1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy và vận tải cần thơ đến năm 2020

110 669 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những vấn đề trên, việc nghiên cứu “Xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics của Công ty cổ phần Công nghiệp tàu thủy và vận tải Cần Thơ ” là hết sức cần thiết và phù hợp với

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QTKD

-o0o -

TRẦN THANH NHƯ NGUYỆT

XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY VÀ VẬN TẢI

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QTKD

-o0o -

TRẦN THANH NHƯ NGUYỆT

MSSV : 4114550 XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY VÀ VẬN TẢI

Tháng 11 năm 2014

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Trong suốt thời gian học tập tại trường Đại học Cần Thơ, tôi đã nhận được

nhiều sự quan tâm, giảng dạy và hướng dẫn nhiệt tình của Quý Thầy (Cô) và nhất

là các Thầy (Cô) của Khoa Kinh Tế - Quản trị kinh doanh đã giúp tôi có được

những kiến thức cũng như kinh nghiệm sống và làm việc, làm hành trang giúp tôi

bước vào cuộc sống này

Tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến thầy Nguyễn Minh Cảnh đã nhiệt

tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đề tài này

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến ban lãnh đạo Công ty cổ phần Công

nghiệp tàu thủy và vận tải Cần Thơ cùng toàn thể nhân viên đã nhiệt tình ủng hộ

và chỉ bảo tôi trong quá trình thực tập tại công ty, tạo điều kiện cho tôi nắm bắt

được thực tế và hoàn thành đề tài

Tôi xin cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã quan tâm, động viên giúp đỡ tôi trong

suốt thời gian qua

Cuối cùng tôi xin chúc quý Thầy (Cô) ở Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh,

trường Đại học Cần Thơ dồi dào sức khỏe và thành công trong cuộc sống Do

thời gian và kiến thức của bản thân còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi

những thiếu sót Rất mong Thầy (Cô) và bạn đọc thông cảm và đóng góp ý kiến

để đề tài này được hoàn thiện hơn

Cần Thơ, ngày 13 tháng 11 năm 2014

Người thực hiện

Trần Thanh Như Nguyệt

Trang 4

TRANG CAM KẾT

Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác

Cần Thơ, ngày 13 tháng 11 năm 2014

Người thực hiện

Trần Thanh Như Nguyệt

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1.3.1 Không gian nghiên cứu 3

1.3.2 Thời gian nghiên cứu 3

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

2.1.1 Tổng quan về chiến lược 6

2.1.1.1 Khái niệm về chiến lược 6

2.1.1.2 Phân loại chiến lược 7

2.1.1.3 Quy trình xây dựng chiến lược 9

2.1.1.4 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến công ty 10

2.1.2 Tổng quan về logistics 14

2.1.2.1 Khái niệm về logistics và quá trình phát triển 14

2.1.2.2 Phân loại logistics 21

2.1.2.3 Vai trò của logistics 23

2.1.3 Tổng quan về dịch vụ logistics 25

Trang 7

2.1.3.1 Khái niệm về dịch vụ logistics 25

2.1.3.2 Các loại hình dịch vụ logistics chủ yếu 27

2.1.3.3 Các hoạt động của dịch vụ logistics 28

2.1.3.4 Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics 32

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 34

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 34

CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY 40

3.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY 40

3.1.1 Lịch sử hình thành 40

3.1.2 Ngành nghề lĩnh vực hoạt động 41

3.1.3 Mục tiêu hoạt động 42

3.1.4 Sơ đồ tổ chức công ty 43

3.1.5 Định hướng phát triển 43

3.1.5.1 Tầm nhìn chiến lược 43

3.1.5.2 Các mục tiêu cụ thể 44

3.2 KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY 44

CHƯƠNG 4: XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 49

4.1 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI 49

4.1.1 Môi trường vĩ mô 49

4.1.1.1 Môi trường kinh tế 49

4.1.1.2 Môi trường chính trị - pháp luật 55

4.1.1.3 Môi trường tự nhiên 56

4.1.1.4 Môi trường kỹ thuật 59

Trang 8

4.1.1.5 Môi trường công nghệ thôngg tin 60

4.1.1.6 Môi trường văn hóa – xã hội 60

4.1.2 Môi trường vi mô 61

4.1.2.1 Khách hàng 61

4.1.2.2 Đối thủ cạnh tranh trực tiếp 61

4.1.2.3 Đối thủ tiềm ẩn 63

4.1.2.4 Sản phẩm thay thế 63

4.1.2.5 Nhà cung ứng 64

4.1.2.6 Đánh giá các yếu tố bên ngoài 64

4.2 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG 65

4.2.1 Những điểm mạnh 65

4.2.2 Những điểm yếu 68

4.2.3 Đánh giá các yếu tố bên trong 71

4.2.4 Phân tích năng lực cạnh tranh 73

4.3 XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 76

4.3.1 Mục tiêu của chiến lược 76

4.3.2 Xây dựng chiến lược 76

4.3.3 Lựa chọn chiến lược 78

CHƯƠNG 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC 83

5.1 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC 83

5.1.1 Xây dựng một đội ngũ nhân viên thực hiện nghiệp vụ logistics chuyên nghiệp 83

5.1.2 Hoàn thiện và mở rộng dịch vụ logistics đang cung cấp 84

5.1.2.1 Hướng phát triển dịch vụ vận tải, giao nhận và phân phối hàng hóa 84

Trang 9

5.1.2.2.Hướng phát triển các dịch vụ khác 86

5.1.3 Phát triển mạng lưới thương mại điện tử, ứng dụng các thành tựu công nghệ thông tin vào hoạt động kinh doanh 86

5.1.4 Tăng cường hoạt động marketing 88

5.1.5 Liên kết với doanh nghiệp cùng ngành ở trong và ngoài nước 88

5.2 ĐÁNH GIÁ VÀ ĐIỀU CHỈNH CHIẾN LƯỢC 89

5.2.1 Nguyên tắc đánh giá chiến lược 89

5.2.2 Nguyên tắc điều chỉnh chiến lược 90

CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91

6.1 KẾT LUẬN 91

6.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC 91

6.2.1 Hoàn thiện công tác xây dựng cơ sở hạ tầng 92

6.2.2 Xây dựng hành lang, khung pháp lý thông thoáng và hợp lý, thay đổi và tiêu chuẩn hóa các qui định liên quan đến logistics 92

6.2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan quản lý 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 96

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Những quan điểm chiến lược của Michael Porter 6

Bảng 2.2 Những đặc điểm của chiến lược chủ động và thụ động 8

Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu về tình hình hoạt động của công ty giai đoạn 2011- 6 tháng đầu năm 2014 45

Bảng 3.2 Cơ cấu doanh thu của công ty giai đoạn 2011 - 2013 47

Bảng 4.1 Xếp hạng kinh tế vĩ mô của một số nước ASEAN năm 2014 51

Bảng 4.2 Vị trí của Việt Nam trên bảng xếp hạng năng lực logistics các quốc gia trên thế giới 2010-2014 53

Bảng 4.3 Điểm số từng tiêu chí đánh giá trong chỉ số LPI của Việt Nam giai đoạn 2010-2014 54

Bảng 4.4 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài của công ty Cashin 64

Bảng 4.5 Cơ cấu lao động tại công ty 66

Bảng 4.6 Nợ và Tổng tài sản của công ty giai đoạn 2011-2013 69

Bảng 4.7 Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong của công ty Cashin 72

Bảng 4.8 Ma trận hình ảnh cạnh tranh của công ty Cashin 74

Bảng 4.9 Ma trận SWOT của công ty Cashin 76

Bảng 4.10 Ma trận QSPM nhóm S – O của công ty Cashin 78

Bảng 4.11 Ma trận QSPM nhóm S – T của công ty Cashin 79

Bảng 4.12 Ma trận QSPM nhóm W – O của công ty Cashin 80

Bảng 4.13 Ma trận QSPM nhóm W – T của công ty Cashin 81

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1 Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter 11

Hình 2.2 Lịch sử phát triển logistics kinh doanh từ 1950 đến nay 19

Hình 2.3 Vị trí của logistics trong chuỗi cung ứng 20

Hình 2.4 Các loại dự trữ phân theo vị trí trong hệ thống logistics 30

Hình 2.5 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài/bên trong (EFE/IFE) 36

Hình 2.6 Ma trận hình ảnh cạnh tranh 37

Hình 2.7 Ma trận SWOT 38

Hình 2.8 Ma trận QSPM 39

Hình 3.1 Cơ cấu chi phí của công ty giai đoạn 2011- 6 tháng đầu 2014 46

Hình 3.2 Cơ cấu doanh thu của công ty giai đoạn 2011- 2013 48

Trang 12

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

WEF: Diễn đàn kinh tế thế giới

VIFFAS: Hiệp hội giao nhận vận tải Việt Nam

VINPA: Hiệp hội xăng dầu Việt Nam

LPI: Chỉ số năng lực logistics

TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

EFE: Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài

IFE: Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong

SWOT: Ma trận điểm mạnh – điểm yếu – cơ hội – nguy cơ

Trang 13

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Logistics là một hoạt động tổng hợp, mang tính dây chuyền Hiệu quả của quá trình này có tầm quan trọng, quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại ở mỗi quốc gia Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo về thời gian và chất lượng cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác, mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ Trong xu thế tất yếu của thời đại ngày nay là toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, tạo điều kiện cho giao thương giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới phát triển mạnh mẽ và đương nhiên sẽ dẫn đến bước phát triển mới của logistics Vài thập kỷ gần đây, logistics đã phát triển nhanh chóng và mang lại những kết quả rất tốt ở nhiều nước trên thế giới, như Hà Lan, Thụy Điển, Đan Mạch, Mỹ, Nhật Trong những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, số lượng công

ty kinh doanh dịch vụ logistics ở các nước Đông Á, Đông Nam Á gia tăng nhanh chóng và đặc biệt phát triển rất mạnh ở Singapore

Tại Việt Nam, thị trường logistics là một mảng thị trường vẫn còn khá mới

mẻ, dù đã xuất hiện từ những năm đầu thập niên 90, nhưng dịch vụ logistics chỉ mới được pháp lý hóa lần đầu tiên trong Luật Thương mại 2005 có hiệu lực ngày 01/01/2006 Và phải tới ngày 5/9/2007, Chính phủ mới ban hành Nghị định 140/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Khái niệm logistics chỉ thực sự phổ biến từ việc xuất hiện của các công ty logistics nước ngoài mà điển hình là APL Logistics, Maersk Logistics, Exel, Frizt Forwarding Đó có thể coi là một sự chậm trễ cũng như lãng phí cơ hội ở một quốc gia có nhiều tiềm năng phát triển dịch vụ logistics như Việt Nam

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), hoạt động logistics của Việt Nam vẫn mới xếp ở vị trí thứ 53 trên thế giới và thứ 5 ở ASEAN mặc dù tốc độ phát triển logistics của Việt Nam năm 2013 đạt 16-20%/năm so với mức 12-15%/năm những năm 2010, 2011 Tuy nhiên, với rất nhiều lợi thế về địa lý và điều kiện tự nhiên (3.260 km đường bờ biển, 4.639 km đường biên giới, nằm trong vùng chiến lược của Đông Nam Á) ngành logistics được đánh giá sẽ tăng

Trang 14

trưởng nhanh chóng và đem lại nhiều lợi nhuận nếu được các doanh nghiệp trong nước dành mối quan tâm đúng đắn

Trước tình hình khó khăn của ngành đóng tàu hiện nay khi cung đã vượt cầu dẫn đến dư thừa tàu, số lượng đơn đặt hàng đóng mới suy giảm, tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt, Công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy và vận tải Cần Thơ đã chuyển hướng chú trọng nhiều hơn đến hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics

Với bề dày kinh nghiệm trong ngành vận tải và đặt tại Cần Thơ, một trung tâm công nghiệp, thương mại và dịch vụ lớn nhất của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, đồng thời là đô thị cửa ngõ của vùng hạ lưu sông Mêkông, là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải trong nước và quốc tế, kinh doanh dịch vụ logistics hứa hẹn sẽ là ngành mang lại nhiều thành công cho công ty

Tuy nhiên, để phát huy hết tiềm lực sẵn có và định hướng cho một sự phát triển bền vững trong lĩnh vực logistics, cần phải có những chiến lược dài hạn, phù hợp với khả năng phát triển của công ty, giúp công nâng cao năng lực cạnh tranh đồng thời khẳng định được vị trí của mình ở thị trường Cần Thơ

Từ những vấn đề trên, việc nghiên cứu “Xây dựng chiến lược kinh

doanh dịch vụ logistics của Công ty cổ phần Công nghiệp tàu thủy và vận tải Cần Thơ ” là hết sức cần thiết và phù hợp với xu hướng phát triển của Công ty

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Đề tài được thực hiện với mục tiêu phân tích môi trường bên ngoài và môi trường bên trong của Công ty CP công nghiệp tàu thủy và vận tải Cần Thơ, nhằm nhận biết các cơ hội và thách thức mà công ty phải đối mặt cũng như các điểm mạnh, điểm yếu của công ty trong hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics để xây dựng các chiến lược phù hợp từ đó đề xuất các giải pháp giúp công ty nâng cao hiệu quả kinh doanh

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

 Phân tích môi trường kinh doanh bên ngoài và bên trong của công ty

 Xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics dựa trên những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của công ty

 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh và phát huy tối đa các nguồn lực trong công ty

Trang 15

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Không gian nghiên cứu

Đề tài được thực hiện tại công ty CP công nghiệp tàu thủy và vận tải Cần Thơ, địa chỉ: 26 Lê Hồng Phong, phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ

1.3.2 Thời gian nghiên cứu

Số liệu nghiên cứu là số liệu thứ cấp được thu thập qua các năm 2011, 2012,

2013, và 6 tháng đầu năm 2014

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics của công ty CP công nghiệp tàu thủy và vận tải Cần Thơ, luận văn sẽ tập trung phân tích những điểm mạnh, điểm yếu của công ty cũng như các cơ hội và thách thức bên ngoài đối với việc kinh doanh dịch vụ logistics

1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

Logistics được xem là một ngành kinh doanh còn khá mới mẻ và có rất ít doanh nghiệp tham gia tại Cần Thơ, để tìm hiểu các kiến thức có liên quan về lĩnh vực này và hoàn thiện hơn bài nghiên cứu của mình tác giả đã tham khảo thêm một số đề tài nghiên cứu sau đây:

Trần Hoài Tân, 2011.“Phát triển dịch vụ Logistics trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế”, Luận văn Thạc sĩ Phân tích các khái niệm khác nhau về logistics

và đưa ra một khái niệm chung nhất, bao trùm nhất, thể hiện được bản chất của hoạt động logistics Đồng thời, đề tài cũng phân tích và làm rõ đặc điểm của logistics, làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược phát triển của logistics một cách phù hợp Đề tài đi sâu phân tích thực tiễn áp dụng logistics của một số nước trên thế giới như các nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, để rút ra kinh nghiệm cho việc áp dụng và phát triển dịch vụ này tại Việt Nam Trên cơ sở khảo sát thực tiễn hoạt động logistics Việt Nam từ đầu những năm 2000 trở lại đây, đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng logistics trong lĩnh vực giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu tại Việt Nam Nêu bật những đóng góp nhất định của ngành logistics đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam Vận dụng phương pháp phân tích SWOT cho việc xây dựng các giải pháp phát triển logistic trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu tại Việt Nam trong thời gian tới và đề xuất các giải pháp phát triển logistic trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu

Trang 16

tại Việt Nam trên cơ sở kết hợp các yếu tố cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu trong bảng ma trận SWOT

Là một quốc gia có tiềm năng lớn về phát triển logistics, các doanh nghiệp logistics Việt Nam đang trưởng thành với những bước đi ban đầu và đóng góp khoảng 15%/năm vào GDP của cả nước Ngành logistics Việt Nam tuy còn non trẻ, nhưng cơ hội tăng trưởng trong bối cảnh hội nhập hiện nay của Việt Nam là không nhỏ Phát triển các doanh nghiệp logistics là nền tảng để thúc đẩy sự lớn mạnh của ngành công nghiệp hỗ trợ quan trọng này Bằng phương pháp thu thập thông tin thứ cấp nhằm tổng hợp tình hình và đánh giá thực trạng các doanh nghiệp logistics Việt Nam hiện tại, đồng thời phân tích cụ thể các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến tiềm năng phát triển của ngành logistics trong tương lai, luận văn

Thạc sĩ “Thực trạng và giải pháp phát triển các doanh nghiệp logistics Việt Nam

trong điều kiện hội nhập” của tác giả Phạm Xuân Thành (2012) đã đưa ra một số

định hướng và đề xuất các giải pháp cơ bản để góp phần vào sự phát triển của các doanh nghiệp logistics hiện nay

Hoàng Lâm Cường, 2003 “Một số giải pháp phát triển logistics của các công

ty giao nhận trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn Thạc sĩ Với mục

tiêu tìm hiểu thực trạng và đưa ra giải pháp giúp doanh nghiệp logistics Việt Nam hoạt động hiệu quả, góp phần đẩy mạnh hoạt động logistics tại thị trường thành phố Hồ Chí Minh Trong bài viết tác giả đã tổng hợp những kinh nghiệm cung cấp dịch vụ logistics của các nước có logistics phát triển để rút ra bài học cần thiết kết hợp với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu như thống kê mô

tả (số tương đối, tuyệt đối), quy nạp, ma trận SWOT… và điều tra khảo sát thực

tế nhằm phân tích thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cung cấp dịch vụ logistics của các công ty giao nhận trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

từ đó đề ra một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty

Nguyễn Viết Tuấn, 2012.“Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của siêu

thị Vinatex Cần Thơ”, Luận văn Đại học Tác giả đã dùng các phương pháp: so

sánh, tổng hợp, thống kê biểu bảng, phương pháp chuyên gia để xử lý số liệu Sau

đó sử dụng các ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE), ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE), ma trận hình ảnh cạnh tranh và kết hợp với ma trận SWOT, ma trận BCG để phân tích môi trường kinh doanh, tìm ra các mặt mạnh, mặt yếu, các nguy cơ cũng như các cơ hội bên ngoài để đề ra chiến lược kinh doanh Tuy nhiên, đề tài chỉ dừng lại ở việc đề xuất các chiến lược mà chưa đưa

ra hành động cụ thể cho việc triển khai từng chiến lược được lựa chọn

Trang 17

Đinh Hoài Tâm, 2010.“Một số biện pháp nhằm nâng cao hoạt động logistics tại công ty Toàn Thắng”, Luận văn Đại học Đề tài phân tích tình hình hoạt động

của công ty Toàn Thắng bằng cách sử dụng phương pháp so sánh tổng hợp, thống

kê bằng bảng, biểu đồ, tham khảo ý kiến của chuyên gia, và phương pháp then chốt là phân tích SWOT để tìm những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp, những cơ hội và nguy cơ bên ngoài doanh nghiệp Từ đó, tác giả đã đưa

ra nhiều chiến lược như thâm nhập thị trường, phát triển thị trường, kết hợp về phía trước, kết hợp về phía sau, kết hợp theo chiều ngang, chiến lược phát triển sản phẩm Điểm hạn chế của bài nghiên cứu này là tác giả đã kết hợp quá nhiều chiến lược mà không lựa chọn ra một hay một vài chiến lược chính nào để công

ty theo đuổi từ đó khó đề ra các biện pháp để theo triển khai các chiến lược đó

Trần Thị Minh Nguyệt, 2009.“Thực trạng kinh doanh dịch vụ logistics của

công ty Vinafaco Logistics”, Luận văn Đại học Đề tài đã tập trung nghiên cứu và

phân tích tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp logistics trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, đánh giá tình hình hoạt động và khả năng cạnh tranh của công

ty Vinafaco Logistics Bằng cách sử dụng các công cụ như ma trận IFE, EFE, Đề tài đi sâu vào phân tích các yếu tố của môi trường vĩ mô, môi trường tác nghiệp, phân tích những nguồn lực để thấy được những cơ hội và nguy cơ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của công ty Vinafaco Logistics Qua phân tích và đánh giá, tác giả đã đưa ra được các giải pháp để tập trung nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ logistics của doanh nghiệp trong tương lai

Qua các tài liệu đã tham khảo, tác giả đã nắm vững hơn về đặc điểm và thực trạng ngành logistics Việt Nam hiện nay đồng thời hiểu rõ được cách thức, phương hướng tiếp cận cũng như các công cụ hỗ trợ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường bên ngoài và nguồn lực hiện có bên trong doanh nghiệp để

có thể xây dựng những chiến lược phù hợp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 18

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Tổng quan về chiến lược

2.1.1.1 Khái niệm về chiến lược

Theo Feurer và Chaharbaghi (1994), chiến lược bắt nguồn từ chữ strateria

của Hy Lạp có nghĩa là nghệ thuật của chiến tranh Theo đó, chiến lược là một kế hoạch quan trọng mà mục tiêu là đánh bại kẻ thù Để đạt được mục tiêu này, chiến lược cũng đưa ra cách làm thế nào để sử dụng nguồn lực sẵn có một cách tốt nhất Qua thời gian, khái niệm này được phát triển và được sử dụng trong hoạt động kinh doanh

Theo Fred R David (1999), chiến lược là việc xác định những mục tiêu cơ

bản của công ty và lựa chọn phương thức hành động, bao gồm việc phân bổ nguồn lực cần thiết để đạt được các mục tiêu này

Theo John A Pearce và Richard B Robinson ( 2007) chiến lược là một quy

trình ra những quyết định hợp lý dựa trên tính phù hợp giữa nguồn lực của công

ty với những cơ hội ở những môi trường bên ngoài

Theo Michael E Porter – giáo sư trường Havard (1996) thì “Hầu như không

có sự thống nhất với nhau về khái niệm chiến lược là gì, mà là làm thế nào để công ty xây dựng chiến lược” Ông đã đưa ra những quan điểm mới thông qua sự

so sánh với quan điểm chiến lược cổ điển theo Bảng 2.1

Bảng 2.1 Những quan điểm chiến lược của Michael Porter

Mô hình chiến lược sử dụng trong

thập kỷ qua Lợi thế cạnh tranh bền vững

- Lợi thế dựa trên một số các yếu tố

thành công, nguồn lực quan trọng và

- Vị thế cạnh tranh vượt trội của công

Trang 19

- Đòi hỏi hiệu quả hoạt động tốt

Nguồn: Michael E Porter, What is Strategy?, Havard Business Review, Nov-Dec 1996

Qua so sánh trên, Porter cho rằng chiến lược là việc tạo ra sự phù hợp giữa các hoạt động của một công ty Nếu không có sự phù hợp này thì sẽ không có những chiến lược khác biệt và khó duy trì lợi thế cạnh tranh

Từ đó, có thể định nghĩa chiến lược như sau: “Chiến lược của công ty là tổng thể các quyết định và hoạt động liên quan đến việc chọn lựa các phương tiện và phân bổ nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu Trong môi trường cạnh tranh thì mục tiêu quan trọng của công ty là đạt vị thế chiến lược tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh Để đạt được điều này, công ty phải tạo ra sự phù hợp của toàn bộ hoạt động nhằm tạo dựng và duy trì được lợi thế cạnh tranh trong lâu dài”

2.1.1.2 Phân loại chiến lược

Theo tác giả Nguyễn Thị Liên Diệp và Nguyễn Văn Nam (2003) thì có nhiều cách phân loại chiến lược kinh doanh dựa trên những tiêu thức khác nhau:

a Căn cứ vào phạm vi của chiến lược, người ta chia chiến lược kinh doanh thành hai loại:

- Chiến lược chung, hay còn gọi là chiến lược tổng quát: Chiến lược chung của doanh nghiệp thường đề cập đến những vấn đề quan trọng nhất, bao trùm nhất và có ý nghĩa lâu dài Chiến lược chung quyết định những vấn đề sống còn của doanh nghiệp

- Chiến lược bộ phận: Đây là chiến lược cấp hai Thông thường trong doanh nghiệp, loại chiến lược này bao gồm: Chiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả, chiến lược phân phối và chiến lược giao tiếp – khuếch trương (chiến lược yểm trợ bán hàng)

Chiến lược chung và chiến lược bộ phận liên kết với nhau thành một chiến lược kinh doanh hoàn chỉnh Không thể coi là một chiến lược kinh doanh nếu chỉ

có chiến lược chung mà không có chiến lược bộ phận được thể hiện bằng các mục tiêu mà mỗi mục tiêu lại được thể hiện bằng một số chỉ tiêu nhất định

b Căn cứ vào hướng tiếp cận chiến lược, thì chiến lược kinh doanh được chia thành bốn loại:

Trang 20

- Chiến lược tập trung vào những nhân tố then chốt: Tư tưởng chỉ đạo của việc hoạch định chiến lược này là không dàn trải các nguồn lực mà phải tập trung cho những hoạt động có ý nghĩa quyết định đối với sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình

- Chiến lược dựa trên ưu thế tương đối: Tư tưởng chỉ đạo hoạch định chiến lược ở đây bắt nguồn từ sự phân tích, so sánh sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp mình so với các đối thủ cạnh tranh Thông qua sự phân tích đó, tìm ra điểm mạnh của mình làm chỗ dựa cho chiến lược kinh doanh

- Chiến lược sáng tạo tấn công: Việc xây dựng chiến lược này được tiếp cận theo cách cơ bản là luôn luôn nhìn thẳng vào những vấn đề vẫn được coi là phổ biến, khó làm khác được để đặt câu hỏi “Tại sao”, nhằm xét lại những điều tưởng như đã kết luận Từ việc liên tiếp đặt ra những câu hỏi và nghi ngờ sự bất biến của vấn đề, có thể có được những khám phá mới làm cơ sở cho chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mình

- Chiến lược khai thác các mức độ tự do: Cách xây dựng chiến lược này không nhằm vào nhân tố then chốt mà nhằm vào khai thác khả năng có thể có của các nhân tố bao quanh nhân tố then chốt

c Căn cứ vào cách chọn chiến lược:

- Chiến lược mang tính chủ động: Những chiến lược này có thể giúp cho doanh nghiệp giành phần thắng trong cuộc cạnh tranh thông qua vị trí dẫn đầu trên thị trường

- Chiến lược mang tính thụ động: Những chiến lược theo sau so với những doanh nghiệp dẫn đầu trên thị trường

Bảng 2.2 Những đặc điểm của chiến lược chủ động và thụ động

Chiến lược mang tính chủ động Chiến lược mang tính thụ động

- Đào tạo nhân viên

- Rút khỏi lĩnh vực kinh doanh

Trang 21

- Đầu tư vào hoạt động R&D

Nguồn: Pun and et al, Determiants of manufacturing strategy formulations:

alongtitudinal study in Hongkong, Technovation, Vol 24 No.2, 1996.

2.1.1.3 Quy trình xây dựng chiến lược

Xây dựng chiến lược là giai đoạn đầu trong quá trình quản trị chiến lược Quản trị chiến lược bao hàm nội dung rộng hơn xây dựng chiến lược Quản trị chiến lược bao gồm: xây dựng, thực hiện và đánh giá chiến lược

Xây dựng chiến lược là quá trình thiết lập sứ mạng kinh doanh, thực hiện điều

tra nghiên cứu môi trường bên trong để xác định các mặt mạnh, mặt yếu, nghiên cứu môi trường bên ngoài để xác định cơ hội và nguy cơ, đề ra các mục tiêu dài hạn xây dựng và chọn lựa các chiến lược thay thế

Sau khi doanh nghiệp đã xác định chiến lược cần phải theo đuổi thì quá trình

quản trị chiến lược sẽ chuyển sang giai đoạn mới: giai đoạn thực hiện chiến lược

Bản chất của giai đoạn này là chuyển dịch ý tưởng chiến lược thành hành động chiến lược Giai đoạn này mang những đặc điểm cơ bản khác với giai đoạn xây dựng chiến lược: nếu như xây dựng chiến lược là một quá trình tri thức, đòi hỏi

kỹ năng trực giác và phân tích, chỉ cần sự hợp tác của một số cá nhân thì thực hiện chiến lược là một quá trình hành động, đòi hỏi kỹ năng lãnh đạo và khuyến khích, cần sự hợp tác của tất cả mọi người trong tổ chức

Đánh giá chiến lược là quá trình so sánh kết quả mong muốn với kết quả thực

sự đạt được Giai đoạn này nhắm đến mục đích xem xét, điều chỉnh các công việc, chính sách thực hiện chiến lược nhằm đảm bảo chiến lược đề ra được triển khai và thực hiện đúng Đánh giá chiến lược nhắm đến cả mục tiêu dài hạn và hàng năm

Do đề tài chỉ giới hạn trong phạm vi: xây dựng chiến lược kinh doanh nên luận văn sẽ không đi chi tiết vào giai đoạn thực hiện và đánh giá chiến lược Theo tác giả Nguyễn Thị Liên Diệp và Nguyễn Văn Nam (2003) quy trình xây dựng chiến lược gồm 4 bước như sau:

Bước 1: Xác định sứ mạng và mục tiêu của công ty Sứ mạng được hiểu là lý

do tồn tại, ý nghĩa của sự ra đời và tồn tại của doanh nghiệp Sứ mạng của công

Trang 22

ty chính là bản tuyên ngôn của công ty đối với xã hội Thông thường, sứ mạng bao gồm các nội dung như khách hàng, sản phẩm hay dịch vụ, thị trường, công nghệ, triết lý, mối quan tâm đối với công đồng, nhân viên…Sứ mạng cho thấy bức tranh toàn cảnh trong tương lai của công ty Sứ mạng là cơ sở quan trọng cho việc lựa chọn đúng đắn các mục tiêu và các chiến lược phát triển của doanh nghiệp Còn mục tiêu là sự cụ thể hóa nội dung, là phương tiện để thực hiện thành công bản tuyên ngôn về sứ mạng của doanh nghiệp

Bước 2: Phân tích các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến công ty Trong bước

này cần tập hợp lượng thông tin về các yếu tố môi trường bên ngoài và bên trong Đánh giá và phân tích thông tin để xác định các cơ hội/ nguy cơ, điểm mạnh/ điểm yếu

Bước 3: Kết hợp giữa các cơ hội/ nguy cơ từ môi trường bên ngoài với các

điểm mạnh/ điểm yếu từ môi trường nội bộ công ty Các công cụ thường được sử dụng cho quy trình này bao gồm các ma trận SWOT, SPACE, BCG, IE

Bước 4: Lựa chọn chiến lược chính và chiến lược thay thế

2.1.1.4 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến công ty

Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến công ty là những yếu tố tác động đến quá trình quản trị chiến lược của công ty Các yếu tố này được chia làm hai nhóm: Các yếu tố môi trường bên ngoài và bên trong công ty

a) Môi trường bên ngoài

Là nhóm các yếu tố tạo nên những cơ hội cũng như các mối đe dọa mà công

ty gặp phải trong điều kiện cạnh tranh, chúng được phân thành hai nhóm lớn gồm môi trường vĩ mô và môi trường vi mô

- Môi trường vĩ mô: Bao gồm các yếu tố xuất phát từ bên ngoài công ty và có ảnh hưởng đến tất cả các ngành kinh doanh nhưng không nhất thiết phải theo một cách nhất định Các yếu tố đó thường là: (1) yếu tố chính trị - luật pháp, (2) yếu

tố kinh tế, (3) yếu tố văn hóa - xã hội, (4) yếu tố công nghệ

(1) Yếu tố chính trị - luật pháp: Trong quá trình xây dựng chiến lược, các công

ty thường đánh giá tính định hướng và sự ổn định của hệ thống chính trị - luật pháp mà công ty đang hoạt động Các yếu tố này thường bao gồm những quy định mà công ty phải tuân theo như: công bằng thương mại, cấm độc quyền, chương trình thuế, mức lương tối thiểu, giá cả cũng như một số quy định khác nhằm bảo vệ người lao động, người tiêu dùng, công chúng và môi trường

Trang 23

(2) Yếu tố kinh tế: Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng lớn đến các đơn

vị kinh doanh, chủ yếu là: xu hướng tăng trưởng tổng sản phẩm quốc dân, lãi suất ngân hàng, giai đoạn của chu kỳ kinh tế, cán cân thanh toán, chính sách tài chính và tiền tệ,…

(3) Yếu tố văn hóa - xã hội: Đề cập đến niềm tin, giá trị, thái độ, quan điểm và phong cách sống của người dân trong xã hội mà công ty đang hoạt động

(4) Yếu tố công nghệ: Sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ có thể ảnh hưởng rất lớn đến ngành mà công ty hoạt động Các công nghệ có thể đem đến khả năng tạo ra các sản phẩm mới, cải tiến sản phẩm hiện hữu Riêng đối với các công nghệ mang tính đột phá có thể cho phép công ty tạo ra một thị trường mới hoặc rút ngắn vòng đời của các thiết bị sản xuất

- Môi trường vi mô (môi trường ngành): Theo Michael Porter (1996), có năm yếu tố để tạo nên sự cạnh tranh trong cùng một ngành Các yếu tố này là: (1) Đối thủ tiềm ẩn (2) Áp lực nhà cung cấp, (3) Áp lực của khách hàng, (4) Sự xuất hiện sản phẩm thay thế và (5) Các đối thủ cạnh tranh trong ngành Ảnh hưởng chung của các yếu tố này thường là một sự thực phải chấp nhận đối với tất cả các công ty Để đề ra một chiến lược thành công thì phải phân tích từng yếu tố chủ yếu đó để nhận ra những mặt mạnh và mặt yếu của mình liên quan đến các cơ hội

và nguy cơ mà ngành kinh doanh đó gặp phải

Nguồn: Michael E Porter, What is Strategy?, Havard Business Review,1996

Hình 2.1 Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter

ĐỐI THỦ TIỀM ẨN

ĐỐI THỦ CẠNH TRANH TRỰC TIẾP NHÀ

CUNG

ỨNG

KHÁCH HÀNG

SẢN PHẨM THAY

THẾ

Mối đe dọa từ những công ty mới

gia nhập Sức ép của khách

hàng

Sức ép của nhà cung ứng

Mối đe dọa của sản phẩm thay thế

Trang 24

(1) Sự xuất hiện của đối thủ mới: Các đối thủ mới khi thâm nhập thị trường thường tạo ra những khả năng cạnh tranh mới thông qua việc giành thị phần hiện

có, là yếu tố làm giảm lợi nhuận của công ty Thông thường, khi thâm nhập một ngành các đối thủ mới vấp phải những rào cản nhất định như: lợi thế về quy mô,

sự khác biệt sản phẩm, nhu cầu vốn, lợi thế về chi phí, khả năng tiếp cận đến hệ thống phân phối và các quy định cụ thể ngành của Chính phủ

(2) Sức mạnh của nhà cung cấp: Những công ty bao giờ cũng phải liên kết với nhà cung cấp để được cung cấp những tài nguyên khác nhau như nguyên vật liệu, thiết bị, nhân công, vốn, …Vì thế, nhà cung cấp có thể gây áp lực mạnh đến hoạt động của công ty, đến một ngành cụ thể bằng việc tăng giá hoặc giảm chất lượng hàng hóa/dịch vụ cung cấp Sức mạnh của nhà cung cấp có thể đạt được thông qua việc độc quyền trong một ngành, tính độc đáo của sản phẩm hoặc chi phí chuyển đổi nhà cung cấp cao

(3) Sức mạnh của khách hàng: Khách hàng là một phần của công ty, khách hàng trung thành là một lợi thế lớn của công ty Sự trung thành này được tạo dựng bởi sự thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng và mong muốn làm tốt hơn Sức mạnh của khách hàng thường là những yêu cầu về giảm giá, đòi hỏi cao hơn về chất lượng và nhiều hơn về dịch vụ Sức mạnh này thường có được từ việc mua hàng khối lượng lớn, không có sự khác biệt nhiều trong sản phẩm (4) Sự xuất hiện sản phẩm thay thế: Sản phẩm thay thế có thể hạn chế sự phát triển tiềm năng hoặc lợi nhuận của một ngành

(5) Các đối thủ cạnh tranh trong ngành: Sự cạnh tranh trong một ngành có thể diễn ra bằng việc các đối thủ cạnh tranh sử dụng sức mạnh của mình để thu hút khách hàng Các kỹ thuật thường được sử dụng là cạnh tranh về giá, giới thiệu sản phẩm, các chương trình marketing và quảng cáo Mức độ cạnh tranh trong một ngành tùy thuộc vào các yếu tố như: số lượng các đối thủ cạnh tranh, tốc độ tăng trưởng của ngành đó, chi phí cố định cao hoặc sản phẩm dễ hư hỏng, mức

độ “chuẩn hóa” của sản phẩm và những rào cản ra khỏi ngành

Tóm lại, môi trường bên ngoài được phân thành hai nhóm lớn là môi trường vĩ

mô và vi mô Trong từng môi trường này, có các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược của công ty Nhìn chung, các yếu tố này tạo ra các cơ hội lẫn rủi ro

mà công ty có thể gặp phải Vì thế, việc đánh giá môi trường bên ngoài là một phần trong việc hình thành chiến lược giúp công ty tận dụng được những cơ hội đồng thời hạn chế các rủi ro mà môi trường đem lại

Trang 25

b) Môi trường bên trong:

Fred R David (1999) cho rằng môi trường bên trong của một công ty bao gồm tất cả các yếu tố và hệ thống bên trong của nó, nằm trong phạm vi kiểm soát của công ty, cần phân tích các yếu tố nội bộ đó nhằm xác định rõ những điểm mạnh cũng như điểm yếu của công ty Những yếu tố cấu thành môi trường bên trong gồm những lĩnh vực chức năng như: nguồn nhân lực, nghiên cứu và phát triển, sản xuất, tài chính kế toán, marketing và nề nếp tổ chức chung…

(1) Nguồn nhân lực: Bao gồm nhà quản trị các cấp và người thừa hành Phân tích nguồn nhân lực căn cứ vào các kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp và những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện Phân tích nguồn nhân lực thường xuyên

là cơ sở giúp các công ty đánh giá kịp thời các điểm mạnh và điểm yếu của các thành viên trong tổchức so với yêu cầu về tiêu chuẩn nhân sự trong từng khâu công việc và so với nguồn nhân lực của đối thủ cạnh tranh nhằm có kế hoạch bố trí, sử dụng nguồn nhân lực hiện có Việc đánh giá khách quan sẽ giúp cho tổ chức chủ động thực hiện việc đào tạo và tái đào tạo cả tài lẫn đức cho các thành viên của tổ chức nhằm bảo đảm thực hiện chiến lược thành công lâu dài và luôn thích nghi với những yêu cầu về nâng cao liên tục chất lượng con người trong nền kinh tế tri thức

(2) Sản xuất / Tác nghiệp: Bao gồm tất cả các hoạt động để chuyển các nguyên nhiên vật liệu đầu vào thành hàng hóa/ dịch vụ đầu ra Thông thường, chức năng này bao gồm các yếu tố như quy trình, công suất, hàng tồn kho, lao động trực tiếp và chất lượng Đây là chức năng cốt lõi của công ty nên các nhà chiến lược thường ưu tiên trước các hoạt động khác

(3) Marketing và bán hàng / Nghiên cứu phát triển: Bao gồm tất cả các hoạt động từ lúc nghiên cứu và xác định nhu cầu của khách hàng đến khi thỏa mãn được nhu cầu đó thông qua sản phẩm, giá cả, phân phối và khuyến mại

(4) Tài chính: Bao gồm tất cả các hoạt động huy động và sử dụng các nguồn lực vật chất của công ty trong từng thời kỳ, thực hiện hạch toán kinh tế trong tất

cả các khâu công việc trong quá trình hoạt động Các hoạt động tài chính không chỉ liên quan đến sự tồn tại và phát triển của bản thân công ty mà còn ảnh hưởng đến các tổ chức tín dụng/ nhà đầu tư bên ngoài tổ chức

(5) Hệ thống thông tin: Thông tin liên kết tất cả các chức năng trong kinh doanh với nhau và cung cấp cơ sở cho tất cả các quyết định về quản trị Hệ thống thông tin được xem là nền tảng của tổ chức Mục đích của hệ thống thông tin là

Trang 26

nhằm cải tiến các hoạt động ở một công ty bằng cách nâng cao chất lượng của các quyết định quản trị

(6) Quản trị: Bao gồm tất cả các hoạt động từ việc hoạch định, tổ chức, thực hiện cho đến kiểm soát của công ty Ngày nay, hoạt động quản trị đóng vai trò lớn trong việc hình thành chiến lược và vị thế cạnh tranh của công ty

Bên cạnh đó, yếu tố văn hóa công ty ngày càng có ảnh hưởng đến chiến lược của công ty Theo đó, văn hóa công ty càng mạnh thì các yếu tố văn hóa càng có ảnh hưởng tới việc thiết lập các hành động chiến lược, đôi khi yếu tố này có thể định hướng chiến lược

Như vậy, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược của công ty Trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng hiện nay thì việc liên tục đánh giá lại các yếu tố này

sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với thành công trong thực hiện chiến lược công ty

2.1.2 Tổng quan về logistics

2.1.2.1 Khái niệm về logistics và quá trình phát triển

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự hỗ trợ đắc lực của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới, khối lượng hàng hóa và sản phẩm vật chất được sản xuất ra ngày càng nhiều Do khoảng cách trong các lĩnh vực cạnh tranh truyền thống như chất lượng hàng hóa hay giá cả ngày càng thu hẹp, các nhà sản xuất đã chuyển sang cạnh tranh về quản lý hàng tồn kho, tốc độ giao hàng, hợp lý hóa quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu và bán thành phẩm,… trong cả hệ thống quản lý phân phối vật chất của doanh nghiệp Trong quá trình

đó, logistics có cơ hội phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực kinh doanh Trong thời gian đầu, logistics chỉ đơn thuần được coi là một phương thức kinh doanh mới, mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp Cùng với quá trình phát triển, logistics đã được chuyên môn hóa và phát triển trở thành một ngành dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng quan trọng trong giao thương quốc tế

“Logistics” là một từ tiếng Anh, có nguồn gốc từ “Logistique” trong tiếng Pháp Ban đầu Logistics được dịch sang tiếng Việt là hậu cần, có người còn dịch

là tiếp vận hoặc tổ chức dịch vụ cung ứng, thậm chí là vận trù… Nhưng tất cả cách dịch đó đều chưa thỏa đáng, chưa phản ánh đúng đắn và đầy đủ bản chất của logistics Cho đến nay người ta đã thống nhất giữ nguyên thuật ngữ logistics không dịch sang tiếng Việt và bổ sung thêm thuật ngữ này vào vốn từ tiếng Việt của chúng ta

Trang 27

Tuy nhiên, một điều khá thú vị là logistics được phát minh và ứng dụng lần đầu tiên không phải trong hoạt động thương mại mà là trong lĩnh vực quân sự

Napoleon đã từng nói: “Kẻ nghiệp dư bàn về chiến thuật, người chuyên nghiệp bàn về logistics” vì ông cho rằng “Logistics là một chuỗi hoạt động để duy trì

lực lượng quân đội”

Logistics được các quốc gia ứng dụng rất rộng rãi trong 2 cuộc Chiến tranh thế giới để di chuyển lực lượng quân đội cùng với vũ khí có khối lượng lớn và đảm bảo hậu cần cho lực lượng tham chiến Hiệu quả của hoạt động logistics, do

đó là yếu tố có tác động rất lớn tới thành bại trên chiến trường Cuộc đổ bộ thành công của quân đồng minh vào vùng Normandie tháng 6/1994 chính là nhờ vào sự

nỗ lực của khâu chuẩn bị hậu cần và quy mô của các phương tiện hậu cần được triển khai Sau khi chiến tranh thế giới kết thúc, các chuyên gia logistics trong quân đội đã áp dụng các kỹ năng logistics của họ trong hoạt động tái thiết kinh tế thời hậu chiến Hoạt động logistics trong thương mại lần đầu tiên được ứng dụng

và triển khai sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc Trong lịch sử Việt Nam, 2 người đầu tiên ứng dụng thành công logistics trong hoạt động quân sự chính là vua Quang Trung - Nguyễn Huệ trong cuộc hành quân thần tốc ra miền Bắc đại phá quân Thanh (1789) và sau đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ (1954)

Trải qua dòng chảy lịch sử, logistics được nghiên cứu và áp dụng sang lĩnh vực kinh doanh Dưới góc độ doanh nghiệp, thuật ngữ “logistics” thường được hiểu là hoạt động quản lý chuỗi cung ứng (supply chain management) hay quản

lý hệ thống phân phối vật chất (physical distribution management) của doanh nghiệp đó Có rất nhiều khái niệm khác nhau về logistics trên thế giới và được xây dựng căn cứ trên ngành nghề và mục đích nghiên cứu về logistics, tuy nhiên,

có thể nêu một số khái niệm chủ yếu sau:

- Theo từ điển “Oxford Advances Learners Dictionary of Current English, US

Fifth Edition, Hornby, Oxford University Press” (1995): “Logistics có nghĩa là việc tổ chức cung ứng và dịch vụ đối với một hoạt động phức hợp nào đó”

(Logistics – the organization of supplies and service for any complex operation)

- Theo cuốn “An Intergrated Approach to logistics Management” của Viện kỹ

thuật công nghệ Florida - Mỹ: “Logistics là việc quản lý sự vận động và lưu giữ của nguyên vật liệu vào trong doanh nghiệp của hàng hoá trong lúc sản xuất tại doanh nghiệp và hàng thành phẩm đi ra khỏi doanh nghiệp.”

Trang 28

- Theo Tài liệu của Liên hợp quốc sử dụng cho khoá đào tạo quốc tế về vận tải

đa phương thức và quản lý logistics tại trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội

tháng 10/2002: “Logisics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra thành phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng.”

- Theo Hội đồng Quản lý dịch vụ logistics quốc tế (CLM – The Council of

Logistics Management): “Logistics là một phần của quá trình cung cấp dây chuyền bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát hiệu quả, lưu thông hiệu quả và lưu giữ các loại hàng hoá, dịch vụ và có liên quan đến thông tin từ điểm cung cấp cơ bản đến các điểm tiêu thụ để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng.”

- Theo PGS.TS Đoàn Thị Hồng Vân trong cuốn “Quản trị Logistics” (2006):

“Logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí và thời gian, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.”

Như vậy, dù có sự khác nhau về từ ngữ diễn đạt và cách trình bày, nhưng trong

nội dung tất cả các tác giả đều cho rằng: Logistics chính là hoạt động quản lý dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua quá trình lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới tay người tiêu dùng Mục đích giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh với một thời gian ngắn nhất trong quá trình vận động của nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối hàng hoá một cách kịp thời (Just-in-Time) Tuy nhiên ở đây không chỉ có sự vận động của

“nguyên vật liệu, hàng hoá” mà cần phải bao gồm thêm cả dòng luân chuyển

“dịch vụ, thông tin” Logistics không chỉ hạn chế trong sản xuất mà nó còn liên quan đến mọi tổ chức bao gồm chính phủ, bệnh viện, ngân hàng, người bán lẻ, người bán buôn…

Ngày nay thuật ngữ logistics đã được phát triển, mở rộng và được hiểu với nghĩa là quản lý (management) Trong khi nghiên cứu lĩnh vực này, tuỳ thuộc giác độ tiếp cận, các học giả có thể sử dụng các thuật ngữ như: logistics kinh doanh, logistics in bound – logistics out bound, phân phối vật chất, quản lý nguyên vật liệu, kỹ thuật phân phối hay quản lý logistics…thì đây đều là các thuật ngữ dùng để diễn tả cùng một chủ đề, đó chính là cái mà chúng ta gọi là logistics Logistics diễn tả toàn bộ quá trình vận động của nguyên vật liệu và sản phẩm

đi vào – qua và đi ra khỏi doanh nghiệp tới khâu phân phối tới tay người tiêu

Trang 29

dùng Nó là một quy trình nhằm tối ưu hoá các hoạt động để đảm bảo việc giao hàng từ nơi gửi đến nơi nhận thông qua một dây chuyền vận tải

Trước những năm 1950 công việc logistics chỉ đơn thuần là một hoạt động chức năng đơn lẻ Trong khi các lĩnh vực marketing và quản trị sản xuất đã có những chuyển biến rất lớn lao thì vẫn chưa hình thành một quan điểm khoa học

về quản trị logistics một cách hiệu quả Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và quản lý cuối thế kỷ 20 đã đưa logistics lên một tầm cao mới, có thể gọi đó là giai đoạn phục hưng của logistics (logistical renaissance) Có 4 nhân tố chính dẫn đến sự biến đổi này:

- Thương mại hoá thiết bị vi xử lý: trong thời kỳ này, các thiết bị điện tử

bước vào giai đoạn thương mại hóa rộng rãi Giá các sản phẩm trở nên rất rẻ và phù hợp với điều kiện đầu tư của các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp vừa

và nhỏ Chính những thiết bị này là cơ sở vật chất hỗ trợ rất nhiều cho nghiệp vụ logistics (trao đổi thông tin, quản lý hàng tồn kho, tính toán các chi phí) Tại các nước phát triển, bộ phận logistics là nơi sử dụng nguồn vật chất máy vi tính lớn nhất trong công ty

- Cuộc cách mạng viễn thông: Cùng với yếu tố trên, những tiến bộ của ngành

viễn thông nói chung và công nghệ thông tin nói riêng có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động này Từ những năm 80s, người ta đã sử dụng công nghệ mã vạch (bar code) để cải tiến hoạt động logistics Trao đổi thông tin điện tử (EDI- electronic data interchange) cũng bắt đầu được sử dụng giữa khách hàng và những nhà cung ứng để truyền đạt và tiếp nhận dữ liệu giữa các cơ sở kinh doanh trong và ngoài công ty Ngoài ra còn phải kể đến vệ tinh, máy fax, máy photo, và các dụng cụ ghi băng, ghi hình khác Nhờ những phương tiện này mà người ta có được những thông tin cập nhật trong quá trình thực thi logistics

- Ứng dụng rộng rãi những sáng kiến cải tiến về chất lượng: quan điểm quản

trị chất lượng đồng bộ (TQM) là động cơ quan trọng nhất trong việc thúc đẩy hoạt động logistics Thời kỳ sau Đại chiến thứ II, các doanh nghiệp ngày càng phải quan tâm đến chất lượng hàng hoá và tính hiệu quả của các quy trình sản xuất Quan điểm “không sai hỏng - zero defects” và “làm đúng ngay từ lần đầu tiên - doing things right the first time” trong TQM đã được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực logistics Các doanh nghiệp nhận ra rằng sản phẩm tốt mà đến muộn so với yêu cầu hoặc bị hư hại đều không thể chấp nhận được Việc thực thi kém công việc logistics sẽ làm tổn hại đến sáng kiến cải tiến chất lượng

- Sự phát triển của quan điểm đồng minh chiến lược (Alliances): Các doanh

nghiệp bắt đầu nhận thấy rằng phải coi các khách hàng và các nhà cung ứng như

Trang 30

là đồng minh chiến lược, những đơn vị cộng tác kinh doanh Chính sự hợp tác, liên kết giữa các bên là cơ sở để hoạt động logistics đạt được hiệu quả ngày càng cao, giảm sự chồng chéo, hao phí không cần thiết, tập trung vào việc kinh doanh,

thúc đẩy thắng lợi chung

Những tiến bộ trong khoa học kỹ thuật, lý thuyết quản lý và công nghệ thông tin kể trên đã thúc đẩy logistics lớn mạnh theo thời gian về cả quy mô và tầm ảnh hưởng, tạo nên một làn sóng tư duy đổi mới về tất cả các khía cạnh của hoạt động này tại các doanh nghiệp từ những năm 1960 cho đến nay Theo Jacques Colin - Giáo sư về khoa học quản lý thuộc trường Đại học Aix – Marseillea thì sự phát triển của logistics bắt đầu từ tác nghiệp - khoa học chi tiết - đến liên kết - khoa học tổng hợp, điều này đã được khẳng định trong lĩnh vực quân sự cũng như trong các doanh nghiệp

