1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tác động và lượng giá thiệt hại của thiên tai do bão lũ đến sinh kế của cư dân các xã ven biển huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh

127 580 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 4,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN ********* Kiều Hải Liên ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG VÀ LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI CỦA THIÊN TAI DO BÃO LŨ ĐẾN SINH KẾ CỦA CƯ DÂN CÁC XÃ VEN BIỂN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

*********

Kiều Hải Liên

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG VÀ LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI CỦA THIÊN TAI DO BÃO LŨ ĐẾN SINH KẾ CỦA CƯ DÂN

CÁC XÃ VEN BIỂN HUYỆN KỲ ANH,

TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

*********

Kiều Hải Liên

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG VÀ LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI CỦA THIÊN TAI DO BÃO LŨ ĐẾN SINH KẾ CỦA CƯ DÂN

CÁC XÃ VEN BIỂN HUYỆN KỲ ANH,

TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường

Mã số: 60850101

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn An Thịnh

Hà Nội - 2015

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của chính bản thân, em còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các các cá nhân và tập thể Em xin được bày tỏ lời tri ân chân thành nhất của mình đối với các thầy cô, anh chị em, bạn bè đồng nghiệp và gia đình

Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy giáo - PGS.TS Nguyễn An Thịnh, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Địa lý cùng các thầy cô, anh chị, bạn bè đồng nghiệp làm việc tại Trường ĐHKHTN đã luôn nhiệt tình giúp đỡ, đóng góp những ý kiến quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành luận văn này

Em xin cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của lãnh đạo và các cán bộ làm việc tại UBND huyện Kỳ Anh cùng nhân dân địa phương đã tạo điều kiện, hợp tác, giúp đỡ

em trong quá trình làm việc và thực địa tại địa bàn huyện

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình và bạn bè, đặc biệt

là bố mẹ đã luôn đồng hành động viên, quan tâm, chăm sóc, cho em những lời khuyên quý báu giúp em vượt qua những khó khăn, vướng mắc để có thể toàn tâm toàn ý hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Hà Nội, tháng 03/2015

Học viên

Kiều Hải Liên

Trang 4

i

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC BẢNG BIỂU iv

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ vi

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn 3

5 Cơ sở tài liệu để thực hiện luận văn 3

6 Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ, LƯỢNG GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI DO BÃO LŨ TỚI SINH KẾ CƯ DÂN KHU VỰC VEN BIỂN 5

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu 5

1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 5

1.1.2 Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam 7

1.1.3 Các công trình liên quan tới khu vực nghiên cứu 8

1.2 Cơ sở lý luận nghiên cứu sinh kế/ khung sinh kế bền vững và lượng giá các tác động của thiên tai tới sinh kế 11

1.2.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu sinh kế và khung sinh kế bền vững 11

1.2.2 Cơ sở lý luận về thiên tai và đánh giá thiên tai 19

1.2.3 Cơ sở lý luận lượng giá tác động của thiên tai do bão lũ tới sinh kế cư dân vùng ven biển 21

Trang 5

ii

1.3 Quan điểm, phương pháp và các bước nghiên cứu 34

1.3.1 Quan điểm nghiên cứu 34

1.3.2 Các phương pháp nghiên cứu 34

1.3.3 Các bước nghiên cứu 36

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ BIẾN ĐỔI SINH KẾ CƯ DÂN ĐỊA PHƯƠNG TẠI CÁC XÃ VEN BIỂN HUYỆN KỲ ANH 38

2.1 Tính đặc thù về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên các xã ven biển huyện Kỳ Anh 38

2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 38

2.1.2 Điều kiện tự nhiên đặc trưng của các xã ven biển huyện Kỳ Anh 42

2.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội huyện Kỳ Anh 46

2.2 Thực trạng các nguồn vốn sinh kế và sự thay đổi sinh kế cư dân địa phương 49

2.2.1 Thực trạng các nguồn vốn sinh kế 49

2.2.2 Sự thay đổi sinh kế cư dân địa phương 54

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG, LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI CỦA THIÊN TAI DO BÃO LŨ VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG TẠI CÁC XÃ VEN BIỂN HUYỆN KỲ ANH 57

3.1 Phân tích tác động của thiên tai tới sinh kế 57

3.1.1 Tác động của thiên tai đến nghề nghiệp hộ gia đình 57

3.1.2 Tác động của thiên tai đến tài sản của hộ 61

3.1.3 Tác động của thiên tai đến thu nhập của người dân 62

3.1.4 Các hỗ trợ sau thiên tai 63

3.2 Đánh giá tác động của thiên tai tới sinh kế ven biển 64

Trang 6

iii

3.3 Lượng giá thiệt hại và phân tích chi phí - lợi ích 683.3.1 Ước tính thiệt hại của các xã ven biển do tác động của bão lũ 683.3.2 Phân tích chi phí – lợi ích mở rộng 853.4 Đề xuất khung sinh kế bền vững và định hướng phát triển sinh kế tại 7 xã ven biển huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh 88TÀI LIỆU THAM KHẢO 100PHỤ LỤC 104

Trang 7

iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Các chỉ thị cho nguồn vốn sinh kế 17

Bảng 1.2: Bối cảnh bên ngoài trong khung sinh kế bền vững 18

Bảng 2.1: Mật độ dân số các xã ven biển 46

Bảng 2.2: Cơ cấu giá trị sản xuất một số xã ven biển huyện Kỳ Anh năm 2010 48

Bảng 2.3: Diện tích các loại đất tại 7 xã ven biển huyện Kỳ Anh tính đến 1/1/2013 (Đơn vị: ha) 50

Bảng 2.4: Dân số, lao động một số xã ven biển huyện Kỳ Anh năm 2010 51

Bảng 2.5: Cơ cấu thu nhập các hộ gia đình tại bảy xã ven biển huyện Kỳ Anh năm 2010 (Đơn vị: %) 52

Bảng 2.6: Cơ cấu nghề nghiệp của các hộ gia đình tại các xã ven biểnhuyệnKỳ Anh (Đơn vị: %) 53

Bảng 3.1: Chuồng trại chăn nuôi 59

Bảng 3.2: Số điểm trung bình cho mức độ tác động của thiên tai đến ngư nghiệp 60

Bảng 3.3: Thống kê tác động của thiên tai tới ngư nghiệp từng xã 60

Bảng 3.4: Đánh giá tác động thiên tai đến thu nhập hộ gia đình 62

Bảng 3.5: Hỗ trợ sau thiên tai tại các xã dự án 63

Bảng 3.6: Tác động của thiên tai do bão lũ đến sinh kế ven biển huyện Kỳ Anh 64

Bảng 3.7: Tác động cụ thể của thiên tai do bão lũ đến sinh kế tại các xã ven biển 66

Bảng 3.9: Thống kê số lượng bão, lũ xảy ra trên địa bàn huyện Kỳ Anh 2008-2013 69

Bảng 3.10: Bảng thống kê thiệt hại do bão lũ ảnh hưởng tới 07 xã ven biển huyện Kỳ Anh (2008 – 2013) (đơn vị: triệu đồng) 70

Bảng 3.11: Bảng thống kê thiệt hại do bão lũ ảnh hưởng tới xã Kỳ Xuân (2008 – 2013) (đơn vị: triệu đồng) 70

Trang 8

v

Bảng 3.12: Bảng thống kê thiệt hại do bão lũ ảnh hưởng tới xã Kỳ Phú (2008 –

2013) (đơn vị: triệu đồng) 71

Bảng 3.13: Bảng thống kê thiệt hại do bão lũ ảnh hưởng tới xã Kỳ Khang (2008 – 2013) (đơn vị: triệu đồng) 71

Bảng 3.14: Bảng thống kê thiệt hại do bão lũ ảnh hưởng tới xã Kỳ Ninh (2008 – 2013) (đơn vị: triệu đồng) 72

Bảng 3.15: Bảng thống kê thiệt hại do bão lũ ảnh hưởng tới xã Kỳ Lợi (2008 – 2013) (đơn vị: triệu đồng) 72

Bảng 3.16: Bảng thống kê thiệt hại do bão lũ ảnh hưởng tới xã Kỳ Phương (2008 – 2013) (đơn vị: triệu đồng) 73

Bảng 3.17: Bảng thống kê thiệt hại do bão lũ ảnh hưởng tới xã Kỳ Nam (2008 – 2013) (đơn vị: triệu đồng) 73

Bảng 3.18: Ước tính tổng thiệt hại của 7 xã ven biển huyện Kỳ Anh 83

Bảng 3.19 Phân tích chi phí – lợi ích thiệt hại do bão lũ tại 7 xã ven biển 87

Bảng 3.20: Khả năng bị tổn thương của sinh kế trước tác động của bão, lũ lụt 90

Bảng 3.21: Các tiêu chí đánh giá tính bền vững và thích ứng của sinh kế 91

Bảng 3.22: Tổng hợp khung sinh kế bền vững đề xuấtcho 7 xã ven biển huyện Kỳ Anh 96

Trang 9

vi

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Khung Sinh kế bền vững của DFID (2001)……… 15

Hình 1.2 Sơ đồ phân loại phương pháp lượng giá (Ngân hàng thế giới, 2002)… 22

Hình 1.3 Sơ đồ các bước nghiên cứu……… 37

Hình 2.1 Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu……… 39

Hình 2.2 Biểu đồ cơ cấu diện tích các nhóm đất tại 7 xã ven biển huyện Kỳ Anh.49 Hình 2.3 Biểu đồ cơ cấu nghề nghiệp của các hộ gia đình tại các xã ven biển huyện Kỳ Anh (2014)……… 53

Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đánh giá mức độ tác động của các loại hình thiên tai tới sản xuất nông nghiệp tại 7 xã ven biển………58

Hình 3.2 Biểu đồ cơ cấu đánh giá tác động của thiên tai đến thu nhập hộ gia đình61 Hình 3.3 Bản đồ mức độ thiệt hai do thiên tai tới sinh kế năm 2008……… 77

Hình 3.4 Bản đồ mức độ thiệt hai do thiên tai tới sinh kế năm 2009……… 78

Hình 3.5 Bản đồ mức độ thiệt hai do thiên tai tới sinh kế năm 2010……… 79

Hình 3.6 Bản đồ mức độ thiệt hai do thiên tai tới sinh kế năm 2011……… 80

Hình 3.7 Bản đồ mức độ thiệt hai do thiên tai tới sinh kế năm 2012……… 81

Hình 3.8 Bản đồ mức độ thiệt hai do thiên tai tới sinh kế năm 2013……… 82

Hình 3.9 So sánh các nguồn vốn sinh kế của 7 xã năm 2013…… ……… 84

Hình 3.10 Biểu đồ giá trị hiện ròng (NPV) tích dồn theo các năm của thiệt hại sinh kế do bão lũ tại 7 xã ven biển huyện Kỳ Anh……… 87

Hình 3.11 Khung sinh kế bền vững vùng ven biển của IMM (2004)……… 89

Hình 3.12 Khung sinh kế bền vững đề xuất cho 7 xã ven biển huyện Kỳ Anh… 92

Hình 3.13 Bản đồ định hướng phát triển sinh kế bền vững vùng ven biển huyện Kỳ Anh………97

Trang 10

vii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

BĐKH Biến đổi khí hậu

CCVI Chỉ số tổn thương do thiên tai

CM Phương pháp mô hình chọn lựa (Choice Modelling Method)

CVM Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contigent Valuation Method)

DFID Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh

(Department for International Development)

GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)

HEA Phương pháp phân tích nơi cư trú tương đương

(Habitat Equivalency Analysis)

HST Hệ sinh thái

IMM Tổ chức Nghiên cứu về Phát triển bền vững của Vương quốc Anh ITCM Chi phí du lịch theo cá nhân

MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

(Ministry of Agriculture and Rural Development)

MPM Phương pháp giá trị thị trường

NOAA Cơ quan khí quyển và hải dương học quốc gia Mỹ

SLF Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihood Framework)

TCM Phương pháp chi phí du hành (Travel Cost Method)

UNCED Hội nghị Quốc tế về Môi trường và Phát triển

WCED Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới

(World Commission on Environment and Development)

WTA Sự sẵn lòng chấp nhận

WTP Chi trả của người dân

ZTCM Chi phí du lịch theo vùng

Trang 11

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu nhiều thiên tai nhất trên thế giới, với khoảng 70% dân số sẽ phải đối mặt với những rủi ro vì bão, mưa lớn và lũ lụt [2] Bờ biển dài, địa hình rừng núi, nhiều sông suối và khí hậu nhiệt đới khiến bão, mưa lớn khiến Việt Nam sẽ phải chịu thiên tai và thời tiết khắc nghiệt với tần suất ngày càng gia tăng Thiên tai gây thiệt hại về người, phá hủy nhà cửa, ruộng đồng

khiến người dân mất phương tiện sinh sống và đẩy họ trở lại cảnh nghèo đói “Chỉ

tính trong 10 năm gần đây (2001-2010), các loại thiên tai như: bão lũ, lũ quét, sạt

lở đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn và các thiên tai khác đã làm thiệt hại đáng kể về người và tài sản, đã làm chết và mất tích hơn 9.500 người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP/năm” (Chiến lược quốc gia về

Biến đổi khí hậu) [2] Mất đất canh tác, sinh kế của hàng nghìn người dân sẽ bị đe dọa nghiêm trọng Trong bối cảnh thời tiết, khí hậu ngày càng trở nên phức tạp, khó lường như vậy, việc gắn kết sinh kế với diễn biến của thiên tai là hết sức cần thiết

để xây dựng phát triển bền vững sinh kế

Lãnh thổ khu vực ven biển huyện Kỳ Anh kéo dài hơn 63 km, nằm ở vị trí gần các đầu mối giao thông quan trọng là quốc lộ 1A, tỉnh lộ 22, cảng nước sâu Vũng Áng là nơi thường xuyên phải gánh chịu tác động mạnh mẽ của các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, gió Tây khô nóng, hạn hán, lũ lụt, đặc biệt là các xã ven biển, đa số sinh kế của người dân đều dựa vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, làm muối và đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản – những nguồn sinh kế phụ thuộc nhiều vào khí hậu Trong bối cảnh thiên tai diễn biến bất thường, sinh kế của những người dân nơi đây đang bị đe dọa nghiêm trọng Ngoài ra, khu vực này còn là nơi trọng điểm phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh, nên các tác động từ việc quy hoạch sử dụng đất, các yếu tố văn hóa… cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến sinh kế của người dân Do đó, việc đánh giá tác động, tính toán thiệt hại của thiên tai và định hướng phát triển sinh kế bền vững vùng ven biển là việc làm cần thiết và cấp bách

Trang 12

2

Chính vì vậy, việc thực hiện đề tài “Đánh giá tác động và lượng giá thiệt hại

của thiên tai do bão lũ đến sinh kế của cư dân các xã ven biển huyện Kỳ Anh, tỉnh

Hà Tĩnh” là thực sự thiết thực, có ý nghĩa và đóng góp quan trọng cho sự phát triển

bền vững của lãnh thổ này trong tương lai

2 Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu

a) Mục tiêu

Đánh giá thực trạng và biến đổi sinh kế, lượng giá thiệt hại của thiên tai do bão lũ đến sinh kế; đề xuất khung sinh kế và định hướng sử dụng sinh kế bền vững tại các xã ven biển thuộc huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh

b) Nội dung nghiên cứu

- Tổng quan các công trình liên quan tới sinh kế, khung sinh kế bền vững, đánh giá và lượng giá thiệt hại của thiên tai đến sinh kế

- Phân tích thực trạng và biến đổi sinh kế của cư dân các xã ven biển huyện

Kỳ Anh

- Lựa chọn phương pháp lượng giá thích hợp và phân tích chi phí – lợi ích

- Đề xuất khung sinh kế và định hướng phát triển sinh kế bền vững cho cư dân vùng ven biển

c) Nhiệm vụ

- Thu thập tài liệu về lý thuyết, các công trình liên quan đến sinh kế, khung sinh kế bền vững, thiên tai và đánh giá thiên tai đã được thực hiện; các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, bản đồ có liên quan đến khu vực nghiên cứu đã công bố; các phương pháp lượng giá thiệt hại do thiên tai đã được áp dụng

- Xác lập cơ sở lý luận về sinh kế và khung sinh kế bền vững

- Xác lập cơ sở lý luận nghiên cứu đánh giá và lượng giá thiệt hại của thiên tai tới sinh kế

- Khảo sát thực địa và phỏng vấn cư dân địa phương về tác động của thiên tai sinh kế

Trang 13

3

- Viết báo cáo và hoàn thiện luận văn

3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong phạm vi

không gian thuộc khu vực ven biển huyện Kỳ Anh, bao gồm 07 xã là Kỳ Xuân, Kỳ Phú, Kỳ Khang, Kỳ Lợi, Kỳ Phương, Kỳ Ninh và Kỳ Nam

+ Lượng giá thiệt hại của sinh kế ven biển huyện Kỳ Anh giai đoạn

2008-2013 dưới tác động của thiên tai do bão lũ

+ Định hướng phát triển sinh kế bền vững khu vực nghiên cứu

4 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ cách tiếp cận liên

ngành trong việc giải quyết những vấn đề khoa học và thực tiễn liên quan đến nghiên cứu sinh kế vùng ven biển và lượng giá tổn thất do tác động của thiên tai tới sinh kế người dân

- Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu định lượng, liên

ngành về tự nhiên, kinh tế và xã hội phục vụ định hướng phát triển sinh kế bền vững Đồng thời kết quả nghiên cứu giúp các nhà quản lý ra các quyết định liên quan đến công tác quy hoạch, quản lý lãnh thổ và hướng đến mô hình sinh kế bền vững khu vực nghiên cứu nói riêng và khu vực ven biển miền Trung nói chung

5 Cơ sở tài liệu để thực hiện luận văn

a) Tài liệu địa phương

- Các số liệu thống kê và báo cáo kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, định hướng phát triển… của huyện Kỳ Anh và các xã ven biển

Trang 14

4

- Niên giám thống kê huyện Kỳ Anh năm 2005-2010, 2008-2012, 2013

b) Tài liệu không gian: Bản đồ địa hình và bản đồ chuyên đề trên địa bàn huyện Kỳ

Anh, Hà Tĩnh

c) Tài liệu khảo sát tại địa phương:

- Bảng hỏi, phiếu điều tra hộ gia đình về sinh kế

- Phiếu điều tra hộ gia đình về tác động của thiên tai tới sinh kế

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đánh giá, lượng giá tác động của thiên tai do bão lũ tới sinh kế cư dân khu vực ven biển

- Chương 2: Phân tích thực trạng và biến đổi sinh kế của cư dân địa phương tại các

xã ven biển huyện Kỳ Anh

- Chương 3: Đánh giá tác động, lượng giá thiệt hại của thiên tai do bão lũ và định hướng phát triển sinh kế bền vững tại các xã ven biển huyện Kỳ Anh

Trang 15

1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới

* Nghiên cứu sinh kế và sinh kế bền vững

Sinh kế bao gồm khả năng, nguồn vốn (cả nguồn tài nguyên hữu hình và tài nguyên xã hội) và những hoạt động cần thiết của con người để sinh sống Sinh kế được coi là bền vững (sinh kế bền vững) khi có thể giải quyết hoặc vượt qua những khủng hoảng, cú sốc và duy trì hoặc nâng cao khả năng và nguồn vốn cả ở thời điểm hiện tại và trong tương lai, trong khi không làm xói mòn nguồn tài nguyên tự nhiên [27] Để hiểu thêm về cách thức con người có thể phát triển và duy trì sinh kế,

Cơ quan Phát triển Quốc tế của Vương quốc Anh (DFID) đã phát triển khung sinh

kế bền vững (SLF) Khung này được coi là công cụ phân tích, hữu dụng để hiểu các nhân tố khác nhau gây ảnh hưởng đến sinh kế của con người và những nhân tố này tương tác với nhau như thế nào [29] SLF nhìn sinh kế như một hệ thống và cung cấp cách thức để hiểu: nguồn vốn của con người; những chiến lược mà con người thực hiện để tạo sinh kế; bối cảnh mà trong đó sinh kế được hình thành và phát triển; và những nhân tố giúp giảm thiểu tính dễ bị tổn thương đối với những cú sốc

và khủng hoảng

Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào sinh kế bền vững, coi đây là một biện pháp hữu hiệu nhằm giải quyết mối quan hệ giữa con người và môi trường (Scoones 1998; Leach và cộng sự, 1999; Pretty and Ward, 2001) Sinh kế được coi

là cách thức đơn giản để con người kiếm sống và giúp họ có thể có lựa chọn thay thế Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững tập trung vào các loại: vốn kinh tế (tài sản của hộ gia đình), vốn con người (các kỹ năng, giáo dục, khả năng lao động) và vốn xã hội (cộng đồng, các mối quan hệ) [33] Như vậy, cần nhìn nhận rộng hơn về các mối quan hệ xã hội, kinh tế giúp tạo cơ hội hình thành nên hệ thống sinh kế Tại các quốc gia châu Phi như Mozambique, sự xáo trộn về sinh kế làm quá

Trang 16

6

trình “bần cùng hóa” một cách lâu dài, gây nên tình trạng chậm đổi mới tại nông thôn Paavola (2008) cho rằng muốn phát triển sinh kế và hạn chế tổn thương do biến đổi khí hậu thì cần nỗ lực quản lý các nguồn tài nguyên và tăng cường các ưu đãi cho thị trường nông nghiệp tại Tanzania [30] Trong một công trình nghiên cứu

về “Ảnh hưởng của những thay đổi về sử dụng đất, sinh kế nông dân - Một nghiên cứu trường hợp làng Madertala dưới Dumuria upazila ở quận Khulna” (2008), Gautam Mondal trên cơ sở phân tích mô hình sử dụng đất hiện tại và quá khứ của khu vực nghiên cứu cho thấy thông qua qua mô hình việc làm, thu nhập, tính mùa

vụ, bản sắc xã hội, những thay đổi trong sử dụng đất đã tác động trên mô hình sinh

kế của người dân phụ thuộc vào đất trực tiếp hoặc gián tiếp Một sự thay đổi đáng

kể đã xảy ra trong đất nông nghiệp trong khu vực nghiên cứu 46,26% tổng diện tích đất đã thay đổi từ sản xuất một loại nông nghiệp duy nhất sang hình thành các trang trại nông nghiệp tôm trong giai đoạn này đã có một kết quả ảnh hưởng đến sự thay đổi của mô hình sinh kế của người nông dân nhỏ trong lĩnh vực này Trước khi thay đổi sử dụng đất sinh kế của nông dân là vô cùng bất ổn do sự thay đổi thu nhập theo mùa do nông nghiệp mang tính mùa vụ, nhưng sau khi thay đổi sử dụng đất họ kiếm được nhiều tiền bất kỳ thời gian nào trong năm, sinh kế cũng từ đó mà bền vững

*Nghiên cứu lượng giá thiệt hại do thiên tai và biến đổi khí hậu

Lượng giá kinh tế là một nội dung trọng tâm của một số nghiên cứu trước đây và hiện nay, nhưng không có nhiều Ở quy mô toàn cầu, lượng giá được dựa trên một số chỉ số cơ bản, chẳng hạn chỉ số rủi ro khí hậu của Germanwatch cho hầu hết các nước trên thế giới được tính toán dựa trên sự sụt giảm GDP (tính theo sức mua tương đương PPP) và số lượng người tử vong do những hiện tượng khí hậu cực đoan như bão, mưa lớn và hạn hán; chỉ số dễ bị tổn thương do thiên tai (CCVI) được đánh giá dựa trên 42 yếu tố xã hội, kinh tế và môi trường để đánh giá rủi ro trên ba lĩnh vực chính của các quốc gia; chi phí cho sự căng thẳng gia tăng và tổn thất tiềm tàng từ thiên tai và biến đổi khí hậu Một đánh giá kinh tế thích ứng của Ngân hàng Thế giới năm 2010 cho rằng tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu đến ngành nông nghiệp có thể làm GDP toàn cầu năm 2050 giảm 0,7-2,4%; lợi ích

Trang 17

trong đó, phương pháp tiếp cận chuyển giao các lợi ích (benefits transfer approach)

được sử dụng để xác định giá trị kinh tế cho các hệ sinh thái được dự đoán sẽ thay đổi trong các khu bảo tồn [28]

Ngoài ra còn phải kể đến những công trình nghiên cứu tổng hợp về đánh giá

và lượng giá tác động của thiên tai đến các khía cạnh kinh tế xã hội: nghiên cứu đánh giá và lượng giá tác động đến hệ thống thoát nước ở Helsingborg, Thụy Điển (Annette và cộng sự, 2008); tác động đến nhiệt độ nước ngầm tầng nông (Taylor và Stefan, 2009); tác động phá hoại tiềm năng đối với đồông bằng sông Dương Tử (Gu

và cộng sự, 2011); chất lượng nước sông ở một hệ thống tích hợp nước thải đô thị ở Vương quốc Anh (Maryam và cộng sự, 2012) Một số nghiên cứu khác liên kết biến đổi khí hậu với an ninh lương thực và giảm thiểu nghèo đói ở vùng nhiệt đới (Sanchez, 2000); phân tích và dự báo đô thị hóa của nghèo đói (Ravallion, 2002); nghiên cứu sinh kế, tính dễ tổn thương và thích ứng với biến đổi khí hậu ở Morogoro-Tanzania [30], nghiên cứu đánh giá và lượng giá tác động của biến đổi khí hậu đến nghèo đói do thay đổi sản lượng cây trồng và thích ứng của cộng đồng nông thôn miền núi [30]

1.1.2 Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam

Nghiên cứu mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu và sinh kế tại Việt Nam nhằm

đề xuất giải pháp giảm bớt tính dễ bị tổn thương của sinh kế ven biển và xây dựng khả năng phục hồi do các tác động của khí hậu; đồng thời, xây dựng khả năng phục

Trang 18

8

hồi các hệ thống sinh thái và xã hội mà những sinh kế này phụ thuộc vào những tác động của biến đổi khí hậu và tăng cường năng lực cung cấp các dịch vụ có chất lượng của các hệ thống này Lưu Bich Ngọc và cộng sự (2012) đã chỉ ra sự khác biệt về tác động của biến đổi khí hậu đến biến đổi sử dụng đất và thay đổi sinh kế cộng đồng giữa lưu vực thượng nguồn và đồng bằng ở đồng bằng châu thổ sông Hồng [8] Gần đây, Nguyễn Thị Thanh Hương và cộng sự (2011) đã thực hiện một nghiên cứu dựa trên phân tích tác động kép của biến đổi khí hậu và đô thị hóa đối với rủi ro ngập lụt đô thị tại thành phố Cần Thơ Trong công trình, phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững và đánh giá có sự tham gia được sử dụng, lấy các cộng đồng nghèo làm trung tâm trong việc phản ánh tình hình biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của nó đối với sinh kế của người dân cũng như những giải pháp hiện có Đại diện chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể cũng được tham vấn trong quá trình thực hiện nghiên cứu

Nhìn chung, các nghiên cứu tác động của thiên tai đến sinh kế tại Việt Nam chú trọng nhiều tới tác động của thiên tai lên nền tảng tài sản sinh kế, bao gồm vốn

tự nhiên (suy thoái tài nguyên và môi trường đất, suy thoái nguồn nước, suy thoái các nguồn lợi tự nhiên, ), vốn xã hội (các hệ thống vốn xã hội dựa vào cộng đồng, biện pháp ứng phó với thiên tai của chính quyền địa phương và tổ chức quần chúng, tác động của thiên tai đối với hệ thống hỗ trợ hiện có, ), vốn vật chất (cơ sở hạ tầng hiện tại được thiết kế có hoặc không tính đến xu thế tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu, ), vốn tài chính (tác động của thiên tai gây thiệt hại tài sản sản xuất, giảm thu nhập, tạo căng thẳng trong lĩnh vực tài chính, ) và vốn con người (tác động của thiên tai làm thúc đẩy việc di cư, thay đổi cơ cấu lao động và cơ cấu thu nhập, )

1.1.3 Các công trình liên quan tới khu vực nghiên cứu

Việt Nam có chiều dài đường bờ biển trên 3.260 km, đứng thứ 27 trong số

156 quốc gia có biển trên thế giới Nằm trong dải ven biển Bắc Trung Bộ, lãnh thổ ven biển huyện Kỳ Anh thuộc tỉnh Hà Tĩnh vừa mang đặc điểm chung của đới ven biển Việt Nam, vừa có những đặc thù riêng về phát triển kinh tế cũng như chịu tác

Trang 19

Những công trình nghiên cứu về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của khu vực ven biển huyện Kỳ Anh không có nhiều, chủ yếu được khái quát trong các công trình nghiên cứu ở quy mô lớn, trong phạm vi đới bờ khu vực ven biển miền Trung Nhiều nghiên cứu được đặt tại các bộ ngành như Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam, Tổng cục Khí tượng - thủy văn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chẳng hạn, từ năm 1990 đến năm 2001, Trung tâm Địa chất - Khoáng sản biển đã hoàn thành đề án Lập bản đồ địa chất khoáng sản, địa chất môi trường biển nông ven bờ (0-30m nước) toàn Việt Nam tỷ lệ 1: 500.000 Các bản đồ được thành lập theo các đề tài thường có tỷ lệ từ 1:200.000 đến 1:500.000 Đây là nguồn tài liệu được nghiên cứu khá công phu, các số liệu, tài liệu có độ tin cậy cao

Trang 20

đó, do tính chất diễn biến phức tạp của điều kiện tự nhiên dẫn tới các thiên tai ở khu vực này có nguy cơ gia tăng trong những năm gần đây nên đã có nhiều đề tài lấy các khu vực trong phạm vi này để nghiên cứu chi tiết

Tuy những nghiên cứu cụ thể về điều kiện tự nhiên, tai biến thiên nhiên tại khu vực ven biển thuộc huyện Kỳ Anh không nhiều, nhưng số lượng báo cáo thuyết minh về quy hoạch và đầu tư của địa phương lại tương đối đầy đủ: Báo cáo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ đầu (2011-2015) huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Kỳ Anh giai đoạn 2000-2010, 2010-2020; Một số báo cáo thuyết minh riêng cho cảng Vũng Áng như: thuyết minh tổng hợp Dự án đầu tư liên hợp gang thép FORMOSA Hà Tĩnh; Dự án đầu tư nhà máy thủy điện Vũng Áng I; Thuyết minh quy hoạch chung xây dựng Khu Kinh tế Vũng Áng, chủ yếu đề cập đến nội dung kinh tế - kỹ thuật mà hầu như ít quan tâm đến khía cạnh tài nguyên và môi trường huyện Kỳ Anh Các báo cáo quy hoạch tổng thể và chuyên ngành của tỉnh Hà Tĩnh

là tài liệu hữu ích có thể khai thác thông tin về huyện Kỳ Anh như: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020 (UBND tỉnh Hà Tĩnh, 2010); Điều chỉnh quy hoạch, sử dụng đất đến năm 2010, kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2006-2010) (UBND tỉnh Hà Tĩnh, 2008); Quy hoạch các khu xử lý chất thải rắn cho các đô thị của tỉnh Hà Tĩnh đến 2015 và định hướng đến 2020 (Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Tĩnh, 2008); Quy hoạch phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2006-2015, tầm nhìn đến năm 2020 (UBND Hà Tĩnh, 2007); Báo cáo hiện trạng môi trường Hà Tĩnh năm 2010 (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Tĩnh, 6/2010); Báo cáo kết quả quan trắc và phân tích môi trường tỉnh Hà Tĩnh năm 2006, 2007, 2008, 2009, 2010 (Trung tâm quan trắc và kỹ thuật môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Tĩnh) [14]

Trang 21

11

1.2 Cơ sở lý luận nghiên cứu sinh kế/ khung sinh kế bền vững và lượng giá các tác động của thiên tai tới sinh kế

1.2.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu sinh kế và khung sinh kế bền vững

a) Các quan điểm về sinh kế

Sinh kế bền vững (sustainable livelihood) từ lâu đã là chủ đề được quan tâm

trong các tranh luận về phát triển, giảm nghèo và quản lý môi trường cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn Cách tiếp cận sinh kế bền vững đã làm thay đổi các cách tiếp cận đối với phát triển trong thời kỳ những năm 1980 và 1990 theo hướng tập trung vào phúc lợi của con người và tính bền vững hơn là mục tiêu tăng trưởng kinh tế

Ý tưởng sinh kế bền vững lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo Ủy ban Môi trường và Phát triển Brundtland (1987) như một cách để liên kết cân nhắc kinh

tế xã hội và sinh thái trong một gắn kết, chính sách có liên quan cấu trúc

Trong báo cáo Bruntland, Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (World

Commission on Environment and Development - WCED) (1987) cũng đưa ra khái

niệm về an ninh sinh kế bền vững xuất phát từ tư tưởng chung về phát triển bền vững Sinh kế được hiểu là có các nguồn dự trữ về lương thực và tiền bạc để đáp ứng các nhu cầu cơ bản An ninh được hiểu là được sở hữu hoặc được tiếp cận các nguồn lực và hoạt động tạo thu nhập để bù đắp rủi ro, làm giảm các đột biến cũng như ứng phó kịp thời với những bất thường xảy ra Bền vững đề cập đến khả năng duy trì hoặc tăng cường năng suất trong dài hạn Do đó, một hộ gia đình có thể đạt được an ninh sinh kế bền vững bằng nhiều cách: sở hữu đất đai, cây trồng và vật nuôi; có quyền được chăn thả, đánh bắt, săn bắn hoặc hái lượm; có công việc ổn định với mức thu thập đủ trang trải các nhu cầu của cuộc sống,… Theo WCED, sinh

kế bền vững là một khái niệm lồng ghép và được coi là phương tiện để đạt được 2 mục tiêu: công bằng và bền vững

Năm 1992, đặc biệt là trong bối cảnh Chương trình nghị sự 21, Hội nghị Quốc tế về Môi trường và Phát triển (UNCED) mở rộng khái niệm và ủng hộ cho việc đạt được sinh kế bền vững như một mục tiêu rộng rãi cho xóa đói giảm nghèo

Trang 22

12

Chỉ ra rằng sinh kế bền vững có thể phục vụ như là "một yếu tố tích hợp cho phép các chính sách để giải quyết Phát triển, quản lý tài nguyên bền vững và xóa đói giảm nghèo đồng thời”

Trong một bài báo kinh điển năm 1992, Robert Chambers và Gordon Conway đề xuất định nghĩa tổng hợp sau đây của một sinh kế nông thôn bền vững:

“Sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản (cửa hàng, nguồn lực, tuyên bố và truy cập) và các hoạt động cần thiết cho một phương tiện của cuộc sống Một sinh kế bền vững mà có thể đối phó và phục hồi từ sự căng thẳng và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường khả năng và tài sản, và cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp, và từ đó góp phần lợi ích ròng đối với sinh kế khác ở cấp địa phương và toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn” Sinh kế có thể được nghiên cứu ở

các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình, thôn, vùng… nhưng phổ biến nhất

là cấp hộ gia đình [27] Theo quan điểm của Chambers và Conway, sinh kế bền vững là một khái niệm lồng ghép của 3 yếu tố cơ bản là: khả năng, công bằng và bền vững Đây là khái niệm về sinh kế đầy đủ nhất và làm cơ sở, nền tảng cho các tác giả mở rộng, phát triển nghiên cứu về sinh kế sau này Dựa trên khái niệm về sinh kế bền vững của Chambers và Conway (1992), Scoones (1998) định nghĩa sinh

kế “bao gồm khả năng, nguồn lực (bao gồm các nguồn lực vật chất và nguồn lực xã

hội) và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người Một sinh kế được coi là bền vững khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng; duy trì và tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên”[37] Tuy nhiên, Chambers và

Conway mới chỉ đánh giá tính bền vững của sinh kế trên hai phương diện: bền vững

về môi trường (đề cập đến khả năng của sinh kế trong việc bảo tồn hoặc tăng cường các nguồn lực tự nhiên, đặc biệt cho các thế hệ tương lai) và bền vững về xã hội (đề cập đến khả năng của sinh kế trong việc giải quyết những căng thẳng và đột biến và duy trì nó trong dài hạn)

Ashley và Carney (1999) trong báo cáo “Sinh kế bền vững: Bài học kinh nghiệm” đã đưa ra nguồn gốc, nguyên tắc, định nghĩa cho sinh kế bền vững đồng thời ứng dụng vào thực tế thiết kế các dự án và chương trình mới giúp làm tăng hiệu

Trang 23

13

quả, giảm chi phí [24] Trong khuôn khổ bài nghiên cứu của mình, Ashley và Carney đưa ra một số phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững có thể và nên được sử dụng lặp đi lặp lại trong suốt các dự án

Năm 2001, DFID đã đưa ra khái niệm về sinh kế để hướng dẫn cho các hoạt

động hỗ trợ của mình, theo đó, sinh kế “bao gồm khả năng, nguồn lực cùng các

hoạt động cần thiết làm phương tiện sống cho con người” [29]

b) Sinh kế và sinh kế bền vững

Theo DFID (1999), sinh kế (livelihood) được quan niệm là “ các khả năng,

các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất, xã hội) và các hoạt động cần thiết

để kiếm sống” [29] Nhưng một câu hỏi quan trọng được đặt ra là thế nào là một

sinh kế bền vững khi khái niệm sinh kế đang ngày càng trở nên quan trọng trong các thảo luận và phân tích về phát triển? Việc định nghĩa thế nào là một sinh kế bền vững trong một bối cảnh cụ thể vẫn còn phải bàn luận [31], nhưng nhìn chung, một sinh kế được coi là bền vững khi nó có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng của các nguồn lực tự nhiên [26]

Thích ứng sinh kế, dễ bị tổn thương và khả năng phục hồi - Khả năng của một sinh kế để có thể đối phó với căng thẳng và hồi phục sau cú sốc là trung tâm của định nghĩa về bền vững sinh kế Khả năng phục hồi như vậy khi đối mặt với áp lực và những cú sốc là chìa khóa để cả hai thích ứng sinh kế và đối phó Những người không thể đối phó (điều chỉnh tạm thời khi đối mặt với thay đổi) hoặc thích ứng (sự thay đổi lâu dài trong chiến lược sinh kế) là chắc chắn dễ bị tổn thương và không để đạt được sinh kế bền vững

Như vậy ta có thể định nghĩa một cách đơn giản sinh kế của một cá nhân, một hộ gia đình, một cộng đồng được xem là bền vững khi [31]:

- Cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng đó có thể vượt qua những biến động trong cuộc sống do thiên tai, dịch bệnh, hoặc khủng hoảng kinh tế gây ra

- Phát triển hơn nguồn tài sản hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên

Trang 24

- Tính bền vững về xã hội của sinh kế đạt được khi sự phân biệt xã hội được giảm thiểu và công bằng xã hội được tối đa

- Tính bền vững về môi trường đề cập đến việc duy trì hoặc tăng cường năng suất của các nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng vì lợi ích của các thế hệ tương lai

- Một sinh kế có tính bền vững về thể chế khi các cấu trúc hoặc qui trình hiện hành có khả năng thực hiện chức năng của chúng một cách liên tục và ổn định theo thời gian để hỗ trợ cho việc thực hiện các hoạt động sinh kế

Các tiêu chí đánh giá tính bền vững của sinh kế

Các nghiên cứu của Scoones (1998) và DFID (2001) đã đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 4 phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế [37] [29]

- Bền vững về kinh tế: được đánh giá chủ yếu bằng chỉ tiêu gia tăng thu nhập, hướng tới việc đạt được sự tăng trưởng ổn định và cơ cấu kinh tế hợp lý, tránh được suy thoái và đình trệ, tránh để lại nợ nần lớn cho các thế hệ mai sau

- Bền vững về xã hội: được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu như: tạo thêm việc làm, giảm nghèo đói, đảm bảo an ninh lương thực, cải thiện phúc lợi Bền vững

về xã hội hướng tới mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm chế độ dinh dưỡng và chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng được nâng cao, mọi người đều có cơ hội được học hành và có việc làm, giảm đói nghèo và khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp và nhóm xã hội,…

- Bền vững về môi trường: được đánh giá thông qua việc sử dụng bền vững hơn các nguồn lực tự nhiên (đất, nước, rừng, tài nguyên thủy sản…), không gây hủy

Trang 25

c) Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihood Framework - SLF)

Năm 2001, DFID đưa ra khung sinh kế bền vững để phân tích các yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế của người dân, và mối quan hệ điển hình giữa các yếu

tố này [29] Về cơ bản, khung sinh kế bền vững phân tích sự tác động qua lại của 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế hộ gia đình là: (i) nguồn vốn sinh kế; (ii) chiến lược sinh kế, (iii) kết quả sinh kế, (iv) các qui trình về thể chế và chính sách và (v) bối cảnh bên ngoài

Hình 1.1 Khung sinh kế bền vững của DFID (2001) [29]

Theo khung này, các hộ gia đình đều có phương thức kiếm sống (chiến lược sinh kế) dựa vào những nguồn lực sinh kế sẵn có (5 loại nguồn lực) trong một bối cảnh chính sách và thể chế nhất định ở địa phương Những nhân tố này cũng chịu

Trang 26

16

ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như bão lụt và các tác động mang tính thời vụ

Sự lựa chọn về chiến lược sinh kế của các hộ gia đình dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quả của sự tương tác giữa các nhóm yếu tố này

Trong mô hình này, năm “nguồn vốn” hay “tài sản” – tự nhiên, vật chất, con người, xã hội và tài chính – được thể hiện như là cơ sở cốt lõi cho các hoạt động sinh kế ở cấp độ cá nhân, hộ gia đình hoặc nhóm đối tượng, tuy nhiên chúng lại bị ảnh hưởng bởi một chuỗi các yếu tố liên kết với nhau bao gồm ‘hoàn cảnh dễ bị tổn thương’: các vấn đề xu hướng liên quan đến tự nhiên và môi trường, thị trường, sự

ổn định chính trị,… Năm nguồn vốn cũng bị ảnh hưởng và có thể lần lượt tác động lên các chính sách, các thể chế và các quy trình Để có thể tối đa các đầu ra sinh kế cho nhóm người nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất, cần xem đến không chỉ việc tiếp cận mà cả quyền đối với các tài sản khác nhau Tiếp cận và sở hữu các tài sản thường khác nhau cả trong các hộ gia đình và cộng đồng hay giữa các hộ gia đình

và cộng đồng, do đó, phụ thuộc vào phạm vi và mức độ của bất kỳ phân tích nào, sự không đồng nhất về giới, tuổi và các thông số khác cần được xem xét để có thể hiểu một các đầy đủ các động lực về sinh kế trong bất kỳ hoàn cảnh nào

Ví dụ, một hộ ngư dân kiếm sống bằng nghề đánh bắt thì cần sử dụng các nguồn lực sinh kế như: (i) nguồn lực tự nhiên (tài nguyên thủy hải sản); (ii) nguồn lực vật chất (tàu, thuyền đánh cá, ngư cụ, bến tàu); (iii) nguồn lực con người (lực lượng lao động, sức khỏe, tri thức và kinh nghiệm về khai thác cá), (iv) nguồn lực

xã hội (thị trường bán sản phẩm) và (v) nguồn lực tài chính (tiền vay từ ngân hàng,

bà con, bạn bè,…)

Trang 27

Vốn tự nhiên Đất đai, nước, rừng, không khí trong lành, tài nguyên ven

biển…

Vốn vật chất

Cơ sở hạ tầng cơ bản như đường sá, hệ thống nước sinh hoạt, điều kiện vệ sinh, trường học, trạm xá, hàng hóa sản xuất bao gồm công cụ, trang thiết bị

Vốn tài chính

Tiền tiết kiệm, thu nhập từ làm việc, buôn bán và tiền gửi ngân hàng hoặc các tài sản lưu động như chăn nuôi hoặc đồ trang sức…

(Nguồn: DFID, 2001) [29]

* Chiến lược sinh kế

Chiến lược sinh kế là cách mà hộ gia đình sử dụng các nguồn lực sinh kế sẵn

có để kiếm sống và đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống Các nhóm dân cư khác nhau trong cộng đồng có những đặc điểm kinh tế - xã hội và các nguồn lực sinh kế khác nhau nên có những lựa chọn về chiến lược sinh kế không giống nhau Các chiến lược sinh kế có thể thực hiện là: sản xuất nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất công nghiệp qui mô nhỏ, buôn bán, du lịch, di dân…

Trang 28

18

nhiên Các kết quả sinh kế này phản ánh tính bền vững của sinh kế trên 3 phương diện: kinh tế - xã hội - môi trường

* Bối cảnh bên ngoài

Bối cảnh bên ngoài, hiểu một cách đơn giản, là môi trường bên ngoài mà con người sinh sống Sinh kế của người dân và nguồn lực sinh kế của họ bị ảnh hưởng rất nhiều bởi 3 yếu tố thuộc bối cảnh bên ngoài là: các xu hướng, các cú sốc và tính mùa vụ

Bảng 1.2: Bối cảnh bên ngoài trong khung sinh kế bền vững

Xu hướng

• Xu hướng Dân số

• Xu hướng tài nguyên

(Bao gồm cả cuộc xung đột)

• Quốc gia / quốc tế

• Trong cơ hội việc làm

(Nguồn: Bảng hướng dẫn sinh kế bền vững, 1999) [3127]

* Thể chế và chính sách

Các thể chế (cơ quan/tổ chức ở khu vực công và khu vực tư nhân) và luật pháp, chính sách đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công của các sinh kế Các thể chế và chính sách được xây dựng và hoạt động ở tất cả các cấp, từ cấp hộ gia đình đến các cấp cao hơn như cấp vùng, quốc gia và quốc tế Các thể chế và chính sách này quyết định khả năng tiếp cận các nguồn lực sinh kế và việc thực hiện các chiến lược sinh kế của các cá nhân, hộ gia đình và các nhóm đối tượng khác nhau

Trang 29

19

Trong 5 yếu tố cấu thành khung sinh kế bền vững, 5 nguồn lực sinh kế đóng vai trò cốt lõi đối với các hoạt động sinh kế ở cấp cá nhân, hộ gia đình hoặc một nhóm đối tượng vì nó quyết định các chiến lược sinh kế nào được thực hiện để đạt được các kết quả sinh kế mong muốn Tuy nhiên, các nguồn lực sinh kế này cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc bối cảnh bên ngoài và thể chế - chính sách ở địa phương Do đó, sự tương tác giữa các nhóm yếu tố này, kết hợp với nhu cầu về sinh

kế, sẽ quyết định các chiến lược sinh kế của các cá nhân, hộ gia đình và các nhóm đối tượng khác nhau

1.2.2 Cơ sở lý luận về thiên tai và đánh giá thiên tai

Thiên tai đã và đang đặt ra vấn đề thách thức đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới Trong quá trình sinh tồn của mình, loài người đã phải nỗ lực ứng phó với sự hoành hành của thiên tai, tuy nhiên hậu quả mà nó gây ra vẫn vô cùng tàn khốc Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang là mối đe dọa hiện hữu và to lớn mà nhân loại sẽ phải đương đầu trong thế kỷ XXI, thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác đang gia tăng ở hầu hết các nơi trên thế giới [15] Hậu quả của thiên tai, biến đổi khí hậu không ai khác cũng chính con người phải hứng chịu với mức độ ngày càng lớn, có nơi, có lúc đã trở thành thảm họa cho cả một quốc gia, khu vực

Theo Luật phòng chống thiên tai thì thiên tai là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm: bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác Đối với tất cả các thiên tai, tình trạng dễ bị tổn thương sẽ tăng lên do thiếu thông tin và nhận thức về những rủi ro do thiên tai gây ra, do thiếu hệ thống cảnh báo và hệ thống thông tin liên lạc, do thiếu các quy trình ứng phó khẩn cấp và các biện pháp hỗ trợ phục hồi và tái thiết cho cộng đồng Thiên tai gây nên sự gián đoạn các hoạt động kinh tế, xã hội gây tổn thất về người, tài sản, môi trường và điều kiện sống do các hiểm họa tự nhiên gây ra Việc phân biệt khái niệm về hiểm họa (thường đề cập đến một hiện tượng vật lý) và khái niệm

Trang 30

20

về thiên tai là rất quan trọng Một hiểm họa khi xảy ra không nhất thiết sẽ dẫn tới một thiên tai Tuy nhiên, nếu hiểm họa gây nên những ảnh hưởng nghiêm trọng tới cộng đồng và có phạm vi ảnh hưởng rộng, dẫn tới các thiệt hại lớn và gây gián đoạn cuộc sống bình thường của cộng đồng thì lúc đó thiên tai sẽ xảy ra Các tác động của thiên tai có thể bao gồm thiệt hại về người, gây thương tích, dịch bệnh và các tác động xấu tới sức khỏe con người, tinh thần và phúc lợi xã hội, cùng với thiệt hại

về của cải vật chất, hủy hoại tài sản, đình trệ các dịch vụ, gián đoạn các hoạt động kinh tế xã hội và suy thoái môi trường Chính bởi những ảnh hưởng nặng nề nói trên, vấn đề về thiên tai luôn là đề tài để các nhà khoa học trong nước và nước ngoài quan tâm nghiên cứu [36] [38]

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến hết sức phức tạp, thiên tai gây nhiều hậu quả nặng nề, thiệt hại lớn về người và của làm ảnh hưởng đến nhiều thành quả phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Thiên tai đã tác động đến toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội và để lại hậu quả rất nặng nề trong đời sống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Theo thống kê, của Việt Nam, bình quân mỗi năm thiên tai làm chết và mất tích khoảng trên 700 người, thiệt hại kinh tế

từ 1,0 – 1,5 % GDP [10] Tác động của thiên tai không chỉ gây thiệt hại về người và của mà còn để lại hậu quả hết sức nặng nề, lâu dài đối với môi trường sống của con người Trong khi đó, khả năng ứng phó với thiên tai của các cộng đồng, đặc biệt là cộng đồng các dân tộc thiểu số bản địa còn rất hạn chế Vì vậy, để góp phần phòng, tránh, giảm nhẹ thiên tai, các nhà khoa học, tổ chức trong và ngoài nước đã tập trung nghiên cứu đánh giá thiên tai và giải pháp nâng cao năng lực phòng tránh thiên tai cho cộng đồng [23] Các phương pháp dùng để đánh giá thiên tai có thể kể đến bao gồm:

- Thu thập và nghiên cứu tài liệu sẵn có: Các tài liệu nghiên cứu có thể là các báo cáo về thiên tai và phòng chống thiên tai tại địa phương, các báo cáo về thiệt hại và những rủi ro do thiên tai gây ra Từ các tài liệu này có thể tổng hợp được các tác động của thiên tai đến địa phương dựa trên các số liệu báo cáo, thống

Trang 31

21

- Bảng hỏi, phiếu điều tra: Bảng hỏi và phiếu điều tra được thiết kế theo mục tiêu nghiên cứu và được đưa đến các đối tượng nghiên cứu tại địa phương Bảng hỏi và phiếu điều tra cần được thiết kế đơn giản dễ hiểu, các câu hỏi không bị trùng lặp nội dung, đầy đủ các yếu tố để có thể đưa ra kết luận tổng hợp

- Phỏng vấn sâu: Các câu hỏi phỏng vấn được đưa ra cho các đối tượng chọn lọc dựa trên các tiêu chí riêng để tìm hiểu sâu hơn tác động của thiên tai tới từng thành phần dân cư hay nghề nghiệp để có thể có cái nhìn nhiều chiều xác thực hơn, không chỉ dựa trên số liệu báo cáo thống kê, nhất là về sự hỗ trợ của địa phương sau thiên tai

Dựa vào các phương pháp nói trên, các bước thực hiện đánh giá thiên tai sẽ bao gồm lần lượt là chuẩn bị đánh giá, thực hiên đánh giá dựa trên tài liệu, tổng hợp đánh giá, kiểm chứng qua người dân bao gồm bảng hỏi, phiếu điều tra, phỏng vấn

và cuối cùng là xây dựng báo cáo đánh giá Trong báo cáo đánh giá sẽ có phân tích thiên tai dựa trên mối tương quan với vị trí địa lý, địa hình, dân cư, tài nguyên cùng với phân tích mạng lưới xã hội và từ đó đưa ra các giải pháp để phòng tránh và giảm nhẹ rủi ro thiên tai [1]

1.2.3 Cơ sở lý luận lượng giá tác động của thiên tai do bão lũ tới sinh kế cư dân vùng ven biển

Các phương pháp lượng giá các giá trị kinh tế khá đa dạng và ngày càng được hoàn thiện Mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm và qui trình áp dụng riêng Để tăng thêm độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu, việc lưu trữ và cập nhật thường xuyên các dữ liệu nền là rất cần thiết, ngoài ra, cũng cần có những điều chỉnh về mức giá sử dụng khi lựa chọn phân tích trên quan điểm cá nhân hay xã hội khi nhìn nhận giá trị của hệ sinh thái Việc lượng giá giá trị hệ sinh thái là một công việc phức tạp đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành và nhiều lĩnh vực, đặc biệt cần tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới và vai trò quan trọng của các nhà kinh tế môi trường để có phương án tính toán tối ưu nhất có thể vận dụng trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam

Trang 32

22

a) Phân nhóm các phương pháp lượng giá tổn thất môi trường

Lượng giá giá trị môi trường và lượng giá tổn thất do ô nhiễm, suy thoái môi trường về cơ bản đều sử dụng chung những kỹ thuật lượng giá, gọi chung là các phương pháp lượng giá môi trường Khác biệt về giá trị môi trường trước và sau sự

cố được xem như là tổ môi trường do sự cố đó gây ra Có rất nhiều phương pháp lượng giá môi trường đã được nghiên cứu và sử dụng Tuy nhiên, cách phân loại được cho là đơn giản và được sử dụng phổ biến hiện nay là cách phân loại của Ngân hàng Thế giới

Hình 1.2 Sơ đồ phân loại phương pháp lượng giá (Ngân hàng Thế giới, 2002) [39]

b) Một số phương pháp lượng giá tiêu biểu và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cho đến nay, các quốc gia trên thế giới đã áp dụng rất nhiều các kỹ thuật khác nhau nhằm xác định mức độ thiệt hại kinh tế của môi trường khi xảy ra sự cố, tuy nhiên, việc lựa chọn các kỹ thuật, qui trình tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể của mỗi nước và từng trường hợp; đồng thời chịu sự chi phối mạnh mẽ của các yếu

tố khác như cơ sở dữ liệu nền, sự hiểu biết về các loại hình thiên tai và thời gian yêu cầu khảo sát Một số phương pháp lượng giá được sử dụng chủ yếu trên thế giới hiện nay và liên hệ với những khả năng áp dụng tại Việt Nam như sau:

Trang 33

23

1) Phương pháp giá thị trường (Market Price Method)

Phương pháp giá thị trường là phương pháp xác định giá trị của HST thông qua các sản phẩm, dịch vụ của HST được trao đổi, mua bán trên thị trường Tổn thất

do sự cố môi trường có thể được xác định bằng sự thay đổi về số lượng và chất lượng của hàng hoá, dịch vụ với tư cách là hệ quả của sự cố Để áp dụng phương pháp này, cần xác định thặng dư sản xuất và thặng dư tiêu dùng của hàng hóa, dịch

vụ trước và sau sự cố Thặng dư sản xuất được ước lượng thông qua chi phí sản xuất và doanh thu nhận được từ hàng hoá đáp ứng lượng cầu trên thị trường

Đây là phương pháp đơn giản, trực quan và dễ hiểu Việc thu thập dữ liệu về giá thị trường, lượng mua, bán tương đối đơn giản và mức chi phí không lớn Để lượng giá tác động do sự cố ví dụ như sự cố tràn dầu ở vùng ven biển Việt Nam, phương pháp này có nhiều thuận lợi do công tác thu thập số liệu thống kê, nghiên cứu khảo sát khá đa dạng và chi tiết đã được thực hiện bởi Tổng cục Thống kê và nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

Tuy nhiên, phương pháp này có một số hạn chế như: rất khó khăn trong việc khu biệt được những tác động từ sự cố với những nhân tố tác động khác nhằm tránh việc tính trùng, tính thiếu giá trị tổn thất; không đo đạc được những tổn thất không được phản ánh trực tiếp trên thị trường, đó là các giá trị không sử dụng Do đó, phương pháp giá thị trường cần được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác để

có thể lượng giá được tổng các giá trị tổn thất

2) Phương pháp chi phí du hành (Travel Cost Method - TCM)

Phương pháp chi phí du lịch sử dụng các chi phí của khách du lịch làm cơ sở

để tính giá trị của điểm tham quan Bằng cách thu thập số lượng các số liệu chi phí

du lịch và một số yếu tố khác có liên quan (thu nhập, số lần đến thăm…), từ đó có thể ước lượng được tổng lượng tiền mà các khách du lịch sẵn lòng trả cho những cảnh quan môi trường cụ thể Phương pháp này thường được áp dụng đối với các khu du lịch, khu di tích có lượng khách lớn đến từ nhiều vùng khác nhau Phương pháp lượng giá theo chi phí du lịch có ba cách tiếp cận cơ bản là: chi phí du lịch

Trang 34

24

theo vùng (ZTCM), chi phí du lịch theo cá nhân (ITCM), và tiếp cận theo lợi ích ngẫu nhiên (Random Utility Approach) Cần lưu ý rằng hai cách tiếp cận đầu là phổ biến và đơn giản hơn, trong khi cách thứ ba phức tạp và tốn kém hơn và cũng là cách tiếp cận tốt nhất để đánh giá lợi ích của những địa điểm đặc trưng

Đây là phương pháp dễ được chấp nhận về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn Phương pháp này dựa trên mô hình kinh tế truyền thống, đó là mối liên hệ thực tiễn giữa chất lượng hàng hoá môi trường và chi phí bỏ ra để hưởng thụ giá trị hàng hoá Phương pháp này dựa trên hành vi thực tế nên dễ hiểu và dễ thực hiện Nước ta hiện nay có nhiều địa điểm du lịch có giá trị cao, cảnh quan đẹp Vì thế, việc lựa chọn phương pháp chi phí du lịch theo vùng có tính khả thi cao

Tuy nhiên, hạn chế lớn của phương pháp này là chỉ sử dụng ở những nơi có nhiều khách du lịch Vì thế, những nơi không có hoặc có ít khách du lịch thì không

áp dụng được Hơn nữa, ngay tại địa điểm du lịch nổi tiếng, thay vì thường xuyên đến tham quan thì một số người mua luôn nhà gần vị trí đó để ở Nhiều trường hợp, đối tượng không phải bỏ chi phí (dân bản địa) nhưng lại đánh giá rất cao chất lượng môi trường ở đó Như vậy, không thể định giá môi trường bằng duy nhất một phương pháp chi phí du lịch mà phải kết hợp sử dụng với các phương pháp khác

3) Phương pháp thay đổi năng suất (Productivity Change Method)

Phương pháp thay đổi năng suất chú trọng vào các tài nguyên thiên nhiên với tư cách là đầu vào của quá trình sản xuất hàng hoá và dịch vụ Khi đầu vào giảm thì sẽ dẫn đến giảm dịch vụ cung cấp cho sản xuất, kết quả làm giảm lợi ích của người sản xuất tính theo giá thị trường Tổng suy giảm lợi ích này là thiệt hại do

sự cố môi trường đem lại Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực lượng giá môi trường; ví dụ như đánh giá tổn thất do: xói mòn đất, ô nhiễm không khí, mưa axit, ô nhiễm đối môi trường nuôi trồng thủy hải sản, đất nhiễm mặn…

Việc sử dụng các phương pháp này đòi hỏi phải có cơ sở dữ liệu về sản lượng, năng suất cây trồng, vật nuôi, khai thác thủy, hải sản tại khu vực nghiên cứu ngay trước và sau khi có sự cố môi trường xảy ra Đối với những địa phương có

Trang 35

4) Phương pháp tiếp cận chi phí sức khoẻ (Cost of Illness)

Phương pháp chi phí sức khoẻ được sử dụng để tính toán chi phí chữa các bệnh tật gây ra bởi ô nhiễm môi trường Chi phí này được coi như giá trị thiệt hại mà sự cố tràn dầu đã gây ra đối với nguồn lực con người Trong phương pháp chi phí sức khoẻ, thiệt hại được xác định dựa trên mối quan hệ giữa mức độ ô nhiễm với mức độ tác động lên sức khoẻ Nghiên cứu dựa trên tỷ lệ mắc bệnh thường xuyên để đo lường tác động của những sự cố bất thường

Bằng cách đo lường sự biến động trong số người mắc bệnh giữa các kỳ và

so với thời kỳ có sự cố, thì tác động của sự cố có thể xác định được Việc lượng giá cũng nghiên cứu phạm vi tác động của bệnh tật liên quan đến tổng chi phí bao gồm

cả dịch vụ y tế; chi phí phòng ngừa, điều trị và hồi phục Các chi phí trực tiếp là giá trị của nguồn lực thay vì tạo ra các hàng hóa, dịch vụ khác thì nó được dùng

để chi trả cho các dịch vụ y tế, đó là chi phí cho thuốc thang, điều trị nội trú và ngoại trú, chi phí đi lại từ nhà đến trung tâm y tế và thời gian chờ đợi Các chi phí gián tiếp là khả năng làm việc của con người bị suy giảm, thu nhập của người bệnh

bị mất, tổn thất gián đoạn trong khoảng thời gian thay lao động

Nhìn chung phương pháp chi phí sức khỏe dễ áp dụng để lượng giá các tác động môi trường khi các bệnh thường là ngắn, tách biệt, và không có ảnh hưởng tiêu cực trong dài hạn Tuy nhiên, phương pháp này khó xử lý đối với các bệnh

Trang 36

26

kinh niên khi giai đoạn bệnh kéo dài Các nghiên cứu về chi phí sức khỏe thường dựa trên các giá trị ước lượng, do đó có thể không chắc chắn và tồn tại nhiều giả thiết trong việc xác định chi phí bệnh tật Để áp dụng phương pháp này một cách hiệu quả, cần lựa chọn các dự án, chương trình phù hợp theo một nguyên nhân - kết quả tác động và nguyên nhân gây bệnh phải dễ dàng xác định

Tại các vùng nông thôn, ven biển Việt Nam, nơi kinh tế - xã hội còn phát triển chưa mạnh, các bệnh có thời gian ngắn và không nguy hiểm thường ít được quan tâm, người dân thường có xu hướng để bệnh tự khỏi, hoặc sử dụng một số phương pháp chữa bệnh dân gian, như vậy rất khó để xác định chi phí chữa bệnh

Do vậy, việc áp dụng phương pháp chi phí sức khỏe tại Việt Nam có thể gặp phải nhiều hạn chế, khó đem lại kết quả chính xác

5) Phương pháp chi phí thay thế (Replacement Cost Method)

Phương pháp chi phí thay thế là phương pháp ước lượng giá trị dịch vụ của HST thông qua việc xác định các chi phí để tạo ra hàng hoá và dịch vụ có tính năng tương tự Ví dụ, chức năng ổn định bờ biển nhờ rừng đước được lượng giá bằng một con đê được xây dựng nhằm chắn gió và ổn định đường bờ biển Tuy nhiên, HST này có nhiều chức năng vì vậy tổng giá trị của rừng được được lượng giá bằng tổng các dịch vụ sinh thái môi trường mà rừng đước này tạo ra

Phương pháp chi phí thay thế giả thiết rằng các chi phí để thay thế các tài sản môi trường đã mất đi bằng với giá trị của hàng hoá và dịch vụ nhận được từ tài sản môi trường đó Một cách cơ bản, giả thiết rằng một lượng tiền mà xã hội phải chi trả để thay thế cho những tài sản môi trường là tương đương với những lợi ích những tài sản đó đem lại bị mất đi

Phương pháp này đặc biệt hữu ích cho việc lượng giá các dịch vụ của HST Nó có những ưu điểm nhất định là khá đơn giản trong ứng dụng và phân tích do không yêu cầu phải sử dụng điều tra cụ thể hay phân tích phức tạp, và nó có thể dùng để định giá các lợi ích sử dụng gián tiếp khi không có số liệu về sinh thái để đánh giá các chức năng gây hại Tuy vậy, nhược điểm chính của phương

Trang 37

27

pháp này là rất khó tìm mức độ khác nhau luôn luôn phức tạp vì có thể đòi hỏi các

dữ liệu cụ thể và xây dựng mô hình Hầu hết các trường hợp ước lượng những thiệt hại tránh được vẫn còn mang tính giả thuyết Tại Việt Nam, những biến động

về sinh thái, môi trường giai đoạn qua có thể cung cấp một cái nhìn khá thiết thực

về chức năng bảo vệ của HST trước tổn hại do tác động của thiên nhiên như bão, lũ lụt

6) Phương pháp phân tích nơi cư trú tương đương (Habitat Equivalency Analysis)

Phân tích nơi cư trú tương đương (HEA) là một phương pháp được phát triển bởi Cơ quan khí quyển và hải dương học quốc gia Mỹ (NOAA) để tính toán mức đền bù cho những thiệt hại ở nơi cư trú do tràn dầu hoặc do các tác động liên quan đến các chất gây ô nhiễm khác HEA dựa trên kỹ thuật chính là tiến hành khôi phục lại các sản phẩm, dịch vụ của HST đã mất Khi đó, giá trị của HST đã mất được tính là tương đương với các chi phí để phục hồi lại HST đó Phương pháp này đòi hỏi các dự án khôi phục đền bù đều phải mang lại các dịch vụ thay thế sao cho tổng giá trị kinh tế ít nhất cũng bằng tổng giá trị kinh tế của các dịch

vụ bị mất đi Việc khôi phục các nơi cư trú bao gồm thay thế các khu vực đã bị mất mát về mặt vật lý (diện tích) hay nơi cư trú bị gây tổn hại bằng những dịch

vụ sinh thái bị mất đi trước đó (ví dụ về chức năng, giá trị sinh thái…)

Đây là một phương pháp tổng hợp, có mức tin cậy cao và có thể áp dụng với những HST khác nhau (Roach, 2006) Tuy nhiên, phương pháp này phụ thuộc rất nhiều vào sự hiểu biết đầy đủ về các giá trị của khu vực bị thiệt hại và khu vực được khôi phục Thêm vào đó, thời gian khôi phục những dịch vụ môi trường

đã mất đi cần khoảng thời gian dài (khoảng 15 năm), với công sức và chi phí lớn, xác xuất cho việc khôi phục thành công hệ san hô và cỏ biển cũng không cao Trên thực tế, rất khó để thay thế các dịch vụ đã mất hoặc tạo ra được một sự số

dự án khôi phục san hô và cỏ biển trên quy mô nhỏ Như vậy, về nguyên tắc phương pháp HEA có thể áp dụng tại Việt Nam để lượng giá tổn thất giá trị sử dụng gián tiếp của các HST như san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn Tuy nhiên, để có thể tính được giá trị HST trên bình diện rộng thì các số liệu này chưa đảm bảo tính chính xác

Trang 38

28

7) Phương pháp giá theo hưởng thụ (Hedonic Pricing Method)

Phương pháp giá theo hưởng thụ được sử dụng để đo lường giá trị kinh tế của dịch vụ sinh thái hoặc môi trường Thông qua sự biến đổi trong giá cả thị trường của các hàng hóa, dịch vụ có liên quan mật thiết tới dịch vụ sinh thái và môi trường sau khi xảy ra sự cố, có thể bóc tách để tính được giá của dịch vụ sinh thái, môi trường đã bị tổn hại Ví dụ sau khi có sự cố tràn dầu, môi trường cảnh quan của khu vực có thể bị ảnh hưởng và làm cho giá nhà đất thay đổi (thường

là giảm giá) do người dân không còn ưa thích sống trong khu vực ô nhiễm Có thể đo lường sự thay đổi này để lượng giá tổn thất do ảnh hưởng của tràn dầu đến môi trường

Để quá trình phân tích chính xác thì đòi hỏi một khối lượng số liệu khá lớn, bao trùm các nhân tố chi phối giá trị và các đặc trưng của những thuộc tính liên quan trong một thời kỳ dưới dạng dữ liệu hàm giá trị Điểm mạnh chính của phương pháp này là có thể đo lường giá trị dựa vào các lựa chọn thực tế (Perman, 2003) Việc tìm kiếm thông tin về thị trường bất động sản là khả thi và hiệu quả vì những thông tin này biểu thị sát thực về giá trị

Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp này có nhiều hạn chế Những dữ liệu

sử dụng thông tin trên vừa đa dạng vừa phải đảm bảo tính liên tục chuỗi thời gian,

do đó thường khó thu thập Dữ liệu có thể thu thập bằng cách khảo sát hoặc điều tra cho nên khá tốn kém Trong giá hàng hóa thường bao gồm nhiều yếu tố khác nhau, mà môi trường chỉ là một trong số đó Trong trường hợp nếu sử dụng giá nhà, giá đất thì biến động của thị trường bất động sản cũng như việc bóc tách có rất nhiều phức tạp Tại Việt Nam, nhiều vùng ven biển không có hoạt động ảnh hưởng đến môi trường là khó xác định Cho đến nay, các sự cố có tác động lớn như vậy tại Việt Nam còn khá hiếm, vì vậy việc áp dụng phương pháp này trên thực tế sẽ gặp nhiều khó khăn

Trang 39

29

8) Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contigent Valuation Method - CVM)

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) được sử dụng để đánh giá hàng hoá, chất lượng môi trường bằng cách xây dựng một thị trường ảo thông qua sự sẵn lòng chi trả của người dân (WTP) hoặc sự sẵn lòng chấp nhận (WTA) đặt ra trong một tình huống giả định CVM được áp dụng cho rất nhiều yếu tố môi trường như chất lượng không khí, giá trị cảnh quan, giá trị giải trí của bãi biển, bảo tồn các loài động vật hoang dã… Chất lượng một nghiên cứu CVM phụ thuộc vào chất lượng của cả quá trình tiến hành Sau khi thu thập xong tất cả thông tin cần thiết bằng bảng hỏi, trung bình và trung vị của WTP/WTA cùng với hệ số ảnh hưởng đến mức giá được xác định, từ đó có thể tính được tổng giá trị kinh tế của khu vực

Đây là phương pháp có ưu điểm nổi trội so với các phương pháp đo lường trực tiếp khác CVM đánh giá được cả những giá trị tồn tại (existence value) và giá trị lựa chọn (option value) mà không đòi hỏi phải chia vùng hay phân nhóm phức tạp như một số phương pháp khác (Mogas, 2006) Các câu trả lời đối với phương pháp CVM trực tiếp đo lường các giá trị bằng tiền Vì vậy, các giá trị này khá chính xác về mặt lý thuyết

Tuy nhiên, phương pháp này có một số hạn chế cơ bản Thứ nhất, người trả lời được đặt vào một tình huống giả định Trong tình trạng vội vàng hoặc hiểu vấn

đề sai lệch thì kết quả trả lời không sát với hành vi tương ứng của họ Thứ hai, những người phỏng vấn có thể diễn đạt tình huống khác nhau, cách tiếp cận đối với người trả lời khác nhau đều có thể gây ra sai số đáng kể Những khác biệt này có ảnh hưởng không nhỏ tới giá trình trung bình được tổng hợp sau này

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên là một trong những phương pháp phù hợp, từng được lượng giá đem lại các kết quả có độ chính xác cao, cần tiến hành khảo sát với qui mô đủ lớn, thu thập tương đối toàn diện các thông tin về kinh

tế, tài nguyên, xã hội và giá trị bảo tồn của khu vực chịu tác động Bên cạnh đó, chất lượng bảng hỏi và kỹ năng điều tra, phỏng vấn cần được đặc biệt chú trọng

để có thể có thể thu được kết quả tốt

Trang 40

30

9) Phương pháp mô hình chọn lựa (Choice Modelling Method)

Phương pháp mô hình chọn lựa (CM) là một phương pháp lượng giá căn

cứ vào sự ưa thích được thể hiện (stated preference) Phương pháp này bắt nguồn

từ phân tích kết hợp, người được hỏi sẽ đứng trước nhiều tập hợp lựa chọn Từ mỗi tập hợp lựa chọn, người được hỏi sẽ chọn ra phương án mà họ ưa thích Bằng cách đặt cho mỗi thuộc tính một mức giá hoặc mức chi phí thì các ước lượng về lợi ích biên sẽ được chuyển thành các ước lượng về tiền tệ đối với mỗi sự thay đổi các mức độ của thuộc tính (Mogas 2006) Khi đó, xác suất mà cá nhân i thích phương

án j trong tập hợp phương án hơn so với các n phương án khác được hiểu là xác suất của lợi ích có được từ phương án j lớn hơn xác suất của lợi ích từ các phương

án khác

Phương pháp này cho phép chúng ta lựa chọn nhiều phương án thông qua các thuộc tính và kịch bản có thể lặp lại (thay vì phải có sự đánh đổi như trong CVM), cho phép chúng ta kiểm định theo khung logic do vậy những người trả lời

sẽ bộc lộ một cách khá chính xác sở thích của họ Phương pháp này đi vào những vấn đề cụ thể thay vì những vấn đề có tính trừu tượng có trong phương pháp CVM, cung cấp nhiều thông tin và tăng tính thực tế, tạo ra sức hấp dẫn đối với người trả lời

Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp này dễ rơi vào tình trạng người trả lời

sẽ dựa vào kinh nghiệm chứ không phân tích lôgic Để tránh nhược điểm này, việc thiết kế các phương án để đưa vào mô hình lựa chọn đòi hỏi những người có chuyên môn cao và nhiều kinh nghiệm thực tiễn Tại Việt Nam, phương pháp Mô hình chọn lựa có thể được áp dụng kết hợp trong việc xây dựng bảng hỏi để đem lại kết quả có

độ chính xác cao

10) Phương pháp chuyển giao lợi ích (Benefits Transfer)

Phương pháp chuyển giao lợi ích là phương pháp được dùng để ước tính các giá trị kinh tế cho những dịch vụ của HST bằng cách áp dụng kết quả nghiên cứu đã hoàn thành ở một vị trí khác hay hoàn cảnh khác (có thể là từ nơi nghiên cứu sang

Ngày đăng: 25/10/2015, 23:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014), Tài liệu hướng dẫn đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai
Năm: 2014
2) Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Triển khai thực hiện Nghị quyết số 60/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2008
3) Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam và UNDP (2010), Xây dựng khả năng phục hồi: các chiến lược thích ứng cho sinh kế ven biển chịu nhiều rủi ro nhất do tác động của biến đổi khí hậu ở miền Trung Việt Nam, Báo cáo nghiên cứu của Dự án Đói nghèo và Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng khả năng phục hồi: các chiến lược thích ứng cho sinh kế ven biển chịu nhiều rủi ro nhất do tác động của biến đổi khí hậu ở miền Trung Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, UNDP
Nhà XB: Báo cáo nghiên cứu của Dự án Đói nghèo và Môi trường
Năm: 2010
4) Nguyễn Mậu Dũng (2010), “Biến đổi khí hậu và sản xuất nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng: thực trạng và Giải pháp”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 159, tháng 9/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu và sản xuất nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng: thực trạng và Giải pháp”, "Tạp chí Kinh tế và Phát triển
Tác giả: Nguyễn Mậu Dũng
Năm: 2010
5) Cao Đăng Dư (chủ nhiệm) (2001), Điều tra nghiên cứu và cảnh báo lũ lụt phục vụ phòng tránh thiên tai ở các lưu vực sông miền Trung, Đề tài độc lập cấp Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra nghiên cứu và cảnh báo lũ lụt phục vụ phòng tránh thiên tai ở các lưu vực sông miền Trung
Tác giả: Cao Đăng Dư (chủ nhiệm)
Năm: 2001
6) Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu (2012), Biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển. Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF), Nhà xuất bản Giao thông Vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển
Tác giả: Trần Thọ Đạt, Vũ Thị Hoài Thu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giao thông Vận tải
Năm: 2012
7) Nguyễn Xuân Mai, Nguyễn Duy Thắng (2011), “Sinh kế của cộng đồng ngư dân ven biển: Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Xã hội học, số 4 (116), trang 54-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh kế của cộng đồng ngư dân ven biển: Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Xuân Mai, Nguyễn Duy Thắng
Nhà XB: Tạp chí Xã hội học
Năm: 2011
8) Lưu Bích Ngọc và cộng sự (2012), Tác động của biến đổi khí hậu đến biến đổi sử dụng đất và thay đổi sinh kế cộng đồng ở đồng bằng sông Hồng, Báo cáo nghiên cứu của Dự án ClimLandLive-Delta - Hợp phần xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của biến đổi khí hậu đến biến đổi sử dụng đất và thay đổi sinh kế cộng đồng ở đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Lưu Bích Ngọc, cộng sự
Nhà XB: Báo cáo nghiên cứu của Dự án ClimLandLive-Delta - Hợp phần xã hội học
Năm: 2012
9) Oxfam (2008), Việt Nam: Biến đổi khí hậu, sự thích ứng và người nghèo, Báo cáo của Oxfam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam: Biến đổi khí hậu, sự thích ứng và người nghèo
Tác giả: Oxfam
Năm: 2008
10) Nguyễn Thanh Sơn, Cấn Chu Văn (2012), Các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương – Lý luận và thực tiễn. Phần 1. Khản năng ứng dụng trong đánh giá tính dễ bì tổn thương lũ lụt ở Miền trung Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, KHTN và Công nghệ 28, số 3S, 115-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương – Lý luận và thực tiễn. Phần 1. Khản năng ứng dụng trong đánh giá tính dễ bì tổn thương lũ lụt ở Miền trung Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Sơn, Cấn Chu Văn
Nhà XB: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, KHTN và Công nghệ
Năm: 2012
11) Nguyễn An Thịnh, Nguyễn Viết Thành, Kiều Hải Liên, Nguyễn Thị Nhạn (2015), “Lượng giá thiệt hại của thiên tai do bão lũ đến cộng đồng cư dân các xã ven biển huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh”, Tạp chí Địa lý Nhân văn, số tháng 3/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lượng giá thiệt hại của thiên tai do bão lũ đến cộng đồng cư dân các xã ven biển huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Tác giả: Nguyễn An Thịnh, Nguyễn Viết Thành, Kiều Hải Liên, Nguyễn Thị Nhạn
Nhà XB: Tạp chí Địa lý Nhân văn
Năm: 2015
12) Vũ Thị Hoài Thu và Trần Thọ Đạt (2011), Đánh giá nhu cầu hỗ trợ sinh kế bền vững của các cộng đồng ven biển đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu, Đề tài nghiên cứu khoa học của Dự án Giáo dục Đại học - Ngân hàng thế giới tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhu cầu hỗ trợ sinh kế bền vững của các cộng đồng ven biển đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Tác giả: Vũ Thị Hoài Thu, Trần Thọ Đạt
Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2011
13) Vũ Thị Hoài Thu và Trần Thọ Đạt (2011), “Sự thích ứng của sinh kế ven biển trước tác động của biến đổi khí hậu: Nghiên cứu điển hình tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 171, tháng 9/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thích ứng của sinh kế ven biển trước tác động của biến đổi khí hậu: Nghiên cứu điển hình tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Tác giả: Vũ Thị Hoài Thu, Trần Thọ Đạt
Nhà XB: Tạp chí Kinh tế và Phát triển
Năm: 2011
14) Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật Môi trường (2010), Báo cáo kết quả quan trắc và phân tích môi trường tỉnh Hà Tĩnh năm 2006- 2010, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả quan trắc và phân tích môi trường tỉnh Hà Tĩnh năm 2006- 2010
Tác giả: Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật Môi trường
Năm: 2010
15) Trung tâm Phòng tránh và Giảm nhẹ thiên tai – DMC (2011), Tài liệu kỹ thuật: Quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu, Dự án nâng cao năng lực thể chế về quản lý rủi ro thiên tai tại Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn phối hợp với Chương trình phát triển Liên Hợp quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu kỹ thuật: Quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu
Tác giả: Trung tâm Phòng tránh và Giảm nhẹ thiên tai – DMC
Nhà XB: Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
Năm: 2011
16) UBND huyện Kỳ Anh (2012), Báo cáo tổng hợp thiệt hại do thiên tai giai đoạn 2005-2011, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp thiệt hại do thiên tai giai đoạn 2005-2011
Tác giả: UBND huyện Kỳ Anh
Năm: 2012
17) UBND huyện Kỳ Anh (2012), Báo cáo tổng kết công tác phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn năm 2008-2013, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn năm 2008-2013
Tác giả: UBND huyện Kỳ Anh
Nhà XB: Hà Tĩnh
Năm: 2012
18) UBND huyện Kỳ Anh (2012), Báo cáo về nước sạch và vệ sinh môi trường huyện Kỳ Anh năm 2012, Kỳ Anh, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về nước sạch và vệ sinh môi trường huyện Kỳ Anh năm 2012
Tác giả: UBND huyện Kỳ Anh
Nhà XB: Kỳ Anh, Hà Tĩnh
Năm: 2012
19) UBND huyện Kỳ Anh (2010), Báo cáo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ đầu (2011 - 2015) huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ đầu (2011 - 2015) huyện Kỳ Anh
Tác giả: UBND huyện Kỳ Anh
Nhà XB: Hà Tĩnh
Năm: 2010
20) UBND huyện Kỳ Anh (2000), Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Kỳ Anh giai đoạn 2000 – 2010, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Kỳ Anh giai đoạn 2000 – 2010
Tác giả: UBND huyện Kỳ Anh
Nhà XB: Hà Tĩnh
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Khung sinh kế bền vững của DFID (2001) [29] - Đánh giá tác động và lượng giá thiệt hại của thiên tai do bão lũ đến sinh kế của cư dân các xã ven biển huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Hình 1.1. Khung sinh kế bền vững của DFID (2001) [29] (Trang 25)
Bảng 1.2: Bối cảnh bên ngoài trong khung sinh kế bền vững - Đánh giá tác động và lượng giá thiệt hại của thiên tai do bão lũ đến sinh kế của cư dân các xã ven biển huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 1.2 Bối cảnh bên ngoài trong khung sinh kế bền vững (Trang 28)
Hình 1.2. Sơ đồ phân loại phương pháp lượng giá (Ngân hàng Thế giới, 2002) [39] - Đánh giá tác động và lượng giá thiệt hại của thiên tai do bão lũ đến sinh kế của cư dân các xã ven biển huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Hình 1.2. Sơ đồ phân loại phương pháp lượng giá (Ngân hàng Thế giới, 2002) [39] (Trang 32)
Hình 2.3. Biểu đồ cơ cấu nghề nghiệp của các hộ gia đình tại các xã ven biển huyện - Đánh giá tác động và lượng giá thiệt hại của thiên tai do bão lũ đến sinh kế của cư dân các xã ven biển huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Hình 2.3. Biểu đồ cơ cấu nghề nghiệp của các hộ gia đình tại các xã ven biển huyện (Trang 63)
Hình 3.1. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đánh giá mức độ tác động - Đánh giá tác động và lượng giá thiệt hại của thiên tai do bão lũ đến sinh kế của cư dân các xã ven biển huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Hình 3.1. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đánh giá mức độ tác động (Trang 68)
Bảng 3.3: Thống kê tác động của thiên tai tới ngư nghiệp từng xã - Đánh giá tác động và lượng giá thiệt hại của thiên tai do bão lũ đến sinh kế của cư dân các xã ven biển huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 3.3 Thống kê tác động của thiên tai tới ngư nghiệp từng xã (Trang 70)
Bảng 3.2: Số điểm trung bình cho mức độ tác động của thiên tai đến ngư nghiệp - Đánh giá tác động và lượng giá thiệt hại của thiên tai do bão lũ đến sinh kế của cư dân các xã ven biển huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 3.2 Số điểm trung bình cho mức độ tác động của thiên tai đến ngư nghiệp (Trang 70)
Bảng 3.8: Các cơn bão gây ảnh hưởng đến khu vực miền Trung (2008-2013) - Đánh giá tác động và lượng giá thiệt hại của thiên tai do bão lũ đến sinh kế của cư dân các xã ven biển huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 3.8 Các cơn bão gây ảnh hưởng đến khu vực miền Trung (2008-2013) (Trang 78)
Bảng 3.11: Bảng thống kê thiệt hại do bão lũ ảnh hưởng tới xã Kỳ Xuân (2008 – 2013) (đơn vị: triệu đồng) - Đánh giá tác động và lượng giá thiệt hại của thiên tai do bão lũ đến sinh kế của cư dân các xã ven biển huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 3.11 Bảng thống kê thiệt hại do bão lũ ảnh hưởng tới xã Kỳ Xuân (2008 – 2013) (đơn vị: triệu đồng) (Trang 80)
Bảng 3.13: Bảng thống kê thiệt hại do bão lũ ảnh hưởng tới xã Kỳ Khang (2008 – 2013) (đơn vị: triệu đồng) - Đánh giá tác động và lượng giá thiệt hại của thiên tai do bão lũ đến sinh kế của cư dân các xã ven biển huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 3.13 Bảng thống kê thiệt hại do bão lũ ảnh hưởng tới xã Kỳ Khang (2008 – 2013) (đơn vị: triệu đồng) (Trang 81)
Hình 3.9. So sánh các nguồn vốn sinh kế của 7 xã năm 2013 - Đánh giá tác động và lượng giá thiệt hại của thiên tai do bão lũ đến sinh kế của cư dân các xã ven biển huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Hình 3.9. So sánh các nguồn vốn sinh kế của 7 xã năm 2013 (Trang 94)
Hình 3.11. Khung sinh kế bền vững vùng ven biển của IMM (2004) - Đánh giá tác động và lượng giá thiệt hại của thiên tai do bão lũ đến sinh kế của cư dân các xã ven biển huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Hình 3.11. Khung sinh kế bền vững vùng ven biển của IMM (2004) (Trang 99)
Bảng 3.20: Khả năng bị tổn thương của sinh kế trước tác động của bão, lũ lụt - Đánh giá tác động và lượng giá thiệt hại của thiên tai do bão lũ đến sinh kế của cư dân các xã ven biển huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 3.20 Khả năng bị tổn thương của sinh kế trước tác động của bão, lũ lụt (Trang 100)
Hình 3.12. Khung sinh kế bền vững đề xuất cho 7 xã ven biển huyện Kỳ Anh - Đánh giá tác động và lượng giá thiệt hại của thiên tai do bão lũ đến sinh kế của cư dân các xã ven biển huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Hình 3.12. Khung sinh kế bền vững đề xuất cho 7 xã ven biển huyện Kỳ Anh (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w