TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ – QUẢN TRỊ KINH DOANH TRẦN QUANG VINH PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN DỤNG CHÍNH THỨC ĐẾN THU NHẬP CỦA NÔNG HỘ Ở HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG LUẬN VĂN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ – QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRẦN QUANG VINH
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN DỤNG CHÍNH THỨC ĐẾN THU NHẬP CỦA NÔNG
HỘ Ở HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số ngành: 52340201
Tháng 8-2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ – QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRẦN QUANG VINH MSSV: 4114487
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN DỤNG CHÍNH THỨC ĐẾN THU NHẬP CỦA NÔNG
HỘ Ở HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số ngành: 52340201
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGS.TS LÊ KHƯƠNG NINH
Tháng 8-2014
Trang 3i
LỜI CẢM TẠ
Để có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp “Phân tích ảnh hưởng của tín dụng chính thức đến thu nhập của nông hộ huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang” tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô, các cô
chú đang sinh sống tại địa phương và các người thân, bạn bè
Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn đến các quý thầy cô trong khoa Kinh tế – Quản trị kinh doanh, những người đã trang bị những hành trang, những kiến thức quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn Đặc biệt, tôi xin bày tỏ
sự cảm ơn sâu sắc đến thầy Lê Khương Ninh, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và truyền thụ cho tôi những kiến thức quý báo trong suốt quá trình nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cám ơn đối với các cô, chú, anh chị các gia đình trên địa bàn huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang đã nhiệt tình giúp đỡ, chia sẻ những kiến thức quý báu mà tôi không thể nào bắt gặp được trên giảng đường Tôi xin chân thành cảm ơn đối với các cô, chú Văn phòng UBND huyện Chợ Gạo, Chi cục thống kê đã giúp đỡ hết lòng và cho tôi những thông tin quan trọng để
có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cám ơn các cô chú, anh chị trong Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – chi nhánh Tiền Giang đã tạo điều kiện cho tôi thực tập và truyền đạt những kiến thức thực tế cho tôi
Tôi xin cám ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, chia sẻ, khích lệ cho tôi và luôn là chỗ dựa vững chắc cho tôi
Cuối cùng, tôi xin kính chúc quý thầy, cô, chú, các anh chị được nhiều sức khỏe và thành công trong cuộc sống Tôi xin chân thành cảm ơn
Cần Thơ, ngày 19 tháng 12 năm 2014
Trần Quang Vinh
Trang 4ii
TRANG CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này đã được hoàn thành dựa trên kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa từng dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Cần Thơ, ngày 19 tháng 12 năm 2014
Trang 5
iii
MỤC LỤC
Trang
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Phạm vi về không gian 2
1.3.2 Phạm vi về thời gian 3
1.3.3 Phạm vi về đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Lược khảo tài liệu 3
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5 2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 5
2.1.2 Vốn trong sản xuất của nông hộ 10
2.1.3 Đặc điểm cơ bản trong cho vay của nông hộ 10
2.1.4 Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của tín dụng chính thức đến thu nhập của nông hộ 11
2.1.5 Mô hình nghiên cứu 16
2.2 Phương pháp nghiên cứu 17
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 17
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 18
Chương 3: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 19
3.1 Tổng quan về địa bàn huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang 19
3.1.1 Khái quát về địa bàn huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang 19
3.1.2 Tình hình kinh tế – xã hội 21
Trang 6iv
3.2 Tổng quan về hệ thống tín dụng trên địa bàn 27
3.2.1 Tổ chức tín dụng chính thức 27
3.2.2 Tổ chức tín dụng bán chính thức 30
3.2.3 Tổ chức tín dụng phi chính thức 31
Chương 4: PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN DỤNG CHÍNH THỨC ĐẾN THU NHẬP CỦA NÔNG HỘ Ở ĐỊA BÀN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG 32
4.1 Mô tả số liệu và mẫu nghiên cứu 32
4.1.1 Những thông tin chung về hộ 32
4.1.2 Thực trạng sản xuất nông nghiệp của nông hộ xét trên mẫu khảo sát 36
4.2 Thực trạng vay chính thức của nông hộ huyện Chợ Gạo 40
4.2.1 Thực trạng vay vốn của nông hộ huyện Chợ Gạo 40
4.2.2 Tình hình lượng vốn vay 41
4.3 Phân tích ảnh hưởng của tín dụng chính thức đến thu nhập nông hộ 43 4.3.1 Kết quả ước lượng mô hình ảnh hưởng của tín dụng chính thức đến thu nhập của nông hộ 43
4.3.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng của đến thu nhập của nông hộ 44
Chương 5: GIẢI PHÁP 47
5.1 Cơ sở đề ra giải pháp 47
5.2 Giải pháp 48
Chương 6: KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Phụ lục 1: BẢNG PHỎNG VẤN NÔNG HỘ 54
Phụ lục 2: KẾT QUẢ XỬ LÝ 61
Trang 7v
DANH MỤC BIỂU BẢNG
Trang Bảng 2.1: Tổng hợp các biến độc lập và dấu kỳ vọng trong mô hình 17 Bảng 3.1: Giá trị và tỷ trọng các ngành trong khu vực nông nghiệp giai đoạn
2011 – 2013 22 Bảng 3.2: Giá trị mang lại của các loại cây trồng trong huyện Chợ Gạo trong giai đoạn 2011 – 2013 23 Bảng 3.3: Giá trị mang lại của ngành chăn nuôi trong huyện Chợ Gạo giai đoạn 2011 – 2013 24 Bảng 3.4: Giá trị và tỷ trọng sản xuất công nghiệp trong huyện Chợ Gạo giai đoạn 2011 – 2013 25 Bảng 3.5: Thời hạn và lãi suất cho vay của các tổ chức bán chính thức trên địa bàn huyện Chợ Gạo trong năm 2014 29 Bảng 4.1: Thống kê về tình hình nhân khẩu điều tra năm 2013 32 Bảng 4.2: Thống kê tình hình chung của nông hộ trên mẫu điều tra năm 2013 33 Bảng 4.3: Tình hình sử dụng đất của nông nghiệp huyện Chợ Gạo năm 2013 34 Bảng 4.4: Tình hình các mối quan hệ xã hội của nông hộ huyện Chợ Gạo 35 Bảng 4.5: Số hoạt động tạo ra thu nhập nông hộ huyện Chợ Gạo trong năm
2013 36 Bảng 4.6: Thu nhập của nông hộ nông nghiệp và phi nông nghiệp ở huyện Chợ Gạo năm 2013 37 Bảng 4.7: Tình hình các thông tin nông hộ huyện Chợ Gạo được hỗ trợ 38 Bảng 4.8: Tình hình rủi ro thường gặp của nông huyện Chợ Gạo 39 Bảng 4.9: Tình hình sử dụng các nguồn vốn vay của nông hộ huyện Chợ Gạo năm 2013 40 Bảng 4.10: Tình hình lượng vốn vay, chi phí vay và lãi suất đi vay của nông
hộ huyện Chợ Gạo năm 2013 41 Bảng 4.11: Kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu 43
Trang 91
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Hòa cùng xu thế phát triển của thế giới, Việt Nam vẫn đang tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách tích cực, với việc tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng trong các ngành nông nghiệp Để phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Tuy nhiên, theo thống kê năm 2013, có đến 2/3 dân số Việt Nam sống ở khu vực nông thôn và đất nông nghiệp chiếm gần 80% tổng diện tích cả nước Thời gian qua, mặc dù có sự di chuyển mạnh mẽ về dân cư và lao động từ nông thôn ra thành thị, từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp Song, trong số 51,7 triệu lao động (năm 2013) vẫn còn khoảng 50% lao động việc làm trong khu vực nông lâm thủy sản Mặc dù, khu vực nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn về đất đai và người lao động, nhưng sự đóng góp của khu vực này vào quá trình tăng trưởng kinh tế vẫn chưa tương xứng Với nhu cầu sản xuất và sinh hoạt ngày càng cao, đặc biệt là nhu cầu hình thành các vùng chuyên canh lúa, hoa màu hay phát triển các trang trại,… thì tín dụng nông thôn như là nhu cầu cần thiết cho quá trình sản xuất nông nghiệp của những nông hộ
