1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư

132 330 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trường học Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Chuyên ngành Quản lý đầu tư
Thể loại Chuyên đề
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 743 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc quản lý đầu tư và xâydựng là quản lý tốt công tác chuẩn bị đầu tư, trong đó có việc lập, thẩm định vàphê duyệt dự án đầu tư Thẩm định dự án được xem như một nhu cầu không thểthiếu và là cơ sở để ra quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư

Thẩm định dự án được tiến hành đối với tất cả các dự án thuộc mọi nguồnvốn, mọi thành phần kinh tế Tuy nhiên, yêu cầu thẩm định đối với các dự ánnày là khác nhau Trong những năm qua, thực hiện chủ trương phát huy nội lực,nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế của Đảng và Nhà nước nhằm tranh thủ mọitiềm năng, cơ hội để phát triển kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thànhmột bộ phận không thể thiếu, đóng góp ngày càng lớn vào việc thực hiện cácnhiệm vụ kinh tế xã hội của đất nước Là một nguồn vốn giữ vai trò quan trọng

và được triển khai theo những dự án lớn, Việt Nam cần nhận những dự án đầu tưtrực tiếp nước ngoài tốt mang lại lợi ích cho tổng thể nền kinh tế và loại bỏnhững dự án xấu Để thực hiện được mục tiêu đó, quá trình đánh giá các dự ánđầu tư trực tiếp nước ngoài trên cơ sở thẩm định là hết sức quan trọng Bộ Kếhoạch và Đầu tư với tư cách là cơ quan đầu mối trong việc thu hút, quản lý các

dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài thường xuyên chú trọng tới công tác thẩmđịnh dự án đầu tư để ra quyết định đầu tư hoặc đề xuất báo cáo trình Chính Phủquyết định Để đưa ra những quyết định ngày càng đúng đắn và phát huy mạnh

mẽ hơn nữa hiệu qủa của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, việc nâng caochất lượng tiến tới hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nướcngoài được đặt ra ngày càng bức xúc

Xuất phát từ lý do trên, cùng với lòng nhiệt tình muốn nâng cao hiểu biết

về lĩnh vực thẩm định dự án, trong thời gian thực tập tại Văn phòng thẩm định

-Bộ Kế hoạch và Đầu tư, em đã tập trung đi sâu tìm hiểu công tác thẩm định đốivới các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài và đã quyết định chọn đề tài nghiên

Trang 2

cứu “Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ

Kế hoạch và Đầu tư ”.

Do sự hiểu biết và thời gian thực tập có hạn nên bài viết không thể tránhkhỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của cácthầy cô giáo và các bạn sinh viên để Chuyên đề được hoàn thiện hơn

Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến cô giáo hướng dẫn và các cô chú cán bộVăn phòng thẩm định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư nơi em thực tập đã tận tìnhgiúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này

Trang 3

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ

TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1 Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1 Khái niệm và đặc điểm dự án đầu tư

Đầu tư là một hoạt động bỏ vốn với hy vọng thu lợi trong tương lai Tầmquan trọng của hoạt động đầu tư, đặc điểm và sự phức tạp về mặt kỹ thuật, hậuquả và hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư đòi hỏi để tiến hành mộtcông cuộc đầu tư phải có sự chuẩn bị cẩn thận và nghiêm túc Sự chuẩn bị nàyđược thể hiện ở việc soạn thảo các dự án đầu tư Có nghĩa là mọi công cuộc đầu

tư phải được thực hiện theo dự án thì mới đạt hiệu quả mong muốn

Dự án đầu tư là một tập hợp hoạt động kinh tế đặc thù nhằm tạo nên mộtmục tiêu cụ thể một cách có phương pháp trên cơ sỏ những nguồn lực nhất định

Một dự án đầu tư bao gồm 4 thành phần chính:

+ Mục tiêu của dự án được thể hiện ở hai mức:

- Mục tiêu phát triển là những lợi ích kinh tế xã hội do thực hiện dự ánđem lại

- Mục tiêu trước mắt là các mục đích cụ thể cần đạt được của việc thựchiện dự án

+ Các kết quả: là những kết quả cụ thể, có định lượng, được tạo ra từ cáchoạt động khác nhau của dự án Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện đượccác mục tiêu của dự án

+ Các hoạt động: là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiệntrong dự án để tạo ra các kết quả nhất định Những nhiệm vụ hoặc hành độngnày cùng với một lịch biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽtạo thành kế hoạch làm việc của dự án

Trang 4

+ Các nguồn lực: về vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hànhcác hoạt động của dự án Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốnđầu tư cần cho dự án.

Trong 4 thành phần trên thì các kết quả được coi là cột mốc đánh dấu tiến

độ của dự án Vì vậy, trong quá trình thực hiện dự án phải thường xuyên theodõi các đánh giá kết quả đạt được Những hoạt động nào có liên quan trực tiếptới việc tạo ra các kết quả được coi là hoạt động chủ yếu phải được đặc biệt quantâm

1.2 Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào nước

sở tại vốn hoặc bất cứ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức chủ yếu trong đầu tư quốc tếbao gồm đầu tư trực tiếp (FDI),đầu tư qua thị trường chứng khoán (porfolio),cho vay của các tổ chức kinh tế và các ngân hàng nước ngoài (vay thương mại),nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) Vay thương mại lãi suất caonên dễ trở thành gánh nặng về nợ nước ngoài trong tương lai Viện trợ bao gồmviện trợ không hoàn lại và cho vay dài hạn với lãi suất thấp từ các tổ chức quốc

tế hoặc chính phủ các nước tiên tiến Viện trợ không hoàn lại không trở thành nợnước ngoài nhưng quy mô nhỏ và thường chỉ giới hạn trong lĩnh vực văn hoá,giáo dục và cứu trợ Đầu tư qua thị trường chứng khoán cũng không trở thành

nợ nhưng sự thay đổi đột ngột trong hành động (bán chứng khoán, rút tiền vềnước) của nhà đầu tư nước ngoài ảnh hưởng mạnh đến thị trường vốn, gây biếnđộng tỷ giá và các mặt khác của nền kinh tế vĩ mô Đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) cũng là hình thức đầu tư không trở thành nợ Đây là nguồn vốn có tínhchất “bén rễ” ở bản xứ nên không dễ rút đi trong thời gian ngắn Ngoài ra, đầu

tư trực tiếp nước ngoài không chỉ đầu tư vốn mà còn đầu tư công nghệ và tri

Trang 5

thức kinh doanh nên dễ thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp hiệnđại và phát triển kinh tế

FDI có những đặc điểm chủ yếu sau:

+ Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư tựquyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗlãi Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có nhữngràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế

+ Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu làdoanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liêndoanh tuỳ theo tỷ lệ góp vốn của mình Đối với nhiều nước trong khu vực, chủđầu tư chỉ được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số lĩnhvực nhất định và chỉ được tham gia liên doanh với số vốn cổ phần của bên nướcngoài nhỏ hơn hoặc bằng 49%, 51% cổ phần còn lại do nước chủ nhà nắm giữ.Trong khi đó, Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam cho phép rộng rãi hơn đốivới hình thức 100% vốn nước ngoài và quy định bên nước ngoài phải góp tốithiểu 30% vốn pháp định của dự án

+ Thông qua đầu tư nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được côngnghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý Đây là những mục tiêu màcác hình thức đầu tư khác không giải quyết được

+ Nguồn vốn đầu tư này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủđầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà trong quá trình hoạt động, nó còn baogồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai và mở rộng dự án cũng như vốnđầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được

Do những đặc điểm và thế mạnh riêng có như ít phụ thuộc vào mối quan

hệ chính trị giữa hai bên; bên nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý sản xuấtkinh doanh nên mức độ khả thi của dự án khá cao, họ quan tâm đến hiệu quảkinh doanh, lựa chọn công nghệ thích hợp, nâng cao trình độ quản lý và taynghề của công nhân do có quyền lợi gắn chặt với dự án Đầu tư trực tiếp nước

Trang 6

ngoài ngày càng có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh

tế ở các nước đầu tư và các nước nhận đầu tư Cụ thể là:

+ Đối với các nước đầu tư, đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả

sử dụng những lợi thế sản xuất ở nơi tiếp nhận đầu tư, hạ giá thành sản phẩm vànâng cao tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư và xây dựng, được thị trường cungcấp nguyên liệu ổn định với giá phải chăng Mặt khác, đầu tư ra nước ngoài giúpbành trướng sức mạnh kinh tế và nâng cao uy tín chính trị Thông qua việc xâydựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài mà các nước đầu tư

mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của cácnước

+ Đối với các nước nhận đầu tư : hiện nay có hai dòng chảy của vốn đầu

tư nước ngoài Đó là dòng chảy vào các nước phát triển và dòng chảy vào cácnước đang phát triển

Đối với các nước kinh tế phát triển, FDI có tác dụng lớn trong việc giảiquyết những khó khăn về kinh tế, xã hội như thất nghiệp và lạm phát… QuaFDI, các tổ chức kinh tế nước ngoài mua lại những công ty, doanh nghiệp cónguy cơ bị phá sản giúp cải thiện tình hình thanh toán và tạo công ăn việc làmcho người lao động

FDI còn tạo điều kiện tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế đểcải thiện tình hình bội chi ngân sách , tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sựphát triển kinh tế và thương mại, giúp người lao động và cán bộ quản lý học hỏikinh nghiệm quản lý của các nước khác

- Đối với các nước đang phát triển, FDI giúp đẩy mạnh tốc độ phát triểnkinh tế thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động,giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở những nước này Theo thống kê của Liênhợp quốc, số người thất nghiệp và bán thất nghiệp của các nước đang phát triểnchiếm khoảng 35- 38% tổng số lao động

FDI giúp các nước đang phát triển khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo dài.Nhờ vậy, mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển to lớn với nguồn tài chính khan

Trang 7

hiếm được giải quyết, đặc biệt là thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá_thời kỳ mà thông thường đòi hỏi đầu tư một tỷ lệ vốn lớn hơn các giai đoạn vềsau và càng lớn hơn nhiều lần khả năng tự cung ứng từ bên trong FDI làphương thức đầu tư phù hợp với các nước đang phát triển, tránh tình trạng tíchluỹ quá căng thẳng dẫn đến những méo mó về kinh tế không đáng xảy ra.

Theo sau FDI là máy móc, thiết bị và công nghệ mới giúp các nước đangphát triển tiếp cận với khoa học kỹ thuật mới Quá trình đưa công nghệ vào sảnxuất giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh của các nước đangphát triển trên thị trường quốc tế

Cùng với FDI, những kiến thức quản lý kinh tế xã hội hiện đại được dunhập vào các nước đang phát triển, các tổ chức sản xuất trong nước bắt kịpphương thức quản lý công nghiệp hiện đại, lực lượng lao động quen dần vớiphong cách làm việc công nghiệp cũng như hình thành dần đội ngũ những nhàdoanh nghiệp giỏi

FDI giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hoá nướcngoài và đi kèm với nó là những hoạt động marketing được mở rộng khôngngừng Do các công ty tư bản độc quyền quốc gia đầu tư trực tiếp vào các nướcđang phát triển mà các nước này có thể bước vào thị trường xa lạ, thậm chí cóthể xem như “ lãnh địa cấm kỵ ” đối với họ trước kia

FDI giúp tăng thu ngân sách nhà nước thông qua thu thuế các công tynước ngoài Từ đó các nước đang phát triển có nhiều khả năng hơn trong việchuy động nguồn tài chính cho các dự án phát triển

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các nước tiếp nhận đầu tư , bên cạnh ưuđiểm thì FDI cũng có những hạn chế nhất định Đó là:

- Nếu đầu tư vào môi trường bất ổn định về kinh tế và chính trị thì nhàđầu tư nước ngoài dễ bị mất vốn

- Nếu nước sở tại không có một quy hoạch đầu tư cụ thể và khoa học dẫntới sự đầu tư tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức

Trang 8

1.2.2 Các hình thức dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài

Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại dự án đầu tư theo quy định củaluật đầu tư nước ngoài về nội dung, hình thức đầu tư Các hình thức đầu tư nướcngoài cơ bản là:

+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh

+ Doanh nghiệp liên doanh

+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

+ Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao ( BOT – BTO – BT )

1.2.2.1 Hợp đồng hợp tác kinh doanh

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa các bên hợp doanhquy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hànhđầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập pháp nhân

Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh có các đặc điểm sau:

- Về đối tượng áp dụng hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh:

Việc chọn hình thức đầu tư do người đầu tư quyết định Tuy vậy Nhànước cũng có những quy định để hướng dẫn người đầu tư Tại Việt Nam, nhànước quy định việc xây dựng, kinh doanh mạng viễn thông quốc tế, viễn thôngnội hạt chỉ thực hiện theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh Một số lĩnhvực khác có thể áp dụng hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc doanhnghiệp liên doanh như: khai thác chế biến dầu khí, xây dựng kinh doanh hạ tầngkhu công nghiệp, khu chế xuất; xây dựng; vận tải; du lịch lữ hành… và nhữnglĩnh vực không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện theo quy định tại Nghị định số10/1998/NĐ-CP

- Khi thực hiện hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, các bên tham giakhông thành lập pháp nhân chung mà mỗi bên giữ pháp nhân của mình và chịutrách nhiệm về mọi hoạt động của mình trước pháp luật Tuy vậy, Chính phủcho phép, trong quá trình kinh doanh, các bên hợp doanh được quyền thoả thuậnlập Ban điều phối để làm nhiệm vụ theo dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồnghợp tác kinh doanh Ban điều phối này không phải là đại diện pháp lý cho các

Trang 9

bên hợp doanh Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của ban điều phối docác bên hợp doanh thoả thuận

- Bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh thực hiện nghĩa

vụ thuế, các nghĩa vụ tài chính khác theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.Còn bên Việt Nam thì thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật ápdụng đối với doanh nghiệp trong nước

- Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không quy định cụ thể nội dunggóp vốn của từng bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh Trong thực tế, cácbên thực hiện góp vốn với các nội dung tương tự như quy định đối với các bêntham gia doanh nghiệp liên doanh, chỉ khác là không góp vốn pháp định

1.2.2.2 Doanh nghiệp liên doanh

Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở hợpđồng liên doanh ký giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh.Trong trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp liên doanh có thể được thành lập trên

cơ sở hiệp định ký kết giữa Chính phủ nước sở tại với Chính phủ các nước khác

Các doanh nghiệp liên doanh đã được phép hoạt động tại Việt Nam đượcphép thành lập doanh nghiệp liên doanh mới với nhà đầu tư nước ngoài hoặcdoanh nghiệp Việt Nam; với cơ sở khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiêncứu khoa học đáp ứng các điều kiện do Chính phủ quy định; với người ViệtNam định cư ở nước ngoài hoặc với doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp100% vốn nước ngoài đã được thành lập tại Việt Nam

Hình thức của doanh nghiệp liên doanh:

Doanh nghiệp liên doanh được thành lập tại Việt Nam theo hình thứccông ty trách nhiệm hữu hạn, có nghĩa là mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm

về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp liên doanh trongphạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp

Khác với công ty trách nhiệm hữu hạn trong nước, các bên liên doanhkhông nhất thiết phải góp đủ vốn pháp định ngay khi thành lập công ty Việc

Trang 10

góp vốn có thể được thoả thuận góp nhiều lần phù hợp với tiến độ thực hiện dựán.

Vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh:

Vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh là mức vốn bắt buộc phải có

để thành lập doanh nghiệp, được ghi vào điều lệ của doanh nghiệp Theo Luậtđầu tư nước ngoài tại Việt Nam, vốn pháp định doanh nghiệp liên doanh phải ítnhất bằng 30% vốn đầu tư của doanh nghiệp Trong trường hợp đặc biệt, tỷ lệnày có thể thấp hơn 30% nhưng phải được cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tưnước ngoài chấp thuận Thông thường, đó là trường hợp của các doanh nghiệpliên doanh về xây dựng kết cấu hạ tầng tại các vùng có điều kiện kinh tế xã hộikhó khăn, các doanh nghiệp liên doanh ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, cácdoanh nghiệp liên doanh trồng rừng Đối với các doanh nghiệp liên doanh nóitrên, vốn pháp định có thể thấp đến 20% vốn đầu tư

Trong những khoản vốn góp của bên Việt Nam, nhà đầu tư thường quantâm khoản góp bằng giá trị quyền sử dụng đất

Giá trị quyền sử dụng đất góp vốn liên doanh được xác định bằng tiềnthuê đất tương ứng với thời hạn liên doanh Trong thực tế, các doanh nghiệpViệt Nam có thể góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất với thời hạn ít hơn thờihạn hoạt động của liên doanh

Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mình, mỗi quốc gia có thể quy địnhgiới hạn phần góp vốn của bên nước ngoài trong doanh nghiệp liên doanh(thường không quá 49%) Với nước ta, nhằm thu hút nhiều vốn đầu tư nướcngoài, trong Luật đầu tư nước ngoài quy định phần góp vốn của bên nước ngoàihoặc các bên nước ngoài vào vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh không

bị hạn chế về mức cao nhất theo sự thoả thuận của các bên nhưng không dưới30% vốn pháp định trừ những trường hợp do Chính phủ quy định Trong một sốtrường hợp, căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh, công nghệ, thị trường, hiệu quảkinh doanh và các lợi ích kinh tế xã hội khác của dự án, cơ quan cấp giấy phép

Trang 11

đầu tư có thể xem xét cho phép bên nước ngoài tham gia liên doanh có tỷ lệ gópvốn pháp định thấp đến 20%.

Luật đầu tư nước ngoài không quy định mức tối thiểu bên Việt Nam phảigóp vốn, nhưng trên thực tế bên Việt Nam thường góp 30-40% vốn pháp định.Đối với doanh nghiệp liên doanh nhiều bên, Chính phủ sẽ quy định tỷ lệ góp vốntối thiểu của mỗi bên Việt Nam Đối với những dự án quan trọng do Chính phủquy định, khi ký kết hợp đồng liên doanh, các bên liên doanh thoả thuận về thờiđiểm, phương thức và tỷ lệ tăng vốn góp của bên Việt Nam trong vốn pháp địnhcủa doanh nghiệp liên doanh

Vốn pháp định có thể được các bên góp trọn một lần khi thành lập doanhnghiệp liên doanh hoặc có thể góp từng phần trong một thời gian hợp lý Cácbên thoả thuận phương thức, tiến độ góp vốn pháp định và ghi vào hợp đồngliên doanh phù hợp với giải trình kinh tế- kỹ thuật của hồ sơ dự án

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp liên doanh không được giảmvốn pháp định nhưng có thể được tăng thêm Việc tăng vốn pháp định, thay đổi

tỷ lệ góp vốn của các bên liên doanh sẽ do Hội đồng quản trị quyết định và phảiđược cơ quan cấp giấy phép đầu tư chuẩn y

Cơ quan lãnh đạo và điều hành doanh nghiệp liên doanh:

* Hội đồng quản trị:

Cơ quan lãnh đạo của doanh nghiệp liên doanh là Hội đồng quản trị gồmđại diện của các bên tham gia liên doanh Các bên tham gia liên doanh chỉ địnhngười của mình tham gia Hội đồng quản trị theo tỷ lệ tương ứng với phần góp

và vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh

- Chủ tịch Hội đồng quản trị:

Chủ tịch Hội đồng quản trị của doanh nghiệp liên doanh do các bên liêndoanh thoả thuận cử ra Nhiệm vụ, quyền hạn của chủ tịch Hội đồng quản trịđược ghi trong điều lệ doanh nghiệp bao gồm các nội dung cơ bản là: tráchnhiệm triệu tập, chủ trì các cuộc họp của Hội đồng quản trị và giám sát việc thực

Trang 12

trực tiếp ra lệnh cho Tổng giám đốc và Phó tổng giám đốc của doanh nghiệp liêndoanh.

- Nguyên tắc làm việc của Hội đồng quản trị:

Hội đồng quản trị doanh nghiệp liên doanh thực hiện chức năng quản trịdoanh nghiệp thông qua cơ chế ra quyết định, đôn đốc, giám sát việc thực hiệncác nghị quyết đó Những vấn đề quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động củadoanh nghiệp liên doanh phải do Hội đồng quản trị quyết định theo nguyên tắcnhất trí giữa các thành viên Hội đồng quản trị có mặt tại cuộc họp Những vấn

đề quan trọng đó là:

Bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng giám đốc, phó Tổng giám đốc thứ nhất, kếtoán trưởng

Sửa đổi, bổ sung điều lệ doanh nghiệp liên doanh

Duyệt quyết toán thu chi tài chính hàng năm và quyết toán công trìnhxây dựng cơ bản

Vay vốn đầu tư

Các bên tham gia liên doanh có thể thoả thuận trong điều lệ doanh nghiệpcác vấn đề khác cần được quyết định theo nguyên tắc nhất trí

Đối với những vấn đề khác, Hội đồng quản trị quyết định theo nguyên tắcbiểu quyết quá bán số thành viên Hội đồng quản trị có mặt tại cuộc họp

Trang 13

Căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh, tính chất của dự án , Hội đồng quản trịcủa doanh nghiệp liên doanh được thuê tổ chức quản lý để điều hành hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài muốn thuê tổ chức quản lýphải có các điều kiện theo quy định

1.2.2.3 Doanh nghiệp100% vốn đầu tư nước ngoài

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữucủa nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tựquản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có hình thức và nội dung tương tựdoanh nghiệp liên doanh Cụ thể:

- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thành lập theo hình thứccông ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam

- Vốn pháp định của doanh nghiệp100% vốn đầu tư nước ngoài ít nhấtphải bằng 30% vốn đầu tư Đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạtầng tại các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, dự án đầu tư vào miềnnúi, vùng sâu, vùng xa, trồng rừng, tỷ lệ này có thể thấp đến 20%

- Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoàikhông được giảm vốn pháp định

- Hồ sơ xin cấp giấy phép đầu tư thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu

tư nước ngoài cũng tương tự như doanh nghiệp liên doanh , chỉ khác ở chỗ làkhông có hợp đồng liên doanh

Điều lệ của doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài phải bảo đảm cácnội dung theo quy định như sau:

- Quốc tịch, địa chỉ, đại diện có thẩm quyền của nhà đầu tư nước ngoài;

- Tên, địa chỉ của doanh nghiệp;

- Mục tiêu và phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp;

- Vốn đầu tư, vốn pháp định, phương thức, tiến độ góp vốn và tiến độ xây

Trang 14

- Các nguyên tắc tài chính;

- Thời hạn hoạt động, kết thúc, giải thể doanh nghiệp;

- Quan hệ lao động trong doanh nghiệp, kế hoạch đào tạo cán bộ quản lý,

kỹ thuật, nghiệp vụ và công nhân;

- Thủ tục sửa đổi điều lệ doanh nghiệp;

- Đại diện cho doanh nghiệp trước toà án, trọng tài và cơ quan nhà nướcViệt Nam

Theo quy định hiện nay, người đại diện cho doanh nghiệp 100% vốn đầu

tư nước ngoài là Tổng giám đốc doanh nghiệp Trường hợp Tổng giám đốckhông thường trú tại Việt Nam thì phải uỷ quyền cho người đại diện của mình

và người đại diện đó phải là người thường trú tại Việt Nam

1.2.2.4 Hình thức hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao

Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (viết tắt theo tiếng Anh làBOT) là một thuật ngữ để chỉ một mô hình hay một cấu trúc sử dụng đầu tư tưnhân để thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn được dành riêng cho khu vực nhànước “Tài trợ dự án” là điểm mấu chốt của phương thức đầu tư BOT, nghĩa làcác bên cho vay xem xét tới tài sản và nguồn thu của dự án để hoàn trả lại vốnvay thay vì các nguồn bảo lãnh khác như bảo lãnh của Chính phủ hay tài sản củacác nhà tài trợ dự án

BOT là một hình thức đầu tư còn mới ở Việt Nam nhưng nó đã được triểnkhai thành công ở nhiều nước trên thế giới nhất là các nước đang phát triển(như Trung Quốc, Philippin) thiếu vốn để phát triển cơ sở hạ tầng cho nền kinh

tế Ngày 23/12/1992 Quốc hội CHXHCN Việt Nam đã bổ sung hình thức đầu tưBOT vào Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Chính phủ Việt Nam đã banhành Nghị định 87CP ngày 23/11/1993 và Nghị định 62/1998/NĐ-CP về quychế đầu tư theo hợp đồng BOT cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Theo loại hình đầu tư này có 3 hình thức đầu tư :

- Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao (BOT) ;

- Hợp đồng xây dựng- chuyển giao- kinh doanh ( BTO);

Trang 15

- Hợp đồng xây dựng- chuyển giao (BT);

Hợp đồng BOT là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước chủ nhà có thẩmquyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng( kể cả

mở rộng, nâng cấp, hiện đại hoá công trình) và kinh doanh trong một thời hạnnhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý, hết thời hạn kinh doanh,nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nước chủnhà

Hợp đồng BTO có nội dung khác với BOT là: sau khi xây dựng xong, nhàđầu tư nước ngoài chuyển giao ngay công trình đó cho nước chủ nhà, Chính phủnước chủ nhà sẽ dành cho nhà đầu tư nước ngoài quyền kinh doanh công trình

đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý

Hợp đồng BT có đặc điểm là sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu

tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nước chủ nhà và Chính phủ nướcchủ nhà sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thuhồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý

Tại Việt Nam, cơ quan nhà nước Việt Nam có thẩm quyền ký các hợpđồng BOT,BTO, BT là: các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dântỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được Thủ tướng Chính phủ chỉ định

Chính phủ Việt Nam khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu

tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT trong các lĩnh vực sau đây: giao thông, sảnxuất và kinh doanh điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải và các lĩnh vực khác doThủ tướng Chính phủ quyết định

Để thực hiện hợp đồng BOT,BTO, BT chủ đầu tư được thành lập doanhnghiệp BOT,BTO,BT (gọi chung là doanh nghiệp BOT) Doanh nghiệp BOT cóthể là doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoàiđược thành lập theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Hình thức tài trợ BOT cho các dự án cơ sở hạ tầng có rất nhiều lợi thếtiềm năng Đây là một phương pháp lựa chọn có tính sống còn đối với hầu hết

Trang 16

phủ hoặc các nguồn từ ngân sách Không giống như phương pháp tư nhân hoáhoàn toàn, ở đây Chính phủ vẫn duy trì quyền kiểm soát có tính chiến lược đốivới dự án Dự án sẽ được chuyển giao cho Chính phủ nước chủ nhà khi kết thúcthời kỳ đặc quyền Hình thức này có các lợi thế tiềm năng sau đây:

- Sử dụng nguồn tài trợ của khu vực tư nhân để cung cấp các nguồn vốnmới nhằm giảm các khoản vay nhà nước và khoản chi trực tiếp, nhằm củng cốmức độ tin cậy trong thanh toán của Chính phủ nước chủ nhà

- Có khả năng tăng tốc độ phát triển các dự án mà nếu không sẽ phải chờđợi và cạnh tranh để có các nguồn lực hiếm của Chính phủ

- Sử dụng vốn, sáng kiến và bí quyết công nghệ của khu vực tư nhân đểlàm giảm chi phí xây dựng dự án, rút ngắn thời gian và nâng cao hiệu quả hoạtđộng

- Phân bổ rủi ro của dự án và các gánh nặng mà nếu không sẽ phải do khuvực nhà nước gánh chịu Khu vực tư nhân chịu trách nhiệm vận hành, bảodưỡng và đối với đầu ra của dự án trong một giai đoạn được mở rộng (thôngthường, Chính phủ sẽ chỉ nhận được bảo đảm cho giai đoạn xây dựng thôngthường và bảo hành thiết bị)

- Sự tham gia của các nhà tài trợ tư nhân và các bên cho vay thương mại

có kinh nghiệm để bảo đảm có được sự đánh giá sâu sắc và là một dấu hiệu thêmđối với tính khả thi của dự án

- Chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân sự của địa phương và phát triểnthị trường vốn quốc gia

- Trái với việc tư nhân hoá hoàn toàn, Chính phủ vẫn nắm quyền kiểmsoát có tính chiến lược đối với dự án mà sẽ được chuyển giao cho khu vực nhànước vào cuối giai đoạn đặc quyền

- Có cơ hội để tạo ra được một phương pháp chuẩn của khu vực tư nhân

để qua phương pháp chuẩn này có thể tính toán được hiệu quả của các dự ántương tự thuộc khu vực nhà nước và các cơ hội tăng cường công tác quản lý nhànước đối với các công trình cơ sở hạ tầng

Trang 17

Tuy nhiên phương thức BOT không phải là một phương pháp chữa báchbệnh cho một chính phủ Các dự án BOT là vô cùng phức tạp cả về phương diệnpháp lý và tài chính Các dự án này cần phải có thời gian để phát triển và đàmphán Các dự án này cần có sự tham gia và hỗ trợ của nước chủ nhà, cần mộtmôi trường pháp lý và kinh tế phù hợp, sự ổn định về chính trị, đồng tiền có thểchuyển đổi tự do cũng như các yếu tố khác phù hợp với đầu tư nước ngoài nóichung.

Một thách thức chủ yếu đối với các nước đang phát triển là việc xác địnhcác nhân tố làm cho các dự án của khu vực tư nhân có thể tài trợ được Bởi vìphương thức đầu tư BOT đòi hỏi phải có hình thức tài trợ dự án cơ sở hạ tầng dokhu vực tư nhân đảm nhận nên thường có một khái niệm sai lạc chung là bảnchất “công” của dự án loại này hầu như bị bỏ qua và chính phủ nước chủ nhàthường giả định rằng họ có sự tham gia tối thiểu vào các dự án BOT

Tại Việt Nam, hình thức đầu tư này đã được Chính phủ quan tâm và rấtkhuyến khích phát triển thông qua một loạt các ưu đãi và đảm bảo đầu tư cụ thể:

+ Các ưu đãi về thuế:

- Thuế thu nhập doanh nghiệp được áp dụng thuế suất 10% lợi nhuận thuđược và được thực hiện suốt thời gian thực hiện dự án

Ngoài ra, doanh nghiệp BOT đựoc miễn thuế thu nhập doanh nghiệptrong 4 năm kể từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo.Trường hợp đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư được miễn thuế trong 8năm kể từ khi kinh doanh có lãi

- Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài đuợc áp dụng thuế suất 5% lợinhuận chuyển ra nước ngoài

- Doanh nghiệp BOT và nhà thầu phụ được miễn thuế nhập khẩu để thựchiẹn dự án BOT, BTO, BT đối với:

Thiết bị, máy móc nhập khẩu để tạo tài sản cố định ( kể cả thiết bị, máymóc, phụ tùng sử dụng cho khảo sát, thiết kế, thi công, xây dựng công trình)

Trang 18

Phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây truyền công nghệ để tạotài sản cố định và để đưa rước công nhân.

Linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đikèm thiết bị, phương tiện vận chuyển

Nhiên liệu, nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để thực hiện dự ánBOT,BTO,BT kể cả để phục vụ sản xuất, vận hành công trình

- Các đối tượng sở hữu công nghiệp đang trong thời hạn bảo hộ, bí quyết

kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật để thực hiện dự án được miễncác loại thuế có liên quan đến chuyển giao công nghệ

+ Biện pháp bảo đảm đầu tư

- Việc chuyển nhượng vốn trong doanh nghiệp BOT được thực hiện nhưquy định đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Ngân hàng Nhà nước bảo đảm cho doanh nghiệp BOT được chuyển đổitiền Việt Nam thu được do thực hiện dự án BOT,BTO,BT và dự án khác ra tiềnnước ngoài để đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh, trả nợ vốn và lãi cáckhoản vay, chuyển lợi nhuận và vốn ra nước ngoài

- Trong qúa trình thực hiện dự án , doanh nghiệp BOT được cầm cố, thếchấp các tài sản sau đây:

Thiết bị, nhà xưởng, công trình kiến trúc và bất động sản được mua sắm,xây dựng bằng vốn đầu tư của mình

Các tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp BOT

Giá trị quyền sử dụng đất

Các quyền tài sản của doanh nghiệp

- Chính phủ Việt Nam bảo đảm cho doanh nghiệp BOT được sử dụng đấtđai, đường giao thông và các công trình phụ trợ công cộng khác để thực hiện dự

án BOT, BTO, BT

- Doanh nghiệp BOT được miễn tiền thuê đất trong thời gian thực hiện dựán

Trang 19

- Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi có dự án đầu tư có trách nhiệm tổ chứcviệc đền bù, giải phóng mặt bằng, hoàn thành thủ tục giao đất cho doanh nghiệpBOT Chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng do nhầ đầu tư nước ngoài trả và đượctính vào tổng vốn đầu tư.

Phương thức thực hiện dự án BOT,BTO,BT.

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành, Uỷ ban nhândân cấp tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục dự án đầu tư theohợp đồng BOT,BTO,BT

- Trên cơ sở danh mục được duyệt, hoặc dự án ngoài danh mục được Thủtướng Chính phủ chấp thuận, cơ quan nhà nước có thẩm quyền lập báo cáonghiên cứu khả thi Đối với dự án ngoài danh mục được duyệt, nhà đầu tư nướcngoài lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi

- Việc chọn nhà đầu tư nước ngoài ký hợp đồng BOT,BTO,BT được thựchiện theo hình thức đấu thầu

- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chủ trì đàm phán, ký kết hợp đồngBOT,BTO,BT với nhà đầu tư nước ngoài đã được chọn

- Dự thảo hợp đồng BOT,BTO,BT sau khi được các bên ký tắt sẽ nộp cho

Bộ kế hoạch và đầu tư cùng các tài liệu khác có liên quan đến việc xin cấp giấyphép đầu tư Bộ kế hoạch và đầu tư tổ chức thẩm định trình Thủ tướng Chínhphủ xem xét quyết định

- Sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, hợp đồng BOT,BTO,BT

sẽ được ký kết chính thức

- Hồ sơ xin cấp giấy phép đầu tư gồm có:

Đơn xin đầu tư

Hợp đồng BOT, BTO, BT đã được ký tắt

Hợp đồng liên doanh (nếu xin lập doanh nghiệp BOT liên doanh)

Điều lệ doanh nghiệp BOT

Báo cáo nghiên cứu khả thi

Trang 20

- Bộ kế hoạch và đầu tư cấp giấy phép đầu tư cho dự án BOT,BTO,BTtrong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án.

Ngoài những nội dung cơ bản theo quy định, giấy phép đầu tư sẽ ghi thêmmột số nội dung sau đây:

Yêu cầu về thiết kế kỹ thuật, tình trạng và điều kiện bảo đảm vận hànhbình thường của công trình khi được bàn giao cho nhà nước Việt Nam

Quyền và điều kiện kinh doanh công trình đối với dự án BOT,BTO, việckinh doanh các dự án khác do thực hiện dự án BT

Các nguyên tắc xác định giá trị tài sản khi chuyển giao

Các cam kết của Chính phủ và các cơ quan nhà nước có liên quan

2 Công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài

2.1 Tổng quan về thẩm định dự án

Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách quan, cókhoa học và toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thicủa một dự án, từ đó ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư Đây là một quátrình kiểm tra, đánh giá các nội dung của dự án một cách độc lập tách biệt vớiquá trình soạn thảo dự án Thẩm định dự án tạo ra cơ sở vững chắc cho hoạtđộng đầu tư có hiệu quả Các kết luận rút ra từ quá trình thẩm định là cơ sở đểcác cơ quan có thẩm quyền của nhà nước ra quyết định đầu tư và cho phép đầu

Thẩm định dự án đầu tư là cần thiết bắt nguồn từ vai trò quản lý vĩ mô củanhà nước đối với các hoạt động đầu tư Nhà nước với chức năng công quyềncủa mình sẽ can thiệp vào quá trình lựa chọn các dự án đầu tư

Tất cả các dự án đầu tư thuộc mọi nguồn vốn, mọi thành phần kinh tế đềuphải đóng góp vào lợi ích chung của đất nước Bởi vậy trước khi ra quyết địnhđầu tư hay cho phép đầu tư, các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cần biếtxem dự án đó có góp phần đạt được mục tiêu của quốc gia hay không, nếu có thìbằng cách nào và đến mức độ nào Việc xem xét này gọi là thẩm định dự án

Trang 21

Một dự án đầu tư dù được tiến hành soạn thảo kỹ lưỡng đến đâu cũng vẫnmang tính chủ quan của người soạn thảo Vì vậy để đảm bảo tính khách quancủa dự án, cần thiết phải thẩm định Các nhà thẩm định thường có cách nhìnrộng trong việc đánh giá dự án Họ xuất phát từ lợi ích chung của toàn xã hội,toàn cộng đồng để xem xét các lợi ích kinh tế- xã hội mà dự án đem lại Mặtkhác, khi soạn thảo dự án có thể có những sai sót, các ý kiến có thể mâu thuẫn,không logic, thậm chí có thể có những sơ hở gây ra tranh chấp giữa các đối táctham gia đầu tư Thẩm định dự án là cần thiết Nó là một bộ phận của công tácquản lý nhằm đảm bảo cho hoạt động đầu tư có hiệu quả.

Thẩm định dự án nhằm các mục đích sau đây:

- Đánh giá tính hợp lý của dự án : tính hợp lý được biểu hiện một cáchtổng hợp (biểu hiện trong tính hiệu quả và tính khả thi) và được biểu hiện ở từngnội dung và cách thức tính toán của dự án

- Đánh giá tính hiệu quả của dự án: hiệu quả của dự án được xem xét trênhai phương diện: hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế-xã hội của dự án

- Đánh giá tính khả thi của dự án: đây là mục đích hết sức quan trọngtrong thẩm định dự án Một dự án hợp lý và hiệu quả cần phải có tính khả thi.Tất nhiên hợp lý và hiệu quả là hai điều kiện quan trọng để dự án có tính khả thi.Nhưng tính khả thi còn phải xem xét với nội dung và phạm vi rộng hơn của dự

án (các kế hoạch tổ chức thực hiện, môi trường pháp lý của dự án )

Ba mục đích trên đồng thời cũng là những yêu cầu chung đối với mọi dự

án đầu tư Tuy nhiên, mục đích cuối cùng của việc thẩm định dự án còn tuỳthuộc vào chủ thể thẩm định dự án

Các chủ đầu tư trong và ngoài nước thẩm định dự án khả thi để đưa raquyết định đầu tư

Các định chế tài chính (ngân hàng, tổng cục đầu tư và phát triển…) thẩmđịnh dự án khả thi để tài trợ hoặc cho vay vốn

Các cơ quan quản lý vĩ mô của nhà nước thẩm định dự án khả thi để ra

Trang 22

Thẩm định dự án có ý nghĩa rất lớn, giúp bảo vệ các dự án lớn tốt khỏi bịbác bỏ, ngăn chặn những dự án tồi, góp phần đảm bảo cho việc sử dụng có hiệuquả vốn đầu tư Cụ thể:

 Thẩm định dự án giúp cho chủ đầu tư lựa chọn được phương án đầu tư tốtnhất

 Giúp cho các cơ quan quản lý vĩ mô của nhà nước đánh giá được tính phùhợp của dự án với quy hoạch phát triển chung của ngành, vùng, lãnh thổ vàcủa cả nước trên các mặt mục tiêu, quy mô, quy hoạch và hiệu quả

 Giúp cho việc xác định được những cái lợi, cái hại của dự án trên các mặt khi

đi vào hoạt động, từ đó có biện pháp khai thác các khía cạnh có lợi và hạnchế các mặt có hại

 Giúp các nhà tài chính ra quyết định chính xác về cho vay hoặc tài trợ cho dự

án đầu tư

 Giúp cho việc xác định rõ tư cách pháp nhân của các bên tham gia đầu tư

2.2 Nội dung thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài

2.2.1 Thẩm định tài chính dự án

Thẩm định tài chính dự án nhằm mục đích:

- Xem xét nhu cầu, sự đảm bảo các nguồn lực tài chính cho việc thực hiện

có hiệu quả các dự án đầu tư

- Xem xét tình hình, kết quả và hiệu quả hoạt động của dự án trên góc độhạch toán kinh tế của đơn vị thực hiện dự án Có nghĩa là xem xét những chi phí

sẽ và phải thực hiện kể từ khi soạn thảo cho đến khi kết thúc dự án, xem xétnhững lợi ích mà đơn vị thực hiện dự án sẽ hoặc phải đạt được nhờ thực hiện dự

án Trên cơ sở đó đánh giá được hiệu quả về mặt tài chính để quyết định có nênđầu tư hay không Nhà nước cũng căn cứ vào đây để xem xét dự án đầu tư trựctiếp nước ngoài có lợi ích tài chính hay không và dự án có an toàn về mặt tàichính hay không

Hiện tại hóa các giá trị theo thời gian :

Trang 23

Phân tích đánh giá tài chính của dự án có liên quan mật thiết với một vấn

đề là hiện tại hóa các giá trị theo thời gian, vì vậy trước khi nói tới các tiêuchuẩn đánh giá dự án, chúng ta hãy xem xét vấn đề này

Một trong các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư là các lợi ích và chiphí phát sinh ở các giai đoạn khác nhau Nhưng giá trị đồng tiền ở các thời điểmkhác nhau không như nhau, vì vậy cần đến một phương pháp quy đổi các giá trịđồng tiền ở các thời điểm khác nhau về cùng một thời điểm để xem xét và đánhgiá Điều đó chẳng những cho phép xem xét đánh giá dự án mà tạo điều kiện để

so sánh lựa chọn các dự án Kỹ thuật chuyển đổi giá trị tiền tệ tại các thời điểmkhác nhau về thời điểm hiện tại gọi là hiện tại hoá

Về nguyên tắc có thể quy đổi giá trị tiền tệ tại một thời điểm về bất kỳmột thời điểm nào Phương pháp quy đổi như sau:

Giá trị tương lai (Vt) của một lượng tiền hiện tại (V0) được xác định nhưsau:

Trang 24

Trong đó: rt- là tỷ lệ chiết khấu của năm t.

Đối với đầu tư trong khu vực tư nhân, tỷ lệ chiết khấu áp dụng để xácđịnh giá trị hiện tại có thể lấy bằng lãi suất bình quân của các nguồn vốn sửdụng cho dự án

Đối với đầu tư công cộng, tỷ lệ chiết khấu phải phản ánh được khả năngsinh lợi của các nguồn vốn công Cần chú ý rằng, tỷ lệ chiết khấu áp dụng trongphân tích tài chính không thể áp dụng trong phân tích kinh tế Tỷ lệ chiết khấudùng trong phân tích kinh tế dự án cần phản ánh lợi ích kinh tế mà nền kinh tếphải từ bỏ (do phải đình hoãn hoặc giảm đầu tư và tiêu dùng) để đưa các nguồnlực vào đầu tư cho dự án

Các chỉ tiêu đánh giá tài chính dự án đầu tư:

Cho đến nay người ta đã đưa ra khá nhiều các tiêu chuẩn đánh giá đầu tư,song có 4 tiêu chuẩn phổ biến và cơ bản nhất, đó là:

- Giá trị hiện tại ròng (Net Present Value - NPV)

- Tỷ số lợi ích - chi phí (Benefit/cost - R=B/C)

- Tỷ lệ nội hoàn (Internal Rate of Return - IRR)

- Thời gian hoàn vốn (Pay Back period - Tth)

Ngoài ra còn có một số các chỉ tiêu bổ sung khác như : Mức độ đảm bảotrả nợ; điểm hoà vốn và các chỉ số tài chính khác Dưới đây sẽ trình bày phươngpháp tính toán và phân tích đánh giá theo từng chỉ tiêu

+ Giá trị hiện tại ròng (NPV)

Thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi các chi phí gọi là thu nhập ròng (thuần)

Giá trị hiện tại của thu nhập ròng gọi là (NPV)

Trang 25

Mục đích của việc tính hiện giá thu nhập ròng của một dự án là để xácđịnh xem việc sử dụng các nguồn lực (vốn) theo dự án đó có mang lại lợi ích lớnhơn các nguồn lực đã sử dụng không? Với ý nghĩa này NPV được xem là tiêuchuẩn quan trọng nhất để đánh giá dự án NPV được xác định theo công thứcsau:

Trong đó: Bt - Thu nhập của dự án năm t

Ct - Chi phí của dự án năm t

n - Thời đoạn phân tích dự án

r – Tỷ lệ chiết khấu áp dụng cho dự án

Đánh giá dự án theo tiêu chuẩn này tuân thủ một số nguyên tắc sau:

- Chỉ chấp nhận các dự án có NPV > 0 với tỷ lệ chiết khấu bằng chi phí cơhội của vốn:

- Trong giới hạn của ngân sách, trong số các dự án có thể chấp nhận đượccần chọn những dự án cho tổng NPV max

Với nguyên tắc này cũng có thể suy ra, cùng một khả năng về ngân sách(cho một dự án) phương án được chọn sẽ là phương án có NPV max

- Nếu các dự án loại trừ lẫn nhau (thực hiện dự án này sẽ không thực hiệncác dự án khác) thì cần phải chọn dự án có NPV max

+ Tỷ số lợi ích - chi phí (R)

Tỷ số lợi ích - chi phí được tính bằng tỉ số giá trị hiện tại thu nhập và giátrị hiện tại của các chi phí của dự án với tỷ lệ chiết khấu bằng chi phí cơ hội củavốn Tỷ số R được tính theo công thức sau:

1 r

t t t=0 n

t t t=0

Trang 26

Chỉ tiêu này thường sử dụng để xếp hạng các dự án: Các dự án có R lớnnhất sẽ được chọn

Tuy nhiên, sử dụng tiêu chuẩn này sẽ dẫn tới sai lầm nếu như các dự án

có quy mô khác nhau

+ Tỷ lệ nội hoàn (IRR)

Tỷ lệ nội hoàn (IRR) là tỷ lệ chiết khấu mà với tỷ lệ này giá trị hiện tạiròng của dự án bằng 0, đựơc tính từ hệ thức sau:

Sử dụng tiêu chuẩn IRR có ưu điểm là có được tính toán chỉ dựa vào các

số liệu của dự án mà không cần số liệu về chi phi cơ hội của vốn (tỷ lệ chiếtkhấu) Tuy nhiên, tiêu chuẩn này có một số nhược điểm sau:

a) Không xác định đựơc 1 tỷ lệ nội hoàn trong trường hợp biến dạng củađồng tiền thay đổi nhiều lần từ (-) sang (+) hoặc từ (+) sang (-) vì có rất nhiềulời giải khi tính toán IRR

b) Sử dụng tiêu chuẩn IRR để lựa chọn dự án sẽ dẫn tới sai lầm khi các dự

án là những giải pháp thay thế nhưng có những điều kiện khác nhau:

Đối với dự án thay thế nhau nhưng có quy mô khác nhau:

Đối với dự án thay thế lẫn nhau nhưng thời gian tồn tại khác nhau

Các dự án thay thế lẫn nhau nhưng đầu tư vào thời điểm khác nhau Tính toán xác định IRR theo công thức (9) tương đối phức tạp trong điềukiện không sử dụng máy vi tính Để đơn giản, có thể xác định IRR theo phươngpháp gần đúng sau:

Trang 27

+ Thời gian hoàn vốn - Tth:

Thời gian hoàn vốn là chỉ tiêu sử dụng khá rộng rãi trong quyết định đầu

tư, đặc biệt là các dự án đầu tư kinh doanh

Thời gian hoàn vốn ( Tth ) được xác định từ biểu thức sau:

Thời gian thu hồi vốn Tth là khoảng thời gian từ khi bắt đầu thực hiện đầu

tư đến năm T thỏa mãn biểu thức trên

Nhược điểm cơ bản của chỉ tiêu này là trong một số trường hợp nó loại bỏcác dự án có khả năng sinh lợi muộn như là các dự án đầu tư công cộng (cầu,đường, )

Vấn đề lạm phát trong phân tích đánh giá dự án

Trên thực tế việc lập và đánh giá dự án thường tính theo mặt bằng giá cảcủa một năm nào đó Thực ra giả thiết này đã làm sai lệch một cách đáng kể tìnhtrạng thực của dự án và không ít trường hợp dẫn tới những sai lầm khi xem xét,đánh giá dự án

Cần phải chú ý rằng, lạm phát là vấn đề có tính chất vĩ mô do nhiềunguyên nhân khác nhau, vì vậy phân tích dự án coi lạm phát như một yếu tốkhách quan, bản thân các dự án không thể khắc phục được Vấn đề đặt ra là phảiloại trừ ảnh hưởng của yếu tố này như thế nào khi phân tích, đánh giá dự án

Tác động của lạm phát đến dự án:

a) Tác động trực tiếp:

+ Đối với chi phí đầu tư: Đối với các dự án thực hiện đầu tư trong mộtthời gian dài cần phải xác định nhu cầu tiền tệ trong tương lai cần cho việc thựchiện dự án Lượng tiền này tùy thuộc vào mức độ lạm phát, nếu mức lạm phátcàng cao thì nhu cầu tiền để thực hiện công việc trong tương lai càng cao so vớilượng tính theo giá hiện thời

Trang 28

Việc tăng lượng tiền do lạm phát khác với việc ước tính chi phí quá cao,

nó là hiện tượng bình thường, nhưng phải được tính tới khi xác định chi phí đầu

tư và thanh toán các khoản nợ để đảm bảo nguồn tài chính cho dự án

+ Ảnh hưởng đến cân đối tiền mặt

Khi có lạm phát phải tính lượng tiền mặt bổ sung để đủ cân đối về tàichính, lượng tiền sử dụng phải tăng lên.Lạm phát càng tăng làm tăng nhu cầutiền mặt và hiệu quả dự án càng thấp, nghĩa rằng trong điều kiện lạm phát cànggiữ tiền càng bất lợi

b) Tác động gián tiếp:

+ Tác động của lạm phát đến tiền lãi

Ảnh hưởng của lạm phát đến tiền lãi trước hết là làm thay đổi lãi suấtdanh nghĩa Tổng quát lãi suất danh nghĩa i trong điều kiện lạm phát với mức g

% có thể xác định như sau:

i = r + R + (1+r+R) g Trong đó: r - lãi suất thực

R- tỷ lệ rủi ro + Tác động đến thuế:

Thuế được tính theo lợi nhuận chịu thuế tức là khoản thu nhập sau khi đãtrừ đi tiền lãi vay Nhưng trả lãi vay không tính theo mức lạm phát hàng năm vìvậy phần thu nhập tính thuế (danh nghĩa) tăng lên và do đó thuế sẽ tăng dần lên

và sau cùng sẽ ảnh hưởng tới dòng tiền của dự án

Nếu xem xét trên quan điểm tổng vốn thì vấn đề này không quan trọng vìkhông tính tới lãi suất vay và việc tăng hay giảm thuế thì cũng chỉ là sự chuyểngiao từ nhà đầu tư sang Chính phủ hoặc ngựơc lại Nếu xét trên quan điểm chủđầu tư thì đây là vấn đề hệ trọng vì tình trạng lạm phát làm thay đổi dòng tiền vàcuối cùng là NPV sẽ thay đổi

Ảnh hưởng của lạm phát đến thuế ngoài cách thức thông qua các khoảnthanh toán lãi vay còn thông qua khấu hao với cách thức tương tự Khấu haođược hạch toán trên cơ sở chi phí lịch sử của các tài sản khấu hao vì vậy không

Trang 29

chịu tác động của lạm phát Trong khi đó thuế được xác định trên thu nhập saukhi đã trừ khấu hao, vì vậy lạm phát sẽ làm tăng giá trị tính thuế và sau đó tăngthuế như đã nói ở trên

+ Ảnh hưởng tồn kho và chi phí sản xuất

Trong điều kiện lạm phát cùng một lượng hàng hóa nhưng thời điểm nhập

và xuất khác nhau được hạch toán với giá trị khác nhau Điều đó làm thay đổithu nhập, thuế và các chỉ tiêu tài chính khác

Xử lý lạm phát trong phân tích tài chính của dự án.

Những vấn đề trình bày ở trên cho thấy lạm phát tác động đến tình hìnhtài chính của dự án theo nhiều mối quan hệ và theo nhiều hướng khác nhau Đểxây dựng bản báo cáo tài chính của dự án phản ánh tác động của lạm phát đếngiá trị tài chính thực của dự án cần thực hiện hai bước tổng quát sau:

a) ước tính các yếu tố tài chính như: thuế, nhu cầu tiền mặt, tiền trả lãi, trảgốc theo thời gian khi phát sinh nghiệp vụ tài chính đó

b) Điều chỉnh loại trừ ảnh hưởng lạm phát để đưa các giá trị thực của cácyếu tố này vào báo cáo tài chính

Bước điều chỉnh các yếu tố trong báo cáo tài chính để loại trừ ảnh hưởngcủa lạm phát đựơc thực hiện theo chỉ số giá cả bằng giá của năm t so với giá củanăm cơ sở

Phân tích rủi ro

Một dự án thường tồn tại trong một thời gian dài, lợi ích và chi phí diễn ratrong thời gian đó Lợi ích của dự án phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố mà mỗiyếu tố đó ở một mức độ khác nhau đều có mức không chắc chắn nhất định (rủiro)

Để hạn chế rủi ro của dự án cần phải có đựơc các thông tin về các yếu tốxác định trong dự án với độ tin cậy cao Tuy nhiên điều này khó có thể đạt được(trong giai đoạn chuẩn bị dự án) hoặc đạt đựơc với chi phí rất tốn kém cho côngtác dự báo, dự đoán hoặc tìm kiếm

Trang 30

- Rủi ro hệ thống là rủi ro chung, mang tính chất vĩ mô bản thân dự ánkhông thể phân tán hoặc quản lý đựơc (lạm phát, thiên tai, chiến tranh )

- Rủi ro không hệ thống là rủi ro riêng đối với dự án, có thể phân tán vàquản lý đựơc (biến động giá đầu vào , đầu ra )

Phân tích rủi ro nhằm giảm bớt khả năng thực hiện các dự án tồi đồng thờikhông loại bỏ các dự án tốt Bằng việc phân tích rủi ro người ta xác định mức độchắc chắn của các yếu tố xác định và kết quả hoạt động của dự án và vì vậy sẽ

có khả năng loại bớt những dự án mức rủi ro cao Phân tích rủi ro còn làm cơ sởcho việc quản lý rủi ro bằng cách phân tán chia sẻ rủi ro của dự án thông quacác yếu tố hợp đồng trong quá trình thực hiện đầu tư và vận hành dự án

Các phương pháp phân tích rủi ro.

a) Phân tích độ nhạy:

Phân tích độ nhạy nhằm kiểm tra mức độ nhạy cảm của kết quả dự án đốivới sự biến động của từng yếu tố, nói khác đi phân tích độ nhạy nhằm xác địnhkết quả của dự án (các chỉ tiêu đặc trưng) trong điều kiện biến động của các yếu

Phân tích độ nhạy có những hạn chế:

- Không thể xem xét đồng thời nhiều nhân tố

- Các trị số trong dãy biến thiên của các yếu tố không đại diện cho yếu tố

đó (không phải là khả năng xảy ra cao nhất )

Với những nhược điểm trên phân tích độ nhạy không cho phép đánh giáđầy đủ mức độ rủi ro của dự án

b) Phân tích trường hợp:

Trang 31

Phân tích trường hợp là đánh giá kết quả dự án trong một số trường hợpvới những điều kiện nhất định của các yếu tố xác định dự án Thường người taphân tích cho 2 trường hợp có tính chất cực đoan: bất lợi nhất và có lợi nhất cóthể xảy ra (thí dụ, đối với giá sản phẩm là giá thấp nhất/cao nhất, đối với chi phíđầu tư là mức cao nhất/thấp nhất có thể xảy ra đối với dự án)

Phân tích trường hợp xuất phát từ quan điểm cho rằng các biến số có tácđộng qua lại lẫn nhau và có sự kết hợp với nhau Một số yếu tố có thể đồng thờibiến động theo một hướng bất lợi hoặc có lợi cho dự án

Phân tích trường hợp có nhược điểm:

- Không thể xác định đựơc tất cả các trường hợp kết hợp lẫn nhau của cácyếu tố

- Không xác định đựơc tất cả các trường hợp tính toán (bất lợi nhất hoặcthuận lợi nhất)

c) Phương pháp phân tích rủi ro theo mô phỏng Monte Carlo

Khắc phục nhược điểm của các phương pháp phân tích rủi ro nói trên,người ta áp dụng phương pháp phân tích Monte Carlo Phân tích rủi ro theophương pháp phân tích kết quả của dự án dưới tác động đồng thời của các nhân

tố có tính tới phân bố xác suất và phạm vi khác nhau các giá trị có thể của cácbiến số nhân tố đó

Khác với phân tích độ nhạy, phân tích rủi ro Monte Carlo xem xét đồngthời sự kết hợp của các yếu tố Khác với phân tích trường hợp, trong phân tíchrủi ro Monte Carlo tính tới mối quan hệ của các yếu tố Chính vì những khảnăng nói trên làm cho phương pháp này có phạm vi ứng dụng rất rộng rãi Tuynhiên, đây là phương pháp khá phức tạp đòi hỏi người phân tích phải có kinhnghiệm, kỹ năng thực hiện tốt với sự trợ giúp kỹ thuật của tính toán hiện đại

Thẩm định việc tính toán các chỉ tiêu tài chính của dự án :

Cần thẩm tra tất cả các chỉ tiêu tính toán, phương pháp tính toán trong dự

án nghiên cứu khả thi, kiểm tra tổng số vốn và số vốn góp của các bên, kiểm tra

Trang 32

pháp định ít nhất là 30%, trừ trường hợp cơ quan cấp giấy phép cho phép thấphơn nhưng vẫn phải ít nhất là 20%.

+ Thẩm tra việc tính toán xác định tổng vốn đầu tư và tiến độ bỏ vốn:

- Vốn đầu tư xây lắp: nội dung thẩm tra tập trung vào việc xác định nhucầu xây dựng hợp lý của dự án và mức độ hợp lý của đơn giá xây lắp tổng hợpđược áp dụng so với kinh nghiệm đúc kết từ các dự án hoặc loại công tác xâylắp tương tự

- Vốn đầu tư thiết bị: căn cứ vào danh mục thiết bị, kiểm tra giá mua vàchi phí vận chuyển bảo quản cần thiết Đối với loại thiết bị có kèm theo chuyểngiao công nghệ mới thì vốn đầu tư thiết bị còn bao gồm cả chi phí chuyển giaocông nghệ

- Chi phí khác: các khoản mục chi phí này cần được tính toán kiểm tratheo quy định hiện hành của nhà nước Đó là các khoản chi phí được phân theocác giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựng Các khoản chi phí này được xácđịnh theo định mức

- Ngoài các yếu tố về vốn đầu tư trên, cần thẩm tra một số nội dung chiphí đầu tư sau:

Nhu cầu vốn lưu động ban đầu( đối với dự án xây dựng mới) hoặc nhucầu vốn lưu động bổ sung(đối với dự án mở rộng bổ sung thiết bị) để sau khihoàn thành có thể hoạt động bình thường

Chi phí thành lập gồm chi phí để mua sắm các vật dụng cần thiết khôngphải là tài sản cố định và các chi phí để hoạt động ban đầu

Chi phí trả lãi vay ngân hàng trong thời gian thi công

Việc xác định đúng đắn vốn đầu tư của dự án là rất cần thiết, tránh haikhuynh hướng tính quá cao hoặc quá thấp

Sau khi xác định vốn đầu tư, cần xem xét việc phân bổ vốn đầu tư theochương trình tiến độ đầu tư Đây là công việc rất cần thiết đặc biệt là đối vớicông trình có thời gian xây dựng dài

Trang 33

+ Thẩm tra việc tính toán giá thành, chi phí sản xuất: trên cơ sở bảng tínhgiá thành đơn vị hoặc tổng chi phí hàng năm của dự án.

- Tính đầy đủ các yếu tố chi phí giá thành sản phẩm Đối với các yếu tốgiá thành cần xem xét sự hợp lý của các định mức sản xuất tiêu hao, có so sánhcác định mức và các kinh nghiệm từ các dự án đang hoạt động

- Kiểm tra chi phí nhân công trên cơ sở số lượng nhân công cần thiết chomột đơn vị sản phẩm và số lượng nhân công vận hành dự án

- Kiểm tra việc tính toán, phân bổ chi phí về lãi vay ngân hàng (lãi vay dàihạn, ngắn hạn) và giá thành sản phẩm

- Đối với các chi phí tính bằng tỷ lệ % cần kiểm chứng bằng kinh nghiệm

và thực tiễn từ các hoạt động sẵn có của chủ dự án

- Đối với các loại thuế của nhà nước được phân bổ vào giá bán sản phẩmtùy loại hình sản xuất mà có sự phân tích, tính toán

+ Kiểm tra về cơ cấu vốn và cơ cấu nguồn vốn:

- Cơ cấu vốn ( theo công dụng: xây lắp, thiết bị, chi phí khác) thườngđược coi là hợp lý nếu tỷ lệ đầu tư cho thiết bị cao hơn xây lắp Đối với các dự

án đầu tư theo chiều sâu và mở rộng, tỷ lệ đầu tư thiết bị cần đạt là 60% Tuynhiên cần linh hoạt theo tính chất và điều kiện cụ thể của dự án

- Cơ cấu vốn bằng nội tệ và ngoại tệ: xác định số vốn đầu tư và chi phísản xuất bằng ngoại tệ để có cơ sở quy đổi tính toán hiệu quả của dự án

- Phân tích cơ cấu nguồn vốn và khả năng bảo đảm nguồn vốn: việc thẩmđịnh chỉ tiêu này cần chỉ rõ mức vốn đầu tư cần thiết từ từng nguồn vốn dự kiến

để đi sâu phân tích tìm hiểu khả năng thực hiện của các nguồn vốn đó

- Thẩm định tính hiện thực của nguồn vốn và xác định lịch trình cung cấpvốn từ các nguồn vốn đó

+ Kiểm tra các chỉ tiêu phân tích tài chính của dự án như:

- Chỉ tiêu đánh giá tiềm lực tài chính: hệ số vốn tự có so với vốn vay, tỷtrọng vốn tự có trong vốn đầu tư , tỷ lệ giữa vốn lưu động và nợ ngắn hạn…

Trang 34

Trên những vấn đề: an toàn về vốn, an toàn về khả năng trả nợ, độ nhạycủa dự án.

Các chỉ tiêu đánh giá an toàn về vốn có thể là: tỷ lệ vốn riêng, tỷ lệ thanhkhoản, tỷ lệ cấp thời

Chỉ tiêu đánh giá an toàn về trả nợ: trong các dự án FDI có vay vốn thìphải xét cụ thể độ an toàn về trả nợ hàng năm Điều kiện vay phải quy định rấtchặt chẽ như số vốn vay, lãi suất vay, thời hạn trả, chế độ vay và những quyđịnh khác Về mặt nguyên tắc, nếu vay bằng đồng tiền nào thì trả bằng đồng tiền

đó, nếu không thì phải quy định rõ từ đầu trong điều kiện vay Trong trường hợpnày phải chú ý tới sự biến động của các đồng tiền (đồng tiền tính toán và đồngtiền thanh toán).Cần xác định một số chỉ tiêu như : nghĩa vụ trả nợ hàng năm,khả năng trả nợ vay dài hạn Khả năng tạo vốn bằng tiền mặt của dự án bao gồmcác khoản lãi ròng phần dùng để trả nợ và khấu hao phần vốn vay Trong thực

tế, tiền khấu hao vốn riêng hàng năm nếu nhàn rỗi có thể tạm huy động để trảnợ

Độ nhạy của dự án cho ta thấy trước tính ổn định của dự án trước các biếnđộng khách quan, các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thực hiện dự án

2.2.2 Thẩm định tư cách pháp lý, năng lực tài chính của nhà đầu tư nước ngoài và bên Việt Nam

Về hồ sơ trình duyệt:

Đây là bước đầu tiên, cần phải kiểm tra xem hồ sơ trình duyệt đã đủ chưa,các hồ sơ chứng nhận có hợp lệ không

Nhìn chung, bộ hồ sơ xin cấp giấy phép đầu tư gồm:

- Đơn xin cấp giấy phép đầu tư (theo mẫu đã quy định)

- Hợp đồng liên doanh (nếu là Hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc doanhnghiệp liên doanh)

- Điều lệ doanh nghiệp (với doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp100% vốn đầu tư nước ngoài)

- Văn bản xác nhận tư cách pháp lý, tình hình tài chính của các bên

Trang 35

- Giải trình kinh tế- kỹ thuật

- Các hồ sơ về công nghệ: hồ sơ xin thuê đất, báo cáo đánh giá tác độngmôi trường, chứng chỉ quy hoạch và thiết kế sơ bộ của dự án

Về tư cách pháp nhân của các bên tham gia đầu tư:

Đối với doanh nghiệp trong nước cần xem xét: quyết định thành lập haythành lập lại của doanh nghiệp; cơ quan ra quyết định thành lập hay thành lậplại; cơ quan cấp trên trực thuộc; chức vụ, người đại diện chính thức; địa chỉ, điệnthoại, fax

Thành phần kinh tế khác: giấy phép hoạt động, cơ quan cấp giấy phép,người đại diện chính thức, chức vụ; vốn pháp định; giấy chứng nhận khả năngtài chính do ngân hàng cấp; địa chỉ, điện thoại, fax

Bên nước ngoài: việc thẩm định này là khó khăn phức tạp nhất và ngườithẩm định phải hiểu được các thông tin sau về bên nước ngoài:

- Là công ty độc lập hay đại diện cho một tập đoàn, là công ty tài chínhhay công ty đầu tư, quan hệ với các công ty lớn ra sao;

- Mục tiêu, sở trường của họ là gì, họ đã tham gia thị trường chứng khoánhay chưa, mục tiêu kinh doanh chính của họ có phù hợp với mục tiêu hợp tácđầu tư và khả năng của họ hay không;

- Tư cách pháp nhân của bên nước ngoài thể hiện ở giấy phép đăng ký do

cơ quan thẩm quyền hợp hiến và hợp pháp cấp;

- Lịch sử hoạt động kinh doanh của đối tác: năm thành lập, quy mô hoạtđộng, uy tín và ảnh hưởng trên thị trường, cơ cấu tổ chức, các thành tích đạtđược, năng lực tài chính

Về năng lực tài chính của các bên tham gia đầu tư:

Năng lực tài chính thể hiện khả năng thực hiện dự án của các nhà đầu tư,đồng thời liên quan đến quyền lợi của chủ đầu tư và quyền lợi chung của nhànước nên cần được thẩm tra kỹ lưỡng

Về tình trạng tài chính:

Trang 36

Kiểm tra giấy chứng nhận do ngân hàng mở cấp, đồng thời ngân hàng đócũng phải là ngân hàng có năng lực (vì luật pháp các nước trên thế giới làkhác nhau)

Kết quả hoạt động tài chính của chủ đầu tư tối thiểu là hai năm gần nhất,phản ánh doanh số, lợi nhuận, nhịp độ tăng trưởng cũng như nợ nần Việcthẩm tra này có thể qua tiếp xúc trực tiếp, qua văn bản hoặc qua các tổ chứckiểm toán, công ty tư vấn, công ty tài chính, ngân hàng

2.2.3 Thẩm định lợi ích kinh tế - xã hội

Thẩm định kinh tế - xã hội là một nội dung quan trọng của dự án Trêngóc độ người đầu tư là các doanh nghiệp, mục đích quy tụ là lợi nhuận Khảnăng sinh lợi của dự án là thước đo chủ yếu quyết định sự chấp nhận một việclàm mạo hiểm của nhà đầu tư Khả năng sinh lợi càng cao thì càng hấp dẫn cácnhà đầu tư

Tuy nhiên, không phải mọi dự án có khả năng sinh lợi cao đều tạo ranhững ảnh hưởng tốt đối với kinh tế-xã hội Do đó, trên giác độ quản lý vĩ môphải xem xét, đánh giá việc thực hiện dự án đầu tư có những tác động gì đối vớiviệc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, có nghĩa là phải xem xét mặt kinh tế-

xã hội của dự án, xem xét những lợi ích kinh tế-xã hội do thực hiện dự án đemlại Điều này giữ vai trò quyết định để các cấp có thẩm quyền chấp nhận chophép đầu tư, các tổ chức tài chính quốc tế, các cơ quan viện trợ song phương và

đa phương tài trợ cho dự án

Lợi ích kinh tế - xã hội của dự án đầu tư là chênh lệch giữa các lợi ích mànền kinh tế và xã hội thu được so với các đóng góp mà nền kinh tế và xã hộiphải bỏ ra khi thực hiện dự án

Các tiêu chuẩn đánh giá:

Đối với mọi quốc gia, mục tiêu chủ yếu của nền sản xuất xã hội là tối đahoá phúc lợi Mục tiêu này thường thể hiện trong các chủ trương chính sách và

kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nước Với các nước đang phát triển,lợi ích kinh tế - xã hội thường được đề cập là:

Trang 37

- Nâng cao mức sống của dân cư: được thể hiện gián tiếp qua các số liệu

cụ thể về mức gia tăng sản phẩm quốc dân, mức gia tăng tích luỹ vốn, mức giatăng đầu tư, tốc độ phát triển, tốc độ tăng trưởng…

- Phân phối lại thu nhập thể hiện qua sự đóng góp của dự án vào việc pháttriển các vùng kinh tế kém phát triển, nâng cao đời sống của tầng lớp dân cưnghèo

- Gia tăng số lao động có việc làm Đây là một trong những mục tiêu chủyếu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của các nước thừa lao động, thiếuviệc làm

- Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ Những nước đang phát triển không chỉnghèo mà còn là các nước nhập siêu Do đó đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhậpkhẩu là những mục tiêu quan trọng trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân

- Các mục tiêu khác:

Tận dụng, khai thác tài nguyên chưa được quan tâm hay mới phát hiện

Nâng cao năng suất lao động, đào tạo lao động có trình độ tay nghề cao,tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật để hoàn thiện cơ cấu sản xuất của nền kinh tế

Phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo có tác dụng gây phản ứng dâychuyền thúc đẩy phát triển các ngành nghề khác

Phát triển các địa phương nghèo, các vùng xa xôi dân cư thưa thớt nhưng

có nhiều triển vọng về tài nguyên để phát triển kinh tế

Phương pháp đánh giá lợi ích kinh tế-xã hội do thực hiện dự án đầu tư

Tuỳ thuộc vào phạm vi xem xét ở tầm vĩ mô hay vi mô mà có các phươngpháp đánh giá khác nhau

+ Xuất phát từ góc độ nhà đầu tư là các doanh nghiệp, lợi ích kinh tế-xãhội của dự án được xem xét biệt lập với những tác động của nền kinh tế đối với

dự án Trong trường hợp này, phương pháp được áp dụng là dựa trực tiếp vào sốliệu của các báo cáo tài chính của dự án để tính các chỉ tiêu định lượng và thựchiện các xem xét mang tính chất định tính sau đây:

Trang 38

- Mức đóng góp cho ngân sách (các khoản nộp vào ngân sách khi dự ánbắt đầu hoạt động như VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu,thuế đất, lệ phí chuyển tiền…) từng năm và cả đời dự án

- Số chỗ việc làm tăng thêm từng năm và cả đời dự án

- Số ngoại tệ thu từ dự án hàng năm và cả đời dự án

- Tổng chi tiền nội địa tính trên 1 đơn vị ngoại tệ thực thu

- Mức tăng năng suất lao động sau khi có dự án so với trước khi có dự ántừng năm và bình quân cả đời dự án

- Mức nâng cao trình độ nghề nghiệp của người lao động: thể hiện ở chỉtiêu bậc thợ bình quân thay đổi sau khi có dự án so với trước khi có dự án

- Tạo thị trường mới và mức độ chiếm lĩnh thị trường của dự án

- Nâng cao trình độ kỹ thuật của sản xuất: thể hiện ở mức thay đổi cấp bậccông việc bình quân sau khi có dự án so với trước khi có dự án

- Nâng cao trình độ quản lý của lao động quản lý: thể hiện ở sự thay đổimức đảm nhiệm quản lý sản xuất, quản lý lao động, quản lý tài sản cố định củalao động quản lý sau khi có dự án so với trước khi có dự án

- Các tác động đến môi trường, môi sinh

- Đáp ứng việc thực hiện các mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh

tế-xã hội của đất nước, các nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế-tế-xã hội trongtừng thời kỳ

+ Đối với các cấp quản lý về vĩ mô của nhà nước, khi xem xét lợi ích kinhtế-xã hội của dự án phải tính đến mọi chi phí trực tiếp và gián tiếp có liên quanđến việc thực hiện dự án, mọi lợi ích trực tiếp và gián tiếp thu được do dự ánđem lại

Để xác định các chi phí, lợi ích đầy đủ của các dự án đầu tư phải sử dụngcác báo cáo tài chính, tính lại các giá đầu vào và đầu ra theo giá xã hội ( giá ẩn).Không thể sử dụng giá thị trường để tính thu chi và lợi ích kinh tế-xã hội vì giáthị trường chịu sự chi phối của các chính sách tài chính, kinh tế, hành chính củanhà nước Do đó, giá thị trường không phản ánh đúng chi phí xã hội thực tế Vì

Trang 39

vậy, khi tính toán hiệu quả kinh tế-xã hội của những dự án có tầm cỡ lớn phảiđiều chỉnh lại các giá này theo giá xã hội, phải lưu ý đến các yếu tố bên ngoài cóảnh hưởng đến dự án và ngược lại.

Các nguyên tắc cần quán triệt trong điều chỉnh là :

Đối với đầu ra:

- Để xuất khẩu dùng giá FOB điều chỉnh Đây là giá xã hội thực tế sửdụng trong nước

- Để tiêu thụ nội địa thay thế nhập khẩu dùng giá CIF điều chỉnh Đây làgiá xã hội thực tế sử dụng trong nước

- Để tiêu thụ nội địa:

Nếu là hàng thiết yếu dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh Giá nàybằng giá thị trường trong nước cộng với trợ giá (nếu có)

Nếu là hàng thông thường dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh Giánày bằng giá thị trường trong nước cộng với thuế gián thu (nếu có)

Đối với dịch vụ hạ tầng tiêu thụ nội địa (nếu không thể xuất khẩu như điện,nước, khí đốt, vận tải…) dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh hoặc chiphí sản xuất tuỳ thuộc loại nào cao hơn

Đối với đầu vào:

- Nhập khẩu (vật tư, thiết bị) dùng giá CIF điều chỉnh Giá này bằng giáCIF cộng với cước phí vận tải, phí bảo hiểm… trong nước Đây là giá xã hộithực tế thanh toán ở trong nước

- Sản xuất nội địa:

Loại đầu vào sản xuất nội địa có thể xuất khẩu dùng giá thị trường trongnước điều chỉnh hoặc giá FOB điều chỉnh tuỳ thuộc giá nào cao hơn

Loại đầu vào sản xuất nội địa có thể nhập khẩu dùng giá thị trường trongnước điều chỉnh hoặc giá CIF điều chỉnh tuỳ thuộc giá nào thấp hơn

Các loại đầu vào khác dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh (giá thịtrường cộng với trợ giá)

Trang 40

Dich vụ hạ tầng tạo ra trong nước nếu không thể xuất hoặc nhập khẩuđược dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh hoặc chi phí sản xuất tuỳ thuộcmức nào cao hơn.

Đất đai: dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh đối với đất để xâydựng nhà máy

Lao động: gồm tiền lương, tiền thưởng và phụ cấp

Để điều chỉnh giá FOB và CIF về tiền nội địa cần sử dụng tỷ giá hối đoái

có điều chỉnh Tỷ giá hối đoái có điều chỉnh là thước đo giá trị xã hội thực tế của

ngoại tệ khi tỷ giá chính thức bị sai lệch không phản ánh đúng giá trị thực tế củangoại tệ

2.2.4 Thẩm định kỹ thuật, công nghệ

Đây là một công việc khá phức tạp, tốn kém vì phải kiểm tra các phéptính toán, xem xét toàn bộ các kết quả giải trình kinh tế- kỹ thuật Phải xem xétđến công nghệ và phương pháp sản xuất, chuyển giao công nghệ đặc biệt làcông nghệ cao Công nghệ chuyển giao phải đạt được các yêu cầu sau:

- Công nghệ tạo ra sản phẩm mới và cần thiết hoặc sản xuất hàng xuấtkhẩu

- Nâng cao tính năng kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lựcsản xuất

- Tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, khai thác và sử dụng có hiệu quả tàinguyên thiên nhiên

Đồng thời nghiêm cấm việc chuyển giao công nghệ có ảnh hưởng xấu đếnmôi trường sinh thái và an toàn lao động Với công nghệ từ các nước G7 thìkhông quá 10 năm, từ các nước khác không quá 8 năm, chất lượng còn lại phảilớn hơn hoặc bