Trên cơ sở các dữ liệu thu thập được trong thời gian từ 2005 đến quý 4/2014 về các yếu tố nêu trên; luận văn đã tiến hành phân tích tác động của các yếu tố của ngân hàng đến hiệu quả hoạ
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60 34 02 01
GVHD: TS NGUYỄN THỊ MỸ DUNG
TP HCM, tháng 06/2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt
động của ngân hàng SACOMBANK” là bài nghiên cứu của chính tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có sản phẩm nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Quý Thầy Cô đã giúp tôi trang bị kiến thức, tạo môi trường điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình học tập tại trường Đại học Tài chính - Marketing
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới cô
TS Nguyễn Thị Mỹ Dung đã chỉ dẫn tận tình, nghiêm khắc và khuyến khích cho tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu này
Xin chân thành cảm ơn các tổ chức, cơ quan, cá nhân, doanh nghiệp đã hợp tác chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu, tài liệu hữu ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Tôi xin gửi lời tri ân đến những người bạn đã động viên, hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và thực hiện luận văn
Sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thành viên trong gia đình, những người luôn dành cho tác giả những tình cảm nồng ấm và sẻ chia những lúc khó khăn trong cuộc sống, luôn động viên giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu Luận văn cũng là món quà tinh thần mà tôi trân trọng gửi tặng đến các thành viên trong gia đình Trân trọng cảm ơn!
Trang 4CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ
2.1 Những vấn đề lý luận liên quan đến hiệu quả hoạt động ngân hàng 5
2.1.2 Các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính của các Ngân hàng thương mại cổ
2.2 Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng trước
Trang 53.4.3 Các kiểm định mô hình 25 3.4.3.1 Kiểm định tính dừng – Nghiệm đơn vị Uniroot Test 25
3.4.3.4 Kiểm định phương sai thay đổi Heteroscedasticity 28
4.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
4.1.3 Các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của Sacombank giai đoạn
4.1.4 Đánh giá hiệu quả hoạt động thông qua các nhân tố định tính 42 4.1.5 Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của Sacombank 43 4.2 Phân tích định tính các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Sacombank
44
4.4 Thảo luận về các biến nghiên cứu theo kết quả đối chiếu với thực tế 61
Trang 6NHTMVN: Ngân hàng thương mại Việt Nam
NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMNN: Ngân hàng thương mại nhà nước
ROA: Tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản
ROE: Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Sacombank Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Tốc độ tăng trưởng 1 số chỉ chỉ tiêu 2005-2014 34
Bảng 4.2: Tốc độ tăng trưởng chỉ tiêu nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Sacombank 2005-2014 36
Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng tổng nguồn huy động và dự nợ cho vay Sacombank 2005-2014 39
Bảng 4.4: Mô tả các biến nghiên cứu 48
Bảng 4.5: Kết quả kiểm nghiệm đơn vị 51
Bảng 4.6: Hồi quy biến phụ thuộc ROA- Mô hình (1) 53
Bảng 4.7: Kiểm định tự tương quan mô hình (1) 54
Bảng 4.8: Kiểm định phương sai sai số thay đổi mô hình (1) 55
Bảng 4.9: Kiểm định loại bớt biến ở mô hình (1) 56
Bảng 4.10: Mô hình (1) sau khi loại biến 56
Bảng 4.11: Hồi quy biến ROE - Mô hình (2) 57
Bảng 4.12: Kiểm định tự tương quan mô hình (2) 59
Bảng 4.13: Kiểm định phương sai sai số thay đổi mô hình (2) 59
Bảng 4.14: Kiểm định loại bớt biến ở mô hình (2) 60
Bảng 4.15: Mô hình (2) sau khi loại biến 61
Bảng 4.16: Dấu các biến nghiên cứu trên thực tế 62
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Hình 3.1 : Quy trình nghiên cứu 16
Hình 3.2 : Mô hình nghiên cứu 18
Biểu đồ 4.1: Dư nợ huy động và tín dụng của Sacombank giai đoạn 2008-2014 31
Biểu đồ 4.2: Thu từ dịch vụ của Sacombank 2008-2014 32
Biểu đồ 4.3: Lợi nhuận của Sacombank 2008-2014 32
Biểu đồ 4.4: Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của Sacombank 2005-2014 33
Biểu đồ 4.5: Cơ cấu vốn Sacombank giai đoạn 2005-2013 35
Biểu đồ 4.6: Tổng tài sản Sacombank 2005-2014 37
Biểu đồ 4.7: Tỷ lệ cho vay trên huy động Sacombank 2005-2014 38
Biểu đồ 4.8: Hệ số an toàn vốn CAR Sacombank 2005-2014 40
Biểu đồ 4.9 : Tỷ lệ nợ xấu Sacombank 2005 - 2014 41
Biểu đồ 4.10: Tỷ lệ thu lãi/Tổng thu nhập Sacombank giai đoạn 2005 - 2014 42
Trang 9Tóm tắt
Luận văn này đã tổng hợp, hệ thống hóa và vận dụng các nghiên cứu từ trước tới nay về nợ tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp, đặc biệt là việc ứng dụng các mô hình và kết quả nghiên cứu của các tác giả tiêu biểu như Sehrish et al.(2011), Staikouras và Wood (2004), Athanasoglou et al.(2006), Ong và Teh (2013), Havrylchyk et al (2006), Iannotta et al (2007); Pasiouras và Kosmidou (2007); Athanasoglou et al (2008); Alexiou và Sofoklis (2009), Garcia-Herrero et al (2009) Hoffmann (2011), Nsambu Kijjambu Frederick (2014).…vào trả lời các câu hỏi nghiên cứu: (1) hiện trạng hoạt động của ngân hàng Sacombank trong thời gian qua như thế nào? (2) các yếu tố nào ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của Sacombank? Mức độ ảnh hưởng đó như thế nào? (3) Ba là, giải pháp nào để nâng cao hiệu quả hoạt động của Saccombank?
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp được thu thập và tính toán từ các báo cáo thuế trong giai đoạn quý 1/2005 đến quý 4/2014 của Sacombank Các yếu tố được nghiên cứu bao gồm: Đòn bẩy tài chính, thanh khoản, quy mô ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn,
dự phòng rủi ro, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, lãi suất, ROA và ROE
Trên cơ sở các dữ liệu thu thập được trong thời gian từ 2005 đến quý 4/2014 về các yếu tố nêu trên; luận văn đã tiến hành phân tích tác động của các yếu tố của ngân hàng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng theo mô hình nghiên cứu theo phương pháp hồi quy
dữ liệu bằng phần mềm thống Eview 8.0 như sau:
- Mô hình nghiên cứu có hiện tượng đa cộng tuyến, nhưng chúng ta đã xử lý khuyết tật đó bằng cách loại các biến đó ra khỏi mô hình nghiên cứu Bên cạnh đó, mô hình nghiên cứu không có hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi
- Việc kiểm định tính dừng của mô hình, và xử lý bằng các sai phân của biến đã tránh cho mô hình vướng phải hiện tượng hồi quy giả, giúp mô hình đưa ra những kết luận xác thực hơn
- Mô hình hồi quy đã chứng minh được mối quan hệ giữa các biến tài chính và hiệu quả hoạt động của ngân hàng Việc các biến trong mô hình ước lượng được hơn 70% biến động của biến phụ thuộc cho thấy sự phù hợp của mô hình nghiên cứu và các biến độc lập được lựa chọn là chính xác, hợp lý, có căn cứ
Trang 10o Các biến tài chính như: biến mức độ đa dạng hóa danh mục đầu tư (INVESTTA), chi phí hoạt động trên tổng thu nhập (OPEXTI), dự phòng rủi ro (LLPTL) tác động đến hiệu quả hoạt động ở mức ý nghĩa 5%
o Một số biến tài chính khác như: tỷ lệ thanh khoản (LA), chi phí lãi vay trên nguồn vốn (INTEXEQ), thu nhập từ lãi vay (NIMTA), đòn bẩy tài chính (FL) không
có tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Sacombank
o Các biến kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát và lãi suất cơ bản mà NHNN quy định không có tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Sacombank
Trên cơ sở các nghiên cứu đó, luận văn đưa ra một số kết luận mang tính khoa học và các kiến nghị phù hợp cho ngân hàng và các cơ quan chức năng
Trang 11CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiệu quả hoạt động của ngân hàng phản ánh những lợi ích đạt được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của ngân hàng trên cơ sở so sánh lợi ích thu được với chi phí
bỏ ra trong suốt qúa trình sản xuất kinh doanh của ngân hàng Mặt khác, nó còn biểu hiện mức độ phát triển ngân hàng theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình sản xuất nhằm thực hiện được mục tiêu kinh doanh Như vậy hiệu quả hoạt động chính là chỉ tiêu phản ánh trình độ và khả năng quản lý của ngân hàng Để đạt được hiệu quả cao đòi hỏi các nhà quản trị phải có các hiểu biết đúng đắn
về bản chất của hiệu quả kinh doanh, bản chất của các công cụ tài chính, các nguyên nhân ảnh hưởng… Từ đó đề ra các quyết định chiến lược và quyết sách đúng trong quá trình lựa chọn các cơ hội hấp dẫn cũng như tổ chức, quản lý và điều khiển hoạt động kinh doanh nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất
Thực tế hiện nay, hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ và trở thành xu hướng tất yếu của thời đại Khủng hoảng kinh tế năm 2008 đã đẩy hàng loạt các định chế tài chính phá sản và dẫn đến sự suy giảm kinh tế tại khắp các quốc gia trên thế giới Cùng chịu tác động ảnh hưởng đó, các doanh nghiệp trong tất cả các lĩnh vực của Việt Nam cũng đã nhận được rất nhiều những cơ hội cũng như gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề
do hội nhập kinh tế quốc tế mang đến Trong đó, ngân hàng là một trong những lĩnh vực nhạy cảm nên phải đối mặt với rất nhiều thách thức như sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn Để giữ được vị thế, ngân hàng cần phải có những điều chính phù hợp để nâng cao khả năng cạnh tranh, hoạt động an toàn và hiệu quả hơn Vì thế, các ngân hàng cần phải tăng cường nâng cao hiệu quả hoạt động của mình mà hiệu quả tài chính
là thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của một ngân hàng Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín là một trong những ngân hàng phát triển hàng đầu tại Việt Nam Sacombank đã có những chiến lược phát triển phù hợp với từng thời kỳ, được xem là một trong những ngân hàng tốt nhất Việt Nam
Tuy nhiên do ảnh hưởng chung của tình hình kinh tế khó khăn Năm 2012, lợi nhuận của Sacombank nói riêng và toàn bộ hệ thống ngân hàng nói chung sụt giảm mạnh và không hoàn thành được chỉ tiêu đưa ra
Trang 12Trước tình hình đó, việc nâng cao hiệu quả tài chính trong bối cảnh cạnh tranh hội nhập nhiều khó khăn và thách thức như hiện nay là nền tảng cho sự phát triển lâu dài của Sacombank theo những mục tiêu mà Ngân hàng đang hướng đến và giữ vững
vị thế là một ngân hàng lành mạnh nhất trong hệ thống ngân hàng cổ phần tại Việt Nam Đây chính là lý do tôi chọn đề tài “PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG SACOMBANK” làm luận văn thạc
Mục tiêu cụ thể của luận văn là:
Phân tích hiện trạng hiệu quả hoạt của ngân hàng Sacombank trong thời gian qua Qua đó xác định các yếu tố chính tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Mức độ ảnh hưởng tăng, giảm hiệu quả hoạt động của Sacombank Từ đó, đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn cần trả lời những câu hỏi nghiên cứu sau:
Một là, hiện trạng hoạt động của ngân hàng Sacombank trong thời gian qua như thế nào?
Hai là, các yếu tố nào ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của Sacombank? Mức độ ảnh hưởng đó như thế nào?
Ba là, giải pháp nào để nâng cao hiệu quả hoạt động của Saccombank?
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Tác giả sẽ sử dụng các chỉ số thông qua các giá trị sổ sách và các chỉ số thông qua giá trị thị trường
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Chủ yếu tập trung tại NH TMCP Sài Gòn Thương Tín
Trang 13Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ quý 1/2005 - quý 4/2014
Giới hạn nghiên cứu: Do ngân hàng Sacombank chỉ bắt đầu công bố báo cáo tài chính ra công chúng theo quý từ năm 2005; còn giai đoạn từ năm 2001 đến 2005, ngân hàng không công bố báo cáo tài chính nên nghiên cứu không thu thập được số liệu Dẫn đến trong nghiên cứu này, chúng ta chỉ thu thập số liệu được từ năm quý 1/ 2005 đến quý 4/2014
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định lượng, sử dụng các biến độc lập như Đòn bẩy tài chính, thanh khoản, quy mô ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn, dự phòng rủi ro, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, lãi suất tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng trên cơ sở các nghiên cứu Sehrish et al.(2011), Staikouras và Wood (2004), Athanasoglou et al.(2006), Ong và Teh (2013), Havrylchyk et al (2006), Iannotta et al (2007); Pasiouras
và Kosmidou (2007); Athanasoglou et al (2008); Alexiou và Sofoklis (2009), Herrero et al (2009) Hoffmann (2011), Nsambu Kijjambu Frederick (2014)
Garcia-Nghiên cứu dựa trên tổng hợp các lý thuyết về mối quan hệ, ảnh hưởng của các yếu tố bên trong và bên ngoài của ngân hàng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Sau khi xác định các yếu tố bên trong và bên ngoài của ngân hàng tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng; tác giả đã sử dụng cách tiếp cận tiếp theo phương pháp phân tích định lượng hồi quy OLS, từ đó rút ra các kết luận từ các kết quả phân tích
Sử dụng dữ liệu thứ cấp, tổng hợp thông qua phần mềm Excel sau đó được xử lý bằng phần mềm Eview 8 để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra Một số kỹ thuật phân tích được sử dụng trong mô hình: (1) Thống kê mô tả dữ liệu; (2) Hồi quy ước lượng các tác động bằng mô hình OLS; (3) Kiểm định sự phù hợp của mô hình; (4) Kiểm định các giả thiết thống kê về hệ số tác động, về đa cộng tuyến, về phương sai sai số thay đổi, về tương quan chuỗi
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài mang một số ý nghĩa khoa học và thực tiễn như sau:
Ý nghĩa khoa học: Trong vấn đề quản lý ngân hàng, ảnh hưởng của yếu tố bên
trong và bên ngoài ngân hàng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng đã nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu công phu và sâu sắc Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng
Trang 14đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại nhìn chung phân loại thành hai: các yếu
tố bên trong và bên ngoài Các yếu tố nội bộ chủ yếu chịu ảnh hưởng của quyết định quản lý của ngân hàng và mục tiêu chính sách, trong khi các yếu tố bên ngoài tập trung vào lĩnh vực công nghiệp có liên quan và các biến kinh tế vĩ mô phản ánh môi trường kinh tế và pháp lý mà các ngân hàng hoạt động An toàn về vốn của ngân hàng đề cập đến nguồn vốn của các ngân hàng để đối phó với bất kỳ cú sốc mà một ngân hàng có thể gặp phải Bên cạnh đó, có ý kiến lại đưa ra bằng chứng tiêu cực tác động của vốn vào lợi nhuận ngân hàng Những quan điểm nghiên cứu trên đòi hỏi các nhà nghiên cứu sau này cần phải có sự kế thừa một cách có phê phán, nhìn nhận và cập nhật các diễn biến mới, hiện tượng mới phù hợp với từng thời kỳ cụ thể để từ đó đánh giá, lựa chọn và kế thừa, phát triển các lý luận phù hợp với tình hình mới
Ý nghĩa thực tiễn: Trong giai đoạn vừa qua, lĩnh vực tài chính ngân hàng là một
trong các lĩnh vực biến động nhiều nhất Lợi nhuận của các ngân hàng giảm mạnh và các yếu tố bất lợi bộc lộ nhiều hơn Những vấn đề đó sẽ được giải thích một cách cụ thể và chi tiết hơn, có tính xác thực hơn thông qua nghiên cứu định lượng về tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài của ngân hàng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Từ đó, ngân hàng sẽ có phương án để điều chỉnh cho phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động của mình Ngoài ta, đây là tài liệu tham khảo có giá trị cho các ngân hàng, trường đại học và các sinh viên ngành tài chính ngân hàng
1.7 Bố cục của nghiên cứu
Với vấn đề nêu trên đề tài được cấu trúc như sau
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận và các nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Chương 3: Mô hình nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 15CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
2.1 Những vấn đề lý luận liên quan đến hiệu quả hoạt động ngân hàng
2.1.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động
Hiệu quả hoạt động của ngân hàng đo lường khả năng của một tổ chức trong việc quản lý các nguồn tài nguyên bằng nhiều cách khác nhau để phát triển lợi thế cạnh tranh (Iswatia, & Anshoria, 2007) Có hai loại hiệu quả hoạt động: hiệu quả tài chính
và hiệu suất phi tài chính Hoạt động tài chính nhấn mạnh vào các biến liên quan trực tiếp đến báo cáo tài chính Hiệu suất của công ty được đánh giá bằng thước đo Thước
đo đầu tiên là năng suất của công ty, hoặc đầu vào chế biến thành kết quả đầu ra có hiệu quả Thứ hai là thước đo lợi nhuận, hoặc mức độ mà thu nhập của công ty là lớn hơn chi phí của nó Thước đo thứ ba là vị trí trên thị trường, hay mức độ mà giá trị thị trường của công ty vượt quá giá trị sổ sách (Walker, 2001)
Hiệu quả hoạt động là một khái niệm khó đo lường Nó đã được định nghĩa là kết quả của hoạt động, và các biện pháp thích hợp được lựa chọn để đánh giá hoạt động của công ty được xem là phụ thuộc vào loại tổ chức được đánh giá, và các mục tiêu cần đạt được thông qua đánh giá đó Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý chiến lược đã được cung cấp một loạt các mô hình để phân tích hiệu quả tài chính Tuy nhiên, ít sự đồng thuận đã nổi lên trên những gì tạo nên một tập hợp lệ của tiêu chuẩn hiệu suất Ví dụ, các nhà nghiên cứu cho rằng các nghiên cứu về hoạt động tài chính phải bao gồm nhiều phân tích tiêu chuẩn Nhìn đa chiều của hiệu suất có nghĩa là mô hình khác nhau hoặc mô hình của mối quan hệ giữa hoạt động doanh nghiệp và các yếu tố của nó sẽ xuất hiện để chứng minh các bộ khác nhau của mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và độc lập trong các mô hình ước tính (Ostroff và Schmidt, 1993)
Trong nghiên cứu này, chúng ta sử dụng hiệu quả tài chính của ngân hàng làm
thước đo cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Trang 162.1.2 Các yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các Ngân hàng
Thanh khoản
Thanh khoản đề cập đến mức độ mà các nghĩa vụ nợ đến hạn trong vòng 12 tháng tiếp theo có thể được thanh toán từ tiền mặt hoặc tài sản dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt Nó thường được đo bằng tài sản hiện tại để nợ ngắn hạn (tỷ lệ hiện hành) Nó cho thấy khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt một cách nhanh chóng và phản ánh khả năng của công ty quản lý vốn lưu động khi giữ ở mức bình thường Một công ty có thể sử dụng tài sản lưu động để tài trợ cho các hoạt động đầu tư của mình khi tài chính bên ngoài không có sẵn hoặc nó là quá tốn kém Mặt khác, tính thanh khoản cao hơn sẽ cho phép một công ty để đối phó với huống bất ngờ và để đối phó với nghĩa vụ của mình trong thời gian thu nhập thấp (Liargovas và Skandalis, 2008)
Quy mô Công ty
Quy mô của công ty ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của mình bằng nhiều cách Các doanh nghiệp lớn có thể khai thác lợi thế kinh tế của quy mô và như vậy là hiệu quả hơn so với các công ty nhỏ Ngoài ra, các công ty nhỏ thường yếu hơn so với các công ty lớn; do đó nó thường khó khăn để cạnh tranh với các công ty lớn nhất trong thị trường cạnh tranh cao Mặt khác, khi các công ty trở nên lớn hơn, nó có thể bị thiếu hiệu quả, dẫn đến hiệu quả tài chính kém hơn Do đó, về lý thuyết không rõ ràng
về mối quan hệ chính xác giữa kích thước và hiệu suất (Majumdar, 1997)
Tuổi công ty
Một số nghiên cứu trước đó (Batra, 1999, Lumpkin và Dess, 1999) lập luận rằng tuổi công ty có ảnh hưởng đến hiệu quả của nó (Sorensen và Stuart, 2000) cho rằng thói quen tổ chức hoạt động trong các công ty cũ có xu hướng làm cho họ không linh
Trang 17hoạt và không thể đánh giá cao những thay đổi trong môi trường Kết quả là các công
ty mới và nhỏ hơn thường lấy đi thị phần mặc dù các công ty này thường khó khăn như thiếu vốn, thương hiệu và uy tín của công ty với các công ty lớn hơn (Kakani, Saha và Reddy, 2001)
Liên quan đến tuổi công ty, các doanh nghiệp lớn tuổi có nhiều kinh nghiệm nên không dễ bị ảnh hưởng bởi những thay đổi nên hiệu quả tài chính của họ có thể cao hơn Các công ty lớn hơn cũng có thể được hưởng lợi từ hiệu ứng danh tiếng, cho phép
họ kiếm được lợi nhuận cao hơn trên doanh số bán hàng Mặt khác, các doanh nghiệp lớn tuổi dễ bị trì trệ, và quan liêu theo thời gian; họ có thể đã phát triển thói quen, không tiếp cận với những thay đổi trong điều kiện thị trường, trong trường hợp này mối quan hệ nghịch đảo giữa tuổi công ty và khả năng sinh lời hoặc tăng trưởng có thể được quan sát thấy (Liargovas và Skandalis, 2008)
An toàn vốn
Tỷ lệ an toàn vốn, còn được gọi là vốn rủi ro tỷ lệ tài sản có trọng số, được tính bằng cách phân chia Vốn chủ sở hữu để Tổng tài sản và ước tính một tỷ lệ phần trăm rủi ro ngân hàng hoặc khả năng bảo vệ người gửi tiền từ ngân hàng thất bại (Mlyneux, 1993), cho biết trong nghiên cứu của mình một mối quan hệ tích cực giữa vốn chủ sở hữu và lợi nhuận ngân hàng trong trường hợp giảm chi phí vốn
Chất lượng tài sản
Đây là tỷ lệ của Tổng các khoản vay chia cho Tổng tài sản, tỷ lệ này quyết định mức độ sử dụng tài sản trong thời hạn cho vay Như vay là nguồn thu nhập chính của ngân hàng và cũng được dự kiến sẽ có tác động tích cực đến lợi nhuận, cao hơn tỷ lệ này, lợi nhuận cao hơn các ngân hàng trong một nền kinh tế ổn định và điều tồi tệ nhất, mặt khác khi khách hàng vay rơi trả lời hứa của họ
2.1.2.2 Yếu tố bên ngoài
Tăng trưởng của nền kinh tế
Tình trạng phát triển của nền kinh tế là một nhân tố vĩ mô có tác động trực tiếp đến hoạt động của NHTM Trong điều kiện nền kinh tế phát triển tăng trưởng và ổn định, thu nhập của người dân được đảm bảo và ổn định thì nhu cầu tích luỹ của dân cư cao hơn từ đó lượng tiền gửi vào Ngân hàng tăng lên hay khả năng huy động vốn tăng lên Mặt khác khi nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định thì nhu cầu sử dụng vốn tăng lên, Ngân hàng có thể mở rộng khối lượng tín dụng bằng cách tăng lãi suất huy động
Trang 18nhằm kích thích người dân gửi tiền vào Ngân hàng để tạo nguồn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu tiền tín dụng của nền kinh tế Ngược lại, khi nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, thu nhập thực tế của người lao động giảm và ngày càng biến động, điều này sẽ làm giảm lòng tin của khách hàng vào sự ổn định của đồng tiền hơn nữa khi thu nhập thấp thì lượng tiền nhàn rỗi trong toàn nền kinh tế sẽ giảm xuống mà lượng tiền dân cư
đã ký thác vào hệ thống Ngân hàng còn có nguy sơ bị rút ra Khi đó Ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong công tác huy động vốn, quản ký dự trữ và củng cố lòng tin của khách hàng vào hệ thống Ngân hàng Đồng thời kinh tế suy thoái khiến nhu cầu vay vốn ngân hàng giảm sút Thêm vào đó, rủi ro tín dụng cũng tăng lên ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của công ty
Lạm phát
Trong một nền kinh tế có lạm phát cao, mặc dù lãi suất cũng sẽ được ngân hàng nâng cao để thu hút vốn huy động nhưng ngân hàng cũng chỉ có thể nâng cao đến một mức nào đó bởi nếu lãi suất huy động cao thì lãi suất cho vay cũng sẽ tăng, điều này ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế Nhất là đối với nền kinh tế Việt Nam, lạm phát thường rất cao, tốc độ tăng trưởng của lãi suất không theo kịp tốc độ tăng của lạm phát Điều này dẫn đến tình trạng người dân không muốn gửi tiền vào ngân hàng vì mức sinh lời không cao thậm chí là lỗ Vì vậy có thể nói, lạm phát có ảnh hưởng lớn đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng thông qua lãi suất Mặt khác, lạm phát còn làm
giảm thu nhập của ngân hàng từ việc cho vay
Lãi suất ngân hàng
Lãi suất là nhân tố có tác động trực tiếp đến hiệu quả tài chính của ngân hàng Khi lãi suất huy động tăng, thu nhập ròng của ngân hàng có nguy cơ giảm xuống do chi phí lãi tăng lên nhất là trong trường hợp mức lãi suất ngắn hạn cao hơn dài hạn đồng thời phỉ trích dự trữ bắt buộc khiến cho chi phí huy động thực tế tăng cao
Lãi suất huy động tăng thường kéo theo lãi suất cho vay tăng, điều này có thể khiến cho rủi ro tín dụng tăng cao đối với ngân hàng và hạn chế khả năng tiếp cận vốn của một số đối tượng
Với những ngân hàng quản lý tài sản nợ và tài sản có kém hiệu quả thì biến động lãi suất sẽ gây ra rủi ro lãi suất cho ngân hàng Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến thanh khoản cũng như lợi nhuận của ngân hàng
Trang 192.2 Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng trước đây
2.2.1 Một số mô hình nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại được phân loại thành: các yếu tố bên trong và bên ngoài (Sehrish et al., 2011) Các yếu
tố nội bộ chủ yếu chịu ảnh hưởng của quyết định quản lý và mục tiêu, chính sách của ngân hàng (Staikouras và Wood, 2004); trong khi đó, các yếu tố bên ngoài tập trung vào lĩnh vực công nghiệp có liên quan và các biến kinh tế vĩ mô phản ánh môi trường kinh tế và pháp lý mà các ngân hàng hoạt động (Athanasoglou et al., 2006) An toàn về vốn của ngân hàng đề cập đến nguồn vốn của các ngân hàng để đối phó với các cú sốc
mà ngân hàng có thể phải đối mặt (Ong và Teh, 2013) Nghiên cứu thực nghiệm của Havrylchyk et al (2006); Iannotta et al (2007); Pasiouras và Kosmidou (2007); Athanasoglou et al (2006); Alexiou và Sofoklis (2009) và Garcia-Herrero et al (2009) cho thấy tác động tích cực của vốn vào lợi nhuận ngân hàng Mặt khác, các nghiên cứu của Hoffmann (2011) lại đưa ra bằng chứng tiêu cực tác động của vốn vào lợi nhuận ngân hàng Điều đó có nghĩa là tỷ lệ vốn cao hơn dẫn đến giảm lợi nhuận ngân hàng Hàm ý của nghiên cứu này là xây dựng vốn điều lệ cao có thể có tác động tiêu cực đến lợi nhuận và cuối cùng là giảm hiệu suất ngân hàng Ta thấy các nghiên cứu đã chứng minh được: vai trò rất quan trọng của vốn đối với lợi nhuận ngân hàng Nguồn vốn đó có thể tác động tích cực, hoặc cũng có thể tác động tiêu cực tới lợi nhuận của ngân hàng Đây là một kết luận quan trọng của các nghiên cứu và làm tiền đề để các nhà nghiên cứu sau tham khảo và phát triển Tuy nhiên, do kết quả mà nghiên cứu đưa
ra khác nhau nên trong nghiên cứu của mình, chúng tôi sẽ tiến hành đánh giá lại để đưa
ra kết luận cho các ngân hàng ở Việt Nam
Chi phí hoạt động ngân hàng được xem là một trong các yếu tố quyết định và là điều kiện tiên quyết để cải thiện hiệu suất của ngân hàng, vì chi phí kiểm soát và hiệu quả quản lý có thể đóng góp tích cực vào việc thực hiện quản lý của các ngân hàng thương mại Ngoài ra, chi phí lãi vay là một phần của chi phí ngân hàng, chi phí này cao hơn chi phí lãi suất, và thấp hơn tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng Điều đó có nghĩa là chi phí lãi vay là chi phí ngân hàng cần được quản lý hiệu quả để cải thiện lợi nhuận ngân hàng Các nghiên cứu cho thấy các khoản tiền gửi có giá rẻ và
ổn định so với lựa chọn thay thế khác như vốn chủ sở hữu và vốn vay (Ngân hàng của
Trang 20Uganda, năm 2010) Ta thấy, chi phí tài chính cao hơn có tác động tiêu cực đến lợi nhuận ngân hàng Các nghiên cứu của Molyneux và Thornton (1992); Chaudhry và cộng sự (1995) và Goddard và cộng sự (2004) cho rằng: cơ cấu vốn cũng là một trong những yếu tố quyết định chính của hoạt động ngân hàng Tác động của tăng trưởng tài sản ngân hàng đến lợi nhuận có thể tích cực trên một giới hạn nhất định, tuy nhiên, ngoài giới hạn đó những tác động có thể là tiêu cực (Eichengreen và Gibson, 2001) Đa dạng hóa danh mục đầu tư có thể tăng thu nhập ngoài lãi dẫn đến tăng lợi nhuận ngân hàng (Chiorazzo et al., 2008) Tuy nhiên, các nghiên cứu khác; Acharya và cộng sự (2000) De Long (2001); Morgan và Katherine (2003); Stiroh (2004); De-Young và Rice (2004); cũng như Stiroh và Rumbie (2006), chỉ ra rằng đa dạng hơn của các giao dịch ngân hàng không tăng lợi nhuận ngân hàng, mà thay vào đó có thể làm giảm lợi nhuận, do đó tối ưu mức độ hoạt động thu nhập ngoài lãi phải được thiết lập Đây là những kết luận quan trọng của các nghiên cứu và đã chỉ ra các yếu tố quan trọng tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Những yếu tố này là những yếu tố cơ bản,
có tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng ở nhiều quốc gia và chúng tôi kỳ vọng những yếu tố này cũng tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Sacombank nói riêng và phù hợp với thị trường tài chính Việt Nam
Tác động của lạm phát đến lợi nhuận ngân hàng phụ thuộc vào việc lạm phát có đúng dự đoán của các nhà quản lý ngân hàng (Perry, 1992) Nhận định trên là hoàn toàn hợp lý, bởi vì thông thường các nhà quản lý đều đưa ra lạm phát kỳ vọng của mình, và hướng các hoạt động cũng như đề ra các tiêu chí dựa trên lạm phát kỳ vọng
đó Do vậy, khi lạm phát đúng như kỳ vọng của nhà quản lý thì ngân hàng hoạt động đúng hướng và đạt được hiệu quả như nhà quản lý tính toán
Bên cạnh đó, nghiên cứu "Các yếu tố quyết định về cơ cấu vốn: định hướng thị trường vốn với định hướng ngân hàng" của Antoniou và cộng sự (2007) đã phân tích làm thế nào các công ty hoạt động trong nền kinh tế theo định hướng thị trường vốn (Vương quốc Anh và Hoa Kỳ) và các nền kinh tế theo định hướng ngân hàng (Pháp, Đức và Nhật Bản) xác định cơ cấu nguồn vốn của họ Sử dụng dữ liệu bảng và phương pháp hệ thống GMM 2 bước, nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đòn bẩy được ảnh hưởng tích cực của các tài sản hữu hình và kích thước của công ty, nhưng lại không tác động đến
sự gia tăng lợi nhuận công ty, cơ hội tăng trưởng và hiệu quả giá cổ phiếu trong cả hai nền kinh tế Tỷ lệ đòn bẩy cũng bị ảnh hưởng bởi các điều kiện thị trường, trong hoạt
Trang 21động của các công ty Mức độ và hiệu quả của các nhân tố này phụ thuộc vào truyền thống pháp lý và tài chính của đất nước đó Các kết quả cũng xác nhận rằng các công
ty có tỷ lệ đòn bẩy mục tiêu, với các công ty của Pháp là nhanh nhất trong việc điều chỉnh cơ cấu vốn của họ đối với mức mục tiêu của họ, và Nhật Bản là chậm nhất Nhìn chung, cơ cấu vốn của một công ty bị ảnh hưởng nhiều bởi môi trường kinh tế và các
tổ chức của nó, quản trị doanh nghiệp, hệ thống thuế, mối quan hệ vay-cho vay, tiếp xúc với thị trường vốn, và mức độ bảo vệ nhà đầu tư trong nước mà công ty hoạt động Việc sử dụng mô hình nghiên cứu 2 bước GMM là bước đi rất mới của nghiên cứu, tuy nhiên, việc sử dụng mô hình này cũng gặp nhiều vấn đề xuất phát từ cả bản thân nhà nghiên cứu và sự chưa phổ biến của mô hình
Nghiên cứu "Cơ cấu sở hữu vốn cổ phần và hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ dữ liệu bảng của Hàn Quốc" của Lee, (2008) kiểm tra ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu vốn
cổ phần trên hoạt động tài chính công ty tại Hàn Quốc Nó tập trung vào vai trò của hai thước đo chính của cơ cấu vốn chủ sở hữu: tính tập trung của quyền sở hữu (việc phân phối cổ phiếu thuộc sở hữu của cổ đông lớn) và danh tính của chủ sở hữu (đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài và đầu tư tổ chức) Mô hình sử dụng dữ liệu bảng cho Hàn Quốc trong 2000-2006, nghiên cứu cho thấy hiệu quả của công ty đo bằng tỷ lệ lợi nhuận kế toán trên tài sản được cải thiện do sự tập trung của quyền sở hữu tăng lên, nhưng những tác động của quyền sở hữu nước ngoài và sở hữu có tổ chức là không đáng kể Nghiên cứu cũng tìm thấy rằng có tồn tại một mối quan hệ đồng biến giữa tính tập trung của quyền sở hữu và hiệu quả hoạt động của công ty Các kết quả thực nghiệm làm sáng tỏ vai trò của quyền sở hữu trong hiệu quả của công ty, và do đó cung cấp những kết quả mà các nhà hoạch định chính sách quan tâm trong việc cải thiện hệ thống quản trị doanh nghiệp trong một nền kinh tế mới nổi như Hàn Quốc Nghiên cứu "Các yếu tố quyết định hiệu suất của công ty niêm yết ở Indonesia" của Prasetyantoko & Parmono, 2008 chỉ ra các yếu tố tác động đến hiệu suất của công
ty của công ty niêm yết ở Indonesia, đặc biệt là do cuộc khủng hoảng tài chính năm
1997 Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp có tác động tích cực đến lợi nhuận công ty, nhưng nó không liên quan đến vốn hóa thị trường Nó có nghĩa là quy
mô doanh nghiệp là vấn đề về giá trị cơ bản của các công ty, nhưng nó không phải là yếu tố quan trọng đối với giá trị thị trường của các công ty Bằng cách sử dụng dữ liệu bảng của 238 công ty niêm yết tại Jakarta Stock Exchange (JSX) trong giai đoạn 1994
Trang 22- 2004, nghiên cứu cũng tìm thấy rằng các yếu tố vĩ mô là các biến quan trọng hơn gây ảnh hưởng đến hiệu quả của công ty, chứ không phải là các yếu tố cụ thể trong công ty
Nó có thể là do cuộc khủng hoảng lớn năm 1997 Các kết quả cũng cho thấy những vấn đề về tác động của vốn chủ sở hữu đến hiệu quả của công ty Bằng chứng cho thấy các công ty có sở hữu nước ngoài đa số có hiệu quả cao hơn nhiều so với các doanh nghiệp sở hữu trong nước ở cả hai phương pháp đo lường là lợi nhuận trên tài sản (ROA) và vốn hóa thị trường Đây là một kết luận quan trọng cho thấy thực trạng thiếu hiệu quả của các công ty sở hữu trong nước khi đem so sánh với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Thực trạng này không chỉ đúng với các doanh nghiệp ở Indonesia mà còn đúng với các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam cũng không nằm ngoài các nước đó
Nghiên cứu của Ddumba-Ssentamu (1993) đã tìm hiểu vai trò của các ngân hàng thương mại huy động huy động ở Uganda; còn Kasekende và Atingo-Ego (2003) tập trung vào tự do hóa tài chính và ý nghĩa của nó đối với hệ thống tài chính trong nước, kết quả chỉ ra rằng tự do hóa lĩnh vực tài chính có tác động tích cực và đạt hiệu quả điều tiết trong ngành ngân hàng
Matama (2008) tập trung vào quản trị tài chính doanh nghiệp của ngân hàng thương mại ở Uganda Các kết quả từ nghiên cứu này chỉ ra rằng quản trị doanh nghiệp chiếm 34,5% tổng hoạt động tài chính, đóng góp đáng kể vào hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Ngoài ra, Matama (2008) cũng chứng minh thấy sự yếu kém của các ngân hàng thương mại trong nước so với các ngân hàng thương mại nước ngoài có liên quan đến nguyên nhân quyền sở hữu, mặc dù ông không bao giờ đề cập đến những nguyên nhân tự gây ra
Các nghiên cứu của Nanyonjo (2002) về ảnh hưởng của cấu trúc của ngành ngân hàng Uganda tới khả năng sinh lời trong thời gian 1993-1999 Nghiên cứu này đã được phát triển bởi Mugume (2010) đã xác định sức mạnh tương đối của sức mạnh thị trường và hiệu quả trong việc giải thích các ngân hàng lợi nhuận Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sức mạnh thị trường và tập trung đã có một tác động tích cực đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại ở Uganda
Các nghiên cứu của Bategeka và Okumu (2010) tập trung vào tự do hóa ngành ngân hàng Uganda Kết quả cho thấy một số ngân hàng trong nước thực hiện tốt hơn so với các ngân hàng nước ngoài trong việc cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp vừa
Trang 23và nhỏ, cùng với hộ gia đình nông thôn có thu nhập thấp Ngân hàng nước ngoài có xu hướng chọn các giao dịch sinh lợi cao nhất
Trong nghiên cứu “Factors Affecting Performance of Commercial Banks in Uganda A Case for Domestic Commercial Banks ” của Nsambu Kijjambu Frederick
đã thiết lập các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng ở Uganda Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy, áp dụng cho các ngân hàng thương mại trong nước và nước ngoài trong giai đoạn 2000-2011 Nghiên cứu đã phát hiện hiệu quả quản lý, chất lượng tài sản, thu nhập từ lãi, an toàn vốn và lạm phát ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại trong nước
2.2.2 Một số mô hình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, tác giả Võ Hồng Đức, Phan Bùi Gia Thủy (2012) [9](Tài liệu tham khảo), đã nghiên cứu về tác động của đặc điểm Hội đồng quản trị đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Trong đó, đặc điểm của HĐQT được đo lường các biến, trong đó
có biến tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT, mà tác giả muốn nghiên cứu trong đề tài của mình Đồng thời, hiệu quả hoạt động công ty được đo lường bằng chỉ số Tobin’s q Mẫu nghiên cứu bao gồm 90 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM trong giai đoạn 2006 – 2011 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động
Tác giả Liễu Thu Trúc và Võ Thành Danh (2012) [3](tài liệu Tiếng Việt) với nghiên cứu: “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của
hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2006-2009” Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2006-2009 bằng cách sử dụng hai phương pháp phân tích tổng năng suất nhân tố và phương pháp phân tích bao
dữ liệu Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ các báo cáo thường niên của 22 NHTMCP giai đoạn 2006-2009 Kết quả nghiên cứu cho thấy: thứ nhất, hiệu quả kinh tế của hệ thống NHTMCP đang có xu hướng tăng thể hiện qua chỉ số hiệu quả kinh tế (CE) bình quân luôn cao và tăng dần qua các năm Tuy nhiên, yếu tố phi hiệu quả kinh tế phần lớn là do yếu kém về phân bổ nguồn lực thể hiện qua hai chỉ số hiệu quả kỹ thuật (TE)
và hiệu quả phân bổ (AE) đạt ở mức thấp Thứ hai, hiệu quả hoạt động kinh doanh chung (TE) chưa cao Nói cách khác, mức độ không hiệu quả của các NHTMCP còn tương đối cao, khoảng 7,7% Trong đó, các nhân tố hiệu quả kỹ thuật thuần của các
Trang 24NHTMCP đóng góp vào hiệu quả hoạt động kinh doanh chung là lớn hơn so với hiệu quả theo quy mô Thứ ba, số lượng các NHTMCP có trạng thái hiệu quả theo quy mô giảm dần - DRS đang trên xu hướng giảm dần: từ 17 ngân hàng trong năm 2007 còn lại
8 ngân hàng trong năm 2009 Tuy nhiên, không có ngân hàng nào thuộc nhóm quy mô lớn và quy mô trung bình đạt trạng thái hiệu quả theo quy mô tăng dần-IRS Thứ tư, khi môi trường kinh doanh trở nên ổn định hơn thì ngân hàng có quy mô càng nhỏ càng đạt hiệu quả kinh tế-CE, và hiệu quả quy mô-SE cao hơn Ngược lại, trong điều kiện môi trường kinh doanh bất ổn hơn, kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng có quy mô lớn lại ít bị sụt giảm hơn Thứ năm, nguyên nhân chính làm cho TFP suy giảm là do yếu tố phi hiệu quả về mặt công nghệ gây ra Thứ sáu, các NHTMCP quy mô lớn sẽ có lợi thế về chi phí hơn các NHTMCP quy mô nhỏ
Bên cạnh các nghiên cứu mang tính định lượng với phạm vi đối tương nghiên cứu lớn còn có rất nhiều các nghiên cứu cụ thể khác tập trung vào từng doanh nghiệp đặc thù trong nước về lĩnh vực các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu hoạt động của các công
ty Có thể thấy rằng, các nghiên cứu nước ngoài về các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng khá phong phú, trong khi đó, các nghiên cứu của Việt Nam hầu như rất ít Tuy nhiên, đây vẫn là một nguồn tài liệu tham khảo quan trọng giúp tác giả nghiên cứu rõ hơn về các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
Tóm tắt chương 2
Trong chương 2, chúng ta đã đi vào làm rõ các vấn đề liên quan đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, cũng như các nhân tố bên trong và bên ngoài tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Tiếp đến, tác giả trình bày các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu Nghiên cứu nhận thấy, trong khi nguồn tài liệu nước ngoài khá phong phú thì tài liệu nghiên cứu trong nước còn khá ít Các nghiên cứu nước ngoài nghiên cứu trên phạm vi nhiều quốc gia như Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Nhật Bản với nhiều yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng như các yếu tố bên trong (tình hình quản lý, mục tiêu, chính sách của ngân hàng) và bên ngoài (môi trường kinh tế và pháp lý) Còn các nghiên cứu trong nước không chỉ hạn chế ở số lượng ít mà còn ở việc chưa cập nhập dữ liệu mới nhất Đặc biệt trong thời gian gần đây khi hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam có những thay
Trang 25đổi lớn Tuy vậy, các nghiên cứu trên đều là những nguồn tư liệu bổ ích để xác định các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng TMCP Sacombank Đặc biệt, nghiên cứu của Nsambu Kijjambu Frederick (2013) [15](tài liệu Tiếng Anh) tiến hành nghiên cứu ở Uganda khá rõ ràng, dễ hiểu và phù hợp với sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam và ngân hàng Sacombank Trong chương tiếp theo, chúng ta
sẽ đưa ra phương pháp và mô hình nghiên cứu áp dụng với ngân hàng Sacombank
Trang 26CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu trải qua các bước như: tổng quan lý thuyết, hệ thống hóa lại các nghiên cứu trước đây, lựa chọn mô hình nghiên cứu, thu thập số liệu, xử lý số liệu thông qua mô hình, kết luận và đưa ra các kiến nghị
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 3.1 : Quy trình nghiên cứu
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.2 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết
Trong các nghiên cứu, cách tiếp cận của Nsambu Kijjambu Frederick (2014) trong nghiên cứu “Factors Affecting Performance of Commercial Banks in Uganda-A Case for Domestic Commercial Banks” ở Hội nghị Proceedings of 25th International
Các mục tiêu nghiên cứu
Tổng quan lý thuyết, các nghiên
cứu trước đây Lựa chọn và xây dựng mô hình cho nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định tính Nghiên cứu định lượng
Đo lường, thu thập số liệu
Xử lý số liệu
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Các kiến nghị
Trang 27Business Research Conference 13 - 14 January, 2014, Taj Hotel, Cape Town, South Africa là phù hợp với điều kiện của Việt Nam vì các lý do:
+ Phương pháp nghiên cứu là hồi quy, tương đối dễ dàng trong việc áp dụng và cho kết quả khá chính xác
+ Các biến độc lập trong mô hình như: tỷ lệ an toàn vốn, thanh khoản, dự phòng rủi ro, chi phí lãi vay, đòn bẩy tài chính, tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, lãi suất
cơ bản có thể thu thập được và có hệ thống
+ Các biến phụ thuộc của mô hình như ROA, ROE có thể đại diện cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng và dễ dàng thu thập
+ Mô hình tương đối dễ hiểu có thể phù hợp với nhiều đối tượng, đặc biệt cả những đối tượng không làm trong lĩnh vực tài chính, không có kiến thức cơ bản về lĩnh vực này
+ Thời gian khảo sát của nghiên cứu này từ 2000 đến 2011, khá gần về mặt thời gian nên gần tương đồng với tình hình thị trường tài chính hiện nay Đồng thời, việc nghiên cứu về biến động lượng tiền gửi cũng rất phù hợp với các nước đang phát triển Kết quả của nghiên cứu này có thể sử dụng làm tiêu chí để đánh giá kết quả nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu lựa chọn là mô hình mà Nsambu Kijjambu Frederick (2014)
sử dụng trong nghiên cứu của mình, được phát triển và mở rộng theo với các nghiên cứu của Samina và Ayub (2013); Dietrich và Wanzenried (2011); Deger và Adem (2011); Rajesh (2009); Sufian và Habibuhhal (2009) Biến phụ thuộc là lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng (ROE) trong khoảng thời gian (t)
Phương pháp nghiên cứu được lựa chọn là hồi quy Đây là phương pháp được sử dụng phố biến và cho kết quả tốt trong các nghiên cứu về mối quan hệ nhân quả giữa một yếu tố với các yếu tố khác Trong đề tài, là mối quan hệ nhân quả giữa các biến số ảnh hướng tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Trong mô hình này, chúng ta sử dụng toàn bộ các biến độc lập trong mô hình gốc, ngoại trừ biến LLIFE (Rủi ro thương hiệu) Do biến số này khó đo lường với trình
độ phát triển của thị trường tài chính Việt Nam nói chung và ngân hàng Sacombank nói riêng Còn các biến số còn lại như: EA, LA, LLPTL, INTEXEQ, INVESTTA, NIMTA, FL, OPEXTI, NIITI, GDP, CPI và BIR đều có thể đo lường và thu thập được
Trang 28với sự phát triển hiện tại của thị trường tài chính Việt Nam cũng như ngân hàng Sacombank
Trong nghiên cứu này, mô hình cơ sở được sử dụng:
Hình 3.2 : Mô hình nghiên cứu
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
ROA = α0+ α1*EAt + α2*LAt+ α3*LLPTLt + α4*INTEXEQt + α5*INVESTTAt + α6*NIMTAt + α7*FLt + α8*OPEXTIt + α9*NIITIt + α10*GDPt
NH TMCP Sài Gòn Thương Tín
ROE
Đòn bẩy tài chính (FL)
Thanh khoản (LA)
Quy mô ngân hàng (LOGTA)
Tăng trưởng kinh tế (GDP)
Lãi suất (IR)
Trang 29H1: Có mối liên hệ giữa biến tỷ lệ an toàn vốn tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng
H2: Có mối liên hệ cùng chiều giữa biến tỷ lệ thanh khoản tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng
H3: Có mối liên hệ ngược chiều giữa biến tỷ lệ dự phòng rủi ro tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng
H4: Có mối liên hệ ngược chiều giữa biến chi phí lãi vay trên nguồn vốn tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng
H5: Có mối liên hệ cùng chiều giữa biến mức độ đa dạng hóa danh mục đầu tư
tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng
H6: Có mối liên hệ cùng chiều giữa biến thu nhập từ lãi vay tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng
H7: Có mối liên hệ giữa biến đòn bẩy tài chính tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng
H8: Có mối liên hệ ngược chiều giữa biến chi phí hoạt động trên tổng thu nhập
tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng
H9: Có mối liên hệ cùng chiều giữa biến tốc độ tăng trưởng kinh tế tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng
H10: Có mối liên hệ giữa biến lạm phát tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng H11: Có mối liên hệ giữa biến lãi suất cơ bản tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Trên cơ sở các nghiên cứu đã được tác giả tổng hợp từ các công trình nghiên cứu trước đây, tác giả đã đưa ra các giả thiết về kỳ vọng dấu của các yếu tố tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng như bảng sau:
Trang 30Biến số Đo lường Nghiên cứu liên quan Dự đoán tác
động Biến phụ thuộc
ROA Tỷ suất lợi nhuận trên
tổng tài sản
Frederick (2013) ROE Tỷ suất lợi nhuận trên
+
Trang 31Kijambu Frederick (2013); Sufian (2010)
(2008), Nsambu Kijambu Frederick (2013);Sufian (2010)
-
&Parmono (2008), Nsambu Kijambu Frederick (2013)
-
Nguồn: Thống kê của tác giả
ROA: Lợi nhuận trên tài sản (ROA) là tỷ lệ thu được từ việc lấy lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế) của ngân hàng trong kỳ báo cáo (ở nghiên cứu này là 1 quý) chia cho bình quân tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp trong cùng kỳ Số liệu về lợi nhuận ròng hoặc lợi nhuận trước thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh Còn giá trị tài sản được lấy từ bảng cân đối kế toán Chính vì lấy từ bảng cân đối kế toán, nên cần tính giá trị bình quân tài sản doanh nghiệp Nếu tỷ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi Tỷ số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản của doanh nghiệp Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp Nó là một chỉ số quan trọng của lợi nhuận và quản lý tài sản hiệu quả Vì vậy, nó chỉ ra làm như thế nào để quản lý tài sản của ngân hàng để mang lại lợi nhuận cho mỗi một đồng tài sản đã đầu tư vào ngân hàng (Gul et al, 2011)
ROE: Chỉ tiêu này được đo bằng lợi nhuận ròng chia cho tổng số vốn chủ sở hữu
và thể hiện theo tỷ lệ phần trăm Lợi nhuận trong tỷ số này là lợi nhuận ròng dành cho
cổ đông, lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng, tính trong một thời kỳ nhất định (ở nghiên cứu này là 1 quý) gọi là kỳ báo cáo Còn vốn cổ phần trong tỷ số này là bình quân vốn cổ phần phổ thông Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE cho biết
cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu của ngân hàng tạo ra bao nhiều đồng lợi nhuận Nếu tỷ số này mang giá trị dương, là ngân hàng làm ăn có lãi; nếu mang giá trị âm là ngân hàng làm ăn thua lỗ Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu thường được đem so sánh với tỷ số
Trang 32lợi nhuận trên tài sản (ROA) Nếu tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu lớn hơn ROA thì có nghĩa là đòn bẩy tài chính của ngân hàng đã có tác dụng tích cực, nghĩa là công
ty đã thành công trong việc huy động vốn của cổ đông để kiếm lợi nhuận với tỷ suất cao hơn tỷ lệ tiền lãi mà ngân hàng phải trả cho các cổ đông Tỷ lệ này cũng là một chỉ
số quan trọng về lợi nhuận ngân hàng trong trường hợp sử dụng vốn chủ sở hữu Hơn nữa, nó cho thấy khả năng của việc quản lý việc sử dụng vốn chủ sở hữu của cổ đông trong việc cải thiện lợi nhuận để lại và giữ cho các ngân hàng ở vị trí tốt Do đó, càng quản lý tốt vốn chủ sở hữu của cổ đông, thì sẽ càng có nhiều lợi nhuận tạo ra từ vốn chủ sở hữu
Tỷ lệ an toàn vốn (EA): Tỷ lệ an toàn vốn được tính bằng cách lấy Vốn chủ sở hữu chia cho Tổng tài sản và ước tính một tỷ lệ phần trăm rủi ro ngân hàng hoặc khả năng bảo vệ người gửi tiền trong trường hợp ngân hàng thất bại Nghiên cứu của Mlyneux (1993) cho biết mối quan hệ tích cực giữa tỷ lệ an toàn vốn và lợi nhuận ngân hàng
Thanh khoản (LA): Tỷ lệ thanh khoản cho biết như khả năng của một công ty trong nghĩa vụ trả nợ các khoản nợ hạn ngắn Tỷ lệ này hàm ý khả năng thanh khoản
có đủ để đáp ứng nhu cầu tiền mặt bắt ngờ của khách hàng Một số tác giả như Bourke (1989) đề cập đến trong nghiên cứu của mình một mối quan hệ tích cực giữa thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng Ngược lại, Molyneux và Thorton (1992) chỉ ra một tác động tiêu cực của thanh khoản trên lợi nhuận Tuy nhiên, giữ một số tiền nhất định để đảm bảo tính thanh khoản sẽ mất chi phí cơ hội của tiền trong việc đầu tư sinh ra lợi nhuận
Đòn bẩy (FL): Đòn bẩy nợ được đo bằng tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu (tỷ lệ
nợ /vốn chủ sở hữu) Nó cho thấy mức độ mà một doanh nghiệp đang sử dụng tiền vay Các ngân hàng có mức nợ cao có thể có nguy cơ phá sản nếu họ không thể thực hiện thanh toán nợ đồng thời họ cũng có thể không thể tìm thấy các khoản vay mới trong tương lai Đòn bẩy không phải là luôn luôn xấu, tuy nhiên, nó có thể làm tăng vốn cổ phần và tận dụng tốt các lợi thế về thuế liên quan đến khoản vay Dự đoán, đòn bẩy càng lớn thì lợi nhuận càng lớn
Tăng trưởng kinh tế (GDP): Demirguc-Kunt và Huizinga (1999) cho thấy sự gia tăng nhanh chóng tăng trưởng kinh tế tạo ra lợi nhuận cho một số lượng lớn các quốc gia Về mặt kỹ thuật, GDP lên xuống biểu hiện trong các chu kỳ kinh doanh Do đó, sự
Trang 33biến đổi của GDP được kỳ vọng sẽ tạo ra tác động trực tiếp đến lợi nhuận của các ngân hàng
Lạm phát: Tầm quan trọng của lạm phát đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng
đã được rất nhiều thảo luận trong các nghiên cứu liên quan, chủ yếu là do ảnh hưởng của lạm phát trên các nguồn lực và người sử dụng các nguồn lực tài chính của các ngân hàng Đặc biệt, lạm phát ảnh hưởng đến hành vi định giá công ty Ví dụ, nếu công ty mong đợi lạm phát chung sẽ cao hơn trong tương lai, họ có thể tin rằng họ có thể làm tăng giá của họ mà không bị giảm trong nhu cầu về sản lượng của họ (Windram 2007, 2009) Trong kịch bản này, khi các điều kiện dự kiến lạm phát sẽ bằng lạm phát thực
tế, sẽ không có giảm trong quá trình hoạt động kinh doanh và không có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất của các ngân hàng Lạm phát cao thường ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình kinh doanh của ngân hàng, khiến lợi nhuận giảm
Lãi suất ngân hàng (IR): Lãi suất huy động ngân hàng dự kiến sẽ có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời của ngân hàng do lãi suất ngân hàng tác động trực tiếp thu nhập lãi và các chi phí, và kết quả cuối cùng là lợi nhuận của ngân hàng Sở dĩ tác giả
sử dụng lãi suất cơ bản bởi đây là lãi suất quy định của ngân hàng nhà nước để các NHTM căn cứ vào đó xây dựng mức lãi suất huy động và cho vay phù hợp
3.3 Mô tả dữ liệu
Thống kê mô tả cho phép đánh giá sơ bộ về mức độ biến động, giá trị trung bình, trung vị của các biến được đưa vào mô hình cũng như mối quan hệ giữa các biến này với nhau
Trung bình mẫu (mean) trong thống kê là một đại lượng mô tả thống kê, được
tính ra bằng cách lấy tổng giá trị của toàn bộ các quan sát trong tập chia cho số lượng các quan sát trong tập
Số trung vị (median) là một số tách giữa nửa lớn hơn và nửa bé hơn của một mẫu,
một quần thể, hay một phân bố xác suất Nó là giá trị giữa trong một phân bố, mà số số nằm trên hay dưới con số đó là bằng nhau Điều đó có nghĩa rằng 1/2 quần thể sẽ có các giá trị nhỏ hơn hay bằng số trung vị, và một nửa quần thể sẽ có giá trị bằng hoặc lớn hơn số trung vị
Độ lệch chuẩn, hay độ lệch tiêu chuẩn, là một đại lượng thống kê mô tả dùng để
đo mức độ phân tán của một tập dữ liệu đã được lập thành bảng tần số Có thể tính ra
độ lệch chuẩn bằng cách lấy căn bậc hai của phương sai Nếu gọi X là giá trị của công
Trang 34cụ tài chính, m = E(X) là trung bình cộng của X, S là phương sai, d là độ lệch chuẩn thì
độ lệch chuẩn sẽ được tính toán như sau:S = E[(X – m)2] d = Căn bậc hai của S
Tần suất và biểu đồ phân bổ tần suất, tần suất là số lần suất hiện của biến quan
sát trong tổng thể, giá trị các biến quan sát có thể hội tụ, phân tán, hoặc phân bổ theo một mẫu hình nào đó, quy luật nào đó
Giá trị thống kê Skewness và Kurtosis
Hai hệ số này giúp hình dung về hình dáng của phân phối Skewess là một đo lường mức độ lệch của phân phối còn gọi là hệ số bất đối xứng, khi:
Skewness = 0: phân phối cân xứng
Skewness > 0: phân phối lệch phải
Skewness < 0: phân phối lệch trái
Kurtosis là một địa lượng đo mức độ tập trung tương đối của các quan sát quan trung tâm của nó trong mối quan hệ so sánh với hai đuôi, khi:
Kurtosis = 3: phân phối tập trung ở mức độ bình thường
Kurtosis > 3: phân phối tập trung hơn ở mức độ bình thường Tuy nhiên hình dạng của đa giác tần số trông sẽ khá cao và nhọn với hai đuôi hẹp
Kurtosis < 3: phân phối tập trung hơn mức độ bình thường nhưng hình dạng của đa giác tần số là một đa giác tù với 2 đuôi dài
Kiểm định phân phối chuẩn của sai số ngẫu nhiên: (Kiểm định Jaque – Bera)
Mục đích của kiểm định này là nhằm xem xét sai số ngẫu nhiên có phân phối chuẩn hay khộng
Giả thiết:
H0: Sai số ngẫu nhiên có phân phối chuẩn
H1: Sai số ngẫu nhiên không có phân phối chuẩn
Với mức ý nghĩa miền bác bỏ là:
JB>2 (2)=5,9915
Chấp nhận H0: Sai số ngẫu nhiên có phân phối chuẩn
Bác bỏ H0: Sai số ngẫu nhiên không có phân phối chuẩn
3.4 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
3.4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Trang 35Tác giả chủ yếu sử dụng các phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp để phục vụ
cho quá trình nghiên cứu của mình; các dữ liệu thứ cấp được tác giả thu thập qua các nguồn sau:
(1) Các báo cáo của chính phủ, bộ ngành, số liệu của các cơ quan thống kê về tình hình kinh tế xã hội, ngân sách quốc gia, xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài, dữ liệu của các công ty về báo cáo kết quả tình hình hoạt động kinh doanh, nghiên cứu thị trường
(2) Các báo cáo nghiên cứu của Cơ quan, Viện, trường Đại học; các báo cáo của các NHTM, định chế tài chính
(3) Các bài viết đăng trên báo hoặc các tạp chí Khoa học chuyên ngành và Tạp chí mang tính hàn lâm có liên quan; các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước (4) Báo cáo tài chính theo năm, theo quý của ngân hàng TMCP Sacombank từ năm 2006-2014
(5) Tài liệu giáo trình hoặc các xuất bản khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu
3.4.2 Phương pháp xử lý dữ liệu
(i) Sử dụng phương pháp tính toán thống kê để tính các giá trị độ lệch chuẩn, trung bình, phương sai, hiệp phương sai, hệ số tương quan để xem xét mối liên hệ (ii) Tiến hành hồi quy tuyến tính theo các mối quan hệ giả định giữa hiệu quả sản xuất kinh doanh và các nhân tố ảnh hưởng
(iii) Thực hiện các kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính: Tự tương quan, đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi
(iv) Phền mềm xử lý dữ liệu : Eview 8
3.4.3 Các kiểm định mô hình
3.4.3.1 Kiểm định tính dừng – Nghiệm đơn vị Uniroot Test
Trong phân tích dữ liệu chuỗi thời gian, một mô hình tốt được đưa ra khi phân tích trên các dữ liệu dừng, nếu dữ liệu không dừng thì kết quả nghiên cứu sẽ thiếu chính xác Kiểm định nghiệm đơn vị là một kiểm định được sử dụng khá phổ biến
để kiểm định một chuỗi thời gian dừng hay không dừng
Giả sử ta có phương trình hồi qui tự tương quan như sau:
Yt=ρYt-1+ut (-1≤ρ≤1) (3.1)
Ta có các giả thuyết:
Trang 36H0: δ = 0 (là chuỗi không dừng)
H1: δ< 0 ( là chuỗi dừng)
Dickey và Fuller cho rằng giá trị t ước lượng của hệ số Y t-1 sẽ theo phân phối xác suất τ (tau statistic, τ = giá trị δ ước lượng/sai số của hệ số δ (delta)) Kiểm định thống kê τ còn được gọi là kiểm định Dickey – Fuller (DF) Kiểm định DF được ước lượng với 3 hình thức:
- Khi Yt là một bước ngẫu nhiên không có hằng số:
ΔY = δ Y t-1 +ut (3.3)
- Khi Yt là một bước ngẫu nhiên có hằng số: ΔY = β1+ δ Y t-1 +ut (3.4)
- Khi Yt là một bước ngẫu nhiên với hằng số xoay quanh một đường xu thế ngẫu nhiên :ΔY = β1+ β2 TIME + δY t-1 +ut (3.5)
Để kiểm định H0 ta so sánh giá trị thống kê τ tính toán với giá trị thống kê tra
bảng DF Tuy nhiên, do có thể có hiện tượng tương quan chuỗi giữa các u t do thiếu biến, nên người ta thường sử dụng kiểm định DF mở rộng là ADF (Augmented Dickey – Fuller Test) Kiểm định này được thực hiện bằng cách đưa thêm vào phương trình (3.5) các biến trễ của sai phân biến phụ thuộc ΔYt :
ΔY = β1+ β2 TIME + δY t-1 +αiΔYt-1 + ut (3.6) Kết quả nếu |τADF| < |τα| với α lần lượt tại các mức ý nghĩa thống kê Ta kết luận chấp nhận giả thuyết H0 thức chuỗi Y là không dừng và ngược lại
3.4.3.2 Kiểm định giả thiết về hệ số hồi qui
Kiểm định nhằm mục đích kiểm tra sự tác động của các biến trong mô hình hồi quy đến Kiểm định giả thiết về hệ số hồi qui j, mục đích là xem xét liệu j có bằng 0 hay không, nếu j=0 thì biến độc lập Xj không có tác động riêng phần đến biến phụ thuộc Y
Giả thiết:
Trang 37Bác bỏ H0: Các biến độc lập Xj có tác động riêng phần đến biến phụ thuộc Y
3.4.3.3 Kiểm định đa cộng tuyến
Kiểm định này nhằm phát hiện ra hiện tượng đa cộng tuyến là hiện tượng mà các biến độc lập có quan hệ tương quan với nhau
Có 2 phương pháp kiểm định:
Thứ nhất: kiểm định tương quan biến
Hệ số tương quan đo mức độ phụ thuộc tuyến tính giữa hai biến (X & Y); khi hệ
số tương quan càng gần bằng không quan hệ càng lỏng lẻo; càng gần 1 càng chặt; nếu cùng dấu là tương quan thuận và ngược lại là nghịch Theo quy ước các biến có hệ số tương quan nhỏ hơn 0,3 được coi là biến rác, không có ý nghĩa nghiên cứu Cụ thể :
±0.01 đến ±0.1: Mối tương quan quá thấp, không đáng kể
±0.2 đến ±0.3 : Mối tương quan thấp
±0.4 đến ±0.5: Mối tương quan trung bình
±0.6 đến ±0.7: Mối tương quan cao
±0.8 trở lên : Mối tương quan rất cao
Thứ hai: Hồi quy phụ
Mô hình hồi qui chính:
t t ki k t
t
Xét các mô hình hồi qui phụ sau:
Xj,t =0+1X1i,t+2X2i,t +…+j-1Xj-1i,t +j+1Xj+1i,t +i,t
Trang 38F> F ;(k-2,n-k+1) hay p-value<
Chấp nhận H0: Không có đa cộng tuyến giữa Xj với các biến độc lập còn lại Chấp nhận H1: Có đa cộng tuyến giữa Xj với các biến độc lập còn lại
3.4.3.4 Kiểm định phương sai thay đổi Heteroscedasticity
Kiểm định White nhằm xem xét phương sai của sai số mô hình hồi qui có thay đổi hay không
Mô hình kiểm định:
i,t=0+1X1i,t+2X2i,t+…+kXki,t+k+1X1i,t*X2i,t+…+k+mX(k-1)i,t*Xki,t+k+m+1X1i,t
^2i,t+…+k+m+1+hXki,t^2i,t+i,t
Giả thiết:
H0: i=0 i 0 ,km 1 h: Không có hiện tượng phương sai thay đổi
H1: i0 (tồn tại delta) : Có hiện tượng phương sai thay đổi
Với mức ý nghĩa miền bác bỏ là:
nR2>2 ;k+m+1+h
Chấp nhận H0: Không có hiện tượng phương sai thay đổi
Bác bỏ H0: Có hiện tượng phương sai thay đổi
3.4.3.5 Kiểm định tự tương quan
Kiểm định nhằm phát hiện xem mô hình có khuyết tật tự tương quan hay không Kiểm định tự tương quan bậc p: Kiểm định Breusch – Godfrey (BG)
t = 0 + 1X + 1t-1 + 2t-2 + … + pt-p +’t từ đây ta thu được R2
3.4.3.6 Kiểm định sự phù hợp của mô hình
Đại lượng R2 cho thấy mức độ phù hợp của mô hình hồi qui Muốn biết với R2khác 0 có ý nghĩa thống kê không, mô hình có phù hợp hay không cần tiến hành kiểm định giả thiết
Trang 39mô hình, kiểm định tự tương quan, đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi, kiểm định các giả thiết thống kê, sự phù hợp của mô hình
Trang 40CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (SACOMBANK)
4.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) được sát nhập từ Ngân hàng Phát triển Kinh tế Gò Vấp với 3 hợp tác xã (HTX) tín dụng là Tân Bình, Thành Công và Lữ Gia vào ngày 21/12/1991 với số vốn điều lệ 3 tỷ đồng Đây là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên được thành lập ở Việt Nam Ở giai đoạn này, Sacombank đã đạt được một số mục tiêu tái cấu trúc hệ thống, tổ chức, cải tiến hiệu quả hoạt động của bộ máy, từng bước khắc phục những hạn chế của cơ chế cũ Qua đó, Ngân hàng đạt được nhiều hiệu quả phát triển cụ thể như hạ thấp tỷ lệ nợ xấu đảm bảo sự an toàn trong điều tiết nguồn vốn, công cụ lãi suất cơ bản, đảm bảo về chất lượng tín dụng, kế toán, kiểm toán và kiểm soát Trong quá trình phát triển, ngân hàng
trải qua 3 giai đoạn: (1) Tiên phong đổi mới (1996-2000) với chiến dịch huy động vốn
lần đầu tiên và chưa có tiền lệ tại Việt Nam đã diễn ra thành công với kết quả đạt được ngoài mong đợi với hơn 9.000 cổ đông tham gia góp vốn bằng việc mua cổ phiếu Sacombank trở thành ngân hàng TMCP đầu tiên ở Việt Nam có cổ đông đại chúng Đây được coi là một trường hợp độc đáo của ngành tài chính – Ngân hàng Việt Nam lúc bấy giờ và đặt nền móng cho những cơ hội huy động vốn mạnh mẽ khác, kể cả sự
tham gia của các đối tác nước ngoài (2) Vươn cao, đi xa (2001-2005) với quan điểm
và định hướng cấp tiến xem hợp tác quốc tế là yêu cầu và nhu cầu tất yếu của doanh nghiệp Việt Nam trong nỗ lực phát triển hướng tới tính toàn cầu, Sacombank bắt đầu công cuộc hợp tác với các đối tác quốc tế lớn từ khá sớm – từ năm 2001 với Dragon Capital (Anh quốc), tiếp theo là Công ty tài chính quốc tế (IFC) và Ngân hàng ANZ Với sự đồng hành của các đối tác chiến lược nước ngoài, Sacombank đã sớm nhận được sự hỗ trợ về công nghệ thông tin, quản lý rủi ro, đào tạo phát triển nguồn nhân
lực và kinh nghiệm quản lý ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế (3) Khẳng định vị thế (2006-2014) với việc tập trung vào 4 nhóm giải pháp lớn: (i) gia tăng năng lực tài
chính, (ii) mở rộng mạng lưới hoạt động, (iii) hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, (iv) phát triển nguồn nhân lực có chất lượng nhanh chóng bắt nhịp hội nhập và phát triển cùng tốc độ của ngành tài chính - Ngân hàng Thế giới