịch theo xu hướng đại chúng hoá:
Trước đây, người đi du lịch chủ yếu là những người giàu có, thì ngày nay mọi tầng lớp dân cư trong xã hội có thể tham gia đi du lịch Xem bảng 5 có thể thấy nếu như năm 1950, số lượng khách du lịch quốc tế chỉ có 25 triệu lượt người, đến năm
khách, năm 2020 là 1,602 tỷ lượt khách Ngày nay, du lịch được coi như một hiện tượng kinh tế-xã hội phổ biến trên thế giới và trở thành một bộ phận tất yếu trong đời sống của con người
Theo thống kê của Tổ chức du lịch thế giới (WTO) hiện nay, một số quốc gia trên thế giới có thu nhập từ du lịch và các dịch vụ có liên quan đến du lịch chiếm từ 60
tế mạnh, thậm chí một ngành kinh tế mũi nhọn Doanh thu du lịch năm 1997 - 1998 ở
10 nước có doanh thu cao nhất do (WTO) công bố (bảng 1.2) cho thấy nguồn lợi thu từ
du lịch là rất lớn
Bảng 1.3: Danh sách 10 nước đứng đầu về doanh thu từ du lịch
Stt
F.rằng Pháp) Stt Nước Doanh thu (tỷ
Tình hình phát triển du lịch Việt Nam
Cùng sự nghiệp đổi mới đất nước hơn 20 năm qua và sau 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển du lịch giai đoạn 2001 - 2010, ngành du lịch Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế - xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường và giữ vững an ninh, quốc phòng
Trang 27Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của đất nước Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là kim chỉ nam định hướng cho các ngành, các cấp, các thành phần kinh tế - xã hội, trong đó ngành du lịch là hạt nhân trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện nhằm khắc phục những khó khăn, hạn chế, phấn đấu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước
Đối với Việt Nam từ năm 1990 đến nay, du lịch đã có bước phát triển vượt bậc Khách quốc tế tăng hơn 10 lần, từ 250 nghìn lượt người năm 1990 lên 2,63 triệu lượt người năm 2002 và 2,93 triệu lượt người năm 2004, tăng 20,5% so với năm 2003 Khách nôi địa tăng 13 lần, từ 1 triệu lượt người năm 2000 lên 13 triệu lượt người năm
2002 và 14,5 triệu lượt người năm 2004, tăng 11,5% so với năm 2003 Thu nhập từ du lịch tăng trung bình 23,8%/năm (năm 1999 là 2.240 tỷ đồng, năm 2002 đạt 23.500 tỷ đồng và năm 2004 đạt 26.000 tỷ đồng) [19; tr 9]
Theo Viện nghiên cứu phát triển du lịch (ITDR), năm 2010 Việt Nam đón được hơn 5 triệu lượt khách và thu nhập đạt 11.832 triệu USD Cũng theo (ITDR) trung bình mức chi tiêu của một người khách quốc tế trong một ngày giai đoạn 2006 - 2010 là
170 USD và khách nội địa là từ 20 - 25 USD
Trong những năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam có sự tăng trưởng nhanh liên tục: đạt 5.049.855 lượt (năm 2010); đạt 6.014.032 lượt (năm 2011) và 6.847.678 lượt (năm 2012) Bên cạnh đó, khách du lịch nội địa cũng tăng nhanh chóng: trên 28 triệu lượt (năm 2010), 30 triệu lượt (năm 2011) và 32,5 triệu lượt (năm 2012); khách du lịch ra nước ngoài đang có xu hướng tăng trưởng rõ rệt Tổng thu du lịch ngày càng cao, đạt 96 nghìn tỷ đồng (năm 2010), 130 nghìn tỷ đồng (năm 2011) và 160 nghìn
tỷ đồng (năm 2012), chiếm tỷ trọng hơn 5% trong GDP cả nước [19; tr 77]
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước Lào cũng đã đạt được những thành tựu đáng mừng
Theo số liệu thống kê của Ban kế hoạch và đầu tư, Viện thống kê quốc gia Lào thì số lượng du khách quốc tế đi tham quan ở Lào phân chia theo châu lục như sau
Trang 28Kể từ khi tỉnh Luông Pha Bang được thế giới công nhận là di sản văn hoá thế giới năm 1995 và công nhận Vặt Phu (chùa núi) tỉnh Chăm Pa Sắc vào năm 2001, du lịch của Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào, đã phát triển rất nhanh Số lượng du khách ngày càng tăng lên, số lượng du khách từ châu Âu, châu Mỹ và hơn một nửa là du khách từ các nước láng giềng như: Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan Thời kỳ từ 2006
nhập đạt 562.601.323 USD, tăng 25%, chiếm 5% của GDP Năm 2010 đón du khách quốc tế 2,5 triệu du khách, thu nhập đạt 381.669,031 triệu USD Dự kiến 2020 là 9 triệu du khách và kéo ngày nghỉ bình quân từ 8 ngày đến 11 ngày [42]
Theo quan điểm về chiến lược phát triển và xóa đói giảm nghèo của quốc gia Lào thì du lịch đóng góp khoảng 7- 9% GDP Trong mấy năm trở lại đây du lịch là nguồn thu ngoại tệ số một
Bảng 1.4: Số lượng du khách quốc tế đến Lào năm 2000 - 2012
Nguồn : Thống kê của Tổng cục du lịch Lào năm 2012
Riêng ở Chăm Pa Sắc, theo dự báo của Tổng cục du lịch Lào số lượng khách du lịch là 1.328.766 lượt người năm 2010 và lưu trú trung bình 7 ngày (khách quốc tế), thì doanh thu (không kể đến vận chuyển) là 67 triệu USD (trung bình 52$/ngày)
Như vậy, sự phát triển của du lịch có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế các quốc gia nói chung, Lào và tỉnh Chăm Pa Sắc nói riêng, là điều rất rõ Từ việc tác động tích cực đến các khâu của quá trình tái sản xuất, tạo thêm thu nhập đóng góp vào
Trang 29GDP, lôi kéo các ngành khác phát triển, tạo thêm công ăn việc làm đến việc góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ và giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiêp
Tuy nhiên về mặt kinh tế, du lịch cũng có một số ảnh hưởng tiêu cực Theo các chuyên gia, rõ ràng nhất là tình trạng lạm phát cục bộ, giá cả hàng hoá tăng cao, nhiều khi vượt quá khả năng chi tiêu của những người mà thu nhập trong họ không liên quan đến hoạt động của ngành du lịch
1.2.2 Tác động của du lịch đến chính trị - văn hóa
1.2.2.1 Ảnh hưởng của du lịch đến chính trị
Trước hết phải khẳng định du lịch là chiếc cầu nối hoà bình giữa các dân tộc trên thế giới Hoạt động du lịch giúp các dân tộc xích lại gần nhau hơn, hiểu về giá trị văn hoá của nước bạn Mọi quốc gia đều phải khẳng định an ninh chính trị và an toàn
xã hội là điều kiện không thể thiếu để phát triển du lịch Trong phạm vi các mối quan
hệ kinh tế quốc tế, sự trao đổi du lịch quốc tế ngày càng mở rộng và phát triển Du lịch nói chung, du lịch quốc tế nói riêng chỉ có thể phát triển được trong bầu không khí hoà bình, ổn định, trong tình hữu nghị giữa các dân tộc Chiến tranh, khủng bố, nạn phân biệt chủng tộc, xung đột tôn giáo, thiên tai, dịch bệnh, diễn biến hoá bình, không thể tạo dựng một môi trường đủ để du lịch tồn tại, chưa nói đến phát triển và phát triển bền vững Ở góc độ quốc gia, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành du lịch với các ngành hữu quan đảm bảo và gắn kết giữa phát triển và bảo vệ an ninh quốc phòng và
an toàn trong kinh doanh du lịch
Tuy nhiên không phải không có những ảnh hưởng tiêu cực của du lịch về an ninh, trật tự và an toàn xã hội Du lịch là một trong những con đường mà các thế lực phản động thường hay sử dụng để tuyên truyền, kích động gây chia rẽ nội bộ Bên cạnh đó bọn phản động cũng thường đội lối du khách để xâm nhập sâu vào trong nước, nhằm móc nối, xây dựng cơ sở để chống đối chính quyền nước sở tại Buôn bán, vận chuyển ma tuý, hàng hoá nhập lậu để gây mất trật tự an toàn xã hội
1.2.2.2 Ảnh hưởng của du lịch đến văn hóa - xã hội
Trang 30Tính văn hoá trong các hoạt động kinh doanh nói chung và trong du lịch nói riêng không chỉ thể hiện ở hành vi và thái độ văn hoá hoặc đạo đức trong phục vụ hay trong giao dịch kinh doanh của người kinh doanh mà còn thể hiện ở các sản phẩm kinh doanh Tính văn hoá của sản phẩm du lịch được thể hiện trong toàn bộ chi tiết từ điểm
du lịch, tuyến du lịch, các dịch vụ và phương tiện dịch vụ Ví dụ đối với điểm du lịch, tính văn hoá được thể hiện qua các giá trị mà điểm du lịch có thể cung cấp cho du khách, như những giá trị thẩm mỹ, về vệ sinh, môi trường, về khả năng nâng cao thể chất và tri thức cho du khách Có thể coi việc xây dựng, tu sửa tuỳ tiện làm mất đi tính xác thực lịch sử của di tích là một hành vi phi văn hoá Điều đó không những không có tác dụng thu hút khách du lịch mà ở chừng mực nhất định còn làm phương hại đến hình ảnh chung về nền văn hoá của cả quốc gia
Bản thân văn hoá đã mang tính đặc thù cho mỗi một quốc gia, tuy nhiên điều đó không có nghĩa là các sản phẩm du lịch đã mang sẵn tính độc đáo Khai thác tính đặc thù của văn hoá dân tộc để hình thành các sản phẩm du lịch chính là tạo nên những sản phẩm du lịch văn hoá độc đáo
Một trong những ảnh hưởng tích cực nhất của du lịch là ý thức giao lưu văn hoá Vì một trong những chức năng của du lịch là giao lưu văn hoá giữa các cộng đồng
khác nhau Ngày nay cơ hội để trao đổi kiến thức, trao đổi quan điểm, trao đổi tập quán nhiều hơn bất cứ lúc nào trong quá khứ
Khi đi du lịch khách muốn thâm nhập vào các hoạt động văn hoá của địa phương Thưởng thức những vẻ đẹp của phong cảnh tự nhiên, những giá trị văn hoá, lịch sử của khu vực và quốc gia Chính những nhu cầu của du khách đã kích thích chính quyền và nhân dân sở tại chú trọng đến việc bảo tồn, gìn giữ, tôn tạo các giá trị
di tích lịch sử văn hoá của dân tộc
Thông qua du lịch mọi người có điều kiện tiếp xúc với nhau, gần gũi nhau hơn Như vậy, du lịch đã góp phần làm tăng thêm tình đoàn kết cộng đồng Những chuyến thăm quan tại các di tích lịch sử, các công trình văn hoá, có tác dụng giáo dục tinh thần yêu nước, khởi dậy lòng tự hào dân tộc, được sự hướng dẫn, giải thích cặn kẽ của các
Trang 31hướng dẫn viên du lịch, du khách sẽ thực sự cảm nhận được giá trị mà thường ngày họ không đề ý đến
Mặt khác, cũng chính nhờ có du lịch cuộc sống cộng đồng trở nên sôi động hơn, các nền văn hoá có điều kiện hoà nhập với nhau, làm cho đời sống tinh thần của con người ngày càng phong phú
Tuy nhiên ảnh hưởng của du lịch đến văn hoá còn nhiều vấn đề cần phải giải quyết Chẳng hạn như khi du khách có ý định thâm nhập tìm hiểu hoạt động văn hoá của địa phương, song sự xâm nhập đó bị lạm dụng và trở thành sự xâm hại Mặt khác
để thoả mãn nhu cầu của du khách, vì lợi ích kinh tế trước mắt, nên các hoạt động văn hoá, truyền thống được trình diễn một cách thiếu tự nhiên, cẩu thả làm trò cười cho du khách Nhiều trường hợp do thiếu hiểu biết về nguồn gốc ý nghĩa của các hành vi lễ hội, người ta giải thích một cách sai lệch thậm chí bậy bạ Như vậy, giá trị truyền thống bị đem ra làm trò tiêu khiển và bị lu mờ bởi sự lạm dụng vì mục đích kinh tế
Do chạy theo số lượng, không ít các mặt hàng truyền thống được chế tác, nhại lại để làm hàng lưu niệm cho du khách Việc sản xuất cầu thả, kém chất lượng đã làm méo mó giá trị chân thực của truyền thống, làm sai lệch hình ảnh của một nền văn hoá bản địa Một ảnh hưởng tiêu cực nữa của du lịch đối với văn hoá là thông qua du lịch những kẻ xấu tuồn vào nội địa những sản phẩm văn hoá độc hại, khuyến khích dân bản địa cung cấp dịch vụ trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc
1.2.2.3 Tác động của du lịch đến môi trường
Quan hệ giữa du lịch và môi trường là một mối quan hệ khăng khít mà ngày nay các quốc gia đều quan tâm giải quyết Một mặt thông qua việc tiêu thụ các sản phẩm du lịch mà con người có điều kiện hiểu biết sâu sắc thêm về tự nhiên, thấy được giá trị thiên nhiên đối với đời sống con người Điều này cũng có nghĩa là, bằng thực tiễn phong phú, du lịch góp phần tích cực vào sự nghiệp giáo dục môi trường, một vấn
đề toàn thế giới đang hết sức quan tâm
thiên nhiên, đã kích thích các cơ sở du lịch và các quốc gia phải có chính sách tu bổ, tôn tạo, bảo vệ tự nhiên để tăng tính hấp dẫn của du khách Mặt khác do hoạt động ồ ạt sẽ
Trang 32tạo ra nguy cơ làm suy thoái tài nguyên du lịch tự nhiên Sự tập trung quá nhiều người
và thường xuyên tại các địa điểm du lịch, làm cho thiên nhiên không kịp phục hồi và đi đến chỗ bị huỷ hoại Sự có mặt của những đoàn người đã uy hiếp đời sống một số loài
khách khó có thể nhìn thấy các loại thú đặc trưng như; vượn, khỉ Nhũ đá trong các hang động như: Thẳm Chăng Văng Viêng (tỉnh Viêng Chăn), Thẳm Piu (tỉnh Xiêng Khoảng) đang bị mất dần vẻ tự nhiên hoang sơ Chúng trở nên nhẵn nhụi do bị du khách va chạm nhiều lần hay bị phủ một lớp khói đen do đốt hương của du khách Không ít người còn muốn để lại dấu ấn của mình tại các điểm du lịch Tình trạng rác thải bừa bãi trong mùa
du lịch tại các điểm du lịch đã lên mức báo động Mặt khác sự gia tăng không có kế hoạch của các công trình phục vụ khách, quá với khả năng chịu tải của cơ sở hạ tầng, cũng góp phần làm cho mức độ ô nhiễm môi trường thêm trầm trọng Trước tình hình này, nhiều quốc gia trong khu vực, trong đó có nước Lào rất quan tâm đến việc "du lịch
xanh" - một quan điểm phát triển du lịch lâu bền Trong một số tài liệu về du lịch xanh được giải thích là một loại hình du lịch để đưa du khách đến với thiên nhiên, đến với
là một quan điểm phát triển du lịch, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên Chính vì vậy người ta còn gọi du lịch xanh là du lịch trách nhiệm,
phẩm du lịch vào thị trường phải cân nhắc cả những mặt trái của nó để tránh hậu quả xấu cho môi trường Vì vậy trong điều kiện của Lào nếu việc phát triển du lịch chỉ chú ý đến việc chạy theo số lượng khách mà không chú ý bảo tồn tài nguyên thì chính sự phát triển hôm nay lại phá hoại sự phát triển ngày mai của bản thân ngành du lịch, một ngành kinh tế đầy tiềm năng của đất nước
Sự phát triển của du lịch có những ảnh hưởng mang tính hai mặt: tích cực và tiêu cực tới con người, nền văn hóa và lối sống của các sắc tộc trên thế giới Lợi ích của du lịch về các mặt kinh tế, giáo dục và văn hóa là vô cùng quan trọng, không thể
bỏ qua Hôi đông lũ hành và du lịch thế giới (UN-WTO) tin tưởng rằng du lịch sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết nhiều vấn đề kinh tế, xã hội hiện nay Du lịch sẽ tạo công ăn việc làm mới, mở rộng giao lưu hàng hóa tiền tệ, giúp các nước
Trang 33đang phát triển thúc đẩy nền kinh tế, tăng cường phát triển công nghệ, đào tạo và giao lưu văn hóa
1.3 Tổng quan lý thuyết về sản phẩm du lịch và cạnh tranh trong du lịch 1.3.1 Tổng quan về sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch, những quan niệm khác nhau về sản phẩm du lịch
Một trong những vấn đề được tranh luận nhiều trong quá trình nghiên cứu cũng như trong thực tiễn, đó là sản phẩm du lịch Ai cũng thống nhất là đã nói đến ngành phải nói đến nghề Đã nói đến nghề phải xem xét sản phẩm của nghề đó là gì? Người nông dân làm nghề nông nghiệp có sản phẩm là hạt lúa, củ khoai, củ sắn Mang các sản phẩm này ra thị trường (chợ) để bán thì chúng trở thành hàng hoá Đây là ví dụ về sản phẩm hữu hình hay còn gọi là vật chất Muốn bán được sản phẩm trên thị trường đòi hỏi người sản xuất phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hoá sản phẩm sao cho phù hợp với tâm lý thị hiếu của người tiêu dùng
Vậy sản phẩm của ngành du lịch là gì? Có nhiều câu trả lời khác nhau cho câu hỏi này
Có người nói - Sản phẩm của ngành du lịch chính là khách du lịch, bởi vì không
có khách du lịch thì không thể có ngành du lịch Khách du lịch chính là đối tượng phục
vụ của ngành du lịch chứ không thể là sản phẩm của ngành du lịch được
Người khác lại nói, sản phẩm du lịch chính là các tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn Điều này cũng chưa phải, vì đây là những sản phẩm của tự nhiên và con người mà khách du lịch chỉ có quyền chiêm ngưỡng, hưởng thụ tại chỗ chứ không thể mang đi để làm sở hữu riêng của mình được
Có người lại quan niệm sản phẩm của ngành du lịch là các khách sạn, nhà hàng,
cơ sở giải trí.v.v Quan niệm này cũng không đúng Tôi đã hỏi các sinh viên là sản phẩm của khách sạn là gì? Có em trả lời đó là buồng và giường Phải chăng các khách sạn bán buồng? Nếu đúng như vậy thì không phải là ngành kinh doanh khách sạn nữa
mà là ngành xây dựng bán buồng ở Khách sạn cũng không thể bán giường vì như vậy
họ là những ông thợ mộc Xét một cách toàn diện, khách sạn cho thuê buồng ngủ và
Trang 34kinh doanh dịch vụ ở trọ Trả lời câu hỏi sản phẩm du lịch là gì, cần phải xem xét quá trình đi du lịch của khách họ cần gì và tiêu thụ những gì của các ngành khác cung ứng
Phân tích quá trình tiêu thụ sản phẩm của khách du lịch
Cơ sở cung cấp Sản phẩm người tiêu dùng cuối cùng
- Cơ sở giải trí Dịch vụ phục vụ giải trí khách du lịch
Trang 35- Các hội chợ Dịch vụ thông tin khách du lịch
Bảng thống kê trên mới thống kê những dịch vụ cơ bản, khi đi du lịch, khách thường sử dụng các dịch vụ và một phần hàng hoá
Để thực hiện được dịch vụ tốt yếu tố con người với trí tuệ thông minh, khả năng sáng tạo các ý tưởng tốt và kỹ năng nghề nghiệp thành thạo đóng một vai trò quyết định Ngoài ra còn đòi hỏi đến các yếu tố khác như: cơ sở vật chất kỹ thuật, các trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội, các điều kiện về tự nhiên và nhân văn, các điều kiện để tổ chức hoạt động kinh doanh, hệ thống cơ chế chính sách v.v Chính vì vậy, khi nói đến sản phẩm của ngành dịch vụ nói chung và của ngành du lịch nói riêng cần phải nhìn nhận một cách toàn diện và đồng bộ
Nói đến “sản phẩm du lịch” cần phải xem xét rất nhiều yếu tố trực tiếp và gián tiếp cấu thành nên “sản phẩm” Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UN-WTO), hoạt động
du lịch được cấu thành bởi trên 70 loại dịch vụ trực tiếp và trên 70 dịch vụ gián tiếp
thành và mục đích cơ bản là thoả mãn nhu cầu tiêu thụ của khách du lịch trong hoạt động du lịch"
Nếu xét đến cơ cấu của sản phẩm du lịch vô cùng phong phú và liên quan tới rất nhiều ngành, nghề Nhưng xét về mặt ý nghĩa của các bộ phận hợp thành có thể chia ra làm 3 loại:
+ Sức thu hút khách du lịch - đó là tất cả các hiện tượng, sự vật, sự kiện của tự nhiên và xã hội tạo thành sức thu hút đối với khách du lịch mà các nhà kinh doanh du lịch giới thiệu cho khách nhằm đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội Đây chính là cơ sở
Trang 36+ Hạt nhân của sản phẩm du lịch phần lớn là dịch vụ Trong dịch vụ cũng được chia thành 2 loại cơ bản: dịch vụ của các cơ sở kinh doanh trực tiếp đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của khách du lịch và dịch vụ gián tiếp (thường gọi là dịch vụ công) như: về thị thực xuất nhập cảnh, kiểm tra hải quan v.v
Xét trên giác độ kinh tế, khi sản phẩm đưa ra thị trường để bán thì nó trở thành hàng hoá và có thể nói đây là hàng hoá đặc biệt Nó cũng có thuộc tính chung của hàng hoá, nghĩa là có giá trị và giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch là nó thoả mãn nhu cầu có tính chất đa dạng của khách du lịch trong quá trình đi du lịch, trong đó có những nhu cầu về sinh lý như: ăn, uống, ở, đi lại, có những nhu cầu về tinh thần: tham quan , tìm hiểu, mở rộng nhận thức, tăng cường giao lưu, được tôn trọng v.v Chính vì vậy , giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch có tính đa chức năng Sản phẩm du lịch là sự kết hợp của những sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần và dịch vụ nên giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch cũng trìu tượng, vô hình và chỉ có thể thông qua khách du lịch để đánh giá, đo lường giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch
Về giá trị của sản phẩm du lịch - là sự kết tinh lao động phổ biến của con người,
là kết quả tiêu hao sức lực, trí tuệ của con người Giá trị của sản phẩm du lịch có thể chia ra làm 3 nội dung đó là giá trị của sản phẩm vật chất, giá trị của dịch vụ và giá trị của sức thu hút khách Giá trị của sản phẩm vật chất có thể dùng thời gian lao động tất yếu của xã hội để đánh giá Giá trị của dịch vụ được quyết định bởi trang thiết bị, lực lượng lao động với tay nghề, kỹ năng chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và tố chất văn hoá v.v, những yếu tố này rất khác nhau nên khó xác định giá trị của nó Giá trị của
quan trọng của sản phẩm du lịch, vì thế nó cũng rất khó xác định
Thông qua việc phân tích sản phẩm du lịch trên các mặt khác nhau có thể thấy việc thống nhất nhận thức về sản phẩm du lịch là khó khăn, nhưng đối với những người làm kinh doanh du lịch cần phải suy nghĩ để không ngừng hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm của mình nhằm cạnh tranh được khách trên thị trường trong nước và quốc tế Điều rất cơ bản để đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm du
Trang 37lịch cần phải đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch một cách thường xuyên và liên tục
1.3.2 Tổng quan lý thuyết về du lịch và cạnh tranh của sản phẩm du lịch
Hiện nay, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một xu thế khách quan của sự phát triển kinh tế thế giới
Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, khoa học, công nghệ cùng với sự ra đời của thể chế toàn cầu và khu vực đã gó phần thúc đẩy quốc tế hóa nền kinh tế thế giới Quá
vực sản xuất, dịch vụ, tài chính, đầu tư cũng như các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường với các hình thức đa dạng và mức độ khác nhau Toàn cầu hóa nền kinh tế đã
và đang mở ra cơ hội và tạo điều kiện cho các dân tộc trên thế giới khai thác tối đa lợi thế so sánh của mình để tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Đồng thời nó cũng đặt mỗi quốc gia, dân tộc trước sức ép cạnh tranh và những thách thức gay gắt
Đối với Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào đang đứng trước bước phát triển mới
về hội nhập đòi hỏi phải nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh Sản phẩm du lịch
là những sản phẩm có đặc thù riêng, có được yếu tố hấp dẫn, độc đáo/duy nhất, nguyên bản và đại diện về tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn) cho một lãnh thổ/điểm đến du lịch; với những dịch vụ không chỉ làm thỏa mãn nhu cầu/mong đợi của du khách mà còn tạo được ấn tượng bởi tính độc đáo và sáng tạo
Chiến lược phát triển Du lịch Lào thời kỳ 2001 - 2010 và tầm nhìn đến năm 2020
đã xác định “Phát triển du lịch bền vững, theo định hướng du lịch sinh thái và du lịch văn hóa - lịch sử, đảm bảo sự tăng trưởng liên tục, góp phần tích cực trong việc giữ gìn, bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội, bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng các sản phẩm
du lịch đặc thù, chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới”
Như vậy, việc phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của du lịch Chăm Pa Sắc đã được đặt ra như một nội dung chiến lược quan trọng của Du lịch Lào, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập của Du lịch Lào với khu vực và quốc tế
1.4 Xác định mô hình sản phẩm du lịch của Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào nói chung và của tỉnh Chăm Pa Sắc nói riêng
Trang 381.4.1 Khái niệm sản phẩm du lịch tổng thể quốc gia
Chăm Pa Sắc là đầu mối giao thông quan trọng, là một trong những trung tâm
du lịch song Me Kong lớn của khu vực miền Nam và của cả nước Chăm Pa Sắc có nhiều tiềm năng phát triển du lịch, là vùng đất lâu đời với nhiều truyền thống văn hóa, lịch sử, lễ hội quan trọng cũng như là nơi có nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú gắn liền với sông MeKong và tài nguyên sinh thái
Với tầm quan trọng về kinh tế - chính trị và an ninh quốc phòng, Chính phủ đã
có nhiều chủ trương về phát triển kinh tế đối với Chăm Pa Sắc như một cực tăng trưởng quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Về phát triển ngành du lịch Chăm Pa Sắc cũng được định hướng phát triển thành một trung tâm du lịch của vùng
đồng bằng song MeKong (viên ngọc của song Cửu Long "Jewel of the MeKong
river") Dự án phát triển du lịch bền vững tiểu vùng sông MeKong mở rộng được Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Chính phủ Lào tài trợ, do bộ Văn hóa và Tổng Cục Du lịch Lào làm chủ đầu tư Các trọng điểm du lịch của tỉnh thành phố Pakse là cửa ngõ vào các tỉnh phía Nam Chính phủ xác định để trở thành một trong những trung tâm du lịch quốc tế lớn của cả nước Bên cạnh đó, chủ trương và quan điểm của tỉnh cũng tạo động lực cho du lịch phát triển Trong những năm qua đã mở ra được nhiều tuyến du lịch, sản phẩm du lịch và có những định hướng quan trọng đối với phát triển du lịch Đặc biệt, từ nhiều năm lãnh đạo tỉnh cũng luôn chú trọng đến vấn đề xây dựng thương hiệu cho du lịch Chăm Pa Sắc Đây là những cơ sở quan trọng để thực hiện thành công nhiệm vụ xây dựng thương hiệu du lịch Chăm Pa Sắc
1.4.2 Xây dựng tiêu chí đánh giá sức cạnh tranh của sản phẩm du lịch tổng thể quốc gia và tỉnh Chăm Pa Sắc
Chăm Pa Sắc đã được xác định mô hình sản phẩm du lịch của tỉnh là căn cứ đặc điểm tài nguyên du lịch - yếu tố quan trọng quyết định đối với phát triển sản phẩm du lịch và các điều kiện có liên quan, chiến lược phát triển du lịch Chăm Pa Sắc định hướng phát triển sản phẩm du lịch đặc thù cho từng vùng du lịch (4 khu):
Xa Na Sổm Bun và huyện Phôn Thong Trong đó bao gồm di tích thiên nhiên, văn hóa
Trang 39hóa trên nền văn minh lúa nước, du lịch sinh thái kết hợp với tham quan, nghiên cứu
và nghỉ dưỡng, du lịch quá cảnh qua Vương quốc Thái Lan
60 di tích Sản phẩm du lịch đặc thù của vùng là giải trí, tham quan các di tích lịch sử văn hóa và cách mạng, đặc biệt là các di sản văn hóa thế giới Vặt Phu Chăm Pa Sắc, du lịch quá cảnh qua Vương quốc Thái Lan Ngoài ra còn rất nhiều danh lam thắng cảnh
- Khu vực ba, huyện Khổng có di tích thiên nhiên, văn hóa và lịch sử 25 di tích
Các sản phẩm du lịch đặc thù của vùng là du lịch tham quan thác nước Khon Pha Pheng đây là thác nước lớn nhất vùng Đông Nan Á, tại đây du khách có thể nghỉ dưỡng, du lịch sông nước xem cá heo 41TIrrawaddy41Tnước ngọt (Pa Kha), du lịch sinh thái đồng bằng sông MeKong, khai thác các giá trị văn hóa sông nước và du lịch quá cảnh qua Vương quốc Campuchia
thế phát triển lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc, trồng cây công nghiệp dài ngày như cao
su, cà phê, tra, cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày Với vị trí địa lý thuận lợi để phát triển ngành du lịch có rất nhiều di tích thiên nhiên, văn hóa và lịch sử gồm 59 di
quan các di tích lịch sử văn hóa và cách mạng, du lịch sinh thái kết hợp với tham quan, nghiên cứu và nghỉ dưỡng
Trong giai đoạn vừa qua, mặc dù Chăm Pa Sắc luôn nằm trong 17 tỉnh, tỉnh Chăm Pa Sắc đón nhiều khách du lịch quốc tế và nội địa nhất trên toàn quốc nhưng xu hướng phát triển du lịch ở Chăm Pa Sắc chưa thực sự có sự tăng trưởng mạnh mẽ Các sản phẩm du lịch được khai thác chính hiện nay phục vụ khách là du lịch sinh thái rừng nguyên sinh vườn quốc gia, giải trí sông MeKong, du lịch đô thị - tìm hiểu văn hóa lịch sử - lễ hội, tham quan làng nghề Cho đến nay, có thể thấy khả năng tìm kiếm các đặc điểm du lịch Chăm Pa Sắc là hoàn toàn có nhưng việc chạm đến sự cảm nhận,
sự công nhận của thị trường khách thì chưa hẳn Do chưa có những nghiên cứu như vừa đề cập về phân tích đặc điểm tài nguyên dưới góc độ người nhận là khách du lịch,
Trang 40thứ hai là do việc phát triển thị trường khách du lịch của Chăm Pa Sắc chưa thực sự hiệu quả Việc mất dần thị phần của du khách là một trong những ví dụ tiêu biểu Việc định hướng phát triển bền vững thị trường khách tạo điều kiện cho sự hình thành, quản
lý và duy trì thành công thương hiệu du lịch
Mặc dù đã có được định hướng cho hoạt động phát triển sản phẩm du lịch đặc thù theo vùng miền nhằm góp phần nâng cao tính cạnh tranh của Du lịch Lào nói chung, đối với tỉnh Chăm Pa Sắc nói riêng trong bối cảnh hội nhập với khu vực và quốc tế, tuy nhiên trong thực tế việc phát triển các sản phẩm du lịch ở Chăm Pa Sắc thời gian qua còn thiếu những nghiên cứu cần thiết nhằm xác định cụ thể “tính hấp dẫn, độc đáo/duy nhất, nguyên bản và đại diện” của tài nguyên du lịch Phát triển sản phẩm không đúng với bản chất do sự thiếu hiểu biết của các nhà đầu tư Thể hiện điển hình nhất của tình trạng này là việc phát triển các sản phẩm “du lịch sinh thái” Phần lớn các sản phẩm du lịch sinh thái hiện nay đều không đúng với bản chất đã được quy định, trong đó phổ biến là thiếu nội dung về “giáo dục môi trường”; “có sự đóng góp cho nỗ lực bảo tồn”; và “có sự tham gia tích cực của cộng đồng” Phát triển sản phẩm một cách thiếu sáng tạo, “rập khuôn” và “máy móc”: với quan niệm cần “học hỏi” để
“copy” gần như toàn bộ mô hình những khu, điểm du lịch mà mình có điều kiện tham quan, khảo sát mà thiếu cân nhắc khi áp dụng trong những điều kiện không phù hợp về
tự nhiên, văn hóa - xã hội cũng như quan hệ “cung - cầu”
Căn cứ vào những vấn đề lý luận và thực trạng phát triển sản phẩm du lịch nói chung, sản phẩm du lịch đặc thù nói riêng ở Lào thời gian qua
Trên cơ sở định hướng chiến lược về phát triển sản phẩm du lịch Lào đã được xác định trong Chiến lược phát triển Du lịch Lào thời kỳ 2001 - 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, cần xây dựng một số chương trình hành động cụ thể đối với việc phát triển
Để có được hướng dẫn cụ thể đối với việc thực hiện các chương trình hành động trên đối với các nhà quản lý, các nhà đầu tư, cần thiết phải có được đánh giá toàn