1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

DẠY kỹ NĂNG làm văn – một số giải pháp quan trọng giúp học sinh lớp 12 thi đại học đạt kết quả cao

17 333 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 301 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“DẠY KỸ NĂNG LÀM VĂN –MỘT GIẢI PHÁP QUAN TRỌNGGIÚP HỌC SINH LỚP 12 THI ĐẠI HỌC ĐẠT KẾT QUẢ CAO.” - Người viết: Nguyễn Văn Lự - Giáo viên Ngữ văn, trường THPT Vĩnh Yên, TP Vĩnh Yên, tỉnh

Trang 1

“DẠY KỸ NĂNG LÀM VĂN –MỘT GIẢI PHÁP QUAN TRỌNG

GIÚP HỌC SINH LỚP 12 THI ĐẠI HỌC ĐẠT KẾT QUẢ CAO.”

- Người viết: Nguyễn Văn Lự

- Giáo viên Ngữ văn, trường THPT Vĩnh Yên, TP Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

- Đối tượng học sinh bồi dưỡng: lớp 12.

- Số tiết bồi dưỡng phần kỹ năng làm văn: 24 trong 80 ca

A ĐỀ CƯƠNG BÁO CÁO THAM LUẬN

Báo cáo tham luận gồm bốn phần:

I Vài nét về công tác ôn thi đại học, cao đẳng (ÔTĐH,CĐ) Ngữ văn Lớp 12

II Những giải pháp giúp học sinh lớp 12 ÔTĐH, CĐ môn Ngữ văn hiệu quả III Những kết quả triển khai chuyên đề tại trường THPT Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc

IV Một vài kiến nghị

B NỘI DUNG

I VÀI NÉT VỀ CÔNG TÁC ÔN THI ĐẠI HỌC MÔN NGỮ VĂN LỚP 12.

1 Phương pháp dạy kỹ năng làm văn chưa được quan tâm đúng mức

- Hiện nay, phương pháp dạy Ngữ văn ở trường phổ thông, phần lớn các thầy, cô giáo tập trung giảng bình tác phẩm, đoạn trích theo cách áp đặt cảm nhận của mình hoặc theo tài liệu giảng dạy của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GDĐT) Chúng ta ít chú trọng dạy học sinh (HS) hình thành các kĩ năng khám phá, tìm hiểu và cảm nhận chủ động theo năng lực và mục đích đọc văn của người học Học sinh hiểu theo kiến giải của thầy, theo tài liệu nên dễ quên, không để lại trong tâm tưởng những rung cảm hay ấn tượng từ hình tượng văn học trong tác phẩm Giờ học văn và viết văn trở nên nhàm chán và nặng

nề trong tâm trí học trò là câu chuyện không ai muốn nhắc lại

- Trong phân môn Làm văn, giáo viên bộ môn quan tâm dạy lý thuyết kiểu bài, ra đề học sinh làm Các giờ thực hành, luyện tập kỹ năng viết đoạn, phân tích đề, lập dàn bài, nhất là giờ trả bài chưa được thực hành nghiêm túc và hiệu quả Học sinh làm theo, viết theo những gì đã học, đã có trong tài liệu mà chưa dám bày tỏ hiểu biết mới theo chủ quan Không dám sáng tạo, không dám phát hiện nên có thể tạo ra lối nghị luận thiên về học thuộc, sao chép và nhất nhất theo thầy dạy

- Từ năm 2010, việc Bộ GDĐT thay đổi căn bản đề Ngữ văn Đại học, Cao đẳng (ĐH, CĐ) gồm ba câu, trong đó, nghị luận xã hội (NLXH) chiếm 30 % điểm bài và nghị luận văn học (NLVH) chiếm 70% điểm bài, theo cấu trúc ngày một thoát li văn mẫu học thuộc, học tủ, học đối phó, thoát dần lối học đọc chép

- Làm văn nghị luận văn học và nghị luận xã hội theo một số đề bài nhất định, dùng

những đề có sẵn, những ý kiến có sẵn làm cho tư duy nghị luận gò bó, xáo mòn, thiếu tranh luận, phản bác hay nêu ý riêng Những vấn đề mới, kiến giải mới gắn với thực tế, gần gũi với trình độ học trò, đôi khi trái ngược với cách hiểu trong đáp án, vẫn chưa được thầy cô chấp nhận Một số giám khảo, do nhiều nguyên nhân, không đánh giá đúng

và khách quan bài làm của thí sinh theo đề bài mở Cũng còn không ít giáo viên xem nhẹ câu chữ và kỹ năng viết nghị luận của thí sinh, quan trọng hóa độ dài của bài mà không

Trang 2

coi trọng kiến giải và văn phong đã dẫn đến tệ trạng học sinh viết càng dài càng tốt Bài nghị luận xã hội cũng chấm qua loa, chỉ quan tâm đến các ý, chưa xem xét nhận thức và tình cảm, thái độ của học sinh bàn luận

- Việc ra đề, tổ chức viết bài, chữa bài, trả bài và rút kinh nghiệm chưa làm tốt vẫn còn phổ biến trong dạy làm văn Khâu cuối cùng của quá trình rèn dạy kỹ năng giúp điều chỉnh hành vi bày tỏ nhận biết của học sinh về vấn đề nghị luận thông qua sử dụng ngôn ngữ và diễn đạt cần phải làm chu đáo hơn

- Phần trau dồi ngôn từ, mở rộng vốn từ trong nói và viết qua những giờ tiếng Việt cũng còn nhiều hạn chế, góp phần làm giờ học văn và bài viết văn kém hấp dẫn và hiệu quả

2 Dạy ôn thi Ngữ văn ĐH, CĐ như thế nào đạt hiệu quả

- Thực tế nước ta vẫn rất khó tìm cơ hội việc làm các ngành Khoa học xã hội; học sinh không hào hứng học và viết văn; công việc ôn thi Ngữ văn ĐH, CĐ gặp không ít khó khăn

Nhà giáo Ngữ văn của các trường THPT vẫn mạnh ai nấy dạy theo chủ nghĩa kinh nghiệm Những đơn vị có đông học sinh thi Văn ĐH, CĐ (huyện Vĩnh Tường, Lập Thạch, Xuân Hòa ); các lớp ôn thi cũng chưa thống nhất được chương trình và trọng tâm kiến thức Việc bố trí thêm giờ cho các môn thi ĐH, CĐ, tăng thời gian học ôn có

thể mang lại những kết quả đáng kể Tuy nhiên, vấn đề phương pháp học và làm bài vẫn là vấn đề mấu chốt quyết định điểm của bài thi văn Học thêm và học nhiều nhưng

việc học sinh viết bài thường xuyên lại chưa được chú trọng nên chất lượng bài làm thấp, nhất là các đối tượng HS không thuộc trường trọng điểm có đầu vào cao

- Nội dung ôn thi trọng tâm trong các bài học chính khóa và đọc thêm không thay đổi Đến 2014, đề bài vẫn xoay quanh chừng ấy tác phẩm, chừng ấy tác giả văn học

Sự đổi mới hoàn toàn của đề thi năm 2013 đặt ra vấn đề có tính sống còn Không có sự lặp lại đề thi và không thể dùng văn mẫu làm bài Đề thi ĐH, CĐ đòi hỏi người thi hiểu và bày tỏ sự cảm thụ của mình về vấn đề đặt ra Nếu không hiểu tác phẩm và không chắc về kỹ năng, thí sinh không thể làm bài nhưng hiểu tác phẩm mà kỹ năng yếu làm bài chắc chắn kém hiệu quả

- Thực tế một số Trường THPT phân công giáo viên dạy từ lớp 10 đến hết lớp 12, phải ba năm sau họ mới có dịp dạy ôn thi ĐH, CĐ (trừ các thầy cô giáo có lớp ở ngoài), thành thử, những bài học kinh nghiệm không thể được thực thi Mặt khác, văn chương chưa dễ thống nhất được ngay cách hiểu và cũng chưa nhất trí được ngay cách dạy Những khó khăn và tồn tại như thế làm công việc dạy ôn thi ĐH, CĐ Ngữ văn càng nan giải

Trong ba năm gần đây, tôi đã thay đổi cách dạy ôn thi ĐH, CĐ và bước đầu thấy hiệu quả Bên cạnh việc trang bị tri thức đọc hiểu văn bản văn học, tác giả văn học, đảm bảo những kiến thức cơ bản cần thiết, tôi dành nhiều thời gian ôn tập, thực hành

kỹ năng làm văn cho học sinh Trong tham luận này tôi xin trao đổi thêm ý tưởng

DẠY KỸ NĂNG LÀM VĂN – MỘT GIẢI PHÁP QUAN TRỌNG GIÚP HỌC SINH LỚP 12 THI ĐẠI HỌC ĐẠT KẾT QUẢ CAO”.

Trang 3

II NHỮNG GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 12 ÔN THI MÔN NGỮ VĂN HIỆU QUẢ

1.Chủ động trong kế hoạch dạy kỹ năng làm văn.

- Theo phân công chuyên môn, tôi chủ động lập Kế hoạch ôn tập từ năm lớp10 đến lớp 12 Theo các trọng tâm kiến thức:

+ Lớp 10, 11 dành khoảng 30 % số giờ học chuyên đề dạy lý thuyết và kỹ năng tiếng Việt, làm văn

+ Lớp 12 khoảng 30% số giờ học chuyên đề dạy lý thuyết và kỹ năng làm văn Nôi dung bài học được thực hiện đầy đủ các giờ làm văn, viết bài nghiêm túc trên lớp, chấm bài cẩn thận, trả bài có nhận xét tới từng học sinh, yêu cầu sửa lỗi ở nhà và khuyến khích học sinh viết lại bài theo dàn ý bài chữa

- Lớp 12 được đầu tư 3 ca ôn thi một tuần, tổng số 80 ca (mỗi ca = 2,5 tiết học) Tôi dành 24 ca ôn kỹ năng làm văn, 45 ca ôn tác phẩm, 4 ca giới thiệu bài khái quát văn học sử, 2 ca lý luận văn học, 2 ca giới thiệu cấu trúc đề thi và giới hạn kiến thức Trong số 24 ca kỹ năng chia ra: NLXH: 10; NLVH: 10; chữa bài: 4 ca; trong đó phần

kỹ năng làm bài: 11 ca ( Tổng hợp chương trình: Phụ lục 6).

Kiến thức về tác phẩm, tác giả đã được học theo chuyên đề nên tôi chú ý những vấn

đề cơ bản mới nhất, không giảng lại tác phẩm (Kế hoạch chuyên đề: Phụ lục 7)

2 Nội dung giảng dạy phần Kỹ năng (24 ca x 2,5 tiết = 60 tiết)

(Tất cả các nội dung trình bày dưới đây tôi đã soạn thành giáo án chuyên đề theo

kế hoạch, được nhà trường ký duyệt ).

a Ôn tập các kỹ năng nhận thức đề

- Ôn tập các thao tác nhận thức đề bài: Đọc thật kỹ đề bài, gạch chân từ ngữ quan trọng, phân tích ngữ pháp nhận định (ngữ liệu); xác lập 3 yêu cầu ( thao tác NL, nội dung NL, kiến thức sử dụng)

- Giờ trả bài, chép đề và yêu cầu HS thực hiện công việc này nghiêm chỉnh, chỉ ra những thiếu sót và nhầm lẫn của các học trò

b Ôn tập các kỹ năng tìm ý, lập dàn ý.

- Xây dựng những câu hỏi tìm ý (Vấn đề này là gì, cái gì, ai? Vấn đề đúng hay chưa, tại sao, có thể hiểu thế nào, )

- Hướng dẫn HS cách ghép vào từng đề bài, nhất thiết phải đặt các câu hỏi tìm ý

và tìm ý nào chính, ý trọng tâm để dành thời gian và tri thức cho ý đó Yêu cầu HS nhất thiết làm dàn ý sơ lược rồi hãy viết

c Ôn tập các kỹ năng hành văn, lập luận, dùng từ, tạo dựng câu

- Ôn tập các kỹ năng viết câu, dùng từ hợp phong cách, đúng nghĩa, đúng chính

tả (mỗi lỗi chính tả, dùng từ, các em sẽ được viết lại 200 lần và tôi nhân đôi nếu không viết) Các kỹ năng dựng đoạn theo từng cách trình bày được dạy lồng ghép khi viết bài giúp HS hiểu và lựa chọn Các lớp từ và loại từ bình giá, từ dùng liên kết cũng theo cách vừa học bài vừa luyện tập nhận biết để vận dụng

- Trong bài kiểm tra viết, tôi cố gắng sửa những lỗi phát hiện và khi trả bài phân tích

HS để cả lớp nhận biết cùng tránh

Trang 4

d Ôn tập các kỹ năng lập luận theo kiểu bài NLXH, NLVH.

- Mỗi kiểu bài NLXH, NLVH có những đặc điểm riêng, tạm gọi là dạng bài Bài phân tích đoạn thơ, đoạn văn khác bài phân tích cả bài thơ, cả tác phẩm văn xuôi; bài cảm nhận văn học khác bài bày tỏ ý kiến văn học; bài phân tích khác bình luận văn

chương Mỗi bài có cách tiếp cận và kiến giải theo những thao tác lập luận chủ yếu

so sánh, phân tích, bình luận, phản bác hay thuyết minh

- Từng bước, thầy cô giáo giúp HS phân biệt sự khác nhau đó nhằm chọn được những kỹ năng trình bày phù hợp giải quyết vấn đề đặt ra Khi nào cần giảng giải, khi nào phân tích, bình luận Điều quan trọng là HS chọn cách dùng ngôn ngữ linh hoạt trong khi bàn giảng vấn đề sao cho thuyết phục

e Ôn tập cách viết mở bài, kết bài (Kỹ năng viết mở bài, kết bài: phụ lục 9)

- Ôn tập cách viết mở bài, kết bài đã học qua việc xây dựng các thiết kế mẫu cho đối tượng HS trung bình Các em chỉ cần thuộc, khi viết bài, chỉ cần thay đổi chủ thể là xong phần mở bài

- Mở bài sáng tạo dựa trên hai ý cơ bản (ý giới thiệu khái quát, ý nêu vấn đề NL) để thiết kế theo các dạng nêu trực tiếp, gián tiêp, tương liên, phản luận Mở bài ngắn

gọn và trúng ý tạo sự hấp dẫn theo công thức có nhiều ích lợi.

3 Hướng dẫn học sinh làm bài theo công thức (khung) dàn bài mẫu cho từng kiểu bài

(Dàn bài mẫu: phụ lục 10)

a Kiểu bài tái hiện kiến thức ( câu 2 điểm)

- Ôn tập các dạng câu hỏi tái hiện kiến thức: tác giả, nhan đề, chi tiết và văn học sử

- Hướng dẫn cách tìm chi tiết, tìm ý nghĩa chi tiết và làm thế nào diễn đạt ý hiểu đó

Thống kê các dạng câu hỏi tái hiện, học sinh cần nhớ:

+ Câu hỏi về tác giả và sự nghiệp sáng tác, phong cách nghệ thuật (Cần học kỹ 5 tác gia trong chương trình văn học 11 & 12 là: Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Hồ Chí Minh,

Tố Hữu Nam Cao)

+ Hoàn cảnh sáng tác

+ Kiến thức văn học sử, đặc điểm nội dung, nghệ thuật

+ Nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, đoạn trích

+ Chi tiết, hình ảnh, ý nghĩa chi tiết văn xuôi

+ Phong cách nghệ thuật, quan điểm sáng tác của tác giả

+ Ý nghĩa nhan đề, tình huống truyện

Đây là câu lí thuyết: Cần làm chính xác, rõ ràng những kiến thức trong sách giáo khoa Tuy nhiên, không đơn giản chỉ có vậy, thí sinh cần trình bày cả cách hiểu, cảm nhận của mình về một vấn đề

b Kiểu bài NLXH gồm 3 dạng cơ bản:

- Nghị luận về tư tưởng đạo lí

- Nghị luận về về hiện tượng đời sống

- Nghị luận về vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học

Phần nghị luận xã hội xoay quanh các chủ đề tư tưởng- đạo lý và những hiện

tượng trong đời sống Lưu ý các kiểu đề có nội dung : quan niệm về sống đẹp; sống

có trách nhiệm; tình yêu Tổ quốc; tình yêu thương con người, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc,… các hiện tượng đời sống như nghiện Internet; sống vô cảm; bạo lực giữa các đối tượng học sinh với học sinh; lối sống buông thả,…, các vấn đề xã hội

Trang 5

trong văn học như lẽ sống, lòng tốt, đạo làm người, Phần NLXH tuy thao tác giải thích rất quan trọng, nhưng cảm thấy từ ngữ đó có thể nêu được khái niệm mà không thể nào giải thích được thì nên nêu nội dung chung, tránh giải thích sai Bởi vì khi đã giải thích sai, thì mọi việc lập luận hoặc mô tả sau đó đều đi sai hướng

Các dạng đề bài NLXH nên quy chiếu về dạng bài cơ bản: vấn đề tư tưởng (nhận thức, lý tưởng, quan điểm nhìn nhận, thái độ ); vấn đề đạo lí (đạo đức, tình người, quan hệ con người với nhau, cách xử sự ) ; hiện tượng đời sống thuộc lĩnh vực nào Mỗi dạng bài cần chỉ ra cách nhận biết và phân tích, bình luận

c Kiểu bài NLVH

- Kiểu bài về bài thơ, đoạn thơ (nêu cảm nhận, phân tích, bình luận )

- Kiểu bài về về tác phẩm văn xuôi, về nhân vật, về nhận định (nêu cảm nhận, phân tích, bình luận )

- Kiểu bài về so sánh văn học, nhóm tác phẩm, một tác phẩm (nêu cảm nhận, phân tích, bình luận, nêu ý kiến, )

Đây là câu có số điểm nhiều nhất, nhưng rất nhiều học sinh thường chỉ tập trung vào chương trình 12 và bỏ hẳn chương trình 11, hoặc chỉ học văn xuôi và hoàn toàn

bỏ phần thơ Những HS có năng khiếu cảm thụ văn học và có kỹ thuật hành văn tốt, cần học thuộc những tư liệu văn học, nắm vững các chi tiết, hình ảnh để giải quyết trên cơ sở biết khái quát và tổng hợp vấn đề

Các dạng đề bài NLVH nên quy chiếu về dạng bài cơ bản Bài NLVH về thơ cần chú trọng ngôn ngữ, các biện pháp nghệ thuật để làm rõ ý thơ, chủ đề Bàn về nhân vật văn xuôi chú ý đến chi tiết, cử chỉ, hành động để thấy những vẻ đẹp của nhân vật

Chúng tôi soạn những gợi ý và đưa ra dàn ý mẫu như những công thức Học sinh sau khi phân tích đề bài chắc chắn, phác thảo dàn bài trong giấy nháp, tìm ý điền dần vào khoảng trống, tiến hành viết bài đảm bảo nội dung và thời gian

4 Luyện tập viết bài theo yêu cầu ngắn gọn, đủ ý và hấp dẫn.

- Ôn tập các thao tác nghị luận phân tích, giải thích, so sánh, bình luận, phản bác, thuyết minh

- Cách viết văn linh hoạt, hiệu quả Thực hành nhiều trên lớp viết câu, dùng từ viết đoạn

Những vấn đề nêu trên, có thể không mới Vấn đề có giá trị nhất là chúng ta làm như thế nào Mỗi nội dung tôi đều soạn giáo án và theo từng đối tượng điều chỉnh phù hợp Học sinh viết nhanh, hiểu nhanh tôi chữa ngay trên bài Học sinh viết chậm, tôi làm mẫu và hướng dẫn cụ thể hơn Có khi phải làm nhiều lần viết mẫu, đọc mẫu, thậm chí, cần hướng dẫn HS so sánh với bài văn trong tài liệu để đối chiếu, rút ra bài học Hiểu vấn đề rồi nhưng làm thế nào diễn đạt được sự hiểu ấy? Tôi thường cố gắng soạn đề mới hoặc tham khảo đồng nghiệp đặt ra những câu hỏi dễ hiểu và lạ giúp HS có những nhìn nhận đa dạng và thực chất vấn đề về tác phẩm Các giá trị của

hình tượng, của chi tiết nghệ thuật cần hiểu đúng chuẩn kiến thức kỹ năng Mỗi thầy

cô giảng dạy có thể lí giải khác nhau, đề thi có thể hỏi khác đề đã có nhưng kiến thức

cơ bản không thay đổi Tôi chủ động giúp HS hiểu bản chất vấn đề rồi diễn đạt ngắn gọn, đủ ý và chính xác Yêu cầu HS không viết dài, kể lể lan man

Tất nhiên, đề bài chưa thấy bao giờ, nhưng học sinh không bị lúng túng, hoang mang, lần lượt làm hết cả ba câu Nắm thật tốt kỹ năng, hoàn thành bài thi, đúng và

Trang 6

trúng hướng đề yêu cầu tin rằng thí sinh đó đã có nửa số điểm mỗi câu (khoảng 5 điểm cả bài) Nếu viết giỏi hơn, điểm tăng lên Năm 2013, lớp 12A6 khối C, em

Nguyễn Thu Trang (không phải HS giỏi văn) thi ĐH đạt 7,5, CĐ đạt 7,5; em Nguyễn

Vân Anh, Lê thị Thúy Mai thi ĐH 7,5 Nhiều em đạt điểm 5,5 - 6,5

Nhiều kỹ năng cần thiết khác, trước và trong khi làm bài, thầy cô nên trang bị cho

HS như tâm thế, cách chọn đề, cách huy động tri thức, cách viết ngắn, cách chọn và đưa dẫn chứng trong NLXH và NLVH, phân chia thời gian hợp lí

Sự thành thục kỹ năng làm văn và chủ động xử lí đề thi Ngữ văn thật sự quan trọng không kém kiến thức hiểu biết về tác phẩm và xã hội Tôi đã rất vui khi hết giờ

thi, nhận được tin của học trò “em làm xong cả 3 câu nhưng không biết có đúng không” Tôi muốn học trò đề nào cũng làm được, cứ theo cách thầy dạy, tự tin, bình

tĩnh, nỗ lực và sáng tạo, thành công sẽ đến

5 Lập bảng tổng hợp theo dõi đề thi ĐH, CĐ các năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Tôi sưu tầm đề thi các năm gần đây của Bộ nhằm theo dõi và đi sâu hơn các trọng

tâm ôn tập về kiến thức và kỹ năng.( Tổng hợp đề thi các năm: phụ lục 8)

III NHỮNG KẾT QUẢ TRIỂN KHAI CHUYÊN ĐỀ TẠI NHÀ TRƯỜNG

1 Năm học 2011-2012, nhóm học sinh tôi dạy phụ đạo 9 em 12 A6 của trường, có 1 học sinh đạt 8,5 điểm, số còn lại đạt từ 5,5 điểm trở lên, không có điểm dưới 5

2 Năm học 2012-2013, lớp 12 A6, khối C, do tôi phụ trách, điểm bình quân đạt 5,87 Một số học sinh nắm vững cách làm bài, các kỹ năng làm văn nên điểm bài thi cao

hơn điểm tổng kết môn cuối năm Các em tự tin và chủ động làm bài hiệu quả (Phụ lục 5).

3 Năm 2013-2014, lớp 12 A7, khối D, tôi cùng dạy ghép, điểm thi Khảo sát theo đề

của Sở lần 1 và 2 điểm bình quân đạt yêu cầu (Phụ lục 4)

IV NHỮNG KIẾN NGHỊ

1.Đối với cơ quan quản lí:

- Tổ chức Hội thảo cấp Sở thường xuyên, mỗi năm nên chọn một chủ điểm, một nội dung

- Các đơn vị nhà trường chủ động tổ chức hội thảo cấp trường, nhóm trường

- Có chế độ đãi ngộ thù lao cho cá nhân nghiên cứu, sáng kiến kinh nghiệm thỏa đáng

2.Đối với nhà giáo tham gia ôn thi Đại học, Cao đẳng

- Chủ động lập kế hoạch, vận dụng linh hoạt các nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm sau Hội thảo

- Tăng cường trao đổi và học tập kinh nghiệm ôn thi ĐH, CĐ của đồng nghiệp

Vĩnh Yên, ngày 03 tháng 03 năm 2014

Người viết

Nguyễn Văn Lự

Trang 7

Phụ lục 5: KẾT QUẢ THI ĐẠI HỌC CAO ĐẲNG LỚP 12A6 NĂM 2012-2013

2 Phùng Văn Quang ĐH quốc gia HN 7 8.5 6.75 22.5

8 Triệu Phương Huyền Học viện BC&TT 3 1.5 5 9.5

13 Nguyễn Thị Nhung Học viện HC 5.25 8.25 8.25 22 x

18 Bùi Minh Dũng Trường sỹ quan CT 5.5 9 7.75 22.5 x

19 Đỗ Văn Tiến Dũng Học viện an ninh ND 6 8.25 7.75 22 x

21 Phùng Thị Mai Cao đẳng VP 5.5 2.5 4.5 12.5 x

24 Nguyễn Thị Nụ Cao đẳng VP 6.5 3 5.75 15.5 x

26 Triệu Phương Huyền Cao đẳng VP 5.5 1 5.75 11.5

Điểm trung bình 5,87 4,57 6,45 17,03

Tổng số thí sinh dự thi Đại học 19; Cao đăng 7 = 26

Điểm thi

Trang 8

Phụ lục 6: TỔNG HỢP KẾ HOẠCH ÔN THI ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG LỚP 12 A7

NĂM 2013-2014 - NGỮ VĂN KHỐI D

I CẤU TRÚC THEO PHÂN MÔN ( 80 ca)

Kháiquát

VH sử

Bài tổng kết chương

Giới thiệu cấu trúc đề ĐH

Phần kỹ năng Làm văn luận văn Phần Lý

học

Phần tác phẩm VH Văn nước ngoài kiến thức Giới hạn

thiĐH

Kiểm tra

và chữa bài

Tổng số ca

NLX

II CẤU TRÚC THEO CHƯƠNG TRÌNH LỚP 11( Tên bài và số ca dạy)

St

t

Khái

quát

Hai đứa trẻ

Chữ người.

.

Hạnh phúc.

.

Chí Phèo

Đời thừa

Nam Cao

Vội vàng

Xuân Diệu

Đây thôn.

.

Tràn g giang

Tương

NKT T

Chiều tối

Lai Tân

Từ ấy

St

t Chiềuxuân duyênThơ mùaĐây

thu

Tống biệt hành

Nhớ đồng Giảiđi

sớm

Một thời.

.

Vĩnh biệt cửu

Hầu trời g mẹ Tiến

đẻ

Vi hành Nghệthuật

băm

Tinh thần TD

Cha con nghĩa

Tổng

số ca

II CẤU TRÚC THEO CHƯƠNG TRÌNH LỚP 12 ( Tên bài và số ca dạy)

St

t Khái quát TNĐ L Tác gia

HC M

Tây Tiến Việt Bắc Hữu Tố Nướ Đất

c NKĐ

Sóng Đàn

ghit

a

Ngườ

i lái n Tuân Nguyễ đã Ai Nhì n

về

Hồn Trươn g

VChồn g APhủ

Vợ nhặt

St

t

Nhữn

g

đứa

Rừng xànu

Chiếc thuyền.

.

Một người

Nguyễ

n Đình Chiểu

Mấy ý nghĩ

Thôn g điêp

Đất nước NĐT

Dọn về làng

Tiếng hát Đò lèn

Bác ơi

Bên kia sông

Những ngày đầu

Bắt sấu

Mùa lá rụng

Tổng

số ca

Trang 9

Ghi chú: Tác phẩm không in nghiêng đọc thêm Dấu (x) dạy tích hợp với bài khác.

Phụ lục 8: TỔNG HỢP ĐỀ THI ĐH, CĐ MÔN NGỮ VĂN KHỐI C.D TỪ NĂM 2009 ĐẾN 2013

Câu NLVH– ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG

1

11

Khái quát VH (TK XX- 45)

4 Hạnh phúc của một

3bD

3aD

7 Tác gia Nam Cao

10 Tác gia Xuân Diệu

3aC

14 Nhât kí trong tù

15 Chiều tối

(1945 - 75) D

Trang 10

11 Con đường trở

13 Tác gia Nguyễn Tuân

15 Nhìn về vốn VH

16 Hồn Trương Ba

3bD Câu NLXH – ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG

Khối C

Người đánh mất niềm

tin mất nhiều thứ quý

giá hơn Thói đạo đức giả

Biết tự hào nhưng biết xấu hổ còn quan trọng

hơn

Kẻ cơ hội nôn nóng tạo

ra thành tích, người chân chính nên thành tựu

Không ca tụng trí tuệ mà

ca tụng sự khôn khéo biết thủ thế giữ mình, gỡ được tình thế khó khăn

Khối D Xin cho cháu biết chấpnhận thi rớt Thói vô trách nhiệm

Đừng cố trở thành nổi tiếng mà trước hết là người có ích

Ngưỡng mộ thần tượng là nét đẹp văn hóa, mê muội là thảm họa

Người Việt Nam Tính thụ động đi theo con đường vẽ sẵn

Khối

Mối quan hệ tài và đức Thói ích kỷ thì sự chia

sẻ trở thành lạc lõng

Nghề nghiệp ko làm nên

sự cao quý mà chính con người

Khi có lỗi, người tử tế thì sẵn sàng nhận lỗi, kẻ

ti tiện chỉ tìm cách đổ lỗi

Ngày đăng: 23/10/2015, 09:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w