1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế ở những hộ nghèo khu vực nông thôn tỉnh cà mau

109 371 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tế trên, cho thấy việc tìm hiểu vai trò của người phụ nữ nông thôn ở hộ nghèo, những khó khăn mà họ gặp phải để đưa ra giải pháp nâng cao vai trò của họ trong phát triển kinh tế

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

  

NGUYỄN THỊ KIM THOA

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở NHỮNG HỘ NGHÈO KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Quản trị kinh doanh - Tổng Hợp

Trang 2

KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

  

NGUYỄN THỊ KIM THOA

MSSV: 4114577

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở NHỮNG HỘ NGHÈO KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Quản trị kinh doanh - Tổng Hợp

Mã số ngành: 52340101

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

TS VƯƠNG QUỐC DUY

Tháng 8 năm 2014

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Luận văn này được thực hiện trong thời gian tôi học tại Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh trường Đại học Cần Thơ Để hoàn thành được luận văn tốt nghiệp tôi đã nhận được sự hỗ trợ từ nhiều phía Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy Cô Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức chuyên môn bổ ích trong suốt khoá học tại đây

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy Vương Quốc Duy đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi thực hiện tốt đề tài này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến anh Nguyễn Thế Châu đã hỗ trợ rất nhiều trong quá trình thu số liệu Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến chính quyền địa phương, cơ quan đoàn thể, người dân địa phương đã hỗ trợ tích cực trong quá trình thu thập số liệu thực hiện đề tài

Ngoài ra, tôi rất biết ơn sự động viên, ủng hộ của gia đình, bạn bè trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Cuối cùng tôi xin chúc quý Thầy (Cô) ở Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, trường Đại học Cần Thơ dồi dào sức khỏe và thành công trong cuộc sống Do thời gian và kiến thức của bản thân còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong Thầy (Cô) thông cảm và đóng góp ý kiến để đề tài này được hoàn thiện hơn

Trang 4

TRANG CAM KẾT

Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng trong bất kỳ một luận văn cùng cấp nào khác

Cần Thơ, ngày 24 tháng 11 năm 2014

Người thực hiện

Nguyễn Thị Kim Thoa

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Cần Thơ, ngày 24 tháng 11 năm 2014

Người nhận xét

Vương Quốc Duy

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1

1.2.1 Mục tiêu chung 1

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

1.3.1 Phạm vi về không gian 2

1.3.2 Phạm vi về thời gian 2

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 3

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ NGHIÊN CỨU 4

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4

2.1.1 Một số khái niệm 4

2.1.2 Nguồn vốn sinh kế 6

2.1.3 Vai trò của phụ nữ 8

2.2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 8

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 13

2.3.2 Phương pháp phân tích 13

CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 17

3.1 TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH CÀ MAU 17

3.1.1 Các nguồn lực sẵn có thuận lợi cho phát triển kinh tế ở Cà Mau 17

3.1.2 Tình hình kinh tế, xã hội ở tỉnh Cà Mau 18

3.2 KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN 2011 - 2013 25

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26

4.1 MÔ TẢ KHÁI QUÁT VỀ HỘ NGHÈO 26

4.1.1 Khái quát về những hộ nghèo 28

4.1.2 Kết quả việc thực hiện công tác giảm nghèo 28

4.1.3 Những khó khăn trong những hộ nghèo 29

4.2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH 30

4.2.1 Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất tạo ra thu nhập 30

Trang 7

4.2.2 Vai trò của phụ nữ trong tham gia quản lý điều hành sản xuất 32

4.2.3 Vai trò của phụ nữ trong sản xuất và phân công lao động trong hộ 36

4.2.4 Vai trò của phụ nữ trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của hộ 45

4.2.5 Vai trò của phụ nữ trong kiểm soát các nguồn lực và tài chính của hộ

50

4.3 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAM GIA PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA PHỤ NỮ 51

4.3.1 Hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình 51

4.3.2 Kết quả phân tích các nhân tố tác động đến sự tham gia kinh tế của phụ nữ trong những hộ nghèo khu vực nông thôn 52

4.4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ 54

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55

5.1 KẾT LUẬN 55

5.2 KIẾN NGHỊ 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

PHỤ LỤC 63

Trang 8

DANH SÁCH BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Mức thu nhập xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo 4 Bảng 2.2 Diễn giải các biến độc lập trong mô hình hồi quy logistic 15 Bảng 4.2 Quyền ra quyết định trong nhóm hộ nghèo và cận nghèo 33 Bảng 4.3 So sánh sự khác biệt giữa nhóm hộ nghèo và không nghèo trong quản lý điều hành 35 Bảng 4.4 Quyền ra quyết định và thực hiện ở nhóm hộ nghèo 36 Bảng 4.5 Quyền ra quyết định và thực hiện ở nhóm hộ nghèo 39 Bảng 4.6 So sánh sự khác biệt về vai trò của phụ nữ trong sản xuất và phân công lao động giữa nhóm hộ không nghèo và không nghèo trong trồng trọt .41 Bảng 4.7 So sánh sự khác biệt về vai trò của phụ nữ trong sản xuất và phân công lao động giữa nhóm hộ không nghèo và không nghèo trong chăn nuôi 43 Bảng 4.8 Phân chia công việc trong sinh hoạt gia đình ở hộ nghèo .45 Bảng 4.9 So sánh sự khác biệt về phân chia công việc trong sinh hoạt gia đình

ở hộ không nghèo và hộ nghèo 47 Bảng 4.10 Ra quyết định quản lý tài chính, quyền quyết định trong gia đình ở

hộ nghèo 50 Bảng 4.11 So sánh sự khác biệt về ra quyết định quản lý tài chính, quyền quyết định trong gia đình ở hộ nghèo 51 Bảng 4.12 Mức độ dự báo đúng của toàn bộ mô hình 52 Bảng 4.13 Kết quả hồi quy 53

Trang 9

DANH SÁCH HÌNH

Trang

Hình 2.1 Khung sinh kế bền vững của DFID 6

Hình 4.1 Cơ cấu nghề nghiệp của chủ hộ 26

Hình 4.2 Cơ cấu thu nhập hộ gia đình 28

Hình 4.3 Sự đa dạng nghề nghiệp của người phụ nữ ở hộ nghèo 31

Hình 4.4 Tỷ lệ người phụ nữ làm chủ hộ 32

Trang 10

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

Ở Cà Mau, trong thời gian qua sau khi triển khai nhiều chương trình nhằm thực hiện mục tiêu quốc gia như giảm nghèo bền vững, cung cấp nước sạch, dạy nghề, vay vốn Chương trình đã đạt được những mục tiêu nhất định Thu nhập của người dân tăng đáng kể tới 21,2 % so với năm 2011, đạt 28,2 triệu đồng/ năm/ người năm 2013 Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 12,14% năm 2011 xuống còn 6,49% năm 2013 Tỷ lệ hộ cận nghèo cũng giảm từ 6,09% xuống còn 4,14% từ năm 2011 đến năm 2013 (Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau, 2013) Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn để triển khai các chương trình như dạy nghề, hướng dẫn tập huấn khoa học kỹ thuật, tiếp cận các gói tín dụng cho vay dành cho phụ nữ Khả năng chủ động tham gia phát triển kinh

tế, ra quyết định, vươn lên thoát nghèo của người phụ nữ vẫn còn nhiều hạn chế do người phụ nữ nông thôn dành phần nhiều thời gian của họ để chăm sóc gia đình, con cái

Từ thực tế trên, cho thấy việc tìm hiểu vai trò của người phụ nữ nông thôn ở hộ nghèo, những khó khăn mà họ gặp phải để đưa ra giải pháp nâng cao vai trò của họ trong phát triển kinh tế góp phần giảm nghèo là hết sức cần

thiết Vì vậy, đề tài về “Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ nghèo

khu vực nông thôn tỉnh Cà Mau” được thực hiện là hết sức cần thiết

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Phân tích vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế ở những hộ nghèo khu vực nông thôn Cà Mau, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao vai trò

Trang 11

của người phụ nữ trong việc tham gia phát triển kinh tế ở những hộ nghèo khu vực nông thôn Cà Mau

có tỷ lệ hộ nghèo cao, đồng thời đại diện cho các huyện thuộc vùng sinh thái ngọt) và 2 xã của một huyện Cái Nước (đây là huyện đại diện cho nhóm huyện

có tỷ lệ hộ nghèo thấp và đồng thời đại diện cho các huyện thuộc vùng sinh thái mặn) Các xã được chọn là xã có tỷ lệ hộ nghèo tương đối cao của mỗi huyện

1.3.2 Phạm vi về thời gian

Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014

Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2011 đến năm 2013

Thời gian thu thập số liệu sơ cấp: từ tháng 8 – 10/2014

Số liệu sơ cấp: thu thập qua phỏng vấn trực tiếp chủ hộ hoặc thành viên trong hộ bằng bảng câu hỏi về đặc điểm hộ gia đình, những thông tin liên quan đến thu nhập của hộ gia đình, vai trò của phụ nữ trong các hoạt động sản xuất, sinh hoạt gia đình và các đề xuất, kiến nghị của hộ gia đình khu vực nông thôn tỉnh Cà Mau

Trang 12

1.3.3 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là những hộ dân nghèo ở khu vực nông thôn tỉnh Cà Mau, trong đó chia làm 2 nhóm đối tƣợng là hộ nghèo và hộ cận nghèo theo kết quả điều tra rà soát hộ nghèo cuối năm 2013 của tỉnh Cà Mau

Trang 13

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Một số khái niệm

2.1.1.2 Khái niệm về nghèo

Hội nghị về chống nghèo ở khu vực Châu Á, Thái Bình Dương (1993) tại Bangkok, Thái Lan do ESCAP tổ chức cho rằng nghèo là một bộ phận dân

cư không được thỏa mãn những nhu cầu đời sống cơ bản của con người, mà những nhu cầu này thì thay đổi theo thời gian và tùy thuộc vào sự tiến bộ của

xã hội (Báo cáo chính phủ về chuẩn nghèo giai đoạn 2006 – 2010 của Bộ lao động và thương binh xã hội)

Ở nước ta theo công trình nghiên cứu về “Xóa đói giảm nghèo, 1995”

do nhóm nghiên cứu UNDP, UNFPA, UNICEF thực hiện thì nghèo là sự thiếu khả năng trong tham gia đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào đời sống kinh

tế

Như vậy nghèo là hạn chế về các nguồn lực để tham gia vào cuộc sống hằng ngày, tham gia phát triển kinh tế dẫn đến nguồn thu nhập thấp, đời sống không được cải thiện Không đáp ứng được những nhu cầu cơ bản của cuộc sống như ăn, mặc, chăm sóc sức khỏe, cũng như các dịch vụ cần thiết khác Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ thì chuẩn hộ nghèo, chuẩn hộ cận nghèo giai đoạn 2011 – 2015 như sau:

Bảng 2.1 Mức thu nhập xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo

Trang 14

những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người mỗi tháng từ 401.000 đến 520.000 đồng.

2.1.1.2 Khái niệm về nông thôn, hộ và nông hộ

Nông thôn là một hình thức cư trú mang tính không gian - lãnh thổ, xã hội của con người, nơi sinh sống của những người chủ yếu làm nghề nông và những nghề khác có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất nông nghiệp (Phan Văn Thạng, 2008) Ở tỉnh Cà Mau, nông thôn là địa bàn các xã thuộc các huyện và các xã thuộc thành phố Cà Mau

Hộ và nông hộ đã hình thành và tồn tại từ rất lâu đời, đến nay còn nhiều quan điểm khác nhau chưa đi đến thống nhất Nhưng ở đây chúng ta có thể hiểu hộ và nông hộ như sau: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức vào hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này” theo

bộ Luật dân sự (2005)

Hay theo Phan Văn Thạng, 2008 thì Hộ gia đình là một khái niệm để chỉ hình thức tồn tại của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình làm nền tảng Hộ gia đình trước hết là một tổ chức kinh tế có tính chất hành chính và địa lý Trong

đó, gia đình là một nhóm người mà các thành viên gắn bó với nhau bằng quan

hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống (kể cả nhận con nuôi) vừa đáp ứng nhu cầu riêng tư của mình, vừa thỏa mãn nhu cầu xã hội

Như vậy hộ gia đình là một nhóm người sống chung với nhau được ràng buộc bởi các mối quan hệ như huyết thống hay vợ chồng cùng nhau tham gia kinh doanh sản xuất đóng góp vào kinh tế, tài sản chung cho gia đình

Nông hộ là gia đình sống bằng nghề nông (Nguyễn Lân, 2000)

2.1.1.3 Khái niệm về thu nhập hộ gia đình

Thu nhập của nông hộ được xác định bởi các nguồn thu từ các hoạt động như trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản và các hoạt động phi nông nghiệp Hơn nữa, thu nhập của nông hộ thậm chí còn bao gồm các khoản khác như tiền lương, tiền công, trợ cấp từ người thân, chính phủ và lãi suất tiết kiệm (Elllis, 1993)

Thu nhập là giá trị còn lại sau khi lấy doanh thu trừ chi phí chưa kể lao động nhà Thu nhập của nông hộ được chia làm 3 nguồn chính đó là:

- Thu nhập từ nông nghiệp như: thu từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản

Trang 15

- Thu nhập từ phi nông nghiệp như: mua bán, kinh doanh, tự kinh doanh…

- Thu nhập từ làm thuê như: tiền lương, tiền công làm thuê và các khoản thu nhập khác

Nguồn thu nhập của hộ do các thành viên trong gia đình tạo ra, thu nhập bình quân trên đầu người bằng tổng thu nhập của hộ chia cho tổng số thành viên trong hộ gia đình đó

- Doanh thu: là toàn bộ số tiền mà nhà sản xuất, kinh doanh dịch vụ có được từ hoạt động bán sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trên thị trường

- Chi phí: là toàn bộ chi phí đầu tư vào hoạt động sản xuất để tạo ra sản phẩm, bao gồm chi phí lao động (nhân công), chi phí vật chất và chi phí khác

2.1.2 Nguồn vốn sinh kế

Nguồn vốn hay tài sản sinh kế: Là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất mà con người có thể sử dụng để duy trì hay phát triển sinh kế của họ Nguồn vốn hay tài sản sinh kế được chia làm 5 loại vốn: vốn nhân lực, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn xã hội và vốn tự nhiên (hình 2.1)

Nguồn: DFID (2001)

Hình 2.1 Khung sinh kế bền vững của DFID

- Vốn nhân lực (Human capital): Vốn nhân lực là khả năng, kỹ năng, kiến thức làm việc và sức khỏe để giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau nhằm đạt được kết quả sinh kế hay mục tiêu sinh kế của họ Với mỗi hộ gia đình vốn nhân lực biểu hiện ở trên khía cạnh số lượng và chất lượng của lực lượng lao động ở trong gia đình đó Vốn nhân lực là điều kiện cần để có thể sử dụng và phát huy hiệu quả bốn loại vốn khác

Chiến lược sinh kế

- Dựa trên tài nguyên,

- Không dựa trên tài nguyên

- Di cư

Kết quả/mục tiêu của sinh kế

Nhân lực,vật chất, xã hội,

tự nhiên và tài chính

Trang 16

- Vốn tài chính (Financial capital): Vốn tài chính là các nguồn tài chính

mà người ta sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu trong sinh kế Các nguồn đó bao gồm nguồn dự trữ hiện tại, dòng tiền theo định kỳ và khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng từ bên ngoài như từ người thân hay từ các tổ chức tín dụng khác nhau

- Vốn tự nhiên (Natural capital): Vốn tự nhiên là các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất, nước, … mà con người có được hay có thể tiếp cận được nhằm phục vụ cho các hoạt động và mục tiêu sinh kế của họ Nguồn vốn tự nhiên thể hiện khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra thu nhập phục vụ cho các mục tiêu sinh kế của họ Đây có thể là khả năng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nguồn vốn tự nhiên thể hiện quy mô và chất lượng đất đai, quy mô và chất lượng nguồn nước, quy mô và chất lượng các nguồn tài nguyên khoáng sản, quy mô và chất lượng tài nguyên thủy sản và nguồn không khí Đây là những yếu tố tự nhiên mà con người có thể sử dụng

để tiến hành các hoạt động sinh kế như đất, nước, khoáng sản và thủy sản hay những yếu tố tự nhiên có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của con người như không khí hay sự đa dạng sinh học

- Vốn vật chất (Physical capital): Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và hàng hóa vật chất nhằm hỗ trợ việc thực hiện các hoạt động sinh kế Nguồn vốn vật chất thể hiện ở cả cấp cơ sở cộng đồng hay cấp hộ gia đình Trên góc độ cộng đồng, đó chính là cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ cho sinh kế của cộng đồng hay cá nhân gồm hệ thống điện, đường, trường trạm, hệ thống cấp nước và vệ sinh môi trường, hệ thống tưới tiêu và hệ thống chợ Đây là phần vốn vật chất hỗ trợ cho hoạt động sinh kế phát huy hiệu quả Ở góc độ hộ gia đình, vốn vật chất là trang thiết bị sản xuất như máy móc, dụng cụ sản xuất, nhà xưởng hay các tài sản nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày như nhà cửa và thiết bị sinh hoạt gia đình

- Vốn xã hội (Social capital): Vốn xã hội là một loại tài sản sinh kế Nó nằm trong các mối quan hệ xã hội (hoặc các nguồn lực xã hội) chính thể và phi chính thể mà qua đó người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực thi sinh kế

Nguồn vốn sinh kế không chỉ thể hiện ở trạng thái hiện tại mà còn thể hiện khả năng thay đổi trong tương lai Chính vì thế khi xem xét vốn, con người không chỉ xem xét hiện trạng các nguồn vốn sinh kế mà cần có sự xem xét khả năng hay cơ hội thay đổi của nguồn vốn đó như thế nào ở trong tương lai

Trang 17

2.1.3 Vai trò của phụ nữ

2.1.3.1 Khái niệm bình đẳng giới

Theo Luật bình đẳng giới 2006, bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau; được tạo điều kiện và cơ hội để phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau của sự phát triển đó (Một số khái niệm cơ bản về giới, Trương Quang Hồng) Như vậy bình đẳng giới là sự bình đẳng trên pháp luật, sự tôn trọng, cơ hội trong tiếp cận nguồn vốn, nguồn nhân lực, nguồn lực sản xuất khác giữa nam và nữ Cơ hội trong tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực xã hội và thành quả phát triển, bình đẳng trong gia đình và xã hội, được tham gia phát triển kinh tế gia đình và hưởng thành quả từ việc phát triển kinh tế

Bình đẳng giới không làm cản trở sự tham gia của phụ nữ, góp phần thúc đẩy quá trình xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội

2.1.3.2 Vai trò của phụ nữ trong xã hội hiện đại

Theo tổng thư ký liên hiệp quốc Ban Ki Mun, đầu tư cho phụ nữ và các

em gái sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển tiến bộ trên thế giới Đầu tư cho phụ nữ sẽ giúp đương đầu với các thách thức của thời đại, đó

là tình trạng nghèo đói, thất học, các hiểm họa môi trường và dịch bệnh Vì trong cuộc sống gia đình người phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong việc chăm sóc gia đình và con cái Ngoài ra, ngày nay người phụ nữ còn tham gia phát triển kinh tế góp phần tạo ra thu nhập nâng cao đời sống cho gia đình

Phụ nữ Việt Nam hiện nay tự tin coi mình là lực lượng lao động chính trong xã hội, trong gia đình (Báo cáo tại Hội nghị thượng đỉnh phụ nữ 2008) Được thể hiện rõ trong lĩnh vực nông nghiệp, do tính chuyên cần chịu thương chịu khó vai trò của người phụ nữ càng thể hiện rõ với 80% dân số sống ở nông thôn Để nâng cao năng suất, thu nhập họ sẵn sàng tham gia nhiều hoạt động để kiếm thêm thu nhập, cũng như nhiều lớp tập huấn khoa học kỹ thuật Theo số liệu của hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam người phụ nữ đã tham gia vào hầu hết các hoạt động với trên 50% phụ nữ tham gia vào lao động sản xuất

2.2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

Đến nay, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về nông hộ, các yếu tố tác động quyết định đến khả năng lựa chọn ngành nghề sản xuất kinh doanh của nông hộ, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng của một hộ gia đình là hộ nghèo, các nhân tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình, các nhân tố tác động đến việc tham gia của phụ nữ vào phát triển kinh tế, các nhân tố tác động đến việc giảm nghèo v.v

Trang 18

Trong một nghiên cứu của T Paul Schultz (2001) về Why Government

Should Invest more Educate Girls cho rằng khả năng kiếm tiền, việc làm của

phụ nữ phụ thuộc vào tuổi và trình độ học vấn của họ Một nghiên cứu tương

tự của Becker (1964) trong “Human Capital”, New York một người có nhiều

kiến thức thì sẽ có nhu cầu tham gia tìm kiếm thu nhập nhiều hơn

Killingsworth (1983) “Labor Supply” cho rằng ảnh hưởng của lương của

người vợ được giáo dục lên việc cung cấp lao động của người chồng là đáng

kể Nghiên cứu khác của Schultz (1981) “Economics of Population”; Killingsworth “Labor Supply” thì kinh nghiệm của lao động nữ co giản theo

độ tuổi nhiều hơn là nam Tấc cả cho thấy tuổi và trình độ học vấn có ảnh hưởng đến sự tham gia phát triển kinh tế của nữ giới trong gia đình vì việc làm của họ nhẹ nhàng, cơ hội tìm kiếm việc làm và thu nhập dễ dàng hơn những người có trình độ học vấn thấp Kinh nghiệm của phụ nữ càng lớn tuổi thì càng được đúc kết nhiều do tính cần cù tỉ mỉ của người phụ nữ

Một nghiên cứu khác về Famiy của Becker (1964) cho rằng phụ nữ có

gia đình sẽ tạo ra thu nhập thấp hơn phụ nữ độc thân Phần nhiều do người phụ

nữ ở nhà chăm sóc gia đình để chồng tạo ra thu nhập Mặc dù giữ vai trò quan trọng tuy nhiên sự đóng góp này của phụ nữ thường không được tính vào thu nhập của gia đình

Theo Benhabib And Spiegel (1994) cho rằng đóng góp thu nhập của lao động nữ có thể giảm khi mà thu nhập trang trại tăng và sự thay đổi khoa học

kỹ thuật, nhu cầu thuê lao động tăng Điều này do vợ chủ yếu lao động bằng kinh nghiệm, ít được tập huấn khoa học kỹ thuật hơn người chồng nên sự thay đổi về khoa học kỹ thuật làm giảm thu nhập, sự tham gia vào kinh tế của họ

Preston and Weed trong “World health statistics Report” cho rằng phụ nữ là

chủ hộ và không có gia đình ở thành phố có khả năng thành công nhiều hơn ở nông thôn Do họ có nhiều điều kiện thích hợp và được đào tạo tốt hơn nên có việc làm nhẹ nhàng ít gặp khó khăn hơn Trong khi phụ nữ ở nông thôn chủ yếu làm nông điều kiện sức khỏe hạn chế nên gặp nhiều khó khăn hơn Ngoài

ra trong một nghiên cứu khác của T.Paul Schultz (1999) về thì nguồn lao động

nữ trong “Woman’ role in the Agricultuaral Household: Bagaining anh human

Capital” còn chịu tác động của chương trình giáo dục, chăm sóc sức khỏe

cộng đồng, kế hoạch gia đình

Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Alian de Janvry, Elisabeth Sadoulet

và Nong Zhu (2005) về “Vai trò của hoạt động phi nông nghiệp trong giảm

nghèo và bất bình đẳng ở Trung Quốc” gồm 7.333 quan sát từ 6 quận, huyện

của tỉnh Hồ Bắc vào đầu năm 1996, nhóm nghiên cứu đã phỏng vấn 2 nhóm

hộ gia đình là nhóm hộ chỉ hoạt động sản xuất nông nghiệp và nhóm hộ vừa

Trang 19

sản xuất nông nghiệp, vừa tham gia các hoạt động phi nông nghiệp Sử dụng phương pháp hồi quy để phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình, các tác giả đã phát hiện rằng ở cả hai loại hình thì số lượng lao động có tác động tích cực đến thu nhập của hộ, số người phụ thuộc cũng có tác động mạnh đến thu nhập của hộ, diện tích đất canh tác cũng tác động đến thu nhập nhưng theo hình chữ U ngược Đối với những hộ gia đình thuần nông thì khoảng cách giữa nhà và khu trung tâm quận, huyện không tác động đến thu nhập của họ, nhưng đối với nhóm hộ còn lại thì yếu tố này có tác động tích cực Một điểm khác đáng chú ý là trình độ học vấn của chủ hộ lại không tác động đến thu nhập của hộ gia đình, kết quả này khác với kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu ở nước ta trong một số trường hợp được đề cập ở nội dung tiếp theo dưới đây

Nghiên cứu của Ý và cộng sự, 2012 “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự

tham gia phát triển kinh tế của phụ nữ nghèo ở thành phố Cần Thơ” sử dụng

phương pháp thống kê mô tả và hồi quy logistic để tìm hiểu các nhân tố tác động đến sự tham gia của phụ nữ và kết quả cho thấy trình độ học vấn, kiểu gia đình, số con từ 7-12 tuổi, tổng thu nhập tác động đến vai trò của người phụ

nữ Trong khi một nghiên cứu khác Nương, 2013 về “Giải pháp nâng cao vai

trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn Huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên” sử dụng phương pháp thống kê mô tả và hồi quy probit để

tìm ra giải pháp nâng cao vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ như các giải pháp về vốn, tham gia hoạt động Nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố khách quan như vốn, diện tích và yếu tố chủ quan như trình độ học vấn, tập huấn kỹ thuật tác động đến sự tham gia phát triển kinh tế của phụ nữ

Nghiên cứu của Nữ, 2012 về “Đánh giá tác động của tín dụng đối với

giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam” bằng phương pháp khác biệt trong khác

biệt (DID) Với mức ý nghĩa 5% nghiên cứu đã chỉ ra rằng tín dụng góp phần cải thiện đời sống cho hộ nghèo, ngoài ra còn chỉ ra rằng chính sách, biện pháp hướng dẫn kỹ thuật giúp đầu tư hiệu quả, đầu tư vào giáo dục, đa dạng hóa nghề nghiệp cũng góp phần giảm nghèo Do tín dụng làm tăng chi tiêu của gia đình từ đó cải thiện đời sống của các hộ dân nhưng chưa làm tăng thu nhập của người dân Nguyên nhân có thể do các gói cho vay chưa thật sự mang lại hiệu quả do đó cần có chương trình định hướng hướng dẫn kỹ thuật đi kèm việc cho vay

Trong một nghiên cứu tương tự với tên đề tài “Vai trò của người phụ nữ

nông thôn trong phát triển kinh tế nông hộ ở huyện Đồng Hỷ” của Tâm,

Phương, 2012 thì trình độ học vấn, thu nhập ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ vào phát triển kinh tế Điều này có thể cho thấy cơ hội được học tập

Trang 20

của phụ nữ còn hạn chế Khi thu nhập của họ thấp thì việc tham gia của họ vào kinh tế gặp nhiều vất vả hơn Và với trình độ học vấn thấp cơ hội việc làm ít hơn và họ thường ở nhà làm công việc nội trợ chăm sóc gia đình vì vậy ảnh hưởng đến việc tham gia phát triển kinh tế

Trong nghiên cứu của Đường, 2006 và cộng sự về “Giảm nghèo bền

vững và trợ giúp các đối tượng yếu thế: những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện” đã phân tích các yếu tố như nâng cao năng lực cho người nghèo,

các chương trình đào tạo nghề, trợ cấp xã hội, đào tạo bồi dưỡng năng lực cho cán bộ và cộng đồng, chăm sóc y tế ảnh hưởng đến việc giảm nghèo

Đối với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, trong bài nghiên cứu

“Nghèo và môi trường tự nhiên trong quá trình phát triển bền vững ở Đồng

bằng sông Cửu Long”, tác giả Hổ, 2010 đã sử dụng mô hình hồi quy Binary

Logistic phân tích các yếu tố tác động đến khả năng nghèo của hộ gia đình ở nông thôn với hai mức ý nghĩa Kết quả phân tích cho thấy ở mức ý nghĩa 1%, các yếu tố ảnh hưởng đến xác suất nghèo của hộ là giới tính, quy mô hộ gia đình, việc làm sản xuất nông nghiệp, quy mô diện tích đất canh tác, quy mô tiền vay từ định chế chính thức Ở mức ý nghĩa 5% có hai yếu tố tác động đến xác suất nghèo của hộ là việc làm phi nông nghiệp và trình độ học vấn Trong

đó chỉ có biến quy mô hộ gia đình có hệ số β mang dấu dương, các biến còn lại đều mang dấu âm, nghĩa là khi quy mô hộ gia đình tăng lên thì xác suất hộ

đó là hộ nghèo sẽ tăng theo Ngược lại, nếu các biến còn lại tăng thì xác suất

hộ đó là hộ nghèo sẽ giảm

Nghiên cứu của nhóm tác giả Vân và cộng sự, 2010 về “Vai trò của các

hoạt động phi nông nghiệp đối với việc xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Trà Vinh”

bằng phương pháp phân tích hồi quy Probit và mô hình OLS Kết quả mô hình Probit cho thấy, quyết định thực hiện các hoạt động phi nông nghiệp phụ thuộc bởi nhiều yếu tố như: Quy mô hộ gia đình, tuổi của chủ hộ, tổng thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp và tổng giá trị tài sản của nông hộ Tuy nhiên, tổng thu nhập của nông

hộ chỉ bị tác động bởi yếu tố quy mô hộ gia đình, các biến còn lại như tuổi của chủ hộ, trình độ cao nhất của thành viên trong hộ và diện tích đất của hộ không có tác động đến thu nhập của hộ không có ý nghĩa thống kê khi sử dụng

mô hình OLS Trong khi đó một nghiên cứu khác của Xuân và Nam, 2010 về

“Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ chăn nuôi gia cầm ở

Đồng bằng song Cửu Long”, với số liệu thu thập gồm 307 quan sát ở các tỉnh

Long An, Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp và Trà Vinh, tác giả đã sử dụng phương pháp hồi quy tương quan Qua đó cho thấy tổng diện tích đất của hộ, thu nhập từ chăn nuôi gia cầm, thu nhập từ chăn nuôi khác và thu nhập phi

Trang 21

nông nghiệp là nhân tố tác động đến thu nhập của các hộ chăn nuôi gia cầm bị dịch cúm gia cầm ở Đồng bằng sông Cửu Long

Số nhân khẩu trong hộ, kinh nghiệm làm việc của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, số hoạt động tạo ra thu nhập và độ tuổi trung bình của lao động trong hộ tác động đến thu nhập bình quân Đó là kết quả của nghiên cứu

“Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn

huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long” Một nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn

Quốc Nghi và phương pháp hồi quy tương quan phân tích số liệu thu thập gồm

182 quan sát (ở mức ý nghĩa 5%) được sử dụng trong nghiên cứu này trong đó chỉ có nhân tố số nhân khẩu trong hộ tác động ngược chiều với thu nhập bình quân của hộ gia đình, các nhân tố còn lại tác động cùng chiều Một bài nghiên

cứu tương tự khác của tác giả Nghi và Trịnh, 2011 với bài nghiên cứu “Các

yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tộc thiểu số ở Đồng bằng song Cửu Long” đã chỉ ra thu nhập của người dân tộc thiểu số chịu tác động của

các yếu tố chủ quan và khách quan Trong đó các yếu tố về trình độ học vấn của chủ hộ, số hoạt động tạo ra thu nhập, tiếp cận chính sách hỗ trợ tương quan thuận với thu nhập/người/tháng; hai yếu tố còn lại có tác động ngược chiều với thu nhập là số nhân khẩu của hộ và độ tuổi của lao động trong hộ Kết quả nghiên cứu này cơ bản phù hợp với kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long, tuy nhiên có điểm khác là yếu tố độ tuổi của lao động trong hộ có tác động ngược chiều với thu nhập

