Về phía cơ quan thuế thì quá trình kiểm tra hồ sơ khai thuế nhà thầu của các Doanh Nghiệp phát sinh nhiều vấn đề tồn tại phức tạp mà đòi hỏi người cán bộ thuế phải có nghiệp vụ chuyên mô
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
- -
PHẠM NGỌC THUỲ
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ NHÀ THẦU
N ƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
Trang 2BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
- -
PHẠM NGỌC THUỲ
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ NHÀ THẦU
N ƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “ Hoàn thiện quản lý thuế nhà thầu nước ngoài
trên địa bàn Tỉnh Kiên Giang” là công trình nghiên cứu độc lập, do tác giả thực hiện
dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Ngọc Ảnh Các số liệu minh hoạ trong
luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Những kết quả nghiên cứu được từ
luận văn chưa được sử dụng hay công bố ở bất kỳ công trình nào khác
H ọc viên
Ph ạm Ngọc Thuỳ
Trang 4Học viên
Phạm Ngọc Thuỳ
Trang 5iii
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục Lục iii
Danh mục bảng biểu vi
Danh mục các chữ viết tắt vii
Tóm tắt luận văn vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI 1.1 Giới thiệu chung về nhà thầu nước ngoài 6
1.1.1 Khái niệm chung về nhà thầu nước ngoài 6
1.1.2 Vai trò của nhà thầu nước ngoài, thuế nhà thầu nước ngoài 7
1.13 Đặc điểm của thuế nhà thầu nước ngoài 7
1.2 Những vấn đề lý luận về quản lý thuế 8
1.2.1 Khái niệm về quản lý thuế 8
1.2.2 Mục tiêu và nguyên tắc của quản lý thuế 12
1.2.2.1 Tuân thủ pháp luật 13
1.2.2.2 Đảm bảo tính hiệu quả 13
1.2.2.3 Thúc đẩy ý thức tự tuân thủ của người nộp thuế 14
1.2.2.4 Công khai, minh bạch 14
1.2.2.5 Tuân thủ và phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế 14
1.2.3 Nội dung của quản lý thuế 15
1.2.3.1 Đăng ký thuế 16
1.2.3.2 Tờ khai và nộp thuế 16
1.2.3.3 Xử lý hoàn thuế 17
1.2.3.4 Quản lý thu nợ thuế 17
1.2.3.5 Kiểm tra, thanh tra thuế 18
1.2.3.6 Giải quyết tranh chấp về thuế 19
Trang 6iv
1.2.4 Các tiêu chí để đánh giá một hệ thống quản lý tốt 20
1.2.5 Khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động quản lý thuế nhà thầu nước ngoài 22
1.2.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thuế nhà thầu nước ngoài 22
1.3 Hệ thống thuế nhà thầu của một số nước trên thế giới 26
1.3.1 Hệ thống thuế nhà thầu tại Úc và kinh nghiệm quản lý 26
1.3.1.1 Về hệ thống thuế nhà thầu tại Úc 26
1.3.1.2 Quản lý thuế tại Úc 27
1.3.2 Hệ thống thuế nhà thầu tại Singapore và kinh nghiệm quản lý 28
1.3.2.1 Về hệ thống chính sách thuế nhà thầu 28
1.3.2.2 Quản lý thuế tại Singapore 29
1.3.3 Hệ thống thuế nhà thầu tại Trung Quốc và kinh nghiệm quản lý 29
1.3.3.1 Về hệ thống thuế nhà thầu tại Trung Quốc 29
1.3.3.2 Quản lý thuế tại Trung Quốc 30
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG 2.1 Khái quát về Cục Thuế Tỉnh Kiên Giang 34
2.2 Tình hình thực hiện các tiêu chí đánh giá công tác quản lý thuế tại Cục thuế Tỉnh Kiên Giang 34
2.2.1 Tổng thu nội địa do ngành thuế quản lý 35
2.2.2 Tốc độ tăng thu ngân sách nhà nước 36
2.2.3 Về tuyên truyền hỗ trợ 36
2.2.4 Về thanh tra, kiểm tra 38
2.2.5 Chỉ số khai thuế, nộp thuế 41
2.3 Thực trạng quản lý thuế nhà thầu nước ngoài trên địa bàn Tỉnh Kiên Giang 45
2.3.1 Thực trạng của nhà thầu nước ngoài trên địa bàn Tỉnh Kiên Giang 45
2.3.2 Những đóng góp của các nhà thầu nước ngoài trên địa bàn 46
2.3.3 Công tác quản lý kê khai thuế nhà thầu nước ngoài 49 2.3.4 Công tác thanh tra, kiểm tra nhà thầu nước ngoài trên địa bàn tỉnh Kiên
Trang 7v
Giang 50
44T 2.3.5 44TCông tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 51
2.3.6 Những hạn chế trong công tác quản lý thuế nhà thầu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 52
2.3.7 Những thành tựu trong công tác quản lý thuế nhà thầu nước ngoài tại Cục thuế Kiên Giang 55
Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO QUẢN LÝ THUẾ NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG 3.1 Giải pháp về hệ thống, chính sách thuế của nhà nước 60
3.1.1 Giải pháp về thủ tục về thuế và các quy trình nghiệp vụ quản lý thuế 60
3 1 2 Giải pháp về quản trị chiến lược trong quản lý thuế 61
3.2 Những giải pháp nhằm tăng cường quản lý thuế NTNN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 62
3.2.1 Giải pháp về hoàn thiện chính sách 62
3.2.2 Nhóm giải pháp về cơ cấu tổ chức bộ máy 64
3.2.3 Nhóm giải pháp về thực hiện cơ chế quản lý theo chức năng 65
3.3 Kiến Nghị 72
3.3.1 Về phía Chính phủ 72
3.3.2 Về phía các Bộ 73
3.3.3 Với Tổng cục Thuế 75
KẾT LUẬN 75
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 78
Trang 8vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1 Kết quả thu nội địa do ngành thuế quản lý 35
Bảng 2.2 Tốc độ tăng thu ngân sách nhà nước 36
Bảng 2.3 Kết quả thực hiện công tác thanh tra giai đoạn 2010-2014 39
Bảng 2.4: Kết quả thực hiện công tác kiểm tra giai đoạn 2010-2014 40
Bảng 2.5 Tỷ lệ khai thuế giai đoạn 2010 – 2014 42
Bảng 2.6: Bảng tổng hợp số thu thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng của nhà thầu nước ngoài 47
Bảng 2.7 Tổng hợp kết quả khai thuế nhà thầu nước ngoài giai đoạn 2010 – 2014 49
Bảng 2.8: Công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhà thầu nước ngoài tạic cục thuế Kiên Giang giai đoạn 2010 – 2014 51
Bảng 2.9 Số thuế nhà thầu nước ngoài nợ đọng tại Cục thuế Kiên Giang giai đoạn 2010 – 2014 52
Trang 9vii
Các ch ữ viết tắt tiếng anh
Các ch ữ viết tắt tiếng việt
Trang 10viii
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Qua các kết luận thanh tra, kiểm tra tài chính, thuế năm 2012 và 2013 các nhà thầu nước ngoài về công tác tài chính, công tác kê khai và quyết toán thuế đã có rất nhiều sai phạm làm thất thu cho NSNN, vừa không bảo đảm công bằng xã hội và nổi bật ở đây là các sai phạm về thuế Nhà thầu nước ngoài Tuy nhiên trong quá trình quản
lý của nhà nước đối với các Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài cũng đang phát sinh nhiều vấn đề như tình trạng trốn thuế, gian lận thương mại Nguuyên nhân,
do các nhà đầu tư nước ngoài có nhiều kinh nghiệm đầu tư trên thị trường quốc tế nên rất dễ lợi dụng kẽ hở chính sách, pháp luật của nước ta để gian lận thuế
Công tác quản lý thuế thực tế trên địa bàn tỉnh Kiên Giang cũng còn khó khăn, bất cập cả về phía người nộp thuế cũng như công tác quản lý thuế Người nộp thuế có nhiều vướng mắc phản ảnh về chính sách thuế nhà thầu Các văn bản hướng dẫn của
Bộ Tài chính về thực hiện các chính sách nhà thầu còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý ngày càng cao, nhiều nội dung còn mâu thuẫn, hay thay đổi, khó
dự đoán trước, nhiều thủ tục còn phiền hà Người nộp thuế do chưa hiểu rõ về tình hình thực hiện thuế nhà thầu nên một số doanh nghiệp chưa thực hiện kê khai đầy đủ
và kịp thời các loại thuế với Cơ quan thuế Về phía cơ quan thuế thì quá trình kiểm tra
hồ sơ khai thuế nhà thầu của các Doanh Nghiệp phát sinh nhiều vấn đề tồn tại phức tạp
mà đòi hỏi người cán bộ thuế phải có nghiệp vụ chuyên môn và kinh nghiệm trong công tác để có thể phát hiện và xử lý những vấn đề đó theo đúng quy định của pháp luật Nhà nước Trước tình hình đó, việc tìm ra giải pháp nhằm nâng cao công tác quản
lý và thu thuế đối với nhà thầu nước ngoài đòi hỏi phải đảm bảo tính chuyên môn, nghiệp vụ,tính kịp thời nhằm đảm bảo thu thuế trước khi nhà thầu nước ngoài kết thúc hợp đồng, về nước là một yêu cầu cấp thiết
Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài nghiên cứu “ Hoàn thi ện
qu ản lý thuế nhà thầu nước ngoài trên địa bàn Tỉnh Kiên Giang” để làm luận văn tốt nghiệp
Với mục tiêu nghiên cứu là:
1 Nghiên cứu nội dung quản lý thuế nhà thầu nước ngoài theo Luật quản lý thuế
2 Đánh giá toàn diện thực trạng quản lý thuế nhà thầu nước ngoài, những kết quả
Trang 11Bằng phương pháp định tính, phân tích và tổng hợp số liệu, so sánh, đối chiếu
để mô tả lý thuyết và thực tế công tác quản lý thuế để làm cơ sở đánh giá thực trạng tại
Cục thuế Tỉnh Kiên Giang
Các giải pháp đưa ra nếu thực hiện đồng bộ, kịp thời thì công tác quản lý thuế nhà thầu nước ngoài sẽ được tăng cường, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời vào ngân sách, và là một tiền đề quan trọng để Tỉnh Kiên Giang hội nhập với các nước trên
thế giới
Trong điều kiện hạn chế, luận văn chưa đủ điều kiện để đi sâu nghiên cứu các
vấn đề cụ thể và mang tính kỹ thuật như hệ thống các tiêu chí để đánh giá mức độ hoạt động đối với việc quản lý thuế Các giải pháp đưa ra còn mang tính chất mở, trong quá trình thực hiện cải cách trong thời gian tới Cục thuế Tỉnh Kiên Giang tiếp tục nghiên
cứu mở rộng phát triển đề tài
Trang 121
PHẦN MỞ ĐẦU GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Toàn cầu hoá kinh tế đang trở thành xu hướng tất yếu khách quan của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường Chúng ta đã chứng kiến sự gia tăng của dòng vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI), gắn liền với dòng vốn FDI là sự xuất hiện hoạt động kinh doanh của các nhà thầu nước ngoài
Qua các kết luận thanh tra, kiểm tra tài chính, thuế năm 2012 và 2013 các nhà thầu nước ngoài về công tác tài chính, công tác kê khai và quyết toán thuế đã có rất nhiều sai phạm làm thất thu cho ngân sách nhà nước, vừa không bảo đảm công bằng
xã hội và nổi bật ở đây là các sai phạm về thuế Nhà thầu nước ngoài Tuy nhiên trong quá trình quản lý của nhà nước đối với các Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài cũng đang phát sinh nhiều vấn đề như tình trạng trốn thuế, gian lận thương mại Nguyên nhân, do các nhà đầu tư nước ngoài có nhiều kinh nghiệm đầu tư trên thị trường quốc tế nên rất dễ lợi dụng kẽ hở chính sách, pháp luật của nước ta để gian lận thuế
Theo báo cáo của cơ quan Thuế tại một số địa phương, trong quá trình kiểm tra doanh nghiệp cho thấy vẫn còn có nhiều doanh nghiệp chưa tìm hiểu kỹ quy định về
kê khai thuế nhà thầu để thực hiện Có nhiều trường hợp DN ngay trong quá trình đầu
tư khi ký kết hợp đồng với đối tác đã không rõ ràng Đơn cử như: Chi phí thuê chuyên gia hướng dẫn, lắp đặt, đào tạo vận hành, dịch vụ bảo hành thường không ghi rõ ràng trong hợp đồng, nằm ẩn sau hợp đồng hoặc phát sinh bên ngoài khi đầu tư dây chuyền sản xuất Do vậy, nếu doanh nghiệp không tự kê khai thì cơ quan Thuế khó quản lý, nhà nước thất thoát khoản tiền thuế không nhỏ.0T
Quản lý thu Thuế Nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài (Nhà thầu, nhà thầu phụ) mang tính pháp lý cao, liên quan đến nhiều điều khoản quy định trong điều ước quốc tế ký giữa Chính phủ Việt Nam ký với các nước trên thế giới như: Hiệp định tránh đánh thuế hai lần,…nên đòi hỏi cơ quan thuế cần dành nhiều thời gian và nguồn lực để quản lý được hiệu quả, không bỏ sót nguồn thu Trong khi đó, các
Trang 132
tỉnh, thành phố lớn khác trên cả nước có nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý thuế nhà thầu, nhà thầu phụ nhiều năm qua, đối với tỉnh Kiên Giang mới phát sinh các dự án lớn có liên quan đầu tư vốn trực tiếp của nước ngoài, ngành thuế tỉnh Kiên Giang mới quản lý chưa có nhiều kinh nghiệm Vì vậy vấn đề làm thế nào để quản lý chặt chẽ nguồn thu này trên địa bàn tỉnh Kiên Giang là vấn đề hết sức quan trọng vừa đảm bảo thực thi nghiêm luật pháp Việt Nam đối với các nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài vừa đảm bảo thực hiện tốt các Điều ước quốc tế được ký kết giữa chính phủ Việt Nam, các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, nhằm đảm bảo mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp giữa nước ta và các nước trên thế giới Đồng thời, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội ở địa phương
Ngoài ra, công tác quản lý thuế thực tế trên địa bàn tỉnh Kiên Giang cũng còn khó khăn, bất cập cả về phía người nộp thuế cũng như công tác quản lý thuế Người nộp thuế có nhiều vướng mắc phản ảnh về chính sách thuế nhà thầu Các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính về thực hiện các chính sách nhà thầu còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý ngày càng cao, nhiều nội dung còn mâu thuẫn, hay thay đổi, khó dự đoán trước, nhiều thủ tục còn phiền hà Người nộp thuế do chưa hiểu
rõ về tình hình thực hiện thuế nhà thầu nên một số doanh nghiệp chưa thực hiện kê khai đầy đủ và kịp thời các loại thuế với Cơ quan thuế Về phía cơ quan thuế thì quá trình kiểm tra hồ sơ khai thuế nhà thầu của các Doanh Nghiệp phát sinh nhiều vấn đề tồn tại phức tạp mà đòi hỏi người cán bộ thuế phải có nghiệp vụ chuyên môn và kinh nghiệm trong công tác để có thể phát hiện và xử lý những vấn đề đó theo đúng quy định của pháp luật Nhà nước Trước tình hình đó, việc tìm ra giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý và thu thuế đối với nhà thầu nước ngoài đòi hỏi phải đảm bảo tính chuyên môn, nghiệp vụ,tính kịp thời nhằm đảm bảo thu thuế trước khi nhà thầu nước ngoài kết thúc hợp đồng, về nước là một yêu cầu cấp thiết
Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài nghiên cứu “ Hoàn thiện quản lý thuế nhà thầu nước ngoài trên địa bàn Tỉnh Kiên Giang”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trang 143
Qua nghiên cứu, tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố trong lĩnh vực thuế, có thể nêu một số công trình nghiên cứu khoa học điển hình như sau:
Tình hình nghiên cứu trong nước:
- “Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam - Những vấn
đề lý luận và thực tiễn” ( Luận án Tiến Sĩ của Vũ Văn Cương – Hà Nội 2012);
- “ Hoàn thiện chính sách thuế nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam” (Luận văn
thạc sĩ kinh tế của Trần Hiệp Hưng – Tp HCM 2011);
- Thực hiện nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế” Nguyễn Xuân Thành (2006)
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:
- “Diagnostic Framework for Revenue Administration”, Gill, JBS (2003), World Bank, Washington, D.C
- ”Tax Administration in Developing Countries: an Economic Perspective” ( quản lý thuế ở các nước đang phát triển: một triển vọng kinh tế) của tác giả Charles Y.Mansfield thuộc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) khảo sát nghiên cứu về hành chính thuế
ở các nước đang phát triển, vai trò quản lý thuế Tài liệu cung cấp các hướng dẫn về phương thức quản trị thuế để có thể giúp thực hiện các hệ thống thuế hiệu quả hơn
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích thực trạng công tác quản lý thuế đối với các nhà thầu nước ngoài, đánh giá và tổng hợp những cơ sở lý thuyết Chỉ ra kết quả đạt được, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra các giải pháp phù hợp để hoàn thiện chính sách quản lý thuế đối với nhà thầu nước ngoài nói riêng, và hệ thống chính sách thuế nói chung đạt hiệu quả cao, góp phần vào công cuộc phát triển nền kinh tế quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: quản lý thu thuế của nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Phạm vi nghiên cứu:
+ Địa bàn nghiên cứu: Tỉnh Kiên Giang
Trang 154
+ Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý thuế của nhà nước đối với hoạt động thu thuế nhà thầu trực thuộc Cục thuế Kiên Giang; tập trung nghiên cứu hai sắc thuế
quan trọng nhất là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng
+ Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu chính sách thuế và tình hình thu thuế nhà thầu nước ngoài bắt đầu từ năm 2010 đến năm 2014
5 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để nghiên cứu đề tài
5.2 Dữ liệu:
5.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu: sử dụng phương pháp phân tích thống kê
- Số liệu thứ cấp: được thu thập từ các nguồn tài liệu, báo cáo của Tổng cục Thuế, Cục thuế Tỉnh Kiên Giang, Sở kế hoạch đầu tư Tỉnh Kiên Giang, báo cáo đã
được công bố trên tạp chí khoa học
- Số liệu sơ cấp: tiến hành thu thập trên cơ sở nghiên cứu các hồ sơ khai thuế của các nhà thầu nước ngoài và kết quả thực thi thu thuế nhà thầu nước ngoài trên địa bàn Tỉnh Kiên Giang Các báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán thuế, các biên bản
thanh tra, kiểm tra thuế
5.2.2 Phương pháp tổng hợp và so sánh đối chiếu
- Phân tích tổng hợp: trên cơ sở phân tích từng nội dung cụ thể, tác giả đưa ra những đánh giá chung về thực trạng quản lý thuế nhà thầu nước ngoài tại địa bàn Tỉnh Kiên Giang
- So sánh, đối chiếu: hoạt động quản lý thuế nhà thầu ở Việt Nam so sánh với thực tế quản lý thuế ở các nước khác
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hệ thống hoá và làm rõ hơn cơ sở lý luận về quản lý thu thuế nhà nước đối với nhà thầu nước ngoài
Đánh giá toàn diện thực trạng quản lý thu thuế nhà thầu nước ngoài tại Cục thuế Tỉnh Kiên Giang
Luận văn đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế nhà thầu nước ngoài tại Cục thuế Tỉnh Kiên Giang dựa trên các căn cứ khoa học và thực tiễn
Trang 165
Với ý nghĩa thực tiển của đề tài hy vọng đóng góp một phần nhỏ vào tài liệu tham khảo cho cơ quan thuế trong quá trình cải cách hành chính và quản lý thuế nhà thầu nước ngoài trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
