Với những lý do như trên, đề tài này được chọn với tên “Đánh giá tác động của thiên tai gây ra bởi BĐKH đến sinh kế người dân xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định” nhằm đánh giá
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SAU ĐẠI HỌC -
LÊ NGUYỄN THU HƯƠNG
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI GÂY RA BỞI
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SINH KẾ NGƯỜI DÂN
XÃ GIAO XUÂN, HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HÀ NỘI - 2014
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SAU ĐẠI HỌC -
LÊ NGUYỄN THU HƯƠNG
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI GÂY RA BỞI
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SINH KẾ NGƯỜI DÂN
XÃ GIAO XUÂN, HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Quang Thành
HÀ NỘI - 2014
Trang 33
LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Biến đổi khí hậu “Đánh giá tác động của thiên
tai gây ra bởi BĐKH đến sinh kế người dân xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định” đã hoàn thành tháng 12 năm 2014 Trong suốt quá trình học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô, bạn
bè và gia đình
Trước hết tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo TS Bùi Quang Thành đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy, Cô giáo Khoa Sau đại học
- Đại học Quốc gia Hà Nội đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện và hướng dẫn trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn tới dự án “Nghiên cứu thủy tai do biến đổi khí
hậu và xây dựng hệ thống thông tin nhiều bên tham gia nhằm giảm thiểu tính dễ tổn thương ở Khu vực Bắc Trung Bộ - Việt Nam (CPIS)” do GS TS Phan Văn Tân làm
chủ nhiệm Tác giả đã thu được nhiều kiến thức và kết quả từ dự án
Trong luận văn, tác giả có sử dụng kết quả từ Dự án “Xây dựng quan hệ đối tác
nhằm tăng cường khả năng phục hồi trước Biến đổi khí hậu của các cộng đồng ven biển Việt Nam – Dự án PRC (MCD 46)”
Trong khuôn khổ một luận văn, do sự giới hạn về thời gian và kinh nghiệm nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các bạn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014 Tác giả
MỤC LỤC
Trang 44
MỤC LỤC……… 4
DANH MỤC CÁC BẢNG……… 6
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ……… … 7
MỞ ĐẦU……… 8
1 Tính cấp thiết của đề tài……… 8
2 Mục tiêu nghiên cứu……… 9
3 Dự kiến đóng góp của đề tài……… 9
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu……… 10
5 Phạm vi nghiên cứu……… 10
6 Nguồn số liệu……… 10
7 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu……… 10
8 Cấu trúc của luận văn ……… 11
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ BĐKH VÀ SINH KẾ NGƯỜI DÂN……… 12
I.1 Một số khái niệm……… 12
I.1.1 Sinh kế bền vững……… 12
I.1.2 Quan điểm về tính dễ bị tổn thương……… 16
I.1.3 Khái niệm thích ứng……… … 18
I.1.4 Khái niệm GIS……… 18
I.2 Tổng quan nghiên cứu về BĐKH và sinh kế người dân……… 19
I.2.1 Các nghiên cứu về BĐKH trên thế giới và Việt Nam……… 19
I.2.2 Tổng quan nghiên cứu về sinh kế người dân trên thế giới và Việt Nam … 21
CHƯƠNG II: NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU……… 26
II.1 Nội dung nghiên cứu……… 26
II.2 Khung khái niệm……… 28
II.3 Phương pháp nghiên cứu……… 30
II.3.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu……… 30
Trang 55
II.3.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa……… 31
II.3.3 Phương pháp xử lý số liệu……… 32
II.4 Địa bàn nghiên cứu……… 32
II.4.1 Điều kiện tự nhiên……… 32
II.4.2 Hiện trạng kinh tế, xã hội……… 35
II.4.3 Cơ sở hạ tầng và các vấn đề khác……… 35
II.4.4 Tiềm năng phát triển du lịch trong khu vực……… 37
CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN……… 39
III.1 Tác động của BĐKH tới hiện tượng thiên tai tại xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định……… 39
III.1.1 Đánh giá tình hình bão tại khu vực Đông Bắc Bộ……… 39
III.1.2 Các biểu hiện thiên tai những năm qua tại huyện Giao Thủy, Nam Định 41
III.2 Đặc điểm thực trạng sinh kế xã Giao Xuân……… 44
III.2.1 Thực trạng sinh kế xá Giao Xuân……… 44
III.2.2 Phân tích điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức……… 54
III.3 Tác động của thiên tai tới sinh kế người dân xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định……… 57
III.3.1 Các biểu hiện tác động của thiên tai tới hoạt động sinh kế người dân… 57
III.3.2 Các tác động của thiên tai tới sinh kế cộng đồng……… 59
III.3.3 Đánh giá mức độ tác động của thiên tai tới hoạt động sinh kế………… 60
III.3.4 Phân tích các ảnh hưởng của thiên tai và khả năng chống chịu của cộng đồng trước các loại hình thiên tai……… 62
III.4 Đánh giá năng lực thích ứng của người dân địa phương thông qua các nguồn vốn sinh kế……… 65
III.4.1 Đánh giá các nguồn vốn……… 65
III.4.2 Lựa chọn sinh kế của hộ……… 71
III.4.3 Nhận thức của cộng đồng vê ftasc động và khả năng ứng phó BĐKH… 73
III.5 Những giải pháp cải thiện sinh kế người dân trước những tác động của thiên tai gây nên bởi BĐKH……… 75
Trang 66
III.5.1 Các biện pháp ứng phó đã thực hiện……… 76 III.5.2 Các giải pháp thích ứng với BĐKH trong phát triển sinh kế bền vững… 77 III.6 Sử dụng GIS trong việc đánh giá sơ bộ tính dễ bị tổn thương gây ra bởi thiên tai tới sinh
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 77
Bảng 2.1 Cơ cấu dân số và lao động tại xã Giao Xuân……… 35
Bảng 3.1: Trình độ chuyên môn của những người nuôi trồng thủy sản…… 44
Bảng 3.2: Các chi phí đầu tư lớn ban đầu - tài sản cố định 45
Bảng 3.3: Các khoản chi phí nuôi trồng của các hộ 46
Bảng 3.4: Sản phẩm thu hoạch của các hộ thuộc xã Giao Xuân 47
Bảng 3.5: Trình độ chuyên môn của những hộ chăn nuôi 48
Bảng 3.6: Chi phí của các hộ đầu tư ban đầu - tài sản cố định 49
Bảng 3.7: Trình độ chuyên môn của các hộ trồng trọt……… 50
Bảng 3.8: Chi phí của các hộ đầu tư ban đầu - tài sản cố định 51
Bảng 3.9: Các khoản chi phí trồng trọt……… 52
Bảng 3.10: Tổng sản phầm năm 2010 của các hộ trồng trọt……… 52
Bảng 3.11: Các ngành nghề khác của các hộ có hoạt động sinh kế khác…… 53
Bảng 3.12: Hồ sơ thiên tai……… 57
Bảng 3.13: Đánh giá mức độ tác động của các hiểm họa thiên nhiên……… 61
Bảng 3.14: Vai trò của các nguồn vốn……… 65
Bảng 3.15: Nguồn và cơ hội để tiếp cận các nguồn vốn……… 70
Bảng 3.16: Các hoạt động kinh tế trên địa bàn xã bị ảnh hưởng bất lợi nhiều nhất khi xảy ra các hiện tượng thời tiết cực đoan……… 73
Bảng 3.17: Các công trình hạ tầng kỹ thuật cần phải nâng cấp để đáp ứng nhu cầu sản xuất của cộng đồng khi xảy ra các hiện tượng thời tiết cực đoan 74
Bảng 3.18: Các giải pháp ứng phó với hiểm họa thiên nhiên 77
Bảng 3.19: Chuẩn hóa các biến số 83
Trang 88
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Khung sinh kế nông thôn bền vững của Scoones (1998) 16
Hình 1.2: Khung Sinh kế bền vững của DFID (2001) 17
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí xã Giao Xuân……… 31
Hình 3.1: Số lần xuất hiện của bão từ năm 1962-2010……… 39
Hình 3.2 : Số lượng các cơn bão theo thống kê từ năm 1962-2010……… 40
Hình 3.3: Tỷ lệ % các cấp bão……… 40
Hình 3.4: Thống kê về cấp các cơn bão trong khoảng thời gian từ 1962 – 2010 41
Hình 3.5 Lựa chọn phát triển sinh kế trong tương lai……… 71
Hình 3.6 Lý do lựa chọn hướng phát triển sinh kế……… 72
Trang 99
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu đã và đang làm thiên tai ở nước ta có chiều hướng ngày càng phức tạp, gia tăng nhiều hơn so với những thập kỷ trước về cả quy
mô cũng như chu kỳ lặp lại kèm theo những đột biến khó lường Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, là một trong năm ổ bão của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thường xuyên phải đối mặt với nhiều loại hình thiên tai khốc liệt Trong hơn
65 năm qua, thiên tai đã xảy ra ở hầu hết các khu vực trên cả nước, gây nhiều tổn thất
to lớn về người, tài sản, cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội và tác động xấu đến môi trường, gây ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế quốc dân, thậm chí còn tác động mạnh hơn đến sinh kế của những nhóm dân cư nghèo nhất sinh sống ở khu vực nông thôn
Huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định là một trong những địa điểm chịu ảnh hưởng thiên tai ở nước ta Bằng chứng cho thấy biến đổi khí hậu đã tác động không nhỏ đến khu vực này Mùa mưa bão trên địa bàn huyện thường xẩy ra vào tháng 6 đến tháng 9 trong năm, nhiều nhất là tháng 8 Tuy nhiên, những năm gần đây bão xuất hiện có nhiều thay đổi hơn so với trước, cụ thể: gió bão lớn hơn và kèm theo mưa cũng lớn hơn, có lúc nhiều cơn bão liên tục trong một thời gian rất ngắn (điều này trước đây rất hiếm) Tác động chủ yếu của bão là gây ra rất nhiều thiệt hại đối với hoạt động sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản của người dân Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến sinh kế của người dân khu vực Hiện nay, trong bối cảnh BĐKH diễn biến ngày càng phức tạp, chúng ta cần đánh giá được tác động của thiên tai gây ra bởi BĐKH tới sinh kế người dân khu vực Từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp giúp người dân thích ứng với BĐKH, hướng tới phát triển sinh kế bền vững
Với những lý do như trên, đề tài này được chọn với tên “Đánh giá tác động
của thiên tai gây ra bởi BĐKH đến sinh kế người dân xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định” nhằm đánh giá các tác động của thiên tai gây ra bởi BĐKH đối
với các hoạt động sản xuất và những khả năng thích ứng của người dân trước những tác động đó; ứng dụng GIS xây dựng công cụ thành lập bản đồ tính dễ bị tổn thương của khu vực nghiên cứu, từ đó tạo cơ sở cho việc đề xuất được những giải pháp hợp lý
Trang 1010
để cải thiện sinh kế cho các hộ gia đình trước những diễn biến ngày càng phức tạp của BĐKH
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tổng hợp các số liệu về các hiện tượng thiên tai ở huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định trong những năm gần đây;
- Phân tích theo nhận định của người dân về tần suất, mức độ tác động và các dấu hiệu cảnh báo của thiên tai đối với hoạt động sản xuất của người dân tại xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định;
- Đánh giá năng lực thích ứng của người dân trước những tác động của thiên tai;
- Sự tham gia của cộng đồng trong việc sử dụng GIS để đánh giá sơ bộ sự tổn thương của thiên tai tới sinh kế người dân
3 Dự kiến những đóng góp của đề tài
- Ý nghĩa khoa học
Luận văn tổng hợp các số liệu để đánh giá mức độ tác động của các hiện tượng thiên tai theo quan điểm của người dân địa phương Luận văn cũng sử dụng khái niệm, tiêu chí đánh giá sinh kế bền vững và khung khái niệm về sinh kế bền vững để tìm hiểu và đánh giá năng lực thích ứng của người dân trước những tác động của các hiện tượng thiên tai Đồng thời, luận văn áp dụng xây dựng một công cụ sử dụng GIS để người dân đánh giá sơ bộ sự tổn thương của thiên tai tới sinh kế người dân khu vực
- Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở phân tích một cách khoa học, luận văn hy vọng mô tả được đầy đủ
sự thay đổi của hiện tượng thiên tai do sự gia tăng BĐKH, những tác động của các hiện tượng thiên tai đến hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, các hoạt động sinh kế khác, thu nhập của người dân tại khu vực nghiên cứu, và nhận biết được những kinh nghiệm và kiến thức bản địa mà người dân tại khu vực nghiên cứu đã áp dụng trong việc ứng phó trước những tác động đó Đồng thời miêu tả được sự tham gia của cộng đồng trong việc sử dụng công cụ GIS trong việc đánh giá sơ bộ tổn thương của thiên tai tới sinh kế người dân
Trang 1111
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Cộng đồng dân cư thuộc xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
- Đối tượng nghiên cứu: sinh kế của người dân tại khu vực nghiên cứu (hoạt động sản xuất nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và các hoạt động khác như buôn bán, hoạt động phục vụ du lịch sinh thái) và tính dễ bị tổn thương của khu vực
trước tác động của thiên tai
5 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
- Phạm vi thời gian: khoảng thời gian được lựa chọn để nghiên cứu từ 2008 đến 2012
6 Nguồn số liệu
Trong luận văn, tác giả có sử dụng nguồn số liệu từ Dự án “Xây dựng quan hệ đối tác nhằm tăng cường khả năng phục hồi trước Biến đổi khí hậu của các cộng đồng ven biển Việt Nam – Dự án PRC (MCD 46)”
7 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
- Mức độ tác động của thiên tai đối với các hoạt động sản xuất của người dân xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định như thế nào?
- Năng lực thích ứng của người dân như thế nào trước những sự gia tăng của thiên tai do BĐKH?
- GIS có thể sử dụng như công cụ hỗ trợ cho việc ra quyết định thông qua việc xây dựng bản đồ chỉ số tổn thương?
Giả thuyết nghiên cứu
- Những hiện tượng thiên tai ngày càng gia tăng do BĐKH và có tác động xấu đến hoạt động sinh kế của người dân (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, ) Nắm vững được đầy đủ những tác động này, dựa trên cơ sở những kinh nghiệm của người dân địa phương và sử dụng phương pháp truyền thông hiệu quả, sẽ góp phần nâng cao khả năng thích ứng của người dân
- Người dân địa phương đã có một số kinh nghiệm ứng phó trước đây đối với những tác động của thiên tai
Trang 1212
- GIS cung cấp cái nhìn trực quan trong xây dựng bản đồ chỉ số tổn thương thông
qua việc tương tác lựa chọn các tham số mô hình
8 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm những phần chính như sau:
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THIÊN TAI DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỐI KHÍ HẬU VÀ SINH KẾ NGƯỜI DÂN
CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 1313
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ SINH
KẾ NGƯỜI DÂN I.1 Một số khái niệm
I.1.1 Sinh kế bền vững
a Khái niệm về sinh kế bền vững
Khái niệm sinh kế bền vững về cơ bản được dựa trên nền tảng của khái niệm phát triển bền vững Sinh kế (livelihood) được hiểu là có các nguồn dự trữ về lương thực và tiền bạc để đáp ứng các nhu cầu cơ bản An ninh (security) được hiểu là được
sở hữu hoặc được tiếp cận các nguồn lực và hoạt động tạo thu nhập để bù đắp rủi ro, làm giảm các đột biến cũng như ứng phó kịp thời với những bất thường xảy ra Bền vững (sustainable) đề cập đến khả năng duy trì hoặc tăng cường năng suất trong dài hạn Do đó, một hộ gia đình có thể đạt được an ninh sinh kế bền vững bằng nhiều cách: sở hữu đất đai, cây trồng và vật nuôi; có quyền được chăn thả, đánh bắt, săn bắn hoặc hái lượm; có công việc ổn định với mức thu thập đủ trang trải các nhu cầu của cuộc sống,….Sinh kế bền vững là một khái niệm lồng ghép và được coi là phương tiện
để đạt được 2 mục tiêu: công bằng và bền vững
Một định nghĩa đầy đủ hơn của Chambers và Conway vào năm 1992 về sinh kế là: "sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện
sống của con người" Một sinh kế là bền vững “khi nó có thể giải quyết được hoặc có
khả năng phục hồi từ những căng thẳng và đột biến, duy trì hoặc tăng cường khả năng
và nguồn lực; tạo ra các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ tương lai và mang lại lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cả cấp địa phương và cấp toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn" (Chambers và Conway, 1992, tr.6) Sinh kế có thể được nghiên cứu ở các cấp
độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình, thôn, vùng,… nhưng phổ biến nhất là cấp hộ gia đình Theo quan điểm của Chambers và Conway, sinh kế bền vững là một khái niệm lồng ghép của 3 yếu tố cơ bản là: khả năng, công bằng và bền vững
Dựa trên khái niệm về sinh kế bền vững của Chambers và Conway (1992), Scoones (1998) định nghĩa sinh kế "bao gồm khả năng, nguồn lực (bao gồm các nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người Một sinh kế được coi là bền vững khi nó có thể giải quyết được hoặc có
Trang 14b Nội dung:
Chambers và Conway (1992) đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 2 phương diện: bền vững về môi trường (đề cập đến khả năng của sinh kế trong việc bảo tồn hoặc tăng cường các nguồn lực tự nhiên, đặc biệt cho các thế hệ tương lai) và bền vững về xã hội (đề cập đến khả năng của sinh kế trong việc giải quyết những căng thẳng và đột biến và duy trì nó trong dài hạn) Sau này, Scoones (1998), Ashley, C và Car-ney, D.(1999), DFID (2001) và Solesbury (2003) đã phát triển tính bền vững của sinh kế trên cả phương diện kinh tế và thể chế và đi đến thống nhất đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 4 phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế
Theo các tác giả trên, cả 4 phương diện này đều có vai trò quan trọng như nhau
và cần tìm ra một sự cân bằng tối ưu cho cả 4 phương diện Cùng trên quan điểm đó, một sinh kế là bền vững khi: (i) có khả năng thích ứng và phục hồi trước những cú sốc hoặc đột biến từ bên ngoài; (ii) không phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên ngoài; (iii) duy trì được năng suất trong dài hạn của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và (iv) không làm phương hại đến các sinh kế khác
c Khung sinh kế bền vững:
a Các yếu tố cấu thành khung sinh kế bền vững
Về cơ bản, các khung sinh kế bền vững đều phân tích sự tác động qua lại của 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế hộ gia đình là: (i) nguồn lực sinh kế; (ii) chiến lược sinh kế, (iii) kết quả sinh kế, (iv) các quy trình về thể chế và chính sách, và (v) bối cảnh bên ngoài (DFID, 2001)
* Nguồn lực sinh kế: Có 5 loại nguồn lực sinh kế: Nguồn lực tự nhiên, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, nguồn lực con người, nguồn lực xã hội
Trang 1515
* Chiến lược sinh kế: là cách mà hộ gia đình sử dụng các nguồn lực sinh kế sẵn
có để kiếm sống và đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống
* Kết quả sinh kế: là những thành quả mà hộ gia đình đạt được khi kết hợp các nguồn lực sinh kế khác nhau để thực hiện các chiến lược sinh kế Các kết quả sinh kế chủ yếu bao gồm: tăng thu nhập, cải thiện phúc lợi, giảm khả năng bị tổn thương, tăng cường an ninh lương thực, sử dụng bền vững hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên
* Thể chế, chính sách
* Bối cảnh bên ngoài: Bối cảnh bên ngoài, hiểu một cách đơn giản, là môi trường bên ngoài mà con người sinh sống Sinh kế của người dân và nguồn lực sinh kế của họ bị ảnh hưởng rất nhiều bởi 3 yếu tố thuộc bối cảnh bên ngoài là: các xu hướng, các cú sốc và tính mùa vụ
Trong 5 yếu tố cấu thành khung sinh kế bền vững, 5 nguồn lực sinh kế đóng vai trò cốt lõi đối với các hoạt động sinh kế ở cấp cá nhân, hộ gia đình hoặc một nhóm đối tượng vì nó quyết định các chiến lược sinh kế nào được thực hiện để đạt được các kết quả sinh kế mong muốn Tuy nhiên, các nguồn lực sinh kế này cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc bối cảnh bên ngoài và thể chế, chính sách ở địa phương Do đó, sự tương tác giữa các nhóm yếu tố này, kết hợp với nhu cầu về sinh kế, sẽ quyết định các chiến lược sinh kế của các cá nhân, hộ gia đình và các nhóm đối tượng khác nhau
b Một số khung sinh kế bền vững tiêu biểu
Khung sinh kế nông thôn bền vững (Sustainable Rural Livelihoods Framework)
Scoones (1998) là người đầu tiên đưa ra khung phân tích về sinh kế nông thôn bền vững Câu hỏi then chốt được đặt ra trong khung phân tích này là: trong một bối cảnh cụ thể (về môi trường chính sách, chính trị, lịch sử, sinh thái và các điều kiện kinh tế - xã hội), sự kết hợp nguồn lực sinh kế nào (5 loại nguồn lực khác nhau) sẽ tạo
ra khả năng thực hiện các chiến lược sinh kế (sản xuất nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng, du lịch, đa dạng hóa các loại hình sinh kế và di dân) nhằm đạt được các kết quả sinh kế nhất định Mối quan tâm chính trong khung phân tích này là các qui trình thể chế và chính sách - được coi là nhân tố trung gian giúp thực hiện những chiến lược sinh kế này và đạt được các kết quả sinh kế mong muốn
Trang 1616
Nguồn: Scoones, 1998
Hình 1.1: Khung sinh kế nông thôn bền vững của Scoones (1998)
Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework)
Năm 2001, Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khung sinh kế bền vững để xác định và thiết kế các hoạt động hỗ trợ của mình
Trong khung này, các hộ gia đình đều có phương thức kiếm sống (chiến lược sinh kế) dựa vào những nguồn lực sinh kế sẵn có (5 loại nguồn lực) trong một bối cảnh chính sách và thể chế nhất định ở địa phương Những nhân tố này cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như bão lụt và các tác động mang tính thời vụ Sự lựa chọn về chiến lược sinh kế của các hộ gia đình dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quả của sự tương tác giữa các nhóm yếu tố này
Trang 1717
Hình 1.2: Khung Sinh kế bền vững của DFID (2001) Việc phân tích khung sinh kế bền vững sẽ giúp trả lời câu hỏi: nguồn lực sinh
kế nào, chiến lược sinh kế nào, thể chế, chính sách nào là quan trọng để đạt được sinh
kế bền vững cho các nhóm đối tượng khác nhau
I.1.2 Quan điểm về tính dễ bị tổn thương
Có rất nhiều những khái niệm dễ bị tổn thương được sử dụng, có thể chỉ ra 3 trường phái về tính dễ bị tổn thương: (1) Chú trọng đến sự tiếp xúc với các hiểm họa sinh lý bao gồm phân tích điều kiện phân bố các hiểm họa, khu vực hiểm họa mà con người đang sống, mức độ thiệt hại và phân tích các đặc trưng tác động (e.g., Heyman
et al.1991, Alexander 1993); (2) Chú trọng đến các khía cạnh xã hội và các tổn thương liên quan đến xã hội nhằm đối phó với các tác động xấu trong cộng đồng dân cư bao gồm cả khả năng chống chịu và khả năng tự phục hồi đối với hiểm họa (e.g., Blaikie
et al 1994, Watts and Bohle 1993); (3) Kết hợp cả hai phương pháp và xác định tính
dễ bị tổn thương như là hiểm họa nơi mà chứa đựng những rủi ro sinh lý cũng như những tác động thích ứng của xã hội (Cutter 1996, Weichselgartner 2001: 169 ff);
Quan điểm thứ nhất: Quan điểm chú trọng đến sự tiếp xúc với các hiểm họa sinh lý, bao gồm phân tích điều kiện phân bố của các hiểm họa, khu vực hiểm họa mà con người đang sống, mức độ thiệt hại và phân tích các đặc trưng tác động
Trang 1818
Dow (1995) cho rằng tính dễ bị tổn thương có thể được định nghĩa là “khả năng
bị thương” hoặc “thiệt hại tiềm năng” Tác giả coi trọng tính dễ bị tổn thương về khía cạnh các tác nhân bên ngoài Các yếu tố nội tại bên trong của đối tượng bị tác động hay năng lực thích ứng chưa được đề cập đến trong quan điểm của tác giả [14]
Quan điểm thứ hai: Quan điểm chú trọng đến các khía cạnh xã hội và các tổn thương liên quan đến xã hội nhằm đối phó với các tác động xấu trong cộng đồng và có tính đến khả năng chống chịu và khả năng tự phục hổi đối với các hiểm họa
Blaikie et al (1994) cho rằng tính dễ bị tổn thương trong khuôn khổ khía cạnh con người (hay xã hội) như là “đặc tính của họ có thể dự đoán, đối phó, chống lại và phục hồi từ tác động của thiên tai” nó là sự kết hợp của các yếu tố nhằm xác định mức
độ cuộc sống và sinh kế của con người bị tác động bởi những rủi ro bên ngoài Tuy nhiên mức độ phơi nhiễm hoặc nguy cơ xảy ra tai biến không được đề cập trong khái niệm của các tác giả
Quan điểm thứ ba: Sự kết hợp cả hai quan điểm trên, xác định tính dễ bị tổn thương bao gồm cả hiểm họa nơi mà chứa đựng rủi ro lý-sinh cũng như là những hành động thích ứng của xã hội
Trong điều kiện tiếp xúc với một số căng thẳng hoặc khủng hoảng, tính dễ bị tổn thương không chỉ bởi tiếp xúc với sự nguy hiểm mà còn phụ thuộc vào khả năng đối phó của những đối tượng bị ảnh hưởng Khả năng đối phó được xác định như một
sự kết hợp giữa sự kháng cự và khả năng phục hồi tổn thương một cách nhanh chóng Trong báo cáo đánh giá lần thứ II của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) (xem glossary of term, phụ lục B, Waston et al, 1996) định nghĩa tính dễ bị tổn thương: “Mức độ mà những thay đổi khí hậu có thể hủy hoại hoặc gây hại tới một hệ thống; nó phụ thuộc không chỉ vào tính nhạy cảm của một hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng đối với những điều kiện khí hậu mới” Theo quan điểm trên, tính dễ bị tổn thương liên quan chặt chẽ đến những biến đổi khí hậu tiềm tàng và năng lực ứng phó thích nghi, nó được xem như những tác động còn lại của biến đổi khí hậu sau khi các biện pháp thích ứng được thực hiện
Trong báo cáo lần thứ IV của IPCC 2007 [17], định nghĩa rằng: khả năng dễ bị tổn thương là “mức độ mà một hệ thống mẫn cảm và không có khả năng đối phó với
Trang 19I.1.3 Khái niệm thích ứng
Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương
do dao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại Đây một khái niệm rất rộng, là một quá trình qua đó con người làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khỏe và đời sống và tận dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại Thích ứng có nghĩa là điều chỉnh, hoặc thụ động hoặc phản ứng tích cực hoặc có phòng bị trước được đưa ra với ý nghĩa giảm thiểu và cải thiện những hậu quả có hại của BĐKH Thích ứng còn có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với BĐKH nhằm làm giảm tính dễ bị tổn thương Cây cối, động vật, và con người không thể tồn tại một cách đơn giản như trước khi có BĐKH nhưng hoàn toàn có thể thay đổi các hành vi của mình để thích ứng và giảm thiểu các rủi ro từ những thay đổi đó
I.1.4 Khái niệm GIS
Hệ thống thông tin địa lý - Geographic Information System (GIS) là một hệ
thống kết hợp giữa con người và hệ thống máy tính cùng các thiết bị ngoại vi để lưu trữ, xử lý, phân tích, hiển thị các thông tin địa lý để phục vụ một mục đích nghiên cứu, quản lý nhất định
Xét dưới góc độ là công cụ, GIS dùng để thu thập, lưu trữ, biến đổi, hiển thị các thông tin không gian nhằm thực hiện các mục đích cụ thể
Trang 2020
Xét dưới góc độ là phần mềm, GIS làm việc với các thông tin không gian, phi không gian, thiết lập quan hệ không gian giữa các đối tượng Có thể nói các chức năng phân tích không gian đã tạo ra diện mạo riêng cho GIS
Xét dưới góc độ ứng dụng trong quản lý nhà nước, GIS có thể được hiểu như là một công nghệ xử lý các dữ liệu có toạ độ để biến chúng thành các thông tin trợ giúp quyết định phục vụ các nhà quản lý
I.2 Tổng quan nghiên cứu về Biến đổi khí hậu và sinh kế người dân
I.2.1 Các nghiên cứu về Biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam
Vào cuối thế kỷ XIX, các nhà khoa học đã bắt đầu nhận thấy mầm mống của biến đổi khí hậu, tuy nhiên tại thời điểm đó người ta chưa nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của nó Năm 1896, nhà hóa học người Thụy Điển, Svante Arrherius đưa
ra kết luận rằng việc đốt than trong công nghiệp sẽ đẩy mạnh hiệu ứng nhà kính Kết luận của ông về mức độ ảnh hưởng của khí nhà kính nhân tạo gần như trùng khớp với
mô hình khí hậu ngày nay, nghĩa là nếu lượng khí nhà kính tăng gấp đôi thì nhiệt độ trung bình của toàn cầu sẽ tăng vài độ C
Năm 1938, sử dụng số liệu của 147 trạm khí tượng trên thế giới, kỹ sư người Anh, Guy Callendar chỉ ra nhiệt độ đã tăng lên trong suốt thế kỷ qua Ông cũng chỉ ra rằng nồng độ CO2 cũng tăng lên trong khoảng thời gian đó và đây có thể chính là nguyên nhân của sự ấm lên Nhưng “hiệu ứng Callendar” đã bị đông đảo các nhà khí tượng học thời đó không công nhận Từ năm 1955 đến trước 1975, các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu tỉ mỉ hơn về CO2, mức độ tập trung CO2 và các bằng chứng về mức độ hấp thụ tia hồng ngoại của CO2 và một số khí nhà kính khác
Đến năm 1975, khái niệm “nóng lên toàn cầu” lần đầu tiên được công chúng biết tới khi nhà khoa học Mỹ, Wallace Broecker sử dụng thuật ngữ này làm tiêu đề cho một bài báo khoa học của mình Năm 1987, Nghị định thư Montreal được thỏa thuận, quy định giới hạn của các hóa chất gây hại đến tầng ozone Mặc dù không đề cập tới vấn đề biến đổi khí hậu, song nghị định thư Montreal vẫn có tầm ảnh hưởng lớn hơn nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí nhà kính
Trang 2121
Đại hội đồng Liên hợp Quốc lần đầu tiên đặt sự quan tâm vào vấn đề biến đổi khí hậu do con người gây ra vào năm 1988 khi có các bằng chứng khoa học về một mùa hè nóng bất thường ở Hoa Kỳ cũng như nhận thấy sự gia tăng nhận thức của con người về các vấn đề môi trường toàn cầu và kỳ vọng về sự tham gia của cộng đồng quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề môi trường toàn cầu, đặc biệt là sau các vòng đàm phán thành công về Nghị định thư Montreal (năm 1987) về các chất làm suy giảm tầng ôzôn Cũng trong năm 1988, WMO và UNEP cùng thành lập Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu gọi tắt là IPCC với nhiệm vụ đánh giá các thông tin khoa học
về biến đổi khí hậu, bao gồm các tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đối với con người, cũng như các biện pháp giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu
Năm 1990, IPCC đã công bố báo cáo đánh giá đầu tiên về thực trạng biến đổi khí hậu toàn cầu Cũng trong năm 1990, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc chính thức phát động các cuộc đàm phán về Công ước khung về Biến đổi khí hậu
Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về môi trường và phát triển tại Rio de Janeiro năm 1992, chính phủ các nước đã ký kết Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) Mục đích quan trọng của công ước này là ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức độ có thể ngăn chặn được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu Các nước phát triển đồng ý giảm lượng phát thải khí nhà kính của nước họ xuống mức năm 1990
Năm 1995, báo cáo đánh giá thứ hai của IPCC kết luận rằng sự cân bằng của các bằng chứng có thể thấy rõ các tác động không nhỏ của loài người đến hệ thống khí hậu Đây được xem là lời khẳng định đầu tiên về trách nhiệm của con người đối với sự biến đổi khí hậu Cùng với đó, năm 1997 nghị định thư Kyoto được thông qua, (sau đó đến năm 2005 nghị định này có hiệu lực) và các nước phát triển cam kết giảm 5% lượng phát thải trong khoảng thời gian từ 2008 – 2012 Năm 2001, IPCC công bố báo cáo lần thứ ba cho thấy các bằng chứng mới và mạnh mẽ hơn về cấc khí nhà kính do con người thải ra là nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng nóng lên diễn ra trong suốt nửa sau của thế kỷ 20
Trang 2202 kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam lần lượt năm 2009 và năm 2011
I.2.2 Tổng quan nghiên cứu về sinh kế người dân trên thế giới và Việt Nam
Cách tiếp cận sinh kế bền vững đã làm thay đổi các cách tiếp cận đối với phát triển trong thời kỳ những năm 1980 và 1990 theo hướng tập trung vào phúc lợi của con người và tính bền vững hơn là mục tiêu tăng trưởng kinh tế Được khởi nguồn từ
tư tưởng phát triển bền vững trong Báo cáo Bruntland (1987) và Báo cáo Phát triển Con người (1990), khái niệm sinh kế bền vững sau đó đã được các nhà nghiên cứu và các tổ chức phi chính phủ quốc tế phát triển và áp dụng vào các dự án phát triển quốc
tế về xóa đói giảm nghèo Cách tiếp cận này cũng ngày càng nhận được sự đồng thuận của các nhà hoạch định chính sách bởi cách tiếp cận hướng vào con người với mong muốn tạo ra một kỷ nguyên mới của các hoạt động phát triển (Solesbury, 2003)
Từ đầu những năm 1990, các tổ chức tài trợ quốc tế như CARE International, DANIDA, Oxfam, DFID, UNDP… đã áp dụng khung sinh kế bền vững để thiết kế các dự án và chương trình xóa đói giảm nghèo và quản lý tài nguyên ở vùng nông thôn
và ven biển ở châu Á và châu Phi theo cách tiếp cận hướng vào người nghèo và có sự tham gia Cũng có một số nghiên cứu áp dụng lý thuyết khung sinh kế bền vững để phân tích các cơ hội và thách thức về sinh kế của người dân ở khu vực nông thôn và
Trang 23bố bài viết về tính dễ bị tổn thương về mặt xã hội do biến đổi khí hậu trong hoàn cảnh của Việt Nam Trong bài viết này, ông đã chỉ ra được nguyên nhân và sự gia tăng tính
dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu tại vùng phía bắc Việt Nam đối với một số các tổ chức ngành kinh tế trong hiện trạng biến đổi khí hậu [48] Bài viết đã đưa ra được phương pháp luận về tính dễ bị tổn thương về mặt xã hội Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc xem xét các mối đe dọa và tính dễ bị tổn thương về mặt xã hội do biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế mà chưa đánh giá một cách toàn diện về sinh kế người dân theo khung sinh kế bền vững
Năm 2001, Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) để xác định và thiết kế các hoạt động hỗ trợ của mình Theo khung này, các hộ gia đình đều có phương thức kiếm sống (chiến lược sinh kế) dựa vào những nguồn lực sinh kế sẵn có (5 loại nguồn lực) trong một bối cảnh chính sách và thể chế nhất định ở địa phương Những nhân tố này cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như bão lụt và các tác động mang tính thời vụ Sự lựa chọn về chiến lược sinh kế của các hộ gia đình dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quả của sự tương tác giữa các nhóm yếu tố này
Trên cơ sở khung sinh kế bền vững nêu trên, năm 2004, IMM đã sửa đổi lại để
áp dụng cho các cộng đồng ven biển, được gọi là “Khung sinh kế bền vững vùng ven biển” (MARD, 2008)
Trang 2424
Năm 2009, Edward H Alisson và các cộng sự đã đưa ra tính dễ bị tổn thương của kinh tế nhà nước do tác động của biến đổi khí hậu trong ngành thuỷ sản Tài liệu này đã so sánh tính dễ bị tổn thương của các nền kinh tế trước tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu trên ngành khai thác thuỷ sản của họ Ông đã phân tích tính dễ bị tổn thương dựa trên phân tích tác động tiềm tàng (Potental Impacts) của biến đổi khí hậu bao gồm mức độ tác động (Exposure), tính nhạy cảm (Sensitivity) và năng lực thích ứng (Adaptive Capacity) Tuy nhiên, trong báo cáo này Alisson và cộng sự chỉ mới sử dụng khung đánh giá tập trung vào ngành thuỷ sản mà chưa sử dụng trong đánh giá sinh kế nói chung
UNDP đã xuất bản sách hướng dẫn về Lập bản đồ biến đổi khí hậu dễ bị tổn thương và ảnh hưởng kịch bản Cuốn sách đưa ra một công cụ nhằm mục đích giúp các nhà hoạch địch địa phương xác định bản đồ dễ bị tổn thương hiện tại và tương lai
để có biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu cấp quốc gia và địa phương
Năm 2011, Ngân hàng thế giới kết hợp cùng mạng lưới phát triển bền vững và Ban phát triển xã hội đã đưa ra tài liệu về phương pháp lập bản đồ dễ bị tổn thương Tài liệu này tiến hành lập bản đồ dễ bị tổn thương đối với trường hợp của Tajikistan - quốc gia dễ bị tổn thương nhất trước tác động của biến đổi khí hậu ở Đông Âu và khu vực Trung Á
Tại Việt Nam, cùng với các hoạt động được đầu tư cho nghiên cứu về biến đổi khí hậu, nhiều hoạt động nghiên cứu về sinh kế và sinh kế trong bối cảnh biến đổi khí hậu Năm 2010, MONRE và UNDP đã xuất bản tài liệu về “Xây dựng khả năng phục hồi: Chiến lược thích ứng cho sinh kế ven biển chịu nhiều rủi ro nhất do tác động biến đổi khí hậu ở miền Trung Việt Nam” Tài liệu này đã cho thấy mối quan hệ sinh kế vùng ven biển và khả năng thích ứng trước tác động của biến đổi khí hậu mà nghiên cứu điển hình được thực hiện tại hai tỉnh Hà Tĩnh và Thừa Thiên Huế trong khuôn khổ
dự án “Đói nghèo và Môi trường” Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, UNDP
đã sử dụng khung sinh kế bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu để phân tích khả
Trang 2525
năng thích ứng của sinh kế ven biển Trong báo cáo này, các tác động của biến đổi khí hậu đã được phân tích cụ thể đồng thời các chính sách, thể chế cũng đã được nhắc đến trong vai trò thúc đẩy khả năng thích ứng của cộng đồng làm sinh kế ven biển Kết quả của báo cáo là đưa ra các khuyến nghị và một chiến lược thích ứng cho sinh kế vùng ven biển miền trung Tuy nhiên, các kết quả về năng lực thích ứng còn mang tính định tính và tính dễ bị tổn thương mới chỉ bước đầu được mô tả
Năm 2011, Viện Khoa học Khí tượng thuỷ văn và Môi trường đã xuất bản tài liệu hướng dẫn “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp thích ứng” Các công cụ sử dụng trong đánh giá tác động biến đổi khí hậu đã được giới thiệu trong cuốn tài liệu này Đồng thời các giải pháp thích ứng đặc biệt là thích ứng dựa vào cộng đồng đã được tập trung phân tích
Cũng trong năm này, Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai (DMC) đã liên kết cùng chương trình phát triển liên hợp quốc và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn xuất bản “Tài liệu kỹ thuật quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu” Tài liệu cung cấp những kiến thức từ cơ bản đến nội dung chuyên sâu và chi tiết về quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với BĐKH, quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng
Trung tâm bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng (MCD) và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định đã tiến hành đánh giá tác động biến đổi khí hậu tại khu vực huyện Giao Thủy và tính dễ bị tổn thương đối với phát triển sinh kế.Báo cáo đã trình bày về tác động của Biến đổi khí hậu đối với các hoạt động kinh tế xã hội
và tài nguyên thiên nhiên tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định và đưa ra một số các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong phát triển sinh kế bền vững
Năm 2012, Diễn đàn phát triển Việt Nam đã xuất bản cuốn sách Biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển Cuốn sách đã tổng hợp mối quan hệ giữa sinh kế ven biển và tác động của biến đổi khí hậu đồng thời khả năng dễ bị tổn thương của sinh kế ven biển trước tác động biến đổi khí hậu cũng đã được làm rõ Ngoài ra, các tổ chức khác như Oxfam và hội chữ thập đỏ cũng là những tổ chức tiến hành nhiều các đánh giá về
Trang 26từ 2012 đến 2015 Một trong những vấn đề đặt ra của dự án là Nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương nhằm nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng cư dân vùng đồng bằng và ven biển các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình nói riêng và ở Việt Nam nói chung Cụ thể, dự án đã đánh giá được tác động của BĐKH đến thủy tai và
hệ quả của nó đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và thủy sản ở các tỉnh NHQ; Xây dựng một mô hình làm việc nhóm bao gồm các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách và cộng đồng địa phương để tích hợp các kinh nghiệm bản địa và các kiến thức khoa học; Thiết lập một hệ thống thông tin nhiều bên tham gia (PIS) phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, phục vụ quá trình ra quyết định và đáp ứng nhu cầu của cộng đồng địa phương trong việc giảm thiểu tính dễ bị tổn thương và hỗ trợ năng lực cho chính quyền và cộng đồng địa phương trong việc áp dụng công nghệ mới; và phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực thích ứng với BĐKH
Năm 2014, Tác giả Nguyễn Minh Kỳ đã có bài báo với tựa đề “Nghiên cứu tác động của Biến đổi khí hậu lên sinh kế và sự thích ứng của cộng đồng ở Thừa Thiên Huế” Mục đích của bài báo nhằm cung cấp một số thông tin về những tác động và thích ứng của cộng đồng ở Thừa Thiên Huế về biến đổi khí hậu trong giai đoạn hiện nay Quá trình khảo sát và thu thập mẫu nghiên cứu được tập trung ở cộng đồng ngư dân đầm phá Tam Giang, Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế
Nhìn chung hiện nay, Việt Nam đã có các nghiên cứu về đánh giá tác động của Biến đổi khí hậu tới sinh kế người dân Tuy nhiên, chúng ta cần thêm những nghiên cứu chuyên sâu đánh giá toàn diện tác động của BĐKH đến tất cả các lĩnh vực tự nhiên và kinh tế-xã hội cho từng khu vực, địa phương cụ thể của Việt Nam Vì vậy, hướng nghiên cứu này trong thời gian tới cần phải được tiếp tục triển khai
Trang 2727
CHƯƠNG II: NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
II.1 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu trong đề tài tập trung đánh giá mức độ tác động của thiên tai tới sinh kế của người dân, cụ thể là hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và một số các hoạt động khác như du lịch, Nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mô tả các biểu hiện hiểm họa thiên tai ở xã Giao Xuân, huyện Giao thủy, tỉnh Nam Định trong giai đoạn 2008 - 2012;
- Đánh giá tác động của thiên tai tới sinh kế của người dân bao gồm những ảnh hưởng của thiên tai tới sinh kế người dân và đánh giá mức độ tác động của từng loại thiên tai tới các hoạt động sản xuất nói trên
- Sử dụng GIS trong việc đánh giá sơ bộ tính dễ bị tổn thương của cộng đồng trước những thay đổi ngày càng phức tạp của thiên tai
Việc đánh giá tác động có thể miêu tả như sau:
1 BĐKH có thể làm gia tăng các hiện tượng như bão, lụt, rét đậm, hạn hán, nắng nóng, dịch bệnh, sấm sét,
2 Sự gia tăng các hiện tượng trên có ảnh hưởng đến sinh kế của người dân: bão làm hư hại nhà cửa, gây ảnh hưởng đến vùng nuôi ngao, ngập úng làm mất mùa, giảm năng suất cây trồng,
3 Người dân từ xưa đến nay đã có những kinh nghiệm tích lũy để có thể ứng phó, tồn tại trước những ảnh hưởng của thiên tai
4 BĐKH có chiều hướng ngày càng phức tạp khiến gia tăng thiên tai, tác động đến sinh kế của người dân, ảnh hưởng đến cuộc sống người dân, thậm chí mất đi sinh
- Đánh giá năng lực thích ứng của nhóm cộng đồng thôn qua 5 nguồn vốn sinh kế
và những giải pháp cải thiện sinh kế người dân trước những tác động của thiên tai
Trang 2828
Luận văn lựa chọn khoảng thời gian nghiên cứu từ năm 2008 đến 2012 để đánh giá tác động của thiên tai tới sinh kế của người dân khu vực Trong khoảng thời gian này đã xảy ra thiên tai gây tác động đến sinh kế của người dân như vào năm 2008, trên địa bàn huyện Giao Thủy xảy ra hạn hán kéo dài 3 tháng khiến hoa mùa và lúa bị thiệt hại, dịch vàng lùn xoắn lá khiến 100% diện tích lúa không thu hoạch được Năm 2010,
kỳ rét đậm rét hại ké dài 38 ngày khiến 100% diện tích hoa màu, mạ bị thiệt hại Đến năm 2012, cơn bão Sơn Tinh đổ bộ vào khu vực khiến 60% lúa lai thuần chưa kịp gặt
vì còn xanh đã bị thiệt hại, 100% hoa màu bị thiệt hại, nuôi ngao thiệt hại trung bình 50% Chưa khắc phục xong hậu quả, huyện Giao Thủy lại hứng chịu cơn bão số 8 khiến công trình phụ và trang trại chăn nuôi bị tốc và sập mái, đường điện bị đổ, thiệt hại cả người và của
Thời gian hồi cứu so với hiện tại (2012) là 5 năm
Trang 29Ngập lụt
Nước biển dâng
Bão
Mưa lớn
Vốn tự nhiênVốn xã hội
Vốn con ngườiVốn vật chấtVốn tài chính
Sinh
kế
Sử dụng đất
Cơ cấu nghề nghiệp
Cơ cấu vật nuôi cây trồng
Tình trạng việc làm
Cơ cấu nguồn thu
Nhu cầu thay đổi sinh kế
Thay đổi
hệ thống chính sách hiện hành
Thay đổi sinh kế
II.2 Khung khái niệm
Chúng ta tham khảo khung phân tích ảnh hưởng của BĐKH tới thay đổi sử dụng đất và thay đổi sinh kế của tác giả Lưu Bích Ngọc]
Hình 2.1 Khung khái niệm đánh giá năng lực thích ứng thông qua sinh kế hộ gia đình
Trang 3030
Để đánh giá thực trạng phát triển sinh kế của cộng đồng dân cư sống ở khu vực
xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy và đánh giá năng lực thích ứng của nhóm cộng đồng tại đây, chúng ta tập trung phân tích khả năng tiếp cận các nguồn vốn sinh kế bao gồm: con người (hiểu biết về rủi ro do BĐKH, kỹ thuật nuôi trồng,….), xã hội (vấn đề về giới, các tổ nhóm cộng đồng), tự nhiên (nguồn nước, đất, tài nguyên thiên nhiên), vật chất (cơ sở hạ tầng, phương tiện, con giống), tài chính
Mỗi hộ gia đình sẽ quyết định thay đổi sinh kế của gia đình dựa vào sự kết hợp các nguồn vốn này trong bối cảnh chịu tác động của BĐKH và dễ bị tổn thương Khi một nguồn vốn sinh kế yếu kém sẽ dẫn đến việc sử dụng các nguồn vốn sinh kế còn lại
bị kém hiệu quả
Luận văn chỉ tập trung đánh giá tác động của thiên tai tới sinh kế người dân và đánh giá năng lực thích ứng của nhóm cộng đồng trước những tác động đó mà không xem xét đến môi trường bên ngoài như chính sách, thể chế
Bộ tiêu chí đại diện cho từng loại vốn được xác định như sau:
Vốn tự nhiên: bao gồm các nguồn tài nguyên có trong môi trường tự nhiên mà
con người có thể sử dụng để thực hiện các hoạt động sinh kế, ví dụ như đất đai, rừng, tài nguyên biển, nước, không khí, Khi chịu tác động của thiên tai, sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản sẽ chịu ảnh hưởng không nhỏ Từ đó, người dân không
đủ tiền trang trải cho gia đình, họ có thể phải bán hoặc cho thuê một phần sử dụng đất
để lấy tiền Điều này sẽ ảnh hưởng tới sinh kế trong tương lai của người dân
Vốn xã hội: bao gồm các mối quan hệ giữa con người với con người trong xã
hội mà con người dựa vào để thực hiện các hoạt động sinh kế, chủ yếu bao gồm các mạng lưới xã hội (các tổ chức chính trị hoặc dân sự), thành viên của các tổ chức cộng đồng, Khi gặp khó khăn do thiên tai, người dân cần sự giúp đỡ của xã hội qua các mối quan hệ (bố mẹ, họ hàng, bạn bè, hàng xóm láng giềng, tổ chức xã hội ) Người dân có thể đi vay mượn hoặc nhờ sự hỗ trợ từ họ Tuy nhiên, điều này sẽ dẫn đến việc trả nợ trong tương lại
Vốn con người: bao gồm các kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm, khả năng lao
động, sức khỏe, trình độ giáo dục mà những yếu tố này giúp con người thực hiện các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được các kết quả sinh kế khác nhau Ở cấp hộ gia đình, nguồn lực con người là yếu tố quyết định số lượng và chất lượng lao động và nó
Trang 3131
thay đổi tùy theo quy mô hộ gia đình, trình độ kỹ năng, sức khỏe,… Trong khi gia đình gặp khó khăn, các thành viên sẽ tìm cách để kiếm kế sinh nhai như đi làm thuê
Vốn tài chính: bao gồm các nguồn vốn khác nhau mà con người sử dụng để đạt
được các mục tiêu sinh kế, bao gồm các khoản tiền tiết kiệm, tiền mặt, trang sức, các khoản vay,…Khi gặp khó khăn, hộ gia đình phải cắt giảm chi tiêu Nếu như không đủ
tiền, thông thường các hộ gia đình phải đi vay vốn để đầu tư, sản xuất
Vốn vật chất: bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng cơ bản hỗ trợ cho các hoạt động
sinh kế, ví dụ như: đường giao thông, nhà ở, cấp nước, thoát nước, năng lượng (điện), thông tin,… Trong lúc gặp khó khăn, hộ gia đình phải bán hoặc cho thuê công cụ sản xuất, chuồng trại chăn nuôi… Như vậy, trong tương lai, người dân sẽ không còn có nguồn vật chất đầy đủ để phát triển kinh tế hộ gia đình
II.3 Phương pháp nghiên cứu
II.3.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu
Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu, tư liệu, số liệu thông tin có liên quan một cách có chọn lọc, từ đó, đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu Đó là các tài liệu thu thập được từ các
cơ quan cấp tỉnh, huyện, xã như Quyết định phê duyệt Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH và nước biển dâng, Kế hoạch thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH của tỉnh Nam Định; Niên giám thống kê của huyện Giao Thủy,
Các số liệu về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội tại khu vực được thu thập từ thuyết minh dự án vùng đệm vườn quốc gia Xuân Thủy Các số liệu về hiện trạng sinh kế được thu thập từ Dự án “Xây dựng quan hệ đối tác nhằm tăng cường khả năng phục hồi trước Biến đổi khí hậu của các cộng đồng ven biển Việt Nam – Dự án PRC (MCD 46)”
II.3.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Các phương pháp nghiên cứu thực địa nhằm lựa thu thập bổ sung các số liệu, tài liệu thực tế tại khu vực nghiên cứu điển hình đó Địa điểm nghiên cứu là xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Quá trình điều tra, đánh giá tại thực địa được thực hiện vào tháng 3/2012 Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng:
Trang 32II.4 Địa bàn nghiên cứu
II.4.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý:
Giao Xuân là một xã phía đông huyện Giao Thủy, thuộc vùng đệm vườn Quốc gia Xuân Thủy với diện tích đất tự nhiên là 775,54 ha
Ranh giới hành chính:- Phía bắc giáp xã Giao Lạc
- Phía tây giáp xã Bình Hòa và Giao Hòa
- Phía nam giáp xã Giao Hải
- Phía đông giáp biển Đông
Hình 2.1: Sơ đồ vị trí xã Giao Xuân
b Địa hình
Bao gồm 2 phần: đồng bằng ven biển và bãi triều
- Đồng bằng ven biển được cấu tạo bởi trầm tích sông biển kỷ đệ tứ Phù sa mới hiện đại có tuổi rất trẻ khoảng vài trăm năm Đồng bằng bề ngoài trông bằng phẳng đơn điệu, nhưng thực ra lại có những điểm phức tạp Địa hình vùng đệm có
Trang 33- Đất cát, cồn cát mặn ít: là loại đất không ngập triều nằm ngoài đê quốc gia Tuy không ngập triều nhưng mỗi khi triều cường mạnh vẫn bị ảnh hưởng mặn vì vậy
độ mặn đạt mức mặn ít (Cl= 0,05 - 0,15%) Đất cát, cồn cát mặn ít có cấu trúc phẫu diện toàn cát, đôi chỗ xen lớp cát pha Đất có phản ứng trung tính hơi kiềm Độ chua tiềm tàng thấp Hàm lượng dinh dưỡng hữu cơ và dinh dưỡng khoáng đều nghèo
- Đất cát, cồn cát mặn nhiều: thuộc địa hình bãi triều Do ngập triều nên nồng
độ mặn trong đất mặn nhiều (Cl > 0,25%) và nồng độ mặn nước triều rất cao Tuỳ theo mức độ ngập triều loại đất cát, cồn cát mặn nhiều được phân thành hai loại Đất cát, cồn cát mặn nhiều ngập triều nông < 1,0m và đất cát, cồn cát mặn nhiều ngập triều > 1,0m Hai loại đất cát, cồn cát mặn nhiều đều có chung một đặc điểm lớp trên cùng là bùn sét loãng, sau đó là lớp cát thô, cát pha
- Đất mặn:
+ Đất mặn vùng đệm là loại đất mặn Clorua Đất mặn Clorua được hình thành
do lắng đọng phù sa cửa sông Hồng trong môi trường nước biển mặn, chịu ảnh hưởng trực tiếp của mặn thuỷ triều
+ Đất lầy mặn: Có lớp bùn sét loãng ở trên bề mặt đất Dưới lớp bùn sét loãng
là lớp cát pha sét hoặc sét pha cát chưa cố định, đất nhão và lầy Dưới lớp đất nhão
và lầy là lớp đất đã cố định Đất lầy mặn xuất hiện ở các bậc thềm biển trũng nằm giữa các cồn và lạch sông lạch triều Do nằm ở địa hình trũng thấp, đất lầy mặn có độ màu mỡ cao hơn đất mặn nhiều, hàm lượng đạm, lân, kali đều trội hơn mặn nhiều
d Khí hậu
Theo Báo cáo thuyết minh dự án vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Thủy, xã Giao Xuân nằm trong vùng đệm mang khí hậu chung của đồng bằng ven biển Đó là khí hậu
Trang 3434
nhiệt đới hơi ẩm gió mùa, có mùa đông lạnh với hai tháng nhiệt độ trung bình < 180C Mùa hè nóng, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất > 250C Mưa vào mùa hè và mùa thu từ tháng 5 đến tháng 10 Mùa khô kéo dài 2 tháng, không có tháng hạn Mùa xuân kéo dài hơn 3 tháng, ẩm độ cao do mưa phùn
- Chế độ nhiệt:
Nhiệt độ trung bình năm 240C
Nhiệt độ trung bình tháng biến động từ 16,3 - 20,90C
Tổng lượng nhiệt năm từ 8000 - 85000C
Tổng lượng bức xạ trong năm dao động 95 - 105 Kcal /cm2/năm
- Chế độ mưa:
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10
Tổng lượng mưa trung bình năm từ 1500 - 1700mm
Năm có lượng mưa cao nhất đạt 2754mm
Năm có lượng mưa thấp nhất là 978mm
- Chế độ ẩm:
Ẩm độ không khí trung bình 84%
Ẩm độ mùa xuân do thời tiết “nồm” và mưa phùn đạt cao tới 90%
Ẩm độ mùa đông do thời tiết hanh khô chỉ đạt 81 - 82%
Lượng bốc hơi trung bình năm là 895mm/năm
Lượng bốc hơi trung bình biến động từ 86 đến 126mm
Lượng bốc hơi cao nhất vào tháng 7
- Chế độ gió:
Gió bắc xuất hiện vào mùa đông, gió đông, đông nam xuất hiện vào mùa hạ Gió địa phương (gió đất - biển): gió đất liền thổi ra biển vào ban đêm, gió từ biển vào đất liền vào ban ngày Tốc độ gió trung bình 3 - 4 m/giây
- Thời tiết:
Trong một năm vùng đệm có những đặc điểm thời tiết sau: Thời tiết lạnh khô hanh về mùa đông; Thời tiết mát mẻ mưa phùn về mùa xuân; Tiết nắng nóng mưa rào, mưa dông về mùa hè; Tiết mát dịu về mùa thu
Do vị trí vùng đệm nằm sát biển nên bão thường ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp Bình quân mỗi năm có khoảng 2,5 - 9,0 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến vùng đệm
Trang 3535
e Thủy văn, thủy triều
Theo Báo cáo thuyết minh dự án vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Thủy, chế độ thủy văn và thủy triều tại khu vực vùng đệm vườn quốc gia Xuân Thủy như sau:
Thủy văn:
- Hệ thống sông ngòi:
Sông Vọp bắt nguồn từ cửa Ba Lạt theo hướng Đông Nam ra biển, dài khoảng 10km, rộng khoảng 200m Đập ngăn nước sông Vọp đã được phá bỏ, khai thông dòng chảy sông Vọp mang phù sa bồi đắp cho bậc thềm biển tại 3 xã Giao Lạc, Giao Xuân, Giao Hải
Hạ lưu sông Trà: Là nơi phân phối phù sa cho thềm biển thuộc địa phận VQG
và vùng đệm sông Vọp và sông Trà
Ngoài ra còn những lạch triều, lạch sông ăn sâu vào bãi trong, bãi ngoài tạo ra
sự cân bằng nguồn nước của Cồn Ngạn
- Hệ thống thuỷ nông nội đồng: Hệ thống thuỷ nông nội đồng về cơ bản đã hoàn chỉnh tưới và tiêu, hệ thống kênh tưới, tiêu cấp 1, 2, 3 đủ đảm bảo chủ động cho chế độ nước đối với cây lúa nước 2 vụ
Thủy triều:
Thuỷ triều của vùng thuộc chế độ nhật triều với chu kỳ khoảng 25 giờ Thuỷ triều tương đối yếu, biên độ trong một ngày trung bình 150 - 180cm Triều lớn nhất đạt 330cm và triều nhỏ nhất đạt 25cm
* Nhận xét về những khó khăn và thuận lợi về điều kiện tự nhiên:
- Thuận lợi:
+ Sự bồi lắng phù sa sông biển, tạo nên bãi triều, đất phù sa nhiễm mặn, rừng ngập mặn Do đắp đê ngăn lũ, ngăn mặn, rửa mặn, trồng lúa nước đã tạo ra đồng bằng ven biển Bãi triều, đồng bằng ven biển đều do phù sa sông Hồng nhiễm mặn tạo nên Đặc điểm nổi bật ở đây là độ phì nhiều tự nhiên và độ phì nhiêu thực tế khá cao + Tiềm năng và thế mạnh của khu vực là bãi triều với kinh doanh nuôi trồng thuỷ sản Bảo tồn và phát triển rừng ngập mặn tạo môi trờng sinh thái đất ngập nước, tạo hành lang rộng lớn phát triển du lịch sinh thái
- Khó khăn:
+ Nuôi trồng thuỷ sản đã phát triển, song chưa tương xứng với tiềm năng của vùng, do thiếu nguồn vốn đầu tư, thông tin, kinh nghiệm, kỹ thuật và các giải pháp
Trang 3636
quản lý đồng bộ
+ Mạng lưới kênh mương ở khu vực ngoài đê biển quốc gia lưu thông nguồn nước không tốt đã làm ảnh hưởng đến việc nuôi trồng thuỷ sản
+ Đất chưa sử dụng vẫn còn diện tích khá lớn, chủ yếu là bãi và cồn cát
II.4.2 Hiện trạng kinh tế, xã hội
a Dân cư và lao động
- Dân số và mật độ dân số: Giao Xuân có dân số hơn 10.000 người Thực tế cho thấy số người trong một số hộ thấp, bình quân là 4 người/hộ; trong mỗi hộ thường là 2- 3 thế hệ, rất ít có những hộ gia đình đông tới 9- 10 người
- Tỷ lệ tăng dân số: Tỷ lệ dân số tự nhiên bình quân qua các năm là: 1,3%
- Tôn giáo và dân tộc: Đây là nơi sinh sống 100% là dân tộc Kinh Tỷ lệ theo đạo Thiên chúa giáo chiếm 27%
b Lao động và sự phân bố lao động trong khu vực
Cơ cấu lao động
Số người trong độ tuổi lao động là: 23.035 người, chiếm 49.7% số dân trong khu vực, trong đó số lao động nữ là 12.041 người (chiếm 52.23%) Trung bình mỗi
hộ có khoảng 2 người trong độ tuổi lao động
Bảng 2.1 Cơ cấu dân số và lao động tại xã Giao Xuân
Nhân lực trong vùng tập trung chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp chiếm 86%
số lao động, còn lại là các ngành nghề khác như thương mại dịch vụ chiếm 2%, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng 3,2% và thuỷ sản chiếm 16,2% số lao động
Nguồn lao động trẻ tuổi từ 16-44 tuổi, chiếm 42,9% tổng số dân trong đó có khoảng 52% là lao động nữ Đây cũng là lực lượng chính tham gia hoạt động khai thác tài nguyên ở khu vực
II.4.3 Cơ sở hạ tầng và các vấn đề khác
a Thủy lợi
Trang 3737
Xã đã xây dựng một số công trình thuỷ lợi như hệ thống cống nhằm đáp ứng nhu cầu tưới tiêu, chủ yếu là cho diện tích lúa nước trên địa bàn Đến nay hệ thống bị xuống cấp, cần được nâng cấp hoặc làm mới, hệ thống mương máng cũng cần được cải tạo, nạo vét, bê tông hoá lại mới có thể phục vụ tốt cho sản xuất
b Giao thông vận tải
Hệ thống giao thông từ huyện đến trung tâm xã, đường liên xã, phần lớn được rải nhựa (6 km) hoặc bê tông hoá (16 km), chỉ còn ít đường cấp phối liên xóm (3 km), việc đi lại trong khu vực tương đối thuận tiện
c Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Hiện tại xã chưa có nước sạch sinh hoạt Theo báo cáo, xã có gần 50% bà con
sử dụng giếng khoan và giếng đào chỉ khoảng 20 - 30 % Các giếng nước đào và khoan này thường gặp phải nước lợ nên không thể dùng cho nước sinh hoạt Nước sinh hoạt chủ yếu dựa vào nước mưa và nước qua bể lọc Tình hình thiếu nước sinh hoạt vẫn diễn ra hàng năm vào mùa hè, nhất là những năm ít mưa
Các công trình vệ sinh như nhà tắm, hố xí chưa được người dân quan tâm, có tới 65% hố xí sử dụng chưa hợp vệ sinh
Việc xử lý rác thải ở xã chưa có hệ thống nào, mùa khô rác thải làm ứ đọng gây ô nhiễm môi trường
d Điện
Xã được kết nối với mạng điện quốc gia thông qua trạm 35Kw Giao Thanh Điện lưới đã xuống tới thôn xóm Hiện nay 100% số hộ trong xã đã dùng điện Nguồn điện chủ yếu sử dụng cho thắp sáng và sinh hoạt, sử dụng cho sản xuất chưa nhiều
Trang 3838
cho các bệnh nhân nặng, sau đó phải chuyển lên tuyến trên Cần phải đầu tư xây dựng, sửa chữa, nâng cấp trạm y tế để chăm sóc sức khoẻ cho người dân
g Văn hóa giáo dục
Xã chưa có trường trung học phổ thông Các trường trung học cơ sở và trường tiểu học đã bị xuống cấp, trong đó có nhiều trường bán kiên cố và trường tạm Các trường mẫu giáo ở các xã chưa có đầu tư mới chỉ tạm thời cho từng xóm, chưa đáp ứng được những yêu cầu dạy và học trong công tác giáo dục ở các xã
h Công tác văn hóa thông tin
Vùng đệm VQG Xuân Thuỷ do có điện lưới nên có tới 52,2% số hộ có máy thu hình
Về Bưu chính viễn thông: Hiện nay xã đã có trạm Bưu điện văn hoá có thể liên lạc bằng điện thoại Số hộ gia đình mắc điện thoại cố định chiếm 5,7% tổng số
hộ trong xã
i Các công trình phúc lợi khác
Xã đã xây dựng một vài sân vận động nhỏ cho hoạt động thể thao Nhà văn hoá xã hầu như chưa có, nếu có cũng rất thô sơ
II.4.4 Tiềm năng phát triển du lịch trong khu vực
VQG Xuân Thuỷ có tiềm năng phát triển du lịch rất lớn: giao thông thuận lợi, chỉ cách thành phố Nam Định 65 km và cách Hà Nội 200 km Ở xã vùng đệm có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như: du lịch nhân văn, du lịch sinh thái và kinh doanh thương mại
Việc phát triển du lịch trong khu vực giúp tăng thêm việc làm và tăng thu nhập cho người dân địa phương
* Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội:
- Thuận lợi
+ Diện tích đất nông nghiệp tuy thấp, nhưng đã đảm bảo cho người dân không thiếu lương thực trong năm
+ Ngành thuỷ sản có khả năng phát triển mạnh
+ Lực lượng lao động dồi dào
+ Giao thông đi lại tương đối thuận tiện, tạo điều kiện giao lưu hàng hoá, thúc đẩy sản xuất phát triển
+ Ý thức của người dân lao động được giác ngộ
Trang 3939
+ Tiềm năng du lịch ở đây là rất lớn nhưng tập trung chủ yếu vào các hoạt động cung cấp nơi nghỉ, phương tiện đi lại và bán các hàng lưu niệm
- Khó khăn
+ Đời sống người dân còn phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp
+ Khai thác thuỷ sản phụ thuộc vào thiên nhiên, nuôi trồng thuỷ sản chưa có
kỹ thuật, năng suất thấp
+ Cơ sở chế biến còn kém, thị trường tiêu thụ chưa chủ động
+ Chưa mạnh dạn trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế
+ Thiếu vốn đầu tư cho các ngành kinh tế: nuôi trồng thuỷ sản, khai thác, chế biến, dịch vụ và du lịch
+ Một số cơ sở trường học, trạm xá chưa được xây dựng kiên cố, trang thiết bị phục vụ cho học tập, chữa bệnh còn thiếu
+ Nước sinh hoạt còn thiếu quanh năm, nhất là mùa khô
+ Vệ sinh môi trường chưa được quan tâm
+ Các công trình văn hoá còn thiếu
+ Các dự án phát triển kinh tế xã hội trong khu vực còn ít và thiếu hiệu quả
Trang 4040
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
III.1 Tác động của BĐKH tới hiện tượng thiên tai tại xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
III.1.1 Đánh giá tình hình bão tại khu vực Đông Bắc Bộ
Theo số liệu thống kê của Cục phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thông thiên tai – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, tình hình bão tại khu vực Đông Bắc Bộ đang ngày một thay đổi, nhất là trong các năm gần đây Tính từ năm
1962 tới năm 2010, khu vực Đông Bắc Bộ (tính từ Thanh Hóa tới Quảng Ninh) đã hứng chịu 84 cơn bão lớn nhỏ khác nhau, ước tính thiệt hại lên tới hàng trăm tỷ đồng Theo ước đoán, càng ngày, do tình hình biến đổi khí hậu, mà các cơn bão đang ngày một nhiều hơn và mạnh hơn, gây thiệt hại lớn hơn cả về người và của
Các thiệt hại của bão gây ra là không thể tính toán hết Nó ảnh hưởng tới tất cả các mặt của đời sống, sản xuất cũng như tác động trực tiếp tới môi trường
a Phân tích số liệu thống kê số lượng các cơn bão
Theo thống kê tới từ năm 1962 đến thời điểm năm 2010, số lượng các cơn bão được thể hiện qua hình sau:
Hình 3.1: Số lần xuất hiện của bão từ năm 1962-2010 Qua thống kê này, chúng ta nhận thấy, số lượng các cơn bão đang gia tăng từ năm 1988 trở lại đây Đường xu thế của chúng đang có chiều hướng đi lên (đường Linear) Đây là thông tin quan trọng cho việc đánh giá về mức độ gia tăng của các cơn bão cũng như tình hình chuyển biến xấu của thời tiết nguy hiểm Để cụ thể hơn trong việc đánh giá chiều hướng gia tăng của các cơn bão này, chúng ta sẽ thông qua