Do đó, nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là quyết liệt xử lý nợ xấu của hệ thống NHTM cũng như các NHTMCP có trụ sở chính ở TP.HCM, bởi nó đã và đang đe dọa đến sự tồn tại, đến hiệu quả kinh d
Trang 2
BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Giảng viên hướng dẫn: TS BÙI HỮU PHƯỚC
Trang 3MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
6 Bố cục nghiên cứu 5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU 6
2.1 Sơ lược về NHTM 6
2.1.1 Khái niệm NHTM 6
2.1.2 Hoạt động cơ bản của NHTM 7
2.1.3 Đặc điểm của NHTM 8
2.2 Lý luận về nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của NHTM 8
2.2.1 Khái niệm về rủi ro trong NHTM 8
Trang 42.2.2 Nợ xấu và bản chất nợ xấu của các NHTM 9
2.2.2.1 Khái niệm nợ xấu 9
2.2.2.2 Tiêu chí phân loại nợ xấu 11
2.2.2.3 Cơ sở lý thuyết về nguyên nhân gây ra nợ xấu 13
2.2.2.4 Những quy định pháp lý liên quan đến an toàn trong hoạt động tín dụng và xử lý nợ xấu của NHTM 21
2.3 Các nghiên cứu trước đây về nợ xấu 22
2.3.1 Phương hướng và kinh nghiệm xử lý nợ xấu ở các nước trên thế giới 22
2.3.2 Một số nghiên cứu trên thế giới 30
2.3.3 Nghiên cứu ở Việt Nam 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 42
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU CÁC NHTM CÓ TRỤ SỞ CHÍNH Ở TP.HCM 43
3.1 Tình hình tín dụng và nợ xấu của các NHTMCP trụ sở chính ở TP.HCM 43
3.1.1 Tình hình tín dụng các NHTMCP có trụ sở chính ở TP.HCM 43
3.1.2 Tình hình nợ xấu các NHTMCP có trụ sở chính ở TP.HCM 44
3.2 Nguyên nhân nợ xấu 47
3.3 Những ảnh hưởng của nợ xấu 54
3.4 Giới thiệu mô hình nợ xấu 56
3.4.1 Khái quát mô hình 56
3.4.2 Cơ sở dữ liệu mô hình 59
3.4.3 Phương pháp nghiên cứu mô hình 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 65
CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 66
4.1 Thống kê mô tả mô hình 66
4.2 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 81
Trang 5CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
5.1 Kết luận kết quả nghiên cứu 82
5.2 Kiến nghị 82
5.3 Hạn chế về mô hình và đề ra những hướng nghiên cứu mới 97
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ABS Chứng khoán bằng tài sản đảm bảo tài chính Asset-Backed Securities AMC Công ty quản lý tài sản
CTCP Công ty cổ phần
DATC Công ty Mua bán nợ & Tài sản tồn đọng của
doanh nghiệp DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
IAS Chuẩn mực kế toán quốc tế International Accounting
Standards
NHLD Ngân hàng Liên doanh
NHNNg Ngân hàng nước ngoài
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng trung ương
NĐTNN Nhà đầu tư nước ngoài
RGDP Thu nhập quốc dân ròng Real Gross Dometic Product TCTD Tổ chức tín dụng
TTCK Thị trường chứng khoán
TSĐB Tài sản đảm bảo
WTO Tổ chức thương mại thế giới World Trade Organization
Trang 8DANH MỤC ĐỒ THỊ
Đồ thị 3.1 Tỷ lệ nợ xấu của 13 NHTM ở TP.HCM 46
Đồ thị 4.1 Tỷ lệ nợ xấu trung bình từng năm của 13 NHTM (giai đoạn 2006-2013) 67
Đồ thị 4.2: Tỷ lệ nợ xấu trung bình từng ngân hàng giai đoạn 2006-2013 68
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Quá trình xử lý nợ xấu Trung Quốc 26
Bảng 2.2: Đặc điểm của 3 cơ chế AMC Thái Lan 27
Bảng 2.3: Các biến nội tại của ngân hàng và các giả thuyết cụ thể (Hy Lạp) 31
Bảng 2.4: Tóm tắt các biến trong mô hình hồi quy (Guyana) 33
Bảng 2.5: Các biến độc lập, ký hiệu, dấu kỳ vọng, dữ liệu tham khảo (Pakistan) 34
Bảng 2.6: Kết quả thực nghiệm mô hình Dr.Chen 36
Bảng 2.7: Tóm tắt các biến sử dụng trong mô hình Ths.Đ.Quỳnh Anh 38
Bảng 3.1 Mô tả các biến trong mô hình 62
Bảng 3.2 Cách lấy dữ liệu các biến 63
Bảng 4.1 Kết quả thống kê mô tả 66
Bảng 4.2: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu 70
Bảng 4.3 Kết quả nghiên cứu 3 mô hình POLS, FEM và REM 71
Bảng 4.4 Kết quả kiểm định Breusch – Pagan 72
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định Hausman Test 73
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định tác động thời gian của mô hình 73
Bảng 4.7 : Kết quả kiểm định VIF, phương sai thay đổi và tự tương quan bậc 1 75
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định tương quan chéo 75
Bảng 4.9 Trình bày kết quả hồi quy bằng cách sử dụng phương pháp FGLS để ước lượng các hệ số hồi quy 76
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Khái quát sơ đồ hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM 7
Sơ đồ 2.2 Mô hình các loại rủi ro tín dụng 8
Sơ đồ 2.3 Mô hình Basel II 21
Trang 11LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan công trình luận văn này do chính tôi thực hiện Tất cả thông tin, số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc đáng tin cậy và chính xác nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
TP.HCM, ngày tháng năm 2014
Tác giả
NGUYỄN THẾ MINH
Trang 12LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Khoa đào tạo sau đại học trường Đại học Tài chính Marketing cùng các Thầy Cô giảng dạy chương trình đã giúp tôi trang bị tri thức, tạo môi trường điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện hoàn chỉnh đề tài luận văn này
Với lòng biết ơn và sự kính trọng sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời tri ân của tôi đến Tiến sỹ Bùi Hữu Phước đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn
Xin chân thành cảm ơn đến các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp chia sẻ thông tìn, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu bổ ích, quý giá
Lời cuối, cho tôi gửi đến gia đình và những người bạn lời cảm tạ chân thành trong suốt thời gian qua đã hỗ trợ, động viên và chia sẻ rất nhiều cho tôi
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nền kinh tế nước ta hiện đang phải gánh chịu những tác động tiêu cực: hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, trì trệ - cụ thể trong năm
2013 có gần 61.000 doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động, tăng 12% so với năm 2012; trong đó, 40.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng không công bố (Khảo sát của Tổng cục thống kê năm 2013) Riêng theo báo cáo của Bộ Xây dựng, dư nợ tín dụng của bất động sản năm 2013 tăng vọt 36,8% trong khi có hơn 10.000 doanh nghiệp bất động sản ngừng hoạt động hoặc giải thể Trước những diễn biến phức tạp, hoạt động của hệ thống NHTM đang phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là về vấn đề quản trị rủi ro tín dụng và nợ xấu Do đó, nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là quyết liệt xử lý nợ xấu của hệ thống NHTM cũng như các NHTMCP có trụ sở chính ở TP.HCM, bởi nó đã và đang đe dọa đến sự tồn tại, đến hiệu quả kinh doanh, phát triển lành mạnh của hệ thống TCTD cũng như ảnh hưởng đến việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN và sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế
Vì vậy, việc kiểm soát và xử lý nợ xấu vẫn cần tiếp tục được triển khai một cách đồng bộ, hiệu quả và quyết liệt hơn là bước đi quan trọng trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và nền kinh tế, để tăng cường năng lực cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động, góp phần mở rộng đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là một đòi hỏi tất yếu và cấp thiết
Trước tình hình đó, để có cách nhìn, đánh giá rõ hơn và hướng giải quyết phù hợp nhất về
thực trạng nợ xấu của các NHTM Việt Nam, tác giả đã chọn nghiên cứu về đề tài: “CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI CÁC NHTMCP CÓ TRỤ SỞ CHÍNH Ở TPHCM” dựa trên việc tiến hành phân tích mô hình định lượng về nợ xấu Người viết
mong rằng với sự kế thừa của các tác giả đã nghiên cứu cùng với nỗ lực tìm hiểu, luận văn
có thể tìm ra những nguyên nhân chính gây ra nợ xấu để từ đó đóng góp thêm một số ý kiến nhằm tìm ra hướng giải quyết và dần hoàn thiện công tác xử lý nợ xấu cho các ngân hàng
Trang 142 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Nợ xấu của các NHTM có trụ sở chính ở TP.HCM Tuy nhiên, nợ xấu là một phạm trù rộng và phức tạp liên quan đến nhiều chính sách vĩ mô của nền kinh tế như: chính sách tiền tệ tín dụng, tốc độ tăng trưởng GDP, tỷlệ thất nghiệp… và các chính sách phát triển nội tại của ngân hàng: quy mô ngân hàng, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng, tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi Do đó, luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ qua việc phân tích định lượng các nhân tố này ảnh hưởng đến nợ xấu ra sao của các NHTM có trụ sở chính TP.HCM
Trang 15Phạm vi nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu về 13 NHTM có trụ sở chính ở TP.HCM, gồm: ACB, ABB, EAB, EIB, HDB, NAB, OCB, PNB, SCB, STB, Sài Gòn Công Thương, VAB, Vietcapital Bank và thời kỳ nghiên cứu từ năm 2006 đến năm 2013
Luận văn lựa chọn phạm vi nghiên cứu các NHTM có trụ sở chính ở TP.HCM vì TP.HCM là một trong những vùng kinh tế trọng điểm nhất, là đầu tàu của cả nước và đây là thời kỳ nước ta đang đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Do vậy, nhiệm vụ quan trọng đặt ra đối với ngành ngân hàng là tiếp tục đẩy mạnh quá trình xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng, để vai trò của nó thực sự trở thành trung gian tài chính và nhân tố thúc đẩy nhanh quá trình luân chuyển vốn thông suốt tạo điều kiện phát triển kinh tế TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung Từ đó, có sự chuẩn bị tốt cho quá trình tự do hóa tài chính nhằm nâng cao năng lực hoạt động và khả năng cạnh tranh của các NHTM Việt Nam thời kỳ hậu hội nhập WTO Đồng thời, đó cũng là tiền đề cho quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM qua việc hoàn thiện khung chính sách ngành ngân hàng
Mặt khác, nguồn số liệu của giai đoạn nghiên cứu có độ tin cậy cao, đầy đủ và phản ánh tốt việc đánh giá tình hình nợ xấu của các NHTM có trụ sở chính ở TP.HCM
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để phù hợp với nội dung, yêu cầu và mục đích mà luận văn đề ra, phương pháp phân tích định tính đã được kết hợp với phương pháp phân tích định lượng, cụ thể:
Phương pháp thống kê mô tả: nguồn số liệu được sử dụng trong các phân tích dựa trên
cơ sở dữ liệu thu thập được từ internet như: IMF, WB, ADB…, tạp chí tài chính ngân hàng
và những nhận xét của các chuyên gia kinh tế…về các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của NHNN, các NHTMCP trụ sở chính tại TPHCM thời kỳ 2006-2013
Sử dụng phương pháp ước lượng bình phương bé nhất OLS bằng phần mềm Stata để phân tích mô hình dữ liệu bảng qua những số liệu thứ cấp trên và từ mô hình đánh giá nhân
tố nào tác động mạnh đến tình hình nợ xấu hiện nay và so sánh sự khác biệt so với mô hình của các nghiên cứu trước đây để xác định mức độ phù hợp của các biến khi áp dụng ở Việt Nam Từ đó, ngân hàng xem xét quản trị tín dụng, cụ thể là nợ xấu của mình trong các hình
Trang 16thức vận động, giúp đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan, phù hợp với thực tế hơn
để làm nổi bật và sâu sắc nội dung nghiên cứu
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
5.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn đã hệ thống hóa và tổng kết những lý luận cơ bản về nợ xấu, việc phòng ngừa
và xử lý nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của NHTM
Qua việc đánh giá, phân tích các nguyên nhân dẫn đến nợ xấu tại các NHTMCP bằng các phương pháp định tính và định lượng để thấy được những mặt yếu kém, khiếm khuyết đang tồn tại trong giám sát điều hành và quản trị ở các NHTM Việt Nam cần phải khắc phục Ta cần hoàn thiện phương pháp nghiên cứu mô hình định lượng về nợ xấu, trên cơ sở đó đưa ra cách tiếp cận phù hợp theo tiêu chuẩn quốc tế cho Việt Nam trong việc đánh giá, phân loại
nợ xấu và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của các NHTM
Đề tài đã rút ra được một số bài học xử lý nợ cho Việt Nam từ các nước trên thế giới, như: vấn đề sở hữu chéo, về tài sản đảm bảo và cách thức định giá, quản trị rủi ro Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện khung chính sách trong việc quản lý và điều hành hệ thống NHTM Việt Nam ở cả khía cạnh vĩ mô (cơ quan quản lý) và góc độ vi mô (quản trị ngân hàng) cho Chính phủ, NHNN và các NHTM cả nước nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả phòng ngừa, xử lý nợ xấu, cải thiện năng lực cạnh tranh và góp phần tái cấu trúc cho hệ thống NHTM Qua đó, tạo điều kiện cho nền kinh tế vững mạnh phát triển trong xu thế hội nhập, cạnh tranh gay gắt hiện nay
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Với những kết quả bước đầu của quá trình nghiên cứu, tác giả hy vọng đề tài sẽ được nghiên cứu mở rộng phù hợp và hoàn thiện hơn nữa (về số lượng các biến tham gia, điều kiện áp dụng các biến kinh tế vĩ mô, vi mô ở các NHTM Việt Nam; mở rộng số lượng NHTM nghiên cứu…) mô hình các nhân tố tác động lên nợ xấu cũng như tác động ngược lại của nợ xấu lên hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng để qua đó giúp các NHTM quản trị rủi ro hiệu quả hơn
Trang 176 BỐ CỤC NGHIÊN CỨU
Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bố cục gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan cơ sở lý luận về nợ xấu
Nêu những vấn đề lý luận và thực tiễn nghiên cứu về nợ xấu, nêu bật các đặc trưng cũng như ảnh hưởng của nợ xấu đến hoạt động của các ngân hàng
Chương 3: Mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến nợ xấu của các NHTMCP có trụ
sở chính tại Tp.HCM
Tiến hành phân tích số liệu nợ xấu các NHTMCP có trụ sở chính tại TPHCM Đồng thời, tổng hợp các nguyên nhân gây nên nợ xấu, trên cơ sở đó xây dựng lên mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu, gồm các biến kinh tế vĩ mô và biến nội tại ngân hàng Chương 4: Thảo luận kết quả mô hình
Từ mô hình xác định được các nhân tố nào thực sự tác động đến nợ xấu của các NHTMCP tại Tp.HCM, mức ý nghĩa cũng như tính mạnh yếu của các tác động đó
Chương 5: Kết luận và kiến nghị về công tác xử lý nợ xấu
Dựa trên kinh nghiệm các nước trên thế giới và từ thực trạng nợ xấu cũng như công tác
xử lý hiện nay của Việt Nam, luận văn đưa ra một số đề xuất về biện pháp giám sát và xử lý
nợ xấu cho các NHTMCP
Trang 18CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU
2.1 SƠ LƯỢC VỀ NHTM
2.1.1 Khái niệm NHTM
Mặc dù trải qua lịch sử phát triển lâu dài nhưng cho đến nay, việc đưa ra một khái niệm
cụ thể về NHTM thì vẫn còn là điều gây nhiều tranh cãi của các nhà kinh tế, bởi tại mỗi một thời điểm khác nhau thì khái niệm lại có những thay đổi, đây lại cũng là một đặc thù của lĩnh vực ngân hàng tài chính
2.1.1.1 Theo định nghĩa của các nước trên thế giới
Ở Mỹ, NHTM được định nghĩa là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính Theo luật Mỹ: NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán
Theo Luật Ngân hàng Pháp (1941): “NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền
mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”
2.1.1.2 Theo định nghĩa của Việt Nam
Luật Tín dụng do Quốc hội khóa X thông qua ngày 12 tháng 12 năm 2007, định nghĩa:
“NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”
Luật NHNN cũng do Quốc hội khóa X thông qua cùng ngày định nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán.”
Theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009: Về tổ chức và hoạt động của NHTM:
“NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh
Trang 19Các hoạt động kinh doanh cơ bản
‐ VCSH
‐ Tiền gửi tiết kiệm
‐ Tiền gửi giao dịch
Như vậy, NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường, trực tiếp giao dịch với các công ty, tổ chức kinh tế, cơ quan đoàn thể và các cá nhân qua việc nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm… cho vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng trên Nhờ hệ thống này mà các nguồn tiền, vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế
2.1.2 Hoạt động cơ bản của NHTM
NHTM là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp các dịch vụ tài chính, tiền tệ cho công chúng cũng như thực hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế.Thành công trong kinh doanh của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực, khả năng cung cấp các dịch vụ đa dạng và cạnh tranh trên thị trường Dựa trên chức năng của NHTM, ta có thể phân chia các hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM như sau:
Sơ đồ 2.1 - Khái quát sơ đồ hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM
Trang 202.1.3 Đặc điểm của NHTM
Hoạt động NHTM có những đặc điểm chính sau:
Là hình thức kinh doanh theo đuổi mục tiêu lợi nhuận là chủ yếu qua hai hình thức hoạt động là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
Là hình thức kinh doanh có độ rủi ro cao hơn nhiều so với các hình thức kinh doanh khác và thường có ảnh hưởng sâu sắc tới các ngành khác và cả nền kinh tế
Sự tồn tại của NHTM phụ thuộc nhiều vào sự tin tưởng của khách hàng
Các NHTM chịu ảnh hưởng dây chuyền với nhau
2.2 LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM 2.2.1 Khái niệm về rủi ro trong NHTM
a Rủi ro tín dụng
Trong lĩnh vực ngân hàng: Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định
Rủi ro tín dụng là những rủi ro do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc hoặc/và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của NHTM
Phân loại rủi ro tín dụng
* Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì rủi ro tín dụng được phân ra thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan
* Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được chia thành các loại sau
Sơ đồ 2.2 Mô hình các loại rủi ro tín dụng
(Nguồn: Nguyễn Văn Tiến (1999), Giáo trình Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, NXB Thống kê,
Rủi ro nội tại
Trang 21Rủi ro tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng Nếu món vay của ngân hàng bị thất thoát, dân chúng sẽ thiếu lòng tin và tìm cách rút tiền khỏi ngân hàng,
từ đó ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản cũng như không thực hiện được kế hoạch đầu
tư Khi đó, ngân hàng sẽ khó khăn trong việc huy động vốn và phát triển các sản phẩm dịch vụ; khó mở rộng quan hệ với các đối tác, ngân hàng phải thu hẹp hoạt động do lợi nhuận giảm vì ngân hàng phải sử dụng vốn tự có để bù đắp sự thiếu hụt đó, khiến uy tín bị giảm sút, dẫn đến tình trạng như: gia tăng nợ xấu, buộc phải tái cơ cấu lại hay mua bán sáp nhập
và có thể dẫn đến phá sản (Tham khảo Phụ lục 1: Mô hình quản lý rủi ro tín dụng trong ngân hàng)
b Rủi ro thị trường
Rủi ro thị trường trong hoạt động ngân hàng là rủi ro tiềm ẩn gây ra tác động tiêu cực đối với thu nhập hoặc vốn của NHTM do những biến động bất lợi của các yếu tố trên thị trường như: lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán, giá hàng hóa Ngân hàng không thể tác động làm thay đổi các yếu tố này, mà chỉ có thể dự báo xu hướng, tính toán mức độ ảnh hưởng để
từ đó đưa ra các biện pháp chủ động điều chỉnh quy mô, cơ cấu tài sản có, sao cho hạn chế thấp nhất tổn thất có thể xảy ra thông qua việc kết hợp mô hình hiện đại trong việc ước lượng rủi ro lãi suất và sử dụng linh hoạt các công cụ tài chính phái sinh
c Rủi ro hoạt động
Trong hoạt động ngân hàng có rất nhiều loại rủi ro ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên mức nợ xấu của ngân hàng, như: rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tỷ giá…(Tham
khảo Phụ lục 2: Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng)
2.2.2 Nợ xấu và bản chất nợ xấu của các NHTM
2.2.2.1 Khái niệm nợ xấu
Hiểu một cách tường minh về nợ xấu theo nhiều góc độ trên thế giới thì nợ xấu được dánh giá dựa trên 2 yếu tố: thời gian quá hạn và sự suy giảm (hoặc không còn) khả năng thanh toán của người đi vay
Trang 22a Theo định nghĩa của các nước trên thế giới
Thuật ngữ “nợ xấu” (viết tắt là NPL – Non-performing loans) có thể được thay thế bằng
nợ khó đòi theo như Fofack (2005), hoặc các khoản vay có vấn đề (Berger và De Young, 1997) Nợ xấu cũng có thể được định nghĩa là các khoản nợ không trả được (defaulted loans) mà ngân hàng không thể thu lợi từ nó (Ernst & Young, 2004); hoặc nợ xấu là các khoản nợ quá hạn trả lãi hoặc gốc trên 90 ngày (Caprio và Klingebiel, 1996; Alton và Hazen, 2001; Guy, 2011; Bexley và Nenninger, 2012)
Theo định nghĩa của IAS, nợ xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố chính: quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả được nợ của khách hàng Nhưng theo góc độ tiếp cận của kế toán, chuẩn mực kế toán quốc tế 39 (IAS – International Accounting Standard) thì đánh giá nợ xấu chỉ tập trung toàn bộ vào việc cân nhắc khả năng hoàn trả của khoản vay mà không thật
sự tiếp cận đến thời gian mà chủ thể đi vay đã trả chậm Trong đó, IAS 39 có đề cập đến việc đánh giá khả năng dựa trên 2 yếu tố: dựa vào bảng lưu chuyển tiền tệ để xem xét về dòng tiền trước nhằm đánh giá dòng tiền trong tương lai, hoặc xếp hạng lại khoản vay Về
cơ bản, cách tiếp cận này chỉ đáp ứng được vấn đề đầu tiên về lý thuyết nhưng trong thực tế trên thế giới chưa nhiều nơi triển khai vì còn gặp vấn đề trong việc phân tích chính xác và chưa có thang đo chuẩn
Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) đưa ra hướng dẫn về nợ xấu: các khoản nợ không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hay cả hai điều kiện sau xảy ra:
Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi
Người vay đã quá hạn trả nợ trên 90 ngày (Basel Committee on Banking Supervision –BCBS, 2002)
Một khoản nợ được xem đã không còn khả năng thanh toán (non-performing loan) khi đã quá hạn trả lãi và gốc trên 90 ngày, theo như những quy định của Basel II khi xảy ra những rủi ro về sự đánh mất số tiền cho vay hoặc được tìm hiểu đầy đủ những ý kiến chắc chắn về việc tổn thất hoàn toàn hay nghi ngờ khả năng không được thanh toán đầy đủ khoản vay (ECB, 2009)
Trang 23Theo định nghĩa chính thức của IMF, một khoản nợ được coi là xấu khi việc chi trả tiền lãi và gốc quá hạn 90 ngày hoặc hơn, hoặc ít nhất 90 ngày kể từ ngày tiền lãi đã được vốn hóa, tự cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận hoặc nợ được gia hạn; khi việc thanh toán dòng tiền trễ hạn dưới 90 ngày nhưng có những lý do xác đáng để nghi ngờ khả năng thanh toán đầy đủ của người vay Sau khi khoản vay xếp vào danh mục nợ xấu, nợ hay bất kỳ khoản vay thay thế nào cũng đều bị xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hay thu hồi được khoản vay thay thế (IMF’s complication Guide on Financial Soundness Indication 2004)
Guy (2011) cũng khẳng định nợ xấu đã được sử dụng rộng rãi như một thước đo chất lượng tài sản của các NHTM Nợ xấu có thể gây tổn hại cho các hoạt động tài chính của các NHTM (Berger và De Young, 1997) và là một yếu tố quan trọng trong việc khởi xưởng và thúc đẩy các cuộc khủng hoảng ngân hàng (Greenidge và Grosveno, 2010; Reinhart và Rogoff, 2010) Vì vậy, quản lý nợ xấu là rất quan trọng cho hiệu quả của một ngân hàng cá nhân và cho cả nền kinh tế (McNulty và các tác giả, 2001)
b Theo định nghĩa của Việt Nam
Nợ xấu quy định tại Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25 tháng 4 năm 2007 của NHNN Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005, xác định theo các yếu tố: đã quá hạn trên 90 ngày, nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ hoặc có các nhân tố khác làm ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ gốc, lãi Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3), nợ nghi ngờ (nhóm 4) và nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5)
2.2.2.2 Tiêu chí phân loại nợ xấu
Tiêu chí định lượng: bất kỳ khoản vay nào quá hạn 90 ngày đều được xem là nợ xấu Các khoản nợ được xếp vào nhóm 3, 4 và 5 được xác định là các khoản nợ xấu
Tiêu chí định tính: một khoản vay được xem là nợ xấu nếu có lý do để nghi ngờ về khả năng trả nợ của khách hàng Phương pháp này dựa vào thông tin về tình hình tài chính của khách hàng cũng như xếp hạng tín dụng bên trong các thể chế tín dụng Là tiêu chí được
Trang 24các NHTM sử dụng để phân tích, đánh giá khoản nợ dựa trên cơ sở khả năng trả nợ của khách hàng một cách toàn diện
a Theo chuẩn của quốc tế
Theo thông lệ quốc tế, việc phân loại nợ xấu bao gồm những khoản nợ được đánh giá là
nợ dưới tiêu chuẩn, nợ khó đòi và nợ có khả năng mất vốn
Hiện chưa có một quy chuẩn quốc tế về phân loại nợ Hầu hết các quốc gia phát triển đều
áp dụng phương pháp phân loại nợ thành 5 nhóm: nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn
Về cơ bản, đa số các nước cũng xác định nợ xấu dựa trên 2 yếu tố (quá hạn trên 90 ngày
và khả năng trả nợ khách hàng).Tuy nhiên, tiêu chí phân loại nợ là không hoàn toàn đồng nhất giữa các quốc gia trên thế giới Theo cuộc khảo sát thực tiễn tại các nước đại diện trong nhóm liên kết các nguyên tắc cơ bản Basel (The Basel Core Principles Liaison Group - Nhóm được thành lập như một sợi dây liên kết trực tiếp giữa Ủy ban Basel - BIS và WB/IMF để đánh giá các mảng khác nhau của lĩnh vực tài chính và để đưa ra các tiêu chuẩn
an toàn mới về vốn.) thì ở một số quốc gia có thêm các tiêu chuẩn khác như:
Hệ thống phân loại của Mỹ dựa trên một số tiêu chí như: kinh nghiệm thanh toán, môi trường khách hàng nợ đang hoạt động
Tại Mexico, các ngân hàng còn dựa trên giá trị có thể thu hồi của tài sản thế chấp
Tại Anh và Hà Lan không có yêu cầu cụ thể cho việc phân loại nợ vì thế các ngân hàng tự xây dựng quy tắc cho mình
Bên cạnh đó, tiêu chí phân loại các khoản nợ (trong đó có một khoản nợ xấu) của một khách hàng cũng có sự khác biệt giữa các quốc gia như:
Ở Brazil, Cộng hòa Séc, Pháp, Ấn Độ và Nam Phi: khi có một khoản nợ phân loại
là xấu, tất cả các khoản nợ khác của cùng một khách hàng cũng bị phân loại là xấu
Ở Hàn Quốc, Mexico, Ả Rập Saudi có cách tiếp cận linh hoạt hơn: quyết định của các ngân hàng dựa trên sự xem xét lại của họ về việc hình thành của từng khoản nợ, bất kể những khoản nợ khác được xếp hạng như thế nào
Ở Mỹ: các khoản vay khác nên được đánh giá lại để xác định liệu một hoặc nhiều
Trang 25các khoản vay nên được đánh giá tương tự Việc xác định nên dựa trên việc đánh giá khả năng thu hồi độc lập của mỗi khoản vay, khả năng thanh toán của khách nợ
b Theo chuẩn của Việt Nam
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 quy định trong:Điều 10 mục 1 chương 2 của Thông tư số02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 1 năm 2013 của NHNN Việt Nam và tại Điều 6 và 7 của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ra ngày 22/04/2005 của NHNN Và ngày 24/04/2007 Thống đốc NHNN Việt Nam đã ký Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN sửa đổi,
bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng, dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 493, quy định việc phân các khoản tín dụng của các TCTD ra 5 nhóm (tham khảo Phụ lục 3: Phân loại nợ theo Điều 6, Quyết định 18 và Phân loại nợ theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN)
Các khoản vay được coi là nợ xấu được xác định bằng cả phương pháp định lượng và định tính Mặc dù việc phân loại các khoản vay được quy định trong Điều 6 (phương pháp định lượng) và Điều 7 (phương pháp định tính) nhưng phần lớn các ngân hàng hiện đang phân loại các khoản vay của họ dựa trên định lượng mà ít xét các yếu tố định tính
Ngoài ra, việc phân loại nợ cho nhiều khoản vay của cùng một khách hàng cũng khác nhau giữa các quốc gia Tại Việt Nam, ngân hàng chỉ xếp phần nợ không trả được vào nợ xấu, trong khi phần còn lại của khoản nợ vẫn được xếp là nợ đủ tiêu chuẩn
Dù có tiêu chí thời gian quá hạn trả nợ cụ thể để phân loại nợ như trên, TCTD “có đủ khả năng và điều kiện” vẫn có quyền áp dụng phương pháp “định tính”, tức chủ động tự quyết định phân loại bất kỳ khoản nợ nào vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn (hay thấp hơn) tương ứng với mức độ rủi ro nếu đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng suy giảm (hay tốt hơn) (Điều 7, QĐ 493) Thường thì các TCTD áp dụng phương pháp “định tính” theo hướng chuyển các khoản nợ ở nhóm cao sang nhóm thấp để giảm trích lập dự phòng
2.2.2.3 Cơ sở lý thuyết về nguyên nhân gây ra nợ xấu
Về nguyên nhân gây ra nợ xấu trong hệ thống NHTM, nợ xấu là kết quả của vấn đề rủi ro
về đạo đức hay việc NHTM áp dụng chiến lược cho vay thiếu sự thận trọng (Brownbridge,
Trang 261998) Palubinskas và Stough (1999) cũng lưu ý rằng sự thất bại của một NHTM chủ yếu là
do kết quả của quản lý yếu kém Ngoài ra, sự suy thoái của nền kinh tế quốc gia, cho vay nội bộ, kết nối chính trị của chủ sở hữu ngân hàng, khách hàng không tiết lộ thông tin quan trọng trong quá trình xin vay vốn là những yếu tố chính xác định gây ra nợ xấu khu vực ngân hàng (Waweru và Kalani, 2009) Trong khi đó, theo Guo Ning-ning (2012) thì có công thức “4-3-3” nguyên nhân chính dẫn đến vấn đề nợ xấu của khách hàng doanh nghiệp tại các NHTM: 40% là do yếu tố hoàn cảnh bên ngoài, 30% là do trình độ quản trị doanh nghiệp và 30% thuộc về quản trị ngân hàng
Sau đây là 3 nhóm nhân tố chính tác động lên tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống các NHTM:
a Nhóm nhân tố môi trường vĩ mô
Nhiều nghiên cứu đã tiến hành để kiểm tra ảnh hưởng của môi trường vĩ mô lên nợ xấu Rinaldi và Sanchis-Arellano (2006) nghiên cứu nợ xấu của hộ gia đình bằng dữ liệu bảng thu thập từ các quốc gia châu Âu, qua đó cung cấp bằng chứng thực nghiệm vể thu nhập khả dụng, tỷ lệ thất nghiệp và các điều kiện chính sách tiền tệ có tác động mạnh đến nợ xấu Berger và Boye (2007) tìm thấy nợ xấu nhạy cảm cao với tỷ lệ lãi suất thực và tỷ lệ thất nghiệp trong hệ thống ngân hàng Na Uy trong giai đoạn 1993-2005
Boss và cộng sự (2009) kiểm tra sự gắn kết giữa rủi ro tín dụng của các doanh nghiệp Áo với chu kỳ kinh doanh Các nghiên cứu khác tập trung vào các thành phần kinh tế vĩ mô gồm Cifter và cộng sự (2009); Nkusu (2011) và cộng sự (2006); Asghar Ali, Kevin Daly (2010) nghiên cứu dữ liệu chuỗi thời gian từ quý 1/1995 đến quý 2/2009 cho 2 quốc gia Hoa
Kỳ và Úc qua phương trình hồi quy sau
Df t = c + β 1 ir t-1 + β 2,1 gdp t + β 2,2 indprod t-3 + β 3 debt t-4 + ε
Với:Df: tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ;
Ir: lợi suất tín phiếu kho bạc Hoa Kỳ kỳ hạn 6 tháng;
Gdp: tổng sản phẩm quốc nội theo giá hiện hành, tính theo quý, điều chỉnh theo mùa vụ; Indprod: sản lượng công nghiệp, tính theo quý, điều chỉnh theo mùa vụ;
Trang 27Debt: tỷ lệ nợ trên gdp, với nợ được tính bẳng tổng các khoản nợ và thuê có trả lãi, bình quân theo quý của tất cả các NHTM
Kết quả cho thấy đối với Úc, tỷ lệ nợ xấu có tương quan âm với gdp, sản lượng công nghiệp và tỷ lệ nợ/GDP (trễ 4 kỳ) có tương quan dương với nợ xấu Riêng với Hoa Kỳ, GDP có tương quan âm còn tỷ lệ nợ/GDP (trễ 4 kỳ) có tương quan dương với tỷ lệ nợ xấu Như vậy, các bằng chứng thực nghiệm qua các quốc gia cho thấy nợ xấu có liên quan chặt chẽ đến chu kỳ kinh tế (GDP và sản lượng công nghiệp): trong thời kỳ tăng trưởng, nợ xấu
có xu hướng giảm; ngược lại nợ xấu tăng trong chu kỳ suy thoái kinh tế Các nhân tố vĩ mô khác ảnh hưởng đến nợ xấu bao gồm: chính sách tiền tệ (thông qua lãi suất thực), mức độ phụ thuộc vào tín dụng của nền kinh tế (tỷ lệ nợ/GDP), mức sống dân cư (thu nhập khả dụng), tình trạng thị trường lao động (tỷ lệ thất nghiệp)…
Podpiera và Weill (2008) tiếp tục hướng nghiên cứu này và kiểm tra mối quan hệ giữa hiệu quả và nợ xấu ở ngành ngân hàng Cộng hòa Czech trong thời kỳ 1994-2005 Họ cũng cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa hiệu quả bị sụt giảm với nợ xấu trong tương lai
Li và cộng sự (2007) tìm thấy các hợp đồng khuyến khích có hiệu quả trong việc gia tăng
nỗ lực của nhà quản lý trong việc giảm nợ xấu của hệ thống ngân hàng Trung Quốc Cuối cùng, Breuer (2006) kiểm định tác động của một loạt các biến ngành lên nợ xấu
Các giả thuyết của Berger và DeYoung (1997) như sau:
Giả thuyết về sự thiếu may mắn (‘Bad luck’ hypothesis): giả thuyết này phát biểu rằng sự gia tăng trong nợ xấu là do các sự kiện bên ngoài không mong đợi (bad luck) tác
Trang 28động, chẳng hạn sự suy giảm, biến đổi điều kiện của nền kinh tế vĩ mô hay sự phá sản của những công ty Vậy thì, ngân hàng sẽ phải gánh chịu các khoản chi phí cao hơn để theo dõi các khoản nợ có vấn đề, qua đó làm giảm hiệu quả hoạt động Sự gia tăng chi phí phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau, như là: chi phí liên quan đến việc khách hàng vay không trả đúng hạn, việc mất giá theo từng thời kỳ của các tài sản thế chấp và giá trị của các khoản nợ đàm phán lại tương ứng Do đó, dưới giả thuyết này, sâu xa của các khoản nợ có vấn đề sẽ dẫn đến sự suy giảm hiệu quả của ngân hàng, gia tăng nợ xấu Koutsomanoli-Filippaki và Mamatzakis (2009) hỗ trợ cho giả thuyết này khi phân tích các ngân hàng của 27 nước thành viên của khối liên minh châu Âu từ 1998 đến 2006
Giả thuyết về quản trị yếu kém (‘Bad management’ hypothesis): tính hiệu quả từ chi phí thấp có tương quan dương với việc gia tăng nợ xấu trong tương lai Đề xuất đưa ra biện
hộ cho giả thuyết quản trị tồi này có liên quan đến những yếu kém về kỹ năng trong đánh giá, chấm điểm tín dụng, xếp hạng tín nhiệm; việc thẩm định tài sản đảm bảo, cầm cố và giám sát theo dõi con nợ Kết quả cũng được ủng hộ bởi các nghiên cứu của Williams (2004) ở các ngân hàng khu vực châu Âu giai đoạn 1990-1998 và sau này là của tác giả Fiordelisi cùng các cộng sự (2010) nghiên cứu trong giai đoạn 1995-2007; Podpiera và Weil (2008) phân tích ở các ngân hàng ở Cộng hòa Czech giai đoạn 1994-2005; Rossi và các cộng sự (2009) cũng cho thấy bằng chứng về giả thuyết ‘bad luck’ và ‘bad management’ trường hợp các NHTM quy mô lớn ở Áo giai đoạn 1997-2003
Giả thuyết về quản trị yếu kém 2 (‘Bad management 2’ hypothesis): ngân hàng hoạt động có chiều hướng xấu đi sẽ tương quan dương với tỷ lệ nợ xấu trong tương lai Điều này
đã được chứng minh theo cách tương tự như giả thuyết ‘bad management” rằng về phần hoạt động trong quá khứ của ngân hàng như là sự đại diện cho chất lượng quản trị sẽ tác động tiêu cực lên mức độ nợ xấu của chính ngân hàng
Giả thuyết “keo kiệt” (‘Skimping’ hypothesis): tồn tại sự đánh đổi giữa hiệu quả kiểm soát chi phí và tăng cường thẩm định, giám sát tín dụng Những ngân hàng dành ít nỗ lực để đảm bảo chất lượng khoản vay tốt hơn, cụ thể là không quan tâm đúng mức đến chất lượng tín dụng có thể có hiệu quả hoạt động tốt do chi phí kiểm soát tín dụng thấp, nhưng làm mầm mống phát sinh nợ xấu cao trong dài hạn Giả thuyết này cũng phù hợp với nghiên
Trang 29cứu của Rossi, Schwaiger và Winker (2005) khi quan sát mẫu 278 ngân hàng từ 9 quốc gia chuyển tiếp từ 1995-2002
Tuy nhiên, giả thuyết ‘risk-averse management’ (quản trị chống lại nguy cơ) của tác giả Koutsomanoli-Filippaki và Mamatzakis (2009) giả định rằng các nhà quản trị ngân hàng chống lại rủi ro bằng cách gia tăng chi phí hoạt động và phân phối chi phí này theo từng thời
kỳ, hoàn cảnh và giám sát của các khoản vay, tuy sẽ giảm hiệu quả hoạt động (vì chi phí tăng) nhưng sẽ làm giảm độ rủi ro về nợ trong danh mục tín dụng Nỗi lo phải đối mặt với khủng hoảng tài chính và thông tin bất cân xứng được giải thích một cách khả dĩ nhất cho tác động cùng chiều giữa các khoản vay có nghi ngờ và hiệu quả hoạt động ngân hàng ở trường hợp này
Giả thuyết “mối nguy đạo đức” (‘Moral hazard’ hypothesis): đối với một số nhà quản trị ngân hàng, mối nguy và động cơ rủi ro đạo đức phát sinh khi tỷ lệ vốn hóa thấp so với tổng tài sản, khiến họ sẵn sàng chấp nhận mức độ rủi ro cao của danh mục cho vay để đạt được những mục tiêu đã định; vì thế sẽ dẫn đến sự gia tăng tiềm ẩn nợ xấu cho ngân hàng Thật vậy, giả thuyết này đã được đưa ra thảo luận bởi Keeton và Morris (1987), tác giả đã chỉ ra rằng tỷ lệ tổn thất sẽ gia tăng quá mức – đặc biệt là các ngân hàng có liên quan đến tỷ
lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản thấp Mối quan hệ âm giữa tỷ lệ vốn và nợ xấu cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Salas và Saurina (2002); Jimenez và Saurina (2005)
Giả thuyết về tác động của quy mô ngân hàng (‘Size effect’ hypothesis): Quy mô và
tỷ trọng thu nhập ngoài lãi của ngân hàng so với tổng thu nhập có tương quan âm với nợ xấu Salas và Saurina nhận thấy rằng quy mô lớn sẽ cho phép ngân hàng có nhiều cơ hội đa dạng hóa (diversification) Việc đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngoài thu nhập lãi từ tín dụng sẽ giúp ngân hàng giàm bớt rủi ro nợ xấu
Giả thuyết “quá lớn không thể phá sản” (‘to big to fail’): những ngân hàng lớn chấp nhận mở rộng tín dụng đến các khách hàng có chất lượng thấp, vì chính phủ sẽ bảo vệ khi các ngân hàng này lâm vào tình trạng kiệt quệ, phá sản Chính vì vậy, các ngân hàng này mang tâm ký ỷ lại; do đó, tồn tại tương quan dương giữa quy mô ngân hàng và tỷ lệ nợ xấu
Giả thuyết chính sách tín dụng theo chu kỳ (‘Procyclical credit policy’ hypothesis): trong ngắn hạn, một số nhà quản trị có thể đưa ra chính sách tín dụng tự do, nới lỏng nhằm
Trang 30mở rộng thị phần hay chính sách thắt chặt khi thị trường thu hẹp lại; đồng thời xem nhẹ việc phân loại nợ, giám sát cho vay và trích lập dự phòng đầy đủ.Do đó, lợi nhuận quá khứ có thể
có tương quan dương với nợ xấu trong tương lai Kết quả cũng tương tự trong nghiên cứu của Rajan (1994)
Giả thuyết “kiểm soát chặt chẽ” (‘tight control’): việc tập trung sở hữu có thể khuyến khích cách ứng xử khôn ngoan đối với rủi ro của các nhà quản trị thông qua hệ thống kiểm soát chặt chẽ; vì thế, tập trung sở hữu có tương quan âm với tỷ lệ nợ xấu
Các nghiên cứu bổ sung cho các giả thuyết trên: thông qua việc xử lý dữ liệu bảng từ 9 ngân hàng lớn nhất Hy Lạp từ quý 1/2003 đến quý 3/2009, kết quả đã xác nhận các giả thiết nghiên cứu về quản trị yếu kém và “quá lớn không thể phá sản”
Một hướng nghiên khác là nghiên cứu ảnh hưởng của nhà nước thông qua các DNNN đến vấn đề nợ xấu trong nền kinh tế chuyển đổi Lu và cộng sự (2005) thông qua hiện tượng nợ xấu rất cao của ngành ngân hàng Trung Quốc (năm 2003, nợ xấu cúa 4 NHTM lớn nhất được công bố chính thức là 2,4 ngàn tỷ nhân dân tệ, tương đương 290 tỷ USD và 23% tổng
dư nợ, nhưng số liệu không chính thức từ các tổ chức xếp hạng tín nhiệm cho rằng nợ xấu vào khoảng 3,5 ngàn tỷ nhân dân tệ) đã đưa ra các giả thiết nghiên cứu:
Giả thiết 1: cho vay của ngân hàng thiên vị các DNNN một cách có hệ thống;
Giả thiết 2: Chính phủ tác động đến quyết định cho vay của ngân hàng;
Giả thiết 3: ngân hàng sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao hơn khi cho vay DNNN
Phương trình cân bằng cung – cầu tín dụng không có yếu tố lãi suất, do lãi suất được NHTW quy định Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của tất cả công ty niêm yết từ
1994 – 1999 (tổng cộng có 268 công ty có đầy đủ dữ liệu, gồm 164 công ty ở Thượng Hải
và 104 công ty tại Thẩm Quyến)
Kết quả cho thấy giả thiết về cho vay thiên vị của NHTM đối với DNNN được xác nhận, các điều kiện khác không đổi Ngoài ra, các DNNN có rủi ro cao có thể vay nhiều hơn các DNNN rủi ro thấp và doanh nghiệp tư ngoài quốc doanh Kết quả được các tác giả lý giải
Trang 31bởi hai khả năng: hoặc ngân hàng cho vay theo chỉ định; hoặc ngân hàng kỳ vọng vào sự bảo lãnh ngầm từ Chính phủ đối với các khoản cho vay DNNN.
Như vậy, từ các bằng chứng thực nghiệm có thể đưa ra các nhân tố thuộc về ngành ngân hàng tác động đến nợ xấu như quản trị yếu kém (hiệu quả nhờ chi phí thấp, chính sách tín dụng theo chu kỳ), các mối nguy cơ đạo đức (vốn hóa thấp, phân tán sở hữu, quá lớn không thể phá sản, ưu đãi dành cho DNNN)
c Các nhân tố thuộc về người đi vay
Các nhân tố thuộc về người đi vay có thể chia thành hai nhóm: các nhân tố tài chính và các nhân tố phi tài chính Việc phát sinh nợ xấu trong tương lai có liên quan chặt chẽ đến ước lượng rủi ro tín dụng của người đi vay
Edward I.Altman và Athony Saunders đã tóm lược quá trình phát triển các mô hình đo lường rủi ro tín dụng trong 20 năm cuối của thế kỷ 20
Đầu tiên, các định chế tài chính phụ thuộc vào hệ thống phân tích chủ quan của chuyên gia ngân hàng để đánh giá rủi ro tín dụng của các khoản cho vay doanh nghiệp, chủ yếu là tính cách của người đi vay (uy tín), vốn (đòn bẩy tài chính), năng lực (tính bất ổn của thu nhập) và tài sản đảm bảo, thường được gọi là 4C, để ra quyết định cấp tín dụng
Một hệ thống tiến bộ hơn phân tích chuyên gia được phát triển là hệ thống chấm điểm tín dụng dựa trên thông tin kế toán Trong hệ thống này, các ngân hàng so sánh các tỷ số kế toán chủ yếu của người đi vay với tiêu chuẩn ngành hoặc nhóm Khi sử dụng mô hình đa nhân tố, các biến kế toán chủ yếu được liên kết và ước lượng để đưa ra một điểm số về rủi
ro tín dụng hay đo lường rủi ro vỡ nợ Nếu điểm số tín dụng hay rủi ro đạt đến một giá trị nào đó vượt chuẩn, người đi vay hoặc bị từ chối , hoặc được xem xét kỹ hơn
Có ít nhất 4 tiếp cận về mặt phương pháp luận để phát triển các hệ thống chấm điểm tín dụng đa nhân tố: mô hình tuyến tính, mô hình logit, mô hình probit và mô hình phân tích phân biệt (discriminant analysis) Z-score, MH Chilson
Các mô hình này chịu ít nhất ba chỉ trích Thứ nhất, chủ yếu dựa trên giá trị sổ sách, những mô hình này có thể không thu thập dược các thay đổi tinh vi và nhanh chóng trong
Trang 32điều kiện của người đi vay (nhưng có thể phản ánh trên số liệu và giá trị thị trường) Thứ hai, thế giới vốn là quan hệ phi tuyến, các mô hình trên có thể thất bại trong việc dự báo chính xác trong phạm vi giả định quan hệ tuyến tính giữa các biến Thứ ba, các mô hình dự báo phá sản dựa trên điểm số thường gắn với một mô hình lý thuyết cho trước, có thể giảm giá trị khi có các cách tiếp cận mới
Một số mô hình dự báo mới được phát triển vào cuối thế kỷ 20 dựa trên các lý thuyết mới như định giá quyền chọn, định giá tài sản - vốn (CAPM), mô hình tỷ lệ tử vong và mô hình mạng thần kinh
Các mô hình đơn giản nhất trong số các mô hình trên là mô hình “rủi ro sụp đổ” (‘risk of ruin’ models) xuất phát từ giả thiết rằng một công ty bị phá sản nếu giá thị trường của tài sản (A) giảm xuống thấp hơn nghĩa vụ đối với các chủ nợ bên ngoài công ty (B) Các mô hình dạng này được phát triển bởi Wilcox (1973), Scott (1981), Santomero và Vinso (1977)
và gần nhất là mô hình KMV (1993) và Kealhofer (1996), vốn dựa trên mô hình định giá quyền chọn của Black-Scholes (1973)
Các mô hình thứ hai với nền tảng lý thuyết vững chắc là các mô hình tìm kiếm xác suất
vỡ nợ từ cấu trúc kỳ hạn của chênh lệch lợi suất giữa chứng khoán phi rủi ro và các chứng khoán rủi ro của doanh nghiệp Các mô hình dạng này bao gồm: Jonkhart (1979) và Iben và Litterman (1989) Các mô hình này bắt nguồn từ việc áp dụng lãi suất kỳ hạn đối với chứng khoán rủi ro và phi rủi ro và sử dụng các lãi suất này để xác định kỳ vọng thị trường về vỡ
nợ tại các thời điểm khác nhau trong tương lai
Mô hình thứ ba dựa trên thị trường vốn là mô hình về tỷ lệ tử vong của Altman (1988, 1989) và tiếp cận lão hóa của Asquith và cộng sự (1989) Các mô hình này tìm kiếm xác suất vỡ nợ theo thống kê trên dữ liệu quá khứ về vỡ nợ trái phiếu theo xếp hạng tín nhiệm
và theo thời gian đáo hạn Tất cả các tổ chức xếp hạng tín nhiệm đã áp dụng và cải tiến mô hình tử vong (phá sản) như Moddy’s 1990, Standard and Poor’s 1991)
Nhóm mô hình thứ tư sử dụng cách tiếp cận mới hơn, đó là áp dụng phân tích mạng thần kinh (neuron network analysis) để giải quyết vấn đề vể phân loại rủi ro tín dụng Phân tích mạng thần kinh tương tự như phân tích phân biệt phi tuyến Đặc biệt, các mô hình mạng
Trang 33thần kinh về rủi ro tín dụng khám phá mối tương quan tiềm ẩn giữa các biến giải thích bằng cách đưa vào các biến giải thích bổ sung trong hàm dự báo vỡ nợ phi tuyến Các mô hình dạng này bao gồm: Altman và cộng sự (1994), Coast và Fant (1993)
Sự phát triển mạnh mẽ của các công cụ đo lường rủi ro tín dụng, chấm điểm và xếp hạng tín dụng từ thực tiễn quản trị ngân hàng trên thế giới nên đòi hỏi phải có các nghiên cứu thực nghiệm để lựa chọn mô hình phù hợp trong môi trường ngân hàng Việt Nam
2.2.2.4 Những quy định pháp lý liên quan đến an toàn trong hoạt động tín dụng và
xử lý nợ xấu của NHTM (theo tiêu chuẩn Basel)
Trong năm 2012, NHNN bắt đầu một chương trình liên quan đến việc triển khai phương pháp giám sát dựa trên rủi ro theo chuẩn Basel II ở Việt Nam
Sơ đồ 2.3 Mô hình Basel II
Nguồn: KPMG 2013
Hiện có rất nhiều thách thức phía trước, nhưng ít nhất có thể dự kiến trước các yêu cầu luật định xung quanh vốn ra sao và sẽ ảnh hưởng đến các quy định của ngân hàng như thế nào.Hầu hết các ngân hàng (80%) đều nhận thức được rằng NHNN đã lập kế hoạch thực hiện Khung giám sát theo Basel II, NHNN đã tài trợ cho các khóa đào tạo giới thiệu ý nghĩa của Basel II cho các ngân hàng Việt Nam nhưng lại chưa đưa ra hướng dẫn về việc khi nào các quy định mới sẽ được ban hành, các ngân hàng cũng chưa sẵn sàng để cam kết thực hiện lộ trình triển khai hay đưa ra một quyết định quan trọng gây tốn kém
BASEL II
Yêu cầu vốn tốithiểu
Rủi ro tín dụng Rủi ro hoạt động Rủi ro thị trường
Đưa ra khung quản lý vốn linh hoạt và nhạy cảm với rủi ro
Quy luật thị trường Giám sát
Ba trụ cột
Trang 34Hơn một nửa đối tượng tham gia khảo sát của KPMG đã thành lập dự án triển khai Basel
II Hầu hết các ngân hàng đều lên kế hoạch áp dụng Basel II cho tất cả các hoạt động quản
lý rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thanh khoản Hiện tại, đối với rủi ro tín dụng gần một nửa các ngân hàng (47%) sẽ tiếp cận phương pháp tiêu chuẩn để tính yêu cầu vốn, phương pháp IRB cơ bản được sử dụng bởi 33% và 20% chưa quyết định theo phương pháp luận nào để tính yêu cầu vốn cho rủi ro tín dụng
Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (Bank for International Settlement) gần đây có đưa ra báo cáo về các phương tiện tính vốn rủi ro được lựa chọn bởi các ngân hàng thuộc 47 nước thành viên Điểm đáng chú ý là mặc dù phương pháp Tiêu chuẩn dễ triển khai nhất và không khác so với Basel I (1988), dưới 20% các ngân hàng chọn phương pháp này so với tỷ lệ 47% ở trên của các ngân hàng Việt Nam.Thêm vào đó, không có ngân hàng Việt Nam nào chọn phương pháp IRB Cao cấp trong khi tỷ lệ này ở các ngân hàng thuộc các nước thành viên của BIS (Bank for International Settlemets) là 40%
Nhìn chung, hai khó khăn được nhắc đến nhiều nhất từ các đối tượng chính là chi phí triển khai và thiếu dữ liệu lịch sử
Trước những diễn biến phức tạp của khủng hoảng tài chính toàn cầu và hệ lụy lâu dài của chúng đối với hệ thống tài chính ngân hàng toàn thế giới, Ủy ban Basel một lần nữa lại dự thảo và thông qua phiên bản thứ 3 (Basel 3) về các tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu
Các tiêu chuẩn Basel 3 không hiệu lực ngay lập tức Chúng bắt đầu có hiệu lực từ năm
2013, được thực hiện theo lộ trình đến hết năm 2018 và thực hiện đầy đủ vào 1/1/2019 (Tham khảo Phụ lục 4: Các quy định về Basel và Phụ lục 5: Xếp hạng tín nhiệm)
2.3 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ NỢ XẤU
2.3.1 Phương hướng và kinh nghiệm xử lý nợ xấu ở các nước trên thế giới
2.3.1.1 Cơ sở lý thuyết về giải quyết nợ xấu hệ thống
Theo Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (2005) cho rằng, quản lý nợ xấu của NHTM
là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững; trng đó, vừa tăng cường thực hiện các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế phát sinh nợ xấu, vừa đẩy
Trang 35mạnh việc xử lý nợ xấu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Khi nợ xấu xảy ra có tính hệ thống thì có ba hình thức giải quyết thông dụng sau: (i) giải pháp thị trường tự do: tự chịu trách nhiệm (self-reliance), tự xử lý nợ xấu thông qua quỹ dự phòng rủi ro, (ii) chuyển nợ xấu từ các NHTM sang một công ty quản lý tài sản đặc biệt (AMC),
và (iii) xóa nợ (Mitchell, 2001) Gần đây, giải pháp thu hẹp tỷ lệ sở hữu (bail-in) bắt buộc đối với các cổ đông hiện hữu cũng được đưa ra để giải quyết nợ xấu để tránh tình trạng rủi
ro đạo đức một khi các ngân hàng trở thành quá lớn để sụp đổ (Zhou et al., 2012)
Giải pháp tự giải quyết (self-reliance):giải pháp này hàm ý các ngân hàng sẽ phải tự xử
lý các khoản nợ xấu của mình để đạt được các chuẩn mực mà NHTW đưa ra Các NHTM
sẽ phải dùng các khoản dự phòng và huy động thêm vốn mới để bù đắp lại lượng vốn bị mất khi nợ xấu được ghi nhận là mất vốn Các NHTM cũng phải tự thỏa thuận trong việc mua bán, xử lý nợ xấu để thu hồi vốn NHTW thường sẽ ấn định một khoảng thời gian nhất định để các NHTM tự xử lý.Khi không tự xử lý được, các NHTM có thể bị phá sản
Giải pháp SAMC (Special Asset Management Company): việc hình thành công ty đặc
biệt ở quy mô quốc gia để mua bán nợ xấu đã được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Malaysia (Danaharta), Indonesia (IBRA), Hàn Quốc (KAMCO), Thái Lan, Thụy Điển v.v… Mục đích của giải pháp này là tạo ra công cụ để giải quyết nhanh chóng nợ xấu tại các NHTM SAMC sẽ tiến hành mua lại các khoản nợ xấu từ các NHTM với những mức chiết khấu khác nhau tùy vào đánh giá về chất lượng của các khoản nợ đó.Khi quá trình này được khởi động, nợ xấu tại các NHTM sẽ giảm đi nhanh chóng Tất nhiên, các NHTM sẽ phải ghi nhận mất vốn một phần vì khi tài sản nợ xấu được chuyển sang cho SAMC, các NHTM chỉ thu được tiền về ở mức giá đã bị chiết khấu SAMC sau khi nhận các khoản nợ xấu của các NHTM sẽ tiến hành phân loại và thực hiện các hình thức bán nợ xấu cho các đối tác khác nhau trong nền kinh tế
Kinh nghiệm cho thấy SAMC không nên dấn sâu vào các hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp mà chỉ nên dừng lại ở việc khâu mua và bán nợ xấu (Klingebiel, 2000)
Giải pháp xóa nợ: giải pháp xóa nợ cho doanh nghiệp thường được đề xuất thực hiện
khi các khoản nợ là giữa các NHTM nhà nước và các DNNN Vì cả hai đối tượng này
Trang 36đều thuộc sở hữu của Nhà nước nên việc xóa nợ sẽ không làm thay đổi giá trị tài sản của Nhà nước
Vấn đề chính của giải pháp xóa nợ là nó ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước đối với thị trường và gây ra rủi ro về ngân sách trong tương lai Khi DNNN được xóa nợ thì đương nhiên NHTMNN sẽ bị mất vốn Và để hoạt động thì Nhà nước buộc phải bơm vốn (recapitalization) cho ngân hàng tương đương với lượng vốn đã bị mất đi do xóa nợ
2.3.1.2 Kinh nghiệm thế giới
Khu vực Đông Á
Trong thời kỳ khủng hoảng tài chính châu Á những năm 1997-1998, phần lớn các nước Đông Á đã lập các Công ty Quản lý tài sản (AMC) trực thuộc Nhà nước nhằm thanh lý nợ xấu đồng thời với thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung (Tham khảo Phụ lục 6a: So sánh các công ty xử lý nợ xấu của các nước trong khu vực tại thời điểm tháng 12/2002)
Kinh nghiệm xử lý nợ xấu thành công ở các quốc gia Đông Á cho thấy việc xử lý nợ xấu cần thực hiện nhanh chóng nếu không sẽ tổn thất nặng nề và thường thực hiện bằng các giải pháp: bơm vốn trực tiếp, tái cơ cấu nợ và bán nợ thông qua công ty quản lý tài sản (Asset Management Companies – AMC) Giải pháp bán nợ qua AMC được xem là một giải pháp khá hiệu quả trong việc xử lý nhanh các khoản nợ xấu với điều kiện các AMC cần được trao
đủ quyền lực để có thể thẩm quyền trong việc xử lý nợ xấu chẳng hạn như công ty Kamco (Hàn Quốc), Danaharta (Malaysia) hay Tamc (Thái Lan) Đồng thời, các quốc gia đều thực hiện xử lý nợ xấu gắn liền với quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Bên cạnh đó, các công ty xử lý nợ tập trung cũng có các quyền hạn đặc biệt để cắt giảm các thủ tục pháp lý
Ví dụ, Danaharta của Malaysia có quyền xử lý tất cả khoản nợ xấu chuyển giao mà không cần xin phép các chủ tài sản TAMC của Thái Lan cũng sử dụng quyền hạn mình để buộc các con nợ phải ngồi vào bàn đàm phán cho việc thanh toán các khoản nợ vay của mình…
Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Hàn Quốc
Nước bị khủng hoảng nghiêm trọng nhất trong những năm 1997-1998, vai trò tái cấu trúc doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế (Chaebol) trong quá trình giải quyết một danh
Trang 37mục nợ xấu lớn là rất rõ ràng, cho dù nhiệm vụ mấu chốt được đề ra ngay từ khi AMC được thành lập là giải quyết nợ xấu càng sớm càng tốt Dựa theo cách xử lý nợ xấu ở Hàn Quốc,
ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
Chính phủ cần đề nghị các ngân hàng lớn, có tiềm lực tài chính mua lại các ngân hàng yếu kém, mạnh tay giải thể hay quốc hữu hóa các ngân hàng sắp phá sản
Hạn chế tăng cung tiền ra nền kinh tế để tránh lạm phát bằng cách sử dụng trái phiếu, ghi nợ… Chính phủ cũng cần hỗ trợ cho các công ty quản lý tài sản AMC để mua lại các khoản nợ xấu của ngân hàng, chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thành các tài sản an toàn (trái phiếu được đảm bảo bởi Chính phủ)
Hình thành quỹ công chúng và công ty quản lý tài sản Hàn Quốc (Korean Asset Management Corporation –KAMCO) (Tham khảo Phụ lục 6b: Vai trò mô hình KAMCO)
Xác định được hướng đi đúng trong xử lý nợ xấu: Thành lập các cơ quan luật pháp khác để tạo điều kiện cho quá trình kết hợp tái cấu trúc khu vực ngân hàng, ngành tài chính
và tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp theo nguyên tắc thị trường như công ty tái cơ cấu doanh nghiệp Một khi khu vực ngân hàng khỏe mạnh sẽ giúp cho khu vực doanh nghiệp hoạt động dễ dàng hơn Việc xử lý nợ xấu cần có lộ trình rõ ràng xuyên suốt
Thực hiện các biện pháp hỗ trợ: Đưa ra chính sách ưu đãi thuế quan trọng với những chủ thể trên thị trường nợ xấu Đồng thời, đưa ra các tiêu chuẩn chặt chẽ và rõ ràng Chính phủ yêu cầu các ngân hàng phải lập dự phòng mất vốn nhiều hơn cho các khoản nợ xấu bằng việc áp dụng các nguyên tắc phân loại tài sản chặt chẽ hơn
Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Trung Quốc
Để cải thiện tình hình nợ xấu trong khu vực ngân hàng, PBC (People’s Bans Bank of China – NHTW Trung Quốc) đã ban hành nhiều quy định chặt chẽ về quy trình thẩm định tín dụng sát sao để qua đó nhằm kiểm soát nợ xấu trước, trong và sau khi cho vay Việc làm này là kinh nghiệm rất hay để nước ta học tập khi mà công tác thẩm định tín dụng ở Việt Nam chưa thật sự hoàn thiện
Giai đoạn 1: Tiến hành tái cấu trúc tài chính nhằm đổi mới hệ thống ngân hàng, tách cho vay chính sách khỏi cho vay thương mại, các NHTM sử dụng cách phân loại nợ thành 5 nhóm theo cách chia của BIS thay vì 4 nhóm như trước đây
Trang 38 Giai đoạn 2: Thành lập các công ty quản lý tài sản được Nhà nước tài trợ (AMC) Tại Trung Quốc PBC thành lập 4 AMC trực thuộc 4 NHTM lớn của Trung Quốc với sự hỗ trợ vốn từ Bộ Tài chính (BTC) Việc này không chỉ giúp các AMC có nguồn vốn lớn mà còn giúp hoạt động hiệu quả nhờ có sự giám sát và trợ giúp của PBC Các biện pháp để xử lý nợ của các AMC tại Trung Quốc gồm: bán, đấu giá và cơ cấu lại các khoản nợ xấu, nhà bị tịch thu, kiện tụng và thanh lý; chứng khoán hóa các khoản nợ xấu; hoán đổi nợ thành cổ phần Trong khi đó, các mô hình AMC ở Việt Nam, nguồn vốn chủ yếu dựa vào nguồn vốn của NHTM mẹ, vốn điều lệ chỉ trong khoảng 50-100 tỷ đồng Cụ thể, Việt Nam có khoảng 27 AMC hoạt động trực thuộc các NHTM, nhưng hoạt động của các AMC còn mờ nhạt, phần lớn là chỉ thành lập trên hình thức nên chưa phát huy hết tác dụng trong công tác xử lý nợ xấu Bên cạnh đó, PBC còn tiến hành tái cấu trúc hệ thống NHTM và khuyến khích các ngân hàng nước này niêm yết Việc làm này được Việt Nam học hỏi khi mà ngày càng nhiều NHTM nước ta tiến hành IPO
Giai đoạn 3: Tập trung tái cấu trúc các NHTM Nhà nước bằng cách mời gọi sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có chọn lọc và niêm yết ra công chúng Việc cải cách các DNNN cũng được thực hiện, bởi vì phần lớn nợ xấu của NHTM là cho các DNNN vay Vì thế, những việc làm này không chỉ giúp cải thiện triệt để tình hình nợ xấu của NHTM từ gốc mà còn giúp cho hệ thống ngân hàng phát triển khỏe mạnh hơn
Bảng 2.1: Quá trình xử lý nợ xấu ở Trung Quốc
Hoàn thiện các bộ luật, văn bản pháp quy về
tiền tệ, phát hành trái phiếu Chính phủ
Buộc các NHTM phải tuân thủ tiêu chuẩn
quốc tế về phân loại nợ
Tái cấp vốn cho các NHTMNN
Thành lập 4 công ty quản lý tài sản thuộc sở
hữu Nhà nước do BTC quản lý, tiếp nhận và xử
lý nợ xấu của 4 NHTMNN
Đổi nợ lấy cổ phần
Bán trực tiếp tài sản và nợ xấu cho nhà đầu tư
Chứng khoán hóa các khoản nợ
Tái cơ cấu khoản nợ
Xử lý phá sản
Trang 39 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Thái Lan
Thực hiện xử lý nợ xấu bằng ba giải pháp cơ bản: bơm vốn trực tiếp, AMC và trung gian tái cơ cấu nợ (Corporate Debt Restructuring Committee – CDRC), trong đó AMC là một trong những giải pháp mà Thái Lan đã áp dụng khá hiệu quả trong thời kỳ khủng hoảng Bảng 2.2: Đặc điểm của 3 cơ chế AMC Thái Lan
Số AMC 12 AMC hoạt động
4 AMC thuộc 5 ngân hàng sở hữu nhà nước (BAM, PAM, SAM, và Radhanasin AMC)
1: Thai Asset ManagementCorporation (TAMC)
Sở hữu Các ngân hàng tư nhân Quỹ Phát triển các Định
chế tài chính (FIDF) Bộ Tài chính
Năm thành lập 8/1998
1998 (BBC), 1999 (UOBR), 2000 (KTB), và
Giải quyết nợ xấu và cơ cấu lại nguồn vốn ngân hàng
Xử lý nợ xấu, tránh các thủ tục pháp lý và tòa án
Cơ sở hoạt động Nợ xấu của các ngân hàng mẹ
được chuyển sang AMC con
FIDF đảm bảo các trái phiếu được phát ra để mua lại nợ xấu từ các ngân hàng nhà nước
TAMC phát hành trái phiếu (có sự bảo đảm của FIDF) để tạo nguồn vốn mua nợ xấu của các TCTD Nguyên tắc giải quyết tài sản xấu là Chia
sẻ lời – lỗ giữa TAMC và các TCTD
Dựa trên giá trị của tài sản bảo đảm (33,2%)
Trang 40đầu hoặc giá trị
Đáng kể vì cho phép các ngân hàng đáp ứng nhu cầu cơ cấu lại nguồn vốn
Đáng kể vì các ngân hàng có thể tách tài sản xấu khỏi bảng cân đối Lời-lỗ được chia sẻ theo sự sắp xếp giữa TAMC và các tổ chức tài chính
Bài học kinh nghiệm từ cách xử lý nợ xấu của Mỹ
Qua tìm hiểu công tác xử lý nợ xấu của Mỹ, các giải pháp được rút ra cho Việt Nam:
Chính phủ hỗ trợ và cung cấp tiềm lực vốn đủ lớn thành lập công ty xử lý nợ xấu tiến hành xử lý nợ xấu tại các ngân hàng trong toàn nền kinh tế, tạo dựng một tiềm lực vững mạnh về tài chính cũng như pháp lý cho công ty này
Mặt khác, có thể xử lý nợ bằng cách mua lại các khoản nợ khó đòi, thực hiện nghiệp vụ chứng khoán hóa với các sản phẩm chứng khoán được bảo đảm bởi tài sản cầm cố và bán lại cho các nhà đầu tư
Thêm vào đó, cần hạ lãi suất và hỗ trợ thanh khoản cho các tập đoàn tài chính, cũng như kích thích tiêu dùng và cho vay Các ngân hàng cần có các biện pháp hỗ trợ khách hàng như: gia hạn nợ, giảm lãi suất và giảm giá trị các khoản cho vay giúp khách hàng có khả năng trả nợ
2.3.1.3 Bài học kinh nghiệm chung cho Việt Nam
Hiện tượng một hệ thống tín dụng lâm vào khủng khoảng do nợ xấu không phải là một