7 Bố cục của đề tài: Ngoài phần mở đầu, luận văn bao gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thuế nhà thầu nước ngoài
- Chương 2: Thực trạng quản lý thuế nhà thầu nước ngoài trên địa bàn Tỉnh Kiên Giang
- Chương 3: Giải pháp nâng cao quản lý thuế nhà thầu nước ngoài trên địa bàn Tỉnh Kiên Giang
Trang 176
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ NHÀ THẦU
NƯỚC NGOÀI
1.1 Giới thiệu chung về nhà thầu nước ngoài
1.1.1 Khái niệm chung về nhà thầu nước ngoài
Thuế NTNN theo tên gọi ở các nước trên thế giới là Foreign Contractor Tax (FCT), Foreign Contracter Witholding Tax (FCWT) Theo luật quản lý thuế của
Australia năm 2012, (Taxation Administration Amendment Regulations 2012) Thuế
NTNN được định nghĩa là loại thuế đánh trên thu nhập (lãi vay, cổ tức, tiền bản quyền
và các khoản thanh toán thuế) được quy định tại nguồn của người cư trú ngoài nước
đó
Theo IRS của Hoa Kỳ, thuế nhà thầu là số tiền thuế mà một quốc gia tác động vào khoản thu nhập chi trả cho phía bên ngoài và đó là khoản mà một doanh nghiệp sẽ giữ lại khi có phát sinh việc thanh toán tiền cho một bên khác, và số tiền giữ lại này sẽ được nộp cho cơ quan thuế thông qua hoạt động mà nhà thầu chính hoặc nhà thầu phụ thực hiện kinh doanh
Theo luật thuế Malaysia năm 2004, thuế NTNN là khoản tiền được bên chi trả khấu trừ lại đối với thu nhập của người được trả tiền không cư trú và nộp cho Cục thu nội địa Malaysia, bên trả tiền là cá nhân, tổ chức hoạt động kinh doanh tại Malaysia, bên nhận tiền là cá nhân, tổ chức không cư trú tại Malaysia
Theo Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 06/8/2014 của Bộ Tài Chính: “ Tổ chức nước ngoài kinh doanh có cơ sở thường trú tại Việt Nam hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài kinh doanh là đối tượng cư trú tại Việt Nam hoặc không là đối tượng cư trú tại Việt Nam (sau đây gọi chung là Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài)”
Theo Quyết định số 87/2004/QĐ-TTG ngày 19/05/2004: của Thủ Tướng Chính Phủ: "Nhà thầu nước ngoài" là tổ chức, cá nhân nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự; đối với cá nhân còn phải có năng lực hành vi dân sự để ký kết và thực hiện hợp đồng Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của nhà thầu nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà nhà thầu có quốc tịch
Trang 187
Nhà thầu nước ngoài có thể là nhà thầu chính, tổng thầu, nhà thầu liên danh, nhà thầu phụ
Như vậy, nhà thầu nước ngoài ở đây là các tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh
doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại một nước trên cơ sở hợp đồng hoặc thoả thuận bằng văn bảng giữa họ với tổ chức, cá nhân của nước đó mà không hình thành nên một pháp nhân tại nước có thu nhập phát sinh Nhà thầu nước ngoài chỉ hoạt động theo các hợp đồng đã ký với bên ký hợp đồng của nước sở tại, sau khi kết thúc hợp đồng thì hoạt động của nhà thầu nước ngoài cũng chấm dứt
1.1.2 Vai trò của nhà thầu nước ngoài, thuế nhà thầu nước ngoài
Đối với nước phát triển như Việt Nam thuế NTNN đóng vai trò quan trọng là tạo nguồn thu cho NSNN, kích thích tăng trưởng kinh tế Đáp ứng một lượng vốn lớn cho nền kinh tế, Mặt khác, nó giúp chúng ta hoà nhập vào các khu vực thế giới tạo tiền
đề cho quá trình phát triển của nước ta
Thuế NTNN còn giữ vai trò là một công cụ hữu hiệu của nhà nước nhằm làm giảm bớt hoặc hạn chế việc trốn thuế hay tránh các khoản thuế phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
Khả năng của các doanh nghiệp còn hạn chế, do vậy khi các NTNN trong quá trình đầu tư vào Việt Nam sẽ đem theo những dây truyền công nghệ mới, điều này
sẽ cải thiện tình trạng công nghệ lạc hậu của các doanh nghiệp Việt Nam Đặc biệt đối với việc xây dựng nhà máy, các công trình trọng điểm Đây là bước đầu cải thiện
và đổi mới hoàn toàn công nghệ trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực
Một vai trò không kém phần quan trọng của các NTNN sẽ góp phần nâng cao năng lực trình độ quản lý của các nhà quản lý Việt Nam Với những nước đang phát triển như nước ta các NTNN sẽ là trường đào tạo các bộ quản lý tốt nhất bởi lẽ
với yêu cầu ngày càng cao của công việc, của hội nhập kinh tế lực lượng cán bộ
quản lý doanh nghiệp sẽ có môi trường để thực tập, cọ sát và học tập không ngừng nâng cao trình độ của mình Góp phần đào tạo và nâng cao trình độ tay nghề cho mỗi lao động Điều này sẽ gián tiếp làm tăng năng suất lao động, tạo việc làm và tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao
1.1.3 Đặc điểm của thuế nhà thầu nước ngoài
* Các loại thuế qui định đối với NTNN
Trang 198
- Đối với tổ chức nước ngoài
+ Thuế giá trị gia tăng (GTGT)
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)
* Đối với cá nhân nước ngoài
+ Thuế giá trị gia tăng
+ Thuế thu nhập cá nhân
Đối với các loại thuế, phí và lệ phí khác, Nhà thầu nước ngoài thực hiện theo các văn bản pháp luật về thuế, phí và lệ phí khác hiện hành
* Về lĩnh vực hoạt động: Thuế nhà thầu chỉ xuất hiện chủ yếu ở một số loại hình hoạt động kinh doanh sau:
- Dịch vụ cho thuê máy móc, thiết bị, bảo hiểm
- Xây dựng, lắp đặt có bao thầu nguyên vật liệu hoặc máy móc, thiết bị đi kèm công trình xây dựng
- Thương mại: phân phối, cung cấp hàng hoá, nguyên vật liệu, vật tư, máy móc, thiết bị gắn với hàng hoá dịch vụ tại Việt Nam
- Hoạt động, sản xuất kinh doanh khác, vận chuyển (bao gồm vận chuyển đường biển, đường hàng không)
- Lãi tiền vay
- Quảng cáo (tiền thu nhập bản quyền) hoặc dịch vụ
- Tái bảo hiểm
- Chuyển nhượng chứng khoán
* Về thời gian hoạt động của nhà thầu nước ngoài:
Hoạt động kinh doanh của thuế nhà thầu đánh vào dự án hay dịch vụ hợp đồng
ký kết với doanh nghiệp hoặc cá nhân của nước sở tại thường hoạt động trong thời gian ngắn ( dưới 1 năm hoặc vài tháng).Bên cạnh đó, cũng có những hợp đồng ký kết hoạt động kéo dài vài năm ( hợp đồng trong lĩnh vực dầu khí, hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng)
* Về thuế suất:
Thuế nhà thầu là vừa mang tính chất của loại thuế gián thu và vừa mang tính chất của loại thuế trực thu theo qui định pháp luật của từng quốc gia cụ thể Để tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thu thuế, thuế suất đối với các hoạt động kinh
Trang 209
doanh của NTNN thường được gộp chung theo từng nhóm có hoạt động kinh doanh tương tự, việc xác định thuế thường dựa trên tỷ lệ phần trăm trên doanh thu theo từng nhóm hoạt động kinh doanh (hoạt động dịch vụ, hoạt động xây dựng, hoạt động thương mại) mà NTNN nhận được
* Quan hệ với Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (DTA):
Trong quá trình quốc tế hoá, các quốc gia thường cam kết hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác nhau như chính trị, văn hoá, giáo dục, thương mại, đầu tư…Từ đó, hình thành nên các hiệp định giữa các quốc gia là đều tất yếu Đặc biệt, thuế NTNN có quan hệ chặt chẽ với Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, các qui định về thu nhập từ hoạt động kinh doanh, thu nhập từ vận tải quốc tế, thu nhập từ lãi tiền cho vay, thu nhập từ tiền bản quyền đều đề cập đến quan hệ giữa thuế NTNN và Hiệp định tránh đánh thuế hai lần
1.2 Những vấn đề lý luận về quản lý thuế
1.2.1 Khái niệm về quản lý thuế
Theo luật quản lý thuế ở Việt Nam “ quản lý thuế là quá trình thực thi các chức năng quản lý từ quản lý đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; quản lý hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; quản lý xoá tiền nợ thuế, tiền phạt; quản lý thông tin
về người nộp thuế, kiểm tra, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành các quyết định hành chính thuế, xử lý vi phạm pháp luật thuế và giải quyết khiếu nại tố cáo về thuế”
Quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành thuộc quản lý hành chính Nhà nước Quản lý hành chính là sự tác động của cơ quan hành chính Nhà nước và con người hoặc các mối quan hệ xã hội để đạt được các mục tiêu của Chính phủ Tiếp cận dưới góc độ thực thi quyền lực Nhà nước thì quản lý hành chính là thực thi quyền hành pháp của Nhà nước Tiếp cận dưới góc độ công việc cụ thể thì quản lý hành chính là điều chỉnh hành vi con người, hành vi xã hội và tổ chức thi hành pháp luật đã ban hành
Ngày 20/11/2012 Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 Theo đó có 38 vấn đề sửa đổi, bổ sung liên quan đến lĩnh vực quản lý thuế như sau:
Nhóm vấn đề đơn giản hoá thủ tục hành chính thuế
Trang 2110
Thứ nhất, giảm tần suất kê khai thuế GTGT từ 12 lần/năm xuống còn 4 lần/năm đối với người nộp thuế quy mô vừa và nhỏ Chính phủ quy định tiêu chí xác định người nộp thuế để kê khai theo quý
Thứ hai, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục gia hạn nộp hồ sơ khai thuế từ 5 ngày làm việc xuống 3 ngày làm việc
Thứ ba, một số nội dung hoàn thuế có một số sửa đổi, bổ sung như: Rút ngắn thời hạn giải quyết đối với trường hợp “kiểm tra trước, hoàn thuế sau” từ 60 ngày xuống còn 40 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ và trường hợp “hoàn thuế trước, kiểm tra sau” từ 15 ngày làm việc xuống còn 6 ngày làm việc Bổ sung quy định cơ quan Thuế phải kiểm tra trong thời hạn 1 năm kể từ khi có quyết định hoàn thuế đối với 4 đối tượng có độ rủi ro cao gồm: Cơ sở kinh doanh kê khai lỗ hai năm liên tục hoặc có số lỗ vượt quá vốn chủ sở hữu; Cơ sở kinh doanh được hoàn thuế từ hoạt động kinh doanh bất động sản; kinh doanh thương mại, dịch vụ; Cơ sở kinh doanh thay đổi trụ sở từ 2 lần trở lên trong vòng 12 tháng kể từ ngày có quyết định hoàn thuế trở về trước; Cơ sở kinh doanh có sự thay đổi bất thường giữa doanh thu tính thuế và số thuế được hoàn trong giai đoạn 12 tháng, kể từ ngày có quyết định hoàn thuế trở về trước
Thứ tư, thay tờ khai quyết toán thuế trong hồ sơ đề nghị xóa nợ đối với trường hợp doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản bằng Quyết định tuyên bố phá sản để đảm bảo tính thống nhất, đơn giản trong thực hiện
Nhóm vấn đề phục vụ mục tiêu cải cách - hiện đại hoá và hội nhập
Bổ sung nguyên tắc quản lý rủi ro trong công tác quản lý thuế, làm cơ sở áp dụng thống nhất các kỹ thuật, nghiệp vụ quản lý thuế tiên tiến
Bổ sung cơ chế thoả thuận trước về phương pháp xác định giá (APA) trong chống chuyển giá ở các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) Việc bổ sung cơ chế APA vừa tạo thuận lợi cho công tác hành thu, chống thất thu, vừa tạo chủ động cho doanh nghiệp FDI trong lập kế hoạch kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ thuế
Bổ sung nghĩa vụ của người nộp thuế trong việc ứng dụng công nghệ thông tin
để nâng cao quản trị doanh nghiệp cũng như phát triển phương thức quản lý thuế điện
tử như: Trường hợp người nộp thuế là tổ chức kinh doanh tại địa bàn có cơ sở hạ tầng
về công nghệ thông tin phải thực hiện kê khai, nộp thuế, giao dịch với cơ quan quản lý thuế thông qua phương tiện điện tử theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử
Trang 2211
Nhóm vấn đề nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý thuế
Thứ nhất, thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt: Thay đổi thứ tự nhằm tăng cường hiệu quả thu nợ thuế, thuận lợi trong triển khai thực hiện kế toán thuế nội địa Theo đó, thứ tự thanh toán được quy định như sau: Đối với các loại thuế do cơ quan Thuế quản lý: Tiền thuế nợ; Tiền thuế truy thu; Tiền chậm nộp; Tiền thuế phát sinh; Tiền phạt
Thứ hai, về gia hạn nộp thuế: Bổ sung việc gia hạn nộp thuế đối với trường hợp doanh nghiệp phải di dời cơ sở sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và doanh nghiệp có nợ thuế do chưa được thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã được ghi trong dự toán NSNN
Thứ ba, bổ sung quy định nộp dần tiền thuế đối với trường hợp người nộp thuế không có khả năng nộp đủ tiền thuế một lần: Cho phép người nộp thuế được nộp dần tiền nợ thuế trong một khoảng thời gian nhất định (có tính tiền chậm nộp 0,05%/ngày tương đương 1,5%/tháng, 18%/năm) Việc nộp dần tiền thuế được thực hiện trên cơ sở
có cam kết của người nộp thuế và bảo lãnh của tổ chức tín dụng để giảm các trường hợp phải cưỡng chế thuế và hỗ trợ cho người nộp thuế, đặc biệt là trong các trường hợp người nộp thuế có số tiền nợ thuế lớn (do bị phạt từ 1 lần đến 3 lần thuế) và có khó khăn về tài chính trong ngắn hạn
Thứ tư, Về xoá nợ tiền thuế, tiền phạt: Luật hiện hành quy định xoá nợ tiền thuế, tiền phạt khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản; cá nhân được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự có nợ tiền thuế Luật sửa đổi, bổ sung quy định xoá nợ đối với các khoản nợ khó có khả năng thu hồi sau khi đã áp dụng tất cả các biện pháp cưỡng chế và các khoản nợ này đã kéo dài trong thời hạn 10 năm Về thẩm quyền xoá nợ tiền thuế, tiền phạt, Luật giao cụ thể từng cấp (UBND tỉnh, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thuế, Tổng Cục trưởng Tổng cục Hải quan, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Thủ tướng Chính phủ) xoá nợ tuỳ theo đối tượng nợ thuế và số tiền thuế, tiền phạt còn nợ
Thứ năm, Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế: Luật hiện hành quy định 7 biện pháp cưỡng chế thuế và phải thực hiện tuần tự từng biện pháp Luật sửa đổi, bổ sung quy định theo hướng: Bổ sung biện pháp cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu; Trường hợp người nộp thuế có hành vi bỏ trốn, tẩu
Trang 2312
tán tài sản thì cơ quan quản lý thuế được lựa chọn áp dụng biện pháp cưỡng chế phù hợp để đảm bảo thu hồi nợ thuế kịp thời
Thứ sáu, Các chế tài xử phạt vi phạm pháp luật về thuế: Luật sửa đổi, bổ sung
để làm rõ tính chất khoản tiền phạt chậm nộp là khoản lãi chậm nộp tiền thuế; nâng mức xử phạt đối với hành vi chậm nộp tiền thuế theo mức luỹ tiến: 0,05%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối với số ngày chậm nộp không quá 90 ngày, 0,07%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối với số ngày chậm nộp vượt quá thời hạn 90 ngày Nâng mức xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn từ 10% lên 20%
Thứ bảy, Thời hiệu xử lý vi phạm pháp luật về thuế: Trước ngày 1-7-2007, các quy định về quản lý thuế trong đó có xử lý vi phạm pháp luật về thuế đều được quy định tại các luật chính sách, trong đó Luật thuế GTGT, Luật thuế Thu nhập DN năm
2003 quy định thời hiệu truy thu thuế là 5 năm trở về trước Nhưng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế đã bổ sung quy định áp dụng thời hạn truy thu thuế là 10 năm, kể từ ngày kiểm tra phát hiện để phù hợp quy định lưu trữ chứng từ trong Luật Kế toán
Thứ tám, về kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế: Luật hiện hành quy định kiểm tra thuế chủ yếu theo hồ sơ khai thuế và giải trình của người nộp thuế nhưng Luật đã sửa đổi, bổ sung việc kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế theo tiêu thức đánh giá rủi ro; theo chuyên đề, kế hoạch hàng năm do Thủ trưởng cơ quan thuế cấp trên phê duyệt và kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế không quá 1 lần trong năm
Thứ chín, sửa đổi các nội dung về quản lý thuế để đồng bộ với các Luật khác: Luật sửa đổi, bổ sung các nội dung về thời hạn khai, nộp thuế và công tác thanh tra thuế để đồng bộ pháp luật về đất đai, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và Luật Thanh tra
1.2.2 Mục tiêu và nguyên tắc của quản lý thuế
Mục tiêu của quản lý thuế
Với những chức năng, vai trò quan trọng nêu trên của thuế và hệ thống thuế, quản lý thuế trong nền kinh tế quốc dân là một trong những nội dung cơ bản của công tác quản lý tài chính Nhà nước
Công tác quản lý thuế có các mục tiêu cơ bản sau:
Trang 2413
- Huy động đầy đủ, kịp thời số lượng thu cho ngân sách Nhà nước
- Phát huy tốt nhất chức năng của thuế trong nền kinh tế
- Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật của các tổ chức và cá nhân
Để đạt được những mục tiêu trên, công tác quản lý thuế cần tuân thủ một số nguyên tắc sau:
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Các cơ quan,
tổ chức và cá nhân đều phải có trách nhiệm tham gia quản lý thuế
- Việc quản lý thuế được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế sửa đổi
có hiệu lực từ ngày 20/11/2012 và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Việc quản lý thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế
Nguyên tắc của quản lý thuế
Mỗi cấp cơ quan quản lý Nhà nước có nhiệm vụ khác nhau trong quản lý thuế Tuy nhiên, hoạt động quản lý thuế của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đều phải tuân theo những nguyên tắc nhất định
1.2.2.1 Tuân thủ pháp luật
Nguyên tắc này chi phối hoạt động của các bên trong quan hệ quản lý thuế bao gồm cả cơ quan Nhà nước và người nộp thuế Nội dung của nguyên tác này là quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý; quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế đều do pháp luật quy định Trong quan hệ quản lý, các bên liên quan có thể được lựa chọn những hoạt động nhất định nhưng phải trong phạm vi quy định của pháp luật về quản
lý thuế
1.2.2.2 Đảm bảo tính hiệu quả
Giống như mọi hoạt động quản lý khác, hoạt động quản lý thuế phải tuân thủ nguyên tắc hiệu quả Các hoạt động quản lý thuế được thực hiện, các phương pháp quản lý được lựa chọn phải đảm bảo số thu vào NSNN là lớn nhất theo đúng luật thuế Đồng thời, chi phí quản lý thuế là tiết kiệm nhất Ví dụ như sự lựa chọn quy trình, thủ tục về thuế rõ ràng, đơn giản phù hợp với điều kiện thực tiễn nhất định và trình độ của người nộp thuế sẽ hứa hẹn mang lại nguồn thu cao hơn do tiết kiệm được chi phí vận
Trang 2514
hành bộ máy thu thuế và chi phí của người nộp thuế so với việc áp dụng một quy trình, thủ tục phức tạp hơn
1.2.2.3 Thúc đẩy ý thức tự tuân thủ của người nộp thuế
Để đảm bảo hoạt động thu, nộp thuế đúng pháp luật, Nhà nước nào cũng tăng cường các hoạt động quản lý đối với người nộp thuế Trong điều kiện quản lý thuế hiện đại sự tăng cường vai trò của Nhà nước theo hướng tập trung vào kiểm tra, kiểm soát kết quả thực hiện nghĩa vụ thuế phù hợp với quy định của pháp luật (kiểm tra sau), đồng thời tạo điều kiện cho người nộp thuế chủ động lựa chọn cách thức khai thuế và nộp thuế phù hợp với hoạt động kinh doanh của mình, tôn trọng tính tự giác của người nộp thuế Để đảm bảo nguyên tắc này cần có hệ thống các văn bản pháp luật thuế đầy đủ, rõ ràng, phù hợp; có các chế tài đủ mạnh để trừng phạt các vi phạm pháp luật thuế và có tác dụng răn đe
1.2.2.4 Công khai, minh bạch
Công khai minh bạch là một trong những nguyên tắc quan trọng của quản lý thuế Nguyên tắc công khai đòi hỏi mọi quy định về quản lý thuế, bao gồm pháp luật thuế và các quy trình, thủ tục thu nộp thuế phải công bố công khai cho NNT và tất cả những tổ chức, cá nhân có liên quan được biết Nguyên tắc minh bạch đòi hỏi các quy định vê quản lý thuế rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu và diễn đạt sao cho chỉ có thể hiểu theo một cách nhất quán, không hiểu theo nhiều cách khác nhau Nguyên tắc minh bạch cũng đòi hỏi không quy định những ngoại lệ trong thực thi pháp luật thuế, theo đó, cơ quan thuế hoặc công chức thuế được quyết định áp dụng những ngoại lê cho là để hoạt động quản lý thuế của Nhà nước được mọi công dân giám sát, là môi trường tốt để phòng chống tham nhũng, cửa quyền, sách nhiễu; qua đó, thúc đẩy hoạt động quản lý thuế đúng luật, trong sạch và tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển
1.2.2.5 Tuân thủ và phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế và mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế cho mỗi nước Đồng thời, quá trình hội nhập cũng dòi hỏi mỗi quốc gia cần có những thay đổi quy định về quản lý, cũng như các chuẩn mực quản lý phù hợp với các cam kết và thông lệ quốc tế Việc thực hiện các cam kết và thông lệ quốc tế về thuế tạo điều kiện cho hoạt động quản lý của các cơ quan Nhà nước hội
Trang 2615
nhập với hệ thống quản lý thuế thế giới Tuân thủ thông lệ quốc tế cũng tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài
1.2.3 Nội dung của quản lý thuế
Tổ chức các nước phát triển (OECD) cho rằng việc phân tích nội dung quản lý thu thuế là để xem xét phạm vi của sự thay đổi nhằm đáp ứng mục tiêu quản lý thu
thuế Các hoạt động liên quan đến quản lý thu thuế theo (EOCD) bao gồm 2 hoạt động:
- Các hoạt động xử lý giao dịch như đăng ký thuế, xử lý bản khai thuế, thu thập
thông tin về các giao dịch có khả năng chịu thuế
- Các hoạt động đảm bảo sự tuân thủ thuế của DN như các hoạt động giáo dục,
tư vấn, kiểm toán, thanh tra, ngăn chặn
Hoạt động quản lý thuế bao hàm nhiều nội dung được quy định cụ thể trong
luật Quản lý thuế Nó bao gồm:
- Đăng ký thuế, khai thuế, tính thuế
- Ấn định thuế;
- Nộp thuế;
- Uỷ nhiệm thu thuế;
- Trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế;
- Thủ tục miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt;
- Thủ tục hoàn thuế, bù trừ thuế;
- Kiểm tra thuế, thanh tra thuế, quản lý rủi ro về thuế;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo, khởi kiện liên quan đến thực hiện pháp luật thuế Quản lý thuế được thực hiện bằng các quy chế, quy trình kỹ thuật nghiệp vụ nhất định với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do luật quy định
Đối tượng nộp thuế vốn rất đa dạng đó có thể là cá nhân, là hộ gia đình hoặc
là một tổ chức kinh tế Với mỗi đối tượng nộp thuế khỏc nhau thì quản lý thuế cũng
có một khác biệt nhất định Tuy nhiên, những nội dung chủ yếu của quản lý thuế mà các nước trên thế giới đều triển khai thực hiện cho các đối tượng nộp thuế khác nhau bao gồm:
- Đăng ký thuế
- Kê khai và nộp thuế
- Xử lý hoàn thuế
Trang 2716
- Quản lý thu nợ thuế
- Kiểm tra, thanh tra NNT
- Giải quyết tranh chấp về thuế
1.2.3.1 Đăng ký thuế
Đăng ký thuế là việc người nộp thuế kờ khai những thông tin của người nộp thuế theo mẫu quy định và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế để khi bắt đầu
thực hiện nghĩa vụ về thuế với nhà nước theo các quy định của pháp luật Đăng ký
thuế là nội dung đầu tiên của quy trình quản lý thuế Thông qua hoạt động này, cơ quan thuế sẽ nắm bắt được những thông tin ban đầu của đối tượng nộp thuế như tên đầy đủ, địa chỉ, ngày sinh, điện thoại và từ đó tiến hành những hoạt động quản lý cụ thể Tuỳ từng nước, đối tượng đăng ký thuế nộp hồ sơ đăng ký thuế cho cơ quan chịu trách nhiệm Trong thời gian sớm nhất đối tượng đăng ký thuế sẽ nhận được giấy
chứng nhận đăng ký thuế có mã số thuế riêng Mã số thuế là một dãy các chữ số được
mã hoá theo một nguyên tắc thống nhất để cấp cho từng đối tượng nộp thuế Ở một
số nước, mó số thuế cũng gồm cả các ký tự alpha Mó số thuế cũng bao gồm chữ số
để kiểm tra Mã số thuế để nhận biết, xác định từng người nộp thuế và có qui định khác nhau giữa các nước Người nộp thuế phải sử dụng mã số thuế thực hiện các thủ tục tờ khai và nộp thuế với cơ quan thuế, cơ quan hải quan Người nộp thuế phải ghi
mã số thuế trờn các giấy tờ giao dịch như: hoá đơn, chứng từ mua bán hàng hoá dịch
vụ và phải sử dụng mã số thuế khi mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng hoặc tổ chức tín
dụng khác Người nộp thuế có trách nhiệm khai báo các thông tin thay đổi của mình cho
cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký thuế Cơ quan thuế sử dụng mã số thuế để quản
lý người nộp thuế và ghi mã số thuế trên mọi giấy tờ giao dịch với người nộp thuế 1.2.3.2 Tờ khai và nộp thuế
Việc tính thuế có thể do cơ quan thuế hoặc đối tượng nộp thuế thực hiện Tuỳ điều kiện từng nước, vấn đề này được quy định khác nhau Và đôi khi trong một nước,
cơ quan thuế vừa để cho ĐTNT tự tính thuế, vừa áp dụng ấn định thuế cho những đối tượng nhất định Tiền thuế có thể nộp tại kho bạc nhà nước, tại cơ quan quản lý thuế nơi tiếp nhận hồ sơ khai thuế, thông qua tổ chức được cơ quan quản lý thuế ủy nhiệm thu thuế, thụng qua ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác và tổ chức dịch vụ theo quy định cùa pháp luật Ở các nước phát triển, hệ thống thanh toán hiện đại, việc
Trang 28đấu của tất cả các cơ quan thuế các nước
1.2.3.3 Xử lý hoàn thuế
Tổ chức, cá nhân được xem xét hoàn thuế như thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ biệt hoặc thuế nộp thừa Ngoài ra, đối tượng nộp thuế là cá nhân cũng thể được hoàn thuế thu nhập cá nhân Những đối tượng này phải lập hồ sơ hoàn thuế gửi cơ quan thuế hoặc cơ quan hải quan Sau khi nhận hồ sơ, cơ quan quản lý thuế sẽ ra quyết định hoàn thuế hoặc thông báo lý do không hoàn thuế Đối với hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước kiểm tra sau thì thời gian ra quyết định của
cơ quan quản lý thuế sẽ nhanh hơn đối với hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế sau Hoàn thuế thực chất là trả lại cho ĐTNT phần tiền thuế mà họ đã nộp nên việc xử
lý càng nhanh càng tốt Cơ quan thuế một mặt phải rút ngắn các thủ tục hành chính để đảm bảo hoàn thuế nhanh chúng cho người nộp thuế, một mặt phải đưa ra các
phương pháp thu thuế thích hợp để thu hẹp khoảng cách giữa số thuế đã nộp và số
thuế thực chất phải nộp Xử lý hoàn thuế cũng tiêu tốn một nguồn lực đáng kể của cơ
quan thuế trong việc tiếp nhận hồ sơ, phân loại hồ sơ, đặc biệt nếu hồ sơ được nộp
trực tiếp và xử lý truyền thống Trường hợp hồ sơ thuế được nộp thông qua giao dịch điện tử thì việc tiếp nhận, kiểm tra, chấp nhận hồ sơ hoàn thuế, cơ quan thuế sẽ
thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử nên nhanh chúng kịp thời hơn 1.2.3.4 Q uản lý thu nợ thuế
Quản lý thu nợ thuế là công việc đòi hỏi khá nhiều nguồn lực của cơ quan thuế Đây là hoạt động của cơ quan quản lý thuế nhằm đảm bảo huy động đầy đủ và kịp thời số tiền thuế cho NSNN Quản lý thu nợ thuế gồm các công việc như gửi thông báo nợ thuế, tính phạt chậm nộp, thông báo số tiền phạt chậm nộp, phân tích tình trạng
nợ thuế, tổng hợp, phân loại nợ, lập kế hoạch thu nợ, thực hiện các biện pháp thu nợ,
cưỡng chế thuế, báo cáo kết quả thu nợ Các công việc này nếu thực hiện thủ công sẽ
Trang 2918
tiêu tốn rất nhiều thời gian của cơ quan thuế nên việc triển khai áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý nợ thuế là một nhu cầu khách quan Cơ quan thuế các nước có thể sử dụng các phần mềm quản lý nợ hiện đại để tiện phục vụ công tác quản lý thu nợ
và cưỡng chế thuế Các biện pháp cưỡng chế thuế được quy định cụ thể trong luật
thuế từng nước Các biện pháp cưỡng chế thuế truyền thống gồm trích tiền từ tài
khoản của đối tượng nộp thuế, yêu cầu phong tỏa tài khoản, khấu trừ một phần tiền
lương hoặc thu nhập, kê biên tài sản, bán đầu giá tài sản kê biên, thu hồi mã số thuế, đình chỉ việc sử dụng hoá đơn, thu hồi giấy phép kinh doanh Ở nhiều nước, trong cơ cấu tổ chức của cơ quan thuế có phòng chức năng riêng thực hiện quản lý thu nợ thuế Phòng chức năng này có các nhiệm vụ như:
Xây dựng chương trình, kế hoạch thu nợ và cưỡng chế thu nợ Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra công tác quản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế
Trực tiếp theo dõi tình hình nợ, lập danh sách đối tượng nợ thuế và thực hiện phân loại nợ thuế, phân tích tình trạng nợ thuế của từng ĐTNT
Thu thập thông tin về người nộp thuế để phân tích nghiên cứu và đề xuất biện pháp đôn đốc thu nợ và cưỡng chế nợ thuế
Thực hiện các thủ tục thu tiền thuế nợ, tiền phạt, theo dõi, đôn đốc, tổng hợp kết quả thu hồi tiền thuế nợ, tiền phạt
Tổng hợp, báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện công tác quản lý nợ, nghiên cứu
đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ
1.2.3.5 Kiểm tra, thanh tra thuế
Kiểm tra, thanh tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế,
nhằm đảm bảo pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế xã hội Kiểm tra, thanh tra thuế được thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế
Kiểm tra thuế được thực hiện tại trụ sở cơ quan quản lý thuế hoặc tại trụ sở của
người nộp thuế Kiểm tra tại trụ sở cơ quan quản lý thuế được thực hiện thường xuyên đối với các hồ sơ thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông
Trang 3019
tin, chứng từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thù pháp luật về thuế của người nộp thuế Kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế được quy định cụ thể trong các trường hợp khác nhau ở từng nước
Thanh tra thuế thường được thực hiện đối với các doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng Việc thanh tra thuế được thực hiện căn cứ vào kế hoạch thanh tra hàng năm Kế hoạch thanh tra được lập dựa trờn cơ
sở phân tích thông tin về người nộp thuế, từ đó phát hiện, lập danh sỏch người nộp thuế có dấu hiệu bất thường trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế để lựa chọn đối
tượng lập kế hoạch thanh tra Kế hoạch thanh tra bao gồm các nội dung như đối tượng thanh tra, kỳ thanh tra, loại thuế thuộc diện thanh tra, thời gian dự kiến tiến hành thanh tra Ngoài ra, thanh tra thuế được thực hiện khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế hoặc để giải quyết khiếu nại tố cáo
1.2.3.6 Gi ải quyết tranh chấp về thuế
Cơ quan thuế giải quyết các tranh chấp về thuế khi có khiếu nại, tố cáo của ĐTNT Người nộp thuế có quyền khiếu nại đối với các quyết định của cơ quan thuế như quyết định hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, kết luận thanh tra thuế, quyết định giải quyết khiếu nại,
Người nộp thuế có quyền khiếu nại đối với các hành vi hành chính của cơ quan thuế, công chức quản lý thuế, người được giao nhiệm vụ trong công tác quản lý thuế khi có căn cứ cho rằng hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Hành vi hành chính được thể hiện bằng hành động hoặc không hành động
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo được quy định cụ thể trong pháp luật từng
nước
Do vậy, xét về khía cạnh hành chính thuế, nội dung chính của quản lý thuế sẽ là các trình tự và thủ tục thuế của các đối tượng có liên quan (đối tượng nộp thuế, cơ quan thuế và các đối tượng khác) Các trình tự và thủ tục thuế - hay là các "quy tắc ứng xử" này được xây dựng trong mọi lĩnh vực của công tác quản lý thuế: kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế với mục đích nhằm làm cho các đối tượng liên quan thực hiện đúng các nghĩa vụ luật định về thuế Thông qua công tác quản lý thuế, các "quy tắc ứng xử" này sẽ được xây dựng, ban hành, hướng dẫn và kiểm tra bằng "sức cưỡng chế" của cơ quan thuế
Trang 3120
1.2.4 Các tiêu chí để đánh giá một hệ thống quản lý tốt
Việc hiểu rõ các tiêu chí của quản lý thuế tốt có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Nó sẽ định hướng cho hoạt động quản lý thuế của các nước Trong một sách hướng dẫn “Các tiêu chí của quản lý thuế tốt” phát hành năm 2001, OECD đã đưa ra các tiêu chí sau:
Thứ nhất, quan hệ với người nộp thuế Quan hệ với người nộp thuế phải đáp ứng yêu cầu: đảm bảo tính tuân thủ của ĐTNT Áp dụng pháp luật về thuế một cách công bằng, đáng tin cậy và minh bạch Giải thích cho người nộp thuế về các quyền lợi
và nghĩa vụ của họ cũng như những thủ tục về khiếu nại và kháng nghị
Cung cấp thông tin cho ĐTNT một cách thường xuyên, có chất lượng Các thông tin được cung cấp liên quan đến văn bản chính sách, đến tình hình kê khai nộp thuế của ĐTNT với cơ quan thuế, giải đáp các vướng mắc của NNT Chỉ được
sử dụng thông tin người nộp thuế theo đúng phạm vi mà pháp luật cho phép
Giảm thấp chi phí tuân thủ cho ĐTNT Xử lý các câu hỏi, yêu cầu và khiếu nại của người nộp thuế một cách chính xác và kịp thời Khi cần thiết, cho người nộp thuế có cơ hội được nhận xét về những thay đổi trong các thủ tục và chính sách thuế Xây dựng và duy trì mối quan hệ làm việc tốt với các nhóm ĐTNT và với dân chúng nói chung
Thứ hai, quan hệ với các nhân viên quản lý thuế Quan hệ với nhân viên quản
lý thuế phải thỏa mãn yêu cầu:
- Truyền đạt và đề cao các tiêu chuẩn đạo đức với nhân viên
- Nhận biết và giải quyết các xung đột về lợi ích giữa nhiệm vụ chung và công việc riêng của cá nhân
- Tuyển dụng và khuyến khích nhân viên trên tiêu chí công bằng, giá trị và bảo
vệ họ chống lại sự sa thải độc đoán
- Truyền đạt và đề cao tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ bằng cách đưa ra cơ hội đào tạo hiệu quả cho nhân viên, cho phép họ tiếp cận với những vấn đề thuế phức tạp phù hợp với tiến trình toàn cầu hóa
- Trả lương và thưởng cho nhân viên thỏa đáng để thu hút và duy trì cạnh tranh
cá nhân
Thứ ba là những tiêu chí về lập pháp:
Trang 32- Đưa ra sự đối xử công bằng với người nộp thuế bất kể các quốc tịch khác nhau
- Xử lý các thông tin nhận được từ ĐTNT hoặc từ các bên của hiệp định thuế với sự bảo mật cao
- Cung cấp những gợi ý và trợ giúp cho người làm chính sách đưa ra những
thương lượng phù hợp khi xây dựng hiệp định thuế
Thứ tư là những đặc điểm về quản lý:
- Chủ động trao đổi thông tin với các bên ký kết hiệp định, với ĐTNT
- Chủ Động cung cấp thông tin nhận được từ các hoạt Động kiểm toán thường xuyên cho các bên ký kết hiệp định
- Yêu cầu từ các bên ký kết hiệp định, từ ĐTNT chỉ những thông tin liên quan,
có ý nghĩa, có thể tiếp cận được và có ích
- Thông báo cho người nộp thuế những thủ tục của hiệp định và kết quả đàm phán
- Ủng hộ nguyên tắc giao dịch độc lập và những hướng dẫn của OECD về giá chuyển nhượng
Thứ năm, đảm bảo tính linh hoạt trong điều hành
- Thường xuyên xem xét thực tiễn quản lý và đưa ra những đề xuất hoặc thực hiện những hành động phù hợp với sự thay đổi của môi trường thuế quốc tế và môi
trường trong nước trước sự gia tăng của toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới
- Đảm bảo sự trao đổi hiệu quả và nhanh chóng các thông tin khi có sự thay đổi luật thuế và các vấn đề tránh thuế mới phát sinh
- Ủng hộ và chủ động tham gia các diễn đàn thuế quốc tế để nhanh chóng tiếp cận, thiết lập và thực thi các chuẩn mực quốc tế
Trang 33Mặc dù có sự khác nhau đáng kể về luật thuế và thực tiễn quản lý thuế mỗi
nước nhưng những tiêu chí mà OECD xây dựng là một kinh nghiệm tham khảo tốt cho các nước trong quản lý thuế
1.2.5 Khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động quản lý thuế nhà thầu nước ngoài
- Quyết định Số: 87/2004/QĐ-TTG ngày 19/05/2004 của Thủ tướng Chính phủ
về việc “ban hành quy chế quản lý hoạt động của nhà thầu nước ngoài trong lĩnh vực xây dựng tại Việt Nam.”
- Luật số: 21/2012/QH13 của Quốc Hội ban hành: “Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật quản lý thuế” ban hành ngày 20/11/2012
- Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 “hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quản lý thuế ; luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ”
- Thông tư Số: 103/2014/TT- BTC ngày 06/08/2014 của Bộ Tài Chính về việc
“hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam”
- Quyết định 1688/QĐ-TCT năm 2014 của Tổng Cục Thuế” Quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh “
- Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài Chính “hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành luật thuế thu nhập doanh nghiệp”
1.2.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thuế nhà thầu nước ngoài
- Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế nhà thầu nước ngoài Mỗi nhân tố đều có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới công tác này tùy theo tính chất và trạng thái của nhân tố đó Nhiệm vụ của các cơ quan chức năng trong bộ máy
Trang 3423
nhà nước là phải tìm cách hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực cũng như phát huy những
ảnh hưởng tích cực nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế nhà thầu nước ngoài
Nhân tố về chính sách thuế:
Để một chính sách có thể thực hiện, cần phải có biện pháp triển khai khả thi, chi
tiết, cụ thể và có sức thuyết phục Những vướng mắc trong chính sách thuế cần đưa ra
giải pháp xử lý phù hợp Qui định thủ tục phải vừa cụ thể, vừa đơn giản, không gây phiền hà Chính sách vừa tác động đến quản lý nhà nước, vừa góp phần tháo gỡ và hoàn thiện quản lý nhà nước về thuế khi được triển khai bởi những biện pháp khả thi
và hiệu quả Trong đời sống pháp luật, văn bản pháp quy được thực hiện nghiêm minh
bởi cơ quan thừa hành làm việc hiệu quả sẽ giúp cho các hành vi vi phạm giảm bớt Người nộp thuế và cơ quan thuế cùng thực hiện nghiêm túc hơn các quy định trong
luật thuế khi họ biết rằng những vi phạm sẽ bị phát hiện và bị trừng phạt nghiêm khắc
Hệ thống chính sách thuế phải được xây dựng có nội dung đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, minh bạch, mang tính phổ thông, phù hợp với trình độ chung của cả người nộp thuế và người quản lý và càng ít ngoại lệ sẽ tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, giảm chi phí tuân thủ, giảm rủi ro do tham nhũng và phiền hà cho người nộp thuế qua đó cũng giúp cho việc thực hiện tuân thủ thuế tốt hơn và quan trọng là các mức thuế suất phải được tiến hành trên sự phân tích khoa học, toàn diện để tìm ra được những đáp số phù hợp nhất, sẽ tăng được tính hiệu quả của công tác quản
lý thu thuế Hệ thống chính sách pháp luật là yếu tố tạo lập môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh của DN Ngược lại, nếu hệ thống pháp luật thuế phức tạp, không đồng bộ, thiếu tính chặt chẽ và chồng chéo sẽ làm tăng cơ hội cho người nộp thuế có những hành vi lợi dụng kẽ hở của luật để trục lợi, làm giảm tác dụng quản lý
và răn đe của luật pháp
Nhân tố từ cơ quan quản lý thuế:
Trình độ đội ngũ cán bộ thuế đóng vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý thuế, nhân tố này tác động vào tất cả các nội dung của công tác quản lý thu thuế nhà thầu, từ ban hành chính sách, tổ chức thực hiện chính sách tới thanh tra thuế, tổ chức
bộ máy quản lý thuế
Bên cạnh đó, sự phối kết hợp của các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đã được qui định trong Luật Quản lý thuế cũng tác động
Trang 3524
tới hiệu lực của công tác quản lý thuế Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, việc cung cấp thông tin và phối hợp chặt chẽ với cơ quan thuế trong điều tra quản lý đối tượng, xác định mức thuế, thực hiện cưỡng chê về thuế chưa đáp ứng được yêu cầu Dù đã có
phối hợp với các cơ quan chức năng, nhất là cơ quan công an, kiểm sát, quản lý thị
trường…và có tác dụng nhất định trong việc phát hiện, xừ lý kịp thời một số vi phạm pháp luật thuế, việc cơ quan thuế cần chủ động có kế hoạch triển khai tăng cường phối
hợp với những bộ, ngành, địa phương theo từng phương án cụ thể là đòi hỏi cấp thiết
để hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế nhà thầu nước ngoài
Quy trình nghiệp vụ quản lý thuế Quy trình này gồm một bộ các quy định và hướng dẫn về đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế, thanh tra kiểm tra thuế, cưỡng chế thuế…Quy trình nghiệp vụ thuế rõ ràng và ổn định sẽ góp phần làm sáng tỏ chính sách thuế để người nộp thuế dễ tuân thủ hơn
Tính sẵn có và dễ tiếp cận các dịch vụ tư vấn thuế do cơ quan quản lý thuế cung cấp Dịch vụ tư vấn thuế sẽ giúp cơ quan thuế gần người nộp thuế hơn
Năng lực tầm soát của cơ quan thuế thể hiện thông qua các hoạt động thanh tra, khả năng phát hiện gian lận thuế và tính cưỡng chế thông qua những biện pháp và hình phạt do trốn thuế Việc kiểm soát và cưỡng chế thích hợp của cơ quan thuế trước hết
có tác dụng làm nản ý định gian lận của người nộp thuế , sau đó tạo ra tính răn đe đối với trường hợp cố tình vi phạm Tuy nhiên năng lực tầm soát của cơ quan thuế cần trợ giúp rất nhiều từ sự hợp tác toàn diện của cộng đồng nói chung gồm: người dân, cơ quan chức năng ngoài thuế, …- Trình độ chuyên môn và đạo đức của cán bộ thuế Trình độ chuyên môn của cán bộ thuế gồm: nắm vững nghiệp vụ, sử dụng được công nghệ thông tin, cập nhật văn bản pháp quy về thuế và các văn bản pháp luật có liên quan, được huấn luyện kỹ năng ứng xử, đạo đức của cán bộ thuế được thể hiện qua nhận thức về trách nhiệm đối với công việc, về người nộp thuế và những ảnh hưởng tiêu cực sẽ xảy ra nếu có sai phạm Đạo đức còn thể hiện thông qua tinh thần làm việc của cán bộ thuế Tuy vậy cũng không thể kể tới một số không nhỏ cán bộ công chức chưa có năng lực thực sự, thêm vào đó là bộ máy quản lý thuế nhà thầu nước ngoài còn cồng kềnh, chưa thật chặt chẽ dẫn đến những kẻ hở để những nhà thầu nước ngoài
có thể lách luật
Trang 3625
Cơ sở vật chất của ngành thuế Trang thiết bị ngành thuế, đặc biệt là hệ thống thông tin là yếu tố quan trọng trong việc ngăn ngừa rủi ro không tuân thủ, cụ thể giúp sưu tra những giao dịch kinh tế quá khứ của người nộp thuế Cơ sở vật chất còn đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện công nghệ hành thu vừa góp phần tăng tính tuân thủ vừa làm giảm chi phí tuân thủ cho người nộp thuế Một hệ thống thu thuế được kết nối bằng mạng nội bộ sẽ là một nhân tố rất hữu ích cho cơ quan thuế trong việc quản lý thu thuế hiệu quả, chính xác, kịp thời và tiết kiệm chi phí.Việc xây dựng mạng thông tin nội bộ để quản lý cơ sở dữ liệu sẽ đòi hỏi những chi phí bước đầu tương đối lớn, nhưng xét về dài hạn thì điều này sẽ tiết kiệm chi phí hơn rất nhiều so với việc quản lý dữ liệu theo kiểu thủ công
Thể chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng có liên quan đến quản lý thuế Người nộp thuế là một con người xã hội nên có những giao dịch và quan hệ ngoài tầm kiểm soát của cơ quan thuế Vì vậy, thiết lập hệ thống thông tin hữu hiệu giữa cơ quan thuế với hải quan, ngân hàng, kho bạc, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê, cơ quan quản lý tài chính doanh nghiệp,… là một yếu tố không thể thiếu trong công tác quản lý thuế
Nhân tố từ phía doanh nghiệp:
Trình độ của doanh nghiệp tác động mạnh mẽ đến ý thức chấp hành pháo luật,
Ý thức chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng tỉ lệ thuận với ý thức
và trách nhiệm nộp thuế Dân trí càng cao, hiểu biết về nghĩa vụ với nhà nước, trách nhiệm với cộng đồng ngày càng sâu sắc người nộp thuế càng có ý thức tuân thủ Nếu
nhận thức đùng đắn về nghĩa vụ thuế và quyền hưởng lợi ích từ khoản tiền thuế mà mình đóng góp; nhận thức đúng trách nhiệm pháp luật về nghĩa vụ phải kê khai nộp thuế của mình thì người nộp thuế sẽ tự nguyện trong việc khai, nộp thuế… Hành vi
trốn thuế sẽ ít xảy ra, công tác quản lý thu thuế và thanh tra thuế sẽ gặp nhiều thuận lợi
và đạt kết quả tốt hơn Việc NTNN nhận thức như thế nào về hành vi cư xử của chính quyền và cơ quan thuế cũng như tạo điều kiện để NTNN nâng cao tính tự chủ là yếu tố khá quan trọng để thúc đẩy tâm lý tích cực lên hành vi tuân thủ Khi NTNN có ý thức chấp hành luật thuế tốt, các NTNN sẽ tự giác trong kê khai, nộp thuế Hành vi trốn thuế sẽ ít xảy ra Chính vì vậy, công tác quản lý thu thuế và thanh tra thuế sẽ gặp nhiều thuận lợi và đạt kết quả tốt hơn Tóm lại ý thức chấp hành pháp luật thuế của đối tượng
Trang 3726
nộp thuế cũng ảnh hưởng một phần tới công tác quản lý thuế
1.3 Hệ thống thuế nhà thầu của một số nước trên thế giới
1.3.1 Hệ thống thuế nhà thầu tại Úc và kinh nghiệm quản lý
1.3.1.1 Về hệ thống thuế nhà thầu tại Úc:
Theo quy định tại văn bản trên thì tại nước này, thuế nhà thầu sẽ đánh trên các
hợp đồng ký kết để thực hiện các công việc hay các hoạt động có liên quan khác Hợp
đồng công việc (contract in works) được hiểu là các hợp đồng cho việc xây dựng, và
được mở rộng cho việc thiết lập cũng như nâng cấp các tòa nhà, nhà xưởng hay các vật
chất khác nhau thuộc cơ sở hoặc kiến trúc hạ tầng Còn hợp đồng các hoạt động liên
quan khác (contract in related activities) cũng đã được mở rộng hơn so với trước đây,
nó được hiểu là các hoạt động khác có kết hợp hay đi kèm với việc xây dựng, chẳng
hạn như: quản trị thiết bị, quản lý dây chuyền, tái thiết phân xưởng, quản lý dự án hay
công trình, giám sát nhân công, cung cấp thiết bị sửa chữa…Việc thu thuế sẽ được
thực hiện đối với các tổ chức khoản thu nhập phát sinh từ nước này, bao gồm các
khoản thu nhập thường xuyên và không thường xuyên của các đối tượng nộp thuế
Những đối tượng này có thể là cư trú hoặc không cư trú tại Úc, tức là không có tư cách
pháp nhân tại nước này Và mức thuế giữ lại theo luật quy định là 5% Do vậy, với
việc xác định rõ nguồn gốc của thu nhập thì thuế nhà thầu của nước này sẽ tính và tác
động vào các khoản cụ thể sau:
không phải là cư trú tại Úc sẽ được xem là khoản tiền phải chịu thuế nhà thầu với mức
thuế suất ấn định là 10% trên số tiền lãi gộp thanh toán (gross interest payment) Vì
đây là khoản thuế đánh vào nguồn thu cuối cùng, do vậy các đối tượng không cư trú
không cần phải kê khai khoản tiền lãi nhận được này vào thu nhập lãi vay trong tờ khai
thuế thu nhập tại Úc, còn trong trường hợp khoản tiền lãi này là khoản thu nhập duy
nhất có nguồn gốc từ Úc thì các đối tượng này không cần phải làm tờ khai thuế thu
nhập Úc Tuy nhiên, kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2006 trở đi, khoản tiền lãi đã trả bởi
một đối tượng cư trú cho một đối tượng không cư trú sẽ không còn là đối tượng chịu
thuế nhà thầu đối với lãi vay tại Úc
C dividendsổ tức: Thuật ngữ cổ tức () đã được thay thế bằng một khái niệm
khác, được gọi là khoản sinh lời trên lãi vốn chủ sở hữu (a return on an equity
Trang 3827
interest), và khoản này cũng bao gồm các khoản cổ tức có được mà không có nguồn
gốc từ cổ phiếu Các tổ chức không cư trú (ngoại trừ các chi nhánh của Úc tại nước
ngoài) có phần sinh lời nhận được từ các đối tượng cư trú tại Úc sẽ là đối tượng chịu
thuế nhà thầu Mức thuế suất đối với cổ tức tại nước này ấn định là 30%, còn nếu là
các quốc gia có ký kết DTA với Úc sẽ hầu hết sẽ được giảm xuống tại mức 15%
đánh vào hầu hết các số tiền mà đối tượng nhận được Theo mục đích thuế thu nhập,
tiền bản quyền bao gồm các khoản chi trả cho việc sử dụng hoặc quyền được sử dụng
quyền tác giả, bằng phát minh sáng chế, thương hiệu, thiết bị công nghiệp hoặc cung
cấp kiến thức về khoa học, thương mại hoặc thông tin Tại Úc, tất cả tiền bản quyền
đều là chi phí của các doanh nghiệp Úc phải trả cho việc sử dụng các tài sản trên của
các đối tượng không cư trú Vì vậy, một đối tượng thuộc diện này sẽ là đối tượng chịu
thuế nhà thầu tại Úc Mức thuế suất ở nước này ấn định trong trường hợp tiền bản
quyền là 30% Khi đối tượng nhận tiền bản quyền là một tổ chức thuộc các quốc gia đã
có ký kết DTA với Úc thì mức thuế suất sẽ giảm còn từ 10% trở xuống tính trên số tiền
bản quyền gộp được nhận, cụ thể là mức thuế suất 5% sẽ được áp dụng cho nước Mỹ
và Úc, và trong thời gian gần đây (từ tháng 5/2008) đang đàm phán với nước Na Uy,
Pháp và Phần Lan để có thể áp dụng cũng ở mức 5%
1.3.1.2 Quản lý thuế tại Úc:
Từ năm 2002, ATO đã xây dựng và thực hiện chiến lược quản lý thuế theo cấp
độ tuân thủ pháp luật thuế của tất cả khách hàng ATO chia người nộp thuế theo từng
nhóm, căn cứ mức độ tuân thủ thuế, từ đó xác định các phương pháp quản lý đối xử
tương ứng Cách phân chia này chỉ sử dụng trong nội bộ, không công bố cho người
nộp thuế Cách ứng xử của cơ quan thuế theo các cấp độ tuân thủ thuế của người nộp
thuế diễn ra ở tất cả các chức năng quản lý thuế như: hỗ trợ thuế, thanh tra thuế, khởi
kiện, xử phạt thuế
Về tuyên truyền và hỗ trợ: cơ quan thuế đã thực hiện các biện pháp phổ biến
các nội dung tuyên truyền ra bên ngoài qua sách, web, thông tin đại chúng về cách xử
lý, đối xử của cơ quan thuế đối với từng loại đối tượng nộp thuế Điểm đặc trưng lớn
nhất của quản lý thuế ở Australia là tăng cường hỗ trợ phát triển mạnh mẽ các đại lý
thuế, tạo điều kiện cho hỗ trợ cho người nộp thuế
Trang 39quyền ấn định thuế đối với người nộp thuế kê khai sai nhưng rất ít sử dụng Mọi nỗ
lực đều tập trung vào khuyến khích người nộp thuế kê khai một cách trung thực Một trong những hình thức đặc biệt mà cơ quan thuế sử dụng là thiết kế cấu trúc khuyến khích người nộp thuế kê khai số thuế lớn hơn số thuế thực phải nộp để sau đó thực hiện cơ chế hoàn thuế Chính vì vậy mà ở Australia có đến 83% người nộp thuế được hoàn thuế
1.3.2 Hệ thống thuế nhà thầu tại Singapore và kinh nghiệm quản lý
1.3.2.1 Về hệ thống chính sách thuế nhà thầu:
Với những thuận lợi trên của nền kinh tế nước này, thêm vào đó, Singapore còn
có một hệ thống khoa học, kỹ thuật, công nghệ phát triển mạnh mẽ Theo Cơ quan khoa học công nghệ và nghiên cứu Singapore thì công nghiệp chế tạo, hàng không và
dịch vụ vẫn là những trụ cột của nền kinh tế trên nền tảng khả năng cạnh tranh cao về khoa học, kỹ thuật và chi phí lao động Do đó, với những đặc thù riêng có của quốc gia
về nền kinh tế nên thuế nhà thầu tại Singapore tác động đến các đối tượng tương đối khác biệt với nhiều quốc gia khác, với mức thuế suất cụ thể tương ứng đang áp dụng nếu các khoản sau đây được thanh toán cho các đối tượng không thường trú tại nước này:
Lãi vay, hoa hồng, phí, các khoản thanh toán khác có liên quan đến lãi vay, phí quản lý, phí bảo đảm: thuế suất áp dụng là 15%
Tiền bản quyền hoặc khoản chi trả gộp cho việc sử dụng các tài sản trí tuệ hoặc các động sản khác: thuế suất áp dụng là 10%
Trang 40Tiền thuê hoặc các khoản khác trả cho hợp đồng sử dụng các thiết bị, máy móc: thuế suất áp dụng là 15%
1.3.2.2 Quản lý thuế tại Singapore:
Quản lý thuế ở Singapore có mục tiêu trở thành cơ quan quản lý thu thuế hàng đầu thế giới thông qua chiến lược quản lý là “tối đa hoá sự tuân thủ tự nguyện của
người nộp thuế” Vì vậy, mọi đặc điểm và yêu cầu của người nộp thuế là cơ sở cho
những phản ứng của cơ quan quản lý thu nội địa Singapore (IRAS)
Trong các giải pháp chiến lược quản lý thu thuế, IRAS chú ý nhất tới các giải pháp hỗ trợ người nộp thuế Các dịch vụ hoàn hảo được cung cấp dựa trên điều tra lấy
ý kiến, gặp gỡ tiếp xúc trực tiếp với khách hàng “IRAS đặt ra những chiến lược lắng nghe và học hỏi khác nhau để nắm được những sở thích, nhu cầu của từng nhóm
người nộp thuế nhằm phát triển các sản phẩm và dịch vụ” IRAS phát triển một đội
ngũ nhân viên có năng lực, kỹ năng để có những dịch vụ có chất lượng cao Công
nghệ thông tin hoá các dịch vụ hỗ trợ mạnh mẽ của IRAS cũng là một trong những
yếu tố làm nên thành công trong nâng cao dịch vụ khách hàng và tính tuân thủ mà IRAS theo đuổi
1.3.3 Hệ thống thuế nhà thầu tại Trung Quốc và kinh nghiệm quản lý
1.3.3.1 V ề hệ thống thuế nhà thầu tại Trung Quốc:
Các doanh nghiệp nước ngoài không thiết lập hoặc không điều hành, kinh doanh tại Cộng hòa nhân dân Trung Hoa sẽ là đối tượng nộp thuế nhà thầu trong trường hợp những đối tượng này có thu nhập có nguồn gốc từ quốc gia này bao gồm lãi vay, cổ tức, tiền thuê, tiền bản quyền và lợi nhuận thu được do việc thanh lý, nhượng bán tài sản có được Mức thuế suất áp dụng cho thuế nhà thầu tại Trung Quốc