Những năm qua, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết về chính sách tín dụng ngân hàng như Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30/3/1999, Nghị định số 41/2010/NĐ – CP thay thế Quyết định số 67/1999/QĐ – TTg Sự
ra đời của những chính sách này đã khơi thông dòng vốn tín dụng chảy vào khu vực nông nghiệp nông thôn, đã làm cho cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, góp phần lớn vào sự phát triển của khu vực, thêm vào đó, các dòng vốn tín dụng đã giúp giảm thiểu tình trạng đói nghèo, tăng thu nhập cho nông hộ, đảm bảo an sinh xã hội Năm 2014, ngân hàng nhà nước cũng đã khẳng định, nông nghiệp nông thôn vẫn là một trong năm lĩnh vực ưu tiên và tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung nguồn vốn đáp ứng nhu cầu vay vốn của nông hộ, cơ chế lãi suất cho vay đối với lĩnh vực này được điều chỉnh giảm và thấp hơn các lĩnh vực khác
Ở nông thôn, hoạt động kinh tế chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi Huyện Chợ Gạo của tỉnh Tiền Giang là một trong những huyện vùng nông thôn có tình hình kinh tế phát triển ổn định và khả quan nhất của tỉnh Trong những
Trang 102
năm qua, kinh tế của địa bàn huyện ngày càng phát triển nhờ vào việc người dân chăm chỉ, kiên nhẫn và luôn sáng tạo trong hoạt động trồng trọt, chăn nuôi Bên cạnh các cây trồng nổi tiếng như thanh long, nếp bè, nông dân ở huyện Chợ Gạo còn thường xuyên chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm để nâng cao đời sống kinh tế tại địa phương Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hộ nông dân còn gặp khó khăn do thiếu nguồn vốn đầu tư, rủi ro trong sản xuất như: thiên tai, mất mùa, thất giá,… thu nhập của người dân không đủ tái đầu tư cho sản xuất hoặc mở rộng thêm quy mô sản xuất Hơn nữa, vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước còn hạn chế, vì vậy, nguồn vốn tín dụng từ nông thôn đóng vai trò chủ yếu, cấp thiết trong sản xuất và mở rộng sản xuất nông nghiệp của nông
hộ Từ thực tế trên mà tôi quyết định chọn đề tài: “Phân tích ảnh hưởng của tín dụng chính thức đến thu nhập của nông hộ huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang” để nghiên cứu nhằm hiểu rõ tính hữu dụng và hiệu quả tín dụng nông
thôn ở Việt Nam
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Đề tài phân tích ảnh hưởng của tín dụng chính thức đến thu nhập của nông hộ ở huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang Từ đó, để đề xuất giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho nông hộ
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Để thực hiện được mục tiêu chung, ta có các mục tiêu cụ thể như sau:
- Mục tiêu 1: tìm hiểu khái quát về thị trường tín dụng ở huyện Chợ Gạo,
tỉnh Tiền Giang
- Mục tiêu 2: phân tích ảnh hưởng của lượng tiền vay chính thức đến thu
nhập của nông hộ
- Mục tiêu 3: đề xuất giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận vốn
cũng như là gia tăng thu nhập của nông hộ
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Phạm vi về không gian
Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của tín dụng chính thức đến thu nhập của nông hộ được thực hiện ở huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang
Trang 113
1.3.2 Phạm vi về thời gian
Thông tin sơ cấp được thu thập trực tiếp từ nông hộ trên địa bàn huyện Chợ Gạo trong năm 2013
Thông tin thứ cấp có liên quan được thu thập trong năm 2012, 2013
1.3.3 Phạm vi về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nông hộ có nguồn thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp đang có nhu cầu vay và đã vay vốn từ nguồn tín
dụng chính thức ở huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Đề tài phân tích ảnh hưởng của tín dụng chính thức đến thu nhập của hộ nông dân được khá nhiều tác giả nghiên cứu Bởi tín dụng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội tại nông thôn Để có thể hiểu rõ
thêm vấn đề này, tác giả đưa ra một số nghiên cứu có liên quan đến đề tài:
Nguyễn Việt Anh, Nguyễn Thị Thu Thủy và Nguyễn Xuân Khoát (2010)
đã thực hiện đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân có vốn vay ở huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình” Bài viết được các tác giả
tiến hành điều tra 180 nông hộ có sử dụng vốn vay của NHNN & PTNN ở 9
xã thuộc 3 vùng sinh thái khác nhau: vùng núi, vùng bãi ngang và vùng đồng bằng ven biển Qua kết quả phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ nông dân thông qua mô hình Cobb - Douglas ở huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình cho thấy các yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến thu nhập của hộ nông dân Bên cạnh đó, các yếu tố như: điều kiện tự nhiên, loại hộ sản xuất, loại hình sản xuất cũng tác động đến thu nhập của nông hộ
Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh (2011) đã thực hiện đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tộc thiểu số ở Đồng bằng sông Cửu long” Số liệu sử dụng trong bài viết được thu thập thông qua phỏng vấn
trực tiếp 150 hộ Khmer ở tỉnh Trà Vinh và 90 hộ Chăm ở tỉnh An Giang được chọn bằng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên, thông qua bảng câu hỏi được soạn sẵn và chỉnh sửa sau nhiều lần khảo sát thử Nghiên cứu này sử dụng phần mềm SPSS để hỗ trợ trong việc phân tích số liệu Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố ảnh hưởng tác động đến thu nhập bình quân/người của hộ dân tộc thiểu số là: trình độ học vấn của chủ hộ, trình độ học vấn của lao động trong hộ, số nhân khẩu trong hộ, số hoạt động tạo thu nhập của hộ, độ tuổi trong lao động và tiếp cận với các chính sách hỗ trợ
Trang 124
Huỳnh Thị Đan Xuân và Mai Văn Nam (2011) đã thực hiện đề tài:
“Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ chăn nuôi gia cầm
ở Đồng bằng sông Cửu Long” Bài viết này nhằm mục tiêu chính là xác định
các nhân tố ảnh hưởng đến thu thập của các hộ chăn nuôi gia cầm, trên cơ sở
hệ thống dữ liệu sơ cấp thu thập từ 307 quan sát theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng ở Đồng bằng sông Cửu long Kết quả phân tích qua phương pháp hồi quy và tương quan cho thấy những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở địa bàn nghiên cứu là: tổng diện tích sở hữu, vay vốn, thu nhập từ chăn nuôi gia cầm, thu nhập từ chăn nuôi khác và thu nhập phi nông nghiệp Kết quả phân tích cũng cho thấy rằng, thu nhập của hộ chủ yếu dựa vào hoạt động nông nghiệp chiếm 95%
Lê Khương Ninh và Cao Văn Hơn (2013) đã thực hiện đề tài: “Thực trạng hạn chế tín dụng đối với nông hộ ở An Giang” Mục tiêu chính của bài
viết là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự khác biệt về mức độ hạn chế tín dụng mà các nông hộ phải gặp, trên cơ sở hệ thống dữ liệu sơ cấp từ 513 nông
hộ được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng ở An Giang Bài viết
sử dụng lý thuyết thông tin bất đối xứng để giải thích tại sao các nông hộ lại bị hạn chế tín dụng Kết quả phân tích qua mô hình tobit cho thấy những nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hạn chế tín dụng của nông hộ là: số lần vay, số lần sai hẹn, giá trị đất nông nghiệp, địa vị xã hội và trình độ học vấn Từ kết quả đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm nâng tăng cường vốn tín dụng cho nông hộ để phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập
Trang 135
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Một số khái niệm về nông hộ
a Khái niệm
Nông hộ (hay hộ nông dân) là những hộ chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, làm kinh tế tổng hợp và một
số hoạt động khác nhằm phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp), có tính chất
tự sản xuất, do cá nhân làm chủ hộ, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ kết quả sản xuất kinh doanh
Kinh tế hộ gia đình là loại hình kinh tế mà trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào sức lao động của gia đình là chủ yếu, mục đích của loại hình này trước tiên là nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của gia đình Tuy nhiên, ở một số mô hình sản xuất thì kinh tế nông hộ vẫn sử dụng lao động thuê mướn và sử dụng kết quả sản xuất để trao đổi, mua bán
b Phân loại nông hộ
- Theo quy mô: quy mô trang trại, quy mô cá thể, quy mô hợp tác xã
- Theo hình thức sản xuất: nông hộ chuyên sản xuất trồng trọt, nông hộ chuyên sản xuất chăn nuôi, nông hộ vừa trồng trọt vừa chăn nuôi
- Theo tính chất sản xuất: hộ thuần nông, nông hộ kiêm, nông hộ chuyên
- Theo mức thu nhập của nông hộ: hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ trung bình, hộ khá, hộ giàu
Trang 14Phân loại theo thời hạn tín dụng
- Tín dụng ngắn hạn: là khoản cho vay có thời hạn dưới 1 năm và thường được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động và phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cá nhân
- Tín dụng trung hạn: là khoản vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm được cung cấp để mua sắm tài sản cố định, mở rộng sản xuất,…
- Tín dụng dài hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 5 năm được dùng
để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, mở rộng sản xuất quy mô lớn Cho vay theo hình thức này rất ít ở thị trường nông thôn và rủi ro cao
Phân loại theo hình thức tín dụng
- Tín dụng chính thức: là hình thức tín dụng hợp pháp, được sự cho phép của Nhà nước Các tổ chức tín dụng chính thức hoạt động dưới sự giám sát và chi phối của ngân hàng Nhà nước Các nghiệp vụ hoạt động phải tuân theo Luật ngân hàng như khung lãi suất, nghiệp vụ huy động vốn, cho vay,… và những dịch vụ mà chỉ có các tổ chức tài chính chính thức mới cung cấp được Các tổ chức tín dụng bao gồm các ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách xã hội và quỹ tín dụng nhân dân
- Tín dụng phi chính thức: là hình thức tín dụng nằm ngoài sự quản lý của nhà nước Các hình thức này tồn tại khắp nơi và gồm nhiều nguồn cung cấp vốn như những hộ chuyên cho vay, thương lái, người thân, họ hàng, bạn
bè hay cửa hàng vật tư nông nghiệp, hụi,… Lãi suất cho vay trên thị trường này do người đi vay và người cho vay quyết định
- Tín dụng bán chính thức: là hình thức tín dụng hợp pháp, được sự cho phép của Nhà nước, theo đó các tổ chức, hội, đoàn thể tại địa phương sẽ cung cấp các nguồn vốn ngắn hạn cho các hội viên với mục đích chủ yếu là phục vụ tiêu dùng hàng ngày
Trang 157
Phân loại theo mức độ tín nhiệm
- Tín dụng không có đảm bảo: còn gọi là tín dụng tín chấp Đây là loại hình tín dụng dựa vào uy tín người đi vay hoặc người đại diện đảm bảo bằng thương hiệu và uy tín của cá nhân hay tổ chức của họ về khoản vay đó
- Tín dụng có đảm bảo: còn gọi là tín dụng thế chấp Đây là loại hình tín dụng phổ biến và được áp dụng rộng rãi Theo đó người đi vay phải đảm bảo trả nợ bằng tài sản của mình hoặc được người khác bảo lãnh trả nợ thay trong trường hợp không trả được nợ vay
Ngoài ra, tín dụng còn phân theo mục đích sử dụng: tín dụng sản xuất, tín dụng tiêu dùng, tín dụng hỗ trợ và ưu đãi,…
c Vai trò của tín dụng trong việc phát triển nông thôn
Theo nghiên cứu của Nguyễn Bích Đào (2008), tín dụng nông thôn có những vai trò như sau:
- Tín dụng nông thôn góp phần thúc đẩy thị trường tài chính nông thôn Thị trường tài chính ở nông thôn là nơi giải quyết quan hệ cung cầu về vốn, nhằm thỏa mãn nhu cầu phát triển kinh tế nông thôn
- Tín dụng đã góp phần tận dụng khai thác mọi tiềm năng về đất đai, lao động và tài nguyên thiên nhiên Tiềm năng phát triển nông nghiệp ở nông thôn nước ta là rất lớn, nếu được nhà nước quan tâm đầu tư đúng mức với những chính sách vĩ mô thích hợp, đặc biệt là chính sách tín dụng hợp lý, sẽ giúp cho nông hộ khai thác triệt để và phát huy hiệu quả sản xuất nông nghiệp
- Hoạt động tín dụng góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ vốn và tập trung vốn, tư liệu sản xuất, khoa học công nghệ để phát triển kinh tế nông thôn Trong nông thôn hiện nay, một số nông hộ khá đang giàu lên chiếm tỷ trọng ngày càng đáng kể, vì họ có trình độ sản xuất kinh doanh, tiếp thu được khoa học kỹ thuật, ngoài ra, họ có vốn là điều thiết yếu ban đầu cho quá trình sản xuất, nắm bắt nhanh nhạy thị trường Trong khi đó, những nông hộ có ít kinh nghiệm sản xuất, có quá ít ruộng đất so với nhu cầu, thiếu vốn trong sản xuất dẫn đến kinh doanh thua lỗ Vì thế, dòng vốn tín dụng ngân hàng đã giúp nông hộ giải quyết được khó khăn trong sản xuất kinh doanh, góp phần gia tăng thu nhập của cho nông hộ
- Tín dụng đã góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho nông dân tiếp thu khoa học mới vào sản xuất kinh doanh Trong điều kiện hiện nay, đời sống nông thôn còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu Chính vì lẽ đó, vốn đầu tư của ngân hàng không những tham gia vào quá
Trang 168
trình sản xuất bằng hình thức bổ sung vốn lưu động, mà còn là vốn đầu tư trung và dài hạn nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến cho quá trình sản xuất
- Tín dụng tạo điều kiện phát triển ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn Chính việc xây dựng các cơ sở vật chất, xây dựng các xí nghiệp chế biến nông sản đã thu hút một số lượng lớn lao động dư thừa trong nông thôn, tạo việc làm cho họ, góp phần tạo ra thu nhập cho gia đình, cải thiện đời sống
- Tín dụng góp phần đảm bảo hiệu quả xã hội, nâng cao cuộc sống tinh thần vật chất cho người nông dân Chính việc mở rộng cho các hộ nông dân vay vốn đã góp phần hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi, người nông dân đỡ
bị bóc lộc hơn và kết quả sau quá trình sản xuất người dân thực sự hưởng thành quả lao động của họ
2.1.1.3 Những khái niệm liên quan khác
Thu nhập của nông hộ
- Thu nhập của nông hộ là tổng thu nhập (chưa trừ đi chi phí) từ các hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp và phi nông nghiệp, bao gồm cả lương hưu, các khoản trợ cấp, bao gồm cả học bổng, tiền lương từ làm thuê, làm mướn và lãi
từ tiết kiệm
- Thu nhập từ nông nghiệp: chỉ lượng tiền mặt hoặc hiện vật mà các thành viên trong hộ thu được từ sản xuất nông nghiệp chẳng hạn như: nông sản, sản xuất lúa, hoa màu, chăn nuôi gia súc, gia cầm, hay nuôi trồng thủy sản…
- Thu nhập từ phi nông nghiệp: chỉ lượng tiền mặt hoặc hiện vật mà các thành viên trong hộ thu được từ các nguồn khác ngoài hoạt động sản xuất nông nghiệp như: làm các ngành nghề thủ công, buôn bán, tiền lương, tiền công từ làm thuê, làm mướn,…
- Thu nhập bình quân đầu người/năm: là tổng các nguồn thu nhập (chưa trừ chi phí) của hộ/năm chia đều cho các thành viên trong gia đình
Các yếu tố xã hội
- Nhân khẩu: là số thành viên trong cùng một hộ gia đình Họ cùng nhau sinh hoạt và làm việc, góp phần tạo ra thu nhập cho cả gia đình
- Tuổi: là chỉ số tuổi của các thành viên trong gia đình cũng như là chủ
hộ, được tính theo năm
Trang 179
- Trình độ học vấn: là chỉ số năm học mà chủ hộ với các thành viên trong
hộ đã hoàn thành Bên cạnh đó, trình độ học vấn cũng được hiểu là những kiến thức xã hội, kỹ năng, hay những kinh nghiệm những hiểu biết mà chủ hộ và các thành viên có được
Các yếu tố kinh tế
- Lao động: chỉ những người tham gia vào những hoạt động trong quá trình sản xuất, thể hiện theo ngày công lao động Ngoài ra, lao động là sự tiêu dùng của sức lao động trong hiện thực Lao động còn là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống xã hội
- Lao động trong độ tuổi: là những người trong độ tuổi lao động theo quy định của Luật lao động hiện hành có nghĩa vụ và quyền lợi đem sức lao động của mình ra làm việc Trong nghiên cứu này lao động trong độ tuổi là lao động
có tuổi đời từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ, 15 đến 60 tuổi đối với nam
- Lao động ngoài độ tuổi: là những người chưa đến hoặc đã ngoài độ tuổi lao động theo quy định của Luật lao động hiện hành nhưng thực tế vẫn còn khả năng lao động Trong nghiên cứu này lao động ngoài độ tuổi là lao động
có tuổi đời từ 15 đến 55 đối với nữ, từ 15 đến 60 đối với nam
- Hộ nghèo: là những nông hộ thiếu cơ hội để sống một cuộc sống tương ứng các tiêu chuẩn tối thiểu quy định Thước đo tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian Họ nghèo là những nông hộ được chính quyền bình xét, đánh giá, xếp vào danh sách nghèo (đã có hoặc chưa được cấp “ chứng nhận hộ nghèo”) của từng năm theo tiêu chuẩn nghèo tương ứng của Bộ Lao động thương binh – Xã hội hoặc chuẩn nghèo thực tế áp dụng tại địa phương
Chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 (Chỉ thị số 1752/CT-TTg ngày 21/9/2010 của Thủ tướng chính phủ) quy định:
- Khu vực nông thôn: hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống
- Khu vực thành thị: hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống
2.1.2 Vốn trong sản xuất của nông hộ
Vốn là của cải vật chất do con người tạo ra và tích lũy lại, là tài sản, là biểu hiện bằng phương tiện dùng vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích cuối
Trang 18- Vốn lưu động: là số vốn ứng trước về đối tượng lao động và tiền lương, sản phẩm đang chế tạo, thành phẩm hàng hóa tiền tệ,… Nó luân chuyển một lần vào giá trị sản phẩm cho đến khi nào nó chuyển thành tiền thì vốn lưu động hoàn thành một vòng luân chuyển Về mặt hiện vật thì vốn lưu động thay đổi hoàn toàn hình thái vật chất ban đầu sau quá trính sản xuất Vốn lưu động bao gồm: giống vật nuôi, cây trồng, vật tư nông nghiệp,…
2.1.3 Đặc điểm cơ bản trong cho vay của nông hộ
Do tính đặc thù của quá trình sản xuất nông nghiệp, nhu cầu vay vốn trong sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm sau:
Một là, số tiền vay không lớn nhưng số lượt hộ vay nhiều Do đa số nông
hộ là kinh tế tiểu nông, sản xuất nhỏ lẻ, sản xuất hàng hóa vẫn còn trong giai đoạn phát triển nên nhu cầu vay vốn của hộ dùng để sản xuất và chăn nuôi mang tính hộ gia đình Đây là đặc điểm cơ bản nhất trong cho vay đối với kinh
tế hộ
Hai là, cho vay theo thời vụ Tính thời vụ trong cho vay nông nghiệp
thường có liên quan đến chu kỳ sinh trưởng của cây trồng, giống vật nuôi và ngành nghề cụ thể mà các ngân hàng tham gia cho vay Vụ, mùa trong sản xuất nông nghiệp quyết định thời điểm cho vay và thu nợ của các TCTD Cũng như là chu kỳ sống tự nhiên của cây, động vật nuôi quyết định đến thời hạn cho vay
Ba là, môi trường tự nhiên có ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng trả
nợ của nông hộ Đối với khách hàng sản xuất - kinh doanh nông nghiệp nguồn trả nợ vay ngân hàng chủ yếu là tiền bán nông sản và các sản phẩm chế biến
có liên quan đến nông sản Như vây, sản lượng nông sản thu về là yếu tố quyết định đến khả năng trả nợ của nông hộ Tuy nhiên, sản lượng nông hộ còn chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố thiên nhiên (thời tiết, đất, nước,…) Và nhân
Trang 1911
tố con người (thị trường, giá nông sản,…) làm ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ của nông hộ
Bốn là, tài sản thế chấp chủ yếu là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Đây là loại tài sản phổ biến mà nông hộ sử dụng làm tài sản thế chấp khi tiến hành vay vốn ở ngân hàng
Năm là, chi phí tổ chức cho vay cao Chi phí cho vay có liên quan đến
nhiều yếu tố như chi phí tổ chức mạng lưới, chi phí cho việc thẩm định, theo dõi khách hàng/ món vay, chi phí phòng ngừa rủi ro và nhiều loại chi phí khác
Sáu là, đối tượng cho vay rất phong phú Do hoạt động sản xuất kinh
doanh của nông hộ ở rất nhiều ngành nghề và lĩnh vực khác nhau, nên đối tượng cho vay của ngân hàng rất phong phú và đa dạng, như cho vay trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản,… Nhờ vào đặc điểm này, các tổ chức tín dụng có thể phân phối rủi ro trong hoạt động tín dụng của mình
2.1.4 Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của tín dụng chính thức đến thu nhập của nông hộ
Như chúng ta đã biết, nông hộ là những hộ gia đình chuyên sản xuất sản phẩm ở lĩnh vực nông nghiệp Cũng như tất cả các ngành nghề khác, trong quá trình sản xuất nông nghiệp, nông hộ vẫn cần đến một lượng các yếu tố đầu vào nhất định như vốn, nguồn nhân lực, khoa học kỹ thuật,… Tất nhiên, chúng ta
có thể nhận thấy, vốn là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất của nông hộ Bên cạnh những nông hộ có thể đáp ứng đủ lượng vốn cho hoạt động sản xuất thì đại bộ phận họ lại thường xuyên thiếu vốn cho quá trình sản xuất của mình Một lượng vốn nhất định có thể giúp họ lựa chọn giống vật nuôi, cây trồng và rất nhiều yếu tố khác phù hợp với mô hình sản xuất của gia đình mình, nhằm mang lại thu nhập cao sau khi kết thúc một chu kỳ sản xuất Tuy nhiên, vấn đề mà chúng ta cần chú ý ở đây là nông hộ sẽ lựa chọn nguồn vốn đầu vào được cung cấp bởi tổ chức, cá nhân nào?
Ở phần trên, chúng ta đã tìm hiểu về các dòng vốn tín dụng bao gồm vốn tín dụng chính thức, phi chính thức và bán chính thức Khi đó, ta có thể dễ dàng nhận ra sự hiện diện của dòng vốn tín dụng chính thức là một trong những nguồn vốn mà đối tượng nông hộ có thể dễ dàng tiếp cận mà có mức phí sử dụng vốn rẻ nhất Đối với lượng vốn tín dụng chính thức mà nông hộ có được, nếu sử dụng một cách hợp lý, họ có thể thu mua các yếu tố khác như cây giống, con giống, có thể thuê mướn lao động, mua các loại phân bón, thuốc hóa học để quá trình sản xuất nông nghiệp được diễn ra thuận lợi và thu được nhiều lợi nhuận hơn khi kết thúc một chu kỳ sản xuất Một ví dụ có thể minh chứng cho hai cụm từ “thuận lợi” và “thu được nhiều lợi nhuận” mà tác giả đã
Trang 2012
sử dụng Khi đến thời điểm xuống giống đồng loạt của những nông hộ lân cận, nếu không có một lượng vốn nhất định thì nông hộ sẽ không thể mua được giống để gieo sạ đúng lịch thời vụ Khi đó, nếu nông hộ không thể vay vốn tín dụng chính thức sẽ dẫn đến một trong hệ quả tất yếu là nông hộ đó phải tìm cách vay mượn ở thị trường phi chính thức để có lượng vốn cần thiết cho hoạt động sản xuất, hoặc là nông hộ phải chịu xuống giống trễ và gây ra nhiều ảnh hưởng bất lợi về sau Việc này cũng tương tự như khi bón phân, phun thuốc hay thu hoạch, nếu để trễ về mặt thời gian thì năng suất của nông sản có thể bị giảm sút hoặc mất trắng hoàn toàn
Bên cạnh đó, đối với một nguồn vốn tín dụng chính thức đủ lớn, nông hộ
có thể đầu tư các loại máy móc tiên tiến phục vụ cho quá trình sản xuất (máy gặt đập liên hợp, máy cày, máy xới, xây dựng hầm biogas đối với những hộ chăn nuôi gia súc,…) để giảm bớt chi phí cũng như mang lại một nguồn thu lớn cho gia đình mình Thêm vào đó, nông hộ có thể cải tiến kỹ thuật nuôi trồng, cải tạo đất, chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng không còn phù hợp sang mô hình sản xuất mới mang lại nhiều nguồn thu cũng như lợi nhuận hơn cho nông hộ Chính vì những lý do đó, nguồn vốn tín dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập hàng năm của các nông hộ, lượng vốn này sẽ rất hữu ít đối với đời sống và hoạt động sản xuất của các hộ nông dân
Tuy nhiên, không phải nông hộ nào cũng có thể vay được vốn hoặc vay
đủ vốn như mong muốn Các tổ chức tín dụng chính thức cho rằng, nông hộ vay vốn ở nông thôn thường có rủi ro cao (hay tỷ lệ vỡ nợ cao) vì hoạt động nông nghiệp thường xảy ra những rủi ro bất khả kháng làm ảnh hưởng đến việc trả nợ của nông hộ như: mất mùa, thiên tai, dịch bệnh, thị trường nông sản bị mất giá,… Bên cạnh đó, môi trường vĩ mô cũng ảnh hưởng đến khả năng trả nợ đúng hẹn của người vay, gây ra rủi ro cho các tổ chức tín dụng Ví
dụ như, lạm phát của nền kinh tế biến động làm cho khả năng thẩm định người
đi vay bị sai lệch và điều này làm tăng rủi ro cho các tổ chức tín dụng
Để các tổ chức tín dụng có thể thẩm định một cách chính xác khả năng trả nợ của khách hàng và giảm thiểu rủi ro cho mình, họ thường yêu cầu thế chấp tài sản có giá trị lớn và tăng lãi suất cho vay để bù đắp rủi ro, Tuy nhiên, việc tăng lãi suất sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của tổ chức tín dung theo hướng đối nghịch Một mặt, sẽ làm tăng lợi nhuận của ngân hàng nếu các yếu
tố khác không đổi Mặt khác, lãi suất tăng lại có thể làm giảm lợi nhuận của
các tổ chức tín dụng do ảnh hưởng của sự chọn lựa sai lầm, một trong hai hệ quả tất yếu của thông tin bất đối xứng (Lê Khương Ninh và Cao Văn Hơn,
2013)
Trang 2113
Hiện tượng thông tin bất đối xứng giữa các tổ chức tín dụng và người đi vay có thể hiểu là, các tổ chức tín dụng không biết rõ người vay bằng chính bản thân họ nên khó kiểm soát được việc sử dụng tiền vay và sẽ gặp rủi ro khi cho vay (Lê Khương Ninh, 2011) Trong thực tế, các dự án có mức sinh lời càng cao thì rủi ro càng cao và ngược lại Với việc tăng lãi suất thì các dự án
có rủi ro thấp (ứng với mức sinh lời thấp) thì sẽ không được vay vốn vì họ sẽ không thể hoàn trả lãi vay sau khi dự án kết thúc Còn đối với những dự án có mức sinh lời cao sẽ được vay vốn từ các tổ chức tín dụng, vì những dự án này
có thể hoàn trả gốc và lãi đúng hạn khi dự án kết thúc Nhưng vấn đề cần chú
ý là, những dự án có mức sinh lời càng cao đồng nghĩa với việc rủi càng cao, điều này làm cho rủi ro của các tổ chức tín dụng tăng vì họ chỉ cho vay đối với những dự án có mức sinh lời cao Hiện tượng này được gọi là sự lựa chọn sai lầm từ phía người cho vay
Hệ quả thứ hai của hiện tượng thông tin bất đối xứng là động cơ lệch lạc
từ phía người đi vay Hệ quả này có thể hiểu như sau, việc gia tăng lãi suất sẽ làm cho những nông hộ thay đổi sự lựa chọn dự án đầu tư Lãi suất gia tăng sẽ gây thiệt hại nhiều hơn cho các dự án có rủi ro thấp nhưng có khả năng sinh lợi thấp so với các dự án có rủi ro cao nhưng có mức sinh lợi cao vì nếu lãi suất cao những dự án có khả năng sinh lời thấp dể bị rơi vào tình trạng lỗ và phá sản (Lê Khương Ninh và Cao Văn Hơn, 2013) Vì thế, họ sẽ có xu hướng
là đầu tư sang những dự án có mức sinh lời cao thay cho những dự án có mức sinh lời thấp nhằm đảm bảo mục tiêu lợi nhuận cũng như là trả lãi và gốc cho các tổ chức tín dụng khi đáo hạn Tuy nhiên, như đã biết, dự án có mức sinh lợi càng cao sẽ có rủi ro càng cao Đây chính là động cơ lệch lạc của người đi vay Hiên tượng này cũng làm tăng rủi ro nên giảm lợi nhuận của TCTD vì khi chuyển qua thực hiện dư án mới này, sự hiểu biết và kinh nghiệm của người đi vay bị hạn chế nên xác suất thành công ở dự án mới này thường là không cao
Cả hai hệ quả lựa chọn sai lầm của người cho vay và động cơ lệch lạc của người đi vay đều làm tăng rủi ro và giảm lợi nhuận của các TCTD Vì vậy, các tổ chức tín dụng chỉ tăng lãi suất đến chừng mực nào đó sao cho khoản lợi nhuận tăng do lãi suất lớn hơn khoản lợi nhuận giảm do tác động của chọn lựa sai lầm và động cơ lệch lạc và sau đó không cho vay thêm Việc tăng lãi suất các tổ chức tín dụng cần tính toán và xem xét kỹ lưỡng để có thể mang về lợi nhuận cao nhất cũng như là giảm thiểu rủi ro cho chính bản thân mình
Bên cạnh đó, khi khách hàng đến giao dịch với ngân hàng thì thường chịu những chi phí như là: chi phí đi lại, chi phí về thủ tục vay vốn, chi phí đảm bảo thực hiện hợp đồng, ngoài ra cũng có thể chịu chi phí bôi trơn (chi
Trang 2214
phí lót tay cho các cán bộ tín dụng) hợp đồng Tất cả các chi phí này được gọi
là chi phí giao dịch Chi phí giao dịch là chi phí cần thiết để tiến hành trôi
chảy các giao dịch kinh tế Để có thể giảm được tác động tiêu cực từ hiện tượng thông tin bất đối xứng, các tổ chức tín dụng thường áp dụng các quy trình, thủ tục vay rườm ra để có thời gian thêm thời gian thẩm định kỹ hơn trước khi quyết định cho vay Điều này, đã làm tăng chi phí giao dịch lên, vì thế sẽ gây ra tâm lý là khách hàng không muốn đến giao dịch với ngân hàng
Do vậy, các tổ chức tín dụng đã mất đi một lượng khách hàng và chắc chắn sẽ
là lợi nhuận của họ sẽ giảm sút
Vay được vốn từ các tổ chức tín dụng đã khó và sử dụng được lượng vốn này một cách hiệu quả càng khó khăn hơn Bởi việc sản xuất nông nghiệp thường chịu ảnh hưởng bởi sự biến động của thị trường, tác động không nhỏ đến giá cả nông sản mà nông hộ sản xuất ra, điều này làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng Bên cạnh đó, những yếu tố khách quan như: thiên tai, mất mùa, dịch bệnh,… gây ảnh hưởng không ít đến năng suất sản xuất nông sản, vì thế, cũng ảnh hưởng đến khả năng trả nợ đúng hạn cho tổ chức tín
dụng Vì những lý do đó, nên rủi ro trong sản xuất cũng là nhân tố gây ra việc
khó vay của nông hộ Rõ ràng, việc sản xuất nông nghiệp của nông hộ cả nước nói chung và ở Chợ Gạo nói riêng phải chịu rất nhiều rủi ro (trong sản xuất lẫn tiêu thụ), làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của họ Hiểu rõ được điều này, các tổ chức tín dụng buộc phải chọn lọn người vay kỹ lưỡng để đảm bảo thu hồi vốn cũng như là đảm bảo lợi nhuận
Các yếu tố thông tin bất đối xứng, chi phí giao dịch và rủi ro trong sản xuất đều ảnh hưởng đến khả năng vay vốn của nông hộ Vì thế, những nông hộ nào vay được vốn thì sử dụng lượng vốn vay này sao cho hợp lý, để cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho mình Thông qua các yếu tố được trình bày
ở phần trên và tham khảo một số nghiên cứu của các tác giả: Lê Khương Ninh
và Phạm Văn Hùng (2011), Lê Khương Ninh (2010), Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh (2011), Huỳnh Thị Đan Xuân và Mai Văn Nam (2011),… tác giả cũng thấy rằng các biến lượng tiền vay, tuổi, giới tính, trình độ học vấn của chủ hộ, số nhân khẩu, quen biết xã hội, diện tích đất nông nghiệp, số hoạt động tạo ra thu nhập, ngoài ra kinh nghiệm trồng lúa đã ít nhiều ảnh hưởng đến thu nhập của hộ tại vùng nghiên cứu
Lượng tiền vay: là lượng tiền mà nông hộ vay được từ các tổ chức tín
dụng chính thức Lượng tiền vay được dù thấp hay cao đều cũng có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ Do đó, tác giả sử dụng mô hình hồi quy (1) để kiểm định ảnh hưởng của tín dụng chính thức đối với thu nhâp của nông hộ Hệ số
Trang 2315
của β 1 được kỳ vọng là dương, có nghĩa khi nông hộ vay được càng nhiều vốn
từ các tổ chức tín dụng chính thức và sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay thì sẽ gia tăng được thu nhập của nông hộ
Tuổi của chủ hộ : đối với những chủ hộ có tuổi càng cao, uy tín trong xã
hội càng cao, có nhiều tài sản, nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, có ý thức trách nhiệm trong gia đình Vì vậy, những chủ hộ có tuổi cao hơn thường ít bị ảnh hưởng của hạn chế tín dụng và có thể vay với lượng tiền vay lớn hơn những chủ hộ có tuổi ít hơn (Lê Khương Ninh, 2011)
Giới tính của chủ hộ: là biến giả có trị số 1 nếu chủ hộ là nam và là 0
đối với chủ hộ là nữ Thông thường, nam sẽ có xu hướng vay nợ từ nguồn tín dụng chính thức nhiều hơn so với nữ vì nam thường có những mối quan hệ xã hội rộng rãi hơn nữ (Lê Khương Ninh và Phạm Văn Dương, 2011) Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào vùng văn hóa, khi mà nữ tham gia vào các đoàn thể thì có thể được tiếp cận tín dụng dễ dàng hơn nam
Trình độ học vấn của chủ hộ: có trị số 0 nếu trình độ dưới lớp 1, 1 đến
12 tương ứng lớp 1 đến 12 và 13, 14, 15, 16 tương ứng lần lượt là trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học Chủ hộ có trình độ học vấn cao thường biết cách hạch toán kinh tế hơn so với các chủ hộ có trình độ học vấn thấp Các chủ hộ có học vấn cao có thể am hiểu về các thủ tục khi vay vốn Bên cạnh đó, chủ hộ có trình độ học vấn cao thường đảm bảo được tài chính bản thân và nguồn chi trả cho tổ chức tín dụng chính thức Đó là lý do tại sao họ vay được nhiều vốn từ các tổ chức tín dụng hơn so với các hộ khác (Lê Khương Ninh và Cao Văn Hơn, 2013)
Số nhân khẩu: thể hiện số thành viên trong gia đình, không tính người
làm thuê Khi số thành viên trong gia đình nhiều thì điều kiện để cho các thành viên phát triển việc học sẽ khó, trong khi đó, diện tích đất canh tác có hạn nên khi số nhân khẩu trong gia đình lớn thì thu nhập bình quân sẽ giảm (Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh, 2011) Vì vậy, hệ số tương quan của biến này
kỳ vọng có giá trị âm
Quan biết xã hội: biến này có thể hiểu rằng, chủ hộ hay thành viên trong
gia đình, hay bạn bè là thương lái lúa gạo, cò lúa hay chủ cửa hàng vật tư nông nghiệp Bởi vì, những người này biết thông tin giá nông sản, giá vật tư nông nghiệp Khi nông hộ giữ tốt mối quan hệ này, nông hộ có thể mua vật tư với giá ưu đãi hơn, đồng thời cũng có thể bán nông sản với giá cao hơn các nông
hộ khác, điều này, góp phần giảm chi tiêu sản xuất, tăng thu nhập cho nông
Trang 2416
hộ Biến nhận giá trị là 1 khi gia đình có những mối quan hệ kể trên và nhận giá trị là 0 khi gia đình không có các mối quan hệ
Kinh nghiệm trồng lúa: biến này chỉ số năm trồng lúa của chủ hộ Khi
chủ hộ có số năm trồng lúa càng cao sẽ có thể nhận biết được các loại dịch bệnh gây hại cho nông sản, chọn được những giống lúa có thể giảm thiểu các loại dịch bệnh để gieo sạ, giảm được chi phí sản xuất Ngoài ra, kinh nghiệm lâu năm cũng giúp các nông hộ nắm bắt được thông tin thị trường, hiểu rõ được quy luật giá lúa, có thể hạn chế được rủi ro đầu ra Như vậy, với những chủ hộ có kinh nghiệm sản xuất thì ngân hàng sẽ an tâm hơn khi cho vay, do những hộ này sẽ sử dụng vốn đạt hiệu quả hơn và giảm thiểu được các rủi ro
khi sử dụng vốn
Diện tích đất nông nghiệp: thể hiện diện tích đất nông nghiệp của nông
hộ Đất là tất cả diện tích ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bao gồm đất thổ cư và đất canh tác nông nghiệp) Đối với những nông hộ có diện tích đất nông nghiệp lớn thì lượng vốn vay cũng được nhiều hơn những hộ có
ít đất hoặc không có đất (Huỳnh Thị Đan Xuân và Mai Văn Nam, 2011), nếu
sử dụng hợp lý nguồn vốn vay này sẽ tạo ra thu nhập càng nhiều và ngược lại
Số hoạt động tạo ra thu nhập: biến này chỉ số hoạt động của nông hộ
tạo ra thu nhập bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, kinh doanh, làm thuê, làm mướn,… Số hoạt động tạo ra thu nhập góp phần tạo sự ổn định trong thu nhập của nông hộ, giảm bớt rủi ro và các hoạt động có thể hỗ trợ lẫn nhau trong sinh kế của nông hộ (Bùi Văn Trịnh và Nguyễn Quốc Nghi, 2011)
2.1.5 Mô hình nghiên cứu
Dựa vào cơ sở lý thuyết trình bày như trên, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu cho thấy sự ảnh hưởng của tín dụng chính thức đến thu nhập của nông hộ như sau:
SOHD DIENTICHNN
KINHNGHIEM QUENBIETXH
SONHANKHAU
HOCVAN GIOITINH
TUOI AY
LUONGTIENV THUNHAP
9 8
7 6
5
4 3
2 1
Trong đó, THUNHAP là biến phụ thuộc, đó là thu nhập bình quân đầu
người của nông hộ Các biến còn lại là biến độc lập Ý nghĩa và dấu kỳ vọng của các biến độc lập trong mô hình (1) được trình bày qua bảng sau 2.1
(1)
Trang 2517
Bảng 2.1 : Tổng hợp các biến độc lập và dấu kỳ vọng trong mô hình
Luongtienvay Số tiền vay được từ các TCTD chính thức
+
Kinhnghiem Số năm trồng lúa của chủ hộ (năm) +
Dientichnn Diện tích đất nông nghiệp sở hữu của nông hộ
Nguồn : tự tổng hợp từ các nghiên cứu có liên quan
Trước khi ước lượng mô hình nghiên cứu (mô hình 1), tác giả tiến hành kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập Nếu không có hiện tượng đa công tuyến thì tác giả sẽ hồi quy mô hình nghiên cứu bằng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) Nếu có hiện tượng đa công tuyến, tác giả sẽ khắc phục hiện tượng này bằng phương pháp loại trừ từng biến độc lập có xảy
ra đa cộng tuyến và chọn ra mô hình tốt nhất
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.1.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang có 19 đơn vị hành chính, trong đó bao gồm 18 xã, 1 thị trấn Đề tài chọn ngẫu nhiên 4 xã có sản xuất nông nghiệp của huyện Chợ Gạo bao gồm các xã Lương Hoà Lạc, Tân Bình Thạnh, Trung Hòa và Thanh Bình để nghiên cứu, dựa vào những thông tin thu thập được tác giả tiến hành xử lý để suy rộng ra tình hình của toàn huyện
2.2.1.2 Phương pháp chọn mẫu
Số liệu được thu thập theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng
để đảm bảo ý nghĩa thống kê mẫu điều tra Đầu tiên, số liệu cần lấy ở huyện
Trang 2618
có 19 xã, thị trấn, tác giả chọn ra 4 xã ngẫu nhiên có sản xuất nông nghiệp ở trong huyện để xác định địa bàn của số liệu Sau đó, tác giả tiến hành thu nhập thông tin ngẫu nhiên các nông hộ trên địa bàn với tổng số lượng quan sát là 90 quan sát
2.2.1.3 Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp: các số liệu thứ cấp được sử dụng trong đề tài được thu
thập, tổng hợp từ các cấp chính quyền địa phương, các số liệu thống kê của huyện Chợ Gạo và các thông tin từ sách báo, trang web của huyện
- Số liệu sơ cấp: số liệu chính được sử dụng trong nghiên cứu là số liệu
sơ cấp được thu thập từ 90 quan sát trên địa bàn huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
- Mục tiêu 1: đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá
khái quát thị trường tín dụng chính thức trên địa bàn nghiên cứu
- Mục tiêu 2: đề tài sử dụng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) để
ước lượng mô hình (1) và phân tích ảnh hưởng của tín dụng chính thức đến thu nhập của nông hộ huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang
- Mục tiêu 3: tác giả căn cứ vào thực trạng vay vốn của nông hộ cũng
như là kết quả phân tích bằng mô hình và tham khảo các sách báo Từ đó, tác giả đề ra giải pháp nhằm tạo điều kiện cho nông hộ vay được nhiều vốn hơn và gia tăng thu nhập cho nông hộ
Trang 2719
CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG
3.1.1 Khái quát về địa bàn huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang
Ngày 22/03/1912, quận Chợ Gạo được thành lập thuộc tỉnh Mỹ Tho, có
2 tổng: Hòa Hảo (7 làng), Thạnh Phong (6 làng) Ngày 01/01/1928, quận Chợ Gạo nhận thêm tổng Thạnh Quơn (7 làng) từ quận Bến Tranh giải thể Quận lỵ Chợ Gạo đặt tại làng Bình Phan (tổng Hòa Hảo), vốn cũng là nơi đặt ngôi chợ
có tên là Chợ Gạo
Năm 1956, quận Chợ Gạo thuộc tỉnh Định Tường, các làng trở thành xã, trả tổng Thạnh Quơn về cho quận Bến Tranh quản lý Ngày 27/02/1964, dời quận lỵ từ xã Bình Phan tới xã Tân Thuận Bình Sau ngày 30/04/1975, Chợ Gạo trở thành huyện của tỉnh Tiền Giang Cuối năm 2004, huyện Chợ Gạo bao gồm 18 xã, 1 thị trấn
Ngày 26/09/2009, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số
28/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới huyện Châu Thành, huyện Chợ Gạo để mở rộng địa giới hành chính thành phố Mỹ Tho, điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thuộc thành phố Mỹ Tho, huyện Chợ Gạo, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, huyện Chợ Gạo còn lại 22.943,39 ha diện tích tự nhiên và 183.241 nhân khẩu, có 19 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm: thị trấn Chợ Gạo, và các xã: Quơn Long, Bình Phục Nhất, Bình Phan, An Thạnh Thủy, Bình Ninh, Hòa Định, Xuân Đông, Long Bình Điền, Song Bình, Đăng Hưng Phước, Tân Thuận Bình, Thanh Bình, Lương Hòa Lạc, Phú Kiết, Mỹ Tịnh An, Tân Bình Thạnh, Trung Hòa và Hòa Tịnh
Trang 2820
3.1.1.2 Vị trí địa lý và hành chính
Huyện Chợ Gạo là một trong bốn huyện phía Đông của Tỉnh Tiền Giang, cách thành phố Mỹ Tho – trung tâm tỉnh Tiền Giang 10km, thuộc hạ lưu sông Tiền với chiều dài đường sông 17km, chiều rộng trung bình của huyện từ Bắc đến Nam là 14km, chiều dài trung bình từ Đông sang Tây là 18km Ngoài ra, trên địa bàn huyện có hệ thống giao thông đường bộ liên thông các xã và có Quốc lộ 50 nối liền Quốc lộ 1 đi thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu, trao đổi hàng hóa Bên cạnh đó, Chợ Gạo có hệ thống giao thông thủy lớn với kênh Chợ Gạo nối liền sông Tiền với rạch Kỳ Hôn, chảy qua hướng Nam – Bắc từ Long
An về thành phố Hồ Chí Minh là cầu nối quan trọng cho việc vận chuyển vật
tư và trao đổi hàng hóa từ thành phố Hồ Chí Minh đi các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và ngược lại
Ranh giới hành chính được xác định như sau:
- Phía Đông giáp: huyện Gò Công Tây;
- Phía Tây giáp: huyện Châu Thành và thành phố Mỹ Tho;
- Phía Nam giáp: sông Tiền và tỉnh Bến Tre;
- Phía Bắc giáp: huyện Châu Thành và tỉnh Long An
3.1.1.3 Điều kiện tự nhiên
Diện tích tự nhiên của huyện Chợ Gạo tính đến năm 2013 là 23.139,5 ha; trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 19.421,1 ha chiếm 83,9% bao gồm: đất sản xuất nông nghiệp là 19.406,5 ha (chiếm 99,7%), đất nuôi trồng thủy sản là 51,6 ha (chiếm 0,27%), đất nông nghiệp khác là 8,4 ha (chiếm 0,03%); diện tích phi nông nghiệp là 3.733 ha bao gồm: đất ở, đất chuyên dùng, đất tôn giáo, tín ngưỡng,…
Chợ Gạo là huyện thuần nông, với khoảng 80% hộ là nông dân Gắn với việc sản xuất nông nghiệp, địa bàn huyện được chia làm 2 vùng gồm:
Vùng thuộc hệ ngọt hóa Gò Công bao gồm 7 đơn vị Vùng này chuyên sản xuất các loại lúa thơm phục vụ xuất khẩu, sản xuất rau màu và cũng là khu vực trồng tập trung các cây công nghiệp dừa với diện tích hơn 5.000 ha, ca cao khoảng 955 ha
Các xã thuộc hệ Bảo Định gồm 12 đơn vị, là vùng chuyên sản xuất nếp
bè khoảng 2.500 ha, trồng hoa màu và là vùng trồng cây ăn trái tập trung, trong đó có hơn 2.800 ha được bảo hộ xuất khẩu
Trang 2921
Khí hậu của huyện Chợ Gạo có tính chất nhiệt đới gió mùa nên nhiệt độ bình quân cao và nóng quanh năm với nhiệt độ trung bình cả năm là 28,10C Thời tiết trong năm của huyện Chợ Gạo có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa nắng kéo dài từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình từ 1200 - 1400mm/năm, phân bố ít dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông Độ ẩm trung bình là 80-85%
Huyện Chợ Gạo chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam Địa hình chung của huyện tương đối bằng phẳng với độ dốc là 1%, tuy nhiên lại có 1 số gò cao hơn so với địa hình chung như
xã Xuân Đông, Bình Phan, Bình Phục Nhất Chợ Gạo nằm trong vùng khí hậu chung của đồng bằng sông Cửu Long đó là nhiệt đới gió mùa với đặc điểm là nền nhiệt cao và ổn đinh quanh năm, ít xảy ra thiên tai như bão, lũ,… Ngoài ra với hệ thống sông ngòi chằng chịt thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp cũng như là lưu thông hàng hóa giữa các vùng
3.1.2 Tình hình kinh tế – xã hội
3.1.2.1 Kinh tế
Kinh tế của huyện chủ yếu là nông nghiệp với nghề trồng lúa nước Những năm gần đây, cơ cấu kinh tế của huyện đã chuyển biến tích cực, theo hướng giảm tỷ trọng các ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp dịch vụ Tốc độ tăng trưởng GDP của huyện trong năm 2013 là 7,5% , với thu nhập bình quân đầu người là 22,1 triệu đồng Cơ cấu kinh tế trong năm
2013 như sau: khu vực I (nông nghiệp và thủy sản) là 65,5%, khu vực II (công nghiệp – xây dựng) là 8,2% , khu vực III (dịch vụ – thương mại) là 26,3% Trong những năm qua, nhiều mô hình mới đem lại hiệu quả và lợi nhuận cao trong phát triển kinh tế như: cánh đồng mẫu lớn, hình thành những vùng chuyên canh nếp bè, mô hình vườn thanh long, Kết cấu hạ tầng nông thôn được quan tâm đầu tư đúng mức như hệ thống cầu Chợ Gạo mới nối liền thị trấn Chợ Gạo với các xã lân cận dễ dàng cho việc lưu thông hàng hóa cũng như là thuận lợi trong mời gọi các nhà đầu tư vào huyện
Ngoài ra, hệ thống giao thông trên địa bàn toàn huyện được đầu tư xây mới, nâng cấp ngày một tốt hơn Với 100% các xã trong huyện đều có đường
ô tô đến trung tâm xã, trên 80% các tuyến đường chính đã được nhựa hóa và trên 60% các tuyến đường do xã quản lý đều được nhựa hóa hoặc bê tông hóa Công tác cung cấp nước sạch, điện, thông tin liên lạc đáp ứng tốt như cầu sinh hoạt của nhân dân và phục vụ sản xuất
Trang 3022
Để thấy rõ hơn về cơ cấu các ngành kinh tế của huyện, ta lần lượt xem xét từng khu vực sau:
- Sản xuất nông nghiệp
Trong năm 2013, tình hình diễn biến thời tiết, dịch bệnh, giá cả vật tư nông nghiệp biến động liên tục làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của huyện Tuy nhiên, dưới sự tập trung chỉ đạo của chính quyền các cấp, các ngành và với những kinh nghiệm trong sản xuất, đức tính cần cù, chịu khó của những nông hộ huyện Chợ Gạo, đã góp phần làm cho hoạt động sản xuất nông nghiệp ngày càng ổn định và phát triển
Trong giai đoạn 2012-2013, tốc độ tăng trưởng của các ngành nghề trong khu vực nông nghiệp của huyện đều ở mức tương đối ổn định và vượt mức chỉ tiêu đề ra Cụ thể trong năm 2013, tốc độ tăng trưởng của khu vực nông nghiệp là 8,74%, giá trị nông nghiệp mang lại trong năm 2013 là 5.177.259,8 triệu đồng Cơ cấu ngành nông nghiệp của huyện Chợ Gạo chủ yếu bao gồm ngành trồng trọt và chăn nuôi Trong đó, tỷ trọng ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn nhất
Bảng 3.1: Giá trị và tỷ trọng các ngành trong khu vực nông nghiệp giai đoạn 2011 – 2013
Giá trị
Tỷ trọng (%)
Giá trị
Tỷ trọng (%)
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Chợ Gạo năm 2013
Theo thống kê của các ngành nông nghiệp huyện năm 2013, tổng diện tích trồng cây lương thực là 23.312,3 ha, giá trị thu nhập mang lại của việc trồng cây lương thực là 680.941 triệu đồng chiếm 20,2% trong tổng giá trị khu vực trồng trọt (giảm 12,57% so với cùng kỳ) Đối với các loại cây rau, đậu, hoa cây cảnh, diện tích trồng là hơn 9.241 ha, giá trị thu nhập mang lại của việc trồng các loại cây này rất cao là 1.476.420,4 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 43,81% trong tổng giá trị khu vực nông nghiệp Nhờ vào việc áp dụng các kỹ thuật hiện đại, sản xuất theo hướng chuyên canh, giá cả ổn định và ở mức khá
Trang 31Bảng 3.2: Giá trị mang lại của các loại cây trồng trong huyện Chợ Gạo trong giai đoạn 2011-2013
Cây lâu năm
Nguồn: niên giám thống kê huyện Chợ Gạo năm 2013
Trong khu vực các ngành chăn nuôi của huyện Chợ Gạo, các nông hộ chăn nuôi chủ yếu là gia cầm (chăn nuôi gà) Năm 2013, chăn nuôi gia súc, gia cầm tiếp tục được duy trì về số lượng và quy mô Tổng đàn gia cầm là 1.635.094 con, giảm 2,09% so với năm 2012, tổng đàn heo đạt 102.468 con, tăng 0,34% so năm 2012, tổng đàn bò là 38.835 con, tăng 5,39% so với cùng kỳ,
Giá trị mang lại của tổng đàn trâu, bò là 518.100,6 triệu đồng (chiếm 28,7% giá trị khu vực chăn nuôi), giá trị mang lại của đàn lợn là 633.449,5 triệu đồng (chiếm 35,1% giá trị khu vực chăn nuôi) Trong khi đó, giá trị mang lại từ gia cầm đạt 441.461,4 triệu đồng, chiếm 24,4% trong khu vực chăn nuôi (tăng 9,22% so với cùng kỳ) Để biết rõ hơn về giá trị mạng lại của việc chăn nuôi, ta xem xét bảng 3.3
Trang 3224
Bảng 3.3: Giá trị mang lại của ngành chăn nuôi trong huyện Chợ Gạo giai đoạn 2011-2013
ĐVT: triệu đồng
Nguồn: niên giám thống kê huyện Chợ Gạo năm 2013
- Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Đi cùng với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp cũng góp phần quan trọng làm cho kinh tế của huyện Chợ Gạo phát triển và vững mạnh Theo đánh giá của huyện, lĩnh vực này trong năm 2013 tiếp tục ổn định, giá trị mang lại của khu vực này năm 2013 là 668.861,0 triệu đồng (giảm 0,1% so với năm 2012) Trong đó, kinh tế tập thể chiếm 0,8% (giảm 14,29%), kinh tế tư nhân chiếm 18,8% (giảm 0,53%), kinh
tế cá thể 80,4% (bảng 3.4)
Trong năm 2013, toàn huyện có trên 900 cơ sở sản xuất kinh doanh, với hơn 3.800 lao động, trong đó, có 63 doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Các ngành nghề gia công (may mặc, đan lát,
bó chổi,…) và các ngành nghề chế biến thực phẩm có bước phát triển mạnh và tạo được thêm nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động
Hiện nay, huyện Chợ Gạo có cụm công nghiệp Tân Thuận Bình với diện tích hơn 50 ha bao gồm các ngành: công nghiệp chế biến các sản phẩm từ cây dừa, chế biến lương thực thực phẩm, sản phẩm may mặc công nghiệp Ngoài
ra, trên địa bàn huyện còn có một số công ty vốn đầu tư nước ngoài như: công
ty THHH MTV Wondo, công ty TNHH MTV Jacco Vina (Hàn Quốc),… đã tạo ra được thêm được nhiều việc làm cho lao động ở địa phương và các khu vực lân cận
Mục tiêu đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 của huyện là ngoài việc ổn định và phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng – an ninh, huyện sẽ tiếp tục mời gọi, thu hút đầu tư xây dựng hoàn thiện kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp Chợ Gạo và cụm công nghiệp Bình Ninh để khai thác, sử dụng tốt thương hiệu Thanh long, Nếp bè
Trang 33Hoạt động thương mại – dịch vụ vẫn tiếp tục ổn định và phát triển, chiếm
tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP của huyện Tổng mức bán lẻ hàng hóa năm 2013 là 1.913.142 triệu đồng tăng 3,6% so với năm 2012 Khối lượng hàng hóa bán ra ngày càng đa dạng, phong phú, nhiều loại hình kinh doanh mới được người dân đưa vào sử dụng và bước đầu tạo ra hiệu quả Trên toàn địa bàn huyện, có 95 doanh nghiệp hoạt động trong ngành thương mại và dịch
vụ, với số lao động mà các doanh nghiệp này thu hút là 577
Trong những năm qua, Chợ Gạo đã thu hút một số nhà đầu tư trong lĩnh vực nhà ở như khu dân cư Long Thạnh Hưng tại xã Long Bình Điền và thị trấn Chợ Gạo với tổng diện tích 23,6 ha Ngoài ra, huyện Chợ Gạo cũng đang xây dựng mới và đưa vào sử dụng chợ Điền Mỹ và chợ Bến Tranh, đang thực hiện tái định cư ở Lương Hòa Lạc
Ngoài ra, huyện Chợ Gạo cũng có tiềm năng phát triển ngành du lịch sinh thái gắn với du lịch sông nước, các di tích văn hóa, lịch sử (Khu di tích
Óc Eo, Đền thờ Thủ Khoa Huân,…), và du lịch nhà vườn Thanh Long (trái cây đặc sản ở địa phương)
Trang 3426
người/km2 Người dân trong huyện sinh sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, kinh doanh và buôn bán nhỏ,… Công tác tuyên tuyền, phổ biến kế hoạch hóa gia đình được nhiều người dân nhiệt tình hưởng ứng
Tỷ lệ giới tính nam/nữ trong dân số huyện khá đồng đều Năm 2013, số lượng nam giới của huyện là 86.683 người (chiếm 48,8%) và số lượng nữ giới
là 91.128 người (chiếm 51,2%) Nguồn lao động trong huyện khá dồi dào, chủ yếu là lao động trẻ, đã từng bước được đào tạo, nâng cao tay nghề, đủ khả năng đáp ứng cho nhu cầu của các nhà đầu tư với khoảng 115.921 lao động, bao gồm cả lao động kỹ thuật và cán bộ khoa học
Về giáo dục:
Chất lượng các mặt giáo dục tiếp tục được giữ vững và duy trì ở mức cao Toàn huyện có tất cả 39 trường học theo các cấp với tỷ lệ vận động học sinh đủ tuổi vào các cấp học là: bậc Tiểu học đạt 100%, bậc THCS đạt 99,2% (bỏ học 82 học sinh), có 100% học sinh lớp 5 được chứng nhận hoàn thành bậc tiểu học, 98,6% số học lớp 9 tốt nghiệp THCS
Về y tế:
Trên toàn huyện có 23 cơ sở y tế với hơn 185 giường bệnh Chất lượng khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế trong huyện tiếp tục nâng cao, công tác khám chữa bệnh cho người già và trẻ nhỏ dưới 6 tuổi được thực hiện đúng theo chính sách của nhà nước Ngoài ra, công tác tiêm chủng vắc-xin cho trẻ
em dưới 1 tuổi được thực hiện đầy đủ và theo chỉ thị của bộ y tế Trong năm
2013, số người nhiễm HIV của huyện giảm thiểu một cách rõ rệt nhưng vẫn còn ở tỷ lệ khá cao là 21 người (năm 2012 là 51 người)
Về văn hóa:
Bên cạnh đó, công tác xóa đói giảm nghèo cũng được thực hiện tốt Trong năm 2013, toàn huyện có 4,4% dân số thuộc hộ nghèo (thành thị 0,2%) giảm 1,5% dân số so với năm 2012 Hoạt động văn hóa, thể dục thể thao, phát
truyền thanh luôn được nâng cao Cụ thể, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây đời sống văn hóa” được quan tâm đầu tư đúng chất, toàn huyện có trên 98%
hộ gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa Các phong trào khác như: hội thể dục dưỡng sinh, bóng đá, bóng chuyền,… thu hút được nhiều đối tượng tham gia Cũng trong địa bàn huyện, đài truyền thanh được phát 2 lần/ngày nhằm phản ánh kịp thời các thông tin kinh tế xã hội trên địa bàn toàn huyện
Trang 35- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) là ngân hàng có vốn điều lệ lớn và 100% lượng vốn này thuộc sở hữu của nhà nước Ngân hàng được thành lập ngày 26/03/1988 và luôn giữ vai trong chủ đạo, trụ cột đối với nền kinh tế đất nước Với hơn 2.300 chi nhánh và phòng giao dịch rộng khắp trên toàn quốc, Agribank đã vươn tới các làng, xã nhằm tạo điều kiện cho các khách hàng ở mọi vùng đất nước dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Chợ Gạo là ngân hàng cấp 2 chịu sự quản lý trực tiếp của NHNo&PTNN chi nhánh Tiền Giang Trụ sở của NHNo&PTNN chi nhánh Chợ Gạo được đặt tại số 84 Ô 2, khu 1, thị trấn Chợ Gạo Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có một phòng giao dịch Bến Tranh đặt tại ấp Lương Phú A, xã Lương Hòa Lạc, phòng giao dịch này chịu sự quản lý của Ngân hàng chi nhánh Cấp 2 và giải quyết nhu cầu vay vốn cấp thiết cho 7 xã vùng trên của địa bàn huyện Chợ Gạo
Trong năm 2013, nguồn vốn huy động của NHNo&PTNT là 735.542 triệu đồng tăng 76.893 triệu đồng (tương đương tăng 11,67%) so với năm
2012 Trong đó, nguồn vốn huy động nội tệ chiếm khoảng 99,3% trong tổng nguồn vốn huy động Nguồn vốn huy động nội tệ chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm của dân cư Nguồn vốn huy động ngoại tệ chủ yếu là đồng USD, chiếm khoảng 0,7% vốn huy động
Tình hình sử dụng vốn của ngân hàng trong năm 2013 như sau: tổng dư
nợ cho vay là 594.823 triệu đồng, trong đó tổng dư nợ cho vay ngắn hạn là 483.542 triệu đồng tăng 69.275 triệu đồng (tăng 16,72%) so với cùng kỳ năm trước Tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn là 111.281 triệu đồng chiếm khoảng 18,71% tổng dư nợ cho vay, chủ yếu cho vay tập trung cho loại hình kinh tế cá thể Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Chợ Gạo và phòng giao dịch Bến Tranh luôn đi đầu trong huyện với vai trò cho vay