1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo ở huyện u minh tỉnh cà mau

108 856 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức từ thực trạng của cả nước nói chung cũng như tình hình của từng địa phương nói riêng mà trong những năm qua đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về thực trạng nghèo đói, những

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH    HỒ THỊ MỸ CHI MSSV: 4114501 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ NGHÈO Ở HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: QTKD Tổng Hợp Mã số ngành: 52340101 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN VƯƠNG QUỐC DUY

Tháng 12 năm 2014

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Lời đầu tiên cho phép tôi được gửi đến quý Thầy Cô trường Đại học Cần Thơ lòng biết ơn sâu sắc nhất vì đã giúp tôi hoàn thành tốt khóa học của mình! Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Vương Quốc Duy Thầy

đã tận tình hướng dẫn và cung cấp nhiều kiến thức quý báo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này Kính chúc Thầy luôn dồi dào sức khỏe và đạt được nhiều thành công trong công tác giảng dạy

Xin gửi lời cám ơn chân thành đến các Cô Chú trưởng các ấp của xã Nguyễn Phích và Khánh Lâm đã hết lòng hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình tôi phỏng vấn tại huyện U Minh Bên cạnh đó, tôi xin cám ơn sâu sắc đến các hộ gia đình đã nhiệt tình hỗ trợ trong quá trình thu thập số liệu cũng như đã đóng góp những ý kiến quý báu Đây là một trong những căn cứ quan trọng giúp tôi thực hiện nghiên cứu này

Xin gửi lời cám ơn đến anh Nguyễn Thế Châu, người đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều về tài liệu tham khảo, nguồn số liệu thứ cấp cũng như sự giúp đỡ trong quá trình thu số liệu

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng tri ân đối với cha mẹ và em trai tôi đã tận tình động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và thực hiện luận văn này

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014

Người thực hiện

Hồ Thị Mỹ Chi

Trang 4

TRANG CAM KẾT

Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dung cho luận văn cùng cấp nào khác

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014

Người thực hiện

Hồ Thị Mỹ Chi

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014

Giáo viên hướng dẫn

Vương Quốc Duy

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1: PHẦN GIỚI THIỆU 1

1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1.3.1 Phạm vi về thời gian 3

1.3.2 Phạm vi về không gian 4

1.3.3 Phạm vi về đối tượng 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 5

2.1.1 Khái niệm cơ bản về nghèo, hộ nghèo, cận nghèo 5

2.1.2 Khái niệm về nông thôn, hộ gia đình và nông hộ 6

2.1.3 Khái niệm về thu nhập , thu nhập của hộ gia đình, cơ cấu thu nhập và đa dạng hóa thu nhập 7

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 8

2.3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 15

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 19

2.4.2 Phương pháp phân tích số liệu 20

CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ TỈNH CÀ MAU VÀ HUYỆN U MINH 22

3.1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH CÀ MAU 22

3.1.1 Tổng quan về tỉnh Cà Mau 22

3.1.2 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội của tỉnh Cà Mau 26

3.2 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN U MINH 30

3.2.1 Điều kiện tự nhiên 30

3.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 37

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44

4.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ 44

Trang 7

4.1.1 Khái quát tình hình hộ nghèo của huyện U Minh tỉnh Cà Mau

(2011 – 2013) 44

4.1.2 Mô tả gia đình và cuộc sống của hộ nghèo và cận nghèo huyện U Minh tỉnh Cà Mau năm 2014 49

4.1.3 Cơ cấu thu nhập của hộ nghèo và cận nghèo ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau năm 2014 62

4.1.4 Đánh giá mức độ đa dạng hóa ngành nghề của hộ nghèo và cận nghèo ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau năm 2014 65

4.2 MÔ HÌNH HỒI QUY VÀ GIẢI THÍCH KẾT QUẢ HỒI QUY 67

4.3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ NGHÈO VÀ CẬN NGHÈO HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU NĂM 2014 71

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74

5.1 KẾT LUẬN 74

5.2 KIẾN NGHỊ 75

5.2.1 Đối với nhà nước 75

5.2.2 Đối với chính quyền địa phương 76

5.2.3 Đối với hộ nghèo và cận nghèo 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 82

Trang 8

DANH SÁCH BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Mức thu nhập xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo (2011 – 2015) 6 Bảng 2.2: Diễn giải các biến độc lập trong mô hình hồi quy tuyến tính 18 Bảng 2.3: Cơ cấu mẫu khảo sát 20 Bảng 3.1: Số liệu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011- 01/10/2014 26 Bảng 4.1: Những khó khăn của hộ nghèo và cận nghèo ở huyện U Minh tỉnh

Cà Mau năm 2014 46 Bảng 4.2: Phân bố giới tính của chủ hộ của hộ nghèo và cận nghèo ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau năm 2014 49 Bảng 4.3: Trình độ học vấn của chủ hộ của hộ nghèo và cận nghèo ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau năm 2014 50 Bảng 4.4: Phân bố độ tuổi của chủ hộ của hộ nghèo và cận nghèo ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau năm 2014 51 Bảng 4.5: Diện tích đất canh tác của hộ nghèo và cận nghèo ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau năm 2014 54 Bảng 4.6: Thống kê số nhân khẩu của hộ nghèo và cận nghèo huyện U Minh tỉnh Cà Mau năm 2014 56 Bảng 4.7: Tỷ lệ lao động của hộ nghèo và cận nghèo của huyện U Minh tỉnh

Cà Mau năm 2014 57 Bảng 4.8: Tình trạng tham gia vào cá tổ chức xã hội của hộ nghèo và cận nghèo ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau năm 2014 60 Bảng 4.9: Cơ cấu thu nhập của hộ nghèo và cận nghèo ở huyện U Minh tỉnh

Cà Mau năm 2014 63 Bảng 4.10: Số hoạt động tạo thu nhập và nguồn lực của hộ nghèo và cận nghèo ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau năm 2014 65 Bảng 4.11: Mức độ đa dạng hóa và thu nhập của hộ nghèo và cận nghèo ở huyện U Minh năm 2014 66 Bảng 4.12: Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính 68

Trang 9

DANH SÁCH HÌNH

Trang

Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất 15

Hình 3.1: Mũi Cà Mau 22

Hình 3.2: Rừng ngập mặn Cà Mau 23

Hình 3.3: Mô hình tôm lúa kết hợp 23

Hình 3.4: Sương sớm trên cánh đồng 24

Hình 3.5: Vào mùa 25

Hình 3.6: Mô hình rừng – tôm kết hợp 25

Hình 3.7: Rừng tràm U Minh tỉnh Cà Mau 30

Hình 3.8: Nghề gác kèo ong ở rừng U Minh tỉnh Cà Mau 31

Hình 3.9: Xuôi dòng U Minh 34

Hình 3.10: Rừng tràm U Minh tỉnh Cà Mau 35

Hình 3.11: Trích cồ sinh sống ở rừng U Minh 35

Hình 3.12: Tổng giá trị tăng thêm (GDP) của huyện U Minh tỉnh Cà Mau (2000-2010) 39

Hình 3.13: Cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện U Minh tỉnh Cà Mau giai đoạn 2000-2010 40

Hình 4.1: Tỷ lệ hộ nghèo của huyện U Minh và tỉnh Cà Mau (2011-2013) 44

Hình 4.2: Tỷ lệ hộ cận nghèo của huyện U Minh và tỉnh Cà Mau (2011-2013) 45

Hình 4.3: Cơ cấu nghề nghiệp của chủ hộ của hộ nghèo và cận nghèo ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau năm 2014 52

Hình 4.4: Điều kiện cơ sở hạ tầng theo ý kiến khảo sát của hộ nghèo và cận nghèo ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau năm 2014 55

Hình 4.5: Tình trạng vay vốn của hộ nghèo và cận nghèo huyện U Minh tỉnh Cà Mau năm 2014 58

Hình 4.6: Cơ cấu tham gia vào các đoàn thể địa phương của hộ nghèo và cận nghèo huyện U Minh tỉnh Cà Mau năm 2014 60

Hình 4.7: Lý do không tham gia hội đoàn thể địa phương của hộ nghèo và cận nghèo huyện U Minh tỉnh Cà Mau năm 2014 62

Hình 4.8: Cơ cấu thu nhập phân theo các hoạt động của hộ nghèo và hộ cận nghèo ở U Minh tỉnh Cà Mau năm 2014 63

Trang 10

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CBA : Phương pháp phân tích lợi ích chi phí

CV : Chevaux Vapeur (Mã lực) là một đơn vị dùng để chỉ công suất

ĐBSCL : Đồng bằng song Cửu Long

ESCAP : Economic and Social Commission for Asia and the

Pacific (Uỷ ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình

Dương)

GDP : Tổng giá trị sản phẩm

HĐND : Hội đồng nhân dân

KT-XH : Kinh tế - xã hội

NHNN&PTNT : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn

PCCCR : Phòng cháy chữa cháy rừng

SID : Simpson Index of Diversity (Chỉ số về sự đa dạng hóa)

TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

UBND : Uỷ ban nhân dân

UNICEF : United Nations International Children’s Emergency Fund (quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc)

UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học, Văn hóa của

Liên Hiệp Quốc

VHLSS : Vietnam Household Living Standards Surveys (Dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam)

WB : World Bank (Ngân hàng Thế Giới)