Có thể chia quá trình phát triển của logistics kinh doanh trên thế giới thành 5 giai đoạn: workplace logistics (logistics tại chỗ), facility logistics (logistics cơ sở sản xuất), corporate logistics (logistics công ty), supply chain logistics (logistics chuỗi cung ứng), global logistics (logistics toàn cầu)

- Logistics tại chỗ: là dòng vận động của nguyên vật liệu tại một vị trí làm

việc Mục đích của workplace logistics là hợp lý hoá các hoạt động độc lập của một cá nhân hay của một dây chuyền sản xuất hoặc lắp ráp Lý thuyết và các nguyên tắc hoạt động của workplace logistics được đưa ra cho những nhân công làm việc trong lĩnh vực công nghiệp trong và sau chiến tranh thế giới thứ II Điểm nổi bật của workplace logistics là tính tổ chức lao động có khoa học

- Logistics cơ sở sản xuất: là dòng vận động của nguyên liệu giữa các xưởng

làm việc trong nội bộ một cơ sở sản xuất Cơ sở sản xuất đó có thể là 1 nhà máy,

1 trạm làm việc trung chuyển, 1 nhà kho, hoặc 1 trung tâm phân phối Một facility logistics được nói đến tương tự như là một khâu để giải quyết các vấn đề đảm bảo đúng và đủ nguyên vật liệu để phục vụ cho sản xuất đại trà và dây chuyền lắp ráp máy móc (do máy móc không đồng nhất giữa những năm 1950 và

1960)

Trang 31

Nguồn: Bowersox, Closs and Cooper(2007).“Supply chain logistics management”

Hình 2.2 Lịch sử phát triển logistics kinh doanh từ 1950 đến nay

- Logistics công ty: là dòng vận động của nguyên vật liệu và thông tin giữa

các cơ sở sản xuất và các quá trình sản xuất trong một công ty Với công ty sản xuất thì hoạt động logistics diễn ra giữa các nhà máy và các kho chứa hàng, với một đại lý bán buôn thì là giữa các đại lý phân phối của nó, còn với một đại lý bán lẻ thì đó là giữa đại lý phân phối và các cửa hàng bán lẻ của mình Logistics công ty ra đời và chính thức được áp dụng trong kinh doanh vào những năm

1970 Giai đoạn này, hoạt động logistics gắn liền với thuật ngữ phân phối mang tính vật chất Logistics kinh doanh trở thành quá trình mà mục tiêu chung là tạo ra

và duy trì một chính sách dịch vụ khách hàng tốt với tổng chi phí logistics thấp

- Logistics chuỗi cung ứng: Phát triển vào những năm 1980, quan điểm này

nhìn nhận logistics là dòng vận động của nguyên vật liệu, thông tin và tài chính giữa các công ty (các xưởng sản xuất, các cơ sở trong công ty) trong một chuỗi thống nhất Đó là một mạng lưới các cơ sở hạ tầng (nhà máy, kho hàng, cầu cảng, cửa hàng…), các phương tiện (xe tải, tàu hoả, máy bay, tàu biển…) cùng với hệ thống thông tin được kết nối với nhau giữa các nhà cung ứng của một công ty và các khách hàng của công ty đó Các hoạt động logistics (dịch vụ khách hàng, quản trị dự trữ, vận chuyển và bảo quản hàng hoá…) được liên kết với nhau để thực hiện các mục tiêu trong chuỗi cung ứng (Hình 1.2) Điểm nhấn trong chuỗi cung ứng là tính tương tác và sự kết nối giữa các chủ thể trong chuỗi thông qua 3 dòng liên kết:

Worplace logistics

Facility logistics

1950 1960 1970 1980 1990 2000

Corporate logistics

Supply chain logistics

Global logistics

Trang 32

• Dòng thông tin: dòng giao và nhận của các đơn đặt hàng, theo dõi quá trình dịch chuyển của hàng hoá và chứng từ giữa người gửi và người nhận

• Dòng sản phẩm: con đường dịch chuyển của hàng hoá và dịch vụ từ nhà cung cấp tới khách hàng, đảm bảo đúng đủ về số lượng và chất lượng

• Dòng tài chính: chỉ dòng tiền bạc và chứng từ thanh toán giữa các khách hàng và nhà cung cấp, thể hiện hiệu quả kinh doanh

Nguồn: Bowersox, Closs and Cooper (2007) “Supply chain logistics management”.

Hình 2.3 Vị trí của logistics trong chuỗi cung ứng Tương tự như trong thể thao, ở đây các hoạt động logistics được hiểu như là các trò chơi trong đấu trường chuỗi cung ứng Hãy lấy chuỗi cung ứng trong ngành máy tính làm ví dụ: đó là 1 chuỗi gồm có HP, Microsoft, Intel, UPS, FEDEX, Sun, Ingram-Micro, Compaq, CompUSA và nhiều công ty khác Không

có ai trong số đó có thể hoặc nên kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng của ngành công nghiệp máy tính

Trong chuỗi cung ứng, logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch định và tổ chức

Cấp độ thứ nhất đòi hỏi phải giải quyết vấn đề tối ưu hoá vị trí của các nguồn tài nguyên Cấp độ thứ hai liên quan đến việc tối ưu hoá các dòng vận động trong hệ

thống Trong thực tế, hệ thống logistics ở các quốc gia và các khu vực có nhiều điểm khác nhau nhưng đều có điểm chung là sự kết hợp khéo léo, khoa học và chuyên nghiệp chuỗi các hoạt động như marketing, sản xuất, tài chính, vận tải, thu mua, dự trữ, phân phối…để đạt được mục tiêu phục vụ khách hàng tối đa với chi phí tối thiểu Trong điều kiện Việt Nam hiện nay đây là khái niệm thích hợp

có thể sử dụng

- Logistics toàn cầu: là dòng vận động của nguyên vật liệu, thông tin và tiền

tệ giữa các quốc gia Nó liên kết các nhà cung ứng của các nhà cung ứng với khách hàng của khách hàng trên toàn thế giới Các dòng vận động của logistics

Trang 33

toàn cầu đó tăng một cách đáng kể trong suốt những năm qua Đó là do quá trình toàn cầu hoá trong nền kinh tế tri thức, việc mở rộng các khối thương mại và việc mua bán qua mạng Logistics toàn cầu phức tạp hơn nhiều so với logistics trong nước bởi sự đa dạng phức tạp hơn trong luật chơi, đối thủ cạnh tranh, ngôn ngữ, tiền tệ, múi giờ, văn hoá, và những rào cản khác trong kinh doanh quốc tế

- Logistics thế hệ sau, có rất nhiều lý thuyết khác nhau về giai đoạn tiếp theo

sau của logistics Nhiều nhà kinh tế cho rằng: logistics hợp tác (collaborative

logistics) sẽ là giai đoạn tiếp theo của lịch sử phát triển logistics Đó là dạng

logistics được xây dựng dựa trên 2 khía cạnh không ngừng tối ưu hoá thời gian thực hiện với việc liên kết giữa tất cả các thành phần tham gia trong chuỗi cung

ứng Một số người khác lại cho rằng: giai đoạn tiếp theo là logistics thương mại

điện tử (e- logistics) hay logistics đối tác thứ 4 (fourth-party logistics) Đó là

hình thức mà mọi hoạt động logistics sẽ được thực hiện bởi nhà các cung ứng logistics thứ 3, người này sẽ bị kiểm soát bởi một “ông chủ” hay còn gọi là nhà cung ứng thứ 4, có quyền như là một tổng giám sát

2.1.2.2 Phân loại logistics

a) Phân loại theo hình thức logistics

Căn cứ vào phân công lao động và tính chuyên nghiệp của các doanh nghiệp

có các mô hình nhà cung cấp dịch vụ logistics (LSP – Logistics Service Provider) như sau:

- Logistics bên thứ nhất (1PL – First Party Logistics): Người chủ sở hữu hàng hoá tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân Theo đó, chủ hàng phải đầu tư vào các phương tiện vận tải, kho chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân công để quản lý và vận hành hoạt động logistics First Party Logistics làm phình to quy mô của doanh nghiệp và thường làm giảm hiệu quả kinh doanh, vì doanh nghiệp không có đủ quy mô cần thiết, kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn để quản lý và vận hành hoạt động logistics

- Logistics bên thứ hai (2PL – Second Party Logistics): Người cung cấp dịch

vụ logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan, thanh toán…) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, chưa tích hợp hoạt động logistics Loại hình này bao gồm: các hãng vận tải đường biển, đường bộ, đường hàng không, các công ty kinh doanh kho bãi, khai thuê hải quan, trung gian thanh toán…

Trang 34

- Logistics bên thứ ba (3PL – Third Party Logistics): Người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng, như: thay mặt cho người gửi hàng thực hiện thủ tục xuất khẩu và vận chuyển nội địa hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan và vận chuyển hàng hoá tới địa điểm đến quy định Do đó, 3PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hoá, xử lý thông tin…và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng

- Logistics bên thứ tư (4PL – Fourth Party Logistics): Người tích hợp (integrator) - người hợp nhất, gắn kết các nguồn lực tiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics 4PL chịu trách nhiệm quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp giải pháp dây chuyền cung ứng, hoạch định, tư vấn logistics, quản trị vận tải…4PL hướng đến quản trị cả quá trình logistics, như nhận hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục sản xuất, nhập khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng

- Logistics bên thứ năm (5PL – Fifth Party Logistics): Hình thức này phát triển nhằm phục vụ cho thương mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ 5PL là các 3PL

và 4PL đứng ra quản lý toàn chuỗi phân phối trên nền tảng thương mại điện tử Tại Việt Nam, phần lớn các nhà cung cấp dịch vụ logistics chỉ dừng lại ở nhóm 2PL và 3PL, hầu như chưa có sự xuất hiện của 4PL hoặc cao hơn nữa

b) Phân loại theo quá trình

- Logistics đầu vào (in bound logistics): Là các hoạt động đảm bảo cung ứng tài nguyên đầu vào (nguyên liệu, thông tin, vốn…) một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí cho quá trình sản xuất

- Logistics đầu ra (out bound logistics): Là các hoạt động đảm bảo cung cấp thành phẩm đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp

- Logistics ngược (reverse logistics): Là quá trình thu hồi các phụ phẩm, phế liệu, phế phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở về để tái chế hoặc xử lý

c) Phân loại theo đối tượng hàng hoá

- Logistics hàng tiêu dùng nhanh (FMCG logistics): Là quá trình logistics cho hàng tiêu dùng có thời hạn sử dụng ngắn như: quần áo, giày dép, thực phẩm…

Trang 35

- Logistics ngành ô tô (automotive logistics): Là quá trình logistics phục vụ cho ngành ô tô

- Logistics hoá chất (chemical logistics): Là hoạt động logistics phục vụ cho ngành hoá chất, bao gồm cả hàng độc hại, nguy hiểm

- Logistics hàng điện tử (electronic logistics): Là hoạt động logistics phục vụ cho ngành hàng điện tử

- Logistics dầu khí (petroleum logistics): Là hoạt động logistics phục vụ cho ngành dầu khí

d) Theo phạm vi và mức độ quan trọng

- Logistics kinh doanh (Bussiness logistics) là một phần của quá trình chuỗi cung ứng, nhằm hoạch định thực thi và kiểm soát một cách hiệu quả và hiệu lực các dòng vận động và dự trữ sản phẩm, dịch vụ và thông tin có liên quan từ các điểm khởi đầu đến điểm tiêu dùng nhằm thoả mãn những yêu cầu của khách hàng

- Logistics quân đội (Military Logistics) là việc thiết kế và phối hợp các phương diện hỗ trợ và các thiết bị cho các chiến dịch và trận đánh của lực lượng quân đội Đảm bảo sự sẵn sàng, chính xác và hiệu quả cho các hoạt động này

- Logistics sự kiện (Event logistics) là tập hợp các hoạt động, các phương tiện vật chất kỹ thuật và con người cần thiết để tổ chức, sắp xếp lịch trình, nhằm triển khai các nguồn lực cho một sự kiện được diễn ra hiệu quả và kết thúc tốt đẹp

- Dịch vụ logistics (Service logistics) bao gồm các hoạt động thu nhận, lập chương trình, và quản trị các điều kiện cơ sở vật chất/ tài sản, con người, và vật liệu nhằm hỗ trợ và duy trì cho các quá trình dịch vụ hoặc các hoạt động kinh doanh doanh

2.1.2.3 Vai trò của logistics

- Vai trò của logistics đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Logistics là một chức năng kinh tế có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn xã hội Ở tầm của nền kinh tế, logistics là mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hoá Nghiên cứu của Viện Nomura (Nhật Bản) cho thấy chỉ riêng hoạt động logistics đã chiếm khoảng 15% GDP của mỗi nước Do đó, nếu nâng cao hiệu quả hoạt động logistics thì sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội Logistics hỗ trợ cho luồng

Trang 36

chu chuyển các giao dịch kinh tế Nền kinh tế chỉ có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ một khi dây chuyền logistics hoạt động liên tục, nhịp nhàng

Hoạt động logistics hiệu quả làm tăng tính cạnh tranh của một quốc gia trên trường quốc tế Trình độ phát triển và chi phí logistics của một quốc gia được xem là một căn cứ quan trọng trong chiến lược đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia Những quốc gia có hệ thống cơ sở hạ tầng bảo đảm, hệ thống cảng biển tốt…sẽ thu hút được đầu tư từ các công ty hay tập đoàn lớn trên thế giới Sự phát triển vượt bậc của Singapore, Hồng Kông và gần đây là Trung Quốc đã là những minh chứng sống động cho việc thu hút đầu tư nước ngoài nhằm tăng trưởng xuất khẩu, tăng GDP thông qua việc phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ logistics

- Vai trò của logistics đối với doanh nghiệp

Đối với các doanh nghiệp, logistics đóng vai trò rất to lớn Logistics giúp giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả Nhờ có thể thay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hoá quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp Có nhiểu doanh nghiệp thành công lớn nhờ có được chiến lược và hoạt động logistics đúng đắn, ngược lại có không ít doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí thất bại, phá sản

do có những quyết định sai lầm trong hoạt động logistics, ví dụ: chọn sai vị trí, chọn nguồn tài nguyên cung cấp sai, dự trữ không phù hợp, tổ chức vận chuyển không hiệu quả…Ngày nay để tìm được vị trí tốt hơn, kinh doanh hiệu quả hơn, các tập đoàn đa quốc gia, các công ty đủ mạnh đã và đang nỗ lực tìm kiếm trên toàn cầu nhằm tìm được nguồn nguyên liệu, nhân công, vốn, bí quyết công nghệ, thị trường tiêu thụ, môi trường kinh doanh…tốt nhất và dẫn tới việc hoạt động logistics mang tính toàn cầu hình thành và phát triển

Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nhờ hoạt động logistics mà doanh nghiệp giành được thế chủ động trong việc chọn nguồn cung cấp nguyên liệu, công nghệ sản xuất, thiết kế mẫu mã, tìm kiếm thị trường tiêu thụ thông qua nhiều kênh phân phối khác nhau…Đồng thời, có thể chủ động trong việc lên kế hoạch sản xuất cũng như quản lý hàng tồn kho và giao hàng đúng hạn với một mức tổng chi phí là thấp nhất

Logistics còn giúp giảm chi phí thông qua việc tiêu chuẩn hoá chứng từ Theo các chuyên gia ngoại thương, giấy tờ rườm rà chiếm một khoản chi phí không nhỏ trong mậu dịch quốc tế và vận chuyển Logistics đã cung cấp các dịch vụ đa

Trang 37

dạng trọn gói có tác dụng giảm rất nhiều các chi phícho giấy tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế Dịch vụ vận tải đa phương thức do người kinh doanh dịch vụ logistics cung cấp đã loại bỏ đi rất nhiều chi phí cho giấy tờ thủ tục, chuẩn hoá và nâng cấp chứng từ cũng như giảm khối lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hoá, từ đó nâng cao hiệu quả buôn bán quốc tế

Sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm tăng sự hài lòng và giá trị cung cấp cho khách hàng của dịch vụ logistics Đứng ở góc độ này, logistics được xem

là công cụ hiệu quả để đạt được lợi thế cạnh tranh lâu dài về sự khác biệt hoá và tập trung

Bằng những ưu điểm vượt trội của mình, logistics đã đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến, vào đúng thời điểm thích hợp Vì vậy, cũng có thể nói rằng logistics là “trợ thủ đắc lực” cho hoạt động marketing hỗn hợp 4P (right product, right price, proper promotion and right place - sản phẩm đúng yêu cầu, giá cả đúng mực, quảng bá đúng độ, địa điểm đúng chỗ) Mục đích của sản xuất kinh doanh là lợi nhuận Muốn đạt được lợi nhuận như mong muốn phải đưa ra được phương án sản xuất kinh doanh tối ưu Logistics với mục tiêu là “cung cấp hàng hoá/dịch vụ cho khách hàng với tổng chi phí nhỏ nhất” – cho phép người quản lý kiểm soát và ra quyết định kinh doanh chính xác, nhằm đảm bảo hiệu quả trong sản xuất kinh doanh

2.1.3 Tổng quan về dịch vụ logistics

2.1.3.1 Khái niệm dịch vụ logistics

Khác với thuật ngữ “logistics”, thuật ngữ “dịch vụ logistics” chưa được đề cập nhiều đến trong các tài liệu trên thế giới Ngược lại, ở Việt Nam, khái niệm logistics lại không được bàn tới, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều

233) chỉ đưa ra khái niệm “dịch vụ logistics” như sau: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao.”

Khái niệm này không có nhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải

đa phương thức (MTO) bởi theo cách định nghĩa này logistics có bản chất là một hoạt động tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ Đồng thời, cụm từ “một hoặc nhiều công đoạn” dễ gây

Trang 38

hiểu nhầm Vì nếu như một doanh nghiệp chỉ tham gia kinh doanh bất kỳ một trong nhiều công việc trên (dịch vụ vận chuyển, lưu kho, làm thủ tục hải quan…) thì trên nguyên tắc cũng bị xem là kinh doanh dịch vụ logistics và phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh mà pháp luật đặt ra đối với việc kinh doanh dịch vụ logistics (mức vốn điều lệ 10 tỷ đồng đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics)

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm dịch vụ logistics nhưng

có thể chia làm hai nhóm:

Nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa của Luật Thương mại 2005, coi dịch vụ logistics gần như tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa Tuy nhiên cũng cần chú ý là định nghĩa trong Luật Thương mại có tính mở, thể hiện trong đoạn in nghiêng “hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa” Khái niệm logistics trong một số lĩnh vực chuyên ngành cũng được coi là có nghĩa hẹp, tức là chỉ bó hẹp trong phạm vi, đối tượng của ngành đó (như ví dụ ở trên là trong lĩnh vực quân sự) Theo trường phái này, bản chất của dịch vụ logistics là việc tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ Theo họ, dịch vụ logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics theo khái niệm này không có nhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức (MTO)

Nhóm định nghĩa thứ 2 về dịch vụ logistics có phạm vi rộng, có tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng Đặng Đình Đào và các cộng sự (2011) cho rằng dịch vụ logistics gắn liền

cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng Nhóm định nghĩa này của dịch vụ logistics góp phần phân định

rõ ràng giữa các nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tư vấn quản lý … với một nhà cung cấp dịch vụ logisics chuyên nghiệp, người sẽ đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng Như vậy, nhà chung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp đòi hỏi phải có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng để cung cấp dịch vụ mang tính “trọn gói” cho các nhà sản xuất Đây là một công việc mang tính chuyên môn hóa cao Ví dụ, khi một nhà cung cấp dịch vụ logistics cho một nhà sản xuất thép, anh ta sẽ chịu trách nhiệm cân đối sản lượng của nhà máy và lượng hàng tồn kho để nhập phôi thép, tư vấn cho doanh nghiệp về chu trình sản xuất, kỹ năng quản lý và lập các

Trang 39

kênh phân phối, các chương trình makerting, xúc tiến bán hàng để đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng

Khái niệm dịch vụ logistics được sử dụng như hiện nay để chỉ các doanh nghiệp có khả năng kết hợp lại thành một đầu mối đứng ra cung cấp một chuỗi các dịch vụ liên hoàn nêu trên Logistics luôn là một chuỗi các dịch vụ về giao nhận hàng hoá như: làm các thủ tục, giấy tờ, tổ chức vận tải, đóng gói bao bì, ghi nhãn hiệu, lưu kho, lưu bãi, phân phát hàng hoá tới các địa chỉ khác nhau, chuẩn

bị cho hàng hoá (nguyên liệu hoặc thành phẩm) luôn ở trạng thái sẵn sàng nếu có yêu cầu của khách hàng là đi ngay được (inventory level)

2.1.3.2 Các loại hình dịch vụ logistics chủ yếu

Theo Hiệp định thương mại chung về lĩnh vực dịch vụ (GATS – The General Agreement on Trade in Services) của Tổ chức thương mại thế giới WTO thì dịch

vụ logistics được chia thành 3 nhóm như sau:

- Các dịch vụ logistics lõi (Core Freight Logistics Services): Dịch vụ logistics chủ yếu chiếm phần lớn trong tổng chi phí logistics và mang tính quyết định đối với các dịch vụ khác Dịch vụ logistics chủ yếu bao gồm:

• Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container;

• Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hoá, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;

• Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hoá;

• Dịch vụ hỗ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hoá trong suốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý lại hàng hoá bị khách hàng trả lại, hàng hoá tồn kho, hàng hoá quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hoá đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container

- Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải (Related Freight Logistics Services):

Trang 40

- Các dịch vụ thứ yếu hoặc mang tính bổ trợ (Non-core Freight Logistics Services)

• Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật;

• Dịch vụ bưu chính;

• Dịch vụ thương mại bán buôn;

• Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hoá, phân phối lại và giao hàng; Hiệp định này đã được các nhà làm luật Việt Nam tham khảo để xây dựng điều khoản về phân loại dịch vụ logistics trong Nghị định 140/2007/NĐ-CP

2.1.3.3 Các hoạt động của dịch vụ logistics

a) Mua sắm nguyên vật liệu

Mua sắm nguyên vật liệu là đầu vào của quá trình sản xuất Hoạt động này tuy không trực tiếp ảnh hưởng đến khách hàng nhưng lại có vai trò quyết định đối với toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh Không có nguyên liệu tốt thì không thể cho ra được sản phẩm tốt

Các hoạt động của khâu mua sắm nguyên vật liệu gồm: tìm nguồn cung cấp, tiến hành mua sắm vật tư, tổ chức vận chuyển, nhập kho, lưu kho, bảo quản và cung cấp cho người sử dụng, quản lý hệ thống thông tin có liên quan, lập kế hoạch và kiểm soát hàng tồn kho, tận dụng phế liệu, phế phẩm

Hoạt động mua hàng/mua sắm (Purchasing) là một trong những chức năng cơ bản, không thể thiếu của mọi tổ chức Mua hàng gồm những hoạt động có liên quan đến việc mua nguyên vật liệu, máy móc, trang thiết bị…để phục vụ cho hoạt động của tổ chức

Hoạt động thu mua (Procurement) là sự phát triển, mở rộng chức năng mua hàng So với mua hàng thì trong thu mua người ta chú trọng nhiều hơn đến các vấn đề mang tính chiến lược Thu mua bao gồm các công việc: mua sắm, vận chuyển, dự trữ và tất cả các hoạt động có liên quan đến việc nhập vật tư đầu vào Bước phát triển cao hơn của hoạt động thu mua là quản trị cung ứng (Supply Management) Hoạt động mua hàng và thu mua chủ yếu là các hoạt động mang tính chiến thuật, còn quản trị cung ứng tập trung chủ yếu vào các chiến lược Hoạt động này khi được mở rộng, sâu chuỗi giữa nhiều tổ chức sẽ hình thành khái niệm Chuỗi cung ứng/Dây chuyền cung ứng (Supply Chain) Dây chuyền cung ứng là quy trình phối hợp, tổ chức và kiểm soát sự chu chuyển nguyên vật

Ngày đăng: 26/10/2015, 09:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Hùng, 2012. VIFFAS 19 tuổi, Logistics Việt Nam có diện mạo mới. Địa chỉ mạng: http://www.vlr.vn/vn/news/van-ban/hiep-hoi-viffas/1302/viffas-19-tuoi-logistics-viet-nam-co-dien-mao-moi-.vlr. [Ngày truy cập: 23/08/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: VIFFAS 19 tuổi, Logistics Việt Nam có diện mạo mới
[2] Nguyễn Thị Liên Diệp, Nguyễn Văn Nam, 2003. Chiến Lược và Chính Sách kinh doanh, NXB Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến Lược và Chính Sách kinh doanh
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
[3] Dương Ngọc Dũng, 2009. Chiến lược cạnh tranh theo lý thuyết Micheal E.Porter, NXB Tổng hợp TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược cạnh tranh theo lý thuyết Micheal E.Porter
Nhà XB: NXB Tổng hợp TP HCM
[4] Nhóm dịch giả: Trương Công Minh, Trần Tuấn Thạc, Trần Thị Tường Như, 2006. Khái luận về Quản trị chiến lược – Fred R. David (1999), NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái luận về Quản trị chiến lược – Fred R. David (1999)
Tác giả: Nhóm dịch giả: Trương Công Minh, Trần Tuấn Thạc, Trần Thị Tường Như, 2006. Khái luận về Quản trị chiến lược – Fred R. David
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 1999
[5] Đoàn Thị Hồng Vân, 2003. Logistics những vấn đề cơ bản, NXB Thống kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logistics những vấn đề cơ bản
Nhà XB: NXB Thống kê Hà Nội
[6] Tôn Thất Nguyễn Thiêm, 2004. Thị trường, chiến lược, cơ cấu: Cạnh tranh về giá trị gia tăng, định vị và phát triển doanh nghiệp, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường, chiến lược, cơ cấu: Cạnh tranh về giá trị gia tăng, định vị và phát triển doanh nghiệp
Nhà XB: NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
[7] Douglas M. Lambert, James R. Stock & Lisa M. Ellran, 1998. Fundamentals of Logistics Management, Edition 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fundamentals of Logistics Management
[8] Thời báo Kinh tế Việt Nam, 2011. Kinh tế 2010 – 2011 Việt Nam và Thế Giới, Hội Kinh tế Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế 2010 – 2011 Việt Nam và Thế Giới
[9] Phạm Thị Thanh Bình, 2009. Phát triển dịch vụ hậu cần (Logistics) trong tiến trình hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN, NXB Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển dịch vụ hậu cần (Logistics) trong tiến trình hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
[10] Đoàn Thị Hồng Vân, 2006. Quản trị logistics, NXB Thống kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị logistics
Nhà XB: NXB Thống kê Hà Nội
[11] Donald J. Bowersox, David J. Closs, M. Bixby Cooper, 2007. Supply chain logistics management, Boston, McGraw-Hill/Irwin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Supply chain logistics management
[12] Chủ biên Đặng Đình Đào, 2011. Logistics: Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Hà Nội, NXB Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logistics: Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Kinh tế Quốc dân
[13] Hà Văn Hội, 2010. Logistics Việt Nam: Thực trạng và triển vọng sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Chuyên san Kinh tế và Kinh doanh, số 1/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logistics Việt Nam: Thực trạng và triển vọng sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu
[14] Hà Văn Hội, 2010. Nguồn nhân lực logistics Việt Nam: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Thương mại tháng 6/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn nhân lực logistics Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
[15] Michael E. Porter, 1996. “What is Strategy”, Harvard Business Review, Vol.74, No. November – December, pp 61-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “What is Strategy”
[16] John A. Pearce, Richard B. Robinson, 2007. Strategic Management, 10th edition, McGraw-Hill, New York, NY Sách, tạp chí
Tiêu đề: Strategic Management
[17] Pun and et al (1996). Determiants of manufacturing strategy formulations: a longtitudinal study in Hongkong, Technovation, Vol 24 No.2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determiants of manufacturing strategy formulations: "a longtitudinal study in Hongkong
Tác giả: Pun and et al
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter - xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy và vận tải cần thơ đến năm 2020
Hình 2.1 Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter (Trang 23)
Hình 2.2 Lịch sử phát triển logistics kinh doanh từ 1950 đến nay. - xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy và vận tải cần thơ đến năm 2020
Hình 2.2 Lịch sử phát triển logistics kinh doanh từ 1950 đến nay (Trang 31)
Hình 2.3 Vị trí của logistics trong chuỗi cung ứng - xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy và vận tải cần thơ đến năm 2020
Hình 2.3 Vị trí của logistics trong chuỗi cung ứng (Trang 32)
Hình 2.4 Các loại dự trữ chủ yếu phân theo vị trí trong hệ thống logistics - xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy và vận tải cần thơ đến năm 2020
Hình 2.4 Các loại dự trữ chủ yếu phân theo vị trí trong hệ thống logistics (Trang 42)
Hình 2.5 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài/bên trong (EFE/IFE) - xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy và vận tải cần thơ đến năm 2020
Hình 2.5 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài/bên trong (EFE/IFE) (Trang 48)
Hình 2.6 Ma trận hình ảnh cạnh tranh - xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy và vận tải cần thơ đến năm 2020
Hình 2.6 Ma trận hình ảnh cạnh tranh (Trang 49)
Hình 2.7 Ma trận SWOT  Các bước xây dựng ma trận SWOT: - xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy và vận tải cần thơ đến năm 2020
Hình 2.7 Ma trận SWOT Các bước xây dựng ma trận SWOT: (Trang 50)
Hình 2.8 Ma trận QSPM - xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy và vận tải cần thơ đến năm 2020
Hình 2.8 Ma trận QSPM (Trang 51)
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu về tình hình hoạt động của công ty - xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy và vận tải cần thơ đến năm 2020
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu về tình hình hoạt động của công ty (Trang 57)
Hình 3.1 Cơ cấu chi phí của công ty giai đoạn 2011- 6 tháng đầu năm 2014 - xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy và vận tải cần thơ đến năm 2020
Hình 3.1 Cơ cấu chi phí của công ty giai đoạn 2011- 6 tháng đầu năm 2014 (Trang 58)
Bảng 4.2 Vị trí của Việt Nam trên bảng xếp hạng năng lực logistics các quốc  gia trên thế giới  giai đoạn 2010-2014 - xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy và vận tải cần thơ đến năm 2020
Bảng 4.2 Vị trí của Việt Nam trên bảng xếp hạng năng lực logistics các quốc gia trên thế giới giai đoạn 2010-2014 (Trang 65)
Bảng 4.3 Điểm số từng tiêu chí đánh giá trong chỉ số LPI của Việt Nam - xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy và vận tải cần thơ đến năm 2020
Bảng 4.3 Điểm số từng tiêu chí đánh giá trong chỉ số LPI của Việt Nam (Trang 66)
Bảng 4.6 Nợ và Tổng tài sản của công ty giai đoạn 2011-2013 - xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy và vận tải cần thơ đến năm 2020
Bảng 4.6 Nợ và Tổng tài sản của công ty giai đoạn 2011-2013 (Trang 81)
Bảng 4.8 Ma trận hình ảnh cạnh tranh của công ty Cashin - xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy và vận tải cần thơ đến năm 2020
Bảng 4.8 Ma trận hình ảnh cạnh tranh của công ty Cashin (Trang 86)
Bảng 4.9 Ma trận SWOT của công ty Cashin - xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy và vận tải cần thơ đến năm 2020
Bảng 4.9 Ma trận SWOT của công ty Cashin (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w