Phụ lục 1: Kỹ thuật và hình ảnh xét nghiệm phân bằng phương pháp soi tươi trực tiếp và phương pháp nổi (Wills) 1. Phương pháp soi tươi trực tiếp Tiêu bản trực tiếp nhằm đánh giá độ nhiễm giun, cung cấp chẩn đoán nhanh bệnh phẩm bị nhiễm giun nặng và kiểm tra sự di động của vi sinh vật. Chuẩn bị: + Bệnh phẩm: Bất kỳ bệnh phẩm phân tươi nào chưa bảo quản lạnh được để trong lọ thủy tinh hoặc lọ penicillin nút kín bằng nút cao su. + Nước muối sinh lý NaCl 0,9% + Que xét nghiệm để lấy phân + Lam kính + Lamen + Kính hiển vi Cách tiến hành: + Nhỏ một giọt nước muối sinh lý lên lam kính khô sạch. Lưu ý, nếu nước quá ít thì dung dịch phân sẽ đục, khó quan sát, nếu nhiều nước thì khi đậy lamen dung dịch phân sẽ tràn ra ngoài làm bẩn và khó quan sát. + Dùng que xét nghiệm lấy ít phân hòa đều vào giọt nước muối sinh lý trên lam kính, lượng phân tốt nhất là 2mg (2mg phân là lượng tương đối để hình thành một hình chóp ở đầu que gỗ tròn), thấy dung dịch tương đối đục là vừa, đậy lamen. Tiêu bản không được quá dày hoặc quá mỏng. + Nếu xét nghiệm tìm amip nên lấy phân ở chỗ nhầy có lẫn máu. Nếu xét nghiệm tìm trùng long, trùng roi nên lấy phân ở chỗ lỏng, có bọt. Nếu xét nghiệm tìm trứng giun sán thì lấy ở phần rắn đầu khuôn vì vị trí đó có mật độ trứng cao hơn. Không được để lẫn với nước tiểu, nếu để lẫn với nước tiểu sinh vật đơn bào sẽ chết. + Nếu bệnh phẩm có khả năng bị khô trước hoặc trong quá trình đọc dưới kính hiển vi hoặc cần giữ lại để kiểm tra thì phải dán lamen vào lam kính bằng sơn móng tay quét quanh mặt tiếp xúc giữa hai tấm kính hoặc đặt lam kính vào đĩa Petri có một miếng giấy lọc ướt dưới đáy. Đọc kết quả: Trước tiên dùng vật kính 10X để quan sát tổng thể tiêu bản và nhận biết trứng cũng như ấu trùng. Bạn cũng có thể thấy thể tự dưỡng di động và nhận biết được sự hiện diện của bào nang. Sau đó dùng vật kính 40X để phát hiện chính xác hơn và khẳng định đặc tính của thể di động và bào nang đơn bào. Dùng vật kính dầu 100X nếu cần xem chi tiết nhỏ của các đơn bào. Nếu sau khi đã dùng vật kính dầu mà muốn xem lại vật kính 40X thì phải làm lại tiêu bản mới. Hình 1: Hình ảnh xét nghiệm phân bằng phương pháp soi tươi trực tiếp. 2. Phương pháp nổi (phương pháp Wills) Phương pháp này ít tốn kém và dễ thực hiện nhưng chỉ dùng để phát hiện giun móc hoặc trứng giun đũa và một số loại khác. Đơn bào bị biến dạng nặng khi thực hiện phương pháp này. Do đó đây không phải là phương pháp được khuyến nghị để thực hiện các xét nghiệm ký sinh trùng tổng quát. Chuẩn bị: + Bệnh phẩm: phân được đựng trong lọ thủy tinh hoặc penicillin đậy kín bằng nút cao su. + Nước muối bão hòa + Lam kính + Lamen + Kính hiển vi Cách tiến hành: Đổ nước muối bão hòa vào lọ đựng bệnh phẩm khoảng 13 lọ. Dùng que xét nghiệm khuấy tan phân để trứng được giải phóng khỏi xơ bã, tạo điều kiện cho trứng nổi. Đổ tiếp nước muối bão hòa vào lọ cho đến khi mặt nước hơi vồng lên một chút là được. Đặt lam kính lên miệng lọ cho tiếp xúc với dung dịch trong lọ. Sau 15 phút nhấc lam kính ra, đậy lamen lên phần dính nước muối bão hòa với phân và soi dưới kính hiển vi ở vật kính 10X, sau đó soi ở vật kính 40X. Nguyên lý: Tỷ trọng của dung dịch nước muối bão hòa lớn hơn tỷ trọng của trứng giun sán, do đó trong dung dịch nước muối bão hòa trứng giun sán sẽ nổi lên trên. Đồng thời trứng giun sán có khả năng dính vào thủy tinh nên dễ thu được trên lam kính. Hình 2: Hình ảnh xét nghiệm phân bằng phương pháp nổi (phương pháp Wills)
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Sinh vật ký sinh là mối nguy hại đối với sức khỏe con người Mỗi loại kýsinh và tác hại lên một số bộ phận khác nhau của vật chủ Ngoài việc chiếmđoạt chất dinh dưỡng, chúng còn tiết ra độc tố, đặc biệt là sinh vật nội ký sinh,khi chúng chết thì cơ thể chúng phân hủy ngay trong vật chủ, thải chất độcvào cơ thể vật chủ Các tác hại thương tổn do chúng phá hoại mô sống còn
mở đường cho vi khuẩn, virus xâm nhập và gây bệnh Có nhiều trường hợpsinh vật ký sinh làm tắc ruột, thủng ruột, viêm ruột, tắc ống dẫn mật, viêmgan, gây nguy hiểm đến tính mạng
Bệnh do sinh vật ký sinh tương đối phổ biến và có tính truyền nhiễm,mang tính chất đặc trưng cho vùng, khu vực, giới tính, lứa tuổi và nghềnghiệp Mỗi loài sinh vật ký sinh có đặc điểm sinh học và vòng đời khác nhautuy cùng thích nghi với lối sống ký sinh
Hiện nay, đối với ngành y tế các chương trình phòng chống sinh vật kýsinh đường ruột đã được thực hiện khá nhiều năm và thu được kết quả nhấtđịnh Tuy nhiên, trong thực tế thì các bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột cònkhá phổ biến và gánh nặng của nhiễm sinh vật ký sinh đường ruột là rất lớn
Vì vậy, để phòng và chống bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột gây ratrong một khu vực thì trước tiên phải xác định được thành phần, chủng loại,
tỷ lệ nhiễm sinh vật ký sinh đường ruột của khu vực đó Từ kết quả nghiêncứu đó đề ra biện pháp phòng và điều trị thích hợp nhằm đạt hiệu quả caonhất Đó chính là lí do chúng tôi chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Xác định thành phần chủng loại, tỷ lệ và cường độ nhiễm sinh vật ký sinh đường ruột ở người đến khám tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định”
Trang 23 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung luận văn gồm 3 chương
Chương 1 Tổng quan tài liệu
Chương 2 Đối tượng - Nội dung - Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ những vấn đề sau:
- Xác định được tỷ lệ nhiễm sinh vật ký sinh đường ruột ở những ngườiđến khám tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định bao gồm: tỷ lệ nhiễm chung,
tỷ lệ nhiễm theo từng tháng, tỷ lệ nhiễm theo nhóm tuổi, tỷ lệ nhiễm theo giớitính, tỷ lệ nhiễm theo từng huyện kể từ tháng 01/2012 đến tháng 12 /2012
- Xác định được thành phần loài sinh vật ký sinh đường ruột hiện đangtồn tại và lưu hành ở tỉnh Bình Định
- Xác định được các mức độ nhiễm đặc trưng của từng loài sinh vật kýsinh đường ruột để từ đó đề ra biện pháp phòng tránh
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Vài nét về lược sử nghiên cứu sinh vật ký sinh và bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột
1.1.1 Trên thế giới [17]
1. 1.1.1 Thời kỳ từ thế kỷ VII trở về trước
Một số loại sinh vật ký sinh đường ruột như giun đũa, sán dây, giunchỉ đã được mô tả ở Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp Một vài loạidược liệu chữa bệnh lỵ và giun đũa cũng đã được dùng ở Ấn Độ, Trung Quốc.Tên tuổi của tác giả nghiên cứu sinh vật ký sinh đường ruột đã được tìm thấytrong y văn, như Aristote mô tả giun đũa,
1.1.1.2 Thời kỳ từ thế kỷ VIII đến thế kỷ thứ XVI
Thời kỳ này khoa học nghiên cứu về sinh vật ký sinh đường ruột đã cónhững bước phát triển vượt bậc so với thời kỳ trước Phát hiện thêm một sốloại mới Đặc biệt sau khi khoa học mổ xác ra đời mô tả bệnh học do sinh vật
ký sinh đường ruột kỹ hơn Trong khi điều trị đã dùng thuốc tẩy để tống giunsán ký sinh đường ruột ra khỏi cơ thể
1.1.1.3 Thời kỳ từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XVIII
Đây là thời kỳ phân loại sinh vật ký sinh đường ruột Đại diện là tác giảLinnaeus đưa ra tiêu chuẩn định loại, Plater mô tả sán dây, Wepfer mô tả ấutrùng sán bò, Leeuwenhock mô tả đơn bào tự do, Goeze phân loại sán dây lợn
và sán dây bò, giun tóc, Dubini định loại giun móc, Busk định loại sán lá ruột,Zedes nêu cách viết - đặt tên giun sán, Rudolphi chia nhóm giun sán,Sikkartus xuất bản sách về thuốc điều trị bệnh giun sán, Audry xuất bản sách
mô tả giun sán
Trang 41.1.1.4 Thời kỳ từ nửa sau thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XX
Thời kỳ phát triển nghiên cứu về sinh lý, sinh thái, chu kỳ, cấu trúc củasinh vật ký sinh đường ruột, nhất là nghiên cứu chu kỳ sinh học trên vật chủ
và trong phòng thí nghiệm như chu kỳ của sán dây, giun lươn, giun đũa, cácloại sán lá,
1.1.1.5 Thời kỳ từ nửa sau thế kỷ XX đến nay
Thời kỳ ứng dụng những thành tựu của khoa học khác như hóa sinh,siêu cấu trúc, sinh học phân tử, miễn dịch, bệnh học, dược học, dịch tễ học, y
tế công cộng, và chẩn đoán, bệnh học, điều trị, phòng chống các bệnh dosinh vật ký sinh đường ruột, nhất là tiến tới khống chế và có thể thanh toánmột số bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột gây nên
1.1.3 Tại Bình Định [14]
Bình Định nằm trên vùng đông bằng duyên hải Nam Trung Bộ, có đặcđiểm khí hậu, thời tiết, tương đối phù hợp cho sự tồn tại và phát triển củasinh vật ký sinh đường ruột
Viện sốt rét – ký sinh trùng – côn trùng Quy Nhơn, Khoa vi sinh củabệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định, các trung tâm y tế cấp cơ sở, được thành
Trang 5lập để phục vụ cho công tác phòng và chống bệnh do sinh vật ký sinh đườngruột trên địa bàn tỉnh Bình Định.
1.2 Vài nét đại cương về bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột gây nên
1.2.1 Nguyên nhân gây bệnh
Đã xác định được các sinh vật ký sinh đường ruột thuộc các ngành, cáclớp sau:
- Các sinh vật ký sinh thuộc ngành nguyên sinh động vật (Protozoa):
Điển hình có các động vật đơn bào thuộc các lớp:
+ Lớp trùng roi (Flagellata): điển hình gây bệnh đường tiêu hóa có hai loài Giardia lambia và Trichomonas intestinalis.
Giardia lambia cư trú ở ruột non, tá tràng đôi khi ở cả trong túi mật,
đường dẫn mật G.lambia bám vào niêm mạc ruột gây rối loạn tiêu hóa, tiết
chất nhầy gây triệu chứng đau bụng, phân lỏng có lẫn chất nhầy Trẻ em hay
bị hơn người lớn, thường ở lứa tuổi từ 2 - 6 tuổi Đôi khi G.lambia ký sinh ở
túi mật gây ra các triệu chứng đau vùng gan mật Tỷ lệ bệnh ở Việt Nam là1.5 - 2% [4]
Trichomonas intestinalis sống ở đại tràng, chủ yếu là manh tràng, gây
tiêu chảy, rối loạn tiêu hóa, gây hội chứng viêm ruột mạn tính với triệu chứngtiêu chảy và đau bụng, thường đau ở vùng manh tràng Trong những trường
loét đại tràng do nguyên nhân khác, đôi khi thấy T.intestinalis ăn hồng cầu
(thường là 1, đôi khi thấy 2 - 3 hồng cầu) [8]
+ Lớp trùng chân giả (Rhizopoda): điển hình là loài Entamoeba
histolyca gây bệnh lỵ cấp tính, bệnh viêm đại tràng ở người [4].
E histolytica là loại nguy hiểm nhất vì nó có thể xâm nhập vào tổ chức
và gây bệnh ở các phủ tạng mà người ta gọi chung là bệnh do amip Bệnh lỵ
Trang 6amip ở ruột gây chảy máu và bội nhiễm vi khuẩn, người bệnh biếng ăn, mấtngủ dẫn đến giảm sút thể trạng nhanh chóng Bệnh amip nặng do amip xâmnhập sâu vào thành ruột có thể gây thủng ruột Có khi amip ăn sâu vào cáctĩnh mạch bị phá vỡ theo máu vào gan và các phủ tạng khác, gây ra bệnh amip
ở ngoài ruột như áp xe gan, áp xe phổi, áp xe não,… rất nguy hiểm [4]
- Các sinh vật ký sinh thuộc ngành giun dẹp (Plathelmithes)
Có các loài thuộc lớp sán dây và sán lá gây bệnh tại đường tiêu hóa
+ Lớp sán dây (Cestoda): có các loài gây bệnh ở đường tiêu hóa người
và động vật, trong đó điển hình có hai loài gây bệnh ở người: Taenia solium
có ký chủ chính là người, ký chủ trung gian là lợn và Taenia saginata có ký
chủ chính là người, ký chủ trung gian là bò Bệnh phân bố ở khắp nơi, tùythuộc vào tập quán vệ sinh ăn uống [20] Ở Việt Nam bệnh sán dây lợnthường gặp ở miền núi (6%) [15] Tỷ lệ bệnh sán dây lợn (22%) ít hơn so vớisán dây bò (78%) [12] Sán dây trưởng thành chiếm thức ăn, gây kém hấp thu,rối loạn tiêu hóa và nhiễm độc thần kinh Ấu trùng sán lợn gây động kinh, cogiật, liệt, nói ngọng làm ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng [17]
+ Lớp sán lá (Trematoda): bao gồm nhiều loài sán lá ký sinh ở người
và động vật tại nhiều bộ phận cơ quan của cơ thể Điển hình gây bệnh ở
đường tiêu hóa có các loài sán lá gan Fasciola gigantica và Fasciola
hepatica, sán lá ruột (Fasciolopsis buski) [22] Ngoài ra còn có nhiều loài sán
khác sống ký sinh ở những cơ quan khác như sán lá phổi (Paragonimus
ringeri) [21],… Nói chung các loại sán lá đều gây hại rất lớn đối với sức khỏe
vật chủ, chúng chiếm thức ăn làm cơ thể vật chủ suy yếu đồng thời làm ảnhhưởng đến chức năng của các cơ quan trong cơ thể như sán lá gan nhỏ gâygiảm chất lượng mật, gây rối loạn tiêu hóa, sán lá lớn gây áp xe cấp tính, hủyhoại tế bào gan, sán lá ruột gây viêm ruột, co thắt dữ dội [17]
Trang 7- Các sinh vật ký sinh thuộc ngành giun tròn (Nemathelminthes): thuộc
ngành này có nhiều loài sống ký sinh và gây bệnh ở đường tiêu hóa như các
loài giun đũa (Ascaris lumbricoides), giun tóc (Trichuris trichura), giun móc (Ancylostoma duodenale), giun kim (Enterobius vermicularis), giun lươn (Strongyloides stercoralis),…[23]
Giun đũa (Ascaris lumbricoides) trưởng thành ký sinh ở ruột non,
chiếm thức ăn của cơ thể, tác dụng ngấm ngầm làm suy yếu cơ thể, mặt khácgây ra những tổn hại niêm mạc.Nếu số lượng giun ít thì nhiều khi triệu chứngkhông rõ rệt, bệnh nhân chỉ thấy rối loạn tiêu hóa như ăn không tiêu, buồnnôn, đau bụng vặt Trường hợp nhiều giun có thể gây đau bụng, nôn ra giun,tắc ruột,…[13]
Giun tóc (Trichuris trichura) ký sinh ở ruột già, chủ yếu ký sinh ở
vùng manh tràng nhưng cũng có khi ký sinh ở trực tràng Tại nơi ký sinh,giun tóc cắm phần đầu vào niêm mạc của đại tràng để hút máu, phần đuôigiun tóc ở trong lòng ruột Nhiễm giun tóc nhẹ chỉ gây đau bụng, buồn nôn,táo bón, khó tiêu, nhức đầu, chán ăn Nhiễm giun tóc nặng, kéo dài sẽ gây tổnthương niêm mạc ruột, đau bụng, ỉa nhiều lần, phân ít có thể lẫn ít máu, có thểgây sa trực tràng và nhiễm trùng thứ phát [19]
Giun móc (Ancylostoma duodenale) ký sinh ở tá tràng, trong trường
hợp nhiều có thể gặp ở phần đầu và phần giữa của ruột non Giun móc ký sinhbằng cách ngoạm vào niêm mạc ruột để hút máu Trong khi hút máu, giunmóc tiết ra chất chống đông máu làm cho các vết giun ngoạm tiếp tục chảymáu sau khi giun đã chuyển sang ký sinh ở chỗ khác Mặt khác giun móc hútmáu đầy ruột cho đến khi máu tràn ra ngoài theo hậu môn của giun Do đóbệnh nhân bị mất máu nhiều Ngoài tác hại gây mất máu, giun móc còn gâyviêm loét hành tá tràng Bệnh giun móc biểu hiện nặng thường xảy ra ở phụ
Trang 8nữ nông thôn làm nghề nông Điều này dễ dẫn đến tình trạng rối loạn kinhnguyệt, đẻ non hoặc vô sinh Tỷ lệ nhiễm giun móc phụ thuộc vào nghềnghiệp, tuổi, giới tính: nông dân, đặc biệt nông dân các vùng trồng rau màu,cây công nghiệp có tỷ lệ nhiễm cao; tuổi càng cao tỷ lệ nhiễm càng cao; nữgiới có tỷ lệ nhiễm cao hơn nam giới [10].
Giun kim (Enterobius vermicularis) trưởng thành ký sinh ở phần cuối
ruột non, phần đầu ruột già Triệu chứng thường gặp nhất khi bị nhiễm giunkim là ngứa hậu môn Khi ở trong ruột giun kim có thể gây những tổn thươngkích thích niêm mạc ruột, làm rối loạn tiêu hóa hoặc gây tình trạng viêm ruộtmạn tính, có thể gây nổi mẩn dị ứng Nếu giun kim chui vào ruột thừa có thểgây viêm ruột thừa Cá biệt khi có giun kim chui sang bộ phận sinh dục gâyngứa âm đạo, rối loạn kinh nguyệt ở giới nữ Trẻ em bị nhiễm giun kim nhiềunăm dễ dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng Tỷ lệ nhiễm giun kim cao nhất ởtrẻ em từ 3 - 8 tuổi, từ 11 tuổi trở lên thì tỷ lệ mắc bệnh giảm dần Ở ngườilớn thì phụ nữ mắc bệnh nhiều hơn nam giới vì hay tiếp xúc với trẻ em [18]
Giun lươn (Strongyloides stercoralis) trưởng thành ký sinh trong ruột
non của người Giun lươn khi ở trong ruột gây tổn thương niêm mạc ruột, tátràng, làm rối loạn tiêu hóa hoặc gây tình trạng viêm ruột mạn tính, có thể gâyviêm tá tràng hoặc gây lỵ Bệnh nhân thường có hiện tượng thiếu máu nhẹ,đau bụng, ỉa lỏng Giun lươn lên phổi gây viêm phổi Một số bệnh nhân có cơđịa dị ứng có thể xuất hiện cơn hen khi bị nhiễm giun lươn [9]
- Các loài sinh vật ký sinh thuộc ngành nấm bất toàn (Deuteromycota):
Candida là một họ nấm thuộc lớp Adelomycetes bao gồm những loại
nấm chưa tìm thấy hình thức sinh sản hữu giới vì vậy còn gọi là lớp nấm bất
toàn (Fungi imperfecti) [5].
Trang 9Nấm candida thường tìm thấy ở các hốc tự nhiên của cơ thể người
(mồm, khoang mũi họng, lỗ tai, âm đạo,…), có thể gây một số bệnh như tiêuchảy, tưa miệng, viêm âm đạo,…[12]
Trên những cơ địa suy giảm miễn dịch, Candida có thể trở thành một
tác nhân nhiễm trùng cơ hội với những hình thái bệnh nặng như nhiễm
Candida vào các phủ tạng hoặc vào máu dễ gây tử vong [8].
Candida sinh sản bằng phương thức nảy chồi [12].
Loài chủ yếu gây bệnh là Candida albicans Một số loài khác ít gặp hơn là Candida tropicalis, Candida pseudotropicalis, Candida krusei [17].
Một số loại có thể sống tự nhiên ngoài môi trường, đặc biệt trong các
hốc quả chua và đã bị thối như Candida albicans ký sinh trong hốc quả dứa
và có thể gây ngộ độc hoặc dị ứng quá mẫn Người ta thường quan niệm là
ngộ độc dứa nhưng thực chất là ngộ độc với độc tố của Candida albicans
[12]
1.2.2 Đặc điểm xâm nhập và gây bệnh [14]
- Xâm nhập: Sinh vật ký sinh đường ruột xâm nhập vào ký chủ theo 4
con đường chính:
+ Xâm nhập qua thức ăn, nước uống: Nang trứng chứa ấu trùng cảmnhiễm theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hóa, dưới tác dụng của dịchtiêu hóa ấu trùng được giải phóng thành dạng ký sinh, di hành trong máu mộtthời gian, đến một giai đoạn nhất định chúng cố định tại nơi thích hợp
+ Xâm nhập qua da: Đây cũng là con đường khá phổ biến Ấu trùnggiun móc, giun lươn, sán lá,… bám và xâm nhập vào cơ thể qua da
+ Xâm nhập qua ký chủ trung gian (vec tơ): các sinh vật ký sinh đườngruột xâm nhập vào cơ thể qua vật chủ trung gian như ruồi, gián mang trứnggiun sán rồi truyền vào thức ăn
Trang 10+ Xâm nhập qua rau thai: sinh vật ký sinh đường ruột ở giai đoạn dihành trong máu có khả năng xâm nhập qua rau thai, từ cơ thể mẹ sang con.Điển hình là bệnh giun đũa.
- Gây bệnh:
+ Tác động cơ giới: Vòi chích hút, giác bám, móc bám tạo ra các vếtthương cơ giới gây thủng ruột, làm tắc ống mật (giun đũa), gây áp xe gan ởgan (sán lá gan), gây rối loạn tuần hoàn, nghẽn mạch, tắc mạch máu (ấu trùnggiun đũa),…
+ Chiếm đoạt dinh dưỡng: Sinh vật ký sinh đường ruột tiêu thụ mộtkhối lượng lớn chất dinh dưỡng đã tiêu hóa sẵn, hút máu,…làm vật chủ haomòn, còi cọc Điển hình như giun móc hút máu, sán dây tranh giành chất dinhdưỡng của ký chủ
+ Tiết độc tố: Các sản phẩm trao đổi chất của sinh vật ký sinh đườngruột gây hại đối với ký chủ Sinh vật ký sinh đường ruột còn có khả năng tiếtđộc tố chống lại sức đề kháng của ký chủ Điển hình như giun đũa tiết ra chấtascaron gây hiện tượng nhiễm độc nặng
+ Mở đường cho bệnh khác phát sinh: Các vết thương cơ giới là điềukiện thuận lợi cho các mầm bệnh là vi khuẩn xâm nhập Một số sinh vật kýsinh đường ruột còn là trung gian truyền bệnh như ấu trùng giun có thể mang
vi khuẩn than, vi khuẩn lao để gây bệnh cho ký chủ; trứng giun đũa có thểchuyển vào cơ thể các vi khuẩn và virus đường ruột,…
1.2.3 Một số đặc điểm đặc trưng của bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột [4]
Bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột có các đặc điểm đặc trưng nhưsau:
- Bệnh mang tính mạn tính Bệnh do sinh vật ký sinh đường ruộtthường diễn biến lâu dài hàng tháng, hàng năm hay nhiều năm
- Biểu hiện không rõ rệt, khả năng tái nhiễm cao: Các triệu chứng củabệnh do sinh vật ký sinh đường ruột không rõ, chung chung, không đặc thù, ít
Trang 11có biểu hiện cấp tính Vì vậy dễ chủ quan, xem nhẹ dẫn đến tỷ lệ tái nhiễmcao Do đó bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột là bệnh mang tính xã hội.
- Bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột hầu hết đều mang tính chất thờihạn rõ rệt Nếu vệ sinh tốt chống tái nhiễm thì bệnh tự khỏi sau một thời giannhư giun đũa sau khoảng 1 năm, giun kim sau khoảng 2 tháng, sán dây saukhoảng 20 năm,… Tuy nhiên cũng có trường hợp mắc bệnh do sinh vật kýsinh đường ruột trong thời gian rất dài do người bệnh bị tái nhiễm liên tục
- Miễn dịch của cơ thể đối với bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột yếu
và không triệt để Chính vì tính chất này nên đa số bệnh vẫn có tái nhiễm vàphải chờ tới sau nhiều lần tái nhiễm, miễn dịch tạo ra đến mức tương đối thìlúc đó mới có khả năng bảo vệ được cơ thể chống lại bệnh
1.2.4 Đặc điểm về sự truyền nhiễm của bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột [9]
- Lây nhiễm trực tiếp: sinh vật ký sinh đường ruột xâm nhập vào cơ thểvật chủ không qua vật chủ trung gian nhưng qua các giai đoạn phát triển trunggian ngoài môi trường nhằm duy trì sự sống, chờ cơ hội gặp lại vật chủ nhưgiun đũa, giun móc, giun kim,…
- Lây nhiễm qua ký chủ trung gian (vec tơ): khi chưa có cơ hội gặpđược ký chủ chính, sinh vật ký sinh đường ruột phải trải qua ký chủ trung
gian như sán dây người (Taenia saginata) có ký chủ chính là người, ký chủ
trung gian là bò,
1.2.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh và lây nhiễm bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột
1.2.5.1 Yếu tố tự nhiên [17]
- Điều kiện địa lý: một số bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột có liên
quan mật thiết với điều kiện địa lý Chẳng hạn như nơi có nhiều ao hồ thì dễ
bị bệnh sán lá gan, vùng đất pha cát hay vùng đất bãi thì dễ nhiễm giunmóc…
Trang 12- Nhiệt độ: Nhiều loại sinh vật ký sinh đường ruột trong chu kỳ pháttriển có giai đoạn ở ngoại cảnh như giun đũa, giun móc, giun tóc,…thì nhiệt
độ thuận lợi cho sự phát triển của mầm bệnh ở ngoại cảnh là 25 - 35 ºC
- Độ ẩm: Độ ẩm thích hợp cho mầm bệnh của sinh vật ký sinh đườngruột (trứng giun, sán,…) phát triển ở ngoại cảnh là khoảng 70 - 80%
- Điều kiện địa hình: Địa hình nước ta rất phức tạp, nhiều rừng, đồi núi,
ao hồ, sông ngòi,…Mặt khác, các vùng rừng núi, trung du, đồng bằng và venbiển lại xen kẽ với nhau nên rất thuận lợi cho bệnh do sinh vật ký sinh đườngruột phát triển Tuy nhiên tùy thuộc vào đặc điểm địa hình của từng vùng màkhả năng nhiễm bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột cũng khác nhau, ví dụnhư ở đồng bằng thì dễ bị nhiễm bệnh giun hơn so với vùng núi,…
- Lứa tuổi: Nói chung lứa tuổi nào cũng có khả năng mắc các bệnh dosinh vật ký sinh đường ruột Tuy nhiên, tùy theo đường xâm nhập của sinh vật
ký sinh đường ruột mà bệnh phổ biến khác nhau theo lứa tuổi: bệnh giun đũahay gặp ở trẻ em, bệnh giun móc hay gặp ở người lớn…
- Giới tính: Không có sự khác biệt về khả năng nhiễm các bệnh do sinhvật ký sinh đường ruột giữa nam và nữ Tuy nhiên, tùy theo điều kiện tiếp xúcvới mầm bệnh, sinh thái của từng loại sinh vật ký sinh đường ruột mà bệnh cóthể có tỷ lệ cao hơn ở nam hoặc ở nữ Chẳng hạn như bệnh giun móc gặp ở nữnhiều hơn so với nam…
- Khả năng miễn dịch: những người bị suy giảm miễn dịch như người
bị nhiễm HIV/AIDS thì rất dễ bị nhiễm sinh vật ký sinh đường ruột như
nhiễm nấm Candida albicans…Đây là những trường hợp bị nhiễm trùng cơ
Trang 13với những nơi có trình độ dân trí cao do sự kém hiểu biết hoặc không hiểubiết về nguyên nhân nhiễm bệnh, tác hại của bệnh cũng như cách phòng bệnh,
…
Mặc khác, do nhiều nguyên nhân như vì ý thức chưa cao, vì lợi nhuận,
… nên bộ phận không nhỏ những người sản xuất, người chế biến thực phẩm,người buôn bán thực phẩm đã không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, làmlây truyền một số bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột trong cộng đồng Hơnnữa công tác thi hành luật vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay vẫn còn nhữngtồn tại lớn, chẳng hạn như việc giết mổ bừa bãi, không kiểm tra sát sinh,không thanh tra nghiêm khắc vệ sinh thực phẩm nên trên thị trường vẫn còntrôi nổi thịt lợn có ấu trùng sán (thịt lợn gạo) hoặc thịt bò có ấu trùng sán,…lànguyên nhân gieo rắc mầm bệnh sán dây lợn, sán dây bò,…
Ngoài ra thì tập quán ăn gỏi cá, gỏi tôm, uống nước lã, ăn rau sống,nuôi gia súc thả rông,…hiện vẫn còn tồn tại ở một bộ phận người dân Đâycũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự nhiễm bệnh do sinh vật kýsinh đường ruột
- Tổ chức xã hội: Kiểu tổ chức xã hội cũng ảnh hưởng rất lớn đến sựphát sinh và lây nhiễm của bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột
Ở khu vực thành phố, thị xã, thị trấn với những đặc điểm như dân cưđông đúc, mật độ dân số cao, có những đầu mối giao thông đường bộ hoặcđường thủy, lượng rác thải lớn, ô nhiễm môi trường,… thì sự lan truyền bệnh
do sinh vật ký sinh đường ruột khá dễ dàng
Mặt khác, ở khu vực nông thôn tuy mật độ dân cư thấp hơn nhưng điềukiện vệ sinh lại chưa được đảm bảo, người dân chủ yếu sống bằng nghề sảnxuất nông nghiệp do vậy thường xuyên phải tiếp xúc với mầm bệnh,…Vì vậy
mà sự phát sinh và lây nhiễm bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột vẫn cònkhá cao
Trang 141.3 Một số bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột gây nên phổ biến tại Việt Nam
Bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột là những bệnh phổ biến lâu đời
Từ lâu nền y học dân tộc của Việt Nam đã hiểu biết về những bệnh này và đã
có những biện pháp khống chế Các vị thuốc dân gian chữa bệnh ký sinhtrùng như lá mơ chữa lỵ, keo dậu chữa giun đũa, hạt bí và chua ngút chữa sándây,…đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ có tác dụng rất lớn trong việc chữabệnh do sinh vật ký sinh đường ruột [4] Tuy nhiên do Việt Nam nằm trongvùng nhiệt đới khá đầy đủ về đặc điểm địa hình, khu hệ động thực vật kháphong phú,…Về mặt kinh tế - xã hội cũng chỉ là một nước đang phát triển,trình độ dân trí còn thấp, phong tục tập quán ở nhiều vùng còn lạc hậu nênnhìn chung bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột ở nước ta vẫn còn khá phổbiến Ước tính khoảng 60 - 70% dân số nhiễm ít nhất một loại giun sán nào
đó Trong đó phổ biến là các loại giun truyền qua đất như giun đũa (Ascaris
lumbricoides), giun tóc (Trichuris trichura), giun móc (Ancyclostoma duodenale) Một số loại sán phổ biến ở một số vùng địa lý như bệnh sán lá
gan nhỏ (Clonorchis sinensis, Opisthorchis viverrrini) ở vùng có nhiều ao nuôi cá, sán lá phổi (Paragonimus westermani, Paragonimus heterotremus), sán dây (Taenia solium, Taenia saginata) ở miền núi và một số địa phương Bệnh giun kim (Enterobius vermicularis) ở trẻ em vẫn còn khá phổ biến Các bệnh đơn bào như amip (Entamoeba histolytica), trùng roi đường tiêu hóa (Giardia lambia, Trichomonas intestinalis) cũng phổ biến ở một số nơi Các
bệnh do nấm như Candida albicans gây một số bệnh như tiêu chảy, tưa
miệng, viêm âm đạo, [25]
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, ngành Y tế và toàn dân trongnhiều thập kỷ qua đã thực hiện nhiều biện pháp để phòng chống các bệnh sosinh vật ký sinh đường ruột nhưng vẫn còn rất hạn chế Tình hình nhiễm bệnhvẫn còn rất nặng và phổ biến trên diện rộng [17]
Trang 15Chương 2 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là bệnh phẩm của bệnh nhân đến khám tại phòngxét nghiệm vi sinh, Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định trong thời gian từ01/01/2012 đến 30/12/2012
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Phân loại sinh vật ký sinh đường ruột ở người đến khám tại bệnh viện
đa khoa tỉnh Bình Định
- Xác định tỷ lệ nhiễm các loại sinh vật ký sinh đường ruột trong tổng
số mẫu nghiên cứu
- Xác định cường độ nhiễm sinh vật ký sinh
2.3 Phương pháp xác định sinh vật ký sinh
2.3.1 Phương pháp định tính sinh vật ký sinh
Có hai phương pháp định tính sinh vật ký sinh.
2.3.1.1 Phương pháp soi tươi trực tiếp
Quan sát tiêu bản tươi trực tiếp nhận dạng nhanh sinh vật ký sinh đơnbào và nấm bằng soi kính
2.3.1.2 Phương pháp phù nổi (phương pháp Wills).
Quan sát tiêu bản tìm trứng sinh vật ký sinh đa bào
2.3.1.3 Sử dụng kính, ảnh màu để mô tả
Xác định sinh vật ký sinh thông qua hình dạng đặc trưng của sinh vật
ký sinh đơn bào và sinh vật ký sinh đa bào được mô tả có kèm theo hình ảnh[ phụ lục 2]
Trang 162.3.2 Phương pháp định lượng sinh vật ký sinh
Thực hiện theo phương pháp soi kính tìm sinh vật ký sinh và đếm sốlượng theo quy ước
Trang 17Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Xác định tỷ lệ nhiễm chung sinh vật ký sinh đường ruột ở những người đến khám tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định trong năm 2012
Thông qua việc trực tiếp tham gia phân tích và thống kê kết quả phântích của 3457 bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định, kếtquả chung được trình bày ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm chung sinh vật ký sinh đường ruột của những người đến khám tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định trong
Theo kết quả thống kê báo cáo kết quả tỷ lệ nhiễm chung sinh vật kýsinh đường ruột của năm 2010, 2011 là 35,85% và 36,70% [1] Như vậy kếtquả nhiễm chung có chiều hướng gia tăng, nguyên nhân có thể là do thời tiếttrong năm 2012 tại Bình Định có những đợt nắng nóng kéo dài hơn so vớinhững năm trước tạo điều kiện cho mầm bệnh sinh vật ký sinh đường ruộtphát triển như giun đũa, giun móc, giun tóc,…vì những loại này trong chu kỳphát triển có giai đoạn ở ngoại cảnh nên điều kiện nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn
Trang 18đến sự phát sinh và lây lan của mầm bệnh, nhiệt độ thích hợp cho mầm bệnhphát triển là khoảng 25 - 35ºC [16] Hơn nữa, theo chúng tôi quan sát vì thờitiết nắng nóng nên tập quán uống nước giải khát hay ăn các món ăn vặt ở vỉa
hè cũng tăng lên, nếu điều kiện chế biến thực phẩm ở những nơi này khôngđảm bảo vệ sinh thì cũng rất dễ làm lây lan mầm bệnh do sinh vật ký sinhđường ruột Mặt khác, nắng nóng cũng tạo điều kiện cho ruồi, gián,…pháttriển, mà đây là những trung gian truyền bệnh do sinh vật ký sinh đường ruộtkhá phổ biến, chúng mang mầm bệnh sau đó truyền vào thức ăn rồi lây nhiễmsang cho con người Điều này chứng tỏ trong những năm qua việc phòngchống bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột trên địa bàn tỉnh Bình Định vẫnchưa có dấu hiệu chuyển biến rõ rệt, tỷ lệ nhiễm bệnh vẫn còn tương đối cao
3.2 Tỷ lệ nhiễm chung sinh vật ký sinh đường ruột của người đến khám tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định qua các tháng trong năm 2012
Kết quả phân tích tỷ lệ nhiễm sinh vật ký sinh đường ruột qua cáctháng trong năm 2012 của những bệnh nhân khám tại phòng xét nghiệm sinhvật ký sinh đường ruột, bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định được trình bày ởbảng 3.2 và minh họa tại biểu đồ 3.1
Trang 19Bảng 3.2 Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm chung sinh vật ký sinh đường ruột của những người đến khám tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định qua các
Trang 20cường độ và tốc độ phát triển của bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột mạnhhơn so với các vùng có dân cư thưa thớt,…[12] Nguyên nhân có thể do tạicác nơi này có sự ứ đọng phân rác, mật độ ruồi và côn trùng trung gian truyềnbệnh cao nên mức độ phổ biến của bệnh giun sán cũng cao, vì vậy cần phảilưu ý tuyên truyền và tổ chức vệ sinh tốt thì mới có thể giảm được tỷ lệ nhiễmbệnh do sinh vật ký sinh đường ruột.
Nhìn chung có thể thấy tất cả các tháng trong năm 2012 đều có người
bị nhiễm sinh vật ký sinh đường ruột trong đó các tháng 6, 7 và tháng 9, 10 tỷ
lệ mắc bệnh cao nhất
Tháng 6, 7 là hai tháng hè, nắng nóng thuận lợi cho côn trùng truyềnbệnh phát triển đồng thời thức ăn mùa hè rất dễ bị nhiễm bẩn do tính chấtnóng ẩm do vậy sự phát tán và lan truyền mầm bệnh do sinh vật ký sinhđường ruột trong mùa này khá thuận lợi
Tháng 9, 10 là hai tháng đầu mùa mưa, khí hậu ẩm ướt thuận lợi chomầm bệnh và trung gian truyền bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột phát triển
và gây bệnh Hơn nữa nước mưa làm rửa trôi các loại rác thải nên đồng thờicũng di chuyển và phát tán mầm bệnh đến nơi khác, làm nhiễm bẩn nguồnnước uống như giếng khơi, sông ngòi,…nên bệnh do sinh vật ký sinh đườngruột rất dễ phát sinh
Mặt khác do ý thức của người dân về việc giữ gìn vệ sinh còn chưacao, vẫn còn tình trạng vứt rác bừa bãi, chế biến thực phẩm không đảmbảo vệ sinh,…càng làm gia tăng tình trạng nhiễm bệnh do sinh vật ký sinhđường ruột
Chính vì vậy việc tuyên truyền ý thức phòng bệnh cho người dân là hếtsức cần thiết, vì sinh vật ký sinh đường ruột tồn tại quanh năm do vậy phảiluôn luôn có ý thức giữ gìn vệ sinh cá nhân cũng như vệ sinh chung để giảmthiểu tình trạng nhiễm bệnh và tránh lây lan cho cộng đồng
Trang 21Biểu đồ 3.1 Sự biến động tỷ lệ nhiễm sinh vật ký sinh đường ruột của nhữngngười đến khám tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định qua các tháng trong
năm 2012
3.3 Tỷ lệ nhiễm chung sinh vật ký sinh đường ruột theo địa phương của những người đến khám tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định trong năm 2012
Qua khảo sát 3457 người đến khám tại bệnh viện Đa khoa tỉnh BìnhĐịnh, chúng tôi đã phân tích tỷ lệ nhiễm chung của sinh vật ký sinh đườngruột theo từng huyện Kết quả được trình bày ở bảng 3.3 và minh họa tại biểu
đồ 3.2
Bảng 3.3 Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm chung sinh vật ký sinh đường ruột
theo từng huyện ở những người đến khám tại bệnh viện Đa khoa tỉnh
Bình Định trong năm 2012.
Huyện Tổng cas Tỷ lệ Số lượt nhiễm Tỷ lệ nhiễm
Trang 22Kết quả ở bảng 3.3 còn cho biết huyện An Nhơn có số người đi khám
ít (chỉ 90 người chiếm 2,60%) nhưng tỷ lệ nhiễm sinh vật ký sinh đường ruộtcao nhất 51,11% Tương tự ở các huyện Phù Cát, Phù Mỹ, Tuy Phước sốngười đến khám chỉ chiếm tỷ lệ từ 3,1 - 3,7% tổng số người đến khám nhưng
tỷ lệ nhiễm cao đạt từ 42,24 - 47,67% Ngược lại ở Quy Nhơn số người đếnkhám là cao chiếm 83,77%, nhưng tỷ lệ nhiễm thấp nhất 36,43% Điều nàycho thấy ý thức phòng và chữa bệnh sinh vật ký sinh đường ruột ở mỗi ngườidân ở các huyện có phần chủ quan, nếu điều kiện thuận lợi thì đi khám, điềukiện khó khăn thì chủ quan không đi khám, chỉ khi nào thấy bệnh nặng haytriệu chứng khá rõ nét mới đi khám Vì vậy, khi đã đi khám tỷ lệ mắc bệnhcao
Tỷ lệ người đi khám bệnh ở Quy Nhơn cao 83,77%, tỷ lệ nhiễm thấpnhất 36,43% phần nào cho biết người dân ở thành phố Quy Nhơn có ý thứccao hơn về việc phòng và chống bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột
Trang 23Tất cả những phân tích trên cho thấy cần phải quan tâm giáo dục ý thức
vệ sinh phòng bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột ở những vùng nông thônhơn nữa để họ hiểu được tác hại của bệnh đồng thời biết cách phòng chống đểtránh lây nhiễm, khi có triệu chứng bệnh dù rất nhẹ cũng phải lập tức đi khám
để điều trị kịp thời Có như vậy thì mới giảm được tỷ lệ nhiễm bệnh do sinhvật ký sinh đường ruột và tránh lây lan ra cộng đồng vì đây là bệnh mang tính
Chúng tôi chia những người đã đến khám thành 2 nhóm lứa tuổi đểphân tích, khảo sát Nhóm lứa tuổi nhỏ hơn 12 tuổi được xác định là lứatuổi nhỏ, chưa có ý thức vệ sinh cá nhân hoặc đã ý thức chưa cao Nhómthứ 2 là nhóm lứa tuổi lớn hơn 12 tuổi, được coi là nhóm đã có ý thức giữ
Trang 24gìn vệ sinh cá nhân, đặc biệt là đối với giới nữ, tuổi dậy thì sớm đã biếtcoi trọng vệ sinh cá nhân Kết quả khảo sát được trình bày ở bảng 3.4 vàminh họa tại biểu đồ 3.3
Bảng 3.4 Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm chung sinh vật ký sinh đường ruột theo lứa tuổi những người đến khám tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định
trong năm 2012.
Lứa tuổi Tổng cas xét
nghiệm Số lượt nhiễm SVKSĐR Tỷ lệ (%)
Trang 25Biểu đồ 3.3 Sự biến động tỷ lệ nhiễm sinh vật ký sinh đường ruột theo lứatuổi ở những người đến khám tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định trong
năm 2012
3.5 Tỷ lệ nhiễm chung sinh vật ký sinh đường ruột theo giới tính của những người đến khám tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định trong năm 2012
Phân tích tỷ lệ nhiễm chung sinh vật ký sinh đường ruột của nhữngngười đến khám tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định phân chia thành 2nhóm theo giới tính Kết quả được trình bày ở bảng 3.5 và minh họa ởbiểu đồ 3.4
Bảng 3.5 Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm chung sinh vật ký sinh đường ruột theo giới tính của những người đến khám tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình
Định trong năm 2012
Giới tính Tổng cas xét
nghiệm Số lượt nhiễm SVKSĐR
Tỷ lệ(%)
Trang 26Kết quả bảng 3.5 cho thấy, bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột gặp ở cảnam và nữ Tỷ lệ nhiễm chung sinh vật ký sinh đường ruột ở nam là 38,98%,
ở nữ là 36,66% Điều này cho thấy bệnh do sinh vật ký sinh đường ruột mắc
ở cả 2 giới, không đặc trưng cho giới nào
Kết quả bảng 3.5 còn cho thấy tỷ lệ nhiễm ở nam là 38,98% cao hơn ở
nữ (36,66%), điều này cho biết, ở giới nữ ý thức vệ sinh trong ăn uống caohơn nam Trên thực tế quan sát thấy thói quen ăn uống không vệ sinh ở nam
là thường xảy ra, đặc biệt đối với trẻ em nam
Kết quả điều tra tại các trường phổ thông ở nước ta, tỷ lệ học sinhbiết cần tẩy giun định kỳ và giữ vệ sinh ăn uống ở nam là 54,78%, ở nữ71,86% [7] Kết quả này phần nào cho thấy nhận thức về việc phòngbệnh do sinh vật ký sinh đường ruột cũng như việc giữ gìn vệ sinh trong
ăn uống của học sinh nữ tốt hơn so với học sinh nam
Theo kết quả điều tra tại trường mầm non Việt - Bun Hà Nội, tỷ lệ trẻ
em rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh ở nam là 54,23%, ở nữ là67,45% [11], như vậy số trẻ em nữ có thói quen này cao hơn hẳn so với trẻ
em nam
Mặt khác vấn đề ý thức ăn chín uống sôi ở nam giới vẫn còn nhiềuthiếu sót, điều tra nhanh trên 2 nhóm đối tượng Nam làm thợ xây và Nữ bánhàng tại khu vực Quy Nhơn chúng tôi thấy nhóm đối tượng nam làm thợ xây
có 36/36 người sử dụng nước không đun sôi cho đá vào uống Nhóm đốitượng là nữ bán hàng có 2 dạng: dạng bán hàng có quầy tại nhà có 8/12 ngườithường xuyên uống nước đun sôi để nguội, 4/12 người uống nước một cáchtùy tiện, có thể sử dụng nước bình thậm chí nước máy để uống; còn nhữngngười nữ bán hàng rong có 16/16 người xin nước người quen hoặc mua đượcnước gì thì uống nước đó Tuy kết quả điều tra trên chưa mang tính khái quát
Trang 27và chưa thật sự khoa học nhưng cũng đã phần nào góp phần chứng minh chonhận định ở trên.
Từ những kết quả trên cho thấy, thói quen cũng như ý thức giữ gìn vệsinh ở giới nữ tốt hơn so với nam do vậy tỷ lệ nhiễm sinh vật ký sinh đườngruột ở nam sẽ cao hơn so với nữ Vì vậy kết quả ở bảng 3.5 là hoàn toàn phùhợp
Biểu đồ 3.4 Sự biến động tỷ lệ nhiễm sinh vật ký sinh đường ruột theo giớitính ở những người đến khám tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định trong
Bảng 3.6 Thành phần chủng loại và tỷ lệ nhiễm các sinh vật ký sinh
đường ruột ở người đến khám tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định trong
năm 2012
TT Chủng loại sinh vật ký sinh đường ruột Số cas Tỉ lệ %
Trang 28Tên khoa học Tên thường gọi
1 Candida albicans Nấm Candida 1.015 29,36
2 Giardia lambia Giardia đường ruột (lớp trùng
histolytica Amoebe ký sinh (amip) 112 3,24
5 Ascaris lumbricoides Giun đũa 30 0.87
stercoralis Giun lươn 6 0,17
9 Trichuris trichiura Giun tóc 4 0,12
10 Toenia saginata Sán dây người 2 0,06
Kết quả bảng 3.6 cho biết:
* Xét về thành phần chủng loại, chúng tôi đã phát hiện 10 chủng loạisinh vật ký sinh đường ruột thuộc 5 lớp phân loại khác nhau ở những ngườiđến khám tại phòng xét nghiệm thuộc bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định.Như vậy là khá phong phú về chủng loại và đa dạng về lớp ngành
+ Nấm Candida thuộc lớp Adelomycetes, còn gọi là nấm bất toàn, là
chủng loại được phát hiện phổ biến ở những người có triệu chứng rối loạntiêu hóa, tiêu chảy, phổ biến ở tất cả các lứa tuổi Bằng phương pháp soi phântươi trực tiếp, trên vi trường chúng tôi thấy rõ nấm Candida mọc thành sợidài, nhiều sợi bị đứt gãy tạo thành những đoạn hình thuẫn rời nhau và có chồitrông giống nấm men