Trang 11

CHƯƠNG 1 PHẦN GIỚI THIỆU

1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Nghèo đói là một hiện tượng kinh tế xã hội nóng bỏng và bức xúc vì nó không chỉ tồn tại ở những nước nghèo có thu nhập thấp, mà vẫn có ở ngay trong những nước phát triển có thu nhập cao nên ngày càng thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế trong việc tìm kiếm giải pháp xóa đói, giảm nghèo Càng cấp bách và thiết thực hơn khi việc “Xóa đói tình trạng nghèo cùng cực

và thiếu đói” được Liên Hiệp Quốc đưa vào một trong tám Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ tại Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc vào tháng 9 năm 20001

Xoá đói giảm nghèo là yếu tố cơ bản để đảm bảo công bằng xã hội và tăng trưởng bền vững Vì vậy mà thời gian qua, các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã và đang có những chính sách và biện pháp thiết thực nhằm giải quyết vấn đề mang tính toàn cầu hóa này Theo Unicef tại Việt Nam trong bài báo “Việt Nam và các mục tiêu thiên niên kỷ” đã nêu ra rằng trong tất cả các mục tiêu thiên niên kỷ, Việt Nam đạt được tiến bộ ấn tượng nhất ở mục tiêu thiên niên kỷ 1 về giảm nghèo Việt Nam đã giảm được 75% tỉ lệ nghèo, từ 58.1% năm 1990 xuống còn 14.5% năm 2008 Tỷ lệ thiếu đói giảm hơn 2/3, từ 24.9% năm 1993 xuống còn 6.9% năm 20082 Để đạt được thành tích trên không những nhờ những chính sách, biện pháp sáng suốt của Đảng và Nhà Nước mà còn có sự phối hợp chặt chẽ của các ban ngành địa phương

Hưởng ứng mục tiêu chung là xóa đói giảm nghèo của cả nước, thời gian qua tỉnh Cà Mau đã triển khai thực hiện nhiều Chương trình mục tiêu quốc gia như giảm nghèo nghèo bền vững, việc làm và dạy nghề (tỉnh đã tăng cường công tác dạy nghề ngắn hạn cho người nghèo, con em đồng bào dân tộc, gia đình chính sách ở nông thôn; mục tiêu dạy nghề trong năm 2014 vẫn là hướng mạnh vào phục vụ xuất khẩu lao động và lao động đi làm việc tại các khu công nghiệp, đây là điểm nổi bật trong công tác giải quyết việc làm cho người lao động góp phần xóa đói, giảm nghèo cũng như giảm bớt áp lực việc làm cho người lao động trong tương lai), nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn3 , v.v đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của

Trang 12

tỉnh, đời sống của người dân được cải thiện và nâng lên rõ rệt Bên cạnh đó, công tác giảm nghèo của tỉnh đã đạt nhiều kết quả quan trọng, mỗi năm tỷ lệ

hộ nghèo giảm trung bình hơn 1,8%, từ 12,14% vào đầu năm 2011 xuống còn 6,49% thời điểm cuối năm 20134 Tương tự, hộ cận nghèo giảm từ 6,09% xuống còn 4,14%

Mặc dù tỷ lệ nghèo nói chung đã giảm đáng kể song việc thực hiện chương trình giảm nghèo ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, như việc ban hành

cơ chế, chính sách còn chồng chéo dẫn đến việc thực hiện phân bổ, hiệu quả

sử dụng các nguồn lực chưa cao; nhiều địa phương còn tình trạng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước mà chưa tự lực vươn lên thoát nghèo Một số cơ chế, chính sách hiện còn bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn nhưng việc sửa đổi, bổ sung còn chậm (Văn phòng Chính phủ, 2013) Theo phát biểu của Phó Thủ tướng

Vũ Văn Ninh tại Hội nghị Ban Chỉ đạo Trung ương về giảm nghèo bền vững vào tháng 02/20145 thì tỷ lệ hộ tái nghèo do hậu quả thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh, tách hộ còn tương đối cao, cứ ba hộ thoát nghèo thì có một hộ tái nghèo Trên thực tế nằm trong tình hình chung của Việt Nam thì ở tỉnh Cà Mau, trong năm 2013 đã có 198 hộ tái nghèo6trong đó huyện U Minh là huyện có tỷ lệ hộ nghèo cũng như cận nghèo cao nhất tỉnh lần lượt là 13,05% và 5,81% trong khi tổng số hộ dân của huyện chỉ đứng thứ 7 trong số 9 huyện/ TP trực thuộc tỉnh Cà Mau7 Theo Liên Hiệp Quốc – Xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam8 thì

“Không phải tất cả đói nghèo đều do mất mùa hay đau ốm gây nên Đói nghèo còn có thể xuất hiện do thiếu lương thực và thu nhập ngay ở năm bình ổn” Trong bối cảnh kinh tế tăng trưởng ở mức cao đi đôi với lạm phát như hiện nay thì nỗi lo về thu nhập để đáp ứng nhu cầu cơ bản của cuộc sống của người nghèo tăng dần

Nhận thức từ thực trạng của cả nước nói chung cũng như tình hình của từng địa phương nói riêng mà trong những năm qua đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về thực trạng nghèo đói, những nhân tố ảnh hưởng đến đói nghèo, các hoạt động tín dụng đối với việc xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, nhằm đưa ra các biện pháp giúp cải thiện đời sống cho người dân nghèo góp phần thoát nghèo Cũng với mục đích đó song với việc tiếp cận ở một khía cạnh khác đó chính là thu nhập của hộ gia đình nghèo, giúp tìm ra được những

4 http://cucthongke.camau.gov.vn/ (Tình hình kinh tế - xã hội năm 2013)

5

http://old.molisa.gov.vn/docs/VB2009/DetailVBCDDH/tabid/214/DocID/13547/TabModuleSettingsI d/490/language/vi-VN/Default.aspx

6 Sở lao động thương binh tỉnh Cà Mau, 2013

7 Theo Báo cáo kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo tỉnh Cà Mau năm 2013

8 http://www.vn.undp.org/content/vietnam/vi/home/ourwork/povertyreduction/overview.html

(Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam)

Trang 13

nhân tố tác động, ảnh hưởng đến thu nhập của người nghèo từ đó có các giải pháp phù hợp để xây dựng những chính sách gắn liền với thực tiễn của từng đối tượng nghèo ở từng vùng, từng địa phương cụ thể Xuất phát từ những

thực tiễn trên, đề tài “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau” được thực hiện là cấp thiết và có ý

nghĩa, không chỉ góp phần cũng cố thêm kết quả của các nghiên cứu trước đây

mà còn có thể có ý nghĩa đặc biệt với các hộ nghèo và cận nghèo, giúp các cơ quan ban ngành địa phương trong việc hoạch định những chính sách phù hợp

để phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống từ đó thực hiện đạt mục tiêu giảm nghèo của tỉnh huyện U Minh nói riêng và tỉnh Cà Mau nói chung

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Đề tài được thực hiện với mục tiêu phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau từ đó đưa ra những giải pháp để nâng cao thu nhập, góp phần thực hiện giảm nghèo hiệu quả cho

hộ nghèo ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau

Mục tiêu 3: Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của các hộ nghèo

ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Phạm vi về thời gian

Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 8/2014 – 12/2014

Nguồn số liệu thứ cấp chủ yếu phục vụ cho quá trình tìm hiểu và phân tích những đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2011 – 2013

Thời gian thu thập số liệu sơ cấp từ tháng 8/2014 – 10/2014

Trang 14

Số liệu sơ cấp thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp chủ hộ hoặc thành viên trong hộ bằng bảng câu hỏi về đặc điểm hộ gia đình, những thông tin liên quan đến thu nhập của hộ gia đình và các đề xuất, kiến nghị của hộ gia đình ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau

1.3.2 Phạm vi về không gian

Tỉnh Cà Mau bao gồm 8 huyện và thành phố Cà Mau và theo kết quả điều tra rà soát hộ nghèo cuối năm 2013 trong đó Huyện U Minh có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn tỷ lệ chung của tỉnh.Huyện U Minh có 08 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 01 thị trấn huyện lỵ (Thị trấn U Minh) và 07 xã Để nghiên cứu mang tính đại diện và đạt độ tin cậy cao, đồng thời căn cứ vào kết quả điều tra rà soát hộ nghèo cuối năm của UBND các huyện, thành phố, tác giả

dự kiến tiến hành thu thập số liệu tại 2 xã của huyện U Minh đó là xã Nguyễn Phích và xã Khánh Lâm đây là 2 xã có tỷ lệ hộ nghèo tương đối cao của huyện

1.3.3 Phạm vi về đối tượng

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những hộ dân nghèo ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau, trong đó chia làm 2 nhóm đối tượng là hộ nghèo và hộ cận nghèo theo kết quả điều tra rà soát hộ nghèo cuối năm 2013 của tỉnh Cà Mau

Trang 15

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Khái niệm cơ bản về nghèo, hộ nghèo, cận nghèo

2.1.1.1 Khái niệm về nghèo đói

Tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhaghen (Đan Mạch) tháng 03/1995 cho rằng: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người,

số tiền được coi như mua đủ những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”

Còn Ngân hàng Thế giới (WB) quan niệm9: “Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất Nghèo không chỉ gồm các chỉ

số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực”

Tuy nhiên quan niệm của Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á Thái Bình Dương, tổ chức tại Băng Cốc – Thái Lan (tháng 09/1993), ESCAP

đã đưa ra khái niệm về nghèo một cách hệ thống hơn: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” Theo Giáo trình Kinh tế phát triển của Đinh Phi Hổ thì nghèo là tình trạng bị thiếu thốn về nhiều phương diện như: thu nhập thấp do bị thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu những nhu cầu cơ bản hàng ngày của cuộc sống, thiếu tài sản để tiêu dùng lúc bất trắc xảy ra và dể bị tổn thương trước những mất mát

2.1.1.2 Khái niệm hộ nghèo, cận nghèo

Nhìn chung mỗi quốc gia đều sử dụng một khái nhiệm để xác định giới hạn nghèo khổ Giới hạn nghèo khổ của mỗi quốc gia được xác định bằng mức thu nhập tối thiểu để người dân có thể tồn tại được, đó là mức thu nhập của một hộ gia đình có thể mua sắm được những vật dụng cở bản phục vụ cho việc

ăn, mặc, ở và các nhu cầu cần thiết khác theo mức giá hiện hành

Tại Việt Nam, hộ nghèo và hộ cận nghèo, theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ thì chuẩn hộ nghèo, chuẩn hộ cận nghèo giai đoạn 2011 –

2015 như sau

9 http://www.worldbank.org/

Trang 16

Bảng 2.1 Mức thu nhập xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo (2011 – 2015)

Nguồn: Quyết định số 9/2011/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ : Về việc ban hành chuẩn

hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015

2.1.2 Khái niệm về nông thôn, hộ gia đình và nông hộ

Theo giáo trình “Xã hội học nông thôn” của tác giả Phan Văn Thạng thì nông thôn là một hình thức cư trú mang tính không gian - lãnh thổ, xã hội của con người, nơi sinh sống của những người chủ yếu làm nghề nông và những nghề khác có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất nông nghiệp

Hộ gia đình là một khái niệm để chỉ hình thức tồn tại của một kiểu nhóm

xã hội lấy gia đình làm nền tảng Hộ gia đình trước hết là một tổ chức kinh tế

có tính chất hành chính và địa lý Trong đó, gia đình là một nhóm người mà các thành viên gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống (kể cả nhận con nuôi) vừa đáp ứng nhu cầu riêng tư của mình, vừa thõa mãn nhu cầu xã hội Do tác động của nền kinh tế thị trường, hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam được phân loại thành: hộ gia đình thuần nông, hộ gia đình nông nghiệp – phi nông nghiệp, hộ gia đình phi nông nghiệp

 Hộ gia đình thuần nông là hộ gia đình mang đậm nét cổ truyền thống Việt Nam có thu nhập chỉ từ lĩnh vực sản xuất nông nghiệp

 Hộ gia đình nông nghiệp – phi nông nghiệp là những hộ gia đình có thu nhập khác ngoài các hoạt động sản xuất nông nghiệp

 Hộ gia đình phi nông nghiệp là hộ gia đình có thu nhập từ các hoạt động dịch vụ, lương bổng, buôn bán, làm nghề thủ công,…

Theo Frank Ellis, 1993 thì nông hộ được khái niệm như là một hộ gia đình mà trong đó các thành viên trong nông hộ sẽ dành phần lớn thời gian cho các hoạt động nông nghiệp

Trang 17

2.1.3 Khái niệm về thu nhập, thu nhập của hộ gia đình, cơ cấu thu nhập và đa dạng hóa thu nhập

2.1.3.1 Khái niệm về thu nhập và thu nhập của hộ gia đình

Thu nhập là số lượng tiền, hiện vật hoặc dịch vụ mà một cá nhân, công ty hay một nền kinh tế nhận trong khoảng thời gian nhất định (quý, tháng, năm) Thu nhập bằng tiền là số thu nhập mà một người có trong thời kỳ nhất định dưới hình thái tiền tệ

Thu nhập bằng hiện vật là thu nhập mà người ta nhận được bằng các sản vật và các dịch vụ Thu nhập chuyển giao là khoản thu nhập mà người nhận được không phải đổi lại một hàng hóa hay hiện vật nào, như tiền hưu trí, tiền bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội và các khoản trợ cấp khác, Những khoản chi trả này là những khoản tiền được chuyển trả từ bộ phận này sang bộ phận khác của cộng đồng Nó còn bao gồm những khoản trợ cấp do chính phủ trả cho các doanh nghiệp và những người khác Thu nhập nhất thời là thu nhập mà một người không thể biết chắc chắn có thể kiếm được đều đặn trong tương lai Thu nhập của nông hộ được xác định bởi các nguồn thu từ các hoạt động như trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản và các hoạt động phi nông nghiệp Hơn nữa, thu nhập của nông hộ thậm chí còn bao gồm các khoản khác như tiền lương, tiền công, trợ cấp từ người thân, chính phủ và lãi suất tiết kiệm (Elllis, 1993)

Thu nhập là giá trị còn lại sau khi lấy hiệu doanh thu và chi phí chưa kể lao động nhà Thu nhập của nông hộ được chia làm 3 nguồn chính đó là:

 Thu nhập từ nông nghiệp như: thu từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản

 Thu nhập từ phi nông nghiệp như: mua bán, kinh doanh, tự kinh doanh…

 Thu nhập từ làm thuê như: tiền lương, tiền công làm thuê và các khoản thu nhập khác

Nguồn thu nhập của hộ do các thành viên trong gia đình tạo ra, thu nhập bình quân trên đầu người bằng tổng thu nhập của hộ chia cho tổng số thành viên trong hộ gia đình đó

 Doanh thu: là toàn bộ số tiền mà nhà sản xuất, kinh doanh dịch vụ

có được từ hoạt động bán sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trên thị trường

Trang 18

 Chi phí: là toàn bộ chi phí đầu tư vào hoạt động sản xuất để tạo ra sản phẩm, bao gồm chi phí lao động (nhân công), chi phí vật chất và chi phí khác

Thu nhập bình quân đầu người trên tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng

2.1.3.2 Khái niệm cơ cấu thu nhập và đa dạng hóa thu nhập

Cơ cấu thu nhập là phần trăm các nguồn thu nhập của một hộ dân với các hoạt động trong các ngành nghề khác nhau như nông nghiệp thì hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản , về phi nông nghiệp có hoạt động trong nhà nước, xí nghiệp, hoạt động buôn bán, thủ công nghiệp

Đa dạng hóa thu nhập là thuật ngữ thường được sử dụng để miêu tả trường hợp nông hộ phân phối nguồn lực của họ cho các hoạt động khác nhau Theo Frank Ellis thì đa dạng hóa thu nhập là một quá trình sử dụng đa dạng các nguồn lực cho các hoạt động khác nhau nhằm mục đích tồn tại đồng thời cải thiện và nâng cao mức sống Vì vậy đa dạng hóa thu nhập được xem là quá trình mà hộ gia đình quyết định tham gia thực hiện các hoạt động khác nhau nhằm mục đích cải thiện đời sống và giảm rủi ro trong sản xuất, kinh doanh (Ellis, 1998)

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

Hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nông hộ, thực trạng nghèo đói vì vậy mà tác giả đã tìm được nhiều tài liệu liên quan đến vấn đề phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân nghèo Từ đó tác giả tiến hành nghiên cứu sâu hơn để hiểu rõ vấn đề và làm tài liệu tham khảo nhằm hỗ trợ cho đề tài đang nghiên cứu

Nghiên cứu của tác giả Hào, 2012 “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chiến lược sinh kế của các nông hộ tại vùng cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế” Mục tiêu chính của nghiên cứu này cung cấp các thông tin liên quan đến chiến lược sinh kế và các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chiến lược sinh

kế (bao gồm chiến lược sinh kế dựa vào nông nghiệp, bao gồm chủ yếu dựa vào trồng trọt và chủ yếu dựa vào chăn nuôi; chiến lược kết hợp nông nghiệp với ngành nghề, dịch vụ; chiến lược kết hợp nông nghiệp-làm thuê-đi làm ăn xa; chiến lược dựa vào nuôi trồng thủy sản; chiến lược hỗn hợp) của các nông

hộ tại vùng cát ven biển của tỉnh Thừa Thiên Huế Thông qua việc tiếp cận khung phân tích chiến lược sinh kế với việc sử dụng kết hợp cả phương pháp thống kê mô tả và mô hình logit đa thức, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng

Trang 19

chiến lược sinh kế của những hộ nghèo trong nghiên cứu từ năm 2003 – 2008

có sự thay đổi tỷ trọng đáng kể, tỷ trọng của hộ nghèo trong chiến lược sinh kế dựa vào nông nghiệp, chiến lược kết hợp nông nghiệp với ngành nghề, dịch

vụ, chiến lược dựa vào nuôi trồng thủy sản và chiến lược hỗn hợp giảm dần trong thời kỳ này, điểm nổi bật là chiến lược sinh kế dựa vào nông nghiệp – làm thuê – đi làm ăn xa tăng tỷ trọng đáng kể vào năm 2008 tăng gấp 3 lần so với năm 2003 Từ đó chỉ ra rằng nhóm hộ nghèo thường thiếu các nguồn lực sản xuất như vốn, đất đai và kiến thức Bởi vậy, các hộ nghèo thường sử dụng các nguồn lực hạn chế hiện có của mình như số lượng lao động sẵn có cho các việc làm công ăn lương song lựa chọn ưu tiên hàng đầu là sản xuất lương thực khi mặc dù chiến lược sinh kế dựa vào nông nghiệp có giảm tỷ trọng trong thời kỳ 2003-2008 nhưng tỷ trọng trong cơ cấu chiến lược sinh kế vẫn chiếm

tỷ lệ khá cao hơn 50% trong suốt thời kỳ 2003 – 2008 Bên cạnh đó, kết quả

mô hình logit đa thức chỉ ra rằng các nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến sự khác biệt về chiến lược sinh kế là tỷ lệ phụ thuộc, trình độ học vấn của chủ hộ, qui mô vốn và qui mô đất đai Đối với các hộ có thu nhập trung bình, đặc biệt

là hộ nghèo do thiếu lao động, số lượng người sống phụ thuộc cao, trình độ học vấn thấp và thiếu vốn sản xuất, do vậy chiến lược sinh kế dựa nông nghiệp trở nên phổ biến và các hoạt động làm thuê và đi làm ăn xa cũng rất quan trọng với các nhóm hộ này

Nghiên cứu của tác giả Quân, 2012 về “Giải pháp nâng cao thu nhập của nông nộ tại vùng ngọt hóa tỉnh Cà Mau” Tác giả sử dụng chỉ số Simpson (Simpson Index of Diversity - SID) về đa dạng hóa để đo lường mức độ đa dạng hóa ngành nghề và thu nhập của nông hộ; sử dụng Hàm Logit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đa dạng hóa thu nhập của nông hộ và phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ Qua phân tích kết quả ước lượng mô hình hồi quy tác giả đã tìm ra được 6 yếu tố tác động cùng chiều đến tổng thu nhập của nông hộ Các nhân tố đó là số nhân khẩu, tổng diện tích đất của nông hộ, tỷ lệ lao động, số năm kinh nghiệm, trình độ học vấn của chủ hộ và khả năng đa dạng hóa của nông hộ

Nghiên cứu của tác giả Nữ, 2012 “Đánh giá tín dụng đối với giảm nghèo

ở nông thôn Việt Nam”, 2012 Tác giả đã sử dụng phương pháp Khác biệt trong khác biệt và mô hình hồi qui OLS được sử dụng để phân tích dữ liệu bảng từ VHLSS10 2004 và VHLSS 2006 Có 4270 hộ tham gia cả hai cuộc điều tra, trong đó có 457 hộ được xếp vào diện nghèo vào năm 2004 Từ 457

10

Vietnam Household Living Standards Surveys

(http://www.gso.gov.vn/Default_UNDP.aspx?tabid=648&ItemID=10684)

Trang 20

hộ này, tác giả lọc ra được 157 hộ có tham gia vay vốn trong vòng một năm trong VHLSS 2006 nhưng không vay vốn trong VHLSS 2004 và 147 hộ không vay vốn trong cả hai cuộc điều tra Tiếp đến tác giả chọn ra 113 hộ trong số 157 hộ có vay vốn trên đây làm nhóm phân tích và 104 hộ không vay vốn trong cả hai cuộc điều tra làm nhóm so sánh Kết quả cho thấy tín dụng không những có tác dụng làm tăng chi tiêu thực cho đời sống của hộ nghèo mà còn làm tăng thu nhập bình quân của hộ nghèo Song đây chỉ là trường hợp nếu các yếu tố khác không đổi, với mức ý nghĩa 5% Khi đưa các biến khác vào mô hình thì các biến quy mô hộ, tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp, trình độ giáo dục và tỷ lệ phụ thuộc có tác động đến thu nhập bình quân đầu người của

hộ ở mức ý nghĩa 1% nhưng biến tác động của tín dụng đối với thu nhập bình quân đầu người lại không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 10% Tác giả cũng đã đi giải thích về kết quả này là do các hộ vay vốn chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trước mắt, chưa có phương án sử dụng vốn vay hiệu quả Một lý

do khác cũng rất quan trọng là số liệu về thu nhập thường không chính xác do các hộ thường không khai thật thu nhập của mình khi được hỏi, hơn nữa việc tính toán đầy đủ, chính xác thu nhập của hộ cũng rất khó khăn Đây cũng có thể là một hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm khắc phục hạn chế này

Bài nghiên cứu của tác giả Nghi và cộng sự, 2011 về “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tộc thiểu số ở Đồng bằng sông Cửu Long” Trong bài viết này với số quan sát từ 150 hộ Khmer ở tỉnh Trà Vinh, 90 hộ Chăm ở tỉnh An Giang và sử dụng mô hình phân tích hồi quy tuyến tính Tác giả sử dụng biến phụ thuộc Y là thu nhập bình quân/người/tháng, các biến độc lập để đưa vào mô hình là 7 biến nhưng có 5 biến có nghĩa thống kê và có 2 biến là tham gia hội đoàn thể và biến vay vốn không có nghĩa thống kê Trong

5 biến có nghĩa thống kê thì trình độ học vấn của chủ hộ, trình độ học vấn của lao động trong hộ, số hoạt động tạo thu nhập, tiếp cận chính sách hỗ trợ tương quan thuận với thu nhập/người/tháng của hộ Chăm và hộ Khmer, đồng thời số nhân khẩu của hộ và độ tuổi của lao động trong hộ có tác động nghịch chiều với thu nhập Bên cạnh đó, điểm nổi bật của đề tài ở chỗ nhóm tác giả của bài viết còn đi sâu vào phân tích hai mô hình hồi qui tuyến tính, mô hình 1 sử dụng biến trình độ học vấn của chủ hộ và mô hình 2 sử dụng biến trình độ học vấn trung bình của lao động trong hộ để so sánh, kiểm chứng mức độ tác động của trình độ học vấn đến thu nhập bình quân/người/tháng của hộ dân tộc thiểu

số Kết quả cho thấy tuy cả 2 biến đều có ý nghĩa thống kê song biến trình độ học vấn trung bình của lao động trong hộ có tác động đến thu nhập bình quân/người/tháng mạnh hơn trình độ học vấn của chủ hộ và cao thứ 2 (sau

Trang 21

biến tiếp cận chính sách hỗ trợ), đây chính là yếu tố quan trọng trong việc đưa

ra các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao thu nhập

Nghiên cứu của tác giả Xuân và cộng sự, 2011 về “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ chăn nuôi gia cầm ở Đồng bằng sông Cửu Long” với mục tiêu chính là mô tả thực trạng thu nhập, cơ cấu thu nhập và đa dạng hóa thu nhập của các hộ chăn nuôi gia cầm đồng thời xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ này Kết hợp việc thu thập gồm 307 quan sát, ở Long An, Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp và Trà Vinh và sử dụng phương pháp phân tích lợi ích chi phí (CBA private) và phương pháp thống kê

mô tả để phân tích cơ cấu thu nhập của các hộ chăn nuôi gia cầm cho thấy rằng thu nhập từ hoạt động nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng thu nhập của hộ chăn nuôi gia cầm ở ĐBSCL, chiếm hơn 95% trong tổng thu nhập, còn lại là các hoạt động phi nông nghiệp chiếm chưa tới 5% trong tổng thu nhập Bên cạnh đó, kết quả của việc khi tác giả sử dụng chỉ số Simpson (Simpson Index of Diversity - SID) về đa dạng hóa được sử dụng để đo lường mức độ đa dạng hóa thu nhập của nông hộ là có khoảng 21,25% số hộ có chỉ

số SID = 0 và khoảng 78,75% số hộ có chỉ số 0< SID <1, điều này cho thấy rằng việc đa dạng các hoạt động nhằm nâng cao thu nhập đang được các hộ gia đình quan tâm và thực hiện nhưng đa dạng chưa cân đối chủ yếu trong nội

bộ các ngành nông nghiệp, hoạt động phi nông nghiệp rất hạn chế Đồng thời, nhóm tác giả dùng phương pháp hồi quy tương quan để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ chăn nuôi gia cầm ở ĐBSCL Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng biến phụ thuộc tổng thu nhập chịu ảnh hưởng tích cựa của 5 biến là tổng diện tích của hộ, vay vốn, kiểm dịch, thu nhập từ chăn nuôi gia cầm, thu nhập từ chăn nuôi khác và thu nhập phi nông nghiệp, trong

đó biến kiểm dịch có tác động lớn nhất đối với tổng thu nhập Bên cạnh đó các biến không có nghĩa thống kê là ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm, tỷ lệ của người lao động, SID11, trình độ học vấn của chủ hộ và tỷ lệ lao động

Nghiên cứu của tác giả Nghi và cộng sự, 2011 về “Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long” Nhóm tác giả đã nghiên cứu bằng cách phỏng vấn trực tiếp 182

11 Chỉ số Simpson (Simpson Index of Diversity - SID) về đa dạng hóa được sử dụng để đo lường mức

độ đa dạng hóa thu nhập của nông hộ Trong đó: P i là tỷ trọng của thu nhập từ hoạt động thứ i Với công thức: SID = 1 - i2

Trang 22

hộ gia đình ở khu vực nông thôn huyện Trà Ôn đồng thời sử dụng các phương pháp thống kê mô tả và hồi quy tuyến tính Kết quả cho thấy phần lớn hộ gia đình phụ thuộc vào nghề nông vì vậy thu nhập của họ bấp bênh và khá thấp Với phương pháp hồi quy đa tuyến tính nhóm đã tìm ra các nhân tố ảnh hưởng thuận chiều đến thu nhập bình quân/ người của hộ gia đình ở khu vực nông thôn là kinh nghiệm làm việc của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, số hoạt động tạo ra thu nhập và độ tuổi trung bình của lao động trong hộ Chỉ có nhân

tố số nhân khẩu trong hộ tác động ngược chiều với thu nhập bình quân của hộ gia đình

Nghiên cứu của tác giả Anh và cộng sự, 2010 về “Những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân có vay vốn ở huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình” Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến thu nhập của các hộ nông dân có sử dụng vốn vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, từ đó có các giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ nông dân ở các vùng sinh thái khác nhau, lĩnh vực sản xuất khác nhau Nhóm tác giả tiến hành điều tra 180 hộ có sử dụng vốn vay của NHNN&PTNT ở 9 xã thuộc 3 vùng sinh thái khác nhau: vùng núi, vùng bãi ngang và vùng đồng bằng ven biển Mỗi vùng chọn 60 hộ Đồng thời kết hợp với nhiều phương pháp như phương pháp thống kê, phân tích hồi quy, sử dụng hàm sản xuất Cobb – Douglas để phân tích tác động của các nhân tố đến thu nhập hỗn hợp của các hộ nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với sản xuất hộ nông dân có vay vốn với độ tin cậy từ 90% đến 99% thì tất cả các biến đưa vào mô hình đều có nghĩa thống kê, cụ thể là trình độ học vấn, lao động, chi phí đầu vào, lượng vốn vay, diện tích đất canh tác, thời hạn vay tác động thuận chiều với biến phụ thuộc – thu nhập hỗn hợp của hộ nông dân Riêng biến lãi suất vay cho tác động ngược lại với biến thu nhập

Nghiên cứu của tác giả Tín, 2010 về “Phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ nghèo Vĩnh Long” Bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp

200 quan sát ở Vĩnh Long nhằm mục đích phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ nghèo Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích tần số và thống kê mô tả để mô tả khái quát về cuộc sống của hộ nghèo ở Vĩnh Long như khó khăn của hộ nghèo, quy mô, số lao động, tình trạng đất canh tác của

hộ nghèo,… Đồng thời với phương pháp hồi quy đa biến với kỹ thuật biến giả

để phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập Kết quả mô hình cho thấy với

11 biến độc lập đưa vào mô hình thì có 2 biến không có ý nghĩa thống kê đó là

biến dân tộc và giới tính của chủ hộ Các biến còn lại có nghĩa thống kê cụ thể như sau: tuổi chủ hộ càng cao thì nghiên cứu cho thấy thu nhập của hộ càng cao, hộ có nợ vay thì thu nhập sẽ thấp hơn hộ không có nợ vay hoặc có vay ít

Trang 23

hơn Tỷ lệ lao động, tỷ lệ ngày lao động địa phương, tiền công lao động trung bình một ngày của lao động địa phương, tiền lương lao động trung bình một tháng của lao động di cư càng cao thì thu nhập của hộ càng cao

Nghiên cứu của tác giả Trang, 2010 về “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập và quyết định đa dạng hóa thu nhập của nông hộ trên địa bàn huyện Gò Công Đông tỉnh Tiền Giang” Đề tài nghiên cứu này phân tích từ số liệu khảo sát ở 135 nông hộ nhằm mô tả thực trạng đa dạng hóa thu nhập của nông hộ, đồng thời xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đa dạng hóa thu nhập của nông hộ Kết quả cho thấy thu nhập của nông hộ chủ yếu dựa vào hoạt động nông nghiệp chiếm 61,04% và thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp chiếm 38,96% Mức độ đa dạng hóa của các hộ trên địa bàn nghiên cứu còn ở mức thấp, chỉ số Simpson ở mức 3,1 Thu nhập của những hộ đa dạng hóa cao hơn so với hộ chưa đa dạng hóa bình quân khoảng 27,4 triệu đồng/năm Bên cạnh đó, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đa dạng hóa và thu nhập của nông hộ là: tỷ lệ lao động, khả năng tiếp cận nguồn vố, diện tích đất canh tác của hộ, nguồn thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp, trồng trọt

và mức độ đa dạng hóa thu nhập của nông hộ

Nghiên cứu của tác giả Vân và cộng sự, 2010 về “Vai trò của các hoạt động phi nông nghiệp đối với hoạt động xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Trà Vinh” Với số quan sát là 161 mẫu thông qua phỏng vấn trực tiếp tại 3 xã được xem là điển hình của tỉnh Trà Vinh là Hương Mỹ, Phước Hảo, Thanh Mỹ thuộc huyện

Mỹ Châu Điểm nổi bật là nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích hồi qui với 2 mô hình khác nhau là mô hình Probit và mô hình OSL (Ordinary Least Squared) Mô hình hồi qui Probit để ước lượng cho biến phụ thuộc là là một biến giả - quyết định thực hiện hoạt động phi nông nghiệp của hộ, qua phân tích nhóm tác giả thấy rằng biến phụ thuộc chịu tác động của nhiều biến độc lập như: số lượng thành viên trong gia đình, tuổi của chủ hộ, tổng thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp và giá trị tổng tài sản của nông hộ Chỉ duy nhất một biến là mức độ giáo dục cao nhất của hộ (được đo bằng trình độ học vấn của thành viên có trình độ cao nhất) không có ý nghĩa thông kê Đáng chú ý là nhóm tác giả sử dụng biến bình phương độ tuổi, biến này có ý nghĩa và mang dấu dương tuy khác biệt so với nhiều nghiên cứu trước, song sự khác biệt này có thể lý giải được vì nó gắn liền với điều kiện kinh tế của địa phương Nhóm tác giả cũng giải thích rằng do khi chủ hộ còn trẻ và trong độ tuổi lao động thì có khả năng tham gia vào nhiều hoạt động sản xuất nông nghiệp, lao động chân tay song khi chủ hộ đến một độ tuổi nào đó thì không còn đủ sức khỏe như trước nên việc chuyển sang các hoạt động phi nông nghiệp như là một biện pháp thay thế Tiếp theo

Trang 24

nhóm tác giả sử dụng mô hình OLS để ước lượng cho biến phụ thuộc là tổng thu nhập bình quân/ năm của nông hộ, kết quả cho thấy chỉ có 2 biến là số lượng thành viên trong hộ và biến phụ thuộc ở mô hình 1 là tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp là có ý nghĩa Tuy biến số lượng thành viên trong

hộ mang dấu dương có nghĩa là khi số lượng nhân khẩu tăng thì làm tăng tổng thu nhập song tổng chi tiêu của hộ cũng tăng lên nên chưa hẳn giúp cải thiện đời sống kinh tế của hộ Các biến còn lại như tuổi của chủ hộ, trình độ cao nhất của hộ, diện tích đất sản xuất của hộ đều không tác động đến tổng thu nhập của hộ khi nó không có ý nghĩa trong mô hình Qua nghiên cứu ta có thể thấy được hoạt đông phi nông nghiệp có ảnh hưởng lớn đến thu nhập của các

hộ gia đình đây là một điều đáng lưu tâm cho các nghiên cứu sau này khi vấn

đề nghiên cứu liên quan đến thu nhập của nông hộ

Nhìn chung với mỗi mục tiêu, phương pháp và áp dụng ở mỗi địa bàn nghiên cứu khác nhau sẽ có những đặc trưng và giải pháp riêng song hầu hết các nghiên cứu trước đây đều tìm hiểu và chứng minh những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các đối tượng như nông hộ, hộ chăn nuôi gia cầm, đồng bào dân tộc thiểu số,… thường là các yếu tố như: tuổi của chủ hộ, trình

độ học vấn của chủ hộ, số lao động trong hộ, tuổi trung bình của lao động, diện tích đất sản xuất, vay vốn, tham gia hội đoàn thể Trên cơ sở áp dụng những phương pháp nghiên cứu cũng khá đa dạng, trong đó hầu hết các tác giả

sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính để xác định các yếu tố tác động đến thu nhập của nông hộ, thống kê mô tả để phân tích cơ cấu thu nhập của hộ gia đình Các nghiên cứu còn lại sử dụng các phương pháp phân tích khác như lợi ích chi phí (CBA), SID, Logit đa thức, nhằm khai thác các khía cạnh khác của thu nhập của hộ gia đình như cơ cấu thu nhập, sự đa dạng hóa thu nhập, các chiến lược sinh kế của nông hộ,…Căn cứ vào những nghiên cứu thực tiễn trên đồng thời kết hợp với mục tiêu và đối tượng nghiên cứu là thu nhập của

hộ nghèo và điều hiện đặc thù của huyện U Minh tác giả đã quyết định dùng

mô hình phân tích hồi quy tương quan đa biến để đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến thu nhập, thống kê mô tả và hệ số SID để phân tích cơ cấu thu nhập cũng như đa dạng hóa thu nhập của đối tượng nghiên cứu Từ đó mà

có những chính sách và biện pháp thích hợp tác động đến các yếu tố đó nhằm nâng cao, cải thiện hiệu quả và bền vững đời sống của hộ gia đình

2.3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Thông qua lược khảo tài liệu nghiên cứu, tác giả thiết lập mô hình xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình nghèo ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau như sau:

Trang 25

Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Y = β0 + β1X1 +β2X2 + β3X3 +β4X4 + β5X5 +β6X6 + D7X7 + D8X8 + ε Trong đó:

+ Y là thu nhập bình quân đầu người của hộ (1000đ/người/tháng)

+ β0, β1, β8và ε được hiểu giống như mô hình tổng quát ở trên + X1,X2, , X8 là các nhân tố tác động đến tổng thu nhập bình quân của

hộ gia đình, được diễn giải như sau:

X1: là biến số tuổi bình phương của chủ hộ (đơn vị tính là năm), hệ số β1 được kỳ vọng mang dấu dương vì tuổi của chủ hộ lớn hơn đồng nghĩa với việc kinh nghiệm sản xuất cũng nhiều hơn và kết quả sản xuất cao hơn dẫn đến thu nhập cao hơn

X2: là biến trình độ học vấn của chủ hộ, được mô tả bằng số năm đến trường của chủ hộ, nhận giá trị 0 nếu chủ hộ mù chữ, giá trị từ 1 đến 12 là

Số hoạt động tao ra thu nhập

Diện tích đất sản xuất của hộ

Trình độ học vấn của chủ hộ

Tuổi bình phương của chủ hộ

Số nhân khẩu của hộ

Tỷ lệ lao động của hộ

Trang 26

trình độ từ lớp 1 đến lớp 12, giá trị từ 13 đến 16 là từ trung học chuyên nghiệp cho đến đại học, hệ số β2 được kỳ vọng mang dấu dương, bởi vì chủ hộ chủ yếu là người đóng vai trò chính trong việc tổ chức sản xuất kinh doanh đồng thời cũng là những người đưa ra quyết định trong hộ Nếu chủ hộ có trình độ càng cao, họ càng có nhiều khả năng tiếp cận và tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng từ đó áp dụng vào việc sản xuất của hộ nên hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ cao hơn và thu nhập cũng được cải thiện so với những hộ mà chủ hộ có trình độ thấp hơn

X3: là biến nhân khẩu của hộ nhận giá trị tương ứng với số người trong

hộ, hệ số β3 được kỳ vọng mang dấu âm, theo khảo sát ở địa phương thì hộ nghèo là những hộ có quy mô gia đình lớn, có nhiều con, tỷ lệ phụ thuộc cao không có khả năng tích lũy mà có nhu cầu chi tiêu cao vì vậy khi số nhân khẩu trong hộ càng cao làm cho thu nhập bình quân trên đầu người của hộ càng giảm vì phần đông hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, trong điều kiện diện tích đất sản xuất không thay đổi khi số nhân khẩu tăng lên là cho thu nhập bình quân/người giảm xuống

X4: là biến tỷ lệ lao động của hộ chính là số người trong độ tuổi lao động sẵn sàng lao động so với số nhân khẩu trong gia đình, hệ số β4 được kỳ vọng mang dấu dương vì lao động là một trong những nguồn lực quan trọng quyết định hướng hoạt động tạo thu nhập của hộ Nếu như lao động trong hộ tăng lên trong khi diện tích đất không tăng dẫn đến sự thừa lao động; cho nên một

số thành viên sẽ tham gia các hoạt động bên ngoài hộ như: kinh doanh, làm việc ở các cơ quan, xí nghiệp, làm thuê, dịch vụ,…nhằm đảo bảo các khoản chi tiêu trong hộ Vì vậy tỷ lệ lao động phản ánh số lao động thực trong hộ gia đình, khi tỷ lệ lao động tăng thì thu nhập của hộ cũng tăng

X5: là biến diện tích đất sản xuất (đơn vị tính là m2), hệ số β5 được kỳ vọng mang dấu dương Đối với hộ gia đình, phần lớn đất đai là phương tiện sản xuất chủ yếu và với điều kiện thực tế ở địa phương cho thấy việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất còn hạn chế, do đó

hộ có nhiều diện tích đất phục vụ cho sản xuất được kỳ vọng có thu nhập cao hơn

X6: là biến số hoạt động tạo thu nhập nhận giá trị tương ứng với số hoạt động tạo ra thu nhập của hộ Hộ có nhiều hoạt động tạo ra thu nhập thì được

kỳ vọng có thu nhập cao hơn, vì vậy mà hệ số β6 được kỳ vọng mang dấu dương

X7: là biến vay vốn đây là biến giả nhận giá trị 1 nếu hộ được vay vốn từ các tổ chức tín dụng, giá trị 0 nếu không được vay Trong sản xuất kinh doanh

Trang 27

vốn là yếu tố đầu vào không thể thiếu Thực tế cho thấy thu nhập trung bình của hộ dân nghèo còn khá thấp nên thường không tích lũy đủ vốn để tái đầu tư sản xuất Vốn vay giúp cho hộ gia đình mua sắm phương tiện sản xuất, nguyên vật liệu đầu vào, lấp khoảng trống thu nhập trước mùa thu hoạch để không chịu sức ép bán sản phẩm ngay sau thu hoạch với giá thấp, vì vậy mà hệ số D7 được kỳ vọng mang dấu dương đối với hộ có vay vốn từ các tổ chức tín dụng

và ngược lại

X8: Tham gia là biến giả nếu hộ gia đình có tham gia hội đoàn thể nhận giá trị 1 nếu hộ có tham gia, giá trị 0 nếu không tham gia Nếu hộ gia đình có thành viên tham gia vào các tổ chức đoàn thể địa phương như hội nông dân, hội phụ nữ, hội người cao tuổi, cựu chiến binh, sẽ có cơ hội học hỏi kinh nghiệm sản xuất từ các thành viên trong hội, tiếp thu những tiến bộ khoa học

kỹ thuật, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau trong việc sản xuất cũng như cuộc sống hằng ngày,… từ đó thu nhập được kỳ vọng sẽ tăng khi hộ gia đình có thành viên tham gia vào hội đoàn thể địa phương và ngược lại

Trang 28

Bảng 2.2 Diễn giải các biến độc lập trong mô hình hồi quy tuyến tính

Tuổi bình

Vương Quốc Duy, Đoàn Thị Cẩm Vân, Lê Long Hậu,

Vương Quốc Duy, Đoàn Thị Cẩm Vân, Lê Long Hậu,

Đoàn Thị Cẩm Vân, Lê Long Hậu,

Nguyễn Đăng Hào, 2012; Đặng Minh

X6 Nhận giá trị tương ứng với số hoạt

động tạo ra thu nhập của hộ

+

Trang 29

Vay vốn D7

Biến giả: nhận giá trị 1 nếu hộ được vay vốn từ các tổ chưc tín dụng chính thức, giá trị 0 nếu không được vay

Huỳnh Thị Đan Xuân, Mai Văn

Nghi, Bùi Văn Trịnh, 2011

+

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

Thu thập số liệu về thực trạng nghèo của tỉnh, của các huyện, các xã qua các báo cáo có liên quan của UBND tỉnh, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Cục Thống kê tỉnh; các báo cáo của UBND các huyện, thành phố Cà Mau, UBND các xã, phường, thị trấn

 Số liệu sơ cấp

Do đề tài sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đa biến, theo phương pháp này kích thước cỡ mẫu thường được xác định dựa vào số lượng biến đo lường (số biến độc lập trong phân tích hồi quy đa biến) Để cho phân tích hồi quy đa biến đạt kết quả tốt thì cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo công thức là:

N = 50 + 8*m (Tabachnick và Fidell,1996)

Trong đó:

N: số lượng mẫu cần xác định cho nghiên cứu

m: số biến độc lập đưa vào mô hình

Với 8 biến quan sát của thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của

hộ nghèo và cận nghèo, để tiến hành phân tích hồi quy đa biến thì số mẫu tối thiểu phải là:

N = 50 + 8*8 = 114 mẫu

Vậy với số bi

Trang 30

ến đưa vào mô hình là 8 biến thì kích thước mẫu cần khảo sát là 114 hộ Như đã trình bài tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên và dự kiến sẽ thu thập số liệu qua điều tra phỏng vấn trực tiếp hộ gia đình tại 2 xã là những xã có tỷ lệ hộ nghèo cao thuộc huyện U Minh với tổng

số khoảng 160 quan sát (đủ lớn để đại diện cho tổng thể) bao gồm 2 nhóm hộ: nhóm hộ cận nghèo và nhóm hộ nghèo theo kết quả điều tra khảo sát cuối năm

2013 của tỉnh

Bảng 2.3 Cơ cấu mẫu khảo sát

2.4.2 Phương pháp phân tích số liệu

Đề tài sử dụng phần mềm SPSS và Excel để tiến hành phân tích số liệu thu thập thông qua bảng câu hỏi được soạn sẵn và các số liệu thứ cấp Phương pháp phân tích được chọn ứng với từng mục tiêu cụ thể như sau:

 Mục tiêu 1:

Mô tả thực trạng về gia đình cũng như cuộc sống đồng thời nghiên cứu

về cơ cấu thu nhập của hộ nghèo ta sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phản ánh tuổi chủ hộ, học vấn chủ hộ, diện tích đất canh tác, qui mô hộ, tỷ lệ lao động trong hộ, tình trạng tiếp cận nguồn vốn, giao tiếp xã hội Bên cạnh

đó, còn để mô tả biến định tính như giới tính chủ hộ, nghề nghiệp chủ hộ Đánh giá mức độ đa dạng hóa ngành nghề của hộ nghèo ta sử dụng chỉ

số Simpson (Simpson Index of Diversity – SID) về đa dạng hóa để đo lường mức độ đa dạng hóa ngành nghề của hộ nghèo

Chỉ số Simpson (SID) được tính bằng công thức sau:

Trang 31

lại, nếu số hoạt động tăng thì tỷ trọng Pi sẽ giảm xuống và khi đó chỉ số SID sẽ tiến về 1

 Mục tiêu 2:

Dùng phương pháp hồi quy tương quan để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ nghèo ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau

 Mục tiêu 3:

Căn cứ kết quả phân tích của mục tiêu 1 và 2 đề ra giải pháp nâng cao

thu nhập của hộ nghèo ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau

Trang 32

CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ TỈNH CÀ MAU

Phần đất liền: diện tích 5294,87 km2, xếp thứ 2 và bằng 12,97% diện tích khu vực đồng bằng sông Cửu Long, bằng 1,58% diện tích cả nước Trong đó diện tích đất nuôi trồng thủy sản trên 266.735 ha, đất trồng lúa 129.204 ha, đất lâm nghiệp 103.723 ha

Vùng biển: vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam do tỉnh Cà Mau quản lý có diện tích 71.000 km2 trong đó có các đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Buông và Hòn Đá Bạc

Phía Bắc giáp tỉnh Bạc Liêu và Kiên Giang, ba hướng còn lại giáp biển; có

9 đơn vị hành chính bao gồm: thành phố Cà Mau; các huyện Cái Nước, Đầm Dơi, Thới Bình, Trần Văn Thời, Năm Căn, Ngọc Hiển, Phú Tân, U Minh Trong

đó, thành phố Cà Mau là trung tâm kinh tế, văn hoá của tỉnh

Trang 33

Nguồn: Ban chủ nhiệm Địa chí – Cục thống kê tỉnh Cà Mau

Hình 3.2 Rừng ngập mặn Cà Mau

Cà Mau nằm trên bán đảo, có vị trí địa lýkhá đặc biệt với ba mặt tiếp giáp biển Mũi Cà Mau là nơi duy nhất trên đất liền có thể ngắm được mặt trời mọc lên từ mặt biển Đông vào buổi sáng và lặn xuống mặt biển Tây vào buổi chiều

Cà Mau nằm ở trung tâm vùng biển của các nước Đông Nam Á nên rất thuận lợi trong việc giao lưu, hợp tác kinh tế giữa các nước trong khu vực

Nguồn: Ban chủ nhiệm Địa chí – Cục thống kê tỉnh Cà Mau

Hình 3.3 Mô hình tôm lúa kết hợp

Trang 34

Cà Mau là cùng đồng bằng có nhiều sông rạch, có địa hình thấp, bằng phẳng và thường xuyên bị ngập nước Phần lớn đất đai ở Cà Mau là cùng đất trẻ

do phù sa bồi lắng, tích tụ qua nhiều năm tạo thành nên rất màu mỡ và thích hợp cho việc nuôi trồng thủy sản, trồng lúa, trồng rừng ngập mặn, ngập lợ

Nguồn: Ban chủ nhiệm Địa chí – Cục thống kê tỉnh Cà Mau

Hình 3.4 Sương sớm trên cánh đồng

Cà Mau là tỉnh đồng bằng ven viển, khí hậu Cà Mau ôn hòa thuộc vùng cận xích đạo, nhiệt đới gió mùa nên có 2 mùa mưa, nắng rõ rệt

Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa nắng từ tháng 11 đến tháng

4 năm sau Nhiệt độ trung bình từ 26,60 C đến 27,70 C Với chế độ gió mùa vừa chịu ảnh hưởng của đặc trưng cho vùng nhiệt đới lại vừa chịu ảnh hưởng của các

cơ chế gió mùa khu vực Đông Nam Á nên hằng năm có 2 màu gió là gió mùa đông và gió mùa hạ Thời tiết, khí hậu ở Cà Mau thuận lợi cho phát triển ngư-nông-lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn

Trang 35

Nguồn: Ban chủ nhiệm Địa chí – Cục thống kê tỉnh Cà Mau

Hình 3.5 Vào mùa

Nguồn: Ban chủ nhiệm Địa chí – Cục thống kê tỉnh Cà Mau

Hình 3.6 Mô hình rừng – tôm kết hợp

Trang 36

3.1.2 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội của tỉnh Cà Mau

3.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế

Theo báo cáo tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết HĐND tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) tỉnh Cà Mau năm 2014 của sở kế hoạch và đầu tư thì tình hình kinh tế tỉnh Cà Mau tăng trưởng ổn định và duy trì ở mức cao, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) 9 tháng đầu năm 2014 đạt 19.135 tỷ đồng, tăng 8,1% (tương đương cùng kỳ năm 2013 và cao hơn cùng

kỳ năm 2012)12 Trong đó, khu vực ngư, nông, lâm nghiệp tăng 6%; công nghiệp, xây dựng tăng 9,4%; dịch vụ tăng 9,2%13

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Tỷ trọng khu vực như nông lâm nghiệp chiếm 35,4% (chỉ tiêu 36%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 35,6% (chỉ tiêu 35,2%); khu vực dịch vụ chiếm 29% (chỉ tiêu 28,8%) Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội đạt 6.389 tỷ đồng, bằng 62% kế hoạch tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2013

Bảng 3.1 Số liệu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011- 01/10/2014

Đơn vị tính: %

1 Ngư, nông, lâm

Nguồn: Cục thống kê tỉnh Cà Mau năm 2014

Nhìn chung, cơ cấu kinh tế của tỉnh Cà Mau đang chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng khu vực ngư, nông, lâm nghiệp; tăng tỷ trọng khu vực thương mại, dịch vụ Cụ thể như sau, năm 2013 tỷ trọng ngành ngư nông lâm nghiệp có giảm so với năm 2011, song lại giảm không đáng kể, giảm 3,82% so với năm 2011, tăng 0,54% so với năm 2012 Tương tự khu vực ngư

Trang 37

nông lâm nghiệp, khu vực công nghiệp xây dựng năm 2013 cũng giảm so với năm 2011 là 3,32%, và giảm so với năm 2012 là 3,79% Nguyên nhân chủ yếu

là do năm 2013 là một năm khó khăn đối với nền kinh tế thế giới nói chung cũng như Việt Nam nói riêng, đồng thời do công tác chuyển dịch cơ cấu kinh

tế bước đầu được triển khai chưa đồng bộ và còn gặp nhiều khó khăn như về vốn, kỹ thuật sản xuất, thông tin về dịch chuyển cơ cấu,…Bên cạnh đó, dấu hiệu khả quan đáng quan tâm là tỷ trọng khu vực thương mại, dịch vụ năm

2013 tăng 11,02% so với năm 2011, tăng 4,62% so với năm 2012 chủ yếu là

do sự quan tâm, hỗ trợ mạnh mẽ từ chính quyền địa phương, Nhà Nước đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh trong lĩnh vực này, thêm vào đó là giá trị của các ngành, lĩnh vực thương mại, dịch vụ luôn lớn hơn trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh

Từ bảng số liệu trên ta có thể thấy được mặc dù tỷ trọng khu vực ngư, nông, lâm nghiệp có giảm, song tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế vẫn là cao nhất, chiếm gần 40% Điều này cho thấy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Cà Mau vẫn còn duy trì theo hướng nông nghiệp, thủy sản vì vậy mà việc đầu tư vào lĩnh vực này càng phải được xem trọng

3.1.2.1 Ngư, nông, lâm nghiệp

Theo báo cáo tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết HĐND tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) tỉnh Cà Mau năm 2014 của sở kế hoạch và đầu tư thì tình hình kinh tế tỉnh Cà Mau thì tình hình việc sản xuất ngư, nông, lâm nghiệp của tỉnh 9 tháng đầu năm 2014 phát triển ổn định Cụ thể như sau:

 Thủy sản

Diện tích nuôi tôm công nghiệp, nuôi quảng canh cải tiến phát triển nhanh, năng suất thu hoạch đạt khá Đồng thời việc khai thác biển đạt năng suất khá góp phần tăng sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác so với cùng

kỳ Cụ thể như sau: diện tích nuôi tôm công nghiệp đạt 7.911 ha (tăng 1.919

ha so với cuối năm 2013, vượt 911 ha so với kế hoạch) Năng suất tôm sú công nghiệp 5-6 tấn/ha, tôm thẻ công nghiệp 7-10 tấn/ha, quảng canh cải tiến 400-500kg/ha

Tổng sản lượng thủy sản 9 tháng đầu năm 2014 đạt 382.230 tấn, bằng 83,6% so với kế hoạch, tăng 10,2% so với cùng kỳ

 Nông nghiệp

Nhìn chung việc sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định, năng suất lúa thu hoạch bình quân đạt 4,6 tấn/ha Sản xuất theo mô hình cánh đồng mẫu lớn

Trang 38

trong 9 tháng đầu năm 2014 được 5.452 ha (tăng 782 ha so với cùng kỳ năm 2013), năng suất bình quân đạt 5,7 tấn/ha (tăng 1 tấn/ha so với sản xuất bình thường) Mô hình này đang được nông dân tích cực hưởng ứng do mang lại hiệu quả thiết thực, xu hướng sẽ tiếp tục phát triển nhanh chóng trong thời gian tới

Lúa mùa đến nay đã gieo trồng được 7.153 ha; lúa - tôm 3.310,8 ha; lúa lấp vụ 2 gieo trồng được 988 ha Lúa hè thu đang trong giai đoạn thu hoạch, đến nay đã thu hoạch được 30.411 ha, đạt 82,88% diện tích xuống giống, năng suất thu hoạch ước đạt 47 tạ/ha Rau màu xuống giống được 5.307,8 ha, tăng 7,7% so cùng kỳ; thu hoạch được 4.591,2 ha, tăng 14% so cùng kỳ

Sơ bộ về lúa vụ hè thu: tổng diện tích gieo trồng lúa vụ hè thu đến tháng

10 năm 2014 ước đạt 36.692 ha, tăng 3,36% so cùng kỳ, đạt 103,36% kế hoạch Năng suất gieo trồng bình quân ước đạt 47,01 tạ/ha, tăng 3,66% so cùng kỳ; sản lượng ước đạt 172.472 tấn, tăng 7,14% so cùng kỳ

 Chăn nuôi

Nhìn chung đến thời điểm hiện tại thì tình hình dịch bệnh trên gia cầm, gia súc được kiểm soát khá tốt, không để lây lan (kịp thời phát hiện xử lý 7 ổ dịch cúm gia cầm, tiêu hủy 2.520 con; bệnh heo tai xanh 6 con) Tuy nhiên chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển chậm hơn nhu cầu của tỉnh Cụ thể như sau:

Tổng đàn heo tinh đến tháng 9/2014 là 148.500 con, giảm 17,73% so cùng kỳ Sản phẩm thịt lợn hơi xuất chuồng 9 tháng ước đạt 21.257 tấn, giảm 5,42% so cùng kỳ Nguyên nhân tổng đàn và sản phẩm lợn giảm là do lượng lợn giống chất lượng tốt thiếu hụt không cung ứng đủ cho người chăn nuôi Hơn nữa, giá lợn giống khá cao dao động từ 1,2 - 1,4 triệu đồng/con Bên cạnh

đó, giá thức ăn tăng cao làm cho người chăn nuôi không có lãi dẫn đến nhiều

hộ dân không tiếp tục đầu tư vào chăn nuôi Mặt khác, do sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản kết hợp nên môi trường nước một số huyện không phù hợp cho đàn lợn phát triển

Đàn gia cầm: 1.560 nghìn con, giảm 5,45%; trong đó đàn gà 710 nghìn con, giảm 7,79% so cùng kỳ Đàn gia cầm giảm là do từ giữa tháng 01 đến cuối tháng 02 toàn tỉnh đã xảy ra 07 ổ dịch cúm gia cầm (chủ yếu là đàn vịt) Hơn nữa, vào mùa mưa thời tiết không thuận lợi cho đàn gà phát triển Tình hình chăn nuôi gia cầm trên địa bàn tỉnh chủ yếu nuôi theo hình thức nhỏ, lẻ khi gia cầm mắc bệnh một số hộ dân không báo cho chính quyền địa phương

mà tự ý bán gia cầm bị chết hay vứt xác bừa bãi ra kênh, rạch làm cho dịch

Trang 39

bệnh lây lan sang các hộ lân cận Từ đó, một số hộ dân không mạnh dạn đầu

tư tái đàn dẫn đến tổng đàn gia cầm giảm

 Lâm nghiệp

Công tác trồng rừng, quản l ý và bảo vệ rừng có bước chuyển biến khá tốt

Từ đầu năm đến nay đã trồng được 1844 ha rừng, trong đó trồng mới 561

ha, vược 12% kế hoạch Phong trào trồng rừng thâm canh (chủ yếu là cây keo lai và cây tràm) gắn với chế biến lâm sản đang được các doanh nghiệp và hộ dân quan tâm, đến nay đã trồng được 7.700 ha hiện rừng đang phát triển rất tốt, dự báo sẽ đem lại hiệu quả cao

Về công tác phòng chống cháy rừng (PCCCR) vào mùa khô năm 2014 được sự quan tâm của các sở, ban, ngành cùng chính quyền địa phương các cấp và ý thức PCCCR của quần chúng nhân dân được nâng lên Nhìn chung, công tác PCCCR đã được các lực lượng làm rất tốt với phương châm 4 tại chỗ, trực chỉ huy, phương tiện quan sát kịp thời, công tác tuần tra sát sao, chặt chẽ

và quyết tâm đã đem đến một mùa khô cơ bản an toàn Từ đầu năm đến nay toàn tỉnh đã xảy ra 2 vụ cháy rừng ở xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ với diện tích cháy là 0,92 ha Nguyên nhân xác định do dân khai thác mật ong trái phép gây ra

 Xuất, nhập khẩu

Xuất khẩu: kim ngạch xuất khẩu tháng 9/2014 ước đạt 138,08 triệu USD, tăng 5,22% so tháng trước, tăng 21,18% so cùng kỳ Lũy kế 9 tháng ước đạt 997,51 triệu USD, đạt 89,06% kế hoạch, tăng 41,99% so cùng kỳ Trong đó khối lượng hàng thủy sản xuất khẩu tháng 9/2014 ước đạt 12,46 nghìn tấn, tăng 7,95% tháng trước, tăng 25,18% so cùng kỳ Lũy kế 9 tháng khối lượng hàng thủy sản xuất khẩu ước đạt 83,15 nghìn tấn, tăng 24,09% so cùng kỳ Thị trường xuất khẩu chủ yếu trong tháng 9/2014 là: Mỹ, Nhật, Thị trường chung Châu Âu, Úc, Canada, Hồng Kông, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Thụy Sỹ

Nhập khẩu: kim ngạch nhập khẩu tháng 9/2014 ước đạt 12,04 triệu USD, giảm 9,42% so tháng trước, tăng 2,9 lần so cùng kỳ Lũy kế 9 tháng ước đạt 122,71 triệu USD, tăng 2,7 lần so cùng kỳ Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là hỗn hợp gia vị, bột tẩm, hóa chất và nguyên liệu tôm chế biến

Trang 40

3.2 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN U MINH

3.2.1 Điều kiện tự nhiên

3.2.1.1 Vị trí địa lý

Nguồn: Ban chủ nhiệm Địa chí – Cục thống kê tỉnh Cà Mau

Hình 3.7 Rừng tràm U Minh Theo số liệu thống kê của trên trang web của Uỷ ban nhân dân huyện thì

U Minh nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Cà Mau, diện tích tự nhiên là 774,641km2, bằng 14,62% diện tích đất tự nhiên của tỉnh Cà Mau Dân số là 92.312 người Phía bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía đông giáp huyện Thới Bình, phía tây giáp Vịnh Thái Lan, phía nam giáp huyện Trần Văn Thời

Về tổ chức hành chính, huyện U Minh được chia thành 7 xã và 1 thị trấn, bao gồm các xã Khánh An, Nguyễn Phích, Khánh Lâm, Khánh Hội, Khánh Tiến, Khánh Hòa, Khánh Thuận và thị trấn U Minh

U Minh là vùng đồng bằng duyên hải, đất nhiễm mặn phèn nhiều, nhiều kênh, rạch Đây cũng 1 trong 6 huyện ven biển của tỉnh Cà Mau, với chiều dài

bờ biển 31km, có cửa biển Khánh Hội, Hương Mai nên có điều kiện hướng phát triển ra biển Khu dự án khí điện đạm Cà Mau đã và đang được đầu tư xây dựng ở xã Khánh An đã trở thành một điểm phát triển, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Cà Mau, là tiền đề để phát triển các dự án quan trọng khác trên địa bàn huyện U Minh và các huyện kế cận

Ngày đăng: 26/10/2015, 09:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo ở huyện u minh tỉnh cà mau
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất (Trang 25)
Hình 3.1 Mũi Cà Mau - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo ở huyện u minh tỉnh cà mau
Hình 3.1 Mũi Cà Mau (Trang 32)
Hình 3.2 Rừng ngập mặn Cà Mau - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo ở huyện u minh tỉnh cà mau
Hình 3.2 Rừng ngập mặn Cà Mau (Trang 33)
Hình 3.3 Mô hình tôm lúa kết hợp - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo ở huyện u minh tỉnh cà mau
Hình 3.3 Mô hình tôm lúa kết hợp (Trang 33)
Hình 3.4 Sương sớm trên cánh đồng - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo ở huyện u minh tỉnh cà mau
Hình 3.4 Sương sớm trên cánh đồng (Trang 34)
Hình 3.5 Vào mùa - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo ở huyện u minh tỉnh cà mau
Hình 3.5 Vào mùa (Trang 35)
Hình 3.6 Mô hình rừng – tôm kết hợp - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo ở huyện u minh tỉnh cà mau
Hình 3.6 Mô hình rừng – tôm kết hợp (Trang 35)
Hình 3.7 Rừng tràm U Minh  Theo số liệu thống kê của trên trang web của Uỷ ban nhân dân huyện thì - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo ở huyện u minh tỉnh cà mau
Hình 3.7 Rừng tràm U Minh Theo số liệu thống kê của trên trang web của Uỷ ban nhân dân huyện thì (Trang 40)
Hình 3.8 Nghề gác kèo ong ở rừng U Minh - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo ở huyện u minh tỉnh cà mau
Hình 3.8 Nghề gác kèo ong ở rừng U Minh (Trang 41)
Hình 3.9 Xuôi dòng U Minh - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo ở huyện u minh tỉnh cà mau
Hình 3.9 Xuôi dòng U Minh (Trang 44)
Hình 3.10 Rừng tràm U Minh - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo ở huyện u minh tỉnh cà mau
Hình 3.10 Rừng tràm U Minh (Trang 45)
Hình 3.11 Trích cồ sinh sống ở rừng U Minh - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo ở huyện u minh tỉnh cà mau
Hình 3.11 Trích cồ sinh sống ở rừng U Minh (Trang 45)
Hình 3.12 Tổng giá trị tăng thêm (GDP) của huyện U Minh tỉnh Cà Mau - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo ở huyện u minh tỉnh cà mau
Hình 3.12 Tổng giá trị tăng thêm (GDP) của huyện U Minh tỉnh Cà Mau (Trang 49)
Hình 3.13 Cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện U Minh tỉnh Cà Mau giai đoạn - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo ở huyện u minh tỉnh cà mau
Hình 3.13 Cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện U Minh tỉnh Cà Mau giai đoạn (Trang 50)
Hình 4.7 Lý do không tham gia hội đoàn thể địa phương của hộ nghèo và cận - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo ở huyện u minh tỉnh cà mau
Hình 4.7 Lý do không tham gia hội đoàn thể địa phương của hộ nghèo và cận (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm