Trong những năm qua, mặc dù hệ thống Ngân hàng Việt Nam nói chung và Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam nói riêng đã nổ lực tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng và hạn chế
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ ĐỖ TRƯỜNG
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ NỢ XẤU
TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG CHI NHÁNH TIỀN GIANG-PHÒNG GIAO DỊCH
CAI LẬY GIAI ĐOẠN 2011-2013
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Mã số ngành: 52340201
Tháng 12 - Năm 2014
Trang 2i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ ĐỖ TRƯỜNG MSSV: 4114327
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ NỢ XẤU
TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG CHI NHÁNH TIỀN GIANG-PHÒNG GIAO DỊCH
CAI LẬY GIAI ĐOẠN 2011-2013
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Mã số ngành: 52340201
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN TRƯƠNG HÒA BÌNH
Tháng 12 - Năm 2014
Trang 3ii
LỜI CẢM TẠ
Sau thời gian học tập tại trường Đại học Cần Thơ, được sự giảng dạy nhiệt tình từ quý Thầy Cô của trường, đặc biệt là quý Thầy Cô Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, em đã học được những kiến thức thật hữu ích cho chuyên ngành của mình Nhất là trong quá trình thực tập tại ngân hàng để làm đề tài tốt nghiệp, em đã có điều kiện tiếp xúc và vận dụng những kiến thức đó vào thực tế, giúp em trưởng thành và tự tin bước vào cuộc sống
Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô Khoa Kinh tế - Quản trị kinh
doanh, đặc biệt là Thầy Trương Hòa Bình trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, hỗ
trợ cho em rất nhiều về mặt tài liệu và số liệu, tạo điều kiện giúp em có thể hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp của mình
Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long Chi nhánh Tiền Giang - Phòng giao dịch Cai Lậy đã tạo cơ hội cho em được tiếp xúc với môi trường làm việc tại ngân
hàng và giúp đỡ em hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình
Cùng lời cảm tạ, em xin kính chúc quý Thầy Cô, các cô chú và anh chị trong Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long Chi nhánh Tiền Giang - Phòng giao dịch Cai Lậy sức khỏe và thành công trong công việc cũng như trong cuộc sống
Ngày 18 tháng 12 năm 2014 Sinh viên thực hiện
HÀ ĐỖ TRƯỜNG
Trang 4iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất
kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào
Ngày 18 tháng 12 năm 2014 Sinh viên thực hiện
HÀ ĐỖ TRƯỜNG
Trang 5iv
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
Ngày……tháng……năm 2014
Người nhận xét
Trang 6v
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu c ụ thể 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Không gian 2
1.3.2 Thời gian 2
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
2.1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 4
2.1.1.1 Khái niệm 4
2.1.1.2 Vai trò của NHTM trong nền kinh tế 4
2.1.2 Tín dụng và rủi ro hoạt động tín dụng 5
2.1.2.1 Khái niệm về Tín dụng 5
2.1.2.2 Rủi ro hoạt động tín dụng 10
2.1.3 Những vấn đề cơ bản về nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 11
2.1.3.1 Khái niệm về nợ xấu 11
2.1.3.2 Phân loại nợ xấu 11
2.1.3.3 Bản chất của nợ xấu 13
2.1.3.3 Những chỉ tiêu cơ bản phản ánh nợ xấu 14
2.1.3.4 Ảnh hưởng của nợ xấu 15
2.1.3.5 Dấu hiệu của kho ản vay có biểu hiện nguy cơ nợ xấu 18
2.1.3.6 Nguyên nhân gây ra nợ xấu 18
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
Trang 7vi
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 23
CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG 25
3.1 Khái quát về ngân hàng MHB 25
3.2 Khái quát về ngân hàng MHB chi nhánh Tiền Giang – PGD Cai Lậy 26
3.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 26
3.2.2 Cơ cấu tổ chức 26
3.2.3 Chức năng 30
3.2.4 Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng MHB chi nhánh Tiền Giang – PGD Cai Lậy 31
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG MHB CHI NHÁNH TIỀN GIANG - PHÒNG GIAO DỊCH CAI LẬY 32
4.1 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG 32
4.1.1 Phân tích tình hình tài sản và nguồn vốn của ngân hàng 32
4.1.2 Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng 34
4.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH NỢ XẤU 36
4.2.1 Phân tích tình hình nguồn vốn huy động của ngân hàng 36
4.2.2 Phân tích tình hình tín dụng của ngân hàng 38
4.2.2.1 Phân tích tình hình chung về hoạt động tín dụng 38
4.2.2.1 Phân tích tình hình dư nợ 39
4.2.3 Một số chỉ tiêu phản ánh tình hình nợ xấu tại ngân hàng 41
CHƯƠNG 5 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG NỢ XẤU VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÍ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG MHB CHI NHÁNH TIỀN GIANG - PHÒNG GIAO DỊCH CAI LẬY 48
5.1 MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG MHB CHI NHÁNH TIỀN GIANG - PHÒNG GIAO DỊCH CAI LẬY 48
5.1.1 Mục tiêu 48
5.1.2 Định hướng 48
5.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG NỢ XẤU VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÍ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG MHB CHI NHÁNH TIỀN GIANG - PHÒNG GIAO DỊCH CAI LẬY 49
Trang 8vii
5.2.1 Một số giải pháp hạn chế tình trạng nợ xấu tại Ngân hàng MHB Chi
nhánh Tiền Giang - Phòng giao dịch Cai Lậy 49
5.2.1.1 Hoàn thiện và thực hiện nghiêm ngặt quy trình tín dụng 49
5.2.1.2 Nâng cao hơn nữa chất lượng thẩm định tín dụng 50
5.2.1.3 Hoàn thiện và nâng cao hệ thống thông tin của Ngân hàng 50
5.2.1.4 Tăng cường kỹ năng công tác quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng 51
5.2.1.5 Thực hiện nghiêm túc các quy định về đảm bảo tiền vay 51
5.2.1.6 Thực hiện các chính sách khuyến khích nói chung, chính sách khuyến khích đối với cán bộ tín dụng nói riêng 52
5.2.1.7 Tăng cường chất lượng, hiệu quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ 53
5.2.1.8 Trích lập quỹ dự phòng rủi ro 53
5.2.1.9 Không ngừng nâng cao ý thức và đạo đức của cán bộ ngân hàng nói chung và cán bộ tín dụng nói riêng 54
5.2.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xử lí nợ xấu tại Ngân hàng MHB Chi nhánh Tiền Giang - Phòng giao dịch Cai Lậy 54
5.2.2.1 Thành lập Ban xử lý nợ xấu 54
5.2.2.2 Tổ chức phân tích và phân loại nợ xấu theo định kỳ 54
5.2.2.3 Tăng cường đôn đốc và xử lý đối với từng khoản vay 55
5.2.2.4 Đẩy mạnh công tác cơ cấu lại nợ 56
3.3.2.5 Sử dụng quỹ dự phòng rủi ro .56
5.2.2.6 Tiếp tục khai thác xử lý các khoản nợ có tài sản bảo đảm 57
3.3.2.7 Thúc đẩy thị trường mua bán nợ 58
5.2.2.8 Ngân hàng nên nghiên cứu những sản phẩm mới vừa hỗ trợ cho tín dụng vừa đem lại tiện ích cho khách hàng và ngân hàng 58
CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
6.1 KẾT LUẬN 59
6.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG NỢ XẤU VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG MHB CHI NHÁNH TIỀN GIANG - PHÒNG GIAO DỊCH CAI LẬY 60
Trang 9viii
6.2.1 Kiến nghị với Chính phủ 60
6.2.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 63
Trang 10ix
DANH SÁCH BẢNG
Trang Bảng 4.1 Kết quả hoạt động kinh doanh trong 3 năm (2011-2013)………….34
Bảng 4.2 Cơ cấu nguồn vốn huy động tại ngân hàng (2011-2013) 37
Bảng 4.3 Tình hình hoạt động tín dụng tại ngân hàng (2011-2013)…………38
Bảng 4.4 Dư nợ theo thời hạn tín dụng (2011-2013)……… …40
Bảng 4.5 Nợ xấu theo các loại cho vay 42
Bảng 4.6 Phân loại các nhóm nợ 44
Bảng 4.7 Tỷ lệ giữa giá trị các khoản nợ xấu trên tổng dư nợ 45
Bảng 4.8 Các nhóm nợ thuộc nợ xấu 45
Bảng 4.9 Tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn trên nợ xấu 46
Bảng 4.10 Tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro trên nợ xấu………46
Trang 11x
DANH SÁCH HÌNH
Trang Hình 4.1 Tổng Tài sản và Nguồn vốn………32
Trang 12SXKD: Sản xuất kinh doanh
SXKD-DV: Sản xuất kinh doanh- Dịch vụ
TGTK: Tiền gửi tiết kiệm
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 131
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, ngân hàng
là một trong những tổ chức kinh tế đạt được mức lợi nhuận cao nhất trong nền kinh tế Tuy nhiên, bên cạnh mức lợi nhuận cao đó luôn tiềm ẩn nhiều loại nguy cơ và rủi ro lớn mà ngân hàng phải đối mặt Một ngân hàng muốn tồn tại bền vững ngày càng phát triển luôn phải tìm ra những giải pháp để làm hạn chế hoặc giảm thiểu các loại nguy cơ và rủi ro đó cho ngân hàng
Các loại nguy cơ và rủi ro có thể phát sinh từ nhiều hoạt động khác nhau tại ngân hàng Đặc biệt trong hoạt động tín dụng, một hoạt động đặc trưng và quan trọng của NHTM, chiếm tỉ trọng cao nhất trong tổng tài sản, mang lại thu nhập lớn nhất song cũng mang lại nhiều nguy cơ, rủi ro cho ngân hàng Trong nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt trong vài năm gần đây, một số NHTM đã coi việc mở rộng hoạt động tín dụng là một giải pháp để thu hút khách hàng hay dùng để chiếm lĩnh thị phần Nhưng không đồng nghĩa với việc giảm tiêu chuẩn đánh giá khách hàng, tránh rào kiểm tra, giám sát hay đưa thông tin sai lệch….mà vẫn phải thực hiện đúng quy trình tín dụng để giảm tỉ lệ nợ xấu, tránh tổn thất cho ngân hàng Nợ xấu tồn tại do nhiều nguyên nhân và nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM, bởi lẽ nợ xấu có thể dẫn đến khả năng mất vốn nên các NHTM thường phải trích lập dự phòng rủi ro sẽ làm giảm lợi nhuận cho ngân hàng Nếu nợ xấu chiếm tỷ trọng lớn sẽ làm giảm uy tín của NHTM và còn ảnh hưởng đến vòng quay vốn của ngân hàng Những khoản cho vay không thu hồi được càng lớn, tỉ lệ nợ xấu càng tăng sẽ đe dọa đến tính thanh khoản của toàn hệ thống ngân hàng và gây ảnh hưởng xấu cho nền kinh tế Do đó, nợ xấu và những biện pháp làm giảm tỉ
lệ nợ xấu luôn là mối quan tâm hàng đầu trong hoạt động quản lí của ngân hàng
Xuất phát từ vấn đề đó, nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam nói chung và Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long nói riêng là một trong những việc cần được giải quyết hàng đầu nhằm góp phần hoàn thiện một bước quy trình từ đó nâng cao chất lượng tín dụng trong ngân hàng Đề tài
“Thực trạng và giải pháp về nợ xấu tại Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long Chi nhánh Tiền Giang - Phòng giao dịch Cai Lậy giai đoạn 2011-2013” được lựa chọn nhằm đáp ứng nhu cầu trên
Trang 141.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Mục tiêu 1: Phân tích khái quát tình hình hoạt động kinh doanh qua sự biến động tài tài sản và nguồn vốn cùng với các báo cáo về hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng MHB Chi nhánh Tiền Giang - Phòng giao dịch Cai Lậy trong giai đoạn 2011-2013
- Mục tiêu 2: Phân tích tình hình thực trạng và nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó trong vấn đề nợ xấu tại Ngân hàng MHB Chi nhánh Tiền Giang - Phòng giao dịch Cai Lậy
- Mục tiêu 3: Đưa ra những giải pháp, kiến nghị phù hợp về vấn đề nợ xấu nhằm nâng cao năng lực tín dụng tại Ngân hàng MHB Chi nhánh Tiền Giang - Phòng giao dịch Cai Lậy
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Không gian
Đề tài được thực hiện tại Ngân hàng MHB Chi nhánh Tiền Giang - Phòng giao dịch Cai Lậy Các số liệu dùng để thực hiện phân tích đề tài đã được cung cấp từ phòng Kế toán, phòng Tín dụng
1.3.2 Thời gian
Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian từ 11/8/2014 đến 17/11/2014 Các số liệu dùng để thực hiện phân tích đề tài được thu thập tại ngân hàng qua 3 năm 2011, 2012 và 2013
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu
Phân tích tình hình nợ xấu tại Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long Chi nhánh Tiền Giang - Phòng giao dịch Cai Lậy giai đoạn 2011-
2013
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
- “Quản trị nợ xấu trong ngân hàng thương mại, thực trạng và giải pháp trong ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam” do Hà Thị Hồng Nhung thực hiện Đề tài đã tập trung phân tích một số vấn đề: Hệ thống
Trang 153
hoá và làm rõ những lý luận cơ bản về vấn đề quản trị nợ xấu trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại; Phân tích thực trạng quản trị nợ xấu trong Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam; Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động quản trị nợ xấu của Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam Trên cơ sở một số lý luận về nợ xấu của các Ngân hàng thương mại nói chung, từ việc phân tích quản trị nợ xấu của Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam, luận văn hướng tới việc đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị nợ xấu trong Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam
- “Nợ xấu và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế VIB” do Vũ Văn Thực thực hiện Đề tài đã phân tích một số vấn đề: Cơ sở lí luận về tín dụng và rủi ro tín dụng; Thực trạng nợ xấu và xử lí nợ xấu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế VIB; Giải pháp xử lí nợ xấu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế VIB Trong những năm qua, mặc dù hệ thống Ngân hàng Việt Nam nói chung và Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam nói riêng đã nổ lực tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng và hạn chế rủi ro về nợ xấu nhưng đây thực sự là một lĩnh vực khá phức tạp và nhạy cảm với những biến động của tình hình kinh tế nên khi thực hiện còn gặp khá nhiều khó khăn và bộc lộ nhiều hạn chế nhưng từ những vấn đề đã phân tích
đề tài đã tổng kết và khái quát lý luận từ thực tiễn, phục vụ cho việc nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế rủi ro, tổn thất do nợ xấu gây ra
- “Phân tích hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam - Phòng giao dịch Cần Thơ” do Lê Hồng Sơn thực hiện Đề tài
đã phân tích một số vấn đề: Đánh giá khái quát tình hình kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam - Phòng giao dịch Cần Thơ; Phân tích chi tiết về hoạt động cho vay vốn, tình hình thu nợ, dư nợ và nợ xấu của khách hàng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam - Phòng giao dịch Cần Thơ; Tìm hiểu về những vấn đề còn tồn tại, những nguyên nhân, các yếu tố tác động đến hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam
- Phòng giao dịch Cần Thơ; Đề xuất một vài giải pháp hoàn thiện và nâng cao hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam - Phòng giao dịch Cần Thơ Tuy đề tài tập trung phân tích chủ yếu về hoạt động tín dụng nhưng đề tài cũng đã khái quát được những vấn đề cơ bản về nợ xấu và một số giải pháp hạn chế nợ xấu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam - Phòng giao dịch Cần Thơ
Trang 16Mặc dù còn nhiều cách thể hiện khác nhau nhưng có thể thấy ba đặc điểm chính trong các khái niệm đó là: NHTM là một doanh nghiệp; hoạt động nhận tiền ký thác, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và làm dịch vụ thanh toán
Ngày nay, trong thế giới hiện đại, hoạt động của các tổ chức tài chính là môi giới tài chính ngày càng phong phú và phát triển cả về số lượng lẫn quy
mô Vì vậy đặc trưng cơ bản để phân biệt NHTM với các tổ chức trung gian tài chính khác là hoạt động vì mục đích lợi nhuận thông qua huy động vốn và hoạt động tín dụng đặc biệt là cho vay
2.1.1.2 Vai trò của NHTM trong nền kinh tế
Qua quá trình hoạt động của các ngân hàng thương mại và đánh giá hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế ta có thể khẳng định vai trò của nó đối với nền kinh tế như sau:
Thứ nhất, ngân hàng thương là một công cụ quan trọng thúc đẩy sự phát triển của sản xuất lưu thông hàng hoá Thông qua chức năng huy động vốn, cho vay và đầu tư các ngân hàng đã huy động nguồn vốn nhàn rỗi của nền kinh tế, cho vay dưới các hình thức khác nhau đối với các ngành kinh tế, các vùng kinh tế và các thành phần kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn của xã hội nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Các ngân hàng đã thực sự huy động được sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế vào quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá Nếu như không có ngân hàng thương mại thì việc huy động của cải xã hội vào quá trình sản xuất kinh
Trang 175
doanh bị đình trệ rất nhiều Nhờ có ngân hàng thương mại mà tiền tiết kiệm của các cá nhân, các tổ chức được huy động vào quá trình vận động của nền kinh tế Nó trở thành một chất “dầu nhớt” bôi trơn cho bộ máy kinh tế hoạt động Nó chuyển của cải, tài nguyên xã hội từ nơi chưa sử dụng, còn tiềm tàng vào quá trình sử dụng phục vụ cho sản xuất kinh doanh nâng cao mức sống xã hội
Thêm nữa với vai trò làm trung gian thanh toán, ngân hàng đã thực hiện các dịch vụ trung gian thanh toán cho nền kinh tế do đó thúc đẩy nhanh quá trình thực hiện luân chuyển hàng hoá, luân chuyển vốn trong xã hội, tiết kiệm chi phí thanh toán cho từng cá nhân doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả cho toàn
bộ nền kinh tế Đồng thời ngân hàng cũng giám sát các hoạt động kinh tế góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh, tạo ra sự ổn định trong kinh tế xã hội
Ngày nay, có thể nói mọi quan hệ kinh tế đến thực hiện thông qua tiền tệ
và chủ yếu là thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng bên cạnh các tổ chức tài chính phi ngân hàng
Thứ hai, ngân hàng thương mại cũng như các trung gian tài chính khác là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương Với chức năng tạo tiền, ngân hàng thương mại là một trong các chủ thể tham gia vào quá trình cung ứng tiền, tạo ra một khối lượng phương tiện thanh toán rất lớn trong nền kinh tế
Để thực hiện chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương phải sử dụng các công cụ để điều tiết lượng trong lưu thông, nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô, đặc biệt là mục tiêu ổn định tiền tệ Phần lớn các công cụ của chính sách tiền tề chỉ được thực thi có hiệu quả với sự hợp tác tích cực và
có hiệu quả của các ngân hàng thương mại cũng như việc chấp hành qui định
dự trữ bắt buộc, quy chế thanh toán không dùng tiền mặt và nâng cao hiệu quả cho vay và đầu tư
2.1.2 Tín dụng và rủi ro hoạt động tín dụng
2.1.2.1 Khái niệm về Tín dụng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế, là hình thái đặc thù trong quá trình vận động của tiền tệ Nhờ tín dụng mà trong quá trình vận hành nền kinh tế dòng tài sản thể hiện dưới hình thái tiền tệ sẽ dịch chuyển từ chỗ tạm thời nhàn rỗi sang chỗ tạm thời thiếu hụt để cân bằng cung cầu vốn của thị trường Tín dụng còn thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định Người đi vay có
Trang 186
nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hoá đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi Tín dụng có vị trí quan trọng đối với việc tích tụ, tận dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để phát triển kinh doanh Có thể diễn giải khái niệm này một cách đơn giản hơn như sau: Dựa vào nghĩa của hai từ Tín và Dụng trong cụm từ ta thấy rằng Tín là chữ tín, Dụng hiểu nôm na là sử dụng, ghép hai từ lại ta có khái niệm dễ hiểu Tín dụng là việc sử dụng vốn, tài sản của người khác bằng uy tín, tín nhiệm của người sử dụng Rõ ràng, trong khái niệm này ít nhất phải có hai chủ thể: Người có vốn (Người cho vay) – muốn cho vay và Người có chữ tín (hoặc tài sản thế chấp) muốn đi vay (Người đi vay) Người cho vay có quyền sở hữu vốn nhưng chưa/không
có nhu cầu sử dụng vốn nên đã chuyển giao Quyền sử dụng cho Người đi vay Người đi vay chỉ có quyền sử dụng, không có quyền sở hữu đối với món vay Theo Giáo trình nghiệp vụ ngân hàng của Th.s Thái Văn Đại: “Tín dụng
là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (trái chủ người – người cho vay) cấp tiền, hàng hóa, dịch vụ, chứng khoán…dựa vào lời hứa thanh toán lại trong tương lai của bên kia (thụ trái – người cho vay)
Hay nói một cách khái quát thì tín dụng là sự vận động của các nguồn vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu Quan hệ tín dụng được hình thành và tồn tại dựa trên cơ sở tạo lập niềm tin và tín nhiệm mà người cho vay hướng về người
đi vay khi đem tài sản, tiền bạc ra cho vay và tin rằng họ sẽ hoàn trả nợ đúng hạn Quan hệ tín dụng tồn tại trong các phương thức khác nhau thì tín dụng cũng mang những bản chất khác nhau
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác với các nhà doanh nghiệp và cá nhân được thực hiện thông qua vai trò huy động vốn để cho vay Theo đó ngân hàng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh
tế và là nhân tố chủ yếu của hình thức tín dụng Về cơ bản, trong các NHTM hiện nay tín dụng được chia thành hai mảng chính là:
- Tín dụng cá nhân: Phục vụ các khách hàng cá nhân, nhu cầu phục vụ đời sống như: vay mua nhà, mua ôtô, du học, kinh doanh, phục vụ đời sống cá nhân …
- Tín dụng doanh nghiệp: Phục vụ các khách hàng doanh nghiệp, nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh như: cho vay bổ sung vốn lưu động, mua sắm tài sản, thanh toán công nợ khác (trừ trường hợp vay trả nợ ngân hàng khác) Phân loại tín dụng: Tín dụng được phân loại bằng nhiều cách khác nhau
Trang 197
* Căn cứ vào thời hạn tín dụng
- Tín dụng ngắn hạn: là những khoản vay có thời hạn đến 1 năm, thường được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động và phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của cá nhân
- Tín dụng trung hạn: là những khoản vay có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm; được cung cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật,
mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh
- Tín dụng dài hạn: là những khoản vay có thời hạn trên 5 năm Loại tín dụng này được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến
và mở rộng sản xuất với quy mô lớn
* Căn cứ vào đối tượng tín dụng
- Tín dụng vốn lưu động: được sử dụng để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế như cho vay để dự trữ hàng hóa, mua nguyên vật liệu cho sản xuất…
- Tín dụng vốn cố định: được sử dụng để hình thành tài sản cố định
* Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn
- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: là loại cấp phát tín dụng cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hóa
- Tín dụng tiêu dùng: là hình thức cấp phát tín dụng cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
- Tín dụng học tập: là hình thức cấp phát tín dụng để phục vụ việc học tập của sinh viên
Ngoài ra, căn cứ vào mục đích sử dụng vốn còn có thể có nhiều hình thức tín dụng khác
Trang 208
+ Không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để dự trữ vật tư, hàng hóa, trang trải các chi phí sản xuất và thanh toán các khoản nợ mà còn tham gia cấp vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản và đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu tín dụng tiêu dùng cá nhân
- Tín dụng Nhà Nước:
+ Là quan hệ tín dụng mà trong đó Nhà Nước biểu hiện là người đi vay, người cho vay là dân chúng, các tổ chức kinh tế, ngân hàng và nước ngoài
+ Mục đích đi vay của tín dụng Nhà Nước là bù đắp khoản bội chi của ngân sách
* Căn cứ vào đối tượng trả nợ
- Tín dụng trực tiếp: là hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay cũng là người trực tiếp trả nợ
- Tín dụng gián tiếp: là hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay và người trả nợ là hai đối tượng khác nhau
* Căn cứ vào tính chất của khoản vay
- Tín dụng có đảm bảo: các khoản vốn tín dụng phát ra đều có hàng hóa, vật tư tài sản tương đương đảm bảo
- Tín dụng không có đảm bảo: các khoản tín dụng phát ra không cần
có hàng hóa, vật tư, tài sản đảm bảo mà chỉ dựa vào uy tín, sự tín nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân để cấp vốn tín dụng
Chức năng của tín dụng: Là một bộ phận của hệ thống tài chính, quan hệ tín dụng cũng có chức năng phân phối và giám đốc
- Chức năng phân phối của tín dụng được thực hiện thông qua phân phối lại vốn Phân phối của tín dụng dựa trên cơ sở tự nguyện theo nguyên tắc hoàn trả và có hiệu quả Nội dung của chức năng này biểu hiện ở cơ chế "hút" (hay huy động) các nguồn vốn tiền tệ nhàn rỗi, phân tán trong xã hội để (đẩy) (hay cho vay) nó vào hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng "thu hồi" vốn cho vay theo kỳ hạn và "tham dự phân phối" ở các cơ sở đi vay theo số lượng cho vay với tỷ suất lợi tức đã ghi trong hợp đồng
- Chức năng giám đốc, kiểm soát các hoạt động kinh tế của tín dụng có liên quan đến đặc điểm quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng vốn, đến mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay
Người có vốn cho vay luôn quan tâm đến sự an toàn của vốn, không những thế, họ còn mong muốn vốn của họ khi sử dụng có khả năng sinh lợi để
Trang 219
họ có thể thu về thêm khoản lợi tức Muốn vậy, người cho vay phải am hiểu và kiểm soát hoạt động của người đi vay, từ khâu xem xét tư cách pháp nhân người vay, tình hình vốn liếng, mặt hàng sản xuất kinh doanh cả về chất lượng
và số lượng, khả năng trả nợ nói riêng và tình hình tài chính nói chung, quan
hệ với các chủ nợ khác Sau khi xem xét tư cách pháp nhân để cho vay, người cho vay còn phải kiểm soát việc sử dụng vốn cho vay có đúng mục đích không, có hiệu quả không để điều chỉnh liều lượng vốn và để thu hồi vốn đúng hạn, có kèm theo lợi tức
Vai trò của tín dụng: để thực hiện tốt hai chức năng trên, tín dụng có vai trò sau:
- Thứ nhất: Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất được liên tục đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế Việc phân phối vốn tín dụng
đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục Tín dụng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư
Nó là động lực kích thích tiết kiệm đồng thời là phương tiện đáp ứng nhu cầu
về vốn cho đầu tư phát triển Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, tín dụng là một trong những nguồn vốn hình thành vốn lưu động và vốn cố định của doanh nghiệp, vì vậy tín dụng đã góp phần động viên vật tư hàng hoá đi vào sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật đẩy nhanh quá trình tái sản xuất
- Thứ ba: Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành kinh tế mũi nhọn Trong thời gian tập trung phát triển nông nghiệp và ưu tiên cho xuất khẩu … Nhà nước đã tập trung tín dụng để tài trợ phát triển các ngành đó, từ đó tạo điều kiện phát triển các ngành khác
- Thứ tư: Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh
tế của các doanh nghiệp Đặc trưng cơ bản của vốn tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức, nhờ vậy mà hoạt động của tín dụng đã kích thích sử dụng vốn có hiệu quả Bằng cách tác động như vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp khi sử dụng vốn tín dụng phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn, tạo điều kiện nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp
Trang 2210
- Thứ năm: Tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài Trong điều kiện kinh tế “mở”, tín dụng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền các nền kinh tế các nước với nhau
2.1.2.2 Rủi ro hoạt động tín dụng
Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn
bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết Trong nền kinh tế thị trường rủi ro đồng hành với quá trình phát triển Có nhiều định nghĩa và khái niệm khác nhau về rủi ro Nhưng nhìn chung, rủi ro là những yếu tố tiềm ẩn, mà khi phát sinh sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả của hoạt động kinh tế hoặc là khả năng làm thất thoát, thiệt hại về vật chất cũng như tinh thần trong cuộc sống Đối với tín dụng Ngân hàng thì rủi ro được khái niệm một cách cụ thể hơn Đó là khả năng không thu hồi được vốn cho vay và lãi phát sinh, là những tình huống phát sinh trong quá trình sử dụng vốn vay làm cho người vay hoặc những tình huống người vay không thực hiện thanh toán nợ gốc và lãi đúng hạn Ở đây có hai yếu tố quan trọng của hai phía người cho vay và người vay
Có thể khẳng định rằng rủi ro trong hoạt động tín dụng không phải là bản chất vốn có của tín dụng mà là những hoạt động liên quan dẫn đến một kết quả không như mong muốn trong hoạt động tín dụng Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có qui mô lớn nhất của NHTM – đó chính là hoạt động tín dụng Khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể, Ngân hàng cố gắng phân tích, đánh giá người vay sao cho độ an toàn cao nhất Và nhìn chung Ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy rằng rủi ro tín dụng sẽ không xảy
ra Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh Ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân Hơn nữa, nhiều cán bộ Ngân hàng không có khả năng thực hiện phân tích tín dụng thích đáng Do vậy, trên quan điểm quản lý toàn bộ Ngân hàng, rủi ro tín dụng là khó có thể tránh khỏi, là khách quan Nhiều quan điểm nhất trí cho rằng, rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế, chứ khó có thể loại trừ Do vậy, rủi ro dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung của Ngân hàng Điều này cũng có nghĩa, rủi ro tín dụng luôn là khách quan, là nguyên nhân chính gây ra những khoản nợ xấu trong Ngân hàng và các khoản
nợ xấu này tồn tại một cách khách quan, song hành với tiến trình hoạt động của Ngân hàng Cũng từ điều đó mà ta chỉ có thể hạn chế nợ xấu mà không thể loại bỏ hoàn toàn nợ xấu
Trang 2311
2.1.3 Những vấn đề cơ bản về nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
2.1.3.1 Khái niệm về nợ xấu
Nợ xấu được hiểu là các khoản nợ hầu như không có khả năng được thanh toán và bắt buộc phải xử lý bằng bút toán xoá nợ Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước ngày 21/1/2013 phân loại tài sản
có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cùng với thông tư 09/2014/TT-NHNN ngày 18/3/2014 về việc sửa đổi, bổ sung thì Nợ xấu được định nghĩa như sau: Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) Nợ xấu theo định nghĩa của Việt Nam cũng được xác định dựa theo 2 yếu tố: (i) đã quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại
Các khoản nợ xấu là biểu hiện không lành mạnh của hoạt động tín dụng
có thể gây cho NHTM rủi ro đọng vốn (do khách hàng trả chậm) hoặc rủi ro mất vốn (do khách hàng không trả được nợ) Như vậy có thể thấy nợ xấu thực chất là khoản tín dụng được cấp ra nhưng không thu hồi được đúng theo thỏa thuận Đó chính là mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo, trước hết nó vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính thời hạn và tính hoàn trả, gây nên
sự đổ vỡ lòng tin của người cấp tín dụng đối với người nhận tín dụng
Qua định nghĩa về nợ xấu của các tổ chức trên ta có thể hiểu khái quát nợ xấu là các khoản nợ mà khách hàng không trả gốc và lãi đúng hạn hoặc không trả nợ như đã cam kết dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng
2.1.3.2 Phân loại nợ xấu
Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước ngày 21/1/2013 phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi
ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cùng với thông tư 09/2014/TT-NHNN ngày 18/3/2014 về việc sửa đổi, bổ sung thì Nợ xấu được xác định dựa trên cả yếu tố thời hạn nợ và khả năng thu hồi
* Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày
- Nợ gia hạn nợ lần đầu.
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
Trang 2412
- Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật
+ Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công
ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp
+ Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật
+ Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ
lệ giới hạn theo quy định của pháp luật
+ Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật
+ Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
+ Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
- Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra
Nợ xấu thuộc nhóm này được coi là các khoản nợ có khả năng thu hồi cao nhất Ngân hàng sẽ trích lập một tỷ lệ DPRR cho nợ xấu nhóm này là 20%
dư nợ của nhóm
- Nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này
* Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai
Trang 25Nợ xấu thuộc nhóm này được đánh giá là có khả năng thu hồi thấp hơn
so với các khoản nợ của nhóm 3 Các khoản nợ này được xếp vào những khoản nợ mà Ngân hàng có sự nghi ngờ về khả năng trả nợ Tỷ lệ trích lập DPRR cho nợ xấu thuộc nhóm này là 50% tổng dư nợ của nhóm
* Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
- Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần hai
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn
- Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được
- Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công
bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản
- Nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 3 Điều này Khả năng thu hồi nợ của nhóm này được coi như bằng 0, do vậy tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tương ứng là 100% tổng dư nợ của nhóm Còn riêng đối với các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý thì được trích lập dự phòng
cụ thể theo khả năng tài chính của TCTD
2.1.3.3 Bản chất của nợ xấu
Hoàn trả đầy đủ khoản nợ gốc và lãi cho Ngân hàng đến thời điểm đáo hạn là hành động hoàn tất mối quan hệ tín dụng hoàn hảo giữa Ngân hàng và khách hàng Như vậy, nợ xấu trong hoạt động tín dụng NHTM là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo khi người đi vay (khách hàng) không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho Ngân hàng đúng hạn
Nợ xấu nói chung được xem như một dấu hiệu của vấn đề rủi ro tiềm ẩn Tuy nhiên, thực tế một khoản nợ xấu thì cho biết rất ít vấn đề, để xác định bản
Trang 2614
chất vấn đề phải tìm hiểu được nguyên nhân của khoản nợ đó Nếu khoản nợ xấu là một biểu hiện của việc khách hàng không muốn hoặc không có khả năng hoàn trả thì có thể khoản vay đã có vấn đề nghiêm trọng và có nguy cơ không cứu vãn được Nếu khoản nợ chỉ hình thành do việc tiêu thụ hàng hóa hoặc thu hồi các khoản phải thu chậm hơn dự tính hoặc do việc chậm trễ không tính trước được trong việc chuyển từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ trên thị trường, thì vấn đề chưa đến mức nghiêm trọng
Bản chất của nợ xấu gắn liền với bản chất của mối quan hệ tín dụng – đây là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ có quan hệ với nhau thông qua sự vận động của giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ và hàng hóa từ người cho vay chuyển sang người đi vay và sau một thời gian nhất định quay về với người cho vay với giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu Do đó, tín dụng được tạo nên từ 3 yếu tố chính là: lòng tin, thời hạn của quan hệ tín dụng và sự hứa hẹn hoàn trả Người ta chỉ cho vay khi người ta tin rằng việc sử dụng giá trị đó sẽ thu được lượng giá trị lớn hơn, có tính hiệu quả hơn sau một thời gian nhất định
Như vậy, có thể thấy bản chất nợ xấu là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo, trước hết vì nó vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng
là tính thời hạn, sau nữa nó vi phạm đến đặc trưng thứ hai là tính hoàn trả đầy
đủ, gây nên sự đổ vỡ lòng tin của người cung cấp tín dụng đối với khách hàng nhận tín dụng
2.1.3.3 Những chỉ tiêu cơ bản phản ánh nợ xấu
- Tổng số nợ xấu: Đây là chỉ tiêu phản ánh chung giá trị tuyệt đối của toàn bộ khoản nợ xấu của ngân hàng Chỉ tiêu này chưa cho biết trong tổng số
dư nợ đó, nợ không có khả năng thu hồi là bao nhiêu và nợ có khả năng thu hồi là bao nhiêu Và như vậy, nó chưa phản ánh một cách chính xác số nợ cho vay không có khả năng thu hồi của ngân hàng
- Tỷ lệ giữa nợ xấu trên tổng dư nợ: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng Cho biết cứ 100 đơn vị tiền tệ khi Ngân hàng cho vay thì có bao nhiêu đơn vị tiền tệ mà Ngân hàng xác định khó có khả năng thu hồi hoặc không thu hồi được đúng hạn tại thời điểm xác định Tỷ lệ này càng cao thì khả năng rủi ro càng cao Nếu như tỷ lệ này lớn hơn 7% thì Ngân hàng bị coi là có chất lượng tín dụng yếu kém, còn nếu nhỏ hơn 5% thì được coi là có chất lượng tín dụng tốt, các khoản cho vay an toàn Tuy nhiên các con số được
sử dụng để tính chỉ số này được đo tại một thời điểm nhất định nên chưa phản ánh hoàn toàn chính xác chất lượng tín dụng của ngân hàng
Trang 2715
- Tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn trên nợ xấu: Các chỉ số này phản ánh chỉ tiêu tương đối của nợ nhóm 5 – một cấu phần quan trọng của nợ xấu Đây là những chỉ tiêu phản ánh khá trung thực về thực tế và nguy cơ mất vốn của ngân hàng Tỷ lệ này càng lớn thì khả năng rủi ro mất vốn của Ngân hàng càng cao
- Tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro trên nợ xấu: Tỷ lệ này cho biết quỹ dự phòng rủi ro có khả năng bù đắp bao nhiêu cho các khoản nợ xấu khi chúng chuyển thành các khoản nợ mất vốn Nếu tỷ lệ này càng cao thì khả năng quỹ dự phòng rủi ro đủ bù đắp các thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh koanh của Ngân hàng càng cao và ngược lại
- Ngoài ra tùy theo tình hình cụ thể của mỗi Ngân hàng hoặc quốc gia trong từng thời kỳ mà có thể có thêm các chỉ tiêu khác để đánh giá, so sánh thực trạng nợ xấu nhằm xây dựng các biện pháp xử lý hợp lý
2.1.3.4 Ảnh hưởng của nợ xấu
Nợ xấu là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo bởi nó vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính thời hạn, dẫn đến vi phạm đặc trưng thứ hai, tính hoàn trả đầy đủ, gây nên sự đổ vỡ lòng tin Khi tỷ lệ nợ xấu này mà cao thì nó sẽ gây nên những hậu quả vô cùng nghiêm trọng đối với nền kinh tế và chính bản thân Ngân hàng
NHTM là một trung gian tài chính có chức năng dẫn vốn từ nơi có khả năng cung ứng vốn đến những nơi có nhu cầu về vốn nhằm tạo điều kiện cho đầu tư, phát triển kinh tế Do đó, một sự biến động của Ngân hàng sẽ ảnh hưởng xấu đến chính hệ thống Ngân hàng và nền kinh tế mà nợ xấu là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra Tác hại của nợ xấu thể hiện trên các nội dung sau:
* Ảnh hưởng đối với NHTM
Thứ nhất – làm giảm lợi nhuận: Lợi nhuận là chỉ tiêu cuối cùng của Ngân hàng, lợi nhuận được hình thành từ những khoản thu của Ngân hàng mà
Trang 28- Phát sinh nợ xấu tất yếu Ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro cho khoản vay đó, tức là làm tăng chi phí của Ngân hàng đồng thời làm giảm lợi nhuận
Thứ hai – ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và kế hoạch kinh doanh: Các khoản vay của khách hàng không được thanh toán đúng hạn, hay khi chuyển sang quá hạn thì việc thu nợ đã không đúng theo kế hoạch của Ngân hàng gây ra thiếu hụt so với dự tính của kế hoạch Sự việc này chỉ trong một giới hạn nhất định, song nếu vượt qua một giới hạn cho phép Ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, và không có kế hoạch cho tương lai Thứ ba – làm mất uy tín của Ngân hàng: Những ảnh hưởng của nợ xấu dẫn đến lợi nhuận giảm, khả năng thanh toán giảm… nó có tác động sâu sắc đến tâm lý khách hàng “hiệu ứng khách hàng” kể cả là khách hàng cá thể, doanh nghiệp hay các Ngân hàng đối tác Trong lĩnh vực Ngân hàng uy tín tuyệt đối quan trọng, nó quyết định sự sống còn, tồn tại và phát triển một Ngân hàng
Thứ tư – không duy trì được đội ngũ nhân viên: khi một Ngân hàng làm
ăn không hiệu quả, hay để tình trạng nợ xấu nhiều sẽ gây tâm lý hoang mang cho không những khách hàng mà còn cho chính nhân viên Ngân hàng, sẽ không giữ được những người làm việc hiệu quả ở lại, đây là một chi phí rất lớn cho Ngân hàng
* Ảnh hưởng đối với nền kinh tế
Nợ xấu phát sinh do khách hàng, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kém hiệu quả sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế do ứ đọng vốn, sản xuất kinh doanh đình trệ
Nợ xấu tác động đến nền kinh tế chủ yếu thông qua mối quan hệ gián tiếp: Ngân hàng - Khách hàng - Nền kinh tế Hệ thống Ngân hàng không thu hồi được vốn để tiếp tục quanh vòng phục vụ các Doanh nghiệp Nền kinh tế
bị tồn đọng một lượng vật chất lớn đóng băng không được khai thác Doanh nghiệp không trả được nợ cho Ngân hàng làm suy giảm năng lực tài chính của trong nền kinh tế phụ thuộc vào hệ thống Ngân hàng Khi tỷ lệ nợ xấu cao các NHTM không thể công khai thực trạng tài chính của mình Do vậy làm mất lòng tin của các khách hàng và bạn hàng trong nước và quốc tế và giảm cơhội
Trang 2917
chiếm lĩnh thị trường tài chính tiền tệ Các NHTM Việt Nam chỉ hội nhập, hoạt động theo đúng chuẩn mực về an toàn, kế toán, phát triển và nâng cao khả năng cạnh tranh khi nợ xấu được xử lý về cơ bản Do vậy các NHTM cần tập trung vào hoạt động và tự xử lý rủi ro theo đúng cơ chế về trích lập dự phòng rủi ro theo thông lệ quốc tế
Nợ xấu tùy theo tính chất và mức độ, không chỉ ảnh hưởng tới Ngân hàng mà còn cả tới các doanh nghiệp, các cá nhân liên quan và toàn bộ nền kinh tế Trên giác độ vĩ mô, nợ xấu làm giảm tính tích cực của tín dụng đối với nền kinh tế, cản trở NHTM thực hiện tốt chức năng trung gian tín dụng, cung cấp vốn cho nền kinh tế Việc điều tiết vĩ môt kinh tế thông qua các NHTM cũng trở nên kém hiệu quả Ở mức độ trầm trọng, nợ xấu không chỉ gây mất vốn, mất khả năng thanh toán dẫn tới sự sụp đổ không chỉ của một Ngân hàng
mà còn kéo theo ảnh hưởng dây truyền làm chao đảo toàn bộ hệ thống Ngân hàng Điều đó gây rối loạn lưu thông tiền tệ trong nước, gây đình trệ sản xuất
và khủng hoảng kinh tế
Tóm lại, nợ xấu không những tác động đối với Ngân hàng mà còn nguy hại đối với cả nền kinh tế, trật tự xã hội Do đó, quan tâm quản trị nợ xấu không còn là việc riêng của các NHTM mà là sự quan tâm chung của cả NHNN, Chính phủ và xã hội
* Ảnh hưởng đối với khách hàng
- Nợ xấu làm giảm tốc độ chu chuyển vốn: Trong nền kinh tế hiện đại hầu hết các hoạt động thanh toán giao dịch của khách hàng chủ yếu dựa vào vốn vay Ngân hàng Do vậy tính trạng nợ xấu dây dưa khó đòi của khách hàng
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mối quan hệ của khách hàng với Ngân hàng, điều này ít nhất làm giảm tốc độ chu luân chuyển vốn của khách hàng
- Trong hoạt động kinh doanh của mình, khách hàng cần tạo lập mối quan hệ tốt với Ngân hàng tuy nhiên việc phát sinh nợ xấu sẽ làm khách hàng mất uy tín, là vật cản lớn gây ra khó khăn cho chính họ, sẽ không có Ngân hàng nào muốn duy trì quan hệ lâu dài với doanh nghiệp có tỷ lệ nợ xấu cao Khi các NHTM tiến hành xử lý nợ xấu, họ sẽ sử dụng nhiều biện pháp nhằm thu được nợ Biện pháp đưa ra có thể là giãn nợ, cấp thêm tín dụng, giảm lãi suất Chính điều này tạo cho các doanh nghiệp gặp khó khăn có điều kiện để tìm ra cách thức cơ cấu lại bộ máy quản lý, đổi mới trong phương thức sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm Có điều kiện phục hồi và trả nợ cho Ngân hàng
Trang 3018
2.1.3.5 Dấu hiệu của khoản vay có biểu hiện nguy cơ nợ xấu
- Tính khả thi của dự án thấp, sản phẩm làm ra ứ đọng không tiêu thụ được
- Thu nhập của người vay không ổn định, giảm sút
- Người vay trì hoãn việc nộp các báo cáo tài chính cho Ngân hàng Khi Ngân hàng có yêu cầu kiểm tra người vay cố tình lẩn tránh và có biểu hiện không thiện chí
- Sử dụng vốn vay sai mục đích
- Số vòng quay vốn tín dụng chậm, gây ứ đọng vốn
- Hoàn trả nợ vay không đầy đủ, không đúng hạn
- Ban lãnh đạo doanh nghiệp mất đoàn kết, có thay đổi
- Bị ảnh hưởng của thiên tai, hoả hoạn, thay đổi chính sách theo chiều hướng bất lợi
2.1.3.6 Nguyên nhân gây ra nợ xấu
* Nguyên nhân chủ quan
- Nguyên nhân từ phía khách hàng
+ Khách hàng là cá nhân: Do nguồn trả nợ của họ chủ yếu dựa vào lương
vì vậy khi bị mất việc thì thu nhập của họ không đảm bảo để trả nợ Hơn nữa
do Ngân hàng chỉ dựa chủ yếu trên thông tin mà khách hàng khai để tính toán nên để vay được khách hàng có thể cung cấp thông tin không đúng về chi phí
và thu nhập của mình Việc khách hàng gặp phải những đột biến trong cuộc sống và trong công việc cũng là nguyên nhân gây nên rủi ro Ví dụ như họ phải đền bù những khoản tiền lớn hoặc phải sử dụng tiền cho người thân chữa bệnh Như vậy các nguyên nhân gây nên nợ xấu từ phía khách hàng là cá nhân có bản chất là làm thay đổi thu nhập cơ bản và ổn định của họ Từ đó ảnh hưởng đến cam kết hoàn trả tiền cho Ngân hàng (bên cạnh rủi ro đạo đức) + Khách hàng là doanh nghiệp: Nguyên nhân gây ra nợ xấu là những nguyên nhân làm cho họ không đảm bảo trả nợ cho Ngân hàng như: Thị trường đầu vào, đầu ra của sản phẩm có sự biến động: giá cả đầu vào tăng, thời gian cung ứng chậm trong khi đó giá cả đầu ra giảm do xuất hiện các sản phẩm thay thế, sản phẩm bổ sung hoặc doanh nghiệp chỉ thực hiện cung cấp một số đoạn thị trường nhất định, chính sách bán hàng không phù hợp; Tài sản
cố định hao mòn quá lớn hay hết thời gian khấu hao làm ảnh hưởng chất lượng
và giá thành sản phẩm; Tài chính của nhiều doanh nghiệp không minh bạch gây khó khăn trong việc thẩm định, đánh giá doanh nghiệp
Trang 31Hoạt động tín dụng của Ngân hàng luôn đi kèm với rủi ro có thể xảy ra Nếu các Ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận lên quá cao, gia tăng dư nợ tín dụng trong khi chưa hoàn thiện được các chính sách tín dụng hoặc chính sách tín dụng không phù hợp, thiếu sự kiểm soát chặt chẽ thì sẽ làm nợ xấu gia tăng Công tác quản lý tín dụng của Ngân hàng có thể được hiểu qua một số biểu hiện sau đây:
Thứ nhất là quy trình nghiệp vụ Ngân hàng Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả công việc của Ngân hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng Việc xác lập một quy trình tín dụng và không ngừng hoàn thiện nó đặc biệt quan trọng đối với một NHTM về mặt hiệu quả, một quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp cho Ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng
Quy trình tín dụng bao gồm các bước sau: Lập hồ sơ vay vốn, phân tích tín dụng, ra quyết định tín dụng, giải ngân, giám sát tín dụng và thanh lý hợp đồng tín dụng Một quy trình tín dụng chặt chẽ, đảo bảo tính chính xác và đầy
đủ là một nhân tố làm giảm đáng kể nợ xấu trong tổng dư nợ Ngược lại, một quy trình tín dụng lỏng lẻo, không khoa học sẽ làm gia tăng nợ xấu
Thứ hai là cơ cấu cho vay Đó là tỷ trọng cho vay trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng loại doanh nghiệp và cả theo thời gian Tỷ trọng các khoản cho vay giữa ngắn hạn và trung, dài hạn; giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ với doanh nghiệp lớn; giữa tổ chức và cá nhân; giữa ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ; giữa ngành hoạt động mang tính chất thời vụ và lâu dài… nếu hợp lý,
Trang 3220
phù hợp với thực tế nền kinh tế, với chủ trương của Chính phủ, của NHNN thì
sẽ mang lại hiệu quả kinh tế và cả hiệu quả xã hội cho đất nước Ngược lại, cơ cấu cho vay bất hợp lý sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, của ngành kinh tế, của vùng kinh tế và của cả nền kinh tế, không đáp ứng được nhu cầu phát triển năng động của đất nước
Thứ ba là đạo đức và trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng
Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng Đội ngũ cán bộ tín dụng vừa có đạo đức, phẩm chất vừa có trình độ chuyên môn trong đánh giá, thẩm định các khoản vay thì khả năng xảy ra nợ xấu là rất thấp Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp
vụ thì thật vô cùng nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng
Thứ tư là công tác kiểm tra nội bộ Ngân hàng Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh ở tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn
đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh Nhưng trong thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội bộ của các Ngân hàng hầu như chỉ tồn tại trên hình thức, làm gia tăng thêm rủi ro cho Ngân hàng Kiểm tra nội bộ cần phải được xem như hệ thống “thắng” của cỗ xe tín dụng Cỗ xe càng lao đi với vận tốc lớn thì hệ thống này càng phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh cho cỗ xe khỏi
đi vào những ngã rẽ rủi ro vốn luôn luôn tồn tại thường trực trên con đường đi tới
vụ
Với Ngân hàng, công nghệ hiện đại sẽ tạo ra đột phá trong khai thác sản phẩm, dịch vụ cả về số lượng và chất lượng, gián tiếp khẳng định được đẳng cấp tên tuổi hình ảnh của Ngân hàng Dưới góc độ quản lý, nhờ có công nghệ
mà việc quản lý nội bộ trong Ngân hàng sẽ chặt chẽ hiệu quả hơn, quản trị rủi
ro tốt hơn, làm giảm nợ xấu Nhưng nếu công nghệ Ngân hàng mà lạc hậu, không theo kịp Ngân hàng trong nước và quốc tế thì sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của hệ thống Ngân hàng, cũng là nguyên nhân làm phát sinh nợ xấu
Trang 3321
+ Cơ cấu tổ chức
Nếu Ngân hàng được cơ cấu và phân định các phòng ban theo đối tượng khách hàng, kết hợp theo sản phẩm, dịch vụ: phân cấp quản lý theo mô hình nâng cao hiệu quả quản lý và tăng cường kỹ năng quản trị rủi ro, tăng cường chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh, mở rộng mạng lưới và phát triển sản phẩm mới trên nền tảng công nghệ Các phòng ban tại Trụ sở chính cũng như tại chi nhánh được củng cố và chuyển đổi theo hướng sản phẩm và đối tượng khách hàng Chức năng chuyên sâu theo nhiệm vụ kinh doanh trực tiếp
và gián tiếp, hỗ trợ và quản lý tăng cường các bộ phận quản lý rủi ro theo mô hình Ngân hàng hiện đại và nếu cơ cấu tổ chức Ngân hàng từ trung ương đến các chi nhánh, phòng ban chặt chẽ, thống nhất thì sẽ mang lại hiệu quả rất lớn cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Sự thống nhất, chặt chẽ giữa các cấp sẽ làm giảm nợ xấu trong quy trình tín dụng, giảm thiệt hại cho Ngân hàng
Ngược lại, tổ chức lỏng lẻo sẽ tạo điều kiện cho nhân viên tín dụng cùng cấp trên hợp thức hóa hồ sơ, làm giả mạo giấy tờ tín dụng, làm phát sinh nợ xấu
* Nguyên nhân khách quan
- Môi trường tự nhiên: Đối với những nền kinh tế lệ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi… thì rất nhạy cảm với sự thay đổi của thời tiết, của môi trường tự nhiên mà điển hình là Việt Nam Nếu như thời tiết thuận lợi, cây trồng đạt năng suất, vật nuôi không bị dịch bệnh, khỏe mạnh… thì khả năng thu hồi vốn từ người đi vay là rất lớn Còn ngược lại, môi trường tự nhiên, khí hậu, thời tiết, đất đai, nguồn nước không thuận lợi, lại chịu ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt, hạn hán thì dự án sẽ thất bại, không thu hồi được vốn, nợ xấu phát sinh
- Sự thay đổi chính sách và việc thiếu môi trường pháp lý như việc Nhà nước thay đổi địa giới hành chính các địa phương, sự sáp nhập hay tách ra của các Bộ, Ngành, Tỉnh, việc hạn chế hoặc cấm sản xuất kinh doanh một mặt hàng nào đó sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến việc thu hồi nợ của Ngân hàng
- Hoàn cảnh kinh tế xã hội trong nước là một trong những nguyên nhân gây nên nợ xấu Bởi vì hoạt động của doanh nghiệp luôn gắn với môi trường, hoàn cảnh kinh tế - xã hội trong nước Trong mỗi giai đoạn cụ thể nó lại có những tác động trực tiếp tới hoạt động của doanh nghiệp cũng như của Ngân hàng một cách khác nhau Khi nền kinh tế suy thoái, sản xuất đình đốn làm cho thu nhập bình quân đầu người giảm ảnh hưởng tới năng lực kinh doanh và
Trang 3422
khả năng trả nợ của doanh nghiệp Nợ xấu của Ngân hàng theo đó mà tăng lên Khi lạm phát, khả năng kinh doanh của doanh nghiệp cũng sẽ bị ảnh hưởng tác động xấu đến khả năng thu hồi nợ của Ngân hàng
- Cơ chế quản lý và điều hành kinh doanh của các NHTM đang từng bước chuyển đổi hoặc mới bước đầu hình thành theo nguyên tắc của cơ chế thị trường Nghiệp vụ hoạt động Ngân hàng còn đang trong quá trình xây dựng, thích ứng dần với môi trường kinh doanh quốc tế, chưa tách bạch giữa tín dụng thương mại hoàn toàn theo cơ chế thị trường với tín dụng ưu đãi theo chính sách của Chính phủ
- Trong xu thế toàn cầu hóa, việc Ngân hàng mở rộng tín dụng sang các nước khác là điều tất yếu nhưng chính điều này cũng đem lại những rủi ro mà Ngân hàng cần phải lưu ý đến; nếu ở nước đó có biến động về chính trị, suy thoái kinh tế, có sự biến động trong lãi suất, phương thức thanh toán thì sẽ gây trở ngại cho hoạt động kinh doanh của khách hàng của Ngân hàng, do đó dẫn tới khả năng trả nợ là thấp
Với những nền kinh tế nhỏ bé, sản xuất công nghiệp còn lạc hậu, chủ yếu
là thành phẩm đơn giản như dầu thô, may gia công, chế biến thực phẩm và nguyên liệu… thì rất dễ bị tổn thương khi nền kinh tế thế giới biến động mạnh Nếu thế giới ít biến động thì hoạt động của các doanh nghiệp cũng được đảm bảo, khả năng trả nợ cho Ngân hàng càng cao Còn thế giới biến động mạnh mẽ: giá cả, tỷ giá, hạn ngạch, thuế… thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí là có nguy cơ phá sản, mất khả năng thanh toán cho Ngân hàng
Mối quan hệ song phương và đa phương giữa một quốc gia với phần còn lại của thế giới cũng tác động rất lớn tới hoạt động kinh doanh nói chung và của Ngân hàng nói riêng Một đất nước ổn định về chính trị, có quan hệ tốt đẹp với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước và xuất nhập khẩu Ngược lại, một đất nước bất ổn, biểu tình, đình công, khủng hoảng, bị cấm vận… thì nền kinh tế chắc chắn sẽ kiệt quệ, ảnh hưởng nghiêm trọng tới các thành phần kinh
tế và làm nợ xấu của Ngân hàng cũng gia tăng lên rất nhiều
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp từ các báo cáo của Ngân hàng MHB Chi nhánh Tiền Giang - Phòng giao dịch Cai Lậy qua các năm 2011,
2012 và 2013
Trang 3523
- Ngoài ra, thông tin còn được thu thập từ các giáo trình, bài nghiên cứu trên sách báo, mạng internet liên quan đến đề tài nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Căn cứ vào từng mục tiêu cụ thể của đề tài để vận dụng những phương pháp tương ứng sau:
- Đối với mục tiêu 1: Đề tài sử dụng số liệu thứ cấp do ngân hàng cung cấp tiến hành đánh giá theo phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối và tương đối các khoản mục liên quan qua 3 năm
- Đối với mục tiêu 2: Đề tài sẽ sử dụng phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối và tương đối các tỉ số liên qua đến các khoản nợ và nợ xấu qua 3 năm và sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích các tỉ số để đánh giá và tìm ra nguyên nhân về nợ xấu của ngân hàng
- Đối với mục tiêu 3: Đề tài vận dụng phương pháp đánh giá cá biệt theo từng vấn đề, từng chỉ tiêu, từng hiện tượng…Để từ đó, kết hợp với lí thuyết đã được học cùng với thực tiễn hoạt động tại ngân hàng để đưa ra một vài giải pháp hoàn thiện hoạt động tín dụng tại Ngân hàng MHB Chi nhánh Tiền Giang - Phòng giao dịch Cai Lậy và rút ra kết luận cuối cùng và đưa ra kiến nghị
Để minh họa cho vấn đề ở hai mục tiêu đầu tiên, đề tài sử dụng những bảng thống kê số liệu và những biểu đồ hình để thể hiện kết quả của phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối và tương đối giúp kết quả của chỉ tiêu được tính được thể hiện cô động rõ ràng và làm sinh động bài viết hơn
* Phương pháp so sánh:
- So sánh bằng số tuyệt đối phản ánh quy mô của chỉ tiêu nghiên cứu nên khi so sánh bằng số tuyệt đối sẽ thấy rõ được sự biến động về quy mô của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kì phân tích với kì gốc Phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối là kết quả của phép trừ giữa trị số của kì phân tích với kì gốc của các chỉ tiêu kinh tế
Trang 36% 1000
thể hiện tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu kinh tế
Phương pháp này sử dụng để làm rõ tình hình biến động của các chỉ tiêu kinh tế trong một thời gian nào đó
Trang 3725
CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG 3.1 Khái quát về ngân hàng MHB
Ngân hàng phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long có tên tiếng Anh là Mekong Housing Delta Bank (gọi tắt là ngân hàng MHB) là doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt được thành lập theo Quyết định số 769/TTg ngày 18 tháng
09 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ (cố thủ tướng Võ Văn Kiệt) Lực lượng ban đầu gồm 68 người và 1 trụ sở kinh doanh
Ngân hàng MHB là một ngân hàng đa năng với vốn điều lệ ban đầu là
800 tỷ đồng (1998); mục tiêu chủ yếu là HĐV và cho vay hỗ trợ nhân dân vùng ĐBSCL xây dựng và phát triển nhà ở, góp phần thúc đẩy chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long Ngày nay, ngân hàng MHB là một trong ba ngân hàng thương mại nhà nước kinh doanh đa năng trên lĩnh vực tiền tệ Ngân hàng MHB có trụ sở chính tại TP.Hồ Chí Minh và mạng lưới chi nhánh trải dài khắp đất nước Ngân hàng MHB đã và đang thực hiện dự án hiện đại hóa ngân hàng theo hướng tự động hóa, phù hợp với thông lệ quốc tế, có nhiều dịch vụ hiện đại phục vụ khách hàng Tuy tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng MHB được công ty kiểm toán quốc tế Ernst & Young đánh giá là một trong những ngân hàng an toàn nhất Việt Nam
Hiện nay, Ngân hàng MHB là ngân hàng thương mại cổ phần đa chức năng Với phương châm “cho niềm vui tỏa khắp”, ngân hàng cung cấp nhiều loại dịch vụ nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng
Thông tin về ngân hàng MHB:
Địa chỉ: 09 Võ Văn Tần, Quận 3, TP Hồ Chí Minh - Swift Code: MHBBVNVX
Tel: (848) 39302501 - Fax: (848) 39302506
Email: webmaster@mhb.com.vn
Website: www.mhb.com.vn
Trang 382003 với các nghiệp vụ chủ yếu là huy động tiết kiệm (số dư hầu như không đáng kể) và cho vay cầm vàng Từ tháng 10 năm 2006, phòng giao dịch Cai Lậy mở rộng các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại như: phát triển tín dụng (phụ trách địa bàn huyện Cai Lậy và Cái Bè), huy động vốn, các dịch vụ ngân hàng như chuyển tiền…với nhân sự có 15 người, trụ sở tại: số 208, Nguyễn Chí Liêm, thị trấn Cai Lậy, huyện Cai Lậy
Tháng 10/2007, sau khi phòng giao dịch Cái Bè được tách ra thì phòng giao dịch Cai Lậy còn 11 cán bộ với số dư huy động là 11 tỷ đồng và dư nợ đạt 32 tỷ đồng
Tháng 08/2008, phòng giao dịch chuyển trụ sở về địa điểm mới: số 13 đường 686, khu 1, thị trấn Cai Lậy, huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang và phát triển nhiều dịch vụ ngân hàng mới như: kinh doanh ngoại hối, dịch vụ thẻ ATM, thanh toán quốc tế, dịch vụ kiều hối…
Thông tin về ngân hàng MHB – Phòng giao dịch Cai Lậy hiện tại:
Trụ sở: 13, đường 868, Thị xã Cai Lậy, Tiền Giang