Dù dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn có xu hướng tăng nhưng nhìn chung vẫn còn thấp so với dư nợ cho vay đối với các lĩnh vực khác, nhiều hộ nông dân còn gặp khó khăn trong v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Trong suốt thời gian ngồi trên ghế giảng đường, tôi đã nhận được rất nhiều
sự quan tâm, giúp đỡ và hỗ trợ nhiệt tình từ thầy cô, bạn bè và gia đình Đó không chỉ là những kiến thức về chuyên môn mà còn những kinh nghiệm về thực tế cuộc sống
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể giảng viên trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể giảng viên Khoa Kinh tế & Quản trị kinh doanh đã cung cấp cho tôi những kiến thức về chuyên môn để tôi có thể hoàn thành khóa học của mình
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS.TS Lê Khương Ninh, người đã nhiệt tình giúp đỡ và hỗ trợ tôi khi tôi gặp khó khăn trong quá trình nghiên cứu Thầy đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu, thầy đã gửi đến tôi những lời nhận xét và góp ý chân thành để tôi có thể hoàn thành đề tài tốt nghiệp
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến các cô, chú, anh, chị và các gia đình trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập thông tin Tôi xin cảm ơn các cô, chú, anh, chị ở UBND huyện Vĩnh Thạnh và UBND các xã Thạnh Quới, Thạnh Lộc, Thạnh
An, Thạnh Lợi đã hết lòng giúp đỡ và trao cho tôi những thông tin quan trọng giúp tôi hoàn thiện bài nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình mình và bạn bè, những người
đã luôn đứng phía sau để khích lệ, động viên và luôn là chỗ dựa vững chắc cho tôi Gia đình luôn là nơi giúp tôi san sẻ những khó khăn và lúc nào cũng tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
Một lần nữa, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả Quý thầy, cô, các cô, chú, anh, chị, gia đình và bạn bè
Chân thành cảm ơn
Cần Thơ, Ngày 12 tháng 12 năm 2014
Người thực hiện
Hồ Phan Thương Tính
Trang 4TRANG CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Cần Thơ, ngày 12 tháng 12 năm 2014
Người thực hiện
Hồ Phan Thương Tính
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Chương 1: Giới thiệu 1
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Phạm vi không gian 3
1.3.2 Phạm vi thời gian 3
1.3.3 Phạm vi về đối tượng nghiên cứu 3
Chương 2: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
2.1 Phương pháp luận 4
2.1.1 Các khái niệm về nông thôn 4
2.1.2 Khái quát về tín dụng 5
2.1.3 Cấu trúc thị trường tín dụng ở nông thôn 8
2.1.4 Lược khảo tài liệu 10
2.1.5 Cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng chính thức đối với nông hộ 14
2.1.6 Mô hình nghiên cứu 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 21
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 21
Chương 3: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 22
3.1 Tổng quan về địa bàn huyện Vĩnh Thạnh – Thành phố Cần Thơ 22
3.1.1 Khái quát về địa bàn huyện Vĩnh Thạnh – Thành phố Cần Thơ 22
3.1.2 Những thành tựu nổi bật về kinh tế – xã hội 23
Trang 63.2 Các tổ chức tín dụng trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh – Thành phố Cần
Thơ 28
3.2.1 Tổ chức tín dụng chính thức 28
3.2.2 Tổ chức tín dụng bán chính thức 31
3.2.3 Tổ chức tín dụng phi chính thức 32
Chương 4: Thực trạng sản xuất và sử dụng vốn của nông hộ trên địa huyện Vĩnh Thạnh – Thành phố Cần Thơ 35
4.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp của nông hộ huyện Vĩnh Thạnh xét trên mẫu khảo sát 35
4.1.1 Thông tin chung về nông hộ 35
4.1.2 Thực trạng sản xuất nông nghiệp của nông hộ 42
4.2 Thực trạng vay vốn của nông hộ huyện Vĩnh Thạnh 47
4.2.1 Thực trạng vay vốn của nông hộ huyện Vĩnh Thạnh 47
4.2.2 Tình hình lượng vốn vay 48
4.2.3 Những thuận lợi và khó khăn của nông hộ khi vay vốn ở các tổ chức tín dụng chính thức 50
4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng chính thức đối với nông hộ ở huyện Vĩnh Thạnh – Thành phố Cần Thơ 52
4.3.1 Kết quả ước lượng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng chính thức 52
4.3.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng chính thức đối với nông hộ huyện Vĩnh Thạnh 53
Chương 5: Giải pháp khắc phục hạn chế tín dụng chính thức của nông hộ huyện Vĩnh Thạnh – Thành phố Cần Thơ 58
5.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 58
5.2 Giải pháp 58
Chương 6: Kết luận và kiến nghị 61
6.1 Kết luận 61
6.2 Kiến nghị 61
6.2.1 Đối với chính quyền địa phương 61
6.2.2 Đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn 62
Trang 7Tài liệu tham khảo 64 PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN 65 PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ CHẠY MÔ HÌNH HỒI QUY 70
Trang 8DANH MỤC BIỂU BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Tổng hợp các biến độc lập và dấu kỳ vọng trong mô hình 20 Bảng 3.1: Tình hình mua chịu vật tư nông nghiệp của nông hộ huyện Vĩnh Thạnh năm 2013 trong mẫu khảo sát 33 Bảng 4.1: Thống kê về nhân khẩu học của nông hộ huyện Vĩnh Thạnh trong mẫu khảo sát 35 Bảng 4.2: Thống kê về tình hình chung của nông hô huyện Vĩnh Thạnh trong mẫu khảo sát 37 Bảng 4.3: Tình hình các mối quan hệ của nông hộ huyện Vĩnh Thạnh trong mẫu khảo sát 40 Bảng 4.4: Tình hình sử dụng đất của nông hộ huyện Vĩnh Thạnh năm 2013 trong mẫu khảo sát 41 Bảng 4.5: Tình hình thu nhập của nông hộ huyện Vĩnh Thạnh năm 2013 trong mẫu khảo sát 42 Bảng 4.6: Thực trạng sản xuất lúa của nông hộ huyện Vĩnh Thạnh năm 2013 trong mẫu khảo sát 43 Bảng 4.7: Thống kê về phương thức bán lúa của nông hộ huyện Vĩnh Thạnh năm 2013 trong mẫu khảo sát 44 Bảng 4.8: Tình hình hỗ trợ thông tin của các tổ chức đến nông hộ huyện Vĩnh Thạnh trong mẫu khảo sát 45 Bảng 4.9: Thống kê các rủi ro thường gặp của nông hộ huyện Vĩnh Thạnh 46 Bảng 4.10: Thực trạng vay vốn của nông hộ huyện Vĩnh Thạnh năm 2013 trong mẫu khảo sát 47 Bảng 4.11: Hoạt động vay tín dụng của nông hộ huyện Vĩnh Thạnh năm 2013 trong mẫu khảo sát 48 Bảng 4.12: Thống kê lượng vốn vay của nông hộ huyện Vĩnh Thạnh năm 2013 trong mẫu khảo sát 49 Bảng 4.13: Mục đích sử dụng vốn của nông hộ huyện Vĩnh Thạnh năm 2013 trong mẫu khảo sát 50 Bảng 4.14: Kết quả hồi quy của mô hình 53
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Lượng vốn huy động và cho vay của NHNN&PTNN chi nhánh
huyện Vĩnh Thạnh giai đoạn 2011-2013 30
Trang 10UBND : Ủy ban nhân dân
VBA : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam WLS : Ước lượng bình phương bé nhất có trọng số
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Luồng gió hội nhập và đổi mới đã đặt ra cho nền kinh tế Việt Nam một thách thức không hề nhỏ, đó là phải phát triển nền kinh tế từng bước trở thành nền kinh tế hiện đại, tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch
vụ Với mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, điều này đòi hỏi Việt Nam cần tiến hành quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách tích cực và rõ nét hơn, với việc tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng các ngành nông nghiệp Tuy nhiên, với một nước thuần nông với hơn 2/3 dân số làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, nông nghiệp luôn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh
tế và đảm bảo an ninh lương thực như nước ta thì việc hoàn thành mục tiêu là rất khó Do đó, Nhà nước luôn rất quan tâm đến các vấn đề liên quan đến phát triển nông nghiệp bền vững thông qua việc ban hành các chính sách nhằm hỗ trợ và phát triển sản xuất nông nghiệp như Nghị định số 14/1993/NĐ-CP ngày 2/3/1993 về chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển Nông-lâm-ngư-diêm nghiệp và kinh tế nông thôn và Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn Nhờ vậy, hoạt động sản xuất nông nghiệp trong thời gian qua đã có những phát triển đáng kể, theo Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước), đến cuối tháng 4/2014, dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (không bao gồm của Ngân hàng Chính sách xã hội) ước đạt 685.426 tỷ đồng, tăng 2% so với cuối 2013, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng chung 0,62%; nợ xấu chỉ chiếm 2,83% Dù dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn có xu hướng tăng nhưng nhìn chung vẫn còn thấp so với dư nợ cho vay đối với các lĩnh vực khác, nhiều hộ nông dân còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận với hệ thống tín dụng chính thức phải tiếp cận với hệ thống tín dụng phi chính thức để đáp ứng nhu cầu sản xuất ngày càng cao và hiện đại
Là một huyện trực thuộc thành phố Cần Thơ, Vĩnh Thạnh được thành lập theo Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 2-1-2004 của Chính phủ Đây là một trong những nơi có diện tích đất nông nghiệp lớn, thu nhập của người dân chủ yếu là nguồn thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp Trong 10 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện nhà, tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện luôn duy trì ở 2 con số (từ 10,52% đến 15,67% /năm), thu nhập bình quân đầu
Trang 12người là 22,4 triệu đồng/người/năm tương đương 1.057 USD, tăng 17,803 triệu đồng/người/năm so với năm 2004 Mức sống của người dân ngày càng được cải thiện, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo đúng hướng giảm tỷ trọng khu vực nông, lâm, ngư nghiệp, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và thương mại dịch vụ
Để có thể đạt được các kết quả như trên là nhờ vào sự hỗ trợ kịp thời từ các nguồn vốn đầu tư và đặc biệt là sự hỗ trợ của các tổ chức tín dụng (TCTD) chính thức, song việc đầu tư cấp các khoản tín dụng chính thức cho nông hộ ở đây vẫn chưa tương xứng với thế mạnh, tiềm năng và lợi thế sẵn có của địa bàn Nhiều hộ gia đình vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng chính thức, việc thiếu vốn đầu tư là nguyên nhân làm cho thu nhập của người dân còn thấp và chưa phát huy hết tiềm lực phát triển của huyện Vậy, nông hộ đã sử dụng vốn từ đâu để đầu tư vào sản xuất? Các yếu
tố nào đã ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng chính thức của nông hộ tại đây?
Xuất phát từ những vấn đề trên, đề tài: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng chính thức đối với nông hộ ở huyện Vĩnh Thạnh thành phố Cần Thơ” đã được tôi chọn và thực hiện nhằm đề ra giải pháp giúp nông
hộ tiếp cận tín dụng chính thức một cách dễ dàng hơn, góp phần vào việc thúc đẩy kinh tế – xã hội của huyện phát triển bền vững
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Đề tài phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng chính thức đối với nông hộ ở huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ từ đó đề xuất giải pháp giúp cho nông hộ có thể tiếp cận tín dụng chính thức một cách dễ dàng hơn
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Mục tiêu 1: Tìm hiểu khái quát về thị trường tín dụng chính thức tại địa
bàn huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ
- Mục tiêu 2: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng chính
thức đối với nông hộ ở huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ
- Mục tiêu 3: Đề xuất giải pháp nhằm tạo điều kiện cho nông hộ ở huyện
Vĩnh Thạnh tiếp cận với nguồn tín dụng chính thức
Trang 131.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Phạm vi không gian
Đề tài phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng chính thức đối với nông hộ được thực hiện trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ
1.3.3 Phạm vi về đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nông hộ có nhu cầu vay vốn chính thức tại các TCTD trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ
Trang 14CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Nông hộ: Nông hộ là hộ gia đình mà hoạt động sản xuất chủ yếu của
họ là nông nghiệp, ngoài các hoạt động sản xuất nông nghiệp, nông hộ còn có thể tiến hành thêm các hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ
- Kinh tế nông hộ: Kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê)
và mục đích của loại hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình (không phải mục đích chính là sản xuất hàng hoá để bán)
2.1.1.2 Phân loại nông hộ
- Theo quy mô
+ Quy mô trang trại: là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô
và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản Trang trại gia đình là một hình thức tổ chức sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ tự chủ trong cơ chế thị trường mang tính chất sản xuất hàng hoá rõ rệt Các trang trại gia đình sản xuất hàng hoá chỉ có thể được thực hiện khi ruộng đất, tiền vốn, tư liệu sản xuất được tập trung tới quy mô đủ lớn, đồng thời lực lượng lao động không chỉ là các thành viên trong gia đình mà còn thuê mướn thêm lao động
+ Quy mô cá thể: là do một cá nhân làm chủ, kinh doanh tại một địa điểm cố định, không thường xuyên thuê lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh
Trang 15+ Quy mô hợp tác xã: là một số hộ gia đình liên kết lại cùng nhau góp vốn và tài sản để sản xuất, cùng nhau góp công sức và trang thiết bị để sản xuất, cùng sản xuất một sản phẩm và sản xuất cùng thời vụ với nhau Phần lớn hợp tác xã thường thực hiện chức năng chính là đầu mối yếu tố đầu vào của sản xuất và đầu ra của sản phẩm, các hộ thành viên tự sản xuất vẫn là chính
- Theo phương thức sản xuất
+ Nông hộ chuyên sản xuất trồng trọt
+ Nông hộ chuyên sản xuất chăn nuôi
+ Nông hộ sản xuất vừa trồng trọt vừa chăn nuôi
- Theo tính chất sản xuất
+ Hộ thuần nông: là hộ gia đình chỉ thuần túy sản xuất nông nghiệp + Nông hộ kiêm: là hộ gia đình vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ công nghiệp
+ Nông hộ chuyên: là hộ gia đình làm dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp (cơ khí, rèn, sản xuất vật liệu xây dựng), loại hộ trên không ổn định mà
có thể thay đổi khi điều kiện cho phép
- Theo mức thu nhập của hộ
+ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống
+ Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng
2.1.2 Khái quát về tín dụng
2.1.2.1 Khái niệm
Tín dụng là một hoạt động ra đời và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của sản xuất hàng hóa Tín dụng là một quan hệ kinh tế thể hiện dưới hình thức vay mượn và có hoàn trả Ngày nay, tín dụng được hiểu theo các định nghĩa sau:
- Tín dụng là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định
- Tín dụng là phạm trù kinh tế, phản ánh quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế hàng hóa
Trang 16- Tín dụng là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (người cho vay) cấp tiền, hàng hóa, dịch vụ, chứng khoán,… dựa vào lời hứa thanh toán lại trong tương lai của bên kia (người đi vay)
Từ những khái niệm trên, tín dụng chung quy lại là những hành động thống nhất: hoạt động cho vay và đi vay và quan hệ này được ràng buộc trên
cơ sở pháp luật hiện hành
2.1.2.2 Nguyên tắc tín dụng
Trong việc cấp tín dụng các ngân hàng bao giờ cũng đặt ra các nguyên tắc để buộc khách hàng tuân theo nhằm đảm bảo sử dụng vốn đúng theo kế hoạch được thỏa thuận với ngân hàng và đồng vốn bỏ ra sẽ mang lại hiệu quả cho cả người đi vay và chính bản thân ngân hàng
Hiện nay ở Việt Nam, ngân hàng đặt ra các nguyên tắc sau:
- Tiền vay phải được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng Theo nguyên tắc này, tiền vay phải được sử dụng theo đúng mục đích mà người đi vay thỏa thuận với ngân hàng và ngân hàng đã đồng ý
- Tiền vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng Theo nguyên tắc này, người đi vay phải chủ động trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn
2.1.2.3 Phân loại tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng hoạt động đa dạng và phong phú Tùy tiêu thức phân loại mà tín dụng được phân thành nhiều loại khác nhau
a) Căn cứ vào thời hạn tín dụng
Căn cứ vào thời hạn tín dụng, tín dụng được phân thành ba loại:
- Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm và thường được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động và phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân
- Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1–5 năm, được cung cấp để mua sắm tài sản cố định, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ thời gian thu hồi vốn nhanh
- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, loại tín dụng này được sử dụng để cung cấp vốn xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn
b) Căn cứ vào đối tượng tín dụng
Tín dụng được chia thành 2 loại, khi căn cứ vào đối tượng tín dụng, gồm:
Trang 17- Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được sử dụng để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế, dùng để bù đắp những thiếu hụt tạm thời của vốn lưu động gồm cho vay dự trữ hàng hóa, cho vay chi phí sản xuất và cho vay để thanh toán các khoản nợ
- Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng để hình thành tài sản cố định, thời hạn vay là trung hạn và dài hạn
c) Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, tín dụng chia thành 2 loại:
- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: là loại tín dụng cấp cho các doanh nghiệp và chủ thể kinh tế để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hóa
- Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cấp cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua nhà, mua xe và cả những nhu cầu hằng ngày Tín dụng tiêu dùng có thể cấp phát dưới hình thức bằng tiền hoặc dưới hình thức bán chịu hàng hóa
d) Căn cứ vào chủ thể trong quan hệ tín dụng
Căn cứ vào tiêu thức này, tín dụng được chia thành 3 loại:
- Tín dụng thương mại: là loại tín dụng giữa các doanh nghiệp được biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa
- Tín dụng ngân hàng: là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các TCTD khác với các doanh nghiệp và cá nhân
- Tín dụng nhà nước: là loại tín dụng trong đó Nhà nước là người đi vay
e) Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Tín dụng được phân thành 2 loại theo tiêu thức này, gồm:
- Tín dụng không có đảm bảo: còn gọi là tín dụng tín chấp Đây là loại hình tín dụng sử dụng uy tín của người đi vay hoặc người đại diện đảm bảo bằng thương hiệu và uy tín của cá nhân hay tổ chức của họ về khoản nợ vay
- Tín dụng có đảm bảo: còn gọi là tín dụng thế chấp Đây là loại hình tín dụng phổ biến hiện nay và áp dụng rộng rãi, theo đó người đi vay phải đảm bảo cho khoản vay của họ bằng tài sản hoặc được người khác bảo lãnh trả nợ thay trong trường hợp không trả được nợ
2.1.2.4 Vai trò của tín dụng nông nghiệp
Trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn, tín dụng đóng vai trò rất quan trọng:
Trang 18- Góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm mang lại thu nhập cao trong sản xuất nông nghiệp
- Góp phần xóa bỏ nạn cho vay nặng lãi ở nông nghiệp, nông thôn
- Cung cấp nhu cầu vốn cho nông hộ trong quá trình sản xuất nông nghiệp, đảm bảo cho người dân có thể tiếp cận với các thành tựu khoa học công nghệ và áp dụng những kỹ thuật vào sản xuất
- Góp phần tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống của người dân, xóa bỏ khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn
2.1.3 Cấu trúc thị trường tín dụng ở nông thôn
Thị trường tín dụng ở nông thôn bao gồm 3 bộ phận Một là khu vực tín dụng chính thức là hình thức tín dụng hợp pháp được sự quản lý của nhà nước với một số tổ chức như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách Xã hội và các ngân hàng thương mại,… và chịu sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước Hai là khu vực tín dụng bán chính thức với sự tham gia của các tổ chức quần chúng như các chương trình tín dụng vi mô, các tổ chức hùn vốn liên kết tại địa phương Ba là khu vực phi chính thức là loại hình tín dụng không chịu sự quản lý của TCTD chính thức nào cũng như không chịu sự ràng buộc nào về yếu tố pháp luật Đặc trưng của loại hình này là các giao dịch vay mượn từ gia đình, người thân, bạn bè và hình thức chơi hụi,…
2.1.3.1 Khu vực tín dụng chính thức
Ngân hàng NN&PTNT là ngân hàng thương mại với vốn của Nhà nước, nhiệm vụ chủ yếu của ngân hàng này là hỗ trợ vốn cho người dân sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao
Ngân hàng chính sách xã hội không huy động tiết kiệm, mà chủ yếu dựa vào chính phủ và các Ngân hàng quốc doanh để có nguồn vốn cho vay
Quỹ tín dụng nhân dân (Quỹ TDND) là hình thức hợp tác xã tiết kiệm
và tín dụng cấp xã, quỹ TDND vừa cho vay, vừa nhận tiền gửi của cả xã viên lẫn những người không phải xã viên Các khoản vay nhỏ không cần thế chấp bằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay tài sản khác Kỳ hạn cho vay thường dưới 12 tháng, lãi suất cho vay tối đa là 8%/năm đối với một số lĩnh vực ưu tiên và lãi suất tiền gửi tối đa là 6%/năm do Ngân hàng Nhà nước ấn định và thường cao hơn lãi suất của NHNN&PTNT và NHCSXH Hệ thống quỹ tín dụng có ba cấp: Quỹ tín dụng địa phương, quỹ tín dụng vùng, và quỹ tín dụng Trung ương
Trang 19Ngân hàng thương mại: Các ngân hàng này tập trung cho vay đối với những nông hộ có điều kiện kinh tế ổn định, có khả năng trả nợ cao và người buôn bán hay tiểu thương ở địa phương
2.1.3.2 Khu vực tín dụng bán chính thức
Khu vực bán chính thức góp phần quan trọng trong việc đưa nguồn vốn của nhà nước đến với người nông dân, mạng lưới trải rộng cả bốn cấp hành chính (trung ương, tỉnh thành, quận huyện và phường xã), các tổ chức quần chúng đóng vai trò đặc biệt trong việc đem tín dụng đến tận người dân cơ sở
Các tổ chức này hỗ trợ Chính phủ trong việc cho vay theo những chương trình nhà nước, ví dụ như chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo, chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc, chương trình giải quyết việc làm, chương trình xây dựng nông thôn mới Ngoài ra các tổ chức này được xem là người môi giới giữa NHNN&PTNT hay NHCSXH và người đi vay
Họ cũng hỗ trợ Ủy ban nhân dân địa phương thành lập những nhóm cùng chịu trách nhiệm để bảo lãnh cho các khoản vay ở cấp xã
2.1.3.3 Khu vực tín dụng phi chính thức
Khu vực tài chính phi chính thức chiếm một mảng lớn trong tín dụng nông thôn ở Việt Nam, tín dụng nông thôn của khu vực phi chính thức xuất phát từ những nguồn như vay mượn từ gia đình, bà con, bạn bè và láng giềng Thông thường, tiền mượn từ gia đình và thân nhân không phải trả lãi, nhờ tập quán xã hội Việt Nam khuyến khích việc giúp đỡ nhau; Các khoản vay từ bạn
bè hay láng giềng sẽ có lãi suất thỏa thuận tùy theo quan hệ xã hội, uy tín của người vay, kỳ hạn vay, lãi suất hàng năm có thể xê dịch rất lớn, từ không tính lãi đến lãi hơn 100%
Có vài lý do giải thích tại sao khu vực phi chính thức vẫn còn là nguồn tín dụng quan trọng đối với nông hộ Thứ nhất, cầu vượt cung tín dụng chính thức: Các ngân hàng thương mại cũng như các chương trình tín dụng chính thức chưa đủ khả năng đáp ứng hết các nhu cầu vay vốn rất cụ thể của các nông hộ Thứ hai, các cơ chế cho vay của các tổ chức chính thức vẫn còn nhiều ràng buộc khiến cho những đối tượng nghèo nhất không tiếp cận được với nguồn tín dụng chính thức Do vậy, có thể một phần của tín dụng chính thức đến với người đi vay cuối cùng lại qua con đường phi chính thức: những người có thể vay được từ các tổ chức chính thức sẽ đem số tiền đó cho những người không vay được tiền ở các TCTD chính thức vay lại với lãi suất cao hơn Thứ ba (đây là lý do thường thấy qua kinh nghiệm các nước khác), trình
độ dân trí ở nông thôn còn thấp, nhất là ở vùng sâu, vùng xa nên người dân
Trang 20còn tâm lý e ngại giao dịch với ngân hàng, trong khi đó một số TCTD chính thức vẫn chưa tìm ra cách thích hợp để đem vốn đến với nông hộ
2.1.4 Lƣợc khảo tài liệu
Trong những năm gần đây, nhận thức được vai trò tín dụng trong đời sống và sản xuất của nông dân, nhiều tác giả đã quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng cũng như nhu cầu về vốn của nông hộ,
có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề tiếp cận tín dụng chính thức đối với nông hộ Hầu hết các bài nghiên cứu đều có một số điểm chung như sau:
về phương pháp, các mô hình đều được xây dựng dựa trên giả thuyết về thị trường tín dụng có sự xuất hiện của hiện tượng thông tin bất đối xứng (hay thị trường tín dụng không hoàn hảo)
Để ước lượng nhu cầu tín dụng của nông hộ, các mô hình Tobit và Logistic đều được các tác giả sử dụng còn mô hình Probit thường được sử dụng để phân tích khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ Về các yếu tố được đưa vào mô hình, các yếu tố về đặc điểm của chủ hộ và hộ gia đình là những yếu tố không thể thiếu trong mô hình ước lượng nhu cầu tín dụng và khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ, theo kết quả nghiên cứu các biến độc lập về trình độ học vấn, địa vị xã hội, giá trị tài sản, khoảng các từ nhà nông hộ đến TCTD gần nhất đều ảnh hưởng đến biến phụ thuộc trong mô hình
Nghiên cứu của Lê Khương Ninh và Cao Văn Hơn (2013) dựa trên cơ sở
hệ thống dữ liệu sơ cấp thu thập từ 513 nông hộ được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng ở An Giang Kết quả phân tích qua mô hình Tobit cho thấy những yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng đối với nông hộ ở địa bàn nghiên cứu là: số lần vay tín dụng chính thức, số lần sai hẹn, giá trị đất nông nghiệp, khoảng cách địa lý từ nơi ở của nông hộ đến TCTD, địa vị xã hội và trình độ học vấn của chủ hộ
Cụ thể, biến số lần vay có hệ số dương ở mức ý nghĩa 1%, nghĩa là những nông hộ đã từng vay ở các TCTD chính thức sẽ được cho vay với tỷ lệ cao hơn hay ít bị hạn chế tín dụng; biến số lần sai hẹn có hệ số âm ở mức ý nghĩa 1%, điều này có nghĩa là TCTD nào cũng muốn thu hồi cả vốn lẫn lãi đúng hạn nên sẽ từ chối cho vay đối với những người hay sai hẹn hay không đảm bảo uy tín trong trả nợ; giá trị đất nông nghiệp có hệ số dương ở mức ý nghĩa 1%, nông hộ càng có nhiều đất nông nghiệp thì sẽ vay được với tỷ lệ vay càng cao; nếu nông hộ có địa vị xã hội thì TCTD sẽ tăng tỷ lệ cho vay nên biến địa vị xã hội của nghiên cứu này có ý nghĩa ở mức 5% với hệ số dương; bên cạnh đó, khoảng cách địa lý từ nơi ở của nông hộ đến TCTD cũng có ý nghĩa thống kê ở mức 1% với hệ số âm, điều này cho thấy nông hộ ở càng xa
Trang 21TCTD thì tỷ lệ cho vay càng thấp; biến trình độ học vấn cũng ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng, biến này có hệ số dương ở mức ý nghĩa 1%, ngụ ý rằng, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, chủ hộ có trình độ học vấn càng cao thì sẽ vay được càng nhiều hay ít bị hạn chế tín dụng
Nghiên cứu của Phan Đình Khôi (2013) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức và phi chính thức của nông hộ ở đồng bằng sông Cửu Long, kết quả cho thấy sở hữu đất đai, lãi suất phi chính thức và thời hạn cho vay phi chính thức là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khoản vay phi chính thức, các yếu tố này trong mô hình đều có ý nghĩa ở mức 1% và đều thể hiện mối tương quan thuận với số tiền vay phi chính thức
Cụ thể, những hộ có đất mượn được nhiều hơn 31,5% số tiền vay từ nguồn tín dụng phi chính thức so với hộ không có đất, vì đất đai được coi như
là một tài sản thế chấp Mối tương quan thuận giữa lãi suất và số tiền vay phi chính thức, tuy có mâu thuẫn với các lý thuyết truyền thống về tín dụng phi chính thức nhưng một phần ủng hộ quan điểm độc quyền cung tín dụng phi chính thức, bởi thị trường tín dụng nông thôn là khá phân đoạn và tốn nhiều chi phí cơ hội để có một khoản vay chính thức nên việc có được một số tiền vay phi chính thức lớn với lãi suất tương đối cao là sự lựa chọn duy nhất của người đi vay Bên cạnh đó, kết quả còn cho thấy nông hộ khá quan tâm đến sự linh hoạt của thời hạn vay phi chính thức, bởi khoản vay phi chính thức là một hợp đồng linh hoạt, người vay có thể chấm dứt hoặc gia hạn thời gian vay theo khả năng trả nợ của họ
Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng vi mô bao gồm làm việc cho chính quyền địa phương, thành viên tổ vay vốn, sổ hộ nghèo và đường giao thông liên xã Cụ thể, làm việc cho chính quyền địa phương có mối tương quan thuận, nó cho thấy làm việc hành chính ở địa phương là một đóng góp quan trọng cho các hộ gia đình nông thôn tiếp cận với tín dụng vi
mô Điều này là do các hộ gia đình có người thân làm nhân viên nhà nước ở địa phương có nhiều thông tin về các chương trình tín dụng vi mô hơn so với các hộ gia đình khác Nếu một hộ gia đình là một thành viên của một tổ vay vốn trong xã, hộ này có 11,9% khả năng được vay từ chương trình tín dụng vi
mô, kết quả cho thấy rằng chiến lược cho vay thông qua các tổ vay vốn dường như phát huy thế mạnh tại Việt Nam Sổ hộ nghèo tương quan thuận và có mức ý nghĩa 1%, điều này cho thấy rằng các hộ gia đình nghèo được chứng nhận có 20,1% khả năng tiếp cận tín dụng vi mô, kết quả này còn cho thấy sự phù hợp của Chương trình giảm nghèo Quốc gia nhằm mục tiêu đảm bảo tiếp cận cộng đồng của các chương trình tín dụng vi mô cho nông hộ Hệ số đường giao thông liên xã mang dấu dương ngụ ý rằng các xã có đường giao thông
Trang 22liên xã có 23,5% khả năng tiếp cận tín dụng vi mô hơn các hộ khác, điều này khẳng định sự kém phát triển của cơ sở hạ tầng góp phần đáng kể đến hạn chế khả năng tiếp cận vốn của hộ
Nghiên cứu của Trần Ái Kết và Huỳnh Trung Thời (2013) trên địa bàn tỉnh An Giang thông qua mẫu số liệu có 150 quan sát, mô hình hồi quy Logit
và OLS được sử dụng để ước lượng ảnh hưởng của các biến độc lập đến biến phụ thuộc dựa trên các thông tin đặc trưng của hộ và các nhân tố ngoại sinh khác Kết quả phân tích hồi qui mô hình Logit cho biết khả năng bị giới hạn tín dụng của hộ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: trình độ học vấn, nghề nghiệp của chủ hộ, diện tích đất thổ cư, giá trị tài sản của hộ và sử dụng tín dụng thương mại
Trình độ học vấn của chủ hộ có tác động nghịch tới khả năng bị hạn chế
tín dụng của hộ;nghề nghiệp của chủ hộ cũng ảnh hưởng tới khả năng bị hạn chế tín dụng của họ, chủ hộ có nghề nghiệp với thu nhập ổn định (kinh doanh, viên chức) có khả năng bị hạn chế tín dụng thấp hơn hộ thuần túy sản xuất nông nghiệp;giá trị tài sản của hộ là yếu tố có tác động nghịch tới khả năng bị hạn chế tín dụng của nông hộ; sử dụng tín dụng thương mại (tín dụng không chính thức) là yếu tố có ảnh hưởng thuận tới khả năng bị hạn chế tín dụng của
hộ, kết quả nghiên cứu phù hợp với quan điểm về sự thay thế giữa tín dụng ngân hàng với tín dụng thương mại: nông hộ bị giới hạn tín dụng ngân hàng thường thay thế bằng tín dụng thương mại; diện tích đất thổ cư thuộc quyền sử dụng của hộ có tác động nghịch tới khả năng hạn chế tín dụng của hộ, vì đất thổ cư thường được các tổ chức tín dụng chấp nhận là tài sản thế chấp khi cho vay, đất thổ cư thường có giá trị lớn hơn đất sản xuất nên hộ gia đình có diện tích đất thổ cư lớn hơn sẽ có khả năng tiếp cận tín dụng chính thức cao hơn Ngoài ra, phân tích hồi quy đa biến (OLS) cho biết lượng vốn tín dụng chính thức bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: quan hệ xã hội của chủ hộ, mục đích vay vốn, giá trị tài sản và thu nhập của hộ Cụ thể, thu nhập của hộ có tác động thuận tới lượng vốn vay của hộ, hộ có thu nhập càng cao thì lượng vốn vay càng cao do hộ có thể đảm bảo được khả năng trả nợ bằng nguồn thu nhập này; quan hệ xã hội của chủ hộ cũng có tác động thuận tới lượng vốn vay chính thức của hộ, chủ hộ có mối quan hệ sẽ nhận được lượng vốn lớn hơn; mục đích vay của chủ hộ có tác động thuận tới lượng vốn vay, vì nếu hộ sử dụng vốn vay cho mục đích đầu tư sản xuất thì có khả năng sinh lợi và hoàn vốn vay cho tổ chức tín dụng sẽ cao hơn so với hộ sử dụng tiền vay vào mục đích tiêu dùng hay trả nợ, nhờ đó thường được tổ chức tín dụng cho vay nhiều hơn; giá trị tài sản của hộ cũng có ảnh hưởng thuận tới lượng vốn vay, hộ có giá trị tài sản lớn sẽ vay được nhiều hơn những hộ có ít tài sản
Trang 23Nghiên cứu của Phạm Bảo Dương và Yoichi Izumida (2002), nghiên cứu này nổ lực xem xét về phương diện kinh tế sự tham gia của nông hộ trong thị trường tín dụng nông thôn Việt Nam, hành vi cho vay của người cho vay chính thức để đáp ứng nhu cầu tín dụng của hộ gia đình và tác động của tín dụng đối với sản xuất hộ gia đình dựa trên số liệu điều tra hộ gia đình cắt chéo Thị trường tín dụng nông thôn ở Việt Nam là khá phân đoạn, các khu vực chính thức chuyên cho vay để phục vụ sản xuất, trong khi mục đích cho vay của khu vực phi chính thức là khá đa dạng, nghiên cứu cho thấy rằng các
hộ gia đình nông thôn là hợp lý trong việc quyết định các nguồn vốn vay, từ
đó, họ nên yêu cầu đối với các khoản vay cụ thể
Từ mô hình Tobit, nghiên cứu này cho thấy tổng diện tích canh tác và tổng giá trị chăn nuôi là những yếu tố quyết định đến việc cho vay đối với hộ gia đình từ các tổ chức tài chính chính thức Ngoài ra, tỷ lệ phụ thuộc của các
hộ gia đình và tổng diện tích canh tác có thể sẽ là những yếu tố dẫn đến quyết định vay từ các nguồn phi chính thức, những phát hiện này khẳng định các giả thuyết về sự phân đoạn của thị trường tín dụng nông thôn Hơn nữa, thống nhất với thực tế này, việc vay vốn từ các nguồn phi chính thức, trong một số trường hợp cũng là để sản xuất, việc vay từ các nguồn phi chính thức là một loại bổ sung, lắp đầy các khoảng trống còn lại của các nhà cho vay chính thức
Do nhu cầu mạnh mẽ đối với các quỹ, khu vực chính thức thường giới hạn kích cỡ của các khoản vay của người vay, những nguyên nhân cơ bản của hiện tượng này là gì? Có một số nguyên nhân và một số là rất quan trọng đối với Việt Nam như sự bất đối xứng thông tin và các quy định của NHNN về chính sách kiểm soát lãi suất Để xác minh hiện tượng này, mô hình Probit đã được sử dụng Nhìn chung, 36% tổng số hộ gia đình phải chịu ảnh hưởng từ hạn chế tín dụng, nghiên cứu đã phát hiện rằng uy tín (tiêu cực), tỷ lệ phụ thuộc của các hộ gia đình (tích cực) và lượng tín dụng được áp dụng đối với
hộ gia đình (tích cực) là những yếu tố quyết định hạn chế tín dụng của NHNN&PTNN Việt Nam (VBA) Không cần phải nói, những kết quả rõ ràng xác nhận lý lẽ nêu trên về hành vi cho vay của các ngân hàng, kết luận quan trọng có thể được rút ra là người nghèo rất khó trong việc tiếp cận nguồn tín dụng thương mại chính thức, đặc biệt là VBA
Các kết quả của mô hình Probit đối với hạn chế tín dụng của VBA cho thấy uy tín (một dấu hiệu của các hộ gia đình có khả năng chi trả - tiêu cực) và
tỷ lệ phụ thuộc (các dấu hiệu của sự nghèo - tích cực) có liên quan với các quyết định hạn chế tín dụng của ngân hàng Phát hiện này là không đáng ngạc nhiên, kể từ khi các ngân hàng cư xử hợp lý trong việc lựa chọn để cho vay đối với khách hàng đáng tin cậy, nếu đúng như vậy, người nghèo có được tín
Trang 24dụng từ đâu? Kết quả từ mô hình Tobit đối với việc vay vốn của các hộ gia đình chỉ ra rằng bên cạnh các nguồn chính thức, họ buộc phải vay từ các nguồn phi chính thức là tốt hơn
Nghiên cứu cũng phát hiện rằng tổng diện tích canh tác, số người phụ thuộc, số tiền đặt cọc và tính thanh khoản là các yếu tố quyết định tình trạng tín dụng của hộ gia đình Hơn nữa đối với các hộ gia đình bị hạn chế tín dụng, tổng diện tích canh tác (tích cực), số người phụ thuộc (tiêu cực), và tín dụng (tích cực) là những yếu tố quyết định kết quả đầu ra sản xuất Ngược lại, tổng diện tích canh tác, giáo dục, và số người trưởng thành có chung vốn (yếu) tất
cả tích cực quyết định mức độ cung cấp tín dụng không bị giới hạn cho sản xuất của hộ gia đình Các phát hiện trên cho thấy rằng có đến 30% số hộ trong mẫu là bị hạn chế tín dụng vì các khoản vay bị giới hạn bởi người cho vay chính thức Phần còn lại được, hoặc bị giới hạn nội bộ (trách nhiệm) hoặc bị giới hạn do nguyên nhân khác như thị trường không hoàn hảo
Nghiên cứu cũng đã phát hiện rằng các hộ gia đình có nhiều người phụ thuộc yêu cầu các khoản vốn để tài trợ cho sản xuất cũng như làm đồng nhất với tiêu dùng của họ Do đó, nguồn cung cấp mở rộng tín dụng chính thức có thể được chuyển một phần để tiêu dùng, do đó có khả năng kết quả đầu ra sẽ ảnh hưởng thấp hơn khi tất cả các quỹ được giả định là sử dụng hiệu quả Kết quả trong ước lượng bình phương bé nhất có trọng số (WLS) cho các chức năng cung ứng đầu ra cho thấy độ co giãn của sản lượng đối với thanh khoản (tín dụng) là rất cao Phát hiện này tự đặt ra một nhiệm vụ rất quan trọng đối với chính phủ, là hỗ trợ hệ thống tài chính nông thôn và khuyến khích chính sách cho vay năng động để đáp ứng nhu cầu của nông dân, khả năng nắm bắt những cơ hội đó sẽ góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế nông thôn Các phát hiện thú vị khác là sự tương quan tích cực giữa giáo dục
và cung cấp đầu ra đối với trường hợp của các hộ gia đình không bị giới hạn Nghiên cứu đề nghị cần thiết phải cải thiện giáo dục, đặc biệt là đào tạo chuyên môn cho nông dân, mạng lưới khuyến nông cần được tăng cường và phát triển hơn trong việc phổ biến các công nghệ sản xuất mới cho nông dân
2.1.5 Cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng chính thức đối với nông hộ
Từ kết quả của những nghiên cứu trên cho thấy mục đích cuối cùng của các nghiên cứu là tìm ra giải pháp giúp cho các nông hộ có thể tiếp cận với tín dụng chính thức một cách dễ dàng hơn và ít nhiều tránh được những hạn chế tín dụng mà các TCTD đã đặt ra cho các nông hộ Hạn chế tín dụng là việc các TCTD chỉ giải ngân một phần nhu cầu hoặc từ chối hoàn toàn nhu cầu vay vốn
Trang 25của khách hàng (mà ở đây được hiểu là nông hộ), hạn chế tín dụng luôn chịu
sự ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố khác nhau, từ các yếu tố khách quan đến chủ quan, từ các yếu tố phía người đi vay đến người cho vay, từ các đặc điểm
về nhân khẩu học đến các chính sách phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước, Vì vậy, khi các yếu tố này có sự thay đổi thì tỷ lệ vay vốn của nông hộ ở các TCTD cũng có sự thay đổi, chúng ta tiến hành phân tích một số đặc điểm, để biết được vì sao lại có hạn chế tín dụng
Để kiểm soát tốt rủi ro các TCTD thường áp dụng những thủ tục cho vay phức tạp, cơ chế cho vay phức tạp như yêu cầu thế chấp tài sản, đồng thời có
xu hướng gia tăng lãi suất để bù đắp rủi ro Lãi suất gia tăng một mặt sẽ giúp cho lợi nhuận gia tăng nếu các yếu tố khác không đổi Mặt khác, lãi suất tăng
sẽ làm giảm lợi nhuận của các TCTD do ảnh hưởng của hai hệ quả từ hiện
tượng thông tin bất đối xứng là sự lựa chọn sai lầm của các TCTD và động cơ
lệch lạc của người đi vay
Hiện tượng thông tin bất đối xứng giữa các TCTD với người đi vay được hiểu là các TCTD không biết rõ người vay bằng chính bản thân họ nên khó kiểm soát việc sử dụng tiền vay và sẽ gặp rủi ro khi cho vay Khi lãi suất gia tăng những dự án có mức sinh lời thấp (rủi ro thấp) sẽ không có nhu cầu vay vốn vì mức sinh lời của dự án thấp nhưng phải trả lãi cao điều này sẽ gây ra tâm lý cho người vay là không đảm bảo khả năng hoàn trả nợ đúng hẹn nên chỉ còn lại những dự án có mức sinh lời cao (rủi ro cao) chấp nhận vay vốn Điều này sẽ làm cho tỷ lệ rủi ro của các TCTD gia tăng vì chỉ chọn được
những khách hàng có rủi ro cao Hiện tượng này được gọi là sự lựa chọn sai
lầm của các tổ chức tín dụng, nghĩa là nếu tăng lãi suất thì các TCTD chỉ chọn
được những người vay rủi ro hơn, chọn lựa sai lầm sẽ làm giảm lợi nhuận của các TCTD vì rủi ro cao hơn đồng nghĩa với xác suất trả nợ của khách hàng thấp đi
Khi đứng trên góc độ của người đi vay thì lãi suất tăng cao cũng ảnh
hưởng đến xu hướng đầu tư của người đi vay Đây được xem là động cơ lệch
lạc của người đi vay do thông tin bất đối xứng Hoạt động sản xuất nông
nghiệp nói chung là hoạt động có tỷ lệ sinh lời thấp Đối với những hộ có dự định vay vốn để đầu tư cho nông nghiệp thì khi lãi suất gia tăng sẽ làm cho động cơ vay vốn đầu tư vào nông nghiệp có xu hướng chuyển sang đầu tư sang các lĩnh vực khác Nguyên nhân của vấn đề này vì họ nhận thấy rằng việc đầu tư cho nông nghiệp sẽ không tạo ra đủ lợi nhuận để bù đắp cho chi phí mà
họ bỏ ra cho việc vay vốn, điều này khiến họ sẽ chọn các lĩnh vực có khả năng sinh lời cao (tương đương với mức rủi ro cao) để đầu tư thay vì chọn nông nghiệp Nhưng khi chọn các lĩnh vực khác để đầu tư thì việc thiếu hiểu biết và
Trang 26thiếu kinh nghiệm trong lĩnh vực mới này khiến cho thất bại của họ có thể lớn hơn khi họ đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp
Để có thể hạn chế những tác động của hiện tượng thông tin bất đối xứng, các TCTD thường áp dụng quy trình cho vay phức tạp hơn để có nhiều thời gian để thẩm định tín dụng, điều này đồng nghĩa với việc các hộ vay vốn phải mất khá nhiều thời gian để có thể tiếp cận được nguồn vốn từ các TCTD chưa
kể đến việc tốn nhiều chi phí giao dịch hơn Mặt khác, hoạt động sản xuất
nông nghiệp là hoạt động mang tính thời vụ và đồng loạt, việc chậm trễ trong quá trình vay vốn sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động sản xuất như xuống giống trễ lịch khuyến cáo và thiếu phân bón sẽ dễ bị sâu bệnh, để đáp ứng cho nhu cầu cấp thiết này, nhiều hộ phải nhờ đến sự trợ giúp vốn từ thị trường phi chính thức để có thể kịp thời sử dụng vốn này vào hoạt động sản xuất Các hộ xin vay vốn thường có tâm lý lo sợ khi phải vay vốn ở các TCTD, điều này làm cho các TCTD sẽ mất đi một lượng lớn khách hàng đồng nghĩa với việc lợi nhuận của TCTD sẽ sụt giảm, vì vậy, các TCTD nên có nhiều biện pháp khác nhau để hạn chế sự ảnh hưởng từ hiện tượng thông tin bất đối xứng Ngoài những ảnh hưởng của hiện tượng thông tin bất đối xứng và chi phí
giao dịch thì những rủi ro trong sản xuất cũng là nguyên nhân dẫn đến việc
hạn chế tín dụng đối với nông hộ, trong giai đoạn hiện nay, thời tiết diễn biến ngày càng thất thường và có tính chất khắc nghiệt hơn, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất nông nghiệp Mặt khác, thị trường hàng hóa diễn biến ngày càng khó kiểm soát đã tác động đến giá cả nông sản, giá cả yếu
tố đầu vào, hiện tượng mất mùa được giá hoặc trúng mùa mất giá là chuyện xảy ra thường xuyên, điều này ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân cũng như là khả năng trả nợ của họ
Hạn chế tín dụng là một chính sách để giảm bớt lượng vốn vay của nông
hộ nhằm làm giảm mức độ rủi ro cho bản thân TCTD vì một số lý do kể trên
và những lý do khác nữa Việc hạn chế này được hiểu là các TCTD sẽ từ chối
một phần hoặc toàn bộ lượng vốn mà các nông hộ xin vay, “Nguyên nhân của
hiện tượng này này là do các TCTD không hiểu rõ mức độ rủi ro của người đi vay bằng chính bản thân của họ, cho nên không thể phân biệt giữa người vay rủi ro và người vay an toàn” (Lê Khương Ninh và Cao Văn Hơn, 2013)
Nhằm đánh giá được mức độ hạn chế tín dụng của các TCTD, những nhà nghiên cứu đã sử dụng tỷ lệ giữa số tiền mà các TCTD giải ngân ra trên số tiền
xin vay của nông hộ (TYLEVAY), tỷ lệ này nhận giá trị từ 0 đến 1 và tỷ lệ này
càng cao thể hiện mức độ hạn chế tín dụng càng thấp Trong phạm vi bài viết
này, tác giả cũng sử dụng biến TYLEVAY là biến phụ thuộc nhằm đánh giá sự
tác động của các yếu tố đến hạn chế tín dụng
Trang 27Như đã đề cập ở phần trên, hạn chế tín dụng chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố từ khách quan đến chủ quan, từ phía người đi vay đến người cho vay và từ đặc điểm nhân khẩu học đến chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước Từ đây, tác giả xin đề xuất một số yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng như sau:
Thu nhập là tổng số tiền mà tất cả các thành viên trong gia đình kiếm được trong năm từ các nguồn khác nhau, nguyên nhân mà tác giả chọn biến này là do một trong những tiêu chí mà TCTD quyết định cho khách hàng vay
là khách hàng có thể trả nợ bằng gì? Những khách hàng có thu nhập cao thì khả năng trả nợ của họ được đánh giá cao và TCTD sẽ ít gặp rủi ro hơn, vì vậy khi họ có nhu cầu vay vốn thì các TCTD chấp nhận cho họ vay với số tiền lớn
và ngược lại Cũng có ý kiến cho rằng, những hộ có thu nhập cao thì họ có khả năng tự trang trải được tất cả mọi thứ từ chi phí sinh hoạt hằng ngày cho đến chi phí cho sản xuất, nếu họ có cần đến sự hỗ trợ của các TCTD thì cũng là một lượng vốn nhỏ nên các TCTD dễ dàng chấp nhận cho vay hơn
Diện tích đất thể hiện tổng diện tích đất thuộc quyền sở hữu của hộ bao gồm đất ở và đất canh tác nông nghiệp (hay đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) Diện tích đất ảnh hưởng rất lớn đến hạn chế tín dụng của nông hộ, những hộ có diện tích đất lớn thì họ có thể tiếp cận được lượng vốn vay cao hơn những hộ có ít đất và không có đất (hay ít bị hạn chế tín dụng hơn) Mặt khác, đất còn là loại tài sản phổ biến trong thị trường tín dụng nông thôn dùng
để thế chấp cho các TCTD để đảm bảo cho số tiền vay, những hộ có đất nhiều thì họ sẽ tạo được lòng tin nhiều hơn đối với TCTD và đất là một tài sản hữu hình nên chỉ cần đi khảo sát là có thể nắm bắt đầy đủ thông tin về nó nên có thể hạn chế được việc bất đối xứng thông tin
Số lần vay vốn là tổng số lần mà hộ vay vốn tại các TCTD, như đã phân tích thông tin bất đối xứng sẽ ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng, vì vậy những
hộ mà TCTD am hiểu thì họ sẽ dễ dàng tiếp cận với lượng tiền vay hơn Mà sự
am hiểu này được thể hiện qua mối quan hệ lâu dài hay là số lần mà hộ vay tiền tại các TCTD Thật vậy, khi nông hộ vay tiền nhiều lần tại các TCTD sẽ tạo điều kiện cho các TCTD nắm được các thông tin của khách hàng và dễ dàng thu thập thêm các thông tin khác Mặt khác, các hộ vay vốn nhiều lần thì
họ có kinh nghiệm nhiều hơn trong việc hoàn thành hồ sơ, thủ tục vay vốn nên thuận tiện hơn trong việc vay vốn
Số lần sai hẹn thể hiện số lần mà hộ không trả nợ và/hoặc lãi đúng với thời hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng, đây là biến khá quan trọng Đối với hộ vay nhiều lần thì TCTD sẽ am hiểu nhiều hơn, nhưng với những hộ vay
Trang 28nhiều lần mà số lần sai hẹn nhiều cũng ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng, những hộ sai hẹn nhiều sẽ bị hạn chế tín dụng nhiều hơn những hộ ít sai hẹn (có thể bị hạn chế tín dụng hoàn toàn) Đối với nông hộ thì nguyên nhân của việc sai hẹn chủ yếu là do họ gặp phải rủi ro trong sản xuất nông nghiệp như dịch bệnh, thiên tai hoặc sự biến động của thị trường, điều này khiến cho họ không có đủ khả năng trả nợ nên phải sai hẹn với các TCTD
Sự quen biết với những người làm việc trong khu vực nhà nước và các TCTD thể hiện mối quan hệ của các thành viên trong hộ với những cá nhân làm việc trong khu vực nhà nước và TCTD, đối với những hộ có thành viên hay bạn bè làm việc ở cơ quan nhà nước, đoàn thể hay các TCTD thì họ sẽ nâng cao uy tín của mình hơn trong việc trả nợ Các TCTD có thể lấy thông tin của nông hộ xin vay vốn dễ dàng hơn từ những người thân làm việc trong khu vực nhà nước và các TCTD của họ, đồng thời mối quan hệ quen biết này sẽ giúp cho các nông hộ cảm thấy dễ dàng hơn trong các thủ tục xin vay và có thể nhờ những người này đứng ra làm người bảo lảnh vay vốn cho mình Do
đó, hộ sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay, cũng như tỷ
lệ vay vốn sẽ càng cao hơn
Những hộ gia đình ở gần chi nhánh của các TCTD thì khả năng hiểu biết
về các TCTD và các cán bộ tín dụng của nông hộ sẽ cao, cũng như là các TCTD có thể hiểu rõ được nông hộ và chất lượng của việc thẩm định sẽ đạt hiệu quả cao Mặt khác, khi ở gần các TCTD, nông hộ có khả năng biết được các chương trình cho vay ưu đãi, chính sách giải ngân của ngân hàng,… rõ và sớm hơn nên có khả năng vay được vốn nhiều hơn Khi ở gần nhau, các TCTD
sẽ am hiểu về khách hàng của mình hơn, cũng như là tốn ít chi phí về công tác kiểm soát vốn sau giải ngân và nắm bắt kịp thời hơn về việc sử dụng vốn của người vay có đúng mục đích hay không để hạn chế những rủi ro cho TCTD Khoảng cách từ nhà nông hộ đến TCTD gần nhất sẽ làm cho nông hộ giảm được chi phí đi lại trong quá trình làm hồ sơ, thủ tục vay vốn và giảm các chi phí khác trong quá trình chờ vốn được giải ngân, vì vậy khi nông hộ ở gần các TCTD thì hiện tượng hạn chế tín dụng sẽ thấp hơn những hộ ở xa
Đối với các hộ ở vùng nông thôn thì thu nhập chính của họ là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp nên ngân hàng sẽ an tâm hơn khi cấp tín dụng cho các hộ phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp so với các hộ vay vì mục đích khác Nguyên nhân là do khi sử dụng tiền vay đầu tư vào sản xuất thì hộ
sẽ tạo ra thu nhập trong tương lai và đảm bảo tốt nghĩa vụ trả nợ của mình Còn đối với những hộ vay tiền nhằm mục đích tiêu dùng, trả nợ, trị bệnh, thì
số tiền vay sẽ không được đầu tư sinh lời, do đó sẽ làm gia tăng rủi ro nên các TCTD thường hạn chế tín dụng đối với những đối tượng này
Trang 29Đối với những chủ hộ có trình độ học vấn cao thì khả năng hiểu biết của
họ về các chương trình và chính sách tín dụng của nhà nước sẽ cao, đồng thời
họ cũng nắm bắt được nhiều thông tin hơn về các TCTD nên khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng của họ sẽ cao hơn Mặt khác, chủ hộ có trình độ học vấn cao thì khả năng tiếp cận với những tiến bộ khoa học kỹ thuật nhanh hơn nên có thể áp dụng vào thực tế sản xuất từ đó mang lại hiệu quả cao trong sản xuất và hạn chế được những rủi ro từ đó đảm bảo được khả năng trả nợ Vì vậy, những chủ hộ có trình độ học vấn cao thì tỷ lệ vay của hộ sẽ cao hơn những hộ có trình độ học vấn thấp hơn
Những chủ hộ cao tuổi thì uy tín trong xã hội sẽ cao, họ cũng đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm sản xuất cũng như là một số tài sản nhất định và luôn
có ý thức trách nhiệm đối với gia đình Những chủ hộ có tuổi thường hay chọn những lĩnh vực đầu tư mà họ am hiểu nhiều hơn như là sản xuất nông nghiệp
và ít đầu tư vào những lĩnh vực mạo hiểm nên họ thường ít có động cơ lệch lạc trong việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư Vì vậy, những chủ hộ có tuổi cao thường
dễ dàng được các TCTD chấp nhận cho vay với tỷ lệ cao hơn những chủ hộ còn trẻ tuổi
Sự khác biệt về giới tính cũng ảnh hưởng đến giới hạn tín dụng, theo kết quả của một số nghiên cứu cho thấy, các chủ hộ là nam giới có thể tiếp cận với tín dụng chính thức nhiều hơn các chủ hộ là nữ giới Nguyên nhân là do các chủ hộ nam thường mạnh dạn hơn trong việc đầu tư sản xuất kinh doanh nên
họ quyết đoán hơn trong việc vay vốn và điều này cũng sẽ giúp họ vay với tỷ
lệ cao hơn Bên cạnh đó, nam giới thường có mối quan hệ rộng rãi hơn nữ giới nên khả năng nắm bắt thông tin của họ thường cao hơn nữ giới nên việc tiếp cận tín dụng đối với họ thường dễ dàng hơn với tỷ lệ cao hơn Do đó, những
hộ có chủ hộ là nam sẽ vay được vốn với tỷ lệ vay cao hơn những hộ có chủ
hộ là nữ
Số thành viên trong gia đình nằm ngoài độ tuổi lao động hay không có khả năng lao động cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ vay vốn của hộ Số người phụ thuộc càng nhiều thì gánh nặng đối với gia đình càng lớn vì những người này chưa hoặc không có khả năng tạo thu nhập cho gia đình nhưng gia đình phải tốn chi phí cho họ Vì vậy, số lượng người phụ thuộc càng cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả nợ của gia đình nên việc tiếp cận tín dụng chính thức của họ thường bị hạn chế hơn
Trang 302.1.6 Mô hình nghiên cứu
Từ những cơ sở lý luận trên, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng chính thức đối với nông hộ dựa trên mô hình hồi quy tuyến tính
Mô hình hồi quy được sử dụng nghiên cứu thực nghiệm trong bài là:
TYLEVAY = β 0 + β 1 THUNHAP + β 2 DIENTICHDAT + β 3 SOLANVAY +
β 4 SAIHEN + β 5 QUENBIET + β 6 KHOANGCACH + β 7 MUCDICH +
β 8 TRINHDO + β 9 TUOI + β 10 GIOITINH + β 11 NGUOIPT
Trong đó: TYLEVAY là biến phụ thuộc, đó là tỷ lệ giữa số tiền được giải ngân trên số tiền xin vay của nông hộ TYLEVAY có thể nhận các giá trị từ 0 đến 1: TYLEVAY = 0 nếu nông hộ không vay được vốn hay nông hộ bị hạn chế tín dụng hoàn toàn; TYLEVAY = 1 nếu nông hộ vay được số vốn bằng với số vốn xin vay hay nông hộ không bị hạn chế tín dụng; 0 < TYLEVAY < 1 nếu
nông hộ bị hạn chế tín dụng một phần Các biến còn lại là biến độc lập, ý nghĩa và dấu kỳ vọng của các biến này được thể hiện qua bảng 2.1
Bảng 2.1: Tổng hợp các biến độc lập và dấu kỳ vọng trong mô hình
6 KHOANGCACH Khoảng cách từ nhà nông hộ đến TCTD gần nhất (km) -
7 MUCDICH Mục đích vay vốn để sản xuất kinh doanh (1), trường
8 TRINHDO Trình độ học vấn của chủ hộ (giá trị từ 0 đến 16) (*) +
10 GIOITINH Giới tính của chủ hộ: Nam (1), Nữ (0) +
11 NGUOIPT Số người phụ thuộc trong gia đình (người) -
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)
Ghi chú: Dấu “+” thể hiện mối quan hệ tỷ lệ thuận với biến phụ thuộc
Dấu “-” thể hiện mối quan hệ tỷ lệ nghịch với biến phụ thuộc (*) Nếu đã tốt nghiệp trung học phổ thông thì ghi 13 – trung cấp chuyên nghiệp; 14 – cao đẳng; 15 – đại học; 16 – sau đại học
Trang 312.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.1.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ có 11 đơn vị hành chính, trong
đó bao gồm 9 xã và 2 thị trấn Tác giả tiến hành chọn ra 4 xã có diện tích lớn nhất ở huyện Vĩnh Thạnh bao gồm các xã Thạnh An, Thạnh Lợi, Thạnh Quới
và Thạnh Lộc để nghiên cứu Dựa vào những thông tin thu thập được, tác giả tiến hành xử lý để suy ra nhận xét chung cho tình hình của toàn huyện
2.2.1.2 Phương pháp chọn mẫu
Số liệu được thu thập theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng để đảm bảo ý nghĩa thống kê của mẫu điều tra Đầu tiên, số liệu cần lấy ở huyện có 11 xã, thị trấn, tác giả chọn ra 4 xã có diện tích lớn nhất để xác định địa bàn của số liệu Sau đó, tác giả tiến hành thu thập thông tin một cách ngẫu nhiên các nông hộ trên địa bàn, số lượng quan sát ở mỗi xã sẽ khác nhau (từ
15 đến 25 quan sát) tùy thuộc vào diện tích của mỗi xã
2.2.1.3 Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu sơ cấp: Số liệu sử dụng chính trong đề tài là số liệu sơ cấp được
thu thập trực tiếp từ các nông hộ trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ
- Số liệu thứ cấp: ngoài số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng
vấn trực tiếp thì đề tài nghiên cứu còn sử dụng các số liệu thứ cấp được thu thập, tổng hợp từ các cấp chính quyền địa phương, các chi nhánh ngân hàng tại địa bàn, từ sách, báo,…
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
- Mục tiêu 1: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tìm hiểu khái quát
về thị trường tín dụng chính thức trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ
- Mục tiêu 2: Sử dụng mô hình Tobit để ước lượng và phân tích các yếu tố
ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng chính thức đối với nông hộ ở huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ
- Mục tiêu 3: Căn cứ vào thực trạng sử dụng vốn và kết quả phân tích, tác
giả sử dụng phương pháp suy luận và những hiểu biết của bản thân để đề xuất giải pháp nhằm giúp cho nông hộ huyện Vĩnh Thạnh tiếp cận tín dụng chính thức dễ dàng
Trang 32CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN HUYỆN VĨNH THẠNH - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
3.1.1 Khái quát về địa bàn huyện Vĩnh Thạnh - Thành phố Cần Thơ
3.1.1.1 Lịch sử hình thành
Trước năm 2004, huyện Vĩnh Thạnh ngày nay là một bộ phận thuộc huyện Thốt Nốt, tỉnh Cần Thơ Ngày 02 tháng 01 năm 2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 05/2004/NĐ-CP về việc thành lập các quận Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, các huyện Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thốt Nốt và các xã, phường, thị trấn thuộc thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương
Theo đó, thành lập huyện Vĩnh Thạnh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị trấn Thạnh An và các xã: Thạnh An, Thạnh Lộc, Thạnh Quới, Thạnh Mỹ, Thạnh Phú, Thạnh Thắng, Trung Hưng và 2.811,47
ha diện tích tự nhiên và 19.171 nhân khẩu của xã Vĩnh Trinh thuộc huyện Thốt Nốt Lúc bấy giờ, huyện Vĩnh Thạnh có 9 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 1 thị trấn và 8 xã với 41.034,84 ha diện tích tự nhiên và 153.964 nhân khẩu
Ngày 16 tháng 01 năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 11/2007/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, phường; thành lập phường, thị trấn thuộc các quận Ninh Kiều, Ô Môn và các huyện Phong Điền, Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ Theo đó, thành lập thị trấn Vĩnh Thạnh thuộc huyện Vĩnh Thạnh trên cơ sở điều chỉnh diện tích tự nhiên và nhân khẩu của 2 xã Thạnh Quới và Thạnh Mỹ Vào thời điểm này, huyện Vĩnh Thạnh có
10 đơn vị hành chính gồm 2 thị trấn và 8 xã với diện tích tự nhiên 41.036,22
ha và 156.067 nhân khẩu
Ngày 06 tháng 11 năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định số
162/2007/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, phường; thành lập xã, phường thuộc quận Bình Thuỷ, quận Ô Môn, huyện Thốt Nốt và huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ Theo đó, xã Thạnh Tiến được thành lập thuộc huyện Vĩnh Thạnh trên cơ sở điều chỉnh diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Thạnh An Sau khi điều chỉnh, huyện Vĩnh Thạnh có 41.029,27 ha diện tích tự nhiên với 152.759 nhân khẩu với 11 đơn vị hành chính gồm 2 thị trấn
và 9 xã
Trang 33Ngày 23 tháng 12 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số
12/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thuộc huyện Thốt Nốt, huyện Vĩnh Thạnh, huyện Cờ Đỏ; thành lập quận Thốt Nốt và các phường trực thuộc; điều chỉnh địa giới hành chính huyện Cờ Đỏ để thành lập huyện Thới Lai thuộc thành phố Cần Thơ Theo đó, địa giới hành chính huyện Vĩnh Thạnh được điều chỉnh bằng việc thành lập thêm một số xã mới và điều chỉnh một số xã sang các xã khác và huyện lân cận
Qua các lần điều chỉnh địa giới hành chính, huyện Vĩnh Thạnh có 29.759,06 ha diện tích tự nhiên và 115.550 nhân khẩu, có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 2 thị trấn: thị trấn Vĩnh Thạnh, thị trấn Thạnh An và 9 xã: Vĩnh Trinh, Vĩnh Bình, Thạnh Mỹ, Thạnh Quới, Thạnh An, Thạnh Tiến, Thạnh Thắng, Thạnh Lợi và Thạnh Lộc
3.1.1.2 Vị trí địa lý
Vĩnh Thạnh là 1 trong 4 huyện phía Tây của TPCT, cách trung tâm thành phố (quận Ninh Kiều) khoảng 65km Vĩnh Thạnh là tuyến đường nối quan trọng giữa thành phố Rạch Giá và các huyện của tỉnh Kiên Giang đi Cần Thơ và thành phố Hồ Chí Minh Huyện Vĩnh Thạnh cũng là điểm cực Tây của TPCT, đây cũng là nơi giao nhau giữa nhiều tỉnh thành khác nhau: phía Đông giáp quận Thốt Nốt, huyện Cờ Đỏ; phía Tây giáp tỉnh An Giang; phía Nam giáp tỉnh Kiên Giang; phía Bắc giáp quận Thốt Nốt và huyện Thoại Sơn, tỉnh
An Giang
Tuyến đường giao thông chính trong huyện là quốc lộ 80 và tỉnh lộ
922, đây là những tuyến đường trọng yếu và sử dụng chung cho cả khu vực Ngoài ra, trong huyện còn có những tuyến lộ như đường kinh Sáu Bọng, đường kinh E, và nhiều tuyến đường nông thôn khác nối liền các xã với nhau nên điều kiện đi lại rất thuận lợi Hệ thống kinh rạch khá rộng và dày, cũng là một thuận lợi cho Vĩnh Thạnh phát triển kinh tế nông nghiệp và kinh tế vùng
3.1.2 Những thành tựu nổi bật về kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Về kinh tế
Sau 10 năm xây dựng và phát triển, huyện Vĩnh Thạnh hôm nay đã có một diện mạo mới, có những bước phát triển mang tính chất đột phá Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, 10 năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn duy trì ở 2 con số (từ 10,52% đến 15,67%/năm) Năm 2013, tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện đạt 15,67%/năm, tăng gấp 1,49 lần so năm 2004
Thu nhập bình quân đầu người: 22.400.000 đồng/người/năm, tương đương 1.057 USD (Năm 2004: 4.597.000 đồng, tương đương 289,15 USD),
Trang 34tăng 17.803.000 đồng/người/năm, tương đương 777.85 USD Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ thương mại đều tăng, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp Cụ thể, năm 2013 cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch khá so năm 2012, tỷ trọng khu vực I chiếm 40,86%, đạt 99,03% KH; khu vực II chiếm 24,85%, đạt 106,52% KH; khu vực III chiếm 34,29%, đạt 96,84% KH trong cơ cấu giá trị GDP
3.1.2.2 Về sản xuất nông nghiệp
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi đạt hiệu quả, đặc biệt là cây lúa: đạt được cả 3 yêu cầu: năng suất, chất lượng và hiệu quả Đảng bộ xác định nhiệm vụ hàng đầu của huyện là đẩy mạnh phát triển nông nghiệp mà chủ yếu
là cây lúa để tăng thu nhập cho người dân, tạo tiền đề cho phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ
Diện tích trồng lúa trong năm 2013: 64.633,73 ha (tăng 4.280 ha so cùng kỳ), đạt 106,93% kế hoạch, năng suất bình quân 6,17 tấn/ha (giảm 0,09 tấn/ha so năm 2012), diện tích lúa chất lượng cao chiếm 98%, sản lượng 398.975,24 tấn, đạt 106,89% kế hoạch (so cùng kỳ tăng 20.941,34 tấn) Diện tích trồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày 611,98 ha, đạt 94,15% (giảm 78,18 ha so cùng kỳ) Bình quân nông dân lãi khoảng 15 triệu đồng/ha/1 vụ trồng màu
Đàn heo hiện có 27.159 con, đạt 102,3% kế hoạch; đàn bò và trâu 785 con, đạt 157% kế hoạch; gia cầm 500.782 con, đạt 134,41% kế hoạch Do thường xuyên nắm bắt tình hình, chủ động trong tiêm phòng, phát hiện và phòng trị kịp thời nên tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm tương đối
ổn định Diện tích nuôi thủy sản 620,26 ha, đạt 82,7% kế hoạch, giảm 159,7
ha so cùng kỳ Sản lượng thu hoạch thủy sản 39.010 tấn, đạt 93% KH, so với cùng kỳ năm 2012 tăng 190 tấn
Hiện nay, toàn huyện đã có 218 máy gặt đập liên hợp (mua mới 109 máy), đáp ứng 80% diện tích thu hoạch (năm 2004 chưa có); hầu hết đều sử dụng lò sấy; về năng suất, vụ lúa Đông Xuân: 7,5 tấn/ha (năm 2004: 7 tấn/ha),
vụ Hè Thu: 5,8 tấn/ha (năm 2004: 4,39 tấn/ha), vụ Thu Đông: 4,6 tấn/ha (năm 2004: 3,8 tấn/ha); diện tích lúa chất lượng cao 98% (năm 2004: 70%), lợi nhuận 34.438.000 đồng/ha (năm 2004: 14.505.662 đồng/ha)
Đặc biệt, nhiều mô hình mới đem lại năng suất và lợi nhuận cao như mô hình cánh đồng lớn, đến nay, toàn huyện 15 cánh đồng lớn với diện tích 3.451
ha, bước đầu đã đem lại lợi nhuận bình quân mỗi vụ trên 4 triệu đồng/ha so với sản xuất theo tập quán thông thường
Trang 353.1.2.3 Về kết cấu hạ tầng nông thôn
Kết cấu hạ tầng nông thôn được đầu tư xây dựng ngày càng hoàn thiện, làm cho bộ mặt nông thôn thêm khởi sắc, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh – quốc phòng ở địa phương Các trung tâm hành chính huyện – xã, thị trấn đều được xây dựng mới, với nguồn kinh phí đầu tư là 95 tỷ 732 triệu đồng Đến nay, toàn huyện có 10/11 xã, thị trấn có đường ô tô đến trung tâm, cùng với đó là đường tỉnh lộ 919 (Bồn Tổng – Một Ngàn) được thành lập Đặc biệt là khành thành cầu Cái Sắn – Kênh E nối đôi
bờ Nam Bắc
Hạ tầng giao thông nông thôn ngày càng được đầu tư xây dựng theo hướng kiên cố hóa, huy động được các nguồn lực đóng góp Hiện nay trên địa bàn huyện đã có trên 200 km giao thông mặt cứng (tăng 400% so với trước năm 2004), xây dựng mới 488 cây cầu với tổng chiều dài 12.535 mét; nâng cấp trải đá 742.562 mét Tổng kinh phí 213 tỷ 598 triệu, trong đó ngân sách 53
tỷ 727 triệu, nhân dân đóng góp 105 tỷ 298 triệu, trị giá đất hiến là 54 tỷ 573 triệu cùng với hơn 10.000 ngày công lao động do nhân dân tham gia
Đầu tư kéo 338,53 km đường dây trung - hạ thế với công suất 1.300 kVA, với tổng kinh phí trên 43 tỷ đồng (tăng 37% so với đầu năm 2004) Tỷ lệ
hộ sử dụng điện: 26.717/26.744 hộ, đạt 99,9% (tăng 7% so với đầu năm 2004)
Huyện đã phát triển được 9.775 hộ sử dụng nước hợp vệ sinh, tăng 51,49% so với năm 2004 (14.834 hộ), nâng tổng số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh toàn huyện lên 25.109/26.744 hộ, đạt 94% (trong đó, nước sạch chiếm
43,4%) Năm 2013, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn 2.001,5 tỷ đồng,
tăng gấp 43 lần so năm 2004 Giá trị sản xuất dịch vụ (giá so sánh năm 1994) 1.110 tỷ đồng, tăng gấp 7,03 lần so với năm 2004
Trong những thành tựu đạt được, có thể nói tốc độ đô thị hóa, xây dựng
cơ sở hạ tầng, được xem là thành tựu nổi bật nhất, diện mạo đô thị ngày càng đổi thay rõ nét Huyện đã tạo được dấu ấn trong việc thực hiện phương châm
“nhà nước và nhân dân cùng làm” Để xây dựng Vĩnh Thạnh được như hôm nay, các hộ dân trong diện giải toả, di dời, dù còn băn khoăn, trăn trở nhưng
đã tự nguyện bàn giao mặt bằng cho các dự án, công trình Đó là một thành công rất lớn, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới Thành công đó, là do công tác tiếp dân và giải quyết đơn
thư khiếu nại của công dân, được huyện quan tâm chỉ đạo thực hiện có hiệu
quả, tạo niềm tin trong nhân dân
Trang 363.1.2.4 Về giáo dục – đào tạo, văn hóa, thể dục thể thao
Xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, những năm qua Đảng bộ huyện đã tập trung đầu tư cho sự nghiệp giáo dục phát triển cả về quy mô và chất lượng Huyện Vĩnh Thạnh đã đẩy mạnh xã hội hoá trong giáo dục, cơ sở vật chất trường lớp tiếp tục được đầu tư phát triển theo hướng kiên cố hóa trường lớp và đạt chuẩn
Đến năm 2013, tổng số phòng học và chức năng là 828 phòng (năm 2004: 497), trong đó phòng kiên cố là 491 (năm 2004: 117), phòng bán kiên
cố là 264 (năm 2004: 302), phòng tiền chế: 73, không còn phòng học tre, lá và tình trạng học 3 ca Toàn huyện có tổng số 57 trường trong đó có 5 trường đạt chuẩn quốc gia (năm 2004 chưa có trường đạt chuẩn) Huyện Vĩnh Thạnh đã khắc phục được tình trạng thiếu giáo viên, giáo viên chưa đạt chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục các cấp học, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp đều tăng
Công tác chống mù chữ - phổ cập giáo dục đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học
cơ sở Phong trào khuyến học khuyến tài ngày càng phát triển, hội khuyến học huyện đã huy động được 11.764.342.000 đồng, chi tổng số 40.658 suất với số tiền 3.920.320.000 đồng
Bên cạnh đó, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đạt kết quả khá tích cực Đến nay, toàn huyện có 56/56 ấp và 03/11 xã, thị trấn đạt chuẩn văn hóa Phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hóa phát triển mạnh, góp phần tiến tới hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, 09/09 xã thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, xét công nhận trên 91% tổng số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá Các phong trào thể dục thể thao luôn được quan tâm, hằng năm tổ chức và tham gia đầy đủ các giải thi đấu và luôn đạt thứ hạng cao từ các môn thể thao cơ sở đến các môn thể thao thành tích cao
3.1.2.5 Về xúc tiến đầu tư
Công tác xúc tiến đầu tư, thương mại được quan tâm tổ chức, mạng lưới chợ được quy hoạch tổ chức triển khai nhiều dự án đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp chợ bằng việc huy động vốn từ nhiều nguồn vốn từ các nhà đầu tư Nhờ có chính sách ưu đãi đầu tư thông thoáng nên việc thu hút các nguồn vốn phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội đạt được kết quả nổi bật
Huyện Vĩnh Thạnh đã kêu gọi đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng khu Trung tâm thương mại huyện Toàn huyện, có 09 cụm dân cư vượt lũ, 02 khu
Trang 37tái định cư tập trung, từng bước đáp ứng nhu cầu về nhà ở và tái định cư cho người dân Công tác lập quy hoạch và quản lý xây dựng theo quy hoạch thực hiện kịp thời, đúng quy định, hầu hết trung tâm xã, thị trấn trong huyện đã được quy hoạch chi tiết (1/500, 1/1000, 1/2000), tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lý và phát triển
3.1.2.6 Về y tế
Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân luôn được quan
tâm, bệnh viện huyện được đầu tư xây dựng, mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được
củng cố nâng cao chất lượng, y tế dự phòng được tiến hành thường xuyên, chủ động không để dịch bệnh nguy hiểm xảy ra trên diện rộng Đến năm 2012 có 11/11 trạm đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020 (năm 2004 có
01 trạm đạt chuẩn) Đến cuối năm 2013, toàn huyện có 36 bác sĩ (năm 2004 có
21 bác sĩ), 100% trạm y tế có bác sĩ (năm 2004: 03 trạm y tế có bác sĩ), bệnh viện đa khoa huyện đang trong giai đoạn xây dựng hoàn chỉnh với quy mô 100 giường bệnh
Công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em được quan tâm, số phụ nữ
có thai được khám theo dõi trên 03 lần, được tiêm VAT và chăm sóc sau sinh đạt trên 90%; trẻ em được tiêm chủng miễn dịch đầy đủ trên 95%, tỷ lệ trẻ em dưới 05 tuổi suy dinh dưỡng còn 11% (năm 2004 là 17%); tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hiện còn 0.99% (năm 2004 là 1,27%), mức giảm sinh bình quân 0,15‰
3.1.2.7 Về công tác giải quyết việc làm, giảm nghèo và thực hiện chính sách an sinh xã hội
Công tác giải quyết việc làm, giảm nghèo, thực hiện chính sách an sinh
xã hội được các cấp, các ngành, đoàn thể và cộng đồng xã hội chú trọng thực hiện có hiệu quả Toàn huyện đã đào tạo tổng cộng 3.978 lao động, giải quyết việc làm cho 2.299 lao động đạt tỷ lệ 57% Đến nay, hộ nghèo còn 4,5% giảm 4,61% so với năm 2004 Xây dựng, sửa chữa nhà tình nghĩa được 219 căn với tổng nguồn kinh phí là 5.828.211.524 đồng, xây dựng 1.669 căn nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo với tổng kinh phí 49.987.517.000 đồng (không có nhà xiêu vẹo, tạm bợ)
Mười năm qua, huyện đã vận động đóng góp được trên 49 tỷ đồng, xây dựng nhà đại đoàn kết, nhà tình thương cho hộ nghèo gặp khó khăn về nhà ở; Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chương trình mục tiêu việc làm, chương trình giảm nghèo; Thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng các chế
độ chính sách cho gia đình chính sách, người có công, các đối tượng bảo trợ
xã hội
Trang 383.1.2.8 Về tình hình an ninh chính trị và công tác quốc phòng
Tình hình an ninh chính trị được giữ vững ổn định, trật tự an ninh xã
hội được kiểm soát Các loại tội phạm, tệ nạn xã hội trên địa bàn được kiểm
soát và giảm rõ rệt Công tác tuần tra, kiểm soát, kiềm chế tai nạn giao thông, phòng chống cháy nổ được quan tâm thực hiện thường xuyên Đến nay, huyện
đã xây dựng mô hình xã, ấp, giáo xứ, họ đạo 3 không “không tội phạm, không
ma túy, không mại dâm” phát triển rộng khắp
Công tác quốc phòng và quân sự địa phương được triển khai, tổ chức thực hiện khá đồng bộ, đạt yêu cầu chỉ tiêu và không ngừng nâng cao chất lượng, sẵn sàng ứng phó kịp thời trong mọi tình huống Lực lượng vũ trang được xây dựng vững mạnh, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, tiềm lực quốc phòng, an ninh được tăng cường; khu vực phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân được củng cố
3.1.2.9 Về hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ
Tổ chức bộ máy các ban xây dựng Đảng, các phòng ban UBND huyện, UBND các xã, thị trấn, các đoàn thể chính trị xã hội được thành lập, từng bước được bổ sung sắp xếp, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Đến nay Đảng bộ đã có 46 tổ chức cơ sở Đảng với 1.545 đảng viên, Đảng bộ luôn giữ vững “Trong sạch, vững mạnh”
Về công tác cán bộ, khi mới chia tách đội ngũ cán bộ còn thiếu, vừa yếu về trình độ chuyên môn, trình độ chính trị và năng lực thực tiễn Hiện nay, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, công chức huyện được nâng cao: trung học 356 đồng chí (năm 2004: 167 đồng chí); Cao đẳng: 134 đồng chí (năm 2004: 62 đồng chí); Đại học: 498 đồng chí (năm 2004: 115 đồng chí); Thạc sĩ: 18 đồng chí (năm 2004: 01 đồng chí), Tiến sĩ: 01 đồng chí (năm 2004: 0 đồng chí) Trình độ lý luận chính trị: Sơ cấp: 555 đồng chí (năm 2004:
208 đồng chí); Trung cấp: 328 đồng chí (năm 2004: 214 đồng chí); Cao cấp,
Trang 39Thạnh, Ngân hàng TMCP Kiên Long (Kienlongbank), Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) và Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank)
Hầu hết chi nhánh ngân hàng và các phòng giao dịch được đặt ở 2 thị trấn của huyện là thị trấn Vĩnh Thạnh và thị trấn Thạnh An Một số chi nhánh ngân hàng được đặt trên tuyến quốc lộ 80 là tuyến lộ huyết mạch trên địa bàn toàn huyện
Trong số các chi nhánh và phòng giao dịch trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh thì NHNN&PTNN và NHCSXH là hai ngân hàng mà nông hộ có thể tiếp cận nguồn vốn dễ dàng nhất Do đây là hai ngân hàng được thành lập với mục đích chủ yếu là cho vay để phục vụ sản xuất nông nghiệp và hỗ trợ vốn cho hộ nghèo Các ngân hàng còn lại vẫn có các chương trình cho vay để khuyến khích đầu tư và sản xuất nông nghiệp nhưng chủ yếu tập trung vào đối tượng khách hàng là doanh nghiệp, vì vậy khả năng tiếp cận nguồn vốn từ các ngân hàng này của nông hộ thường khó khăn hay thường bị hạn chế
Để có cái nhìn cụ thể hơn về thị trường tín dụng chính thức trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, chúng ta tiến hành tìm hiểu sơ lược về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Ngân hàng Chính sách xã hội:
3.2.1.1 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh huyện Vĩnh
Thạnh là chi nhánh cấp 2 chịu sự quản lý của NHNN&PTNN chi nhánh Cần
Thơ Trụ sở đặt trên quốc lộ 80, thị trấn Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh Một phòng giao dịch khác của ngân hàng được đặt tại khu hành chính số 10, thị trấn Vĩnh Thạnh chịu sự quản lý trực tiếp của chi nhánh ngân hàng cấp 2
Nhiệm vụ của chi nhánh trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh là cho vay các thành phần kinh tế, huy động vốn trên địa bàn và cung cấp các dịch vụ ngân hàng, nhưng hoạt động chủ yếu trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh của chi nhánh
là cho vay các thành phần kinh tế trong đó cho vay sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Cụ thể, đến cuối năm 2013 NHNN&PTNT huyện đã huy động được
165 tỷ đồng, đạt 97% kế hoạch; tổng dư nợ là 455 tỷ/3.015 hộ, tăng 19% so cùng kỳ, đạt 100% kế hoạch
Qua hình 3.1, ta thấy hoạt động chủ yếu của ngân hàng là cho vay, lượng vốn cho vay của ngân hàng luôn cao hơn lượng vốn huy động được (dư
nợ cao hơn khoảng 3 lần so với vốn huy động) Điều này cho thấy nguồn vốn
để cho vay không phải chỉ có nguồn vốn huy động tại chổ mà cần phải bổ sung thêm bằng nguồn vốn điều chuyển từ chi nhánh ngân hàng cấp trên
Trang 40Hình 3.1: Lượng vốn huy động và cho vay của NHNN&PTNN chi nhánh
huyện Vĩnh Thạnh giai đoạn 2011-2013
(Nguồn: Các báo cáo về KT-XH và AN-QP huyện Vĩnh Thạnh giai đoạn 2011-2013)
Từ hình trên, ta thấy lượng vốn huy động của ngân hàng không ổn định,
có sự tăng giảm qua các năm, nhưng nhìn chung thì lượng vốn huy động đã có
sự tăng trưởng mạnh trong giai đoạn 2011-2013, từ 107 tỷ đồng năm 2011 tăng lên 165 tỷ đồng vào năm 2013 Từ đây, chúng ta có thể thấy được thu nhập của người dân đã được cải thiện thông qua việc họ đã dư những khoản tiền để gửi vào ngân hàng sau khi đã trang trải cho các chi phí trong sinh hoạt
và sản xuất Lượng vốn cho vay của ngân hàng qua các năm cũng liên tục tăng
từ con số 297 tỷ đồng năm 2011 tăng lên 360 tỷ đồng năm 2012 và cao nhất vào năm 2013 với con số 455 tỷ đồng Tốc độ tăng của lượng vốn cho vay nhanh hơn lượng vốn huy động Từ đây, ta thấy người dân đã phần nào mạnh dạn hơn khi tiếp cận với các ngân hàng và trình độ của họ đã được cải thiện hơn, vì vậy họ sẵn sàng tiếp cận với các ngân hàng để vay vốn phục vụ cho
việc mở rộng sản xuất của mình
3.2.1.2 Ngân hàng Chính sách Xã hội
Tiền thân là ngân hàng phục vụ người nghèo Việt Nam bắt đầu đi vào hoạt động vào năm 1996, cung cấp tín dụng với lãi suất thấp thông qua hình thức các chương trình tín dụng vi mô cho người nghèo nông thôn không đủ điều kiện trong các khoản vay cá nhân vì tài sản thế chấp hạn chế Năm 2003, ngân hàng này đổi tên thành Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam, hoạt động của NHCSXH tập trung vào cho vay hộ nghèo, thông qua hợp tác chặt chẽ với các tổ chức địa phương trong thủ tục cho vay Cụ thể, UBND xã giúp NHCSXH xác minh nhóm người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn, các
tổ chức đoàn thể xã hội khác giúp NHCSXH thành lập và giám sát các khoản
165 279
360
455
0 50 100 150 200 250 300 350 400 450 500
Tỷ đồng
Vốn huy động
Dư nợ