Qua các nghiên cứu trên các nhà nghiên nghiên cứu đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhằm thực hiên các mục tiêu khác nhau như phương pháp hồi quy Binary Logistic Hổ, 2010; để nghiên cứu tác động của các nhân

tố ảnh hưởng đến khả năng hộ gia đình là hộ nghèo Ý, 2011 để xác định các nhân tố ảnh hưởng sự tham gia của phụ nữ vào phát triển kinh tế hộ; hay hàm các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng để một hộ thực hiện hoạt động nào đó, ta

sử dụng hàm Probit để ước lượng (Vân và cộng sự, 2010) hay Nương, 2011 để tìm hiểu về giải pháp nâng cao vai trò của người phụ nữ; phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình, ta có thể sử dụng phương pháp hồi quy đa biến (Janvry et al, 2005), (Xuân và cộng sự, 2011), hoặc sử dụng hàm Cobb – Douglas (Anh và cộng sự, 2010); sử dụng mô hình OLS để ước lượng tổng thu nhập của nông hộ (Vân, 2010)

Bên cạnh đó, có thể khái quát các nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia phát triển kinh tế hộ của phụ nữ: tuổi của phụ nữ, trình độ học vấn của người phụ nữ, trình độ học vấn cao nhất của thành viên hộ, số lao động trong hộ, tuổi trung bình của lao động, diện tích đất sản xuất, vay vốn, tham gia hội đoàn thể,

Trang 22

điều kiện cở sở hạ tầng,… Thêm vào đó là tình hình thực tế ở địa phương, tác giả có thể xây dựng mô hình nghiên cứu và nhận dạng các nhân tố có thể ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ vào phát triển kinh tế của hộ gia đình ở khu vực nông thôn tỉnh Cà Mau, với phương pháp phân tích hồi quy nhị phân để

đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự tham gia của phụ nữ vào phát triển kinh tế hộ gia đình ở khu vực nông thôn tỉnh Cà Mau, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.1.2 Số liệu sơ cấp

Như đã trình bài trong phần phạm vi về không gian Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên và dự kiến sẽ thu thập số liệu qua điều tra phỏng vấn trực tiếp hộ gia đình tại 4 xã là những xã có tỷ lệ hộ nghèo cao thuộc 2 huyện U Minh và Cái Nước, với tổng số 240 quan sát, bao gồm 3 nhóm hộ: nhóm hộ cận nghèo và nhóm hộ nghèo, nhóm hộ không nghèo theo kết quả điều tra khảo sát cuối năm 2013 của tỉnh

Như vậy mỗi nhóm hộ sẽ thu thập 80 quan sát, thỏa mãn tính đại diện của từng nhóm (theo Võ Thị Thanh Lộc, 2010) Căn cứ vào danh sách hộ theo từng nhóm do Uỷ ban Nhân dân xã cung cấp, tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên

có hệ thống để tiếp xúc phỏng vấn

2.3.2 Phương pháp phân tích

Đối với mục tiêu 1: sử dụng thống kê mô tả để:

- Mô tả về đặc điểm của hộ gia đình như quy mô hộ gia đình, tuổi và trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích đất sản xuất, hoạt động tạo thu nhập Phân tích vai trò của phụ nữ trong các hộ nghèo, cận nghèo ở Cà Mau về vai

Trang 23

trò của phụ nữ trong quản lý tham gia sản xuất và ra quyết định phân công trong hộ, sử dụng vốn

- Phương pháp phân tích tần suất: là bảng tóm tắt dữ liệu được xếp thành từng tổ khác nhau, dựa trên những tần số xuất hiện của các đối tượng trong cơ

sở dữ liệu để so sánh tỷ lệ, phản ánh số liệu

- Phương pháp so sánh: so sánh tuyệt đối và so sánh tương đối

+ So sánh tuyệt đối: là kết quả của phép trừ trị số của kỳ phân tích so với

kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, kết quả so sánh biểu hiện khối lượng, quy mô của các hiện tượng hoặc quá trình kinh tế - xã hội trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể

+ So sánh tương đối: là chỉ tiêu biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai chỉ tiêu thống kê cùng loại nhưng khác nhau về thời gian hoặc không gian hoặc giữa hai chỉ tiêu khác nhau nhưng có quan hệ với nhau So sánh tương đối có nhiều dạng

• Số tương đối động thái: là chỉ tiêu phản ánh biến động theo thời gian về mức độ của chỉ tiêu kinh tế - xã hội

• Số tương đối so sánh: là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa hai bộ phận trong một tổng thể hoặc giữa hai hiện tượng cùng loại nhưng khác nhau

về điều kiện không gian

Đối với mục tiêu 2: Sử dụng SPSS 16.0 để thực hiện

Phương pháp phân tích hồi quy logistic xác định tầm quan trọng của tầm quan trọng của các nhân tố tác động đến việc tham gia kinh tế của phụ nữ, trong đó Y là sự tham gia vào hoạt động kinh tế của phụ nữ, các biến độc lập

Y P

Y P

Y: biến phụ thuộc dạng nhị phân (Y=1: có tham gia phát triển kinh tế

và Y=0: không có tham gia phát triển kinh tế)

X 1 : các biến độc lập

Bảng 2.2 Diễn giải các biến độc lập trong mô hình hồi quy logistic

Trang 24

Biến số Diễn giải Căn cứ chọn biến Kỳ

Đoàn Thị Cẩm Vân, Lê Long Hậu, Vương Quốc Duy,

Becker, 1964; Lê Trần Thiên Ý,2012 +/-

T Paul Schultz, 1999; Nguyễn Việt Anh, 2011; Lê Đặng Thanh Phong,

Lê Trần Thiên Ý,2012; Đinh Phi

Hổ, 2010; Đoàn Thị Cẩm Vân, 2010

+

Trang 25

Biến số Diễn giải Căn cứ chọn biến Kỳ

vọng

Vay vốn X9

Biến giả: nhận giá trị 1 nếu hộ được vay vốn từ các tổ chưc tín dụng chính thức, giá trị 0 nếu không được vay

Lê Ngọc Nương, 2011;Đinh Phi Hổ, 2010;

Phan Huy Đường, 2010; Phan Thị

dễ dàng bán các sản phẩm sản xuất được, cũng như đi làm thuê

Alian de Janvry,

Mục tiêu 3: Căn cứ vào kết quả của mục tiêu 1 và 2 để đưa ra giải pháp nâng cao vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế ở hộ nghèo khu vực nông thôn Cà Mau

Trang 26

CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

3.1 TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH CÀ MAU

3.1.1 Các nguồn lực sẵn có thuận lợi cho phát triển kinh tế ở Cà Mau

3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Nằm ở vị trí ven biển Cà Mau với khí hậu ôn hòa thuộc vùng cận xích đạo với hai mùa mưa nắng rõ rệt Lượng mưa trung bình chênh lệch giữa các tháng trong mùa mưa không nhiều nằm trong khoảng 200 đến 400 mm/tháng Nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng từ 260C đến 280C Ở đây có bão nhưng không lớn và nhiều Thời tiết khí hậu Cà Mau thuận lợi cho phát triển nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn

Cà Mau có nhiều kênh rạch lớn nhỏ đan xen, và nhiều đầm nổi bật như đầm Bà Tường là một đầm lớn và là một thắng cảnh ở Cà Mau, là nơi có nhiều tôm cá và là nơi du lịch sinh thái hấp dẫn

Với các nhóm đất chính: Nhóm đất nhiễm mặn có diện tích 150.278 ha, phân bố chủ yếu ở Đầm Dơi, Cái Nước, Thới Bình, U Minh… Nhóm đất phèn

có diện tích 334.925 ha chủ yếu ở Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời Nhóm đất phèn nhiễm mặn phân bố ở những vùng ven biển Diện tích đất phèn không ngập mặn có thể trồng lúa trong mùa mưa, trồng các cây công nghiệp chịu phèn như mía, chuối, tràm Đối với diện tích phèn ngập mặn có thể trồng rừng ngập mặn, nuôi thủy sản Ngoài ra còn có đất than bùn và nhóm đất bãi bồi

Hệ thống sông ngòi chằng chịt, đan xen nhau dẫn phù sa bồi đắp vào sâu trong đất liền như Gành Hào, Đầm Dơi, Tam Giang, Sông Đốc….Thuận lợi cho vận chuyển, giao thông đường thủy khi tổng chiều dài sông ngòi vào khoảng 7000 km

3.1.1.2 Địa bàn, diện tích, dân số

Cà Mau là vùng đồng bằng, có địa hình thấp, thường xuyên bị ngập nước Độ cao bình quân là 0,5 đến 1,5m so với mực nước biển Hướng địa hình nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông Bắc xuống Tây Nam Cà Mau

là một vùng đất mới được phù sa bồi đắp tuy nhiên do bị nhiễm mặn nên thích hợp để nuôi trồng thủy sản và trồng rừng

Cà Mau nằm ở cực Nam của Việt Nam với diện tích phần đất liền là 5.294,87 km2, xếp thứ hai ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Nằm ở trung tâm của vùng biển Đông Nam Á nên rất thuận lợi cho việc giao lưu hợp tác

Trang 27

phát triển kinh tế trên biển với các nước khác Tỉnh có một vị trí đặc biệt, là một bán đảo, ba mặt đều giáp với biển Phía Bắc giáp với Kiên Giang, phía Đông Bắc giáp tỉnh Bạc Liêu, phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông và phía Tây giáp Vịnh Thái Lan

Tỉnh Cà Mau bao gồm 8 huyện và thành phố Cà Mau Và theo đặc điểm điều kiện tự nhiên của tỉnh, bao gồm 2 vùng sinh thái, vùng sinh thái ngọt gồm các huyện Trần Văn Thời, Thới Bình, U Minh và một phần của thành phố Cà Mau, vùng sinh thái mặn gồm phần còn lại của thành phố Cà Mau và các huyện còn lại

Theo Cục Thống Kê tỉnh Cà Mau đến ngày 31/12/2012 dân số tỉnh Cà Mau là 1.219.128 người xếp vị trí thứ tám ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long Mật độ dân số là 230 người/ km2

thấp nhất ở khu vực đồng bằng Sông Cửu Long Trong đó dân số đang sống ở nông thôn là 956.004 người, chiếm 78,02% dân số tỉnh, xếp vị trí thứ tám và chiếm 7,22% dân số nông thôn của toàn vùng Tính tới thời điểm 1/7/2012 tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 670.448 người

3.1.2 Tình hình kinh tế, xã hội ở tỉnh Cà Mau

3.1.2.1 Cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng khu vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 33,95% (năm 2013 đạt 37,3%) Tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 36,6% (năm 2013 là 35,5%) Tỷ trọng khu vực dịch vụ chiếm 29,45% (năm 2013 là 27,2%) Tổng vốn đầu tư xã hội đạt 3.713 tỷ đồng bằng 36% kế hoạch (bằng 10.300 tỷ), tăng 4,5% so với cùng kỳ

Kinh tế Cà Mau tập trung chủ yếu vào nông nghiệp, lâm nghiệp Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2012 khoảng 296.551 ha Trong đó, diện tích nuôi tôm khoảng 266.600 ha, diện tích nuôi tôm công nghiệp 5.448 ha, diện tích thủy sản nước ngọt trên 28.000 ha Giá trị sản xuất bình quân ước đạt 47,2 triệu đồng/ ha Sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 440.000 tấn năm 2013, sản lượng tôm đạt 148.000 tấn, bên cạnh diện tích nuôi trồng những loại thủy sản truyền thống của địa phương như cá rô, cá lóc…Với vị trí giáp biển, tỉnh rất thuận lợi trong khai thác thủy sản biển, năm 2012 sản lượng khai thác được lớn 154.300 tấn Ngoài ra các doanh nghiệp còn chú trọng đầu tư các cơ sở vật chất cho chế biến thủy sản thúc đẩy sự phát triển của ngành Với công nghệ chế biến ngang tầm các nước trên thế giới, công suất ước lượng là 150.000 tấn/ năm Sản lượng chế biến thủy sản năm 2012 là 97.500 tấn, trong đó chế biến tôm là 88.000 tấn Công tác phòng và chống dịch bệnh trên tôm nuôi được các ngành, các cấp trong tỉnh triển khai, góp phần giảm thiệt hại cho các

Trang 28

hộ nuôi tôm Chủ yếu tôm nuôi quảng canh, nuôi công nghiệp bị bệnh gan tụy

và đốm trắng giảm so với cùng kỳ Tăng cường công tác quản lý chất lượng tôm giống

Thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất, nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực, đảm bảo nhu cầu thực phẩm trong tỉnh đồng thời tạo ra thu nhập cho người dân Thiết lập các vùng trồng cây lương thực trọng điểm khai thác thế mạnh về lúa Chuyển những vùng trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản Theo Cục thống kê tỉnh Cà Mau sản lượng lúa năm 2012 đạt 555.000 tấn Bên cạnh đó là sự kết hợp giữa trồng lúa và nuôi tôm cũng đem lại hiệu quả cao Nhờ thực hiện đề án nhằm nâng cao năng suất lúa và cải tạo môi trường chăn nuôi thủy sản, giá trị sản xuất tăng bình quân 11,2%/năm Nhiều mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao như xen canh một vụ lúa, một vụ tôm, nuôi nhiều loại thủy sản trong một ao, nuôi

cá đồng dưới tán rừng, nuôi ong Chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng tạo ra thu nhập cho người dân Tuy nhiên chủ yếu là nhỏ lẻ, chậm phát triển, chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân trong tỉnh Năm 2013, có 18 trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung (Theo Cục thống kê tỉnh Cà Mau) Tỉnh tiếp tục thực hiện chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi Diện tích cây trồng nhiễm dịch hại được phòng trừ Dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi được khống chế khá tốt, xử lý kịp thời các ổ dịch không để lây lan Nông nghiệp ở tỉnh bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những hạn chế như kỹ thuật khoa học ứng dụng chưa nhiều, phát triển chưa thật bền vững, chăn nuôi quy

mô còn hạn chế nhỏ lẻ, chưa đáp ứng được tiềm năng và nhu cầu của thị trường trong tỉnh

Do có vị trí giáp biển Cà Mau có thế mạnh trong việc trồng rừng ngập mặn và rừng ngập lợ Rừng ngập mặn tập trung chủ yếu ở Đầm Dơi, Ngọc Hiển, Năm Căn, Phú Tân với diện tích 69.000 ha Rừng ngập lợ tập trung ở U Minh, Thới Bình, Trần Văn Thời với diện tích 35.000 ha Là nơi sinh sống của nhiều loài động vật và gỗ quý có giá trị Hằng năm cung cấp từ 120 đến 150

m3 gỗ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ gia dụng, ván ép Công nghiệp chế biến và tiêu thụ lâm sản được chú trong đầu tư Tỉnh tạo điều kiện cho chủ đầu tư trồng rừng, chăm sóc bảo vệ Mô hình kết hợp nuôi tôm và trồng rừng cũng góp phần cải thiện cuộc sống cho người dân Nghiêm túc thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy, nên chỉ xảy ra hai vụ cháy do người dân vào rừng lấy mật ong, thiệt hại 0,92 ha Công tác tuần tra, kiểm tra bảo vệ rừng được duy trì thực hiện, tập trung kiểm tra ngăn chăn tình trạng chặt phá cây rừng trái phép tại vườn quốc gia Mũi Cà Mau và các Ban quản lý rừng phòng hộ Phát hiện 178 vụ vi phạm tăng 20 vụ so với cùng kỳ, thu phạt 604 triệu đồng

Trang 29

Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của tỉnh phát triển vượt trội Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2012 đạt 17.390 tỷ đồng (Theo Cục thống kê tỉnh Cà Mau) Công nghiệp chế biến thủy sản được quan tâm đặc biệt, với sự đổi mới công nghệ nâng cao năng suất, chất lượng chinh phục được các thị trường khó tính như Mĩ, Châu Âu Đồng thời khuyến khích sự phát triển tiểu thủ công nghiệp thông qua sử dụng các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp Ở tỉnh có Cảng Năm Căn là một cảng quan trọng thuận lợi trong trao đổi hàng hóa, thúc đẩy giao thương

Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng: Ngân sách tỉnh đạt 1.786 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm, bằng 33,7% so với dự toán năm, giảm 14% so với cùng kỳ Nguyên nhân thu đạt thấp, do năm 2014, trung ương giao dự toán 4.300 tỷ đồng, không bao gồm thu nhập từ thu xuất nhập khẩu, tăng 14,5% so với năm 2013 Tuy nhiên khi thực hiện lại phát sinh nhiều yếu tố làm giảm nguồn thu nhập ngân sách 1.550 tỷ đồng: cụ thể khi thực hiện một số điều về thuế giá trị gia tăng làm hụt thu khoảng 800 tỷ đồng, đồng thời Tổng cục thuế

áp giá khí cao hơn so với thực tế làm hụt thu 750 tỷ đồng Chi ngân sách địa phương đạt 2.664 tỷ đồng, đạt 46,5% so với dự toán năm, tăng 10,7% so với cùng kỳ Hoạt động ngân hàng với nguồn vốn huy động đạt 17.519 tỷ đồng tăng 12,5% so với cùng kỳ Các ngân hàng tích cực xử lý, thu hồi nợ quá hạn,

cơ cấu lại thời gian nợ, tạo nguồn vốn cho đầu tư tín dụng, cho vay để sản xuất kinh doanh, nhất là đầu tư phát triển nông thôn, nông nghiệp Tổng dư nợ cho vay đến cuối tháng 6/2014 là 27.972 tỷ đồng,tăng 2,6% so với đầu năm, 9,7%

so với cùng kỳ, trong đó nợ quá hạn chiếm 6,04% so với dư nợ toàn tỉnh, tăng 2,1% so với đầu năm, giảm 0,24% so với cùng kỳ

Đối với đầu tư xây dựng cơ bản năm 2014 được phân bổ kịp thời ngay từ đầu năm, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ thi công công trình Tổng giá trị giải ngân để xây dựng cơ bản đạt 971 tỷ đồng, bằng 45% so với kế hoạch vốn, tăng so với cùng kỳ về cả giá trị và tỷ lệ giải ngân Vốn ngân sách tập trung cho quản lý đạt 61%, vốn ngân sách huyện, thành phố đạt 52%

Phát triển doanh nghiệp, thu hút vốn đầu tư: số lượng doanh nghiệp thành lập và số doanh nghiệp đăng ký giảm so với cùng kỳ Có 188 doanh nghiệp đăng ký mới với số vốn đầu tư tăng 502 tỷ đồng (năm 2013 có 232 công ty đăng ký với số vốn 974 tỷ đồng Lũy kế đến nay đạt 4.050 doanh nghiệp trên toàn tỉnh, tổng số vốn 22.575 tỷ đồng, bình quân vốn đăng ký của mỗi doanh nghiệp là 5,5 tỷ đồng/công ty Tình hình thu hút vốn đầu tư có nhiều chuyển biến tích cực so với cùng kỳ thu hút 11 dự án đầu tư với số vốn 1.767 tỷ đồng Trong khi đó năm 2013 chỉ thu hút được 7 dự án với số vốn là

Trang 30

554 tỷ đồng Nâng số dự án đầu tư được cấp giấy chứng nhận lên 534 dự án, với tổng số vốn 73.870 tỷ đồng

Công tác quản lý khoa học công nghệ, chuyển giao và ứng dụng công nghệ đang được tiếp tục triển khai Đang triển khai 48 đề tài, dự án khoa học, công nghệ Đảm bảo các đề tài, dự án thực hiện đúng kế hoạch đề ra, để phục

vụ cho nông nghiệp và nông thôn Quan tâm đăng ký bảo hộ nhãn quyền và hướng dẫn thực hiện các theo quy định, đã có 50 cơ sở thực hiện đăng ký bảo

hộ nhãn quyền, hoàn chỉnh 16 hồ sơ gửi về cục sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học công nghệ xem xét Tiếp tục hỗ trợ triển khai 3 nhãn hiệu hàng hóa tập thể gồm mật ong U Minh Hạ, cá khô Bổi Phú Minh, tôm khô Rạch Gốc Trao quyền quản lý thương hiệu địa phương cho phép sử dụng thương hiệu địa phương để đăng ký bảo hộ các nhãn hiệu hàng hóa mang tính tập thể như: cua Năm Căn và mắm cá lóc Thới Bình

Có 305.736 giấy chứng nhận sử dụng đất lần đầu với diện tích 449.621

ha, đạt tỷ lệ 94,3 % Việc cấp giấy chứng nhận còn nhiều khó khăn, do diện tích các ngư trường, công ty quốc doanh giao lại cho địa phương quản lý, đất ở ven sông, kênh, rạch Đồng thời phối hợp với công tác quản lý môi trường, với

sự phối hợp với người dân để tăng cường bảo vệ, giải quyết bức xúc, nâng cao

ý thức trách nhiệm của người dân, doanh nghiệp giữ gìn vệ sinh môi trường Tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn, chưa kiểm soát được hoạt động thải chất

Trang 31

thải sinh hoạt, công nghiệp, bơm nước mặn ảnh hưởng nhiều đến sản xuất kinh

tế của người dân

Tình hình văn hóa, thể thao, du lịch: các hoạt động văn hóa tiếp tục duy trì cùng với các chương trình xây dựng nông thôn mới và các cuộc xây dựng đời sống văn hóa Hoạt động thể thao quần chúng được duy trì thường xuyên

Về du lịch, trong thời gian qua từ đầu năm đến nay hoạt động du lịch diễn ra một cách rất sôi nổi Tiếp đón 543.721 lượt du khách đến tham quan, du lịch bằng 60% kế hoạch, tăng 28% so với cùng kỳ (trong đó có 8.606 lượt khách quốc tế) Việc đầu tư các dịch vụ du lịch, các sản phẩm du lịch còn hạn chế, chưa thật sự hấp dẫn, làm hài lòng du khách, chưa khai thác hết tiềm năng thế mạnh du lịch của tỉnh, nhất là du lịch sinh thái

Công tác phòng chống dịch bệnh được quan tâm chỉ đạo thực hiện từ tỉnh đến cơ sở Bệnh sốt suất huyết giảm 5% Tổng số lượt thực hiện khám bệnh là 659.849 lượt tăng 5,6% so với cùng kỳ, tỷ lệ bệnh nhân tử vong là 0,26%, giảm 0,06% so với cùng kỳ Công tác thanh tra, kiểm tra các cơ sở chế biến kinh doanh, dịch vụ ăn uống thực hiện thường xuyên Thông qua kiểm tra 7.588 lượt cơ sở phát hiện 1.354 lượt cơ sở vi phạm, chiếm tỉ lệ 18% Cấp giấy chứng nhận an toàn cho 33 cơ sở tuyến tỉnh và 64 cơ sở tuyến huyện

Hoạt động truyền thông thông tin và truyền thông tập trung vào các ngày

lễ, kỷ niệm các sự kiện văn hóa của tỉnh Hệ thống bưu điện trên địa bàn tỉnh đảm bảo thông suốt đảm bảo chuyển thư, bưu phẩm kịp thời Mạng viễn thông, Internet tiếp tục phát triển, toàn tỉnh có 1.126.687 triệu điện thoại đang hoạt động trên mạng, đạt mật độ 92/100 dân và 474 đại lý Internet

Tình hình chính trị an ninh trên địa bàn ổn định Công tác phối hợp giữa Công An, Biên Phòng, Quân sự từ tỉnh đến cơ sở được thực hiện chặt chẽ Hoàn thành tổ chức huấn luyện dân quân tự vệ đạt 100%, huấn luyện dự động viên đạt 77% Tội phạm xâm phạm trật tự xã hội giảm, nhưng tai nạn giao thông và tệ nạn xã hội tăng so với cùng kỳ Công tác thanh tra, kiểm tra được đẩy mạnh, góp phần phát hiện và ngăn chặn kịp thời các vụ tiêu cực, tham nhũng Các vụ vi phạm sau thanh tra được chỉ đạo xử lý theo quy định của pháp luật Triển khai các đợt thanh tra phát hiện phát hiện sai phạm, đề nghị

xử lý sai phạm là 6,8 tỷ đồng, chủ yếu trên lĩnh vực đầu tư xây dựng, bồi thường, giải phóng mặt bằng y tế, đề nghị thu hồi, thu nộp các khoản sai phạm trên 2,5 tỷ đồng, còn lại xử lý bằng các hình thức khác Các đợt kiểm tra chuyên ngành phát hiện 496 đơn vị, cá nhân vi phạm chủ yếu là vi phạm giao thông, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, ô nhiễm môi trường Công tác tiếp dân, quản

lý khiếu nại tố cáo của người dân thực hiện tốt đặc biệt là ở cấp cơ sở, cấp ấp,

Trang 32

xã, tránh vượt tuyến, không để tồn đọng Các đơn khiếu nại được phân loại, giải quyết theo thẩm quyền, chú tâm giải quyết các vụ khiếu nại phức tạp còn tồn đọng Giải quyết 254 đơn thuộc thẩm quyến tăng 93 đơn so với cùng kỳ, chủ yếu tranh chấp đất đai, bồi thường, giải quyết mặt bằng Giải quyết khiếu nại hành chính 202 vụ, giảm 24 vụ so với cùng kỳ

Công tác cải cách hành chính tiếp tục triển khai đồng bộ cả về thể chế, tổ chức cán bộ, tổ chức hành chính Triển khai thực hiện 15/25 nhiệm vụ Kế hoạch cải cách hành chính năm 2014, đã có 18/19 đơn vị cấp tỉnh và 9/9 đơn

vị cấp huyện hoàn thành nhiệm vụ tự đánh giá chỉ số cải cách hành chính so với năm 2013 Cơ chế một cửa tiếp tục được thực hiện 18/18 đơn vị cấp tỉnh, 9/9 đơn vị cấp huyện, 101/101 đơn vị cấp xã

Công tác phòng chống tham nhũng thực hành tiết kiệm được quan tâm thực hiện, tỉnh tổ chức tuyên truyền về phòng chống tham nhũng, công khai minh bạch hoạt động cơ quan theo quy định, xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, hoàn thành kê khai minh bạch rõ ràng thu nhập của cán bộ Thanh tra nhắc nhở cá nhân thiếu soát

Công tác dân tộc tôn giáo: triển khai các chương trình dân tộc có hiệu quả Tập trung nhiều nguồn lực xây dựng cở sở hạ tầng dự án, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng có đông dân là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Đầu

tư định canh, định cư, hỗ trơ vốn, đất sản xuất, giải quyết việc làm, y tế, giáo dục… cho đồng bào dân tộc thiểu số Cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho họ Thực hiện duy trì bảo vệ nền văn hóa các dân tộc bằng cách tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về văn hóa các dân tộc Dạy chữ Khmer duy trì ngôn ngữ cho cán bộ công chức được thực hiện Tiếp tục giải quyết các vấn đề có liên quan đến hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật như đất đai, cơ sở hạ tầng, phong các chức danh, cơ sở thờ tự, tổ chức các lễ hội tôn giáo

Công tác ngoại vụ trong năm đã cho 123 lượt người trong đó có 82 cán

bộ công nhân viên chức, 22 doanh nghiệp và 41 doanh nhân đi nước ngoài nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm, xúc tiến đầu tư, tham gia du lịch Cho phép

663 lượt người trong đó có 423 lượt người nước ngoài thuộc các tổ chức nước ngoài đến thăm làm việc và nghiên cứu, khảo sát thực tế, thực hiện dự án ở tỉnh Cho phép tổ chức 13 hội nghị, hội thảo quốc tế trong tỉnh với tổng số 1.533 đại biểu Việt Nam và 31 đại biểu quốc tế tham dự Nhìn chung cán bộ, công chức, viên chức nhà nước đi nước ngoài, các cá nhân doanh nghiệp đến Việt Nam, việc tổ chức hội nghị quốc tế tại các địa phương đúng theo quy định

Trang 33

Tỷ lệ dân số nông thôn được cấp nước sạch mới đạt 50% vào năm 2010 Nhờ thực hiện chương trình Môi trường quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường, tỷ lệ dân số nông thôn được cung cấp nước sạch tăng nhanh đến năm

2014 là 84%, dự kiến năm 2015 là 85%

Công tác giải quyết việc làm khá so với kế hoạch, nhưng giảm so với cùng kỳ Trong năm 2014 đã giải quyết được 19.196 lao động, trong đó lao động trong tỉnh 7.214 lao động, 11.969 lao động ngoài tỉnh, 13 lao động nước ngoài, bằng 55% kế hoạch, giảm 29% so với kế hoạch Đào tạo nghề cho 14.608 người, bằng 43% kế hoạch (trong đó đào tạo theo quyết định 1956 đạt 4.909 người, dưới 3 tháng 7.126 người Công tác chăm lo cho người có công, người nghèo, cận nghèo, cứu trợ do thiên tai tiếp tục duy trì Nhiều ngôi nhà dành cho những hộ nghèo theo quyết định 137, theo quyết định 22 dành cho gia đình chính sách được xây tặng, trong đó xây mới 869 căn, sửa chữa 154 căn

Các đơn vị trường học thực hiện tổ chức quản lý thời gian, đảm bảo tổ chức các kỳ thi quốc gia nghiêm túc Năm 2013 tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 98,27% (năm trước 98,93%), tỷ lệ đậu tốt nghiệp khối giáo dục thường xuyên là 94,18 tăng so với năm trước, năm trước 88,75% Quan tâm, chú trọng đầu tư cơ sở vật chất cho các trường đạt tiêu chuẩn quốc gia, phấn đấu đạt trường quốc gia Từ đầu năm đến nay, có thêm 21 trường đạt tiêu chuẩn quốc gia, nâng mức lên 177 trường đạt chuẩn, bằng 32% tổng số trường (546 trường)

3.1.2.3 Tình hình tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm GDP 9 tháng năm 2014 ước đạt 19.314,53 tỷ đồng tăng 8,1% so với cùng kỳ Trong đó nông lâm, ngư nghiệp ước đạt 6.754,23 tỷ đồng tăng 6% so với cùng kỳ Công nghiệp, xây dựng ước đạt 7.236,82 tỷ đồng tăng 9,4% so với cùng kỳ Thương mại, dịch vụ ước đạt 5.323,48 tỷ đồng tăng 9,2% so với cùng kỳ Nhìn chung tình hình kinh tế tỉnh Cà Mau phát triển

ổn định, đặc biệt là thương mại điện tử với mức tăng cao Nhờ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đa dạng hóa sản phẩm, sản phẩm phong phú đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng khu vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 33,95% (năm 2013 đạt 37,3%) Tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 36,6% (năm 2013 là 35,5%) Tỷ trọng khu vực dịch vụ chiếm 29,45% (năm 2013 là 27,2%) Tổng vốn đầu tư xã hội đạt 3.713 tỷ đồng bằng 36% kế hoạch (bằng 10.300 tỷ), tăng 4,5% so với cùng kỳ

Trang 34

Tuy nhiên, tình hình tăng trưởng kinh tế, xã hội vẫn còn nhiều khó khăn nhất định như về thời tiết diễn biến phức tạp tác động đến sản xuất Đối với nuôi tôm, tôm vẫn chết nhiều, giá tôm thường xuyên biến động, số doanh nghiệp gia nhập và số vốn đăng ký giảm

3.2 KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN

2011 - 2013

Trong nhiều năm thực hiện xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh với nhiều chương trình như tín dụng ưu đãi, phát triển nông thôn, kinh tế nông thôn, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số xây dựng cơ sở hạ tầng, sản xuất, sinh hoạt đã mang lại nhiều hiệu quả thiết thực Đời sống của người dân, người dân nông thôn và hộ nghèo tiếp tục được cải thiện, diện mạo nông thôn từng bước được đổi mới, thu hẹp khoảng cách tiếp cận các dịch vụ giữa nông thôn và thành thị Kết quả đạt được là tỉ lệ nghèo giảm nhanh qua từng giai đoạn dự kiến đến cuối năm 2014 giảm còn 4,79%

Tuy nhiên tính giảm nghèo chưa cao, bình quân từ năm 2011 – 2013 có 2,5 hộ thoát nghèo thì tăng mới và tái nghèo 1 hộ Sự chồng chéo của chính sách giảm nghèo về đối tượng, địa bàn, nội dung,… một số chính sách mang tính ngắn hạn, tình thế nên chưa tạo được ý thức vươn lên của người nghèo Công tác dạy nghề tính thực tế, ứng dụng chưa cao, giải quyết việc làm để giảm nghèo còn hạn chế, không hiệu quả, chưa có cán bộ chuyên trách các cấp

Trang 35

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 MÔ TẢ KHÁI QUÁT VỀ HỘ NGHÈO

Thực hiện nghiên cứu ở hai huyện U Minh và Cái Nước, ở bốn xã Nguyễn Phích, Khánh Lâm, Lý Thế Trân và Tân Hưng Đông Qua khảo sát thực tế 160 hộ nghèo và cận nghèo ở 4 xã trên, nghề nghiệp của những hộ trên là làm thuê, làm ruộng, nuôi tôm, chăn nuôi, đan đát, buôn bán nhỏ Trong đó làm thuê, làm ruộng, nuôi tôm là chủ yếu, một số ít đan đát Nguyên nhân do làm ruộng, nuôi tôm là nghề nghiệp truyền thống nên nhiều hộ gia đình theo nghề này Tuy nhiên nhiều hộ gia đình do không có đất sản xuất nên làm thuê là nguồn thu nhập chủ yếu của họ Đan đát cũng là một nghề truyền thống của địa phương, tuy nhiên do nhiễm mặn nên nguồn nguyên liệu như tre trúc ít dần, sự khan hiếm về nguồn nguyên liệu dẫn đến nghề này đang giảm dần Trình độ học vấn của họ đa phần là cấp tiểu học, con cái phải bỏ học từ sớm vì vậy mà cơ hội việc làm của họ không nhiều Trong đó, vẫn có trường hợp chủ hộ là người không biết chữ, trình độ học vấn cao nhất là trung học, nhìn chung trung bình vào khoảng là lớp 5 và lớp 6

Nguồn: Khảo sát thực tế

Hình 4.1 Cơ cấu nghề nghiệp của chủ hộ Diện tích đất sản xuất của họ không nhiều, có hộ thậm chí còn không có đất sản xuất, phải ở đậu, hộ có diện tích lớn nhất là 12.960 m2

, trung bình vào khoảng 2.417,795 m2

(Số liệu thống kê trực tiếp từ nhóm nghiên cứu, 2014) Tuy nhiên đối với những hộ có đất thì lại không có vốn, kỹ thuật, các vấn đề sức khỏe nên vẫn rơi vào nhóm hộ nghèo

Trang 36

Tỷ lệ lao động của gia đình trung bình vào khoảng 54,8% với hai đến ba thành viên lao động tạo ra thu nhập, thấp nhất là 0,0% các thành viên trong gia đình không còn sức lao động (Số liệu thống kê trực tiếp từ nhóm nghiên cứu, 2014) Nguyên nhân là do gia đình neo đơn, già yếu nên thu nhập của họ chỉ trông chờ vào trợ cấp, giúp đỡ của làng xóm Hoặc do gia đình có người già yếu, có con nhỏ nên không thể tham gia sản xuất, đi làm, tạo ra thu nhập Trong 160 hộ khảo sát thực tế thì 63 hộ vay vốn Nguồn vốn vay của họ chủ yếu là từ ngân hàng chính sách xã hội vay theo hình thức tín chấp do không tài sản để tín chấp Nguồn vốn vay của họ dùng để xây giếng nước, làm đường, sản xuất, chăn nuôi Với sự kết hợp của ngân hàng, đa phần họ được vay với mức ưu đãi là 0,65% và 0,8% Vốn vay được sử dụng đúng mục đích, tuy nhiên một số hộ do chăn nuôi sản xuất không có hiệu quả nên không thể trả lãi cũng như hoàn vốn Còn lại 97 hộ gia đình không vay là do họ chưa tiếp cận được nguồn vốn, chậm giải quyết vốn cho những hộ có nhu cầu được vay, hoặc do họ không dám vay vì sợ làm ăn thất bại, sợ không trả được nợ Ngoài

ra ở địa phương còn có hình thức hùng vốn để giúp đỡ cho những gia đình khó khăn khi tham gia các hội như hội phụ nữ Tuy nhiên hầu hết các gói vay có giá trị không cao, không đủ giải quyết các vấn đề của người dân trong chăn nuôi sản xuất, đặc biệt là các chi phí phát sinh do dịch bệnh hay xây dựng chuồng trại

Có 87/160 hộ có phương tiện sản xuất như xuồng, ghe, xe máy 110/160

hộ xe máy có thể đi đến tận nhà Đây là những yếu tố hết sức cần thiết trong sản xuất, để giảm chi phí sản xuất, tuy nhiên số hộ gia đình sở hữu các phương tiện sản xuất chỉ trên 50%, 50/160 hộ còn lại khó khăn trong đi lại, ảnh hưởng đến việc tiêu thụ sản phẩm, tiếp thu khoa học kỹ thuật Một số gia đình vẫn còn đi lại bằng cầu khỉ Ở địa phương không có nhà máy bao tiêu sản phẩm, sản phẩm mà họ làm được chủ yếu để sử dụng và bán thương lái Đây là cũng

là một khó khăn vì hàng hóa bán cho thương lái rất dễ bị ép giá, lệ thuộc 22/160 hộ cho là có cơ sở bán cây, con giống ở địa phương, do sự tiếp cận với nguồn giống còn thấp, họ chủ yếu làm thuê nên không quan tâm 57/160 hộ có thành viên tham gia vào các lớp đào tạo nghề như học may, nấu ăn nhưng hiệu quả mà các lớp học nghề mang lại chưa cao do ở huyện không có cơ sở, nhà máy để họ có thể đi làm tạo thêm thu nhập Phần đông không tham gia nguyên nhân là do hiệu quả mà nó mang lại chưa cao, do không có thời gian, do bận chăm sóc con cái, người già 104/160 hộ có thành viên tham gia hội đoàn thể, nhưng chủ yếu là mang tính hình thức, chưa có nhiều hoạt động thiết thực, hỗ trợ giúp đỡ nhau giảm nghèo, thoát nghèo Còn các hộ còn lại hầu như không

Trang 37

có thành viên tham gia hội đoàn thể cũng là do hiệu quả mà nó mang lại và hội tồn tại chỉ mang tính hình thức mà thôi

4.1.1 Khái quát về những hộ nghèo

4.1.1.1 Cơ cấu thu nhập của hộ nghèo

Thu nhập của các hộ nghèo và cận nghèo rơi vào khoảng từ 200.000 đến 500.000 đồng/ tháng/ người Thu nhập của hộ chủ yếu là nhờ vào tiền làm thuê, làm mướn Chiếm 66% hộ có thu nhập chính từ làm thuê, nguyên nhân chủ yếu do họ không có đất canh tác, không có vốn để sản xuất Ngoài ra thì 16% là thu nhập từ thủy sản, lâm nghiệp do phù hợp với điều kiện của địa phương Tuy nhiên hiệu quả không cao do thiếu kỹ thuật, thiếu vốn Thu nhập

từ trồng trọt chiếm 8%, do đây là nghề truyền thống, nhưng do nhiễm mặn nên thu nhập từ trồng trọt chỉ tập trung ở một số xã, và chi phí thường cao hơn so với nuôi trồng thủy sản Thu nhập cao nhất trong 160 hộ là 517.000 đồng/ người, thấp nhất là 150.000 đồng/người

Nguồn: Khảo sát thực tế

Hình 4.2 Cơ cấu thu nhập hộ gia đình

4.1.1.2 Sự đa dạng ngành nghề của hộ nghèo

Hoạt động tạo ra thu nhập của hộ cũng khá đa dạng nhưng chủ yếu cũng chỉ là làm thuê Bên cạnh một số ít chăn nuôi, thủy sản, trồng trọt, buôn bán nhỏ, đan đát Đan đát tuy tạo ra thu nhập ít, nhưng gần đây do đất đai nhiễm mặn ảnh hưởng đến nguồn nguyên liệu tre trúc nên nghề này đang giảm dần

4.1.2 Kết quả việc thực hiện công tác giảm nghèo

Thời gian qua, tỉnh Cà Mau triển khai thực hiện nhiều chương trình mục tiêu quốc gia, như giảm nghèo nghèo bền vững, việc làm và dạy nghề, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, v.v đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đời sống của người dân được cải thiện và

Trang 38

nâng lên rõ rệt, thu nhập bình quân đầu người năm 2013 đạt 28,2 triệu đồng, tăng 21,2% so với năm 2011 Bên cạnh đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã phân công các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh phụ trách xã, phường, thị trấn có đông đồng bào dân tộc Khmer và các xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 15% trở lên Nhờ

đó, công tác giảm nghèo của tỉnh đã đạt nhiều kết quả quan trọng, mỗi năm tỷ

lệ hộ nghèo giảm trung bình hơn 1,8%, từ 12,14% vào đầu năm 2011 xuống còn 6,49% thời điểm cuối năm 2013, trong đó tỷ lệ hộ nghèo khu vực thành thị là 3,44% (tương ứng với 2.341 hộ), khu vực nông thôn là 7,4% (tương ứng với 16.858 hộ) Tương tự, hộ cận nghèo giảm từ 6,09% xuống còn 4,14%, trong đó hộ cận nghèo khu vực thành thị là 2,26% (1.538 hộ), hộ cận nghèo khu vực nông thôn là 4,7% (10.716 hộ) (Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau, 2013) Tuy nhiên nhiều hộ gia đình có thái độ chờ đợi nhà nước trợ cấp, không biết vươn lên cũng gây khó khăn cho việc giảm nghèo

4.1.3 Những khó khăn trong những hộ nghèo

Khó khăn chủ yếu của những hộ nghèo ở đây là không có đất đai sản xuất, các vấn đề về sức khỏe, không có vốn sản xuất, con cái bỏ học, thiếu kỹ thuật trong chăn nuôi trồng trọt, hoàn cảnh neo đơn, một số gia đình phải chịu chi phí lớn để chia hơi điện nước do không có giếng nước và điện Không có đất đai sản xuất nên công việc chính của họ là làm thuê làm mướn Tuy nhiên công việc ngày càng ít nên thu nhập của họ cũng không cao Thêm vào đó trình độ học vấn của họ chủ yếu là tiểu học nên cơ hội việc làm không cao Do nhiều hộ gia đình ở địa phương nuôi tôm không theo huy hoạch gây nhiễm mặn ảnh hưởng đến việc trồng lúa, cũng như nghề đan đát do ảnh hưởng đến nguồn nguyên liệu Một số hộ hoàn cảnh neo đơn, già yếu chỉ có thể trông chờ vào tiền trợ cấp của nhà nước Nhiều hộ gia đình hiện tại vẫn chưa có cây nước và điện phải chịu chi phí tốn kém để mua hoặc chia hơi với những hộ khác Ở địa phương tuy có các lớp đào tạo nghề nhưng giải quyết công việc đầu ra cho họ vẫn là một vấn đề bất cấp Mặc dù, vấn đề cho vay vốn được triển khai nhưng một số hộ gia đình vẫn chưa tiếp cận với nguồn vốn vay, nguồn vốn cho vay chậm Đã trải bê tông ở hầu hết các đường, nhưng ở một

số con đường vẫn còn lầy lội, khó khăn cho việc vận chuyển hàng hóa, đi học Bên cạnh đó là do ảnh hưởng của các chương trình từ thiện giúp đỡ của nhà nước, các đài truyền hình, nhiều gia đình tỏ ra trông chờ vào nhà nước không

có ý chí vươn lên

Trang 39

4.2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH

4.2.1 Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất tạo ra thu nhập

Công tác bình đẳng giới trên tỉnh Cà Mau thời gian qua thực hiện tốt Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới trong hầu hết các lĩnh vực quản lý xã hội, phát triển kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa xã hội, gia đình Trong lĩnh vực quản trị kinh doanh, công tác xã hội, sở hữu đất đai, hệ thống chính quyền, lực lượng lao động nữ giới còn hạn chế so với nam giới Trong lĩnh vực giáo dục, phụ nữ cán bộ lãnh đạo trường học chiếm 25,8% Tình hình trẻ em gái đi học giảm đều theo cấp học

4.2.1.1 Sự tham gia vào phát triển kinh tế của người phụ nữ trong hộ

Trong 160 hộ gia đình nghèo và cận nghèo thì tỉ lệ người phụ nữ tham gia vào phát triển kinh tế là 60% Còn lại không tham gia tạo ra thu nhập nguyên nhân là do sức khỏe, phải chăm sóc người già, con nhỏ, nội trợ để chồng, con cái đi làm Người phụ nữ đóng một vai trò quan trọng, họ tham gia vào nhiều hoạt động trong trồng trọt, giữ vai trò chủ đạo trong chăn nuôi, nội trợ để người chồng tham gia phát triển kinh tế Họ rất muốn tham gia hoạt động sản xuất để tạo ra thu nhập, tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn, ngăn cản

họ tham gia

Thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia với sự vận động của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, cơ quan đại diện cho phụ nữ Việt Nam, đề ra các chương trình, vận động người phụ nữ tham gia tích cực vào công tác xóa đói giảm nghèo Hưởng ứng phong trào đó ở Cà Mau cũng có nhiều chương trình giúp đỡ họ như cho vay vốn, hoặc hội phụ nữ ở địa phương vận động phụ nữ địa phương tham gia hội phụ nữ, các hội viên sẽ cùng hùng tiền để hỗ trợ nhau

để chăn nuôi, giúp đỡ khi bệnh tật Ngoài ra còn có chương trình dạy nghề như nấu ăn, dạy may cho phụ nữ địa phương Sau khi tốt nghiệp học viên sẽ được cấp bằng để xin việc Bên cạnh những hội phụ nữ địa phương thực hiện đúng trách nhiệm, có nhiều chương trình thiết thực nhưng cũng có những hội phụ

nữ ở những ấp, hội phụ nữ và tham gia hội chỉ mang tính hình thức mà thôi Hội viên không được tiếp cận các chương trình vốn vay giành cho họ Ở Cà Mau, ở các ấp, xã, huyện, tỉnh người phụ nữ tham gia hầu hết các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, doanh nghiệp

Trong các gia đình có phụ nữ làm chủ hộ nói chung sung túc hơn do họ biết cách vun vén cho gia đình hơn các gia đình do nam giới làm chủ hộ Vẫn

có những gia đình nhỏ có phụ nữ làm chủ hộ lại rất nghèo và có nguy cơ bị tổn

Trang 40

thương cao Người phụ nữ có khả năng làm việc và tổ chức công việc làm ăn kinh tế và đặc biệt trong chăm sóc gia đình

Trong công việc, nam giới thường có xu hướng chiếm ưu thế trong những công việc như thủy sản, đi biển, các công việc nặng Nữ giới làm chủ yếu các công việc nhẹ, công tác xã hội Cơ cấu ngành nghề của nam giới đa dạng hơn, chính vì vậy mà cơ hội việc làm của họ cũng nhiều hơn

Do quan niệm, nguyên tắc truyền thống, nữ giới không cần phải học nhiều Lý do không được đào tào và thiếu kỹ năng, ít khả năng tiếp cận tín dụng, gánh nặng bởi trách nhiệm sống và chăm sóc con cái, vai trò của họ trong ra quyết định cũng bị hạn chế

4.2.1.2 Sự đa dạng nghề nghiệp của người phụ nữ ở những hộ nghèo

Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp từ nhóm nghiên cứu trên địa bàn Cà Mau năm 2014

Hình 4.3 Sự đa dạng nghề nghiệp của người phụ nữ ở hộ nghèo Nghề nghiệp của người phụ nữ rất đa dạng Họ làm hầu hết các công viêc như trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, làm thuê, công nhân, đan đát, buôn bán nhỏ Họ chủ yếu là đan đát, buôn bán nhỏ do công việc này nhẹ nhàng có thể thực hiện lúc nông nhàn, bên cạnh nội trợ Ngoài ra làm thuê là công việc chính của nhiều phụ nữ do gia đình không có đất sản xuất, trình độ học vấn thấp nên đây là công việc chính của nhiều phụ nữ ở đây Trồng trọt và chăn nuôi do là công việc truyền thống của gia đình nên đây cũng là một nghề đem lại thu nhập cho họ Chăn nuôi được nhiều phụ nữ lựa chọn bởi phù hợp với hoàn cảnh gia đình có thể ở nhà vừa chăm sóc gia đình vừa kiếm thêm thu nhập Đa số ai cũng muốn có một nghề nghiệp ổn định để phụ giúp thêm cho gia đình Sự tham gia của họ vào trồng trọt, thủy sản mà cụ thể ở đây hầu hết

Ngày đăng: 26/10/2015, 10:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Khung sinh kế bền vững của DFID - vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế ở những hộ nghèo khu vực nông thôn tỉnh cà mau
Hình 2.1 Khung sinh kế bền vững của DFID (Trang 15)
Hình 4.1 Cơ cấu nghề nghiệp của chủ hộ - vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế ở những hộ nghèo khu vực nông thôn tỉnh cà mau
Hình 4.1 Cơ cấu nghề nghiệp của chủ hộ (Trang 35)
Hình 4.2 Cơ cấu thu nhập hộ gia đình - vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế ở những hộ nghèo khu vực nông thôn tỉnh cà mau
Hình 4.2 Cơ cấu thu nhập hộ gia đình (Trang 37)
Hình 4.3 Sự đa dạng nghề nghiệp của người phụ nữ ở hộ nghèo - vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế ở những hộ nghèo khu vực nông thôn tỉnh cà mau
Hình 4.3 Sự đa dạng nghề nghiệp của người phụ nữ ở hộ nghèo (Trang 40)
Hình 4.4 Tỷ lệ người phụ nữ làm chủ hộ - vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế ở những hộ nghèo khu vực nông thôn tỉnh cà mau
Hình 4.4 Tỷ lệ người phụ nữ làm chủ hộ (Trang 41)
Bảng 4.2 Quyền ra quyết định trong nhóm hộ nghèo và cận nghèo - vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế ở những hộ nghèo khu vực nông thôn tỉnh cà mau
Bảng 4.2 Quyền ra quyết định trong nhóm hộ nghèo và cận nghèo (Trang 42)
Bảng  4.3  So  sánh  sự  khác  biệt  giữa  nhóm  hộ  nghèo  và  không  nghèo  trong  quản lý điều hành - vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế ở những hộ nghèo khu vực nông thôn tỉnh cà mau
ng 4.3 So sánh sự khác biệt giữa nhóm hộ nghèo và không nghèo trong quản lý điều hành (Trang 44)
Bảng 4.4 Quyền ra quyết định và thực hiện ở nhóm hộ nghèo - vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế ở những hộ nghèo khu vực nông thôn tỉnh cà mau
Bảng 4.4 Quyền ra quyết định và thực hiện ở nhóm hộ nghèo (Trang 45)
Bảng 4.5 Quyền ra quyết định và thực hiện ở nhóm hộ nghèo trong chăn nuôi - vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế ở những hộ nghèo khu vực nông thôn tỉnh cà mau
Bảng 4.5 Quyền ra quyết định và thực hiện ở nhóm hộ nghèo trong chăn nuôi (Trang 48)
Bảng 4.6 So sánh sự khác biệt về vai trò của phụ nữ trong sản xuất và phân  công lao động giữa nhóm hộ nghèo và không nghèo trong trồng trọt - vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế ở những hộ nghèo khu vực nông thôn tỉnh cà mau
Bảng 4.6 So sánh sự khác biệt về vai trò của phụ nữ trong sản xuất và phân công lao động giữa nhóm hộ nghèo và không nghèo trong trồng trọt (Trang 50)
Bảng 4.8 Phân chia công việc trong sinh hoạt gia đình ở hộ nghèo - vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế ở những hộ nghèo khu vực nông thôn tỉnh cà mau
Bảng 4.8 Phân chia công việc trong sinh hoạt gia đình ở hộ nghèo (Trang 54)
Bảng 4.9 So sánh sự khác biệt về phân chia công việc trong sinh hoạt gia đình - vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế ở những hộ nghèo khu vực nông thôn tỉnh cà mau
Bảng 4.9 So sánh sự khác biệt về phân chia công việc trong sinh hoạt gia đình (Trang 56)
Bảng  4.11  Sự  khác  biệt  trong  ra  quyết  định  quản  lý  tài  chính,  quyền  quyết  định trong gia đình ở hộ nghèo và hộ không nghèo - vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế ở những hộ nghèo khu vực nông thôn tỉnh cà mau
ng 4.11 Sự khác biệt trong ra quyết định quản lý tài chính, quyền quyết định trong gia đình ở hộ nghèo và hộ không nghèo (Trang 60)
Bảng 4.12 Mức độ dự báo đúng của toàn bộ mô hình - vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế ở những hộ nghèo khu vực nông thôn tỉnh cà mau
Bảng 4.12 Mức độ dự báo đúng của toàn bộ mô hình (Trang 61)
Bảng 4.13 Kết quả hồi quy - vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế ở những hộ nghèo khu vực nông thôn tỉnh cà mau
Bảng 4.13 Kết quả hồi quy (Trang 62)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm