4 3- Phân tích trách nhiệm giải quyết việc làm của Nhà nước 4- Ý nghĩa của Quỹ giải quyết việc làm, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp đối với vấn đề giải quyết việc làm 6 5- Theo anh/chị nghĩa vụ
Trang 1Mục Lục
Lời Nói Đầu 2
A- Phần Lý Thuyết
1- Phân tích định nghĩa việc làm và thất nghiệp theo quy định pháp luật Việt Nam
Hãy cho biết ý nghĩa pháp lý của những định nghĩa này 3
2- So sánh trung tâm dịch vụ việc làm với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm 4
3- Phân tích trách nhiệm giải quyết việc làm của Nhà nước
4- Ý nghĩa của Quỹ giải quyết việc làm, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp đối với vấn
đề giải quyết việc làm 6
5- Theo anh/chị nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong vấn đề học nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề đối với người lao động được pháp luật lao động Việt Nam quy định như thế nào? 10 B- Phần Tình Huống 12
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Nhằm củng cố, nâng cao kiến thức cho môn học Luật lao động, nhóm chúng em đã thực hiện bài tiểu luận này để nghiên cứu một trong những khía cạnh quan trọng mà môn học có đề cập đến Đó là vấn đề việc làm và học nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình
độ kỹ năng nghề
Bài thảo luận thứ hai của nhóm bao gồm hai phần:
Phần 1: Nghiên cứu một số vấn đề lý thuyết
Phần 2: Giải quyết bài tập tình huống
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng bài tiểu luận nhóm chúng
em còn có nhiều thiếu sót, nhiều mảng kiến thức chưa hoàn chỉnh, kính mong thầy góp ý,
bổ sung để chúng em sửa đổi và hoàn thành bài nghiên cứu này một cách đầy đủ nhất
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Nhóm 4/QT-L37.2
Trang 3Phần A: Lý Thuyết
Câu 1 Phân tích định nghĩa việc làm và thất nghiệp theo quy định pháp luật Việt Nam
Hãy cho biết ý nghĩa pháp lý của những định nghĩa này.
Việc làm
Tại khoản 1 Điều 9 BLLĐ: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không
bị pháp luật cấm” Theo quy định này, một hoạt động được coi là việc làm phải đáp ứng hai điều kiện:
- Việc làm phải là hoạt động lao động của con người để tạo ra nguồn thu nhập:
+ Lao động trước hết là một hành động diễn ra giữa con người với giới tự nhiên, trong lao động con người đã vận dụng trí lực và thể lực cùng với công cụ tác động vào giới
tự nhiên tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, đời sống con người , lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được của con người , nó là hoạt động rất cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người Con người không thể sống khi không có lao động Quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động, sức lao động là năng lực của con người nó bao gồm cả thể lực và trí lực , nó là yếu tố tích cực đóng vai trò trung tâm trong suốt quá trình lao động , là yếu tố khởi đầu, quyết định trong qúa trình sản xuất, sản phẩm hàng hoá có thể được ra đời hay không thì nó phải phụ thuộc vào quá trình sử dụng sức lao động
+ Tạo ra thu nhập : Tạo ra thu nhập, đơn giản có thể hiểu là việc nhận lại 1 phần giá trị của công sức lao động bỏ ra Giá trị ở đây thường là tiên lương, tiền bán hàng, Ở đây quan trọng tính tương tác hai chiều, tức việc bản thân đối tượng phải cho đi sức lao động của bản thân, đồng thời nhận lại được những giá trị tương ứng, với sức lao động đã bỏ ra
- Hoạt động đó không bị pháp luật cấm: Không trái với những quy định của pháp luật Theo đó, các hoạt động lao động trong xã hội được coi là việc làm rất rộng, đó là tất cả các dạng hoạt động lao động trong xã hội, không bị pháp luật cấm và đem lại thu nhập cho con người như: sản xuất nông nghiệp, sản xuất, kinh doanh dịch vụ,
Ý nghĩa:
- Trên bình diện quốc gia: đánh giá mức độ phát triển, việc làm luôn có tầm ảnh hưởng quan trọng đến các chính sách pháp luật của nhà nước, sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước, vừa phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, đặc biệt là giai đoạn mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới
- Góc độ kinh tế xã hội: việc làm tạo ra của cải , vật chất thông qua hoạt động lao động của mỗi người, phát triển kinh tế, ổn định xã hội
- Góc độ pháp lý: quyền cơ bản của con người
- Đối với người lao động: nguồn sống và “lẽ sống”, việc làm tạo ra lợi ích, thu nhập
để họ có thể tự nuôi sống bản thân, ngoài ra còn nuôi người thân, gia đình của họ
Trang 4 Thất nghiệp
Có 2 quan điểm về thất nghiệp:
- Quan điểm 1: Thất nghiệp là “tình trạng , trong đó người có sức lao động trong độ tuổi lao động, không có việc làm và đang cần tìm một việc làm có trả công”
- Quan điểm 2: Thất nghiệp là “tình trạng mà người có sức lao động đền độ tuổi lao động, đã từng làm việc, đang không có việc làm, đã đăng ký tìm việc nhưng chưa tìm được việc làm để có thu nhập”
Tác động của thất nghiệp: Thất nghiệp gây ra những chi phí đáng kể đối với xã hội Đồng thời nó phân bổ không đồng đều đến toàn xã hội , thường ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến thanh niên và những nhóm dân cư nghèo trong xã hội Đối với cá nhân , thất nghiệp là một gánh nặng Khi mất việc , thu nhập của người công nhân giảm , ảnh hưởng xấu đến mức sống , tinh thần suy sụp Nếu thất nghiệp dài hạn , kỹ năng lao động của công nhân cũng bị mai một Mối quan hệ trở nên căng thẳng khi người trụ cột trong gia đình bị thất nghiệp
Câu 2: So sánh trung tâm dịch vụ việc làm với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm.
Giống:
- Là các tổ chức dịch vụ việc làm được quy định tại Điều 14 BLLĐ 2012
- Hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ việc làm: tư vấn; giới thiệu việc làm cho người lao động, cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người lao động; thu thập, phân tích,
dự báo và cung ứng thông tin thị trường lao động; tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực tìm kiếm việc làm; thực hiện các chương trình, dự án việc làm
- Được thu phí, miễn giảm thuế theo quy định của pháp luật về phí, pháp luật về thuế
Khác nhau :
Trung tâm dịch vụ việc làm Doanh nghiệp dịch vụ việc làm Hình thức Được thành lập và hoạt động theo
quyết định của Chính phủ (Điều
14 BLLĐ 2012)
Được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh Nghiệp
và phải có giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm do cơ quan quản
lý nhà nước về lao động cấp tỉnh cấp (Điều 14 BLLĐ 2012)
Điều kiện
thành lập Để được xem xét thành lập, các Trung tâm dịch vụ việc làm phải
đáp ứng 6 điều kiện quy định tại Điều 3 của Nghị định
03/2014NĐ-CP 13/1/2013:
Theo Nghị định số 52/2014/NĐ-CP 23/5/2014 thì Doanh nghiệp thỏa
03 điều kiện sau đây sẽ được cấp phép hoạt động:
- Trụ sở: địa điểm đặt trụ sở chính,
Trang 51 Có mục tiêu, chức năng, nhiệm
vụ cụ thể
2 Phù hợp với quy hoạch mạng lưới Trung tâm dịch vụ việc làm
do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
3 Có trụ sở làm việc hoặc đề án quy hoạch cấp đất xây dựng trụ sở
đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (trường hợp xây dựng trụ sở mới)
4 Có trang thiết bị, phương tiện làm việc để thực hiện các hoạt động dịch vụ việc làm theo quy định tại Nghị định này và quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, định mức trang thiết bị, phương tiện làm việc của cơ quan và công chức, viên chức và người lao động
5 Có ít nhất 15 cán bộ có trình độ cao đẳng trở lên
6 Kinh phí hoạt động thường xuyên do cơ quan có thẩm quyền thành lập bảo đảm theo quy định của pháp luật
chi nhánh của doanh nghiệp phải
ổn định và có thời hạn từ 03 năm (36 tháng) trở lên; nếu là nhà thuộc
sở hữu của người đứng tên đăng ký doanh nghiệp thì trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép phải có giấy tờ hợp lệ; nếu là nhà thuê thì phải có hợp đồng thuê nhà có thời hạn thuê
từ 03 năm (36 tháng) trở lên;
- Bộ máy chuyên trách: phải bao gồm ít nhất 03 nhân viên có trình
độ cao đẳng trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, lý lịch rõ ràng;
- Ký quỹ và quản lý tiền ký quỹ: doanh ngiệp phải nộp số tiền ký quỹ là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) tại ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp mở tài khoản giao dịch chính Tiền ký quỹ được
sử dụng để giải quyết các rủi ro và các khoản phải đền bù có thể xảy ra trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Doanh nghiệp sẽ được ngân hàng cho rút tiền ký quỹ, hoàn trả tiền ký quỹ khi có ý kiến xác nhận bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm
Quyền
hạn 1 Ký kết hợp đồng để thực hiện nhiệm vụ theo quy định
2 Khai thác thông tin về lao động, việc làm và dạy nghề
3 Phát hành ấn phẩm và đăng tải bản tin về thông tin thị trường lao động theo quy định của pháp luật
4 Yêu cầu người sử dụng lao động cung cấp thông tin về tình trạng việc làm của người lao động
do Trung tâm giới thiệu hoặc cung ứng lao động
5 Thu phí theo quy định của pháp luật về phí
6 Tự chủ về tài chính theo quy
1 Ký kết hợp đồng để thực hiện các hoạt động dịch vụ việc làm theo quy định
2 Khai thác thông tin về lao động, việc làm và dạy nghề
3 Thu phí theo quy định pháp luật
về phí
(Điều 4 NĐ Nghị định số 52/2014/ NĐ-CP 23/5/2014)
Trang 6định của pháp luật
7 Tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức và người lao động theo quy định của pháp luật
(Theo Điều 7 Nghị định 03/2014NĐ-CP 13/1/2013)
Trách
nhiệm - Xây dựng quy chế hoạt động củaTrung tâm theo hướng dẫn của Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội
- Hằng năm xây dựng và thực hiện
kế hoạch hoạt động đã được cấp
có thẩm quyền phê duyệt
- Thực hiện quyền lợi của công chức, viên chức và người lao động làm việc ở Trung tâm theo quy định của pháp luật
-Thực hiện đúng các chế độ tài chính, các khoản phải nộp theo quy định của pháp luật và bồi thường các thiệt hại do vi phạm các hợp đồng theo quy định của pháp luật
Mục tiêu Hoạt động trên lĩnh vực xã hội Lợi nhuận
Trách
nhiệm của
cơ quan
nhà nước
có thẩm
quyền
Thực hiện quản lý nhà nước Trình thủ tướng Chính phủ về việc quy hoạch mạng lưới các trung tâm dịch vụ việc làm Quyết định thành lập, tổ chức, giải thể các trung tâm dịch vụ việc làm
Hướng dẫn thanh tra, kiểm tra
Thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động dịch vụ việc làm, hướng dẫn kiểm tra, cấp giấy phép hoạt động
Câu 3: Phân tích trách nhiệm giải quyết việc làm của Nhà nước
Điều 13 Bộ luật Lao động ghi nhận: "Giải quyết việc làm, đảm bảo cho người lao động
có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội"
Bên cạnh những quy định có tính nguyên tắc chung, Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn cũng đã đưa ra các biện pháp cơ bản giải quyết việc làm có liên quan đến trách nhiệm của Nhà nước Một trong những biện pháp quan trọng nhằm giải quyết việc làm đó
là "Chính phủ lập Chương trình quốc gia về việc làm, lập Quỹ quốc gia về việc làm từ ngân sách nhà nước và các nguồn khác" (khoản 1 Điều 15)
Cho đến nay, đã có 4 Chương trình mục tiêu quốc gia giải quyết việc làm được Chính phủ phê duyệt trong 4 giai đoạn: 1992 - 1997, 1998 - 2000, 2001 - 2005, 2006 - 2010 Qua các giai đoạn, Chương trình giải quyết việc làm đạt được nhiều kết quả khả quan Tuy nhiên, việc thực hiện chương trình cho đến nay vẫn không tránh khỏi những khó khăn, bất cập Nguyên nhân khiến tỷ lệ việc làm mới còn thấp là do vốn đầu tư trên một lao động ngày càng cao và một số vướng mắc từ quy định của pháp luật cho đến điều hành, quản lý
Trang 7Giải quyết việc làm thời gian qua mới chỉ chú trọng tới khía cạnh số lượng, chất lượng việc làm được tạo mới còn thấp Số lao động được giải quyết việc làm hằng năm khá lớn, song đa số làm việc trong khu vực nông nghiệp với trình độ tay nghề, năng suất lao động
và thu nhập thấp Chính sách di chuyển lao động chưa phù hợp với tình hình nền kinh tế thị trường và hội nhập, chậm đổi mới, trước tiên là các chính sách sách liên quan đến hỗ trợ trực tiếp và cho vay vốn tạo việc làm cho đối tượng di dân, xây dựng địa bàn định cư gắn kinh tế với quốc phòng, phát triển kinh tế hộ gia đình, cho lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
Tại Việt Nam, quy định của pháp luật về hoạt động của tổ chức này ngày càng được hoàn thiện Với khung pháp lý về tổ chức giới thiệu việc làm, hiện nay cả nước có 130 tổ chức giới thiệu việc làm được thành lập mới hoặc thành lập lại với tên gọi Trung tâm giới thiệu việc làm và khoảng 100 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh giới thiệu việc làm Từ năm 2006 đến nay, các trung tâm đã tư vấn, giới thiệu việc làm cho khoảng 4,8 triệu lượt lao động Hàng năm các trung tâm giới thiệu việc làm cho khoảng 400 nghìn lao động
Để siết chặt quản lý các trung tâm giới thiệu việc làm, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/2005/NĐ-CP về quy định điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức giới thiệu việc làm Theo đó, hàng loại các cơ sở giới thiệu việc làm không đủ điều kiện kinh doanh sẽ phải đóng cửa hoạt động Tuy nhiên, trên thực tế, các trung tâm này đã tìm mọi cách thức để lẩn tránh thực hiện quy định của pháp luật
Quy định về nguồn tài chính của Trung tâm giới thiệu việc làm vẫn còn một số vướng mắc Các trung tâm giới thiệu việc làm gặp phải những khó khăn trong việc thu phí từ hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, thông tin thị trường lao động Việc rà soát, quy hoạch, quản lý hệ thống Trung tâm giới thiệu việc làm, các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm của các địa phương, Bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội còn chưa được chú trọng đúng mức nên gây ra nhiều vấn đề bức xúc và mất lòng tin của người dân Do đó, thiếu sự thống nhất và mối quan hệ chặt chẽ trong hệ thống giới thiệu việc làm trên cả nước và từng địa phương
Câu 4: Ý nghĩa của Quỹ giải quyết việc làm, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp đối với vấn đề
giải quyết việc làm
Nhu cầu vay vốn để phát triển kinh tế đối với nhiều công nhân viên chức, người lao động, hộ gia đình hiện nay là rất cần thiết, nhất là những hộ kinh tế còn khó khăn, phải nuôi các con học hành trong hoàn cảnh chỉ dựa vào tiền lương là nguồn thu nhập chính Những người lao động nếu có thể vay vốn phát triển kinh tế vừa giải quyết được vấn đề khó khăn đồng thời cũng tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho chính họ và những người khác Giảm tỷ lệ thất nghiệp cho xã hội, giải quyết được vấn đề việc làm Chính vì thế nhu cầu cấp thiết là tạo nên các loại quỹ hỗ trợ, giúp người lao động có thêm nguồn vốn để lập nghiệp và việc lập các Quỹ giải quyết việc làm, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp đã góp phần to lớn trong việc giải quyết vấn đề trên
Quỹ giải quyết việc làm
Theo Điều 1 Quyết định số 71/2005/QĐ-TTg: Quỹ giải quyết việc làm được dùng để
Trang 8cho vay hỗ trợ các dự án nhỏ nhằm tạo thêm việc làm, được quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương Chi tiết:
- Cho vay ưu đãi đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh và người lao động để hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm
- Hỗ trợ doanh nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế để hạn chế người lao động mất việc làm
- Hỗ trợ phát triển tổ chức dịch vụ việc làm và hệ thống thông tin thị trường lao động Theo thông tư số 107/2005/TT-BTC về vấn đề “ Hướng dẫn lập, quản lý, sử dụng Quỹ giải quyết việc làm địa phương và kinh phí quản lý Quỹ quốc gia về việc làm”
Mục 2b sử dụng quỹ : Quỹ việc làm địa phương được sử dụng làm vốn cho vay giải quyết việc làm theo đúng mục tiêu của chương trình giải quyết việc làm của địa phương Căn cứ kế hoạch vốn vay mới bổ sung hàng năm được duyệt, hàng quý, Sở Tài chính chuyển vốn cho Ngân hàng chính sách xã hội để làm nguồn vốn cho vay
Đối tượng cho vay là hộ kinh doanh cá thể; tổ hợp sản xuất; hợp tác xã hoạt động theo Luật Hợp tác xã; cơ sở sản xuất kinh doanh của người tàn tật; doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; chủ trang trại; Trung tâm Giáo dục Lao động - Xã hội;
hộ gia đình
Để được vay vốn, cần phải thoả mãn một số điều kiện sau: dự án vay vốn phải khả thi, phù hợp ngành nghề sản xuất kinh doanh, tạo việc làm mới, thu hút thêm lao động vào làm việc ổn định; Đối với đối tượng vay vốn là hộ gia đình, điều kiện được vay là phải bảo đảm tạo thêm tối thiểu một chỗ làm việc mới; dự án phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi thực hiện dự án
Như vậy có thể hiểu, “ Quỹ giải quyết việc làm” cho người dân vay vốn thực hiện phát triển kinh tế, tao công ăn việc làm, giúp người dân có thêm thu nhập ổn định cuộc sống, an tâm làm việc, công tác Đồng thời cũng đưa ra những điều kiện quy định để mở rộng cơ hội việc làm đó, góp phần không nhỏ trong việc tạo thêm việc làm, ổn định đời sống
“Quỹ quốc gia giải quyết việc làm” đã mang lại hiệu quả thiết thực, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến công tác xóa đói, giảm nghèo, tạo thêm việc làm mới cho hàng ngàn người lao động, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao cuộc sống gia đình vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng
Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm thất nghiệp là một trong những chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước đã và đang góp phần tích cực vào sự ổn định và an toàn xã hội Mục đích của bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị mất việc làm; hỗ trợ người bị thất nghiệp một khoản kinh phí nhất định để học nghề đồng thời được hưởng chế độ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật
Đối tượng được nhận bảo hiểm thất nghiệp là những người bị mất việc không do lỗi của cá nhân họ Người lao động vẫn đang cố gắng tìm kiếm việc làm, sẵn sàng nhận công việc mới và luôn nỗ lực nhằm chấm dứt tình trạng thất nghiệp Những người lao động này
sẽ được hỗ trợ một khoản tiền theo tỉ lệ nhất định
Trang 9Quỹ BHTN là quỹ tiền tệ tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia BHTN, theo nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro, không vì mục đích lợi nhuận Quỹ này được dùng để trợ cấp cho người lao động bị thất nghiệp, nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho họ và gia đình
Quỹ bảo hiểm thất nghiệp là khoản hỗ trợ tài chính tạm thời dành cho những người bị mất việc mà đáp ứng đủ yêu cầu theo Luật định
Theo Luật Bảo hiểm xã hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chương VI, mục 3
Điều 103 Sử dụng quỹ
1- Trả trợ cấp thất nghiệp
2- Hỗ trợ học nghề
3- Hỗ trợ tìm việc làm
4- Đóng bảo hiểm y tế cho người hưởng trợ cấp thất nghiệp
5- Chi phí quản lý
6- Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định tại Điều 96 và Điều 97 của Luật này
Theo đó ta thấy nhờ sự tài trợ của Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp người lao động tham gia BHTN, khi thất nghiệp sẽ được hỗ trợ về tư vấn giới thiệu việc làm, đào tạo nghề để có thể sớm tìm được việc làm, gia nhập lại thị trường lao động Như vậy, bên cạnh việc hỗ trợ một khoản tài chính đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động trong thời gian mất việc làm thì mục đích chính chính của hình thức bảo hiểm này là thông qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu sẽ sớm đưa người lao động thất nghiệp tìm được việc làm mới ổn định Điều này góp phần quan trọng giảm gánh nặng ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp, ổn định và bảo đảm an sinh xã hội Bảo hiểm thất nghiệp là một biện pháp
hỗ trợ người lao động trong nền kinh tế thị trường tạo điều kiện giúp người lao động có thể tìm kiếm những công việc thích hợp ổn định, giải quyết vấn đề việc làm cho xã hội
Bảo hiểm thất nghiệp là một loại hình bảo hiểm tiến bộ không chỉ có ý nghĩa hổ trợ NLĐ mà còn giá trị ổn định nền kinh tế - xã hội đối với đất nước Đây là một điểm mới và cần thiết, việc thực bảo hiểm thất nghiệp góp phần đáp ứng nguyện vọng của đông đảo NLĐ, đảm bảo mục tiêu an sinh xã hội Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, người lao động luôn đối mặt với nguy cơ thất nghiệp, việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp cho NLĐ
sẽ tạo thế chủ động trong việc hổ trợ NLĐ trong thời gian mất việc làm và là cơ sở từng bức đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế, quốc tế
Bảo hiểm thất nghiệp là một chế định mới rất cần thiết cho NLĐ trong nền kinh tế thị trường và có tính nhân văn cao vì nó không chỉ đảm bảo mức sống của chính NLĐ khi bị mất việc làm mà còn là sự chia sẽ rủi ro của những NLĐ đang làm việc đối với người bị mất việc
Câu 5: Theo anh/chị nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong vấn đề học nghề, đào
tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề đối với người lao động được pháp luật lao động Việt Nam quy định như thế nào?
Trang 10Đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ nghề là nghĩa vụ của NSDLĐ đối với NLĐ trong quá trình sử dụng lao động Nghĩa vụ này vừa đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của NSDLĐ, vừa nhằm mục đích đảm bảo việc làm cho NLĐ
Pháp luật quy định rõ, NSDLĐ phải xây dựng kế hoạch hàng năm và dành kinh phí cho việc đào tạo và tổ chức đào tạo bồ dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho NLĐ đang làm việc cho mình; đào tạo cho NLĐ trước khi chuyển làm nghề khác cho mình Đồng thời, trong báo hàng năm về lao động, NSDLĐ phải báo cáo kết quả đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh biết
Những nội dung này chủ yếu được quy định trong Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006 và 2007), Luật Dạy nghề năm 2006, Nghị định của Chính phủ số 139/2006/NĐ-CP ngày 20/11/2006 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục và Bộ luật Lao động về học nghề, Nghị định của Chính phủ số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động, Thông tư của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 hướng dẫn thi hành Nghị định số 44/2003/NĐ-CP
Luật Lao Động 2012
Điều 60 Trách nhiệm của người sử dụng lao động về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề
1 Người sử dụng lao động xây dựng kế hoạch hằng năm và dành kinh phí cho việc đào tạo và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho người lao động đang làm việc cho mình; đào tạo cho người lao động trước khi chuyển làm nghề khác cho mình
2 Người sử dụng lao động phải báo cáo kết quả đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ,
kỹ năng nghề cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh trong báo cáo hằng năm
về lao động
Luật Dạy Nghề
Điều 57 Nghĩa vụ của doanh nghiệp trong việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề và đào tạo lại nghề cho người lao động của doanh nghiệp
1 Xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động của doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân lực và đổi mới công nghệ trong sản xuất, kinh doanh
2 Tạo điều kiện cho người lao động của doanh nghiệp vừa làm, vừa học để nâng cao trình độ kỹ năng nghề
3 Đào tạo lại nghề cho người lao động khi chuyển sang làm công việc khác của doanh nghiệp Chi phí đào tạo lại và tiền lương, tiền công cho người lao động trong thời gian học nghề do doanh nghiệp chi trả
Nghị định của Chính phủ số 139/2006/NĐ-CP ngày 20/11/2006 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục và Bộ luật Lao động về học nghề
Điều 14 Doanh nghiệp với việc đào tạo nghề, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề
và đào tạo lại nghề cho người lao động
1 Xây dựng và thực hiện kế hoạch dạy nghề, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng