Tỉnh Champasak là một tỉnh có tiềm năng sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng nông sản nói chung, nói riêng là xuất khẩu cà phê, việc hoàn thiện chiến lược xuất khẩu cà phê của các doanh ng
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
SOULISAK VILABOUTH
GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TỈNH CHAMPASAK ĐẾN NĂM 2020 VÀ TẦM NHÌN 2025
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60 34 01 02
Trang 2LU Ậ N V Ă N TH Ạ C S Ĩ KINH T ẾChuyên ngành: Qu ả n tr ị kinh doanh
MÃ S Ố : 60 34 01 02
Ng ườ i h ướ ng d ẫ n khoa h ọ c:
TS Tôn Th ấ t Viên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn
Các thông tin, số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình khoa học này
Tác giả luận văn
SOULIASAK VILABOUTH
Trang 5
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn này tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, động viên của nhiều cơ quan, doanh nghiệp, và các cá nhân
học, Trường Đại Học Tài Chính-Marketing, đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình
thực hiện Luận văn này
thức cho tôi trong suốt quá trình theo học chương trình học thạc sĩ
đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi, và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học thạc sĩ
và thực hiện Luận văn
động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn các anh/chị lớp Cao học Quản Trị Kinh Doanh khóa 01
của Chương trình liên kết giữa Trường Đại Học Tài Chính-Marketing và Trường Cao Đẳng Tài chính Nam Lào đã giúp đỡ tôi thực hiện Luận văn này
H ọc viên thực hiện
SOULISAK VILABOUTH
Trang 6Bảng 2.3: Thống kê kim ngạch xuất khẩu cà phê của một số doanh nghiệp
tỉnh Champasak giai đoạn 2007-2013 48 Bảng 2.4: Thống kê kim ngạch tất cả các mặt hàng xuất khẩu của tỉnh
Champasak giai đoạn 2007-2013 49 Bảng 2.5: Thống kê kim ngạch tất cả các mặt hàng nhập khẩu của tỉnh
Champasak giai đoạn 2007-2013 49 Bảng 2.6: Phân tích Ma trận SWOT rút gọn……… ……… 61
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Thống kê số lượng, kim ngạch và giá cà phê xuất khẩu bình quân
của tỉnh Champasak giai đoạn 2007-2013……….…… 47
Biểu đồ 2.2: Thống kê kim ngạch xuất khẩu cà phê của tỉnh Champasak sang
một số thị trường giai đoạn 2007-2013 47
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
Cafe du plateau des Bolovens)
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hiệp quốc (Food and
Agriculture Organization of the United Nations)
GSP 0BHệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (Generalized System of Preferences)
and Critical Control Points)
Standardization)
SWOT Tập hợp viết tắt những chữ cái đầu tiên của các từ tiếng Anh: Strengths
(Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats (Nguy cơ)
Trang 8MỤC LỤC
UTrang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt trong đề tài
Danh mục hình vẽ, bảng biểu, biểu đồ
M30TỞ ĐẦU 1
Chương 1 30TCƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH XUẤT KHẨU CÀ PHÊ30T 5
30T 1.1 30TTổng quan về hoạch định chiến lược kinh doanh30T 5
30T 1.1.1 30TKhái niệm về chiến lược kinh doanh30T 5
30T 1.1.2 30TTiến trình hoạch định chiến lược 5
1.1.2.1 Phân tích môi trường 5
1.1.2.2 Xác định nhiệm vụ, phương hướng và mục tiêu của tổ chức 6
1.2 Chiến lược kinh doanh doanh nghiệp về xuất khẩu 6
1.2.1 Một số nét cơ bản về xuất khẩu 6
1.2.2 Vai trò của doanh nghiệp xuất khẩu cà phê 8
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê 11
1.2.3.1 Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô 11
1.2.3.2 Các nhân tố thuộc môi trường vi mô 15
1.2.4 Lý thuyết cạnh tranh……… 16
1.2.4.1 Quan điểm các học giả trọng thương (Mercantilism) 16
1.2.4.2 Quan điểm của Adam Smith (Lý thuyết lợi thế tuyệt đối-Absolute Advantage) 18
1.2.4.3 Quan điểm của David Ricardo (Lợi thế so sánh-Comparative Advantage) 21
Trang 91.2.4.4 Quan điểm của John Stuart Mill (Lý thuyết về giá trị quốc tế, mối
tương quan của cầu) 24
1.2.4.5 Quan điểm của Heckscher-Ohlin (Lý thuyết về tỷ lệ yếu tố-Factor Proportions) 26
1.2.4.6 Quan điểm của Các Mác về ngoại thương 27
1.2.4.7 Chiến lược kinh doanh của M.Porter 28
1.2.4 Ma trận SWOT chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp 36
1.3 Kinh nghiệm doanh nghiệp xuất khẩu cà phê ở một số nước và bài học cho các doanh nghiệp tỉnh Champasak 36
1.3.1 Kinh nghiệm ở một số nước 36
1.3.2 Từ kinh nghiệm các nước và sự vận dụng dẫn đến Bài học xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Lào (nói chung) và các doanh nghiệp tỉnh Champasak (nói riêng) 38
Tóm tắt chương 1 40
30T Chương 2 30TPHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TỈNH CHAMPASAK GIAI ĐOẠN30T 2007-2013 41
2.1 Một số nét về kinh doanh xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp tỉnh Champasak 41
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển ngành cà phê của các doanh nghiệp tỉnh Champasak 41
2.1.2 Tình hình thực hiện chiến lược xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp tỉnh Champasak giai đoạn 2007-2013 42
2.1.2.1 Tình hình thực hiện chủ trương, chính sách của Nhà nước Lào 42
2.1.2.2 Vài nét về đặc điểm KT XH và điều kiện tự nhiên của tỉnh 45
2.1.2.3 Thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu thực hiện chiến lược xuất khẩu cà phê của tỉnh giai đoạn 2007-2013 46
2.2 Phân tích thực trạng của việc thực hiện chiến lược xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp tỉnh Champasak 47
2.2.1 Phân tích thực trạng của việc thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu
thực hiện chiến lược xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp
Trang 10tỉnh Champasak 47
2.2.2 Phân tích thực trạng chiến lược xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp tỉnh Champasak theo M.Porter 50
2.2.2.1 Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh 50
2.2.2.2 Ba chiến lược 52
2.2.3 Phân tích thực trạng nhân tố ảnh hưởng đến chiến lược xuất k hẩu cà phê của các doanh nghiệp tỉnh Champasak 53
2.2.3.1 Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô 53
2.2.3.2 Các nhân tố thuộc môi trường vi mô 58
2.2.4 Đánh giá kết quả thực hiện chiến lược xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp tỉnh Champasak thông qua SWOT 60
2.2.5 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân tồn tại, hạn chế 62
Tóm tắt chương 2 63
Chương 3 GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TỈNH CHAMPASAK ĐẾN NĂM 2020 VÀ TẦM NHÌN 2025 64
3.1 Mục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng của tỉnh Champasak 64
3.1.1 Mục tiêu 64
3.1.2 Nhiệm vụ 64
3.1.3 Phương hướng 64
3.1.4 Qui trình xây dựng chiến lược cho thị trường cà phê của các doanh nghiệp tỉnh Champasak 65
3.2 G iải pháp để hoàn thiện chiến lược xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp tỉnh Champasak đến năm 2020 và tầm nhìn 2025 66
3.2.1 Giải pháp để hoàn thiện chiến lược xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp tỉnh Champasak phát triển một cách bền vững 66
3.2.1.1 Nhóm giải pháp mô hình chiến lược kinh doanh 66
3.2.1.2 Nhóm giải pháp các nhân tố ảnh hưởng đến chiến lược xuất khẩu cà phê 68
3.2.2 Kiến nghị 73
Trang 113.2.2.1 Kiến nghị đối với cơ quan Nhà nước 73 3.2.2.2 Kiến nghị đối với các tổ chức, Hiệp hội 74
K ẾT LUẬN 76
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 12BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN SAU KHI BẢO VỆ
Học viên: SOULISAK VILABOUTH, Ngày sinh: 3/7/1986
Khóa: 1, Lớp: Quản trị kinh doanh
Đề tài: “Giải pháp để hoàn thiện chiến lược xuất khẩu cà phê của các doanh
nghiệp tỉnh Champasak đến năm 2020 và tầm nhìn 2025”
Ngày bảo vệ: 29/5/2014
NỘI DUNG GIẢI TRÌNH:
1 Góp ý của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
1 1 Đối với góp ý của TS Phạm Hữu Hồng Thái – Chủ tịch Hội đồng:
Cần chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng
1 2 Đối với góp ý của TS Ngô Thị Thu – Phản biện 1:
Có một số góp ý cho một số nội dung của đề tài như sau:
Mục tiêu nghiên cứu: Tác giả còn lẫn giữa mục tiêu nghiên cứu và nội dung
nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Chưa viết rõ giải pháp hoàn thiện chiến lược cho thời gian
nào (ghi cho giai đoạn hiện nay là chưa hợp lý)
Ở mục 1.2: Chiến lược kinh doanh xuất khẩu, tác giả chưa nêu rõ được nội dung
cốt lõi của mục này là chiến lược xuất khẩu
Có nhiều nội dung trình bày trùng lặp (từ trang 38-52), đề tài vẫn chưa trình bày
được hình thức xuất khẩu, chiến lược xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp
thuộc tỉnh Champasak
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Tp Hồ Chí Minh, ngày…….tháng… năm ………
Trang 13d Chương 3:
Cũng bị mắc lỗi tương tự
1.3 Đối với góp ý của TS Phan Văn Thăng – Phản biện 2:
Những thiếu sót và những vấn đề cần hoàn thiện thêm ở công trình này là:
- Luận văn có kết cấu là 3 chương đi từ cơ sở lý thuyết đến phân tích thực trạng rồi đề ra giải pháp là đúng nhưng kết cấu tổng thể của mỗi chương là chưa thực
sự có logic chặt chẽ, tác giả chưa phân định rõ ràng việc xây dựng chiến lược xuất khẩu khác với chiến lược kinh doanh ở điểm nào Đề tài mà tác giả hướng tới giải quyết không phải là các doanh nghiệp mà là của một tỉnh (một đơn vị quản lý hành chính cấp tỉnh) chính vì điều này tác giả khi viết về cơ sở lý luận cũng như phân tích thực trạng là phải xuất phát từ góp độ tiếp cận này
- Đề tài có liên quan đến chiến lược xuất nhập khẩu nhưng tác giả lại không xem xét các chiến lược có liên quan đến 1 Thuyết thương mại cổ điển (Chủ nghĩa trọng thương, Thuyết lợi thế tuyệt đối, Thuyết lợi thế so sánh); 2 Thuyết thương mại hiện đại (Thuyết về sự tương đồng quốc gia, Thuyết về chu kỳ sống sản phẩm; Thuyết lợi thế cạnh tranh của quốc gia (mô hình hình thoi Michael Porter))
- Có một số mục (1.1.2; 1.2 v.v) trình bày là chưa hết những ý cơ bản mà nó phải bao gồm,
- Nội dung của một số mục (1.2.3; 2.2.3) chưa viết thật đúng nội hàm mà nó cần thể hiện
- Các giải pháp được đề xuất ở chương 3 là đúng nhưng cần có sự gắn kết với
cơ sở lý thuyết ở chương 1 và phân tích thực trạng ở chương 3
1.4 Đối với góp ý của PGS TS Phạm Đức Chính – Ủy viên:
Phải thống nhất đánh số thứ tự và cách dùng các ký hiệu theo qui chuẩn khoa học Cách ghi và sử dụng các Tài liệu tham khảo tùy tiện, ghi nhiều nhưng lại thiếu cơ sở
Xác định đối tượng phải phù hợp với nội dung nghiên cứu Trong Luận văn chưa thấy trình bầy qui trình xây dựng chiến lược cho thị trường cà phê và cơ sở
để xây dựng, cũng như cách thức để thực hiện nó
Trang 141.5 Đối với góp ý của TS Tôn Thất Viên – Ủy viên thư ký:
Tuy tác giả đề cập cơ sở lý luận về lý thuyết cạnh tranh nhưng chưa làm sáng tỏ
lý thuyết này ở lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh ảnh hưởng đến xuất khẩu của tỉnh như đất đai, tài nguyên… mặc dù thực trạng và giải pháp tác giả có đề cập
2 Nội dung chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ:
2 1 Đối với góp ý của TS Phạm Hữu Hồng Thái – Chủ tịch Hội đồng:
Tác giả xin tiếp thu và đã chỉnh sửa lại theo góp ý của Hội đồng
2 2 Đối với góp ý của TS Ngô Thị Thu – Phản biện 1:
Tác giả xin tiếp thu và chỉnh sửa lại 4 góp ý như sau:
d Chương 3:
Tác giả đã chỉnh sửa lại lỗi tương tự như Chương 2
2.3 Đối với góp ý của TS Phan Văn Thăng – Phản biện 2:
Tác giả xin tiếp thu và chỉnh sửa lại 5 góp ý như sau:
- Luận văn có kết cấu là 3 chương đi từ cơ sở lý thuyết đến phân tích thực trạng rồi đề ra giải pháp, kết cấu tổng thể của mỗi chương có logic, tác giả đã phân định rõ ràng việc xây dựng chiến lược xuất khẩu khác với chiến lược kinh doanh Đề tài tác giả hướng tới giải quyết là các doanh nghiệp của tỉnh Champasak
- Tác giả đã bổ sung lý thuyết cạnh tranh có liên quan đến như: 1 Thuyết thương mại cổ điển (Quan điểm của các học giả trọng thương, lý thuyết lợi thế tuyệt đối, lý thuyết lợi thế so sánh, lý thuyết về giá trị quốc tế, mối tương quan
Trang 15toàn cầu, lý thuyết về tỷ lệ yếu tố, quan điểm của Các Mác về ngoại thương và chiến lược kinh doanh của Michael Porter
- Chỉnh sửa những ý cơ bản mục 1.1.2; 1.2; 1.2.3; 2.2.3 v.v
- Các giải pháp được đề xuất ở chương 3 có sự gắn kết với cơ sở lý thuyết ở chương 1 và phân tích thực trạng ở chương 3
2.4 Đối với góp ý của PGS TS Phạm Đức Chính – Ủy viên:
Tác giả xin tiếp thu và chỉnh sửa lại 2 góp ý như sau:
- Thống nhất đánh số thứ tự và cách dùng các ký hiệu theo qui chuẩn khoa học Cách ghi và sử dụng các tài liệu tham khảo tùy tiện và có cơ sở
- Xác định đối tượng phù hợp với nội dung nghiên cứu Trong Luận văn có trình bầy qui trình xây dựng chiến lược cho thị trường cà phê của các doanh nghiệp tỉnh Champasak, các giải pháp để hoàn thiện chiến lược xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp tỉnh Champasak đến năm 2020 và tầm nhìn 2025
2 5 Đối với góp ý của TS Tôn Thất Viên – Ủy viên thư ký:
Tác giả đã đề cập và làm sáng tỏ cơ sở lý thuyết cạnh tranh ảnh hưởng đến xuất khẩu của tỉnh như đất đai, tài nguyên…
Sau khi tác giả đã chỉnh sửa xong các góp ý của các thành viên Hội đồng, tác giả đính kèm sửa luận văn
HỌC VIÊN
SOULISAK VILABOUTH
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
TS Tôn Thất Viên CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
TS Phạm Hữu Hồng Thái
Trang 16MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Khi nói đến cà phê ở Lào, là người ta thường nghĩ ngay đến huyện Paksong, tỉnh Champasak, và huyện Paksong được mệnh danh là “Thủ phủ cà phê” của Lào. Hiện nay, Lào là một trong 50 nước về xuất khẩu cà phê, cà phê là một mặt hàngxuất khẩu quan trọng Ngành cà phê Lào ngày càng phấn đấu để khẳng định vị trí của mình trên thị trường cà phê thế giới
Tỉnh Champasak là một tỉnh có tiềm năng sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng nông sản nói chung, nói riêng là xuất khẩu cà phê, việc hoàn thiện chiến lược xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp tỉnh Champasak là một việc cực kỳ quan trọng trong kế hoạch phát triển KT XH bền vững, tạo công ăn việc làm, nguồn thu nhập để xóa đói giảm nghèo cho người nông dân, đồng thời cũng xây dựng nền tảng trong việc phát triển công nghiệp chế biến một cách bền vững trong lương lai
Trong những năm gần đây Đảng, Nhà nước rất chú trọng phát triển toàn diện ngành cà phê, chính vì vậy tỉnh Champasak đã đạt được những thành tựu to lớn và quan trọng trong việc phát triển KT XH, nền kinh tế luôn tăng trưởng ở mức độ tương đối cao và ổn định, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện tốt hơn và cà phê là mặt hàng xuất khẩu số một của tỉnh
Tuy nhiên, trong thời gian qua việc thực hiện chiến lược xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp tỉnh Champasak nói chung còn tồn tại một số vấn đề bất cập như: mang nhiều tính tự phát, sản xuất phụ thuộc vào tự nhiên, công nghệ thấp, không ổn định, sản phẩm chưa đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, sản phẩm thiếu tính cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế, thêm vào đó là tình trạng thiếu vốn của người dân
và doanh nghiệp, chủ yếu là xuất khẩu sản phẩm thô, chưa qua công nghệ chế biến chuyên sâu ra sản phẩm cuối cùng và sản lượng chưa đáp ứng nhu cầu thị trường xuất khẩu Mặt khác, trong điều kiện hiện nay, ngày 2 tháng 2 năm 2013 vừa qua Lào mới chính thức là thành viên của WTO, trong bối cảnh thị trường thế giới ngày càng phức tạp, việc chen chân vào thị trường còn nhiều khó khăn do ta chưa biết cách thích nghi trong bối cảnh và tình hình cung cầu chung của thế giới, các doanh nghiệp của Lào nói chung còn có khoảng cách cực kỳ xa so với các doanh nghiệp trong khu vực trên các
Trang 17lĩnh vực cạnh tranh như giá cả, chất lượng, tổ chức tiêu thụ, cũng như uy tín của các doanh nghiệp, các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực là cà phê, nhưng cũng chưa có hàm lượng công nghệ cao, giá trị lớn mà chỉ dựa vào mặt hàng truyền thống, nhưng nó lại không còn ổn định và bền vững Bên cạnh đó, tầm vĩ mô cũng chưa có các giải pháp, công tác nghiên cứu thị trường ít được các doanh nghiệp quan tâm chú ý, do vậy việc hoàn thiện chiến lược xuất khẩu cà phê còn nhiều hạn chế
Đây là những thực tế và thách thức hết sức gây gắt đối với tỉnh Champasak Vì vậy, tỉnh rất cần có giải pháp để hoàn thiện chiến lược xuất khẩu đúng đắn, phù hợp với điều kiện cụ thể của tỉnh trong giai đoạn hiện nay để phát triển một cách bền vững
Chính vì vậy, được sự giúp đỡ rất nhiệt tình của người hướng dẫn khoa học TS
TÔN THẤT VIÊN, giảng viên của trường Tài chính – Marketing, để hoàn thiện chiến
lược xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp tỉnh Champasak, nên bản thân đề xuất
chọn đề tài:“Giải pháp để hoàn thiện chiến lược xuất khẩu cà phê của các doanh
nghiệp tỉnh Champasak đến năm 2020 và tầm nhìn 2025” làm luận văn tốt nghiệp
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Cho đến nay đã có không ít công trình nghiên cứu dưới góc độ lý thuyết, đánh giá thực tiễn cũng như tổng kết kinh nghiệm trong và ngoài nước Điển hình có một số công trình sau đây:
Thứ nhất, một số cuốn sách đã được xuất bản như: cuốn sách “Cà phê Buôn Ma Thuột thương hiệu cà phê Việt”của Ủy Ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Việt Nam, năm
2009, cuốn sách “Cẩm nang về thị trường mặt hàng nông sản tại Mỹ, cẩm nang này dành cho nhà xuất khẩu mặt hàng nông sản Lào” của Bộ Công thương Lào, năm 2011, cuốn sách “Chiến lược xuất khẩu quốc gia Lào” của Bộ Công thương Lào, năm 2011 Các cuốn sách này đề ra những chiến lược chung, chưa có chiến lược cụ thể áp dụng thực tế cho việc hoàn thiện chiến lược xuất khẩu cà phê của tỉnh Champasak
Thứ hai, bài viết của Ủy ban thư ký quốc gia để xúc tiến cà phê Lào, tên sách
“Chiến lược phát triển ngành cà phê Lào, năm 2012. Bài viết nàyđã hệ thống được cơ
sở lý luận, quá trình hình thành và phát triển cà phê Lào và thống kê các số liệu về cà phê ở Lào
Trang 18Thứ ba, luận văn tốt nghiệp cử nhân Học viện Chính trị Quốc gia Lào “Khuyến khích sản xuất cà phê để xuất khẩu ở tỉnh Champasak”, năm 2012 của Nalôngsak XATTAKOUN Kết quả nghiên cứu đã hệ thống được cơ sở lý luận về việc phân tích thực trạng của xuất khẩu và phương hướng khuyến khích sản xuất cà phê để xuất khẩu
ở tỉnh Champasak nhưng chưa được thực hiện
Như vậy, đến thời điểm này bản thân nghiên cứu đề tài này có tính độc lập, không có sự trùng lắp của những đề tài trước đó đã thực hiện
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu của đề tài là:
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp tỉnh Champasak
Vận dụng mô hình M.Porter, ma trận SWOT tác động đến các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê
Đề xuất một số gợi ý để quản trị, để hoàn thiện chiến lược xuất khẩu cà phê của
các doanh nghiệp tỉnh Champasak
4 Câu hỏi nghiên cứu
- Các lý thuyết về chiến lược kinh doanh là gì?
- Thực trạng của việc thực hiện chiến lược xuất khẩu cà phê của tỉnh Champasak giai đoạn 2007-2013 như thế nào?
- Đề ra giải pháp để hoàn thiện chiến lược xuất khẩu cà phê của các doanh
nghiệp tỉnh Champasak đến năm 2020 và tầm nhìn 2025 là gì?
35T
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu thực trạng của sản xuất và xuất khẩu cà phê của tỉnh Champasak trong thời gian qua;
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu về tình hình sản xuất, thu mua, chế biến và xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp tỉnh Champasak đến năm 2020 và tầm nhìn
2025
35T
6 Nguồn dữ liệu và phương pháp nghiên cứu: thu thập dữ liệu thứ cấp
- Nguồn tài liệu: Sở Công thương tỉnh Champasak, Sở Nông – Lâm nghiệp tỉnh Champasak, Hiệp hội cà phê Lào, Bộ Công thương Lào, các doanh nghiệp đang xuất
Trang 19khẩu cà phê tại tỉnh Champasak, tổ chức cà phê quốc tế, các website, các giáo trình của Việt Nam và các giáo trình của Lào…
- Phân tích theo phương pháp định tính: phân tích, tổng hợp, mô tả, thống kê, so sánh
Trang 20C hương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH XUẤT KHẨU CÀ PHÊ
1.1 Tổng quan về hoạch định chiến lược kinh doanh
1.1.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh
Thuật ngữ chiến lược (Strategy) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp với hai từ
“stratos” (quân đội, đoàn) và “agos” (lãnh đạo, điều khiển) Đầu tiên được sử dụng trong lĩnh vực quân sự Dần dần, chiến lược được sử dụng trong những lĩnh vực khác của đời sống KT XH.Theo cách tiếp cận truyền thống, chiến lược là việc xác định những mục tiêu cơ bản, dài hạn của doanh nghiệp và thực hiện chương trình hành động cùng với việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được các mục tiêu đã xác định Cũng như có thể hiểu chiến lược là một phương thức mà các doanh nghiệp sử dụng để định hướng tương lai nhằm đạt được và duy trì sự phát triển Khác với quan niệm trên, Mintzberg tiếp cận chiến lược theo cách mới Ông cho rằng chiến lược là một mẫu hình trong dòng chảy các quyết định và chương trình hành động
Tuy nhiên, dù tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lược kinh doanh vẫn
là phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong khu vực hoạt động và khả năng khai thác Theo cách hiểu này, thuật ngữ chiến lược kinh doanh được dùng theo 3 ý nghĩa phổ biến nhất đó là:
- Xác định các mục tiêu dài hạn cơ bản của doanh nghiệp
- Đưa ra các chương trình hành động tổng quát
- Lựa chọn các phương án hành động, triển khai phân bố nguồn tài nguyên để thực hiện mục tiêu đó
1.1.2 Tiến trình hoạch định chiến lược
1.1.2.1 Phân tích môi trường
Yếu tố môi trường tác động rất lớn lên tổ chức vì nó ảnh hưởng đến toàn bộ của các bước tiếp theo của tiến trình quản trị chiến lược Mọi chiến lược được lựa chọn đều phải hoạch định trên cơ sở của các điều kiện môi trường mà bản thân tổ chức đang
chịu chi phối Có thể chia môi trường ra làm 3 cấp độ:
Trang 21- Môi trường vĩ mô: việc phân tích môi trường vĩ mô giúp doanh nghiệp trả lời câu hỏi: doanh nghiệp đang trực diện với những vấn đề gì? Các yếu tố cần nghiên cứu trong môi trường vĩ mô đó là: môi trường quốc tế, môi trường kinh tế, môi trường chính trị, điều kiện xã hội, điều kiện tự nhiên, khoa học và công nghệ, cơ sở hạ tầng
Mỗi yếu tố của môi trường vĩ mô có thể ảnh hưởng đến tổ chức một cách độc lập hoặc trong mối liên kết với các yếu tố khác
- Môi trường ngành: bao gồm các yếu tố như đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, thị trường và khách hàng, sản phẩm thay thế Ảnh hưởng chung của các yếu tố này thường là một sự thực phải chấp nhận đối với tất cả các doanh nghiệp
- Môi trường nội bộ công ty: bao gồm các yếu tố nội bộ trong một tổ chức nhất định: về nhân sự, về quản lý, về tài chính, về nghiên cứu và phát triển, về marketing
1.1.2.2 Xác định nhiệm vụ, phương hướng và mục tiêu của tổ chức
Nhiệm vụ, phương hướng: là mục đích chính của tổ chức, phân biệt nó với các tổ chức khác cùng ngành Nội dung của nhiệm vụ, phương hướng được nêu ra để làm định hướng và biểu lộ quan điểm chứ không phải để thể hiện những mục đích cụ thể Một bản báo cáo nhiệm vụ tốt sẽ định rõ tính chất về mục đích của tổ chức, khách hàng, sản phẩm, dịch vụ, thị trường, công nghệ cơ bản…vì trong mô hình quản trị chiến lược cần xác định nhiệm vụ rõ ràng trước khi đề ra và thực hiện các chiến lược
có thể được lựa chọn
Mục tiêu: là các tiêu đích hoặc kết quả cụ thể mà tổ chức phấn đấu đạt được Mục tiêu xuất phát từ nhiệm vụ, phương hướng nhưng nó cụ thể và rõ ràng hơn
1.2 Chi ến lược kinh doanh doanh nghiệp về xuất khẩu
1.2.1 Một số nét cơ bản về xuất khẩu
Khái niệm xuất khẩu hàng hóa
Hoạt động xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho quốc gia khác trên cơ
sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hay cả hai quốc gia Mục đích của hoạt động xuất khẩu là khai thác được
lợi thế so sánh của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế
Theo cách khác chúng ta có thể định nghĩa xuất khẩu hàng hóa là: việc đưa hàng hóa ra thị trường nước ngoài để tiêu thụ nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng nước ngoài
Trang 22Bản chất của xuất khẩu hàng hóa
Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương đã xuất hiện từ rất lâu và ngày càng phát triển Nó diễn ra mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế,
từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho tới hàng hóa tư liệu sản xuất, từ máy móc thiết bị cho tới công nghệ kỹ thuật cao Tất cả các hoạt động đó đều nhằm mục tiêu đem lại lợi
nhuận cho các quốc gia tham gia
Xuất khẩu là một trong những hình thức kinh doanh quan trọng nhất trong hoạt động thương mại quốc tế Nó có thể diễn ra trong một hai ngày hoặc kéo dài hàng năm, có thể tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau Xuất khẩu hàng hóa là nguồn chính của thu nhập và chi tiêu quốc tế ở hầu hết các quốc gia Trong số các công ty tham dự vào một số hoạt động thương mại quốc tế, ngày càng có nhiều công ty hơn xâm nhập vào các hoạt động xuất khẩu hơn bất kỳ loại
giao dịch nào khác
Xuất khẩu hàng hóa là hoạt động đầu tiên của một công ty quốc tế vì nó đòi hỏi
sự ràng buộc và sự rủi ro tối thiểu về những nguồn lực của công ty Xuất khẩu hàng hóa được tiếp tục ngay cả khi công ty đa dạng hóa phương thức hoạt động Hay nói cách khác, trong một số trường hợp xuất khẩu có thể bị gián đoạn nhưng nó vẫn thường tiếp tục, hoặc bởi hoạt động thương mại với các thị trường khác hoặc bước
sang những hoạt động thương mại mới
Nhiệm vụ của xuất khẩu hàng hóa
Để đưa nền kinh tế Lào hội nhập nhanh với nền kinh tế khu vực và thế giới,
nhiệm vụ của công tác xuất khẩu là:
- Gia tăng thị phần hàng hóa của Lào trên thị trường quốc tế, để chúng ta có thể tham gia tác động vào cung của thị trường, nhờ đó tác động vào giá cả theo hướng có lợi
- Tăng khả năng cạnh tranh để nâng cao vị thế của hàng hóa Lào trên thị trường quốc tế
- Đẩy mạnh xuất khẩu để tham gia làm lành mạnh hóa tình hình tài chính quốc gia: đảm bảo sự cân đối trong cán cân thanh toán và cán cân buôn bán, giảm nhập siêu
- Xuất khẩu để đảm bảo kim ngạch xuất khẩu phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa đất nước và cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật
Trang 23- Xuất khẩu có nhiệm vụ khai thác có hiệu quả lợi thế tuyệt đối và tương đối đất nước, kích thích các ngành kinh tế phát triển
- Xuất khẩu để góp phần tăng tích lũy vốn, mở rộng sản xuất tăng thu nhập cho nền kinh tế
- Xuất khẩu nhằm từng bước cải thiện đời sống của nhân dân thông qua việc tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập của nhân dân
- Hoạt động xuất khẩu còn có nhiệm vụ phát triển quan hệ đối ngoại với tất cả các nước nhất là các nước trong khu vực Đông Nam Á, nâng cao uy tín của Lào trên thị trường quốc tế, thực hiện tốt chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước
1.2.2 Vai trò của doanh nghiệp xuất khẩu cà phê
Việc xuất khẩu cà phê là tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên độc đáo và nông dân ở vùng Cao nguyên có truyền thống từ lâu đời Chính vì vậy, việc xuất khẩu cà phê nó có vai trò và góp phần quan trọng trong công nghiệp hóa-hiện đại hóa trong ngành cà phê Lào, góp phần xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc và tạo khoản thu nhập ngoại tệ cho hệ thống quỹ ngân sách Nhà nước được thể hiện vai trò ở các nội dung sau đây:
Một là, vai trò chủ động triển khai toàn diện chủ trương của Đảng và kế hoạch
phát triển KT XH của Chính phủ: việc xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản nói chung, xuất khẩu cà phê nói riêng có vai trò quan trọng đóng góp vào việc phát triển KT XH, đặc biệt là việc cung cấp lương thực cho xã hội, tăng tổng kim ngạch buôn bán với nước ngoài thu về ngoại tệ cho nước ta, giảm cán cân thương mại giữa quốc gia, tạo điều kiện cho những ngành khác phát triển theo như: ngành công nghiệp chế biến và dịch vụ, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên như: đất đai, nguồn nước, rừng có giá trị và bền vững, việc xuất khẩu cà phê ứng dụng khoa học và công nghệ mới, hạn chế
ô nhiễm môi trường và quan trọng là phù hợp với trình độ, khả năng của người nông
dân, các doanh nghiệp để duy trì bền vững nghề
Việc xuất khẩu cà phê có vai trò hỗ trợ nông dân và các hộ gia đình người công dân rút khỏi được sự nghèo khổ làm cho nền KT XH phát triển nhanh, xây dựng cơ sở
hạ tầng, phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng nền sản xuất mới, mở rộng thị trường, hội nhập thị trường quốc tế
Trang 24Việc xuất khẩu cà phê là việc phát triển nền sản xuất gắn liền với công nghiệp chế biến, gắn liền với thương mại và dịch vụ của từng hộ gia đình những người nông dân của từng vùng, từng địa phương nhằm vận động quá trình đổi mới trong ngành nông nghiệp, làm cho việc lưư thông hàng hóa, phân phối hàng hóa đến tay người tiêu dùng trong và nước ngoài
Hai là, vai trò tổ chức thực hiện chiến lược xuất khẩu hàng hóa của Lào: việc xuất khẩu cà phê của Lào trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc điểm của Lào được bao quanh bởi các nước có nền sản xuất lớn như: Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan Vì vậy, việc xuất khẩu về khả năng cạnh tranh, muốn thâm nhập được thị trường thì phải đáp ứng được cả mặt số lượng, chất lượng và giá cả, điều đó phải nghĩ đến công nghệ tiên tiến, sử dụng lao động có trình độ, chi phí sản xuất thấp hơn, điều
đó hiện nay đã trở thành những thách thức của việc xuất khẩu của các doanh nghiệp tỉnh Champasak Vì vậy, chiến lược xuất khẩu trong thời gian tới là phải tập trung vào các mặt hàng mà nước ta có tiềm năng và lợi thế mới có điều kiện để cạnh tranh như: việc tập trung xuất khẩu cà phê sang các thị trường quốc tế, việc sử dụng đất phải thân thiện với môi trường làm tăng thêm sự dồi dào của nguồn tài nguyên nhiên nhiên, đó cũng là một điều làm tăng giá trị của cà phê cao hơn cà phê bình thường và được hưởng ưu đãi thuế quan (GSP) của nước ngoài Một mặt nữa diện tích đất ở nhiều vùng, đặc biệt là ở vùng Cao nguyên Bolavên chưa bị gây ô nhiễm đất, điều đó làm ngành cà phê phát triển một cách nhanh chóng bằng việc tập trung nâng cao cả số lượng và chất lượng cà phê
Đối với Lào có ít nhất hai sản phẩm được kỳ vọng sẽ đem lại lợi nhuận cao nhất,
đó là du lịch sinh thái và hàng nông sản sạch Trên thế giới đầy ô nhiễm, hóa chất, thuốc trừ sâu, ngộ độc thức ăn, bệnh bò điên và những nguy cơ khác về thực phẩm, người tiêu dùng nhanh chóng và sẵn sàng chi trả mua thực phẩm an toàn với giá cả cao hơn
Ba là, vai trò góp phần thu về ngoại tệ ổn định: trước đây việc tổ chức thực hiện chính sách xuất khẩu để tạo nguồn thu nhập thì chỉ xuất khẩu gỗ tự nhiên chuyển sang xuất khẩu các mặt hàng nông sản chế biến Hiện nay tổng kim ngạch xuất khẩu từ cà phê trong năm 2006 đạt 8.000 tấn , trị giá 9,4 triệu đô la Mỹ đến năm 2011 đạt 25.847 tấn, trị giá 61,1 triệu đô la Mỹ (số lượng tăng lên 2,2 lần, trị giá tăng lên 5,5 lần), năm
Trang 252012 xuất khẩu 19.711 tấn, trị giá 65,5 triệu đô la Mỹ, năm 2013 xuất khẩu 34.113 tấn, trị giá 83 triệu đô la Mỹ Nếu phát triển mà sử dụng hết diện tích đã khảo sát là 104.042 ha, với năng suất 2,5 tấn/ha tổng kim ngạch xuất khẩu sẽ tới 900-1.000 triệu
đô la Mỹ/năm
Bốn là, vai trò công nghiệp hóa-hiện đại hóa Bài học kinh nghiệm từ việc phát triển KT XH của nhiều nước đã chứng minh tốc độ phát triển rất nhanh và bền vững luôn gắn liền trực tiếp với công nghiệp hóa-hiện đại hóa Bởi vì sản xuất nông nghiệp
để tạo nguồn đầu vào cho công nghiệp chế biến, công nghiệp hóa-hiện đại hóa là việc
áp dụng khoa học và công nghệ, kiến thức, trình độ chuyên môn để nâng cao hiệu quả sản xuất, đáp ứng về mặt số lượng, chất lượng và chi phí sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, đất nước văn minh và thịnh vượng
Để xây dựng cơ cấu hệ thống xuất khẩu cà phê gắn liền với công nghiệp chế biến, thương mại và dịch vụ việc phát triển ngành cà phê của tỉnh Champasak thì Đảng
và Chính quyền tỉnh Champasak đã cấp giấy phép đầu tư xây dựng nhà máy chế biến
cà phê hòa tan lớn và hiện đại nhất Lào với những máy móc thiết bị được thiết kế rất hoàn hảo từ các quy trình sản xuất, từ quy trình chọn lọc, rang, sấy, mùi, hương vị cà phê đặc trưng với công nghệ của Đức và Đan Mạch
Việc xuất khẩu cà phê của tỉnh Champasak là một sự việc rất quan trọng đối với
nền KT XH của tỉnh Champasak nó được thể hiện qua các mặt như sau:
- Xuất khẩu hàng nông sản để tái cơ cấu nền kinh tế, bởi vì trong lịch sử đã chứng minh rằng khi nông nghiệp phát triển thì mới nâng cao được giá trị của hàng nông sản
kể cả hàng để xuất khẩu, nó sẽ làm tăng thu nhập, công ăn việc làm, giải quyết đời sống của nhân dân
- Xuất khẩu cà phê sẽ nâng cao trình độ, năng lực, kinh nghiệm chuyên môn cho nhân dân và các doanh nhân gắn liền với các chính sách, tín dụng, kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu, chi phí sản xuất thấp, chất lượng cao đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế Xuất phát từ việc sử dụng đất, khôi phục đất, loại giống, chăm sóc, thu hái bằng các phương pháp mới làm cho người nông dân chuyển từ thói quen sản xuất tự phát theo tự nhiên sang phương pháp sản xuất theo khoa học mới Chủ tịch Kay Sỏn PHÔMVIHAN nói rằng “Phải áp dụng sự phát triển của khoa học và công nghệ vào nền sản xuất, hướng dẫn người nông dân biết sử dụng lao động, sử dụng đất có hiệu
Trang 26qủa, thâm canh bằng các phương pháp canh tác nhằm tăng năng suất” nhờ đó việc xuất khẩu cà phê của tỉnh Champasak trong những năm qua đã vượt qua kế hoạch bằng việc thực hiện các phương pháp xúc tiến theo kiểu hộ gia đình, kinh tế mở rộng,
hệ thống trang trại mà có diện tích rộng và áp dụng công nghệ tiên tiến, tổ chức chặt chẽ về sản xuất và tăng cường mối liên hệ giữa “4 nhà” chính là nhà nông, Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp
- Việc xuất khẩu cà phê giúp nông dân, doanh nghiệp biết khai thác và sử dụng tiềm năng mà ta có lợi thế cao nhất, trong việc tổ chức thành lập hợp tác xã, các thành viên trong hợp tác xã phải tình nguyện tổ chức để trở thành một đơn vị tổ chức hợp tác phối hợp nhau, sau đó hướng dẫn, đào tạo họ biết áp dụng khoa học và công nghệ, trình độ chuyên môn tiên tiến hơn để tiến tới công nghiệp hóa-hiện đại hóa Trong suốt thời gian qua có rất nhiều nhà nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực đã nghiên cứu từ việc phân tích đất, chọn giống, thử nghiệm loại giống mới từ nước ngoài, phối giống với giống địa phương trở thành một loại giống mới phù hợp với điều kiện tự nhiên, hương vị độc đáo cà phê Cao Nguyên Bolavên
- Xuất khẩu cà phê góp phần xây dựng nền kinh tế quốc dân phát triển vững bền, tạo cơ hội hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng thị trường, làm cơ sở cho việc hội nhập kinh tế quốc tế như: WTO, AEC, ICO trong những năm sắp tới
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu cà phê Nhưng tựu chung lại thì có một số nhân tố tác động sau:
Nhân tố pháp luật
- Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết
phục, và cưỡng chế
- Luật pháp thông thường được thực thi thông qua một hệ thống tòa án trong đó quan tòa sẽ nghe tranh tụng từ các bên và áp dụng các quy định để đưa ra phán quyết công bằng và hợp lý Cách thức mà luật pháp được thực thi được biết đến như là hệ
thống pháp lý, thông thường phát triển trên cơ sở tập quán tại mỗi quốc gia
Trang 27- Phần lớn các quốc gia dựa vào cảnh sát pháp lý để thi hành luật pháp Cảnh sát pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức, kỹ năng thực thi luật pháp trước khi được cho phép có các hành vi nhân danh pháp luật, chẳng hạn như đưa ra các cảnh báo và trát đòi hầu tòa, thực thi việc tìm kiếm hay ra các lệnh khác
cũng như thực hiện việc tạm giam, tạm giữ
Nhân tố văn hóa, xã hội
- Văn hóa là một trong những mặt cơ bản của đời sống xã hội, là một hệ thống (các giá trị, các cơ cấu, kĩ thuật, thể chế các tư tưởng…), được hình thành trong quá trình sáng tạo của con người, được bảo tồn và truyền lại cho các thế hệ sau Hệ thống văn hóa có chức năng là một khuôn mẫu chuẩn mực các hành vi xã hội Tóm lại văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và các cộng đồng trong quá khứ và hiện tại Qua các thế hệ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định các định tính riêng của mỗi dân tộc
- Xã hội là một 35Ttập thể35Thay một 35Tnhóm35Tnhững 35Tngười35Tđược phân biệt với các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một 35Tthể chế35T và có cùng 35Tvăn hóa35T
Một cách trừu tượng hơn, một xã hội được coi là một mạng lưới của những mối quan hệ của các thực thể Một xã hội thỉnh thoảng cũng được coi là một cộng đồng với các cá nhân trong cộng đồng đó phụ thuộc lẫn nhau Tuy nhiên, các nhà xã hội học mong muốn tìm được ranh giới giữa xã hội và cộng đồng
Nhân tố kinh tế
Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Nói đến kinh tế suy cho cùng là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích
Nguyên nghĩa của khái niệm này là "kinh bang tế thế" (?) là các công việc mà một vị vua phải đảm nhiệm: chăm lo đời sống vật chất của bề tôi, chăm lo đời sống tinh thần của cộng đồng
Về định nghĩa từ kinh tế, xét theo bản chất, làm kinh tế là người ta cố gắng thực hiện những công việc để sử dụng hiệu quả nguồn lực sẵn có của mình (tiền, sức khỏe,
Trang 28tài năng bẩm sinh, và nhiều tài nguyên khác) để tạo ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của nhân loại Từ đó tạo ra của cải vật chất cho chính mình Hoạt động Kinh
tế là bất kỳ hoạt động nào mà sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có của mình để tạo
ra những sản phẩm (hàng hóa và dịch vụ), đem trao đổi và thu được một giá trị lớn hơn cái mà mình đã bỏ ra
Nhân tố nguồn lực và tài nguyên thiên nhiên
- Nguồn lực là tổng thể vị trí địa lí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường ở cả trong nước và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định
- Tài nguyên thiên nhiên là những giá trị hữu ích của môi trường tự nhiên có thể thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của con người bằng sự tham gia trực tiếp của chúng vào các quá trình kinh tế và đời sống nhân loại
Dưới tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ, khái niệm tài nguyên được mở rộng ra trên nhiều lĩnh vực hoạt động của con người
Hiểu theo nghĩa rộng, tài nguyên được bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, nhiên liệu
Nhân tố khoa học và công nghệ
- Là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới, … về tự nhiên và xã hội Những kiến thức hay học thuyết mới này, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp Thí dụ: quan niệm thực vật là vật thể không có cảm giác được thay thế bằng quan niệm thực vật có cảm nhận Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội Phân biệt ra
2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học
- Công nghệ (hay công nghệ học hoặc kỹ thuật học) có nhiều hơn một định nghĩa Nhìn chung có thể hiểu công nghệ là 35Ttập hợp35T các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các 35Tnguồn lực35Tthành sản phẩm Như vậy, công nghệ là việc phát triển và ứng dụng của các 35Tdụng cụ35T, 35Tmáy móc35T, 35Tnguyên liệu và quy trình để giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con người Với tư cách là
Trang 29hoạt động con người, công nghệ diễn ra trước khi có 35Tkhoa học35Tvà kỹ nghệ Nó thể hiện kiến thức của con người trong giải quyết các vấn đề thực tế để tạo ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình 35Ttiêu chuẩn35T Việc tiêu chuẩn hóa như vậy là đặc thù chủ yếu của công nghệ Khái niệm về kỹ thuật, kỹ thuật được hiểu là bao gồm toàn bộ những phương tiện lao động và những phương pháp tạo ra cơ sở vật chất
Nhân tố chính trị
Chính trị là tất cả những hoạt động, những vấn đề gắn với quan hệ 35Tgiai cấp35T, 35Tdân tộc35T, 35Tquốc gia35T và các nhóm 35Txã hội35Txoay quanh một vấn đề trung tâm đó là vấn đề giành, giữ và sử dụng 35Tquyền lực Nhà nước35T
Chính trị theo nghĩa rộng hơn là hoạt động của con người nhằm làm ra, gìn giữ
và điều chỉnh những luật lệ chung mà những luật lệ này tác động trực tiếp lên cuộc sống của những người góp phần làm ra, gìn giữ và điều chỉnh những luật lệ chung đó Với cách hiểu như thế này thí dụ: trong xã hội cộng sản, chính trị vẫn còn tồn tại và vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng đối với từng con người cũng như toàn xã hội Trong bất kỳ xã hội nào thì cũng cần những luật lệ chung để hoạt động nhịp nhàng và khoa học, tránh tình trạng vô tình hay cố ý xâm phạm quyền lợi, lợi ích, tài sản, sức khỏe hay thậm chí tính mạng của người khác hay của cộng đồng Một ví dụ đơn giản, xã hội
dù có phát triển đến đâu thì cũng cần có luật giao thông để con người có thể lưu thông một cách trật tự và hiệu quả Hay, con người không thể sống trong một xã hội mà tình trạng an ninh không đảm bảo (cướp bóc, khủng bố chẳng hạn) do thiếu luật lệ Mặc dù phần lớn xã hội hiện nay trên thế giới không tránh khỏi các hiện tượng cướp bóc
và 35Tkhủng bố35T nhưng phải thừa nhận rằng pháp luật đã góp phần ngăn chặn đáng kể những hành vi bất lương đó
Nhân tố cạnh tranh kinh tế quốc tế
Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay 35Ttiêu dùng35Thàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình
Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng
Trang 30hóa dịch vụ với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của một doanh nghiệp với các đối thủ trong cùng một ngành…
Nhân tố tài chính
Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định
Nhân tố hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật của doanh nghiệp
Các nhân tố này phản ánh năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp, nó bao gồm các nguồn vật chất cho sản xuất, các nguồn tài nguyên, nhiên liệu các nguồn tài chính đang phục vụ cho việc xuất khẩu của doanh nghiệp và các năng lực của nó phục vụ cho tương lai
Nhân tố nguồn nhân lực
- Có nhiều từ như: nguồn lực, tiềm lực, tài nguyên, nguồn cung cấp, … gọi chung
là “nguồn lực”.Một cách tổng quát, nguồn lực của một quốc gia, được hiểu là toàn bộ các yếu tố vật chất và tinh thần đã, đang và sẽ tạo ra sức mạnh cho sự phát triển của quốc gia đó Như vậy, khái niệm nguồn lực có phạm vi rất rộng và có biểu hiện hết sức phong phú và đa dạng
- Nguồn lực bao gồm cả yếu tố vật chất lẫn yếu tố tinh thần Nguồn lực không chỉ là các yếu tố đã và đang tạo ra sức mạnh, mà còn bao gồm cả các yếu tố ở dạng tiềm năng sẽ tạo ra sức mạnh Nguồn lực không chỉ nói lên sức mạnh, mà còn chỉ ra nơi bắt đầu, nơi phát sinh, nơi cung cấp sức mạnh ấy Nguồn lực không chỉ biểu hiện qua số lượng, chất lượng, mà còn biểu hiện qua sự biến đổi của các nhân tố đó
Các tuyến 35Tđường bộ35T, 35Tđường sắt35T, 35Thàng không35T trong mạng lưới giao thông tỉnh Champasak chủ yếu theo hướng Tây, Bắc Nam, còn các tuyến đường thủy nội địa thì chưa phát triển, vì Lào không có biển, đường thủy chính là sông Mê kông Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu là vận chuyển bằng đường bộ qua cảng của nước lân cận như: Thái Lan và Việt Nam để xuất khẩu sang các nứớc trên thế giới
Trang 31Nhâ n tố quản lý tiêu chuẩn và chất lượng
17T
- Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn
để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động KT XH nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này.Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp dụng, như: ISO là bộ tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng qủan lý chất lượng, TCVN là tiêu chuẩn Việt Nam, Lao Standard là tiêu chuẩn của Lào…
- Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về 35Tchất lượng35T Việc định hướng và kiểm soát về chất lượng nói chung bao gồm lập chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng, hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, 35Tđảm bảo chất lượng35Tvà cải tiến chất lượng Có thể nói là quản lý chất lượng chính là chất lượng quản trị
1.2.4 Lý thuyết cạnh tranh
Theo lý thuyết trọng thương, các nước nên xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu Đại
diện cho những người theo chủ nghĩa trọng thương là: Jean Bodin, Melon (người
Pháp), Thomax Mun, Josias Chlild (người Anh)
Lý thuyết trọng thương là một lý thuyết làm nền tảng cho các tư duy kinh tế từ năm 1500 đến 1800 Lý thuyết này cho rằng sự phồn vinh của một quốc gia được đo
bằng lượng tài sản mà quốc gia đó cất giữ, thường được tính bằng vàng Theo lý thuyết này, Chính phủ nên xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu và nếu thành công họ sẽ nhận được giá trị thặng dư mậu dịch được tính theo vàng từ một nước hay các nước bị thâm
hụt Các quốc gia đã xuất hiện trong suốt khoảng từ năm 1500 đến 1800 và vàng là
phương tiện để củng cố quyền lực của các Nhà nước trung ương Vàng được đầu tư vào quân đội hay các thể chế quốc gia nhằm cấu kết lòng trung thành của dân chúng vào quốc gia mới bằng cách làm giảm đi các mối quan hệ với các đơn vị truyền thống
như các đô thị, phường hội, tôn giáo
Nhưng làm thế nào để một nước có thể xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu?
Trước hết, buôn bán được thực hiện bởi các công ty độc quyền của Nhà nước Sự
hạn chế được áp đặt vào hầu hết hoạt động nhập khẩu và nhiều hoạt động xuất khẩu
được trợ cấp
Trang 32Thứ hai, các cường quốc thực dân cố tìm cách đạt được thặng dư mậu dịch với các thuộc địa của họ Họ coi đây như là một phương tiện khác để có thêm thu nhập
Họ thực hiện điều này không chỉ bằng cách giữ độc quyền các quan hệ thương mại
thực dân mà còn ngăn cản các nước thuộc địa sản xuất Do đó mà các nước thuộc địa
phải xuất khẩu nguyên liệu thô, kém giá trị hơn và nhập khẩu các sản phẩm có giá trị cao hơn Lý thuyết trọng thương mang lại lợi ích cho các cường quốc thực dân Chính sách ngoại thương của Nhà nước theo lý thuyết trọng thương theo hướng:
- Giá trị xuất khẩu phải càng nhiều càng hay, nghĩa là không những số lượng hàng hoá xuất khẩu phải nhiều, mà còn phải cố gắng xuất khẩu những hàng hoá có giá
trị cao ưu tiên hơn hàng hoá có giá trị thấp Người ta đánh giá thấp việc xuất khẩu nguyên liệu và cố sử dụng nguyên liệu để sản xuất trong nước rồi đem xuất khẩu thành
phẩm
- Giữ nhập khẩu ở mức độ tối thiểu, dành ưu tiên cho nhập khẩu nguyên liệu so
với thành phẩm Hạn chế hoặc cấm nhập khẩu thành phẩm, nhất là hàng xa xỉ
- Khuyến khích chở hàng bằng tàu của nước mình, vì vừa bán được hàng mà còn
được cả những món lợi khác như cước vận tải, phí bảo hiểm
Ảnh hưởng của lý thuyết trọng thương đã bị mờ nhạt đi sau năm 1800 Các cường quốc thực dân ít hạn chế sự phát triển khả năng công nghiệp ở các thuộc địa của
họ, nhưng các thủ đoạn hợp pháp vẫn buộc chặt quan hệ thương mại của các nước thuộc địa với “chính quốc”
Lào, giống như nhiều nước khác, đã giành được độc lập và giải phóng đất nước năm 1975, đã bắt đầu xây dựng cơ cấu sản xuất và chiến lược thương mại gần giống như những ý tưởng trong thời hoàng kim của lý thuyết trọng thương
Cán cân thương mại thuận lợi (xuất siêu) chưa hẳn là một tình trạng có lợi
Một số khái niệm của thời trọng thương ngày nay vẫn tiếp tục tồn tại Chẳng hạn, thuật ngữ Cán cân thương mại thuận sai vẫn được sử dụng để chỉ xuất khẩu của một nước nhiều hơn nhập khẩu Cán cân thương mại nghịch sai để chỉ tình trạng thâm hụt
trong thương mại Nhiều khái niệm bị dùng sai Ví dụ: Từ thuận sai có hàm ý lợi ích, trong khi từ nghịch sai chỉ hoàn cảnh bất lợi Thực ra, cán cân thương mại thặng dư chưa hẳn là có lợi và cán cân thương mại thâm hụt chưa chắc là không tốt Nếu một nước có cán cân thương mại thặng dư hay cán cân thương mại thuận lợi thì khi đó
Trang 33nước này nhận hàng hóa và dịch vụ từ nước ngoài vào ít hơn trị giá hàng hoá và dịch
vụ họ gửi đi
Trong giai đoạn chủ nghĩa trọng thương, khoản chênh lệch này được thanh toán
bằng vàng Nhưng ngày nay, khoản chênh lệch thường được thanh toán bằng tín dụng
cấp cho nước bị thâm hụt Nếu khoản tín dụng này không được trả trong thời gian quy định thì hiện trạng cán cân thương mại này thực sự trở thành điều bất lợi cho nước
thặng dư mậu dịch
Trong những năm gần đây, thuật ngữ “chủ nghĩa trọng thương mới” xuất hiện (Neomercantilism) được sử dụng để mô tả những nước muốn đạt được cán cân thanh toán thuận sai nhằm cố gắng đạt được mục tiêu kinh tế hay xã hội nào đó Chẳng hạn:
Để có được việc làm đầy đủ cho người dân, một nước sẽ sản xuất vượt quá nhu cầu trong nước và xuất khẩu phần dư thừa ra nước ngoài Hoặc một quốc gia muốn có ảnh hưởng chính trị tại một vùng nào đó, họ đưa vào vùng này số hàng hoá dịch vụ nhiều
hơn số hàng hoá dịch vụ mà họ nhận được từ vùng ấy
Advantage)
Theo Adam Smith (1723- 1790), “S ự giàu có của một quốc gia phụ thuộc vào số
Tại sao các nước cần phải giao dịch buôn bán với nhau? Tại sao Lào (hay bất kỳ
một quốc gia nào khác) không bằng lòng với hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra tại nước
mình?
Vào những năm của thế kỷ thứ 15, 16, 17 nhiều quốc gia theo chính sách chủ nghĩa trọng thương đã cố gắng thực hiện tự cung, tự cấp bằng cách tự sản xuất hàng
hoá trong nước
Trong cuốn “Sự giàu có của các quốc gia”, xuất bản năm 1776, Adam Smith đã nghi ngờ về giả thuyết của chủ nghĩa trọng thương cho rằng sự phồn vinh của một nước phụ thuộc vào số châu báu mà nước đó tích trữ được Thay vào đó, ông cho rằng
sự giàu có thực sự của một nước là tổng số hàng hoá và dịch vụ có sẵn ở nước đó Ông cho rằng những quốc gia khác nhau có thể sản xuất những loại hàng hoá khác nhau có hiệu quả hơn những thứ khác
Trang 34Adam Smith cho rằng nếu thương mại không bị hạn chế thì lợi ích của thương
mại quốc tế thu được do thực hiện nguyên tắc phân công Ông phê phán sự phi lý của
những hạn chế của lý thuyết trọng thương và chứng minh rằng mậu dịch sẽ giúp cả hai bên gia tăng gia sản - hiểu theo ý lợi tức thực sự - qua việc thực thi một nguyên tắc cơ
bản: Nguyên tắc phân công
Trong cuốn “The Wealth of Nations - Sự giàu có của một quốc gia”, A.Smith cho
rằng: Phương ngôn của mọi người chủ gia đình khôn ngoan là không bao giờ tự sản
xuất lấy những gì mà nếu đi mua sẽ được rẻ hơn Người thợ may không khi nào hì hục đóng đôi giày, mà thường đi mua ở người thợ giày Và người thợ giày cũng không cần loay hoay cắt may, mà nhờ anh thợ may may hộ Người nông dân không tự làm lấy hai
thứ trên, mà nhờ vào các tay thợ khéo Mọi người đều có lợi khi chăm chú làm công
việc mình có lợi thế hơn láng giềng, và dùng một phần số sản phẩm của mình hay tiền
bán được số sản phẩm ấy để đi mua mọi thứ cần dùng khác
Những gì trong sinh hoạt cá nhân được coi là khôn ngoan ít khi nào lại là một điều rồ dại đối với quốc gia Nếu một nước ngoài có thể cung cấp một loại hàng rẻ hơn là khi ta tự sản xuất, thì tốt hơn hết nên đi mua loại hàng ấy, dành thì giờ chuyên chú vào một hoạt động khác mà ta có lợi hơn, để bán lấy tiền chi dùng
có lợi thế tuyệt đối thì cho phép họ sản xuất sản phẩm với chi phí hiệu quả hơn nước
khác
Nhờ sự chuyên môn hoá các nước có thể gia tăng hiệu quả do: 1) người lao động
sẽ lành nghề hơn do họ lặp lại cùng một thao tác nhiều lần; 2) người lao động không
phải mất thời gian chuyển từ việc sản xuất sản phẩm này sang sản phẩm khác và 3) do làm một công việc lâu dài, người lao động sẽ nảy sinh ra các sáng kiến, đề xuất các
phương pháp làm việc tốt hơn
A.Smith cho rằng thị trường chính là nơi quyết định, nhưng ông ta vẫn nghĩ rằng lợi
thế của một nước có thể là lợi thế tự nhiên hay do nỗ lực của nước đó
- Lợi thế tự nhiên liên quan đến các điều kiện khí hậu và tự nhiên Điều kiện tự nhiên có thể đóng vai trò quyết định trong việc sản xuất có hiệu quả rất nhiều sản
phẩm như cà phê, chè, cao su, dừa…, các loại khoáng sản
Trang 35- Lợi thế do nỗ lực là lợi thế có được do sự phát triển của kỹ thuật và sự lành nghề
Ngày nay người ta thường buôn bán, trao đổi các loại hàng hoá đã được sản xuất
công phu hơn là các nông phẩm hay tài nguyên thiên nhiên nguyên khai hoặc sơ chế
Quy trình sản xuất những loại hàng hoá này phần lớn phụ thuộc vào “lợi thế do
nỗ lực” thường là kỹ thuật chế biến là khả năng sản xuất các loại sản phẩm khác nhau, khác biệt với những thứ khác Ví dụ, Đan Mạch xuất khẩu đĩa bạc không phải vì nước này có nguồn mỏ bạc dồi dào mà do họ có thể sản xuất được những đĩa bạc thật đặc
biệt Lợi thế về kỹ thuật chế biến là khả năng chế tạo các sản phẩm đồng nhất có hiệu
quả hơn Ví dụ Nhật Bản là nước phải nhập khẩu sắt và than, hai thành phần quan
trọng cần thiết cho quá trình sản xuất thép Nhưng nhờ có được quy trình chế biến thép
tiết kiệm được nguyên liệu trên và lao động nên các nhà sản xuất thép Nhật Bản rất thành công trong cạnh tranh trên thị trường
Lợi thế tuyệt đối đề cập tới số lượng của một loại sản phẩm có thể được sản xuất
ra, sử dụng cùng một nguồn lực ở hai nước khác nhau Một nước được coi là có lợi thế tuyệt đối so với nước kia, trong việc sản xuất hàng hoá A khi cùng một nguồn lực có
thể sản xuất được nhiều sản phẩm A ở một nước thứ nhất hơn là nước thứ hai
Giả sử Lào có lợi thế tuyệt đối so với Hàn Quốc trong một loại hàng hoá, trong khi Hàn Quốc lại có lợi thế tuyệt đối so với Lào một loại hàng hoá khác
Đó là trường hợp lợi thế tuyệt đối tương hỗ Mỗi nước đều có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất một loại sản phẩm Trong trường hợp như thế, tổng sản phẩm của
cả hai nước có thể tăng lên (so với nền kinh tế tự cung tự cấp) nếu mỗi nước chuyên môn hoá sản xuất loại sản phẩm mà nước đó có lợi thế tuyệt đối
Ví dụ sau đây đưa ra tình huống giả định về sản lượng lúa gạo và vải vóc ở Lào
và Hàn Quốc Trong ví dụ này, sản lượng thế giới về cả lúa gạo và vải vóc đều tăng lên khi mỗi nước sản xuất nhiều hơn những hàng hoá mà nước đó có lợi thế tuyệt đối
Kết quả là sẽ có nhiều lúa gạo và vải vóc cùng một chi phí về nguồn lực Do chuyển
đổi nguồn lực đầu vào vào việc sản xuất gạo ở Lào và vải ở Hàn Quốc, quá trình
chuyên môn hoá sản xuất những sản phẩm mà mình có lợi thế thì quá trình chuyên môn hoá đó sẽ có thể làm tăng sản lượng của cả hai loại hàng hoá Ở ví dụ này, trình
Trang 36bày sự thay đổi về sản lượng do chuyển một đơn vị nguồn lực từ việc sản xuất vải sang
việc sản xuất lúa gạo sang việc sản xuất vải Hàn Quốc Sản lượng trên thế giới sẽ tăng
5 tạ lúa và 4 m 2 vải, trên toàn thế giới sẽ có lợi ích do chuyên môn hoá Trong trường
hợp này càng có nhiều sự chuyển đổi nguồn lực sang sản xuất lúa ở Lào và càng có nhiều sự chuyển đổi nguồn lực sang sản xuất vải ở Hàn Quốc thì lợi ích càng lớn
Những lợi ích này của việc chuyên môn hoá sẽ khiến những lợi ích của ngoại thương trở thành hiện thực Lào sẽ sản xuất nhiều lúa gạo và Hàn Quốc thì sản xuất được nhiều vải hơn so với trước khi hai nước này còn ở trong tình trạng tự cung tự
cấp Như vậy, Lào sẽ phải sản xuất nhiều lúa gạo và ít vải hơn so với nhu cầu của người tiêu dùng ở Lào và Hàn Quốc sẽ sản xuất nhiều vải và ít lúa gạo hơn so với nhu
cầu người tiêu dùng ở Hàn Quốc Nếu người tiêu dùng ở cả hai nước muốn có vải và lúa gạo theo một tỷ lệ mong muốn thì Hàn Quốc cần phải xuất khẩu quần áo sang Lào
và nhập lúa gạo từ Lào
Advantage)
+ Lợi ích thương mại vẫn diễn ra ở những nước có lợi thế tuyệt đối về tất cả các
sản phẩm vì các nước này cần phải hy sinh sản lượng kém hiệu quả để sản xuất ra sản
lượng có hiệu quả hơn
+ Hay nói cách khác những lợi ích do chuyên môn hoá và ngoại thương mang lại
phụ thuộc vào lợi thế so sánh chứ không phải lợi thế tuyệt đối
Khi mỗi nước có lợi thế tuyệt đối so với nước khác về một loại hàng hoá, lợi ích
của ngoại thương là rõ ràng Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu một nước có thể sản xuất có
hiệu quả hơn nước kia trong hầu hết các mặt hàng ? Hoặc những nước không có lợi thế tuyệt đối nào cả thì chỗ đứng của họ trong phân công lao động quốc tế là ở đâu? Và ngoại thương diễn ra như thế nào với những nước này
Trên thực tế đó là câu hỏi David Ricardo đưa ra từ hơn 170 năm trước, và chính ông đã trả lời câu hỏi đó trong tác phẩm nổi tiếng của mình “Những nguyên lý của kinh tế chính trị, 1817” Trong tác phẩm này, D.Ricardo đã đưa ra một lý thuyết tổng quát chính xác hơn về chế xuất hiện lợi ích trong thương mại quốc tế Đó là lý thuyết
về lợi thế so sánh Ngày nay, lý thuyết của ông vẫn được các nhà kinh tế chấp nhận
như một tuyên bố có căn cứ về những lợi ích tiềm tàng của thương mại quốc tế
Trang 37Theo David Ricardo cơ chế xuất hiện lợi ích trong thương mại quốc tế là:
- Mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế Bởi vì ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước: do chỉ chuyên môn hoá vào sản xuất một số sản phẩm nhất định và xuất khẩu hàng hoá của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ nước khác
- Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với nước khác trong việc sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế Bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất
định về một số mặt hàng và kém lợi thế so sánh về một số mặt hàng
Thoạt nghe, có vẻ lập luận trên là không thích hợp, nhưng một cách suy luận không đơn giản có thể làm rõ lập luận của lý thuyết này Giả thiết rằng một luật sư giỏi cũng có khả năng làm việc của một cô văn thư, thư ký thành thạo Vậy có kinh tế không nếu luật sư đảm đương luân các công việc hành chính văn phòng? Hoàn toàn không Ông ta có thể kiếm được nhiều tiền hơn bằng cách cống hiến năng lực nghề nghiệp của mình cho công việc ở công ty luật, cho dù phải mướn một cô văn thư kém thành thạo hơn để coi công việc văn phòng Một quốc gia cũng vậy Họ sẽ có lợi hơn
nếu tập trung nguồn lực để sản xuất những sản phẩm có hiệu quả nhất Và sau đó họ sẽ mua những sản phẩm mà họ đã từ bỏ không sản xuất, từ các nước mà việc sản xuất ra chúng ít tốn kém hơn
Chúng ta dùng một ví dụ đơn giản sau để diễn tả quan điểm của D.Ricardo cho
rằng: Năng lực sản xuất trong trường hợp lợi thế tương đối
Các gi ả thiết Lào và Hàn Quốc
1 Đơn vị nguồn lực có sẵn
2 Đơn vị nguồn lực để sản xuất 1 tấn lúa gạo
3 Đơn vị nguồn lực để sản xuất 1 kiện vải
4 Sử dụng một nửa tài nguyên cho mỗi loại sản phẩm khi không có ngoại thương
Dù Lào có lợi thế tuyệt đối cả hai loại sản phẩm, nhưng Lào lại có lợi thế tương đối trong việc sản xuất lúa gạo Cũng một lượng nguồn lực Lào có thể sản xuất lúa
gạo gấp hai lần so với Hàn Quốc, còn về sản xuất vải thì Lào lại chỉ gấp có hơn một
lần Cho dù Hàn Quốc bất lợi về sản xuất cả hai loại sản phẩm, nhưng Hàn Quốc vẫn
có lợi thế tương đối về vải Do sản xuất lúa gạo của Hàn Quốc chỉ bằng phần nửa so
Trang 38với Lào, còn sản xuất vải thì bằng 75 phần trăm so với Lào Chúng ta giả thiết mỗi
quốc gia đang có 100 đơn vị nguồn lực Nếu mỗi nước dùng một nửa đơn vị nguồn lực cho việc sản xuất mỗi loại sản phẩm, thì Lào có thể sản xuất được 12,5 kiện vải (50/4)
và 16,6 tấn lúa gạo (50/3) còn Hàn Quốc sản xuất được 10 kiện vải (50/5) và 8,3 tấn lúa gạo (50/6) Nếu không có ngoại thương sản lượng lúa gạo tổng cộng là 24,9 tấn
(Lào 16,6, Hàn Quốc 8,3 tấn) và 22,5 kiện vải (Lào 12,5 kiện, Hàn Quốc 10 kiện)
Nhờ mở cửa buôn bán mà sản lượng lúa gạo, và vải hay tổng cộng cả hai sản phẩm có
thể tăng thêm Nếu ta tăng sản xuất vải, mà không thay đổi sản xuất lúa gạo như trước
khi có trao đổi, thì Lào có thể sản xuất tất cả 24,9 tấn lúa gạo bằng cách sử dụng 74,7 đơn vị nguồn lực (74,7/3), với 25,3 đơn vị nguồn lực còn lại, Lào có thể sử dụng để
sản xuất 6,3 kiện vải (25,3/4) Hàn Quốc trong trường hợp này sử dụng toàn bộ nguồn
lực của mình để sản xuất 20 kiện vải Sản lượng lúa gạo tổng cộng lại là 24,9 tấn,
nhưng sản lượng vải đã tăng lên từ 22,5 kiện lên 26,3 kiện Nếu ta tăng sản xuất lúa
gạo tại Lào và vẫn giữ nguyên sản lượng vải như trước khi có buôn bán giữa hai nước, Hàn Quốc có thể sử dụng toàn bộ nguồn lực của mình để sản xuất 20 kiện vải, Lào có
thể sản xuất 2,5 kiện vải còn lại với 10 đơn vị nguồn lực (10/4), 90 đơn vị nguồn lực còn lại Lào có thể sản xuất 30 tấn lúa gạo (90/3) Không cần phải hi sinh lượng vải có
sẵn trước khi có ngoại thương, lượng lúa gạo vẫn tăng lên từ 24,9 tấn lên 30 tấn
Xét cho kỹ thì lý luận của D Ricardo chỉ là mở rộng nguyên tắc phân công Một cách khái quát, cho cả quốc gia cũng như cá nhân, chuyên môn hoá phải dựa theo khả
năng; như một ví dụ của Ricardo sau đây:
“ Cả hai người nọ có thể làm nón và giầy, và người thứ nhất hơn hẳn người thứ hai cả hai công việc Nếu tính ra thì khi làm nón người thứ nhất hơn người bạn 20
phần trăm và khi làm giầy anh ta hơn bạn 33 phần trăm Muốn cả hai cùng có lợi, phải
chăng người thứ nhất nên chuyên đóng giầy và người bạn sẽ làm nón? “
Chúng ta thấy lý thuyết lợi thế so sánh của D Ricardo quả có đi xa hơn quan
niệm của A Smith về căn bản của mậu dịch quốc tế Lý thuyết này rộng hơn, cắt nghĩa
cả trường hợp Smith thiếu sót, biến công thức của Smith thành một biệt lệ, khi lợi thế
về giá thành tương đối của quốc gia cùng là một lợi thế tuyệt đối
Nhưng cần lưu ý: Lý thuyết của D Ricardo tuy có chứng minh được những ích
lợi của mậu dịch, nó vẫn không xác định được tỷ lệ trao đổi quốc tế, nghĩa là giá cả
Trang 39quốc tế Lý thuyết của Ricardo dựa trên căn bản hàng đổi hàng, chỉ để ý đến cung hay phí tổn trong mậu dịch quốc tế mà lại quên mất phía cầu; có thể vì mục đích chính của ông là cốt để chứng minh căn bản của mậu dịch quốc tế là lợi thế tương đối (giá phí
tương đối) chứ không phải là tuyệt đối
quan c ủa cầu)
Lý thuyết của D Ricardo mới chỉ đề cập tới yếu tố cung, chưa chú ý tới yếu tố
cầu Để bổ sung cho khiếm khuyết này, S Mill đã bàn đến vần đề giá trị quốc tế hay tỷ
lệ trao đổi giữa các sản phẩm Ông là một trong những nhà kinh tế học của thế kỷ XIX ủng hộ lợi ích của ngoại thương S.Mill cho rằng “ Sự mở cửa ngoại thương đôi khi
một kiểu cách mạng công nghiệp ở một nước mà các nguồn lực của nó trước đó chưa
được phát triển.”
Thay vì so sánh phí tổn nhân công của hai quốc gia khi sản xuất ra một sản phẩm ngang nhau, ông lại so sánh các sản phẩm sản xuất ra của hai quốc gia khi sử dụng đầu vào nhân công ngang nhau Lý thuyết của S Mill dựa trên năng suất tương đối của nhân công chứ không phải phí tổn của nhân công như D Ricardo
Nếu lấy ví dụ mà chúng ta thường dùng để trình bày lý thuyết của D Ricardo, thì
cấu trúc của S Mill sẽ như sau:
Chúng ta thấy, cùng một nguồn lực (đầu vào) là nhân công, Bồ Đào Nha có lợi
thế tuyệt đối trong việc sản xuất cả hai thứ hàng, nhưng tương đối có lợi thế hơn về rượu (100/50 = 2/1 so với 75/60 = 5/4) Ngược lại Anh lại ít bất lợi hơn về vải (60/75
= 4/5 so với 50/100 = 1/2)
Một cách tổng quát, có thể phát biểu nguyên tắc lợi thế tương đối như sau:
Nếu với cùng một đầu vào, người ta có thể sản xuất được a1 và b1 lượng hàng A
và B ở quốc gia I, và a2 và b2 ở quốc gia II, thì quốc gia I sẽ xuất khẩu A để nhập B
nếu a1/b1 > a2/b2; nghĩa là so với quốc gia II, tương đối quốc gia I có khả năng sản
xuất A nhiều hơn B ( hoặc có thể là a1/a2 > b1/b2 )
Nếu không có ngoại thương giữa hai nước, Bồ Đào Nha có thể dùng cho thùng rượu để đổi lấy 75 kiện vải ( tỷ lệ 100/75 = 4/3 ); ở Anh có thể dùng 100 thùng rượu
để đổi lấy 120 kiện vải ( tỷ lệ 100/120 = 5/6, nếu dùng 600 ngày công cho mỗi ngành
Trang 40sản xuất) Vậy, Bồ Đào Nha và Anh sẵn sàng buôn bán với nhau, nếu đối với Bồ Đào Nha, 100 thùng rượu đổi được ít hơn 120 kiện vải Giới hạn của tỷ lệ buôn bán chính
là tỷ lệ trao đổi trong nội địa, ổn định bởi năng xuất tương đối của nhân công mỗi nước
Vấn đề là tìm những yếu tố xác định một tỷ trao đổi thực sự trong giới hạn trên
Theo S Mill, tỷ lệ mậu dịch thực sự sẽ phụ thuộc vào cường độ, cũng như độ co dãn của cầu nhập khẩu của mỗi nước, nghĩa là phụ thuộc vào số cầu tương quan Cần lưu ý rằng, số cầu không phải là một bảng biến thiên của số lượng theo mức giá, mà là
số lượng hàng xuất khẩu của một quốc gia theo các tỷ lệ mậu dịch hay các số lượng hàng nhập khẩu khác nhau
Ví dụ, giả sử không có phí tổn chuyên chở và giả sử tỷ lệ mậu dịch giữa Bồ Đào Nha và Anh là 100 thùng rượu lấy 95 kiện vai, thì lý luận của S Mill như sau: Nếu ở
“mức giá” quốc tế đó, số cầu của Anh sẽ là một bội số của 100 thùng rượu (chẳng hạn
1000 lần, hay 100.000 thùng), và của Bồ Đào Nha cũng là một bội số tương ứng của
95 kiện vải (nghĩa là 1000 lần hay 95.000 kiện) thì số cầu tương quan sẽ quân bình, số
xuất khẩu của quốc gia sẽ vừa đủ để trang trải số nhập khẩu
Ngược lại, với mức giá 100 thùng rượu/95 kiện vải, dân Anh chỉ mua 800 lần nhiều hơn, nghĩa là 800.000 thùng rượu, thì với số xuất khẩu ấy, Bồ Đào Nha chỉ có
thể mua được 800 lần x 95 kiện hay 76.000 kiện vải mà thôi Muốn mua thêm 19.000
kiện vải nữa (95.000 – 76.000), dân Bồ Đào Nha phải sản xuất nhiều hơn 100 thùng rượu, thí dụ 108 thùng, nghĩa là 108/95 sẽ là “mức giá“ mới, hay 100/87,9 Thấy giá
có lợi hơn trước, dân Anh sẽ mua rượu nhiều hơn, thí dụ 90.000 thùng Ngược lại, dân
Bồ Đào Nha lúc ấy cũng bằng lòng mua trong khả năng xuất khẩu của mình được 900x87,9 hay 79.110 kiện vải Với giá mới 100 thùng rượu/87,9 kiện vải, quân bình
mậu dịch sẽ thực hiện nếu Bồ Đào Nha xuất khẩu 90.000 thùng rượu và Anh xuất khẩu 79.110 kiện vải
Nói tóm lại:
- Giới hạn tỷ lệ trao đổi mậu dịch chính là những tỷ lệ trao đổi trong nước, tùy ở năng suất tương đối của mỗi quốc gia