Nghiên cứu theo hướng khoa học xã hội không chỉ xem xét các mức độ đối phó với tai biến thiên nhiên mà còn xem xét các cá nhân bị tác động trong điều kiện xã hội nhất định, dựa vào sự th
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ THỦY VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Cấn Thu Văn
Trang 4Do cơ sở đào tạo ở xa cơ quan công tác, NCS đã được lãnh đạo Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP Hồ Chí Minh và khoa Khí tượng-Thủy văn đã tạo mọi điều kiện về thời gian cũng như kinh phí để NCS thực hiện luận án tốt nhất Nhân đây, NCS trân trọng cảm ơn đến ban giám hiệu, các Thầy, cô đồng nghiệp đã giúp đỡ trong suốt thời gian qua
Khối lượng số liệu được thực hiện trong luận án là rất lớn, đặc biệt là số liệu điều tra xã hội học, NCS được sử dụng từ đề tài cấp nhà nước mã số BDKH-19 thuộc “Chương trình Khoa học công nghệ phục vụ chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó biến đổi khí hậu” NCS chân thành cảm ơn: Chương trình, Chủ nhiệm đề tài và các thành viên tham gia đề tài đã hỗ trợ về số liệu, kỹ thuật cũng như những ý kiến quý báu đề luận án được hoàn thành có chất lượng
Nhân đây tác giả luận án tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Thanh Sơn, người hướng dẫn khoa học đã luôn sát sao, động viên và giúp đỡ NCS trong sốt thời gian thực hiện luận án
Gia đình luôn là chỗ dựa tinh thần, là nguồn động viên, là động lực cho NCS trong suốt 03 năm qua, NCS trân trọng cảm ơn
Đồng thời NCS cảm ơn các nhà khoa học, bạn bè, đồng nghiệp đã tận tình góp
ý, chỉ bảo và hỗ trợ về vật chất và tinh thần để hoàn thành luận án này
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
DANH MỤC HÌNH VẼ 7
MỞ ĐẦU 9 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỤT 16
1.1 NGHIÊN CỨU VỀ LŨ LỤT 16
1.2 NGHIÊN CỨU TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỤT 18
1.2.1 Khái niệm và định nghĩa 18
1.2.2 Tổng quan nghiên cứu tính dễ bị tổn thương trong và ngoài nước 27
1.2.2.1 Nghiên cứu trên thế giới 27
1.2.2.2 Nghiên cứu trong nước 30
1.2.3 Những vấn đề tồn tại và định hướng nghiên cứu 34
Chương 2 NGHIÊN CỨU XÁC LẬP CƠ SỞ KHOA HỌC ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỤT 36
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỤT 36
2.2 XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG 40
2.2.1 Phương pháp điều tra xã hội học 40
2.2.2 Phương pháp tích hợp bản đồ 41
2.2.3 Phương pháp tính chỉ số 43
Chương 3 ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỤT TRÊN LƯU VỰC SÔNG VU GIA – THU BỒN 61
3.1 ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI 61
Điều kiện địa lý tự nhiên 61
Trang 63.1.1.1 Vị trí địa lý 61
3.1.1.2 Địa hình – Địa mạo 62
3.1.1.3 Địa chất - Thổ nhưỡng 63
3.1.1.4 Thảm phủ thực vật 64
3.1.1.5 Khí hậu 65
3.1.1.6 Thủy văn 66
3.1.2 Tình hình mưa lũ trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 70
3.1.2.1 Mưa 70
3.1.2.2 Lũ lụt 70
3.1.2.3 Một số trận lũ lớn trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 73
3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 76
3.1.3.1 Dân cư và dân tộc 76
3.1.3.2 Cơ cấu kinh tế trên lưu vực 77
3.1.3.3 Giáo dục, y tế, văn hóa 79
3.1.4 Tình hình thiệt hại do lũ và các biện pháp phòng chống lũ 81
3.1.4.1 Tình hình thiệt hại do lũ (các trận lũ lớn) 81
3.1.4.2 Hiện trạng các biện pháp phòng chống 82
3.2 THIẾT LẬP BỘ TIÊU CHÍ 85
3.2.1 Các nguồn số liệu 85
3.2.2 Điều tra xã hội học 87
3.2.3 Xác lập bộ tiêu chí 88
3.2.3.1 Xây dựng, thu thập và xử lý phiếu điều tra 88
3.2.3.2 Thiết lập tiêu chí nguy cơ lũ lụt 91
3.2.3.3 Thiết lập tiêu chí độ phơi nhiễm 98
3.2.3.4 Thiết lập tiêu chí tính nhạy 103
3.2.3.5 Thiết lập tiêu chí khả năng chống chịu 105
3.3.TÍNH TOÁN BỘ CHỈ SỐ DỄ BỊ TỔN THƯƠNG 106
3.3.1 Chuẩn hóa dữ liệu 106
3.3.2 Xác định bộ chỉ số 107
3.3.2.1 Tính chỉ số dễ bị tổn thương sử dụng phương pháp trọng số AHP 108
Trang 73.3.2.2 Tính chỉ số dễ bị tổn thương sử dụng phương pháp trọng số
Iyengar-Sudarshan 111
3.3.2.3 Tính chỉ số dễ bị tổn thương sử dụng kết hợp hai phương pháp trọng số AHP và Iyengar-Sudarshan 113
3.3.2.4 Kiểm định bộ chỉ số 114
3.4 ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG 116
3.4.1 Xây dựng bản đồ tính dễ bị tổn thương 116
3.4.2 Đánh giá tính dễ bị tổn thương 120
3.4.3 Quy hoạch phòng chống giảm nhẹ thiên tai lũ lụt trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn theo chỉ số dễ bị tổn thương 133
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 138
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 141
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 141
TÀI LIỆU THAM KHẢO 142
PHỤ LỤC 153
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 ADRC Trung tâm giảm nhẹ thiên tai Châu Á
2 AHP Phân tích hệ thống phân cấp
3 ATNĐ Áp thấp nhiệt đới
4 BĐKH Biến đổi khí hậu
5 CI Chỉ số nhất quán
6 CN-DV Công nghiệp-Dịch vụ
7 CR Tỷ lệ nhất quán
8 CZMS Nhóm quản lý vùng ven biển
9 ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội
10 GDP Tổng sản phẩm nội địa
11 GIS Hệ thông tin địa lý
12 GRDP Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh
13 HTNĐ Hội tụ nhiệt đới
14 IPCC Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
15 KKL Không khí lạnh
16 NLTS Nông, lâm, thủy sản
17 RI Chỉ số không thống nhất ngẫu nhiên
18 THCS Trường Trung học cơ sở
19 THPT Trường Phổ thông trung học
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Tổng hợp các định nghĩa về tính dễ bị tổn thương 22Bảng 2.1: Danh mục bộ tiêu chí được sử dụng để đánh giá tính dễ bị tổn thương do
lũ lụt trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 46Bảng 2.2: Bảng xếp hạng các mức độ so sánh giữa các phần tử 54
Bảng 2.3: Bảng chỉ số ngẫu nhiên RI 57
Bảng 3.1: Trung bình lượng mưa năm các trạm trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn
65Bảng 3.2: Danh mục nhánh chính thuộc lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 68
Bảng 3.4: Qmax một số năm gần đây trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 71
Bảng 3.5: Tần suất lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn*
71Bảng 3.6: Đỉnh lũ lớn nhất đã quan trắc trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn* 71Bảng 3.7: Mức độ ngập lụt năm 1999 vùng hạ du lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 73Bảng 3.8: Danh mục các Văn bản pháp luật phục vụ công tác phòng chống và giảm
nhẹ thiên 83Bảng 3.9: Phân chia các tiểu lưu vực trên lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn 92Bảng 3.10: Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định mô hình MIKE-FLOOD trên lưu vực
sông Vu Gia - Thu Bồn 96Bảng 3.11: Minh họa giá trị đặc trưng ngập lụt trên lưu vực sông Vu Gia- Thu Bồn
97Bảng 3.12: Các loại đất và diện tích thuộc tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng
98Bảng 3.13: Phân nhóm các loại đất trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 100Bảng 3.14: Giá trị khả năng bị tổn thương trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 101Bảng 3.15: Minh họa giá trị sử dụng đất của các nút tính toán 102
Bảng 3.16: Minh họa giá trị các biến thuộc thành phần nhân khẩu của Hội An 104 Bảng 3.17: Minh họa giá trị các biến thuộc thành phần sinh kế của Hội An 104 Bảng 3.18: Minh họa giá trị các biến thuộc thành phần cơ sở hạ tầng và môi trường
của Hội An 104
Trang 10Bảng 3.19: Minh họa giá trị các biến thuộc thành phần điều kiện chống lũ của thành
phố Hội An 105
Bảng 3.20: Minh họa giá trị các biến thuộc thành phần kinh nghiệm chống lũ, sự hỗ
trợ và khả năng tự phục hồi của thành phố Hội An 105
Bảng 3.21: Minh họa giá trị biến đã được chuẩn hóa thuộc tiêu chí nguy cơ lũ lụt và
độ phơi nhiễm một số điểm thuộc thị trấn Ái Nghĩa 106
Bảng 3.22: Minh họa giá trị chuẩn hóa các biến thuộc thành phần nhân khẩu, tiêu
chí tính nhạy ở Hội An 106 Bảng 3.23: Minh họa giá trị chuẩn hóa các biến thuộc thành phần kinh nghiệm
chống lũ và sự hỗ trợ từ bên ngoài, tiêu chí khả năng chống chịu ở Hội
An 107Bảng 3.24: Minh họa các xã tương đồng của thành phố Hội An 107Bảng 3.25: Ma trận so sánh cặp giữa 3 biến đặc trưng lũ 108Bảng 3.26: Giá trị trọng số của các biến, các thành phần tính theo phương pháp
AHP 109Bảng 3.27: Kết quả tính giá trị các tiêu chí và chỉ số dễ bị tổn thương theo phương
pháp tính trọng số AHP - minh họa huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam 110Bảng 3.28: Giá trị trọng số của các thành phần, tiêu chí tính tính theo phương pháp
Iyengar-Sudarshan 111Bảng 3.29: Kết quả tính giá trị các tiêu chí và chỉ số dễ bị tổn thương theo phương
pháp tính trọng số Iyengar-Sudarshan- minh họa huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam 113Bảng 3.30: Kết quả minh họa tính giá trị các tiêu chí và chỉ số dễ bị tổn thương kết
hợp 2 phương pháp tính trọng số AHP và Iyengar-Sudarshan 114Bảng 3.31: Bảng phân cấp mức độ dễ bị tổn thương do lũ lụt lưu vực sông Vu Gia -
Thu Bồn 119Bảng 3.32: Tổng hợp chỉ số dễ bị tổn thương trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn
120
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Các thành phần rủi ro theo ADRC 20
Hình 2.1: Hình ảnh minh họa phương pháp tích hợp bản đồ theo sơ đồ khối đánh giá tính dễ bị tổn thương lũ lụt 42
Hình 2.2: Sơ đồ khối phương pháp chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt 43 Hình 2.3: Sơ đồ khối các bước thực hiện thuật toán AHP 56
Hình 3.1 Lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 61
Hình 3.2 Bản đồ địa hình lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 63
Hình 3.3: Mạng lưới sông suối lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 67
Hình 3.4: Bản đồ các hồ chứa thủy điện trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 69
Hình 3.5: Sơ đồ minh họa mạng mô phỏng 1 chiều hệ thống sông Vu Gia-Thu Bồn 93
Hình 3.6: Sơ đồ mạng hệ thống sông Vu Gia-Thu Bồn trong MIKE11 93
Hình 3.7: Sơ đồ kết nối mô hình 1-2 chiều trong MIKE FLOOD 95
Hình 3.8: Đường quá trình mực nước tính toán và thực đo tại Ái Nghĩa và Câu Lâu trận lũ 5 - 10/XI/2011 96
Hình 3.9: Đường quá trình mực nước tính toán và thực đo tại Ái Nghĩa và Câu Lâu trận lũ 28/IX - 4/X/2009 96
Hình 3.10: Kết quả mô phỏng lũ X/2009 lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 97
Hình 3.11: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 thành phố Đà Nẵng 99
Hình 3.12: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 tỉnh Quảng Nam 100
Hình 3.13: Bản đồ phân nhóm sử dụng đất lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 102
Hình 3.14: Tương quan giữa chỉ số dễ bị tổn thương-tính trọng số theo Iyengar-Sudarshan với thiệt hại thực tế ở một số xã trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 115
Hình 3.15: Tương quan giữa chỉ số dễ bị tổn thương-tính trọng số theo AHP với thiệt hại thực tế ở một số xã trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 115
Hình 3.16: Tương quan giữa chỉ số dễ bị tổn thương-tính trọng số kết hợp AHP và Iyengar-Sudarshan với thiệt hại thực tế ở một số xã trên lưu vực Vu Gia–Thu Bồn 116
Trang 12Hình 3.17: Bản đồ chỉ số nguy cơ lũ lụt 117
Hình 3.18: Bản đồ chỉ số độ phơi nhiễm 117
Hình 3.19: Bản đồ chỉ số tính nhạy 118
Hình 3.20: Bản đồ chỉ số khả năng chống chịu 118
Hình 3.21: Bản đồ mức độ dễ bị tổn thương lũ lụt lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn 119
Hình 3.22: Biểu đồ phân bố mức độ dễ bị tổn thương theo xã 120
Hình 3.23: Bộ (5) bản đồ tính dễ bị tổn thương các tiểu lưu vực (1, 2, VG-3) nhánh Vu Gia trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 124
Hình 3.24: Bộ (5) bản đồ tính dễ bị tổn thương lũ lụt trên tiểu lưu vực VG-4 127
Hình 3.25: Bộ (5) bản đồ tính dễ bị tổn thương vùng thượng lưu nhánh Thu Bồn 130 Hình 3.26: Bộ (5) bản đồ tính dễ bị tổn thương thuộc tiểu lưu vực TB-3 133
Trang 13
MỞ ĐẦU
GIỚI THIỆU CHUNG
Từ xưa nền văn minh Trung Quốc cổ đã lưu truyền câu chuyện đại hồng thủy
và công lao trị thủy của vua Đại Vũ như là một chứng tích về tai họa lũ lụt đối với
cư dân và các biện pháp phòng chống tác hại của lũ lụt Ở nước ta vấn đề trị thủy và phòng chống lũ lụt được thể hiện sâu sắc qua truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh thời Hùng Vương dựng nước Như vậy, việc đối phó và phòng chống lũ lụt từ thuở khai thiên lập quốc cho đến ngày nay vẫn còn mang tính thời sự và ý nghĩa thực tiễn Gần đây, biến đổi khí hậu toàn cầu càng làm tăng lên các loại tai biến – về số lượng, quy mô và tần suất, trong đó có lũ lụt, việc nghiên cứu, phòng chống thiên tai được đặt ra cấp bách Những tác động của thiên tai nói chung và lũ lụt nói riêng đến môi trường tự nhiên cũng như kinh tế xã hội là rất lớn và hệ lụy của nó là môi trường tự nhiên và đời sống nhân loại ngày càng trở nên dễ bị tổn thương hơn Sự khốc liệt và thiệt hại mà thiên tai lũ lụt gây ra trong thời gian gần đây ngoài yếu tố
tự nhiên còn có sự “góp sức” không nhỏ do hoạt động sống của con người Trong bất kỳ một xã hội đang phát triển nào đều gặp phải vấn đề về sự dân số tăng nhanh, quá trình đô thị hóa không đồng bộ, du canh-du cư, vv… làm cho xã hội càng trở nên dễ bị tổn thương hơn trước mỗi hiện tượng thiên tai lũ lụt
Trong những năm gần đây, khái niệm dễ bị tổn thương đã được nhiều nhà khoa học đề cập và phát triển trong các lĩnh vực quy hoạch, quản lý và giảm nhẹ thiên tai lũ lụt Đánh giá tính dễ bị tổn thương được coi như là một hệ thống nhằm phân tích các tai biến rủi ro nội, ngoại sinh của hệ thống Điều này không ngoài mục đích tìm cách tăng khả năng phục hồi của xã hội thông qua việc tìm biện pháp tăng khả năng chống chịu của những thành phần dễ bị tổn thương [38, 51]
Các nhà nghiên cứu theo hướng khoa học tự nhiên như: Kron [92], D.M
Simpson, M Katirai [72] , A.Feteke [76] và Catherine J L [66] quan niệm rằng tính
Trang 14dễ bị tổn thương được xác định như là mức độ tổn thất khả năng trong các thành phần rủi ro, là hậu quả tất yếu của hiện tượng thiên tai xảy ra theo không gian và thời gian Hướng nghiên cứu thường chú trọng đến sự tiếp xúc với tai biến, điều kiện phân bố tai biến, tính khu vực tai biến, mức độ thiệt hại và từ đó phân tích các đặc trưng tác động của hiện tượng
Theo hướng khoa học xã hội, Cutter [69] đã cho rằng không có định nghĩa duy
nhất của tính dễ bị tổn thương Hướng tiếp cận khoa học xã hội không chỉ xem xét khả năng đối phó với tai biến thiên nhiên mà còn xem xét các cá thể bị tác động trong điều kiện xã hội nhất định Những nghiên cứu tiêu biểu trong [64, 113, 116] thường chú trọng đến các tổn thương xã hội nhằm đối phó với các tác động xấu trong cộng đồng dân cư bao gồm cả khả năng chống chịu và khả năng tự phục hồi tai biến
Có nhiều cách giảm thiểu tác hại do lũ lụt như các biện pháp công trình (đập phòng lũ, đê ngăn lũ, vv ) và các biện pháp phi công trình (nâng cao nhận thức phòng lũ cho người dân, tăng cường khả năng quản lý trong thích ứng quy hoạch, vv ) Vấn đề đặt ra là lựa chọn biện pháp nào cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng địa phương nhằm giảm thiểu và quản lý lũ lụt một cách hiệu quả Nghiên cứu, đánh giá tính dễ bị tổn thương lũ lụt cho các tiểu lưu vực trong lưu vực sẽ giúp cho việc quy hoạch phòng chống lũ một cách có hiệu quả Câu hỏi là nên sử dụng và xem xét các thành phần nào để phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội, đồng thời xây dựng được cơ sở khoa học phương pháp tính dễ bị tổn thương đảm bảo độ tin cậy
0.1 TÍNH CẤP THIẾT
Tai biến thiên nhiên nói chung và lũ lụt nói riêng đã, đang và sẽ gây ra nhiều thiệt hại Đánh giá những hậu quả do lũ lụt gây ra, trong các báo cáo của các tổ chức liên quan, thường chỉ tập trung thống kê thiệt hại về người và của, là những thiệt hại hữu hình Trong khi đó, di chứng của thiên tai, lũ lụt còn có những thiệt hại không thể ngay lập tức nhận ra như tình trạng bệnh dịch và sức khỏe người dân, ô nhiễm môi trường, sinh kế cộng đồng vv… cần được nghiêm túc đánh giá khi bàn
Trang 15về sự tổn thương do lũ lụt
Tuy nhiên do tính dễ bị tổn thương là một khái niệm mới và đang tồn tại nhiều định nghĩa với các quan điểm khác nhau Ở Việt Nam, tính dễ bị tổn thương cũng đang được nghiên cứu, triển khai và áp dụng khi đánh giá các thiệt hại do lũ lụt trên
các lưu vực sông Luận án “Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học đánh giá tính dễ bị
tổn thương do lũ lụt lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn phục vụ quy hoạch phòng chống thiên tai” vì thế có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Tính dễ bị tổn thương trong nghiên cứu này sẽ được thể hiện thông qua xác định bộ chỉ số cho lưu vực sông sẽ được trình bày chi tiết ở phần sau
Một bộ chỉ số dễ bị tổn thương phân bố theo không gian trên một lưu vực nhất định sẽ là cơ sở giúp cho công tác quy hoạch, quản lý, phòng tránh và giảm nhẹ hậu quả của thiên tai lũ lụt một cách hiệu quả, bởi lẽ: (1) xét yếu tố lũ cực đoan tác động lên mặt đệm có khả năng gây hại tối đa; (2) tích hợp các khía cạnh kinh tế - xã hội vào phân tích tác động lũ lụt
Lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn với phần lớn diện tích lưu vực thuộc tỉnh Quang Nam và thành phố Đà Nẵng – là vùng kinh tế trọng điểm miền Trung nhưng
ở đây hàng năm lũ lụt diễn ra ngày càng ác liệt về quy mô lẫn tần suất đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, kinh tế - xã hội của vùng nói riêng và cả nước nói chung
Vì vậy, luận án chọn để nghiên cứu và áp dung góp phần phục vụ quy hoạch, quản
lý và phòng tránh thiên tai lũ lụt ở địa phương
0.2 MỤC TIÊU LUẬN ÁN
Mục tiêu chung của luận án là xác lập được cơ sở khoa học của phương pháp
đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn phục
vụ quy hoạch, phòng chống thiên tai, lũ lụt
Mục tiêu cụ thể của đề tài luận án là:
- Luận giải, phân tích và lựa chọn được phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt có cơ sở khoa học
- Thiết lập được bộ tiêu chí cơ bản phù hợp cho việc đánh giá tính dễ bị tổn
Trang 16thương do lũ lụt lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn
- Xây dựng thành công bộ chỉ số và bản đồ đánh giá tính dễ bị tổn thương do
lũ lụt trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn
- Từ bộ chỉ số và bản đồ tính dễ bị tổn thương do lũ lụt đề xuất các giải pháp quy hoạch và quản lý lũ trên lưu vực sông nghiên cứu
0.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận án sự tác động của tai biến lũ lụt (không bao
gồm lũ quét, lũ ống hay lũ bùn đá) lên toàn hệ thống xã hội bao gồm các đặc trưng như: dân sinh, kinh tế, xã hội và môi trường của lưu vực nghiên cứu Trên cơ sở đó, xác định mức độ dễ bị tổn thương do lũ lụt gây ra cho từng tiểu lưu vực phục vụ quy hoạch, quản lý lũ lớn nhằm phòng chống và giảm nhẹ hậu quả do lũ lụt gây ra
Phạm vi không gian của luận án là lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn
0.5 LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ
Luận điểm 1: Bộ tiêu chí phục vụ đánh giá tính dễ bị tổn thương trên lưu vực
sông Vu Gia - Thu Bồn đã được xây dựng là phù hợp với hiện trạng phát triển kinh
tế - xã hội và điều kiện tự nhiên trên lưu vực nghiên cứu
Trang 17Luận điểm 2: Bộ chỉ số dễ bị tổn thương được tính toán theo phương pháp
trọng số sử dụng kết hợp thuật toán phân tích hệ thống phân cấp (AHP) và thuật
toán Iyengar-Sudarshan là phù hợp
Luận điểm 3: Áp dụng bộ chỉ số và bản đồ chỉ số dễ bị tổn thương do lũ lụt
vào công tác quản lý lũ, quy hoạch phòng chống và giảm nhẹ thiên tai lũ lụt trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn là có tính thực tế
0.6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Ý nghĩa khoa học: Kết quả của luận án đã góp phần hoàn thiện phương pháp
đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của luận án có thể được sử dụng làm cơ sở phục vụ
quy hoạch, quản lý phòng chống thiên tai lũ lụt các cấp trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn
0.7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp nghiên cứu chính trong luận án gồm:
1) Phương pháp điều tra thực địa được áp dụng để thu thập các thông tin về lũ
lụt, thiệt hại do lũ lụt, đồng thời tiến hành lấy phiếu điều tra dành cho người dân và chính quyền xã để xác định các biến phục vụ tính toán chỉ số dễ bị tổn thương do lũ
2) Phương pháp phân tích hệ thống được áp dụng để phân tích các điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan đến tình hình lũ lụt và từ đó thiết lập bộ tiêu chí để đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt
3) Phương pháp mô hình toán thủy văn được áp dụng để xác lập giá trị các
biến, các thành phần đặc trưng lũ thuộc tiêu chí độ phơi nhiễm của hệ thống
4) Phương pháp hệ thống thông tin địa lý (GIS) được áp dụng để truy xuất các
thông tin từ bản đồ và xây dựng các bản đồ từ kết quả tính toán chỉ số dễ bị tổn thương do lũ trên lưu vực nghiên cứu
5) Phương pháp thống kê được áp dụng trong việc tính chuẩn hóa dữ liệu, tính
toán sử dụng kết hợp thuật toán phân tích hệ thống phân cấp (AHP) và thuật toán
Trang 18tính trọng số Iyengar-Sudarshan để xác định tính dễ bị tổn thương do lũ lụt
0.8 CƠ SỞ TÀI LIỆU
1) Các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn được thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng
và Niên giám thống kê các huyện thuộc 2 tỉnh/thành phố trên và kế thừa từ các nghiên cứu trước đó
2) Tài liệu về khí tượng, thủy văn được thu thập từ Trung tâm Tư liệu và Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương
3) Tài liệu địa hình, mạng lưới sông suối, mặt đệm được thu thập từ Bộ Tài nguyên và Môi trường (bộ Atlas Việt Nam) Bản đồ sử dụng đất 2010 được thu thập
từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng
4) Dữ liệu, tài liệu thu thập trong quá trình thực hiện đề tài cấp Nhà nước BĐKH-19 và từ một số công trình nghiên cứu trước đó
5) Một số kết quả nghiên cứu của luận án đã được thể hiện ở 8 công trình đã được công bố mà nghiên cứu sinh là tác giả và đồng tác giả
Trang 19Các công trình đã công bố liên quan đến luận án Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 20Ấn Độ (2012), Myanma (2012); ở Châu Âu: các nước Trung và Đông Âu (2006 và 2013), Pháp, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ (2007); ở Châu Mỹ: Guatemala (2005), Hoa Kỳ (2009); ở Châu Phi: Angola (2010), Nigieria (2010) [84] Theo đó, có thể thấy lũ lụt mang tính chất toàn cầu và diễn biến ngày càng phức tạp và gây thiệt hại nặng nề
Về quy mô, nó không dữ dội như sóng thần hay bão nhưng tính ảnh hưởng của nó
có tính chất kéo dài và để lại nhiều di chứng cho thế hệ sau
Ở Việt Nam, từ ngàn xưa người dân đã phải đối mặt với lũ lụt và tai biến này diễn ra rộng khắp trên cả nước, trong đó, lũ lụt xuất hiện với tần suất lớn nhất, vẫn
là khu vực miền Trung - nơi sông ngòi có độ dốc lớn, sự tập trung nước cao, thời gian lũ lên rất nhanh do thời gian chảy truyền ngắn cộng với việc điều hành không hợp lý các hồ thủy lợi, thủy điện nên hiện tượng lũ chồng lũ (cả tự nhiên lẫn nhân tạo) khá phổ biến và gây không ít khó khăn cho công tác quản lý phòng chống lũ lụt Tình hình lũ lụt và thiệt hại trên một số lưu vực sông miền Trung như: lưu vực sông Lam (tổng thiệt hại do bão lũ trong 21 năm 1990 đến 2010 khoảng hơn 3300
tỷ đồng [13]), Vu Gia - Thu Bồn (từ năm 1997 đến năm 2009 thiên tai trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn đã làm 765 người chết, 63 người mất tích và 2403 người bị
Trang 21thương, tổng giá trị thiệt hại về tài sản hơn 18000 tỷ đồng [13]), Vệ - Trà Khúc (từ năm 1996 – 2010 thiên tai gây ra 601 người người chết, mất tích; 1017 người bị thương; nhà sập đổ cuốn trôi là 8501 nhà Tổng giá trị thiệt hại về kinh tế khoảng
7545 tỷ đồng [13]) những minh chứng trên cho thấy rằng tai biến lũ lụt ngày càng diễn ra hết sức phức tạp và có xu thế ngày càng gia tăng cả về số lượng cũng như mức độ khốc liệt
Chính vì những thiệt hại to lớn mà lũ lụt gây ra như vậy đối với đời sống, kinh
tế, xã hội của nhân dân trên các lưu vực sông miền Trung nên Đảng, Nhà nước cũng
đã tập trung sức người, sức của vào công tác phòng chống lũ lụt Một trách nhiệm lớn trong công cuộc đó được đặt lên vai các nhà khoa học Nhiều công trình nghiên cứu để ứng phó với lũ lụt và giảm nhẹ tác hại của chúng đã và đang được quan tâm trên diện rộng Các hướng nghiên cứu chính là:
- (1) Mô tả về lũ lụt và xác định nguyên nhân hình thành, các quan hệ về thời gian, không gian cho các lưu vực sông miền Trung, (trong đó có lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn) làm cơ sở khoa học đề xuất các biện pháp giảm thiểu [3, 5, 6, 8, 15,
16, 23, 27, 28, 37]
- (2) Về nâng cao nghiệp vụ dự báo [1, 7, 12, 22, 25, 29, 42, 46, 56] đã nghiên cứu các phương pháp, phương án cảnh báo, dự báo lũ lụt nhằm nâng cao độ chính xác về thời gian xuất hiện, quy mô trận lũ cũng như thời gian dự kiến
- (3) Các nghiên cứu khác là [9, 11, 24, 35, 36, 50] đã đề xuất các phương án phòng tránh lũ lụt bằng những phương án ứng phó hiệu quả Đó là các biện pháp công trình và phi công trình, có thể kể đến theo hướng này là các quy hoạch (tổng hợp và chuyên ngành), sự chuẩn bị, phản ứng, phương pháp chống lũ, bảo vệ trước
lũ và giải quyết hậu quả sau lũ
Những nghiên cứu trên đã cho thấy được tính hiệu quả nhất định trong công tác giảm nhẹ thiên tai lũ lụt ở miền Trung Với các bản đồ ngập lụt, phân vùng tai biến ngập lụt sẽ định hướng quy hoạch phòng tránh lũ được tốt hơn Hiện nay, việc
đề xuất một quy hoạch tổng thể về thích ứng với lũ đang là hướng nghiên cứu được
Trang 22nhiều nhà khoa học quan tâm, trong đó có một nội dung quan trọng là xác định tính
dễ bị tổn thương lũ lụt
1.2 NGHIÊN CỨU TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỤT
1.2.1 Khái niệm và định nghĩa
Nhóm giải pháp công trình và phi công trình đã phát triển gắn liền với với mục tiêu cải thiện quá trình hỗ trợ ra quyết định để phòng chống lũ lụt Từ đó các khái niệm về tính dễ bị tổn thương và chỉ số tổn thương do lũ được đề xuất [117]
Khái niệm tính dễ bị tổn thương đã có nhiều thay đổi theo hướng phát triển trong nhiều năm qua Thông qua việc xem xét, phân tích các thành phần tham gia để đánh giá tính dễ bị tổn thương Năm 1980, Ramade [100] cho rằng tính dễ bị tổn thương bao gồm cả con người và kinh tế - xã hội, liên quan đến khuynh hướng hàng hóa, kết cấu hạ tầng, các hoạt động bị thiệt hại và sức đề kháng của cộng đồng Năm
1993, Shaw R.W (2001) [106], Watts và Bohle [116] đã xem xét đến bối cảnh xã hội và khả năng chống chịu của cộng đồng, bao gồm khả năng phục hồi và tính nhạy của xã hội đối với các mối nguy hiểm Sau đó Downing [74] đã xét đến thành phần tự nhiên và cho rằng tính dễ bị tổn thương bao gồm sự phơi nhiễm, tính nhạy, khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại tai biến Từ đó, cho thấy các thành phần được xem xét để đánh giá tính dễ bị tổn thương ngày càng nhiều và đa dạng hơn, thể hiện một quá trình nhận thức toàn diện hơn về tính chất xã hội, tham gia vào quy luật tự nhiên của hệ thống
Có hai hướng tiếp cận chính để đánh giá tính dễ bị tổn thương: các nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học tự nhiên thường chú trọng vào khái niệm rủi ro (risk), trong khi các nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội thường nhắc đến thuật ngữ tính
dễ bị tổn thương (vulnerability) Khái niệm tính dễ bị tổn thương được các nhà khoa học xã hội gắn với nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội và xác định khả năng của cộng đồng trong việc chống chọi với hiện tượng thiên tai Đối với khoa học tự nhiên, như các nhà khoa học về khí hậu lại thường xem khái niệm tính dễ bị tổn thương là khả năng xuất hiện và các tác động tiềm tàng của các hiện tượng thời tiết và khí hậu có
Trang 23liên quan [61, 65, 74]
Khái niệm rủi ro lũ lụt được cho là mức độ nguy hiểm của tai biến lũ lụt [111] hay rủi ro là các thiệt hại ngẫu nhiên của tai biến lũ lụt [68, 92] Sự phát triển của việc phân tích tai biến lũ lụt đã được nghiên cứu song song với đánh giá thiệt hại lũ lụt Trong vài thập kỷ qua, phân tích lũ lụt tập trung chủ yếu vào các đại lượng vật
lý (lượng ngập, diện tích ngập, độ sâu ngập lụt, ) và thiệt hại trực tiếp của các thành phần kinh tế do lũ lụt gây ra Tuy nhiên, trong những năm gần đây phân tích rủi ro lũ lụt [94] cũng đã đề cập đến rủi ro môi trường - xã hội theo hướng tiếp cận quản lý tổng hợp lũ Weichselgartner năm (2001) [117] cho rằng các thảm họa xảy
ra bên trong xã hội và không thuộc tự nhiên thì các vấn đề xã hội phải được xem xét nhiều hơn so với khía cạnh vật lý trong giảm nhẹ thiên tai
Phần lớn những nghiên cứu đánh giá rủi ro lũ lụt, các tham số rủi ro đã được thẩm định riêng biệt và số lượng các tham số cũng được giới hạn Trước xu thế các trận lũ ngày càng tăng và nước biển dâng do hiện tượng trái đất nóng lên trên phạm
vi toàn cầu, hệ lụy của biến đổi khí hậu và sự thay đổi môi trường cũng được tính đến Để có được những tham số này thì các nghiên cứu phải được tiếp cận theo hướng quản lý tổng hợp rủi ro lũ lụt trong vùng đồng bằng Số lượng các tham số có liên quan tới tai biến lũ, kinh tế, xã hội và môi trường theo sự phân bố có trọng số Bên cạnh đó, các đặc trưng tần suất, cường suất lũ, sự thay đổi của mực nước biển coi như tham số tính nhạy đối với đánh giá tương lai [94]
Để đánh giá rủi ro lũ lụt, năm 2002, Plate [98] đã xây dựng một chương trình khung cho việc đánh giá rủi ro lũ lụt bao gồm: phân tích rủi ro (xác định tai biến, phân tích tính dễ bị tổn thương, và xác định rủi ro), giảm nhẹ thiên tai (công nghệ
và phi công nghệ) và sự sẵn sàng đương đầu với lũ lụt (các dự án cứu trợ, cảnh báo sớm và việc sơ tán), theo đó rủi ro là giá trị hiển thị của hàm hậu quả Tuy nhiên, việc tính toán theo cách này gặp rất nhiều khó khăn với hàm mật độ tần suất và véc
tơ định hướng của hàm tổn thất Đồng thời việc xác định hàm hậu quả của tổn thất cũng khó khăn từ việc thu thập số liệu cũng như dữ liệu địa phương Crichton (2002) [68] đã định nghĩa: Rủi ro là tổn thất tiềm năng của cộng đồng trước một
Trang 24hiện tượng tai biến nhất định, nó phụ thuộc vào mức độ tai biến, tính dễ bị tổn thương và độ phơi nhiễm Từ đó tác giả đã đề xuất một tam giác rủi ro và diện tích của tam giác ấy chính là mức độ rủi ro Tam giác được hình thành bởi 3 thành phần là: tai biến, tính dễ bị tổn thương và độ phơi nhiễm Nếu một trong 3 thành phần này tăng lên thì diện tích tam giác tăng lên và kéo theo là mức độ rủi ro tăng theo, ngược lại mức độ rủi ro sẽ giảm Kế thừa và phát triển nghiên cứu này, năm 2004 Dwyer và cộng sự [75] đã đề xuất kim tự tháp 3 chiều và thể tích của kim tự tháp là giá trị rủi ro Ba mặt của kim tự tháp đặc trưng cho 3 thành phần là tai biến, tính dễ
bị tổn thương và độ phơi nhiễm Bất kỳ thành phần nào của kim tự tháp tăng lên đều làm cho thể tích kim tự tháp tăng, kéo theo là giá trị rủi ro tăng và ngược lại Đến năm 2005 Trung tâm giảm nhẹ thiên tai Châu Á (ADRC) [57] cho rằng mỗi khi tai biến độ phơi nhiễm hay tính dễ bị tổn thương tăng lên sẽ kéo theo rủi ro sẽ tăng Do vậy, theo [57] thì các hiện tượng không được coi là tai biến trong chính bản thân chúng Ví dụ, động đất xảy ra ở sa mạc hay đảo mà không có người ở hay động vật thì không được coi là tai biến Để khắc phục những nhược điểm này ADRC đã cải tiến và sử dụng 3 vòng tròn đặc trưng cho 3 thành phần và độ rủi ro được xác định
là phần diện tích giao nhau giữa 3 vòng tròn (Hình 1.1)
Hình 1.1: Các thành phần rủi ro theo ADRC [57]
Mặt khác, Weichselgartner [117], Alkema và Cavallin [59, 60], Tingsanc-hali
và Karim [109], Kron [92], Apel và cộng sự [62] đã cho rằng bản chất của rủi ro lũ lụt là ngẫu nhiên và việc xác định rủi ro lũ là rất đa dạng Vì vậy rất khó khăn để định lượng rủi ro lũ lụt khi coi rủi ro là hệ quả của một hiện tượng tự nhiên có tác
Trang 25động đến con người bao gồm: cuộc sống, tài sản và khả năng chống chịu với tai biến Rủi ro chỉ xảy ra khi một hiện tượng tai biến lũ lụt và những lo lắng của con người cùng xảy ra, ngược lại sẽ không có rủi ro và khái niệm rủi ro lũ được coi là mức độ tác động bất lợi nhất mà lũ lụt có thể gây ra Khái niệm “rủi ro lũ” là sự kết hợp các khái niệm: sự đe dọa đến tính mạng, sự khó khăn và nguy hiểm cho việc sơ tán người và tài sản khi có lũ lụt, những thiệt hại tiềm năng về cấu trúc và giá trị ngôi nhà, gián đoạn xã hội, tổn thất hoa màu, phá hủy các công trình công cộng Các tác giả cho rằng rủi ro là hàm của tai biến, tổn thương và độ phơi nhiễm, tuy vậy họ đều xem xét về tính dễ bị tổn thương và độ phơi nhiễm có thể kết hợp cùng nhau thành một thành phần Điều này có nghĩa là rủi ro lũ là sự kết hợp của tai biến
lũ và tính dễ bị tổn thương trong đó độ phơi nhiễm là 1 phần của tính dễ bị tổn
thương, trong đó: (1) Tai biến lũ lụt được xác định là tần suất xuất hiện lũ lụt với
một cường độ nhất định trong một thời gian xác định ở một khu vực nhất định như:
độ sâu ngập lũ, thời gian ngập lũ, vận tốc lũ hay cường suất lũ (2) Tính dễ bị tổn
thương do lũ lụt ở đây được xác định như là mức độ thiệt hại gây nên bởi một tai
biến với một cường độ nhất định của một yếu tố rủi ro cụ thể
Về khía cạnh đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ theo hướng nghiên cứu khoa học xã hội, những năm gần đây khái niệm dễ bị tổn thương đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, đặc biệt là trong các lĩnh vực quy hoạch, quản lý và giảm nhẹ thiên tai lũ lụt Điều này nhằm mục đích tăng khả năng phục hồi của xã hội bằng cách tăng khả năng chống chịu của những yếu tố dễ bị tổn thương [51]
Trong rất nhiều khái niệm dễ bị tổn thương được sử dụng, có thể nhóm lại 3 nhóm [38, 39, 51]: (1) Chú trọng đến sự tiếp xúc với các tai biến bao gồm điều kiện phân bố các tai biến, khu vực tai biến mà con người đang sống, mức độ thiệt hại và phân tích các đặc trưng tác động [58, 83]; (2) Chú trọng đến các khía cạnh xã hội và các tổn thương liên quan đến xã hội nhằm đối phó với các tác động xấu trong cộng đồng dân cư bao gồm cả khả năng chống chịu và khả năng tự phục hồi đối với tai biến [64, 114, 116]; (3) Kết hợp cả hai phương pháp và xác định tính dễ bị tổn thương như là tai biến nơi mà chứa đựng những tai biến cũng như những tác động
Trang 26thích ứng của xã hội [70, 89, 117]
Về khía cạnh tai biến thiên nhiên thì các quan niệm khác nhau không chỉ phát triển theo thời gian mà còn phát triển theo cách tiếp cận Theo S Fuchs và cộng sự [101] thì tai biến thiên nhiên được coi là các yếu tố có hại của môi trường vật lý hay
là sự liên hệ giữa con người và thiên nhiên Cách tiếp cận hiện đại coi tai biến như
là các hiện tượng vật lý tác động đến cuộc sống và môi trường sống của con người [58] và được xác định như là tần suất xuất hiện các hiện tượng gậy thiệt hại tiềm năng [110]
Các thành phần dễ bị tổn thương, có liên quan chặt chẽ đối với tai biến tự nhiên, được sử dụng để quản lý tai biến theo nhiều hướng dễ bị tổn thương khác nhau như là: kỹ thuật kết cấu, cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin liên lạc, kinh tế, xã hội [101] Tồn tại hai quan điểm về tính dễ bị tổn thương (1) quan điểm khoa học xã hội và (2) quan điểm khoa học tự nhiên (kỹ thuật)
Theo Cutter [70] không có định nghĩa duy nhất của tính dễ bị tổn thương lũ lụt Nghiên cứu theo hướng khoa học xã hội không chỉ xem xét các mức độ đối phó với tai biến thiên nhiên mà còn xem xét các cá nhân bị tác động trong điều kiện xã hội nhất định, dựa vào sự thay đổi của các yếu tố như tần suất xuất hiện, mức độ thiệt hại, nhận thức thì mức độ tổn thương có thể thay đổi đáng kể Về khía cạnh khoa học tự nhiên, tính dễ bị tổn thương thường được xem xét như là hàm số của cường độ của một cấu trúc vật lý và có quan hệ với tính nhạy của các thành phần rủi
ro Vì vậy quan điểm này có thể coi là các khái niệm dạng ‘kỹ thuật’ hoặc ‘vật lý’, được trình bày trong bảng 1.1:
Timmerman Tính dễ bị tổn thương là mức độ tác động xấu do tai biến gây ra
Trang 27Pijawka và
Radwan (1985)
[101]
Tính dễ bị tổn thương là mối đe dọa hoặc sự tương tác giữa rủi
ro và khả năng chuẩn bị Đó là mức độ tai biến đến dân số (rủi ro) và khả năng của cộng đồng để làm giảm rủi ro hoặc những mối đe dọa do tai biến thiên tai gây ra
Ramade (1989)
[100]
Tính dễ bị tổn thương bao gồm cả con người và kinh tế - xã hội, liên quan đến khuynh hướng hàng hóa, con người, cơ sở hạ tầng, các hoạt động bị thiệt hại, sức đề kháng của cộng đồng UNDHA, 1992
[101] Tính dễ bị tổn thương là tổn thất dự kiến (tính mạng, tài sản bị
hư hỏng, và hoạt động kinh tế bị gián đoạn) do một mối nguy hiểm đặc biệt đối với một khu vực và thời gian nhất định Alexander
Trang 28Downing (2001)
[74]
Tính dễ bị tổn thương bao gồm độ phơi nhiễm, tính nhạy, khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại các mối nguy hiểm do ảnh hưởng của thiên tai
IPCC (2001)
[86]
Tính dễ bị tổn thương là mức độ mà biến đổi khí hậu có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; khi đó tính dễ bị tổn thương không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới
ISDR (2002)
[38, 63]
Khái niệm dễ bị tổn thương áp dụng cho một hệ thống xã hội do
đó có thể được hiểu là "một tập hợp các điều kiện và quy trình kết quả từ vật lý, các yếu tố xã hội, kinh tế và môi trường, làm tăng tính nhạy cảm của một cộng đồng có các mối nguy hiểm tác động "
Joanne
Linnerooth-Tính dễ bị tổn thương là khái niệm được hiểu trong một phạm vi rộng và có quy tắc, bao gồm cả địa lý, rủi ro, hiểm họa, kỹ
Trang 29Từ định nghĩa của Gabor và Griffith, 1980 “Tính dễ bị tổn thương là mối đe dọa (để vật liệu nguy hiềm) đối với người tiếp xúc” hay của UNDHA (1992) [101]
“Tính dễ bị tổn thương là tổn thất dự kiến (tính mạng, tài sản bị hư hỏng, và hoạt động kinh tế bị gián đoạn) do một mối nguy hiểm đặc biệt đối với một khu vực và thời gian nhất định”, vv thì cách tiếp cận ở đây chủ yếu xét mức độ tổn thất trước các tai biến tự nhiên (độ lớn, tần xuất xuất hiện) Tiếp theo, tính dễ bị tổn thương được Dow và Downing (1995) [101] phát biểu “Tính dễ bị tổn thương là sự nhạy cảm khác nhau theo hoàn cảnh như các yếu tố về: sinh lý, nhân khẩu học, kinh tế,
xã hội và công nghệ hay như là trẻ em, người cao tuổi, phụ thuộc kinh tế, chủng tộc
và tuổi tác, cơ sở hạ tầng là những yếu tố gắn liền với tai biến tự nhiên" ở đây việc xét các yếu tố xã hội nhiều hơn, thể hiện tính nhạy của xã hội trước các tai biến thiên nhiên Đến những năm gần đây, Joanne Linnerooth-Bayer (2010) [90] cho rằng: “Tính dễ bị tổn thương là khái niệm được hiểu trong một phạm vi rộng và có quy tắc, bao gồm cả địa lý, rủi ro, tai biến, kỹ thuật, nhân chủng học và sinh thái” thì tính dễ bị tổn thương đã được xét toàn diện hơn các thành phần về tai biến, tính nhạy của xã hội, môi trường và cả khả năng chống chịu, thích ứng tai biến của cộng đồng
Nhằm mục tiêu giảm thiểu tác hại do thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu,
Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) trong nhiều năm qua đã nghiên cứu và phát triển các định nghĩa về tính dễ bị tổn thương đối với biến đổi khí hậu và nước biển dâng Ban đầu: “tính dễ bị tổn thương là mức độ mà biến đổi khí hậu có
Trang 30thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; khi đó nó không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới” [85, 86] Định nghĩa này đã bao gồm các thành phần là độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu của hệ thống trước tai biến thiên nhiên Nhìn chung, các nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương trước đây phần lớn chủ yếu tập trung vào đánh giá các tác nhân vật lý mà ít xét đến trạng thái của hệ thống xã hội và thành phần cộng đồng dân cư [73]
Để đánh giá tính dễ bị tổn thương cả 3 yếu tố được nghiên cứu là: độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu: “Trong điều kiện tiếp xúc với tình trạng căng thẳng hoặc khủng hoảng, tính dễ bị tổn thương không chỉ gây nên bởi sự tiếp xúc với nguy hiểm mà còn phụ thuộc vào khả năng đối phó của những người bị ảnh hưởng” Khả năng đối phó của người dân được coi là sự kết hợp giữa sức kháng cự
và khả năng phục hồi sau tai biến [70,118] Điều này có nghĩa nghiên cứu tính dễ bị tổn thương lũ lụt là việc xét và lựa chọn các yếu tố độ phơi nhiễm, tính nhạy, và khả năng đối phó của người dân trong khu vực nghiên cứu, đảm bảo sự phù hợp với đặc trưng riêng của từng vùng, lưu vực cụ thể Phân tích các chỉ số dễ bị tổn thương giúp cho các nhà quản lý có cái nhìn toàn diện hơn về tính nhạy hay khả năng chống chịu của người dân bị ảnh hưởng và cả hệ thống kinh tế - xã hội trong vùng nghiên cứu
Theo thời gian, quan điểm tiếp cận đánh giá tính dễ bị tổn thương ngày càng hoàn thiện và cho thấy tính toàn diện, đa chiều (tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường) nhằm xác định sâu sắc hơn các thành phần gây nên thiệt hại của hệ thống trước tai biến Từ nhóm quan điểm thứ 1, chú trọng nhiều đến yếu tố tự nhiên như là
độ lớn, xác suất của các tai biến mà có thể coi nhẹ sự gây hại đến cộng đồng dân cư; đến nhóm quan điểm thứ 2, chú trọng nhiều đến yếu tố xã hội có khả năng thích ứng hay chống chịu với các tai biến mà chưa đi sâu phân tích nhiều đến bản chất tự nhiên của hiện tượng; và để tổng hòa hai trường phái này, hướng nghiên cứu mang tính tổng hợp, toàn diện cả tự nhiên và xã hội tạo nên nhóm quan điểm thứ 3
Các định nghĩa theo các hướng tiếp cận khác nhau về tính dễ bị tổn thương đã
Trang 31thể hiện sự phát triển về quan điểm, trong đó nghiên cứu về mối quan hệ giữa các hoạt động con người và tác động của thiên tai theo chiều hướng tổn thương kinh tế
xã hội đã tăng lên Các định nghĩa về tính dễ bị tổn thương đã dần được phát triển thể hiện một cái nhìn toàn diện của xã hội, liên quan đến nhiều lĩnh vực của cuộc sống như: tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường Luận án này sẽ hướng đến nghiên cứu tính dễ bị tổn thương bao hàm cả yếu tố tự nhiên, xã hội, kinh tế, môi trường –
là các yếu tố thuộc nguy cơ, độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu của cộng đồng dân cư trước các tai biến lũ lụt
1.2.2 Tổng quan nghiên cứu tính dễ bị tổn thương trong và ngoài nước
1.2.2.1 Nghiên cứu trên thế giới
Trong các nghiên cứu của IPCC-CZMS [87, 97, 104, 105] đã nghiên cứu, đề xuất phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương đơn giản nhằm xác định và đánh giá các tác động của mực nước biển dâng đến đời sống người dân trên bề mặt hành tinh và được ứng dụng tại nhiều nơi Phương pháp này kết hợp các nhận định của chuyên gia với dữ liệu về các đặc tính vật lý và kinh tế - xã hội, từ đó phân tích, ước tính phổ các tác động của mực nước biển dâng bao gồm cả phần giá trị mất đi của các vùng đất và đất ngập nước Các thông tin thu được từ cách đánh giá này được
sử dụng như là cơ sở cho các bước mô hình hóa tiếp theo Phương pháp bao gồm 7 bước: (1) xác định khu vực nghiên cứu; (2) thu thập và phân tích các đặc trưng khu vực nghiên cứu; (3) xác định các yếu tố phát triển kinh tế xã hội tương ứng; (4) đánh giá các biến động về mặt vật lý; (5) xây dựng chiến lược ứng phó; (6) đánh giá
hồ sơ dễ bị tổn thương; (7) xác định các nhu cầu trong tương lai Tuy nhiên, đến
1999 Klein và Nicholls [96] đã chỉ ra 5 hạn chế cơ bản của phương pháp này liên quan đến các ràng buộc về kỹ thuật và khả năng cung cấp số liệu trong việc mô hình hóa hệ thống và đánh giá định lượng [81, 108, 115, 119]
Tập trung nghiên cứu và hướng đến cộng đồng nhiều hơn, năm 2001 Nakamura và cộng sự đã tiếp cận theo hướng của Penning-Rowsell về tính dễ bị tổn thương hộ gia đình, dựa vào số thành phần như: kinh tế xã hội thay đổi theo tuổi
Trang 32tình trạng y tế, sự cứu trợ, thu nhập, sự liên kết của cộng đồng, sự hiểu biết về lũ lụt
Sự thay đổi về tài sản và cơ sở hạ tầng có liên quan tới tính nhạy của những tòa nhà, cấu trúc công trình, thời gian khôi phục cơ sở hạ tầng, số lượng tầng của ngôi nhà,
sự chắc chắn của ngôi nhà Đặc trưng lũ lụt bao gồm độ sâu lũ và thời gian ngập lũ, nồng độ bùn cát, kích cỡ bùn cát, ảnh hưởng của sóng/gió, vận tốc lũ, ô nhiễm đường xá, tỷ lệ nước tăng lên từ khi có lũ Các dữ liệu như là người dân có nhận được cảnh báo lũ hay không, thời gian cảnh báo, nội dung cảnh báo được coi trọng [93] Đến 2004, Green đã tập trung phân tích tính dễ bị tổn thương về hộ gia đình và biểu thị tính dễ bị tổn thương cộng đồng địa phương như là nhân tố có liên quan, dựa vào các nhân tố như : thu nhập, sự cứu trợ, dịch vụ công cộng, năng lượng, giáo dục để xét tới sự tổn thương của cộng đồng địa phương Green đã kết luận rằng:
từ một hệ thống các quan điểm, tính dễ bị tổn thương có thể được định nghĩa như là mối tương quan giữa hệ thống kế hoạch và môi trường thay đổi theo thời gian [80] Theo cách tiếp cận này thì việc đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt chú trọng ở khía cạnh xã hội và kết hợp các thành phần tai biến tự nhiên, tuy nhiên ở đây chưa
đề cập đến khả năng tự phục hồi của xã hội cũng như yếu tố môi trường trong hệ thống bị ảnh hưởng của lũ lụt
Conner [67] đã đưa các biện pháp công trình và phi công trình vào tính toán chỉ số dễ bị tổn thương do lũ như là các yếu tố xã hội thể hiện khả năng chống chịu của cộng đồng Sebastian [103] xác định tính dễ bị tổn thương lũ là sự kết hợp giữa xác suất thiệt hại và khả năng chống chịu Các nghiên cứu này chưa xét đến ảnh hưởng của vùng miền (các yếu tố tự nhiên) nên chưa hoàn chỉnh, hay nói cách khác chưa biểu diễn được mối tương tác tự nhiên – kinh tế xã hội khi xem xét bài toán tổng hợp đánh giá tính dễ bị tổn thương
Fussel, Hebb và Mortsch [79, 82] đã phân chia các nhóm yếu tố quyết định đến khả năng dễ bị tổn thương của cộng đồng, khu vực (hệ thống) nhằm xác định các chỉ số thành bốn nhóm, dựa vào sự tổ hợp giữa hai hệ thống là kinh tế xã hội và
tự nhiên từ nhóm các yếu tố nội và ngoại sinh, tuy nhiên, việc sử dụng số liệu và tính toán cũng còn chưa hoàn chỉnh về cả tự nhiên và xã hội
Trang 33Zhen Fang [120] đã sử dụng ba mô-đun: thích ứng, tính dễ bị tổn thương xã hội và thiệt hại Trong đó mô - đun thiệt hại chủ yếu xét đến các thiệt hại về kinh tế, dân tộc và cơ sở hạ tầng, còn các yếu tố khác về mặt xã hội, dân cư, tính chất cộng đồng và lấy người dân làm trung tâm là chưa xét đến hoặc còn sơ sài Hơn nữa việc tính mức độ tổn thương bằng việc chồng chập các bản đồ là chưa thể hiện hết được sự tác động khác nhau của các yếu tố đến tính dễ bị tổn thương do lũ lụt Trong các nghiên cứu [80, 84, 91, 93, 117] đã sử dụng các điều tra về kinh tế
và xã hội để xây dựng bộ chỉ số, sau đó đánh giá tính dễ bị tổn thương dựa trên bộ
chỉ số đã thu được gồm các tham số: (1) Chỉ số độ phơi nhiễm (khoảng cách từ nhà tới sông, thời gian ngập lũ, độ sâu ngập lũ, ); (2) Chỉ số kinh tế - xã hội (tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thu nhập hàng tháng và nghề nghiệp,…); (3) Chỉ số nhạy
(cấu trúc nhà, thời gian ở trong khu vực ảnh hưởng lũ, kinh nghiệm đối phó với lũ, nhận thức về tai biến lũ lụt, nhận thức về rủi ro lũ lụt, sự chuẩn bị cho việc xuất hiện
lũ,…); (4) Chỉ số chống chịu (năng lực đối phó, quản lý và sự cứu trợ, hỗ trợ có thể
nhận được,…) Phiếu điều tra được thiết kế, thu thập từ các hộ dân trong vùng nghiên cứu, sau đó phân tích mô tả tất cả các chỉ số thông qua bảng câu hỏi Những nghiên cứu này sử dụng phiếu điều tra để xác định chỉ số độ phơi nhiễm là chưa phù hợp bởi các thành phần phơi nhiễm cần mang tính khách quan và được xác định thông qua kỹ thuật tính toán Các yếu tố do được điều tra thành từng nhóm nên việc đồng bộ hóa số liệu của mỗi nhóm cần được tính đến (không sử dụng trực tiếp được ngay)
A Feteke [76, 77] coi tính dễ bị tổn thương xuất phát từ một biểu hiện cực đoan, có hướng với biểu hiện tích cực Đánh giá được tính dễ bị tổn thương là nắm bắt được những điều kiện của hệ thống xã hội, các đặc điểm của nó khi đối mặt với thiên tai lũ lụt Các thành phần tạo nên tính dễ bị tổn thương bao gồm: độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu dưới tác động của hiện tượng cực đoan trong bối cảnh cụ thể [52] Ở đây, tác giả coi tính dễ bị tổn thương là một thành phần của rủi ro thay đổi theo không gian, thời gian nhằm mục đích giảm thiểu tai biến
Trang 34A Feteke đưa ra 41 biến số thuộc 3 thành phần (kinh tế, xã hội và môi trường) trên cơ sở đáp ứng 3 tiêu chí (độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu), được thể hiện qua 8 yếu tố (độ tuổi, sự phụ thuộc, trình độ, nguồn thu nhập, y tế, thể chế, loại hình nhà cửa, tiềm năng kinh tế khu vực) Các yếu tố dễ bị tổn thương xã hội chính gồm độ tuổi, giới tính, trình độ, nguồn thu nhập, các biến phụ là y tế, đô thị - nông thôn, nhà cửa, tiềm năng của vùng Các biến này được đánh giá theo 4 tiêu chuẩn người có sức khỏe yếu dẫn đến tử vong, người phụ thuộc hoàn toàn vào
y tế, trình độ của con người và nguồn lực tài chính của con người Hạn chế trong nghiên cứu của A.Feteke thể hiện ở thành phần độ phơi nhiễm được lấy theo mật độ kết cấu hạ tầng là chưa phản ánh đầy đủ yếu tố này Ví dụ, nơi mà có mật độ nhà cửa, kết cấu hạ tầng ít nhưng là đất quốc phòng, an ninh là dễ bị tổn thương hơn so với đất ở nông thôn….Ngoài ra, việc sử dụng biện pháp so sánh các biến với các tiêu chuẩn để xác định là mức độ tính nhạy cao, thấp hay trung bình cũng không tránh khỏi sự phụ thuộc vào tính chủ quan của người nghiên cứu hoặc chưa đảm bảo tính khách quan của biến số Hơn nữa, các biến và tiêu chuẩn so sánh chưa hẳn là tuyến tính, điều này có thể dẫn đến sai sót khi đưa ra kết quả xác định độ nhạy Sumana Bhattacharya và Aditi Das [107] đã đánh giá tính dễ bị tổn thương ở hiện tại và xu hướng trong 1 thập kỷ tiếp theo của các hiện tượng cực đoan như: hạn hán, lũ lụt, lốc xoáy theo thuật toán suy luận mờ Hạn chế khi áp dụng phương pháp này là so sánh trong mô hình là 2 biến với 3 đặc trưng là cao, trung bình và thấp, trong khi xác định giá trị là cao, trung bình hay thấp cũng rất tương đối và còn mang tính chủ quan Hơn nữa mỗi yếu tố, thành phần và chỉ số cũng có những mức
độ ý nghĩa khác nhau đối với tác động của thiên tai, lũ lụt, nên không xét đến giá trị trọng số của từng biến, từng thành phần là chưa đảm bảo tính toàn diện của hệ thống
1.2.2.2 Nghiên cứu trong nước
Vấn đề đánh giá tính dễ bị tổn thương ở Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu
đề cập đến gần như đồng hành với các nghiên cứu về biến đổi khí hậu Trong giai đoạn này, tiêu biểu là các công trình của Mai Trọng Nhuận khi đánh giá tính dễ bị
Trang 35tổn thương về môi trường [34], về tài nguyên địa chất [17], của các đới ven biển [33] Đến năm 2010 Nguyễn Kim Lợi [26] đã nghiên cứu, đánh giá tính dễ bị tổn thương do trượt lở đất ở Việt Nam Công trình này đã sử dụng phương pháp, quy trình và tiêu chí: tổn thương xã hội theo Cutter, tổn thương địa chất theo NOAA và tổn thương môi trường theo SOPAC, tổn thương vùng ven bờ theo Sở Địa chất Hoa
Kỳ và đưa ra bản đồ phần vùng dễ bị tổn thương Ở đây các thành phần tính dễ bị tổn thương chủ yếu là các yếu tố tự nhiên của hệ thống mà chưa xét đến các yếu tố
xã hội Năm 2013, Hoàng Anh Huy [20] với việc sử dụng đã đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, tai biến và đề xuất định hướng thích ứng tại thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định và vùng phụ cận Trong [20] mới chỉ đánh giá tai biến từ các kịch bản biến đổi khí hậu nhưng chưa xét đến ảnh hưởng của kết cấu hạ tầng Cũng năm
đó, Dư Văn Toán, Trần Thế Anh [47] đã đánh giá rủi ro do lũ lụt trong bối cảnh biến đổi khí hậu cho một đơn vị cấp xã vùng ven biển Nam Trung Bộ Trong công trình này, tính dễ bị tổn thương được xác định thông qua yếu tố tai biến lũ (độ lớn lũ
và số điểm cảnh báo lũ), tính dễ bị tổn thương được coi như là yếu tố tự nhiên Trong khi đó, Lê Thị Kim Ngân [31] đã đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu ở huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định bằng việc xác định yếu tố gây tổn thương như: bão, lũ, hạn hán,…tác động trực tiếp vào nhóm đối tượng dễ bị tổn thương: hệ sinh thái, các thành phần kinh tế - xã hội, coi yếu tố gây tổn thương không chịu ảnh hưởng của hoạt động công nghiệp, sinh hoạt đô thị và chỉ xét đến yếu tố sản xuất nông nghiệp là chính Nghiên cứu này chưa sử dụng hết các yếu tố dễ bị tổn thương nên mới xác định mức độ dễ bị tổn thương theo định tính
Đinh Thái Hưng [19] đã nghiên cứu, xây dựng chỉ số tính dễ bị tổn thương (CVI) cho vùng bờ biển Việt Nam trong các kịch bản nước biển dâng, theo hai thành phần là tính nhạy cảm và khả năng chống chịu của hệ thống bờ biển (tự nhiên) để thích ứng với những biến đổi của điều kiện môi trường Các chỉ số này phản ánh mức độ dễ bị tổn thương của khu vực bờ biển để phục vụ công tác quản lý hiệu quả khu vực đới bờ Trong một số công trình, Trịnh Minh Ngọc [32], Nguyễn Thanh Sơn [40] đã đánh giá khả năng dễ bị tổn thương tài nguyên nước lưu vực
Trang 36nước, sức ép khai thác sử dụng, hệ số sinh thái và thông số quản lý để tính toán Thấy rằng, phần lớn các công trình vừa nêu [17, 26, 32, 33, 34, 40] mới chú trọng đến yếu tố tự nhiên mà chưa xét đến khía cạnh kinh tế - xã hội
Yếu tố xã hội được tham vấn nhiều hơn trong một số nghiên cứu của Thái Thành Lượm [30] khi xét tính dễ bị tổn thương của hệ thống vùng biển Hà Tiên -
vịnh Cây Dương (Kiên Giang), Võ Hồng Tú [49] đã bàn về tính dễ bị tổn thương
sinh kế nông hộ tại tỉnh An Giang khi có lũ Các công trình này với bộ công cụ PRA bằng cách tiếp tham số đã cố gắng đưa ra các giải pháp ứng phó Tuy đã đề cập đến yếu tố kinh tế - xã hội nhưng số biến được đưa vào công trình này còn hạn chế và cũng mới đề cập đến các đặc trưng lũ lụt ở quy mô tổng thể (chỉ xét đến diện ngập mà chưa xét đến thời gian ngập và tốc độ dòng chảy lũ) Đối với từng ngành
cụ thể thì Tô Ngọc Thúy [44] đã nghiên cứu đánh giá tổn thương do nước biển dâng
ở Thừa Thiên Huế, tập trung vào các ngành: nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản Trong nhiều nghiên cứu đã khẳng định biến đổi khí hậu làm gia tăng các tính chất cực đoan của tai biến thiên nhiên và lũ lụt không phải là ngoại lệ Vì lẽ đó, đánh giá tính dễ bị tổn thương do các tai biến thiên nhiên trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang được quan tâm nghiên cứu Ngô Thị Vân Anh [2] đã đánh giá tính dễ
bị tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu của thành phố Cần Thơ, đã xem xét các thành phần là: độ phơi nhiễm, độ nhạy và khả năng chống chịu Tuy nhiên, các biến được xác lập cho các thành phần: dân cư, nông nghiệp, công nghiệp, vệ sinh môi trường và cơ sở hạ tầng được xác định bằng phương pháp tích hợp bản đồ Vì thế tiêu chí độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu chưa được thể hiện rõ nét trong việc tính chỉ số dễ bị tổn thương đã nêu
Cũng bàn về vấn đề này, Hà Hải Dương [14] sử dụng 3 tiêu chí là độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu khi đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu Chi tiết hơn, Trần Thục [43] đã xây dựng quy trình đánh giá tình trạng
dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp, với các thành phần được xem xét độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng thích ứng Phần lớn các nghiên cứu trên có các biến thuộc thành phần tính nhạy là các yếu tố trong lĩnh vực nông
Trang 37nghiệp chứ chưa bàn đến tính nhạy từ cộng đồng và kết cấu của xã hội Và hạn chế của những công trình này là chưa tính được các tiêu chí về khả năng chống chịu ở mức toàn diện
Cụ thể hơn đối với lũ lụt vào năm 2010, Viet Trinh [112] đã đánh giá rủi ro do
lũ trên lưu vực sông Thạch Hãn tỉnh Quảng Trị bằng cách lập bản đồ tai biến do lũ
và bản đồ tính dễ bị tổn thương, có xét đến tình hình sử dụng đất và mật độ dân số nhưng chưa xét đến khả năng chống chịu của cộng đồng Tương tự, Phạm Thị Hiền Thương [45] đã đánh giá rủi ro do tác động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực kinh tế - xã hội chính của tỉnh Bình Định, không sử dụng các thành phần tai biến (tính dễ bị tổn thương và độ phơi nhiễm) mà tính hệ số rủi ro từ ý kiến chuyên gia
và giá trị sản lượng, năng suất,…
Nguyen Mai Dang năm [94, 95] đã nghiên cứu xây dựng chỉ số rủi ro lũ ở vùng ngập lụt sông Đáy, đồng bằng sông Hồng Khái niệm tính dễ bị tổn thương đã được tác giả mở rộng và khái quát: mật độ dân số, nhận thức của cộng đồng, các công trình phòng lũ, sự ô nhiễm, sự xói mòn và nhiều yếu tố khác Tuy nhiên, các tham số được đưa vào tính toán chỉ số dễ bị tổn thương còn hạn chế, chưa bao trùm
và phản ánh hết các yếu tố xã hội, đặc biệt đặc trưng quan trọng nhất là tình hình sử dụng đất đã không được xem xét Nguyen Mai Dang đã sử dụng thuật toán phân tích hệ thống phân cấp (AHP) để xác định trọng số của các tham số trong từng chỉ
số Phân tích cặp trong AHP để xác định trọng số được lấy theo ý kiến chuyên gia Các giá trị như tai biến lũ được lấy từ kết quả mô phỏng lũ lịch sử năm 1971 còn số liệu về kinh tế xã hội trong tham số tổn thương và môi trường được thu thập được
từ Niên giám thống kê để từ đó xây dựng bản đồ rủi ro lũ cho khu vực nghiên cứu Nghiên cứu này đã mang tính tổng hợp, tuy nhiên vẫn thiên về yếu tố tự nhiên của
hệ thống Ở đây các tham số được sử dụng là rất hạn chế, yếu tố kinh tế chỉ có 04 tham số, yếu tố xã hội chỉ có 04 tham số Lượng thông tin này thực sự chưa thể hiện hết được bức tranh kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu Cũng trong công trình này, ngoài hiện trạng sử dụng đất thì các tham số thể hiện khả năng chống chịu của người dân chưa được quan tâm đúng mức Theo hướng đó, Dang Dinh Kha [71] đã
Trang 38áp dụng để xây dựng bộ chỉ số và bản đồ tổn thương do lũ cho lưu vực sông Thạch Hãn tỉnh Quảng Trị, đồng thời đề cập đến độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu
1.2.3 Những vấn đề tồn tại và định hướng nghiên cứu
Khái niệm tính dễ bị tổn thương đã được đề cập trong vài thập niên qua, đã được hình thành và phát triển từ chỗ chỉ xem xét các khái niệm đơn lẻ về tự nhiên hoặc xã hội đến các khái niệm mang tính tổ hợp cả tự nhiên và xã hội Đến nay, ngoài các yếu tố tự nhiên, xã hội, khái niệm tính dễ bị tổn thương còn mở rộng xem xét đến các yếu tố kinh tế và môi trường Vì thế khái niệm vẫn đang còn được tiếp tục hoàn thiện và phát triển, tùy thuộc vào trình độ phát triển khoa học, công nghệ (đặc biệt là công nghệ thông tin) và nhận thức của cộng đồng
Qua tổng quan một số công trình đã cho thấy sự phức tạp và tính đa dạng của vấn đề nghiên cứu Tùy vào từng bài toán đặt ra mà có sự điều chỉnh phù hợp trong cách vận dụng lý luận vào thực tiễn [38, 39, 40, 41] để lựa chọn phương pháp, bộ tiêu chí và cách thể hiện
Để triển khai các khái niệm này trong thực tế, nhiều tác giả đã đưa ra nhiều phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương khác nhau, tùy thuộc vào lập luận về việc coi trọng yếu tố này hay yếu tố khác trong các thành phần và bộ tiêu chí Trong luận án này đã lựa chọn một cách tiệm cận tổng hợp phù hợp nhất đối với việc xác định bộ chỉ số dễ bị tổn thương cho lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn, chi tiết sẽ được bàn ở các phần tiếp theo
*
Khái niệm tính dễ bị tổn thương và phương pháp tính toán nó ngày càng được phát triển từ chỗ chỉ xem xét các yếu tố đơn lẻ đến tổng hợp, từ chung chung đến cụ thể, từ đơn giản đến phức tạp, và luận án này đã lựa chọn cách tiếp cận tổng hợp để xây dựng một cơ sở khoa học đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt Phát triển theo quan điểm của IPCC (2012) về tổn thương biến đổi khí hậu, định nghĩa về tính
Trang 39dễ bị tổn thương do lũ lụt luận án sử dụng: “Tính dễ bị tổn thương là mức độ mà ở
đó một hệ thống dễ bị ảnh hưởng và khó có thể chống chịu với các tác động tiêu cực của lũ lụt, được xác định thông qua các tiêu chí nguy cơ, độ phơi nhiễm, tính nhạy
Hiện nay các nghiên cứu trong nước đang chỉ ở mức khai phá bước đầu, luận
án này không có tham vọng xây dựng 1 quy trình hoàn chỉnh mà cố gắng đưa ra cơ
sở khoa học để xây dựng bộ tiêu chí, chỉ số dễ bị tổn thương do lũ lụt cho lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn
Trang 40tế - xã hội: công, nông nghiệp, thủy sản, vv… mà còn là những thiệt hại vô hình trong các lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục và môi trường sống, vv Tổng hợp các thiệt hại đó được gói trọn trong khái niệm tính dễ bị tổn thương theo cách tiếp cận tổng hợp đã bàn ở Chương 1
Một đánh giá tính dễ bị tổn thương gây nên bởi lũ lụt được xem xét trong hai mối liên hệ chính là: (1) quy mô và tần suất lũ tăng lên trong điều kiện biến đổi khí hậu quy mô toàn cầu, việc quản lý và vận hành các công trình thủy lợi, thủy điện trên lưu vực chưa thực sự tối ưu và điều kiện thích ứng của cơ sở hạ tầng trước tai biến lũ; (2) sự phát triển quy mô dân số và kinh tế - xã hội dẫn đến sự tăng nguy cơ thiệt hại về người và của trước tai biến lũ lụt Việc xác định tính dễ bị tổn thương đối với từng khu vực cụ thể là công cụ để phòng chống nhằm giảm nhẹ những thiệt hại do lũ lụt gây ra một cách có hiệu quả nhất
Tính dễ bị tổn thương thường được xét trong bối cảnh một hiện tượng thiên tai
cụ thể, mà ở đây là lũ lụt trong mối liên hệ với các điều kiện về không gian và thời gian nhất định [69] Trong bài toán cụ thể này thì tính dễ bị tổn thương được xét trong mối quan hệ tương hỗ giữa tai biến lũ lụt và các điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội và môi trường của một lưu vực sông Việc lựa chọn một phương pháp gián tiếp hay trực tiếp, đơn giản hay phức tạp để đánh giá tính dễ bị tổn thương là phụ thuộc rất nhiều vào dữ liệu về các khía cạnh đã nêu Để làm được điều đó cần thiết