Vì vậy, việc đánh giá được tác động của cơ cấu vốn đến kết quả hoạt động của một ngân hàng đang là một vấn đề cần được nghiên cứu để có những cái nhìn khách quan và hợp lý về tình hình t
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH MARKETING
BÙI THỊ THANH THÚY
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CẤU VỐN
ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài Chính Ngân Hàng
Mã số : 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN CAO HỌC: TS PHẠM HỮU HỒNG THÁI
TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 2 NĂM 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
- -
Để thực hiện luận văn tài “ Đánh giá tác động của cơ cấu vốn đến kết quả hoạt
động của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam ”, tôi đã tự mình nghiên cứu, tìm hiểu
vấn đề, vận dụng kiến thức đã học dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Hữu
Hồng Thái, bên cạnh đó kết hợp trao đổi với các thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết
quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực Số liệu sử dụng trong luận văn để phân
tích, đánh giá là kết quả của cuộc khảo sát do tôi thực hiện thu thập, tính toán và chưa
được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Bùi Thị Thanh Thúy
Trang 3LỜI CẢM TẠ
- -
Để hoàn thành chương trình Cao học chuyên ngành Tài Chính Ngân Hàng tại Trường Đại học Tài Chính – Marketing, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành nhất tới: Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về đến Quý Thầy, Quý Cô, Khoa Sau Đại Học Trường Đại học Tài Chính – Marketing về sự giúp đỡ, hết lòng tận tụy, nhiệt tình truyền đạt những kiến thức vô cùng quý báu
Đặc biệt là sự quan tâm hướng dẫn tận tình của TS Phạm Hữu Hồng Thái – người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Thầy
Tôi xin gửi lời cám ơn đến Ban lãnh đạo công ty nơi tôi công tác và các đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành chương trình đào tạo thạc
sĩ cũng như hoàn thành luận văn đúng thời gian quy định
Các Anh/Chị/Bạn học viên cao học Khóa2 – Đợt 1 Ngành Tài chính Ngân hàng
đã cùng tôi chia sẽ kiến thức và kinh nghiệm trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Cuối cùng xin cám ơn gia đình, người thân đã luôn hỗ trợ, thông cảm và tạo mọi điều kiện cho tôi có thể yên tâm học tập và thực hiện luận văn
Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã cố gắng hết sức để hoàn thiện luận văn, trao đổi và tiếp thu những ý kiến cũng như đóng góp của quý Thầy/Cô, bạn bè, tham khảo nhiều tài liệu trong và ngoài nước, song cũng không tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được những chia sẽ, những thông tin góp ý của quý Thầy, quý Cô, và bạn đọc
Xin chân thành cám ơn!
Tác giả luận văn:
Bùi Thị Thanh Thúy
Trang 4MỤC LỤC
- -
NỘI DUNG TRANG Trang bìa phụ Lời cam đoan Lời cảm tạ Mục lục Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt Danh mục các hình vẽ và biểu đồ Danh mục các bảng biểu Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 2
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.7 Bố cục của nghiên cứu 3
Chương 2: Khung lý thuyết và các nghiên cứu trước đây 5
2.1 Tổng quan lý luận về cơ cấu vốn 5
2.2 Các nghiên cứu trước đây 23
Chương 3: Mô hình nghiên cứu 33
3.1 Quy trình nghiên cứu 33
3.2 Mô tả dữ liệu 33
3.3 Giả thiết nghiên cứu 34
3.4 Mô hình nghiên cứu 36
3.5 Phương pháp nghiên cứu 37
Chương 4: Kết quả nghiên cứu & thảo luận 51
4.1 Thống kê mô tả về CCV và KQHĐ của các NHTMCPVN (2009-2013) 51 4.2 Phân tích tương quan giữa các biến của mô hình hồi quy 56
4.3 Kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu 57
4.4 Kiểm định tự tương quan 59
4.5 Kiểm định đa cộng tuyến 61
4.6 Thảo luận kết quả nghiên cứu 63
Chương 5: Kết luận và kiến nghị 70
5.1 Kết luận 70
5.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả 71
5.3 Kiến nghị 74 Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTW : Ngân hàng trung ương
NVHĐ : Nguồn vốn huy động
ROA : Return on Asset (Lợi nhuận trên tổng tài sản)
ROE : Return of equity (Lợi nhuận trên vốn chủ sỡ hữu)
SHDN : Sở hữu doanh nghiệp
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ
- -
NỘI DUNG TRANG Hình 3.1 : Quy trình nghiên cứu của luận văn 33
Hình 3.2 : Một số dạng đồ thị có tự tương quan 41
Hình 3.3 : Ước lượng với ma trận Newey – West trong Eviews 7.0 44
Bảng 4.1 : Kết quả thống kê mô tả các biến mô hình 51
Biểu đồ 4.1 : Biểu đồ tỷ lệ CCV trên TTS trung bình của các NHNC (2009-2013) 53
Biểu đồ 4.2 : Biểu đồ ROA, ROE trung bình của các NHNC (2009-2013) 54
Biểu đồ 4.3 : Biểu đồ quy mô TTS trung bình của cácNHNC (2009-2013) 55
Biểu đồ 4.4 : Biểu đồ TĐTT TTS trung bình của các NHNC (2009-2013) 56
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
- -
NỘI DUNG TRANG Bảng 2.1: Kết quả nghiên cứu của Khalaf Taani 27
Bảng 2.2: KQNC của TS Trần Viết Hoàng và Ths Trần Hùng Sơn (2008) 28
Bảng 2.3: Kết quả nghiên cứu của Lê Thị Kim Thư 31
Bảng 3.1: Các biến giải thích trình bày trong nghiên cứu 37
Bảng 3.2: Kiểm định Durbin-Watson d : Các qui tắc kinh nghiệm 44
Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả các biến mô hình 51
Bảng 4.2: Kết quả tương quan giữa các biến của mô hình 56
Bảng 4.3: Kết quả hồi quy với biến phụ thuộc ROA 57
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy với biến phụ thuộc ROE 58
Bảng 4.5 : Kết quả hồi quy với BPT là ROA sử dụng PP Durbin – Watson 59
Bảng 4.6 : Kết quả hồi quy với BPT là ROE sử dụng PP Durbin – Watson 60
Bảng 4.7: Tổng hợp giá trị P-Value của hồi quy với BPT là từng biến giải thích 61
Bảng 4.8 : Kết quả hồi quy với BPT là ROA sau loại biến TD 62
Bảng 4.9 : Kết quả hồi quy với BPT là ROE sau loại biến TD 62
Bảng 4.10: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ROA 63
Bảng 4.11: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ROE 66
Bảng 4.12: Tổng hợp kết quả nghiên cứu 68
Trang 8CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang ảnh hưởng đến các quốc gia trên thế giới và làm thay đổi bộ mặt kinh tế thế giới, đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam Trong nền kinh tế hiện đại nhất là nền kinh tế thị trường sự tồn tại và phát triển của ngân hàng là hết sức cần thiết, điều này xuất phát từ
sự tồn tại của nền kinh tế sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường, các nhà sản xuất kinh doanh phải bám sát thị trường để chuẩn bị đầy đủ các yếu tố, sẵn sàng đáp ứng theo yêu cầu của thị trường Vì vậy, ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng, ví như quả tim đối với cơ thể sống của con người, bất kỳ một sự sai sót nào nếu không có biện pháp xử lý kịp thời cũng có thể gây biết bao tổn thất cho ngân hàng, làm mất lòng tin của khách hàng, đánh mất thị phần ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và sự tồn tại của ngân hàng Vì vậy nhà quản trị đã tìm cách để sử dụng và các phương tiện tài chính của mình để đạt hiệu quả cao nhất Để làm được điều đó, phải kịp thời nhận biết nhựng chỗ yếu cũng như thế mạnh của mình trên thương trường luôn cạnh tranh và đầy biến động
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng, hệ thống ngân hàng đang đứng trước tình thế cạnh tranh khốc liệt, từ đó uộc hệ thống ngân hàng phải có sự chuẩn bị về nội lực, chiến lược và tự hoàn thiện mình hơn Sự tăng trưởng trong thời gian qua, hệ thống ngân hàng đang dần bộc lộ những hạn chế như chất lượng tài sản kém, khó khăn về thanh khoản, yếu kém về quản trị và khả năng quản lý rủi ro Vì vậy Đề tài tuy không mới nhưng đề tài đáp ứng được vấn đề thực tiễn, có tính ứng dụng và thời sự cao
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay vấn đề chủ động lựa chọn một cơ cấu tài trợ hợp lý giữa vốn chủ sở hữu và vốn nợ nhằm mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp càng trở nên cấp thiết Song song với vấn đề đó thì việc đánh giá được tác động của cơ cấu vốn đến kết quả hoạt động kinh doanh là một vấn
đề rất cần được quan tâm Mỗi ngành đều có những đặc thù riêng, cấu trúc vốn đặc trưng riêng Vì vậy, nghiên cứu sự tác động của cơ cấu vốn tới kết quả hoạt động của ngành ngân hàng là thật sự cần thiết
Trang 9Gần đây, quá trình tái cấu trúc nền kinh tế mà tái cấu trúc hệ thống tài chính là trọng tâm và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là điểm nhấn đang thu hút được nhiều sự quan tâm đặc biệt ở Việt Nam Vì vậy, việc đánh giá được tác động của cơ cấu vốn đến kết quả hoạt động của một ngân hàng đang là một vấn đề cần được nghiên cứu để
có những cái nhìn khách quan và hợp lý về tình hình tài chính của các Ngân hàng hiện
nay Chính vì vậy mà tác giả mạnh dạn chọn đề tài: “Đánh giá tác động của cơ cấu vốn đến kết quả hoạt động của Ngân hàng thương mại Việt Nam ” làm luận văn cao
học của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá kết quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam Đồng thời xác định tác động của cơ cấu vốn tới kết quả hoạt động mà cụ thể là tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) của các ngân hàng thương mại Việt Nam Bên cạnh đó, từ kết quả nghiên cứu đề xuất một số gợi ý để nâng cao kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cần trả lời các câu hỏi sau:
Kết quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn
2009 đến 2013 như thế nào?
Chiều tác động của cơ cấu vốn lên kết quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Mức độ ảnh tác động của cơ cấu vốn lên kết quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại cụ thể như thế nào?
Ý nghĩa của việc nhận ra chiều và mức độ tác động của cơ cấu vốn tới kết quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam?
1.4 Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu:
Các Ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động ở Việt Nam trong giai đoạn từ
năm 2009 đến năm 2013
Phạm vi nghiên cứu:
Trang 10Phạm vi nghiên cứu của đề tài này chỉ giới hạn nghiên cứu tại Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài lấy mẫu gồm các dữ liệu từ các áo cáo tài chính được các Ngân hàng thương mại công bố trên website của mình hoặc các website của các sở giao dịch chứng khoán
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn có thể áp dụng vào các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam, để nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh thông qua việc hoạch định và huy động những nguồn vốn có lợi nhất cho mình
1.7 Bố cục của nghiên cứu
Bài nghiên cứu gồm 5 chương, chi tiết như sau:
1 Viết tắt của từ Econometrics Views
Trang 11 Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Chương 2: Khung lý thuyết và các nghiên cứu trước đây
Chương 3: Mô hình nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 12CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN
CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1 Tổng quan lý luận về cơ cấu vốn
2.1.1 Khái niệm cơ cấu vốn
Cơ cấu vốn (Capital Structure) là thuật ngữ đề cập đến quan hệ tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp Sự khác biệt giữa nợ và vốn chủ sở hữu được thể hiện trên nhiều khía cạnh như thời hạn thanh toán, trách nhiệm thanh toán, chi phí
sử dụng vốn và ảnh hưởng đến thuế thu nhập doanh nghiệp Bên cạnh đó, cấu trúc vốn
là quan hệ về tỷ trọng của từng loại vốn dài hạn bao gồm nợ, vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp
Cấu trúc vốn tối ưu là hỗn hợp nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần thường cho phép tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp Với cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn ình quân được tối thiểu hóa, tổng giá trị các chứng khoán của doanh nghiệp được tối đa hóa Do đó, cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn tối thiểu được gọi là cấu trúc vốn tối ưu
Rủi ro tài chính của một doanh nghiệp là tính khả biến tăng thêm của thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) với xác suất gia tăng của việc mất khả năng chi trả bắt nguồn
từ việc doanh nghiệp sử dụng các nguồn vốn có chi phí tài chính cố định, như là nợ và
cổ phần ưu đãi trong cấu trúc vốn của mình Việc sử dụng đòn ẩy tài chính đưa đến một gia tăng trong rủi ro cảm nhận được cho các nhà cung cấp vốn của doanh nghiệp
Để ù đắp rủi ro gia tăng này, lợi nhuận đòi hỏi sẽ cao hơn
Các thay đổi cấu trúc vốn thường chuyển các tín hiệu thông tin quan trọng về viễn cảnh tương lai của doanh nghiệp đến nhà đầu tư
2.1.2 Cơ cấu nguồn vốn tại NHTM
Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian, và là loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng Các NHTM muốn hoạt động một cách ình thường thì phải có vốn Vốn trong NHTM gồm nhiều loại khác nhau, mỗi loại có mỗi đặc điểm và phương thức sử dụng cũng như iện pháp quản lý khác nhau
Trang 13Nguồn vốn của NHTM phần lớn do thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong sản suất kinh doanh được gửi vào Ngân hàng với các mục đích khác nhau Ngân hàng đóng vai trò tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển đến các nhà đầu
tư có nhu cầu về vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển Ngân hàng và các hoạt động về nguồn vốn quyết định trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của các Ngân hàng thương mại Nguồn vốn đóng vai trò chi phối và quyết định đối với các hoạt động của các NHTM trong việc thực hiện các chức năng của mình
2.1.2.1 Vốn tự có (Capital)
Theo quy định của Luật Các Tổ Chức Tín Dụng, vốn tự có được định nghĩa ao gồm “giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ, một số tài sản “Nợ” khác của tổ chức tín dụng theo quy định của Ngân Hàng Nhà Nước,” và vốn tự có là căn cứ để tính toán các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng
Vốn tự có còn được gọi là vốn chủ sở hữu, là vốn riêng của một NHTM Đây là
số vốn an đầu và được gia tăng không ngừng cùng với quá trình phát triển của ngân hàng thương mại Về phương diện quản lý, vốn tự có là số vốn tối thiểu, bắt buộc một NHTM phải có để được cấp giấy phép kinh doanh, đồng thời là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác
Vốn thuộc sở hữu của NHTM chiếm một tỷ trọng nhỏ trong các khoản mục tạo nên nguồn vốn (thường chỉ chiếm 5% -10% trong tổng nguồn vốn) nhưng nó có vai trò cực kỳ quan trọng đối với các Ngân hàng Do tính chất thường xuyên ổn định nên Ngân hàng có thể sử dụng nó vào các mục đích khác nhau như trang ị cơ sở vật chất
kỹ thuật, tạo tài sản cố định phục vụ cho bản thân Ngân hàng, có thể sử dụng cho vay, đặc biệt là đầu tư góp vốn liên doanh Mặt khác với chức năng ảo vệ, vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng được coi như là tài sản đảm bảo tạo lòng tin với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán cho khách hàng khi Ngân hàng hoạt động thua lỗ Hơn nữa nó
là một căn cứ quyết định đối với qui mô và khối lượng vốn huy động cũng như hoạt động cho vay và bảo lãnh của Ngân hàng Quy mô và sự tăng trưởng vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng sẽ quyết định năng lực phát triển của NHTM Khi đánh giá về qui mô của một NHTM thì tiêu chí đầu tiên được đề cập là vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng
đó
Trang 14- Ngân hàng quốc doanh: Vốn điều lệ được hình thành từ NSNN cấp
- Ngân hàng cổ phần: Vốn điều lệ được hình thành từ vốn góp của các cổ đông thông qua việc mua các cổ phiếu
- Ngân hàng liên doanh: Vốn điều lệ được hình thành từ vốn góp của các ên liên doanh
- Ngân hàng nước ngoài: Vốn điều lệ được hình thành từ 100% vốn nước ngoài
- Ngân hàng tư nhân: Vốn điều lệ được hình thành từ vốn của chủ Ngân hàng
Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Được trích từ lợi nhuận ròng hằng năm với mục đích tăng cường vốn tự có an đầu
Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ: dùng để đầu tư mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh và đổi mới công nghệ trang thiết bị, điều kiện làm việc của tổ chức tín dụng
Lợi nhuận không chia: lợi nhuận ròng còn lại sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định, đã được tổ chức kiểm toán xác định Đối với các ngân hàng cổ phần còn phải được Đại hội cổ đông thông qua
Thặng dư vốn cổ phần: là khoản chênh lệch giữa mệnh giá cổ phiếu với giá thực tế phát hành ((trừ phần dùng mua cổ phiếu quỹ)
2
Phân loại vốn tự có của NHTM căn cứ heo Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 của NHNN
3 Theo mục 2.1 Điều 5, Thông tư 13 của NHNN VN ngày 20/5/2010
4
Vốn pháp định là vốn tối thiểu theo yêu cầu của luật pháp để thành lập Ngân hàng
Trang 15- Có thời hạn 5 năm trước khi chuyển đổi thành cổ phiếu thường
- Không được đảm ảo ằng tài sản của NHTM
- NHTM không được mua lại, trừ phi được NHNN cho phép ằng văn ản
- Trái chủ không được ưu tiên khi NHTM ị thanh lý
Các công cụ nợ khác thỏa mãn điều kiện:
- Chủ nợ là thứ cấp so với chủ nợ khác
- Có kỳ hạn an đầu tối thiểu 10 năm
- Không được ưu tiên thanh toán
- Không được đảm ảo ằng TS của ngân hàng
Dự phòng chung, tối đa bằng 1,25% tổng tài sản Có rủi ro Được trích lập theo
tỷ lệ 0,75% trên dư nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 (nhóm 1 dư nợ đủ tiêu chuẩn, nhóm 2 nợ cần chú ý, nhóm 3 nợ dưới chuẩn, nhóm 4 nợ nghi ngờ), riêng nhóm 5
nợ có khả năng mất vốn không trích lập dự phòng chung
2.1.2.2 Vốn huy động
Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân hàng Nó là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các các nhân trong xã hội Bản chất của nguồn vốn huy động này là Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu đối với nguồn vốn này và phải có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi khi chủ sở hữu có nhu cầu rút vốn Nguồn vốn này luôn biến động
5 Mục 3.1 khoản 3 điều 5, Thông tư 13 của NHNN VN ngày 20/5/2010
Trang 16nên ngân hàng không được sử dụng hết số vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán
Là nguồn vốn mà Ngân hàng huy động thông qua quá trình nhận tiền gửi, thanh toán hộ, các khoản cho vay tạo tiền gửi và các nghịệp vụ kinh doanh khác Tiền gửi chiếm một tỷ trọng khá lớn trong nguồn vốn huy động của các Ngân hàng thương mại Các hình thức nhận tiền gửi của các Ngân hàng thương mại rất đa dạng, tuỳ thuộc vào các tiêu thức khác nhau mà được chia thành từng loại khác nhau như sau:
Theo tiêu thức nguồn hình thành
Các khoản ký gửi của các cá nhân và tổ chức: Là các khoản tiền mà cá nhân và tổ chức trực tiếp chuyển vào Ngân hàng: Cá nhân gửi tiền tết kiệm, doanh nghiệp nộp tiền án hàng…Đây là các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế được Ngân hàng tập trung lại Các cá nhân và tổ chức thường gửi tiền với kỳ hạn và mục đích khác nhau, các cá nhân thường gửi tiền để hưởng lãi còn các tổ chức doanh nghiệp thường là để sử dụng các dịch vụ thanh toán của Ngân hàng
Tín dụng tạo tiền gửi: Ít người biết được rằng đây là một hình thức nhận tiền gửi Khi Ngân hàng cho khách hàng vay vốn thì Ngân hàng chuyển số tiền cho vay của khách hàng vào tài khoản tiền gửi của khách hàng ngay trong Ngân hàng Khi khách hàng chưa có nhu cầu rút tiền ngay lập thì Ngân hàng có thể sử dụng số tiền đó mặc dù với thời hạn rất ngắn
Trang 17trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng Với đặc tính của nguồn tiền này là luôn biến động cho nên Ngân hàng chỉ được sử dụng một tỷ lệ phần trăm(%) nhất định của lượng tiền gửi không kỳ hạn nhận được nhất định tuỳ thuộc vào
dự tính của Ngân hàng về sự ổn định tương đối của lượng tiền huy động được trong thời gian tới Quản lý tiền gửi không kỳ hạn là một phần quan trọng của quả lý dự trữ của Ngân hàng
Tiền gửi có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi có sự thõa thuận giữa người gửi tiền và Ngân hàng về số lượng, kỳ hạn và lãi suất của khoản tiền gửi dó Do có sự xác định rõ ràng về kỳ hạn nên Ngân hàng có thể sử dụng để cho vay với thời hạn tương ứng hoặc
có thể chuyển đổi một phần tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn Do đặc tính của khoản tiền gửi này là có độ ổn định cao nên Ngân hàng chủ động trong việc sử dụng nguồn tiền đó để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình, vì vậy Ngân hàng trả lãi cho người gửi tiền cao hơn lãi suất của loại tiền gửi không kỳ hạn và tiền giửi thanh toán, Ngân hàng đưa ra các kỳ hạn khác nhau như 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, Mức lãi suất tỷ lệ thuận với kỳ hạn, nếu kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao Các khách hàng gửi tiền theo loại này thì khi đến hạn sẽ được hoàn trả cả gốc và lãi theo qui định, nếu chưa đến hạn mà khách hàng gửi tiền rút tiền ra trước thì khách hàng chỉ được hưởng lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn
Theo tiêu thức loại tiền
Tiền gửi nội tệ: Đây là khoản tiền gửi cơ ản mà các Ngân hàng thương mại nhận được, nguồn vốn nội tệ là nguồn vốn chủ yếu đối với các Ngân hàng, nó phụ thuộc vào mức thu nhập trong nước và lãi suất huy động trong từng thời kỳ, loại tiền này thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng lượng tiết kiệm
Tiền gửi ngoại tệ: Bên cạnh nhận tiền gửi nội tệ, Ngân hàng còn nhận tiền gửi dưới dạng ngoại tệ đặc biệt là các ngoại tệ mạnh như USD, FRF, GBP, DEM… Những ngoại tệ này cũng rất cần thiết trong hoạt động của Ngân hàng như kinh doanh ngoại tệ trong nước, trong quan hệ tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế…các Ngân hàng
có xu hướng mở rộng kinh doanh đối ngoại thường có nguồn vốn ngoại tệ lớn Nhận tiền gửi bằng ngoại tệ là một phương thức đa dạng hoá về phương thức huy động vốn của các Ngân hàng thương mại
Trang 18 Theo tiêu thức mục đích sử dụng
Tiền gửi tiết kiệm: Phần lớn là các khoản ký gửi của cá nhân với mục đích là tìm kiếm một khoản thu nhập với số tiền nhàn rỗi của mình Thông thường tiền gửi có khối lượng nhỏ, thời hạn ngắn Những người gửi tiền tiết kiệm là những đối tượng giảm chi tiêu trong hiện tại với kỳ vọng sẽ tăng được chi tiêu trong tương lai Phương thức gửi tiền tiết kiệm chủ yếu là nộp tiền trực tiếp vào Ngân hàng hoặc gián tiếp chuyển thu nhập dưới hình thức chuyển qua tài khoản
Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Loại hình này khá phổ biến ở các nước phát triển, thường sử dụng với những hộ có thu nhập thấp và trung bình Những người để dành một khoản tiền gửi vào Ngân hàng (thông thường là các khoản tiền đều đặn hằng năm) với ý định tích luỹ tiền cho một mục đích nhất định trong tương lai như xây dựng nhà cửa, mua ôtô… và cũng được hưởng lãi trên số tiền gửi như các loại tiết kiệm khác Khi có nhu cầu sử dụng tiền vào mục đích nói trên, nếu số dư của khoản tiết kiệm đó chưa đủ thì Ngân hàng có thể hỗ trợ thêm một phần dưới hình thức cho vay với một lãi suất hợp lý đảm bảo quyền lợi cho cả hai ên Đây là một hình thức huy động vốn trung và dài hạn khá hiệu quả, có tính chất ổn định, đồng thời có tác dụng tích cực trong việc hỗ trợ cho người dân về việc mua sắm nhà cửa, phương tiện
Tiền gửi thanh toán: Là các khoản ký gửi của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không nhằm mục đích tìm kiếm thêm thu nhập mà để được hưởng các dịch vụ thanh toán của Ngân hàng, thông thường các khoản tiền gửi thanh toán có số lượng lớn Mặt khác một số Ngân hàng thường ưu tiên hơn đối với các doanh nghiệp
mở tài khoản tại Ngân hàng và phải có số dư nhất định trên tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Các khoản tiền gửi này Ngân hàng phải chịu chi phí thấp, phải quản lý chính xác khâu dự trữ nhưng lại được sử dụng một khoản tiền lớn phục vụ cho các hoạt động của mình
Các khoản tiền gửi thanh toán một mặt làm phát triển hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt qua hệ thống Ngân hàng, tiết kiệm chi phí trong lưu thông, mặt khác kiểm soát được hoạt động của các doanh nghiệp Khi thực hiện chức năng là trung gian thanh toán cho nền kinh tế, Ngân hàng tạo được một nguồn vốn từ hoạt động thanh toán: vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài khoản tiền gửi chờ thanh toán… Các khoản tiền tạm thời đang nằm ở tài khoản của Ngân hàng chờ sử dụng nên được
Trang 19coi là nhàn rỗi Ngân hàng thương mại cũng thu hút được một lượng vốn đáng kể trong quá trình thu hộ hoặc chi hộ khách hàng, làm đại lý cho các tổ chức tín dụng khác, nhận vốn uỷ thác của các tổ chức trong và ngoài nước… Do tiền được giải ngân theo tiến độ công việc nên Ngân hàng có thể sử dụng tạm thời các khoản tiền đó vào kinh doanh
2.1.2.3 Nguồn vốn đi vay
Tiền gửi mà Ngân hàng nhận được là nguồn vốn mà Ngân hàng có được một cách thụ động Đây là khoản vốn nhằm chống đỡ những khó khăn trong thanh toán hoặc ù đắp những thiếu hụt về vốn một cách tạm thời của NHTM Nguồn vốn mà Ngân hàng chủ động đi vay với mục đích, thời hạn vay và đối tượng vay khác nhau được gọi là nguồn vốn vay Đó là quan hệ vay mượn giữa NHTM và NHNN, giữa các NHTM với nhau, giữa NHTM với các tổ chức tín dụng khác trong nước hoặc nước ngoài nhằm bổ sung vào vốn hoạt động khi Ngân hàng sử dụng hết vốn khả dụng Vậy các Ngân hàng đi vay khi nào?
Thứ nhất: Vay để đáp ứng nhu cầu khả năng thanh toán của Ngân hàng Vì hoạt động chủ yếu và thường xuyên của Ngân hàng là nhận tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng khi khách hàng có nhu cầu rút tiền để sử dụng Do vậy có những trường hợp số tiền dự trữ và số tiền mà Ngân hàng nhận được trước đó trong ngày ít hơn số tiền mà khách hàng rút thì Ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán tiền cho khách hàng nghĩa là Ngân hàng thiếu tiền trả cho khách hàng Vậy Ngân hàng phải đi vay
Thứ hai: Vay hộ cho khách hàng Vì hoạt động cơ ản của Ngân hàng là tài trợ cho nền kinh tế nên khi khách hàng có nhu cầu vay vốn Ngân hàng và đảm bảo các yêu cầu do Ngân hàng đặt ra thì Ngân hàng sẽ cho vay Tuy nhiên với những khách hàng vay với khối lượng lớn, thời hạn dài mà Ngân hàng lại không muốn dùng toàn bộ
số tiền của mình có để đầu tư cho dự án này (vì rủi ro đem lại có thể rất cao) nhưng Ngân hàng cũng không muốn mất khách hàng nên họ thoả thuận với nhau qua đó Ngân hàng thay mặt khách hàng phát hành trái phiếu để thu gom tiền trong nền kinh tế
để phục vụ vốn cho dự án Người ta chỉ phát hành trái phiếu vừa đủ số tiền mà dự án cần dùng và trong một thời hạn bằng thời gian tồn tại của dự án
Trang 20Thứ a: Vay để cho vay Hầu như toàn ộ số tiền trong lưu thông đã trở thành tiền gửi tại các Ngân hàng nghĩa là các Ngân hàng chia nhau nắm giữ lượng tiền trong lưu thông Để tăng lượng tiền gửi của mình các Ngân hàng thường tăng lãi suất để thu hút các khoản tiền gửi ở các Ngân hàng khác chảy về Nhưng thực tế khi một Ngân hàng tăng lãi suất tiền gửi, để tránh sự chảy vốn các Ngân hàng khác cũng đồng loạt tăng lãi suất lên làm chi phí Ngân hàng tăng lên mà lượng tiền gửi lại thay đổi không đáng kể Do vậy khi thiếu vốn để tài trợ cho các dự án mà Ngân hàng cho là có hiệu quả thì Ngân hàng sẽ thực hiện chính sách đi vay Do tính chất hoạt động không đồng đều giữa các Ngân hàng về huy động vốn và sử dụng vốn vì vậy những Ngân hàng thiếu vốn có thể đi vay ở những Ngân hàng còn thừa vốn chưa sử dụng hết hoặc đi vay vốn từ NHTW hoặc các định chế tài chính khác Mặt khác do Ngân hàng dự đoán được sự gia tăng của nhu cầu tín dụng trong tương lai mà nguồn vốn huy động chưa thể đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn trong thời kỳ tới thì Ngân hàng thực hiện đi vay vốn
để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng
Thứ tư: Vay để giảm chi phí nguồn tiền cho giai đoạn sau Vào cuối kỳ hạch toán, nếu chủ Ngân hàng dự tính được thu nhập của kỳ đó lớn nghĩa là kỳ đó họ phải chịu thuế nhiều Nếu họ cũng dự tính được kỳ sau họ sẽ có những khoản chi phí lớn thì
họ có thể phát hành kỳ phiếu ngắn hạn trả lãi trước nhằm tăng chi phí cho kỳ này và giảm chi phí cho kỳ sau
Như vậy Ngân hàng sẽ đi vay với các lý do trên, với các mục đích vay khác nhau Ngân hàng sẽ áp dụng các hình thức vay khác nhau
Kỳ phiếu có mục đích
Khi các Ngân hàng muốn có một khoản tài chính để tài trợ cho các dự án có qui
mô lớn, thời hạn dài hoặc tăng qui mô hoạt động của các Ngân hàng hoặc liên doanh với các tổ chức khác mà nguồn vốn vốn hiện tại chưa đáp ứng được, Ngân hàng có thể phát hành kỳ phiếu để tạo nguồn vốn trung và dài hạn để đầu tư cho các hoạt động này Có thể hiểu kỳ phiếu là một chứng chỉ nhận nợ của Ngân hàng có mục đích kỳ hạn rõ ràng Kỳ phiếu của Ngân hàng phát hành để huy động vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế để tạo lập nguồn vốn trung và dài hạn để tài trợ cho các hoạt động của mình Khi Ngân hàng muốn giảm chi phí cho kỳ sau thì Ngân hàng phát hành kỳ phiếu ngắn hạn trả trước
Trang 21 Trái phiếu
Trái phiếu Ngân hàng thực chất là một giấy nhận nợ của Ngân hàng với khách hàng Phát hành trái phiếu Ngân hàng nhằm tập trung vốn trung và dài hạn để tài trợ cho các dự án lớn theo yêu cầu phát triển trên địa bàn hoặc tập trung vốn tài trợ cho các dự án được Chính phủ chỉ định Ngân hàng phát hành trái phiếu chủ yếu là để vay
hộ khách hàng Trái phiếu khác kỳ phiếu có mục đích ở chỗ kỳ phiếu có mục đích thường được sử dụng linh hoạt hơn như kỳ phiếu có thể được phát hành ở từng chi nhánh trên cơ sở được sự chấp thuận của NHTW với khung lãi suất và thời hạn phát hành riêng biệt Còn trái phiếu thường được phát hành với qui mô lớn hơn và đồng loạt trong cả hệ thống Ngân hàng
Như vậy trái phiếu và kỳ phiếu có mục đích đều được Ngân hàng phát hành với mục đích huy động vốn trung và dài hạn và là khoản vay của các Ngân hàng trên thị trường
Vốn vay từ các TCTD khác trên thị trường liên NH và vốn vay từ NHTW Tuỳ theo tình hình hoạt động của Ngân hàng trong từng thời kỳ và lý do của các khoản vay của mình mà Ngân hàng có những hình thức vay phù hợp Với các hình thức vay như trên Ngân hàng có thể mất rất nhiều thời gian Đối với mục đích sử dụng ngay như để đảm bảo khả năng thanh khoản cho Ngân hàng thì hai hình thức vay vốn trên không phù hợp Ngân hàng có thể sử dụng phương thức khác như vay vốn ở các tổ chức tín dụng khác hoặc vay ở NHTW Thực tế cho thấy hoạt động huy động vốn và
sử dụng vốn thì không đồng đều giữa các Ngân hàng, ở những thời điểm có những Ngân hàng thiếu vốn nhưng lại có những Ngân hàng tạm thời đang thừa vốn thì các Ngân hàng này có thể vay mượn lẫn nhau vì mục đích của cả đôi ên Hơn nữa các Ngân hàng đều làm trung gian thanh toán cho nền kinh tế nên các Ngân hàng đều mở tài khoản tiền gửi lẫn nhau và trong những trường hợp Ngân hàng nào đó thiếu vốn để thanh toán cho khách hàng của mình thì Ngân hàng kia có thể cho vay để Ngân hàng
đó đảm bảo khả năng thanh toán Trong những trường hợp cấp bách mà Ngân hàng không thể vay được ở các Ngân hàng khác thì có thể vay ở NHTW vì NHTW là người cho vay cuối cùng đối với các NHTM Tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn mà NHTW chia thành các loại sau:
Trang 22 Vốn vay ngắn hạn ổ sung: Là hình thức mà NHTM xin vay vốn ổ sung nguồn vốn ngắn hạn của mình Trong trường hợp này các NHTM chỉ được vay khi còn hạn mức tín dụng theo qui định của NHTW
Vốn vay để đảm ảo khả năng chi trả: Các NHTM vay vốn của NHTW để ù đắp thiếu hụt tạm thời trong thanh toán hoặc thiếu hụt trong dự trữ (thường là vay với thời hạn ngắn)
Tái cấp vốn: NHTW cho các NHTM vay vốn trên cơ sở các chứng từ có giá Các chứng từ này phải hợp lệ, hợp pháp và an toàn Tái cấp vốn gồm có các hình thức: Cho vay ằng chiết khấu hoặc tái chiết khấu giấy tờ có giá và cho vay có
ảo đảm
Tuy nhiên việc NHTM vay vốn ở NHTW phụ thuộc vào chính sách tiền tệ quốc gia trong từng thời kỳ mà NHTW có thể cho vay với khối lượng, thời hạn, lãi suất, hạn mức… khác nhau để thực hiện chính sách tiền tệ của mình
Như vậy với đặc điểm tiện lợi của kỳ phiếu, trái phiếu hoặc vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác hoặc vay ở NHTW là tuỳ theo mục đích sử dụng của các khoản vay cùng với tính cân đối giữa nguồn vốn và cho vay tại những thời kỳ nhất định Với một tỷ lệ lãi suất đủ sức hấp dẫn, Ngân hàng có thể chủ động huy động được lượng vốn cần thiết trong thời gian ngắn Vì vậy các hoạt động về nguồn vốn ngày nay được gọi là nguồn vốn chủ động thu gom của các Ngân hàng và hoạt động quản lý dự trữ Hơn nữa việc phát hành kỳ phiếu và trái phiếu ngoài mục đích huy động còn có mục đích khác như kiềm chế lạm phát, góp phần hình thành và phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán - một kênh huy động vốn trung và dài hạn hữu hiệu của nền kinh
tế
2.1.2.4 Nguồn vốn khác
Điều chuyển vốn
Ngày nay hệ thống NHTM được tổ chức theo mô hình tổng công ty và các công
ty con gồm Ngân hàng mẹ và các hệ thống các Ngân hàng Chi nhánh trực thuộc Có một phương thức huy động vốn rất hiệu quả hiện nay là chu chuyển vốn điều hoà Do tình hình hoạt động của các chi nhánh tại các địa àn khác nhau là khác hau (do ảnh hưởng của điều kiện phát triển kinh tế của từng vùng, do phong tục tập quán…) Cho
Trang 23nên những Chi nhánh Ngân hàng mà hoạt động sử dụng vốn vượt quá khả năng huy động vốn thì đầu kỳ lập kế hoạch lên Ngân hàng mẹ và xin được nhận được một lượng vốn điều hoà cần thiết cho hoạt động của mình Còn những Ngân hàng mà khả năng huy động vốn vượt qúa khả năng sử dụng vốn thì đầu kỳ cũng lập kế hoạch sẽ điều chuyển một lượng vốn về Ngân hàng mẹ để được hưởng lãi suất điều hoà
Như vậy Ngân hàng mẹ chịu trách nhiệm điều chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu của các chi nhánh trong cùng hệ thống Chi phí nhận nguồn vốn điều hoà này thấp hơn chi phí nguồn vốn huy động nhưng các Ngân hàng chỉ được nhận nguồn vốn này sau khi đã lập kế hoạch về lượng vốn huy động được trong kỳ sau
Nguồn vốn uỷ thác đầu tư
Một số Ngân hàng còn thực hiện nghiệp vụ Ngân hàng đại lý Khi đó trong nguồn vốn của Ngân hàng còn có thêm khoản mục vốn uỷ thác đầu tư Nguồn vốn này được hình thành chủ yếu là do các tổ chức tài chính trong nước hoặc nước ngoài uỷ thác cho Ngân hàng một khoản tiền để Ngân hàng thực hiện cho vay đối với các dự án của mình, cũng có thể là các khoản vay của Chính phủ được uỷ thác
Trên đây là các nguồn hình thành nên nguồn vốn của các NHTM, nhìn qua ta thấy trong cơ cấu tổng nguồn vốn thì vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất (trên 90%), nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng Vì vậy từng Ngân hàng phải có những chiến lược huy động vốn của riêng mình trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế của từng Ngân hàng và của môi trường kinh doanh để không ngừng nâng cao thị phần huy động nhằm phục cụ tốt nhất cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
2.1.3 Vai trò của các nguồn vốn đối với các ngân hàng thương mại
Vai trò của vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sỡ hữu của một ngân hàng thương mại đóng vai trò sống còn trong việc duy trì các hoạt động thường nhật và đảm ảo cho khả năng phát triển lâu dài của ngân hàng
Thứ nhất: Vốn đóng vai trò là tấm đệm giúp chống lại rủi ro phá sản vì vốn giúp trang trải những thua lỗ về tài chính và nghiệp vụ cho tới khi an quản lý ngân hàng có
Trang 24thể tập trung giải quyết các vấn đề và đưa ngân hàng trở lại trạng thái hoạt động sinh lời
Thứ hai: Vốn là điều kiện ắt uộc để ngân hàng có được giấy phép hoạt động trước khi nó có thể huy động được những khoản tiền gửi đầu tiên Một ngân hàng mới thành lập luôn cần vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, máy móc thiết ị và thuê nhân viên trước khi chính thức hoạt động
Thứ a: Tạo niềm tin cho công chúng và là sự đảm ảo đối với chủ nợ (gồm cả người gửi tiền) về sứ mạnh tài chính của ngân hàng Ngân hàng cần phải đủ mạnh để
có thể đảm ảo với những người đi vay rằng ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu vốn của họ ngay cả khi nền kinh tế đang gặp khó khăn
Thứ tư: Vốn cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển của các hình thức dịch vụ mới, cho những chương trình, trang thiết ị mới Hầu hết các ngân hàng đề mở rộng và phát triển cơ sở vật chất so với lúc đầu và sự ổ sung vốn sẽ cho phép ngân hàng mở rộng trụ sở, xây dựng thêm những văn phòng chi nhánh để theo kịp sự phát triển của thị trường và tăng cường chất lượng phục vụ khách hàng
Vai trò của nguồn vốn huy động
Nguồn vốn và sử dụng vốn đó là hai quá trình hoạt động của Ngân hàng Công tác cân đối vốn của Ngân hàng là một chiến lược huy động vốn đúng đắn, phù hợp với
kế hoạch sử dụng vốn trong từng thời kỳ sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa và tăng trưởng nguồn vốn kinh doanh Sự hài hoà giữa huy động vốn và sử dụng vốn chính là công tác cân đối vốn của Ngân hàng Công tác cân đối vốn là hết sức quan trọng và cần thiết đối với ất kỳ ngân hàng nào
Đó là một iện pháp nghiệp vụ, là một công cụ quản lý của nhà lãnh đạo ngân hàng, thông qua ảng cân đối đa lập, các cán ộ ngân hàng xem xét, phân tích cơ cấu, tỷ trọng các nguồn và từng khoản sử dụng để dự đoán nhu cầu vốn iến động trong tương lai, từ đó có chính sách huy động vốn thích hợp
Cũng như các ngành nghề kinh doanh khác, để cho hoạt động kinh doanh được diễn ra thường xuyên và liên tục thì cần phải có tư liệu sản xuất Ngân hàng thương mại là một Doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ trong đó tiền là nguyên liệu chính trong việc tạo ra sản phẩm Ngân hàng, là một thứ nguyên liệu độc tôn không thể thay thế Hoạt động tìm kiếm tư liệu sản xuất của Ngân hàng là hoạt động huy động vốn Do
Trang 25đặc trưng của nguồn vốn huy động là luôn có một lượng tồn khoản rất lớn và Ngân hàng có thể sử dụng lượng tồn khoản này để phục vụ cho qúa trình hoạt động kinh doanh của mình Nên tình hình hoạt động của Ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào tình hình huy động vốn của chính Ngân hàng đó
Các nguồn vốn huy động được sẽ quyết định quy mô cũng như định hướng hoạt động của ngân hàng Nếu nguồn vốn được coi là yếu tố đầu vào trong quá trình kinh doanh của một NHTM thì nguồn vốn huy động được coi là yếu tố đầu vào thường xuyên, chủ yếu nhất của ngân hàng Ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, đầu
tư chủ yếu dựa vào nguồn này
Nguồn vốn huy động có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM Cụ thể, nếu ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào với chi phí thấp nó
có thể mở rộng được tín dụng đầu tư và thu được lợi nhuận cao Ngược lại, với quy mô hạn chế và chi phí cao thì ngân hàng có thể gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh của mình Chi phí huy động vốn của ngân hàng liên quan chặt chẽ với lãi suất tiền gửi các loại, lãi suất tiền gửi tiết kiệm các loại và lãi suất các công cụ nợ do ngân hàng phát hành
Nguồn vốn huy động không những giúp cho ngân hàng ù đắp được thiếu hụt trong thanh toán, tăng nguồn vốn trong kinh doanh mà thông qua huy động vốn, ngân hàng nắm ắt được năng lực tài chính của khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng Qua đó, ngân hàng có căn cứ để xác định mức vốn đầu tư cho vay đối với những khách hàng đó hoặc có thể phát hiện kịp thời các trường hợp tham ô, trốn thuế, lừa đảo của các doanh nghiệp làm ăn không chính đáng Từ đó có iện pháp ngăn chặn và xử
lý kịp thời
Cơ cấu nguồn vốn cũng ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu cho vay của NHTM Vốn
tự có của ngân hàng chỉ phát sinh khi nhu cầu thanh toán tín dụng cấp ách còn ngân hàng cho vay chủ yếu ằng vốn huy động được Nếu một ngân hàng huy động được vốn trung và dài hạn thì có thể mở rộng nghiệp vụ tín dụng đầu tư dài hạn Nhưng hiện nay việc huy động vốn trung và dài hạn chưa đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế nên một ngân hàng có thể dùng vốn hoạt động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn nhưng không được vượt quá một tỷ lệ nhất định vì điều đó sẽ dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán của ngân hàng
Trang 26Bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay hay nguồn vốn ngân hàng huy động được lại là nguồn để các doanh nghiệp khác đi vay nên công tác huy động vốn càng có
ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Do vậy, công tác huy động vốn là một mảng hoạt động lớn của các NHTM và nó quyết định rất lớn đến thành công hay thất ại trong kinh doanh của ngân hàng Thông qua nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng thương mại có thể đo lường được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng Từ đó ngân hàng thương mại có iện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động huy động vốn để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng
Nhận thức được vai trò của nguồn vốn trong hoạt động của NHTM, nên từng Ngân hàng phải hoạch định được chiến lược huy động vốn cho đơn vị mình nhằm chủ động tạo lập được nguồn vốn ổn định và không ngừng tăng trưởng để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình- Đó là yếu tố đầu tiên quyết định đến hiệu quả hoạt động của Ngân hàng
2.1.4 Các loại rủi ro tác động nguồn vốn huy động
Để đánh giá rủi ro của các loại nguồn vốn tiền gửi và phi tiền gửi, một ngân hàng cần phải định lượng nhiều chiều hướng rủi ro khác nhau Rủi ro huy động vốn ao gồm các loại sau đây:
Rủi ro lãi suất: Quy mô và chi phí trả lãi của mỗi nguồn vốn tiềm năng tỏ ra nhạy cảm như thế nào đối với những thay đổi của lãi suất thị trường? Nói cách khác, nhu cầu của khách hàng trong mỗi loại nguồn vốn có độ co giãn đối với thay đổi lãi suất ra sao? Và mức chênh lệch lãi suất của ngân hàng tương quan giữa tỷ suất sinh lợi ình quân của tài sản sinh lợi và chi phí ình quân của nguồn vốn huy động trả lãi sẽ chịu tác động ra sao trước ất kỳ sự thay đổi lãi suất thị trường nào
Rủi ro thanh khoản: Liệu có khả năng xảy ra trường hợp nguồn vốn ất kỳ nào
đó sẽ ị giảm sút trầm trọng và đột ngột hay không? Khi đó ngân hàng phải đương đầu với sự sút giảm ngân quỹ to lớn và uộc phải tìm vay nguồn khác với chi phí cao Rủi ro sở hữu: Hỗn hợp các nguồn vốn như thế nào để có thể đóng góp nhiều nhất vào việc đạt được mức và sự ổn định của lợi nhuận thuần mà các cổ đông của ngân hàng mong muốn, cũng như hạn chế rủi ro kinh doanh của nó? Bởi vì nguồn vốn
đi vay làm tăng rủi ro tín dụng và kinh doanh của ngân hàng nên cần phải phân ổ kết
Trang 27cấu nguồn vốn đi vay và vốn sở hữu? Khi tỷ lệ vốn đi vay so với vốn sở hữu tăng lên thì liệu ngân hàng có ị những người gửi tiền và các nhà đầu tư xem lại rủi ro cao hơn hay không? Nếu có liệu định chế có ị ép phải huy động vốn với chi phí lãi phải đắt hơn hay không?
Nhà quản trị ngân hàng phải tính toán với những thách thức to lớn trong việc quản trị và kiểm soát các chiều hướng rủi ro huy động vốn khác nhau trên đây Như đã nêu trên, trước tiên là có một sự đánh đổi giữa rủi ro và chi phí huy động vốn - nguồn vốn có chi phí thấp có thể phải chịu rủi ro cao về lãi suất, thanh khoản hay là vốn sở hữu Như thế mỗi khi phải huy động vốn mới, nhà quản trị ngân hàng phải lựa chọn một vị trí, theo chỉ đạo của các đại cổ đông của ngân hàng tương quan ưu tiên giữa rủi
ro và lợi nhuận, trên ảng đối chiếu giữa rủi ro và chi phí theo từng cách phối hợp giữa các nguồn vốn
Hơn nữa, mức độ rủi ro của các nguồn vốn khác nhau thay đổi theo những chiều hướng rủi ro được xem xét Chẳng hạn như, loại sổ tiết kiệm dành cho những hộ gia đình thu nhập thấp và trung ình có thể tương đối ít nhạy cảm với những thay đổi lãi suất (độ co giãn thấp), nhưng cũng chính loại tiền gửi đó lại có thể gần với cao điểm rủi ro thanh khoản những thời vụ nhất định trong năm hoặc những giai đoạn nào đó trong chu kỳ kinh doanh (như thời kỳ kinh tế khủng hoảng) khi xảy ra việc rút tiền ồ ạt
vì loại tiền gửi này chịu ảnh hưởng ởi những đột iến và thất thường Chính vì vậy, thách thức chủ yếu đối với nhà quản trị ngân hàng trong việc chọn một hỗn hợp nguồn vốn ao gồm việc lựa chọn các mức độ rủi ro thích hợp ở mỗi chiều hướng rủi ro huy động vốn và điều chỉnh theo chi phi huy động vốn của các mức rủi ro đó
2.1.5 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa kết quả hữu ích mà doanh nghiệp thu được với chi phí ỏ ra để đạt được kết quả
đó Nó được iểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế đặc trưng, xác định ằng cách so sánh giữa chỉ tiêu phản ánh kết quả đạt được về kinh tế với các chỉ tiêu phản ánh chi phí sử dụng nguồn lực hoặc nguồn lực được huy động vào sản xuất nhằm đạt được mục tiêu kinh tế xã hội của doanh nghiệp
Đối với mọi loại hình doanh nghiệp nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng, hiệu quả kinh doanh không chỉ là thước đo chất lượng phản ánh trình độ tổ chức
Trang 28quản lí kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của các ngân hàng thương mại Trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng mở rộng, muốn tồn tại và phát triển thì đòi hỏi ngân hàng kinh doanh phải có hiệu quả Hiệu quả kinh doanh càng cao, ngân hàng càng có điều kiện mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh, đối với ngân hàng hiệu quả kinh tế chính là lợi nhuận thu được trên cơ sở không ngừng mở rộng sản xuất, tăng
uy tín và thế lực của ngân hàng trên thương trường
Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại là vấn đề phức tạp có quan hệ đến toàn ộ các yếu tố của quá trình kinh doanh Ngân hàng thương mại chỉ có thể đạt được hiệu quả kinh doanh khi sử dụng các yếu tố cơ ản của quá trình kinh doanh có hiệu quả
Mặc dù thu nhập ròng đem lại cho chúng ta một ý tưởng về việc ngân hàng hoạt động tốt đến mức nào, song nó có nhược điểm lớn là chưa được điều chỉnh để tính đến quy mô của ngân hàng Bởi vậy, làm cho chúng ta khó so sánh kết quả kinh doanh của các ngân hàng với nhau Chỉ tiêu cơ ản về lợi nhuận của ngân hàng đã được điều chỉnh để loại trừ ảnh hưởng của quy mô là suất sinh lời trên tài sản (ROA) Mặc dù ROA mang lại thông tin hữu ích về lợi nhuận của ngân hàng, song vấn đề đối với chủ ngân hàng (người nắm giữ vốn sở hữu) vấn đề được quan tâm nhất là ngân hàng kiếm được ao nhiêu tiền từ khoản đầu tư của họ vào vốn cổ phần, nói cách khác họ quan tâm đến ROE
Một chỉ tiêu khác được mọi người quan tâm khi muốn iết kết quả kinh doanh của ngân hàng, gọi là mức chênh lệch lãi suất ròng (NIM - Net Interest Margin) Nó được tính ằng cách lấy thu nhập từ lãi suất trừ đi chi phí về lãi suất, sau đó chia cho tổng tài sản:
Do đó để đánh giá hiệu quả trong kinh doanh của các ngân hàng thương mại, người ta thường đo lường lợi nhuận mà ngân hàng thương mại đó tạo ra so với nguồn lực của mình Tác giả đi vào nghiên cứu hai trong số nhiều chỉ tiêu đo lường thường được sử dụng là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ
sỡ hữu (ROE)
Trang 292.1.5.1 Suất sinh lời trên tài sản (ROA – Return on Asset)
ROA là chỉ số lợi nhuận cho iết lợi nhuận ròng công ty đạt được từ một đồng đầu tư vào tổng tài sản, tính ằng cách lấy lợi nhuận ròng trong kỳ chia cho ình quân tổng tài sản trong kỳ
ROA sẽ cung cấp các thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản) ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác iệt rất lớn và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh Đó là lý do tại sao khi sử dụng ROA để so sánh dcác công ty tương đồng nhau
Tài sản của một công ty thì được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA ROA càng cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn Ví dụ nếu công ty A có thu nhập ròng là 10 triệu $, tổng tài sản là 50 triệu $, khi đó ROA là 20%, tuy nhiên nếu công ty B cũng thu được khoản thu nhập tương tự trên tổng tài sản
là 100 triệu $, ROA của B sẽ là 10% Như vậy công ty A hiệu quả hơn trong việc iến đầu tư thành lợi nhuận Và do đó, công việc khó khăn nhất của người quản lý là phân
ổ vốn và các nguồn lực một cách khôn ngoan Bất kì ai cũng có thể kiếm lời ằng cách quăng cả núi tiền ra để giải quyết rắc rối nào đó Tuy nhiên chỉ có rất ít các nhà quản lý có khả năng kiếm những món lợi lớn mà chỉ cần đầu tư khoản tiền nhỏ
Các nhà đầu tư cũng nên chú ý tới tỉ lệ lãi suất mà công ty phải trả cho các khoản vay nợ Nếu một công ty không kiếm được nhiều hơn số tiền mà nó ỏ ra để chi cho các hoạt động đầu tư, đó hiển nhiên không phải là một dấu hiệu tốt Ngược lại, nếu ROA mà tốt hơn chi phí vay thì có nghĩa là công ty đang ỏ túi một món hời
2.1.5.2 Tỷ số sinh lợi trên vốn chủ sỡ hữu (ROE - Return of equity):
Trong hệ thống các chỉ tiêu thì “Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu - ROE” là chỉ tiêu quan trọng nhất trong phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó phản ánh hiệu quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp Đây chính là mục đích nâng cao hiệu quả sử dụng số vốn của các chủ sở hữu
Trang 30Tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường
Hiện nay, các nhà phân tích tài chính thường xuyên vận dụng công thức Dupont trong các phân tích mô hình hoạt động của doanh nghiệp Đây là công cụ đơn giản nhưng vô cùng hiệu quả, cho phép nhà phân tích có thể nhìn khái quát được toàn ộ các vấn đề cơ ản của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp
2.2 Các nghiên cứu trước đây
2.2.1 Một số nghiên cứu trên Thế giới
2.2.1.1 Muhammad Saeed Muzaffa, Ammar Ali Gull, Muhammad Yasran Rasheed: Tác động về cơ cấu vốn lên hoạt động Ngân hàng - Một nghiên cứu của Pakistan
Mục tiêu nghiên cứu:
Bài viết khảo sát tác động của cơ cấu vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Pakistan Mục đích của nghiên cứu này là tiến hành để đo lường tác động của cơ cấu vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, cung cấp ằng chứng thực nghiệm liên quan đến lĩnh vực ngân hàng Pakistan trong khoảng thời gian 2007-2011
Dữ liệu nghiên cứu:
Tất cả các ngân hàng hoạt động tại Pakistan là đối tượng nghiên cứu Mẫu nghiên cứu ao gồm 25 ngân hàng được niêm yết tại KSE6 trong khoảng thời gian năm 2007,
2008, 2009, 2010 và 2011
Biến nghiên cứu:
o Biến phụ thuộc:
Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)
Thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS)
Trang 31 Tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng vốn (STDTC)
Tỷ lệ nợ trên tổng vốn (TDTC)
Quy mô ngân hàng (SIZE)
Tốc độ tăng trưởng tài sản (AG)
Mô hình nghiên cứu:
ROAit = β0it + β1STDTCit + β2LTDTCit + β3TDTCit + β4SIZEit + β5AGit + µit ROEit = β0it + β1STDTCit + β2LTDTCit + β3TDTCit + β4SIZEit + β5AGit + µit EPSit = β0it + β1STDTCit + β2LTDTCit + β3TDTCit + β4SIZEit + β5AGit + µit
Kết quả nghiên cứu:
Mục đích dự định tiến hành nghiên cứu này là để cung cấp một ằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của vốn cấu trúc trên lợi nhuận của ngành ngân hàng ở Pakistan Kết quả nghiên cứu xác nhận sự phụ thuộc cùng chiều mạnh mẽ của nợ ngắn hạn (STDTC) lên tất cả các chỉ số đo lường lợi nhuận (ROA, ROE và EPS) Nợ dài hạn (LTDTC) có một mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) Tổng số
nợ và quy mô ngân hàng (SIZE) có tác động cùng chiều với tất cả các iến phụ thuộc (ROA, ROE và EPS) Tốc độ tăng trưởng tài sản (AG) đã đề xuất một tác động ngược chiều đáng kể đến lợi nhuận trên tài sản và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, thu nhập trên mỗi cổ phiếu Bằng cách phân tích kết quả của mỗi iến nhóm tác giả đã đưa ra kết luận rằng có tồn tại một mối quan hệ giữa vốn cấu trúc và lợi nhuận của các ngân hàng Pakistan
Nghiên cứu này có thể được mở rộng bằng cách thêm vào nhiều ngân hàng hơn hoặc bằng cách tiến hành một nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu với sự bao gồm của tất
cả các ngân hàng trên thế giới Nghiên cứu trong tương lai có thể bao gồm nhiều biến như thuế Một phân tích so sánh của ngân hàng Hồi giáo và các ngân hàng thông thường có thể được xem xét trong các nghiên cứu thêm Ngoài ra có thể tiến hành một nghiên cứu so sánh để kiểm tra mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và lợi nhuận của ngân hàng trong nước và nước ngoài tại Pakistan
2.2.1.2 Dadson Awunyo-Vitor, Jamil Badu: Cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng niêm yết ở Ghana
Trang 32 Mục tiêu nghiên cứu
Tác giả thực hiện kiểm tra mối quan hệ giữa cơ cấu vốn hoặc đòn ẩy và hiệu quả hoạt động của ngân hàng được niêm yết tại Ghana trong giai đoạn 2000-2010
Dữ liệu nghiên cứu:
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu gồm các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Ghana trong khoảng thời gian mười năm kéo dài từ năm 2000 đến năm
2010 Các dữ liệu được thu thập từ các nguồn khác nhau bao gồm cả các áo cáo được kiểm toán của ngân hàng niêm yết cũng như từ các cuốn sách thực tế của thị trường chứng khoán Ghana
Biến nghiên cứu:
o Biến độc lập:
Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)
Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ số giữa giá trị thị trường và giá trị thay thế của một tài sản hữu hình (Hệ số q của Tobin: Tobin's Q)
o Biến phụ thuộc
Tỷ lệ tổng nợ trên tổng vốn (LEV)
Quy mô ngân hàng (SIZE)
Tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng vốn (DEBT)
Tuổi của ngân hàng (AGE)
Vốn hóa thị trường (CAP)
Thuế thu nhập doanh nghiệp (TAX)
Mô hình nghiên cứu:
ROAit = β0it + β1LEVit + β2SIZEit + β3DEBTit + β4AGEit + β5CAPit + β6TAXit + µit ROEit = β0it + β1LEVit + β2SIZEit + β3DEBTit + β4AGEit + β5CAPit + β6TAXit + µit TBQit = β0it + β1LEVit + β2SIZEit + β3DEBTit + β4AGEit + β5CAPit + β6TAXit + µit
Kết quả nghiên cứu:
Kết quả hồi quy cho thấy mối quan hệ giữa lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) với sáu biến giải thích Sự thay đổi của lợi nhuận trên tài sản có thể được giải thích bởi sự thay đổi trong các biến giải thích trong mô hình Kết quả này cũng chỉ ra rằng có tác động ngược chiều trong mối quan hệ giữa cơ
Trang 33cấu vốn và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng được đo ằng ROA và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đo ằng ROE Tuổi công ty, vốn hóa thị trường và quy mô ngân hàng cũng có mối quan hệ tương tự với lợi nhuận trên TTS và lợi nhuận trên VCSH Kết quả cho thấy một tác động ngược chiều trong mối quan hệ giữa cơ cấu vốn
và hiệu quả hoạt động của ngân hàng được đo ằng hệ số Q-Tobin Các biến kiểm soát
mà có ý nghĩa trong mô hình này là quy mô doanh nghiệp và vốn hóa thị trường Dựa trên kết quả một đơn vị tăng của quy mô doanh nghiệp và vốn hóa thị trường sẽ dẫn đến việc giảm hệ số Q-To in tương ứng
Do đó, đề nghị các ngân hàng niêm yết nên tăng cường nỗ lực của họ phải dựa vào nguồn vốn nội bộ tạo ra Ngoài ra, Chính phủ Ghana nên liên hệ với các bên liên quan trong lĩnh vực tài chính để phát triển thị trường trái phiếu để cho phép các ngân hàng tăng nợ dài hạn để tránh quá phụ thuộc của nợ ngắn hạn Hơn nữa, tăng giảm thuế cho các ngân hàng niêm yết có khả năng để họ có thể tăng thu nhập giữ lại và giảm sự phụ thuộc vào nợ do đó cải thiện đầu tư nội bộ và hiệu suất
2.2.1.3 Khalaf Taani: Tác động cơ cấu vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng-một trường hợp nghiên cứu của Jordan
Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu này xem xét các tác động của cơ cấu vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng ở Jordan
Dữ liệu nghiên cứu:
Mẫu của nghiên cứu này được tạo thành từ 12 ngân hàng thương mại niêm yết trên ASE Các dữ liệu thu được từ áo cáo tài chính được công bố của các ngân hàng được lập bảng kê và phân tích sử dụng trong nhiều mô hình hồi quy
Biến nghiên cứu:
o Biến phụ thuộc
Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Lợi nhuận trên vốn sử dụng (ROCE)
Tỷ lệ lợi nhuận ròng (NP)
Lãi thuần biên (NIM)
o Biến độc lập
Tỷ lệ tổng nợ trên tổng vốn (x1)
Trang 34o Mô hình 4:
NIM = â0 +â1x1 NIM = â0 +â1x2
Kết quả nghiên cứu:
Sau khi thực hiện nghiên cứu với các mô hình nghiên cứu đưa ra, tác giả Khalaf Taani đã tìm thấy một tác động đáng kể của tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu lên lãi thuần biên của các ngân hàng thực hiện nghiên cứu, bên cạnh đó là một tác động đáng kể của
tỷ lệ nợ trên tổng vốn lên tỷ lệ lợi nhuận ròng, và một tác động đáng kể của tỷ lệ nợ trên tổng vốn lên lãi thuần biên
Như vậy, trong số 08 giả thiết được tác giả đặt ra, đã có 03 giả thuyết được chấp nhận, và tác giả cũng tìm thấy tác động của cơ cấu vốn lên hiệu quả hoạt động của các ngân hàng ở Jordan Kết quả nghiên cứu được tổng hợp thành bảng như sau:
Bảng 2.1: Kết quả nghiên cứu của Khalaf Taani
Ký hiệu Giả thuyết Công cụ Kết quả
(Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu
2.2.2 Một số nghiên cứu trong nước
Trang 352.2.2.1 TS Trần Viết Hoàng và Ths Trần Hùng Sơn : “Cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp của các công ty niêm yết trên SGDCK TP.HCM”, năm 2008
Mục tiêu nghiên cứu:
Bài nghiên cứu xem xét các nhân tố tác động đến cơ cấu vốn của các công ty đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Dữ liệu nghiên cứu:
Nghiên cứu này sử dụng số liệu của 45 công ty phi tài chính đang niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM có giá trị thị trường lớn nhất tính đến thời điểm tháng 7 năm 2007 (loại trừ 2 quỹ đầu tư và NHTM Sài Gòn Thương Tín) Tất cả số liệu tài chính của 45 công ty này được lấy từ báo cáo tài chính của các công ty này từ website của các công ty chứng khoán
Mô hình nghiên cứu:
STD = f (ROA; Tang; Tax; Size; Growth; Unique; Liq; State)
LTD = f (ROA; Tang; Tax; Size; Growth; Unique; Liq; State)
TD = f (ROA; Tang; Tax; Size; Growth; Unique; Liq; State)
Size : Quy mô công ty
Growth : Cơ hội tăng trưởng
Unique : Đặc điểm riêng của TS
Liq : Tính thanh khoản
State :Tỷ lệ vốn nhà nước
Kết quả nghiên cứu:
Bảng 2.2: Kết quả nghiên cứu của TS Trần Viết Hoàng và Ths Trần Hùng Sơn (2008)
Biến giải thích Dấu tác động
theo lý thuyết
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm
(Nguồn: Tổng hợp từ ứ Trần Viết Hoàng và Trầ Hù Sơ
Trang 36Kết quả nghiên cứu cho thấy, lý thuyết tĩnh về cơ cấu vốn và lý thuyết trật tự phân hạng trong tài trợ giải thích quyết định cơ cấu của các công ty tại Việt Nam Ngoài ra, tỷ lệ vốn góp nhà nước còn đóng vai trò quan trọng trong việc xác định
cơ cấu vốn của các công ty này Quyết định cơ cấu vốn của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam không chỉ chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm của bản thân công ty mà còn chịu ảnh hưởng bởi môi trường thể chế mà các công ty đang hoạt động
2.2.2.2 Nguyễn Tấn Vinh : “Cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Hà Nội”, năm 2011
Mục tiêu nghiên cứu:
Xác định sự ảnh hưởng của các nhân tố: lợi nhuận, quy mô, cơ hội tăng trưởng, giá trị tài sản hữu hình đối với cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội Xác định sự ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội
Dữ liệu nghiên cứu:
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu áo cáo cân đối kế toán đến 31 tháng 12 năm
2009 và giá trị thị trường của 290 công ty được liệt kê trong thị trường chứng khoán
Hà Nội (HNX) Dữ liệu cần lấy bao gồm các thông tin chi tiết của mỗi công ty và các các số liệu lấy từ các quyết toán
Mô hình nghiên cứu:
Yi = β0 + β1Leveragei + β2Growthi + β3Sizei + β4TANGi + εi
Yi = β0 + β1PROFi + β2Growthi + β3Sizei + β4TANGi + εi
Trong đó:
o Y : Biến phụ thuộc
(PE - Giá cổ phiếu trên thu nhập của mỗi cổ phiếu)
o Leverage : Cơ cấu vốn (TDTA, TDTE, LTDTA, STDTA)
TDTA : Tổng nợ trên tổng vốn
TDTE : Tổng nợ trên vốn chủ sở hữu
LTDTA : Vốn dài hạn trên tổng vốn
STDTA : Vốn ngắn hạn trên tổng vốn
o PROFi : Hiệu quả công ty được xác định bởi lợi nhuận
Trang 37o Growth : Cơ hội tăng trưởng
o Size : Quy mô công ty
o TANG : Tài sản cố định
Kết quả nghiên cứu:
Lợi nhuận của công ty là yếu tố quyết định có tác động mạnh mẽ nhất đối với cơ cấu vốn của công ty Phát hiện này hoàn toàn phù hợp với các công ty tại Việt Nam, đối với các công ty tại Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào vốn vay thì lợi nhuận càng cao thì nợ vay ngắn hạn càng nhiều Cùng xu hướng với việc tăng lợi nhuận là tăng doanh thu tức quy mô công ty có ảnh hưởng tích cực và quan trọng đến các số đo đòn bẩy TDTA, STDTA Hơn nữa, tài sản cố định của công ty làm giảm mức độ đòn ẩy của công ty Các kết quả hồi quy cũng chỉ ra rằng các cơ hội phát triển có ảnh hưởng tiêu cực đến cấu trúc vốn của công ty Việt Nam
Đối với thị trường chứng khoán Hà Nội cơ cấu vốn của một công ty không là nhân tố quyết định đến hoạt động thị trường của công ty đó Việc không có tác động quan trọng của số đo hoạt động thị trường của P/E chỉ ra rằng thị trường tài sản Việt Nam không hiệu quả
2.2.2.3 Lê Thị Kim Thư: “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các CTCP ngành ất động sản niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh”, năm 2012
Mục tiêu nghiên cứu:
Lựa chọn và phân tích các nhân tố có tác động đến cấu trúc vốn của các công ty nghiên cứu, kiểm định tác động của các nhân tố đến cấu trúc vốn và rút ra các kết luận
Dữ liệu nghiên cứu:
Các công ty cổ phần ngành Bất động sản niêm yết trên Sở GDCK TP.HCM trong
Trang 38o Biến độc lập:
X2 :Quy mô VCSH
X3 :Tỷ trọng TSCĐ
X4 :Tỷ suất sinh lời TS
X5 :HS biến thiên ROA
X6 :TĐTT tài sản
X7 :Tỷ lệ GVHB
D :Hình thức sở hữu
Kết quả nghiên cứu:
Kết quả nghiên cứu mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty cổ phần ngành Bất động sản niêm yết trên Sở GDCK TP.HCM bằng thủ tục Backward cho thấy có bốn nhân tố ảnh hưởng mạnh đến cấu trúc vốn của các công ty nghiên cứu, đó là quy mô doanh nghiệp (-), hiệu quả hoạt động kinh doanh (-), sự tăng trưởng của doanh nghiệp (+) và đặc điểm riêng của tài sản doanh nghiệp (-) Cả bốn nhân tố này góp phần giải thích đến 70.9% ý nghĩa của mô hình Điều đó có thể khẳng định, bốn nhân tố trên đóng vai trò quan trọng trong quyết định cấu trúc vốn của các công ty Đây sẽ là cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách tài trợ một cách hợp
lý góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Bảng 2.3: Kết quả nghiên cứu của Lê Thị Kim Thư
STT Nhân tố Biến GT KQNC
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Việc tìm ra mối quan hệ và mức độ tác động của cơ cấu vốn lên kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần, sẽ góp phần quan trọng trong việc định
ra các chính sách đối với việc huy động từng nguồn vốn của các ngân hàng thương mại
cổ phần
Trang 39Với ý nghĩa đó, chương 2 của đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về các cơ cấu vốn trong ngân hàng, các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh thường được
sử dụng, trong đó đặc biệt tập trung phân tích những nguồn vốn của các ngân hàng thương mại được sử dụng Bên cạnh đó, chương 2 trình bày tóm lược nội dung cơ ản một số nghiên cứu trên thế giới cũng như một vài nghiên cứu được thực hiện ở Việt Nam về tác động của cơ cấu vốn lên kết quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng
Những cơ sở lý luận này sẽ được kiểm chứng thực tế trong quá trình nghiên cứu,
là nền tảng để xây dựng mô hình nghiên cứu được đề cập trong chương 3 của bài luận văn và thực hiện nghiên cứu về tác động của cơ cấu vốn lên kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2009 đến 2013
Trang 40CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu của luận văn
3.2 Mô tả dữ liệu
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu tài chính của 24 Ngân hàng thương mại cổ phần đang hoạt động tại Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2013 Sở dĩ tác giả giới hạn nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến kết quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 2009 đến 2013 là vì ngành ngân hàng có những đặc trưng khác biệt so với các ngành sản xuất khác Trong giai đoạn này, ngành Ngân hàng tại Việt Nam trải qua thời kỳ suy thoái và sau đó là hồi phục khá chậm Cơ cấu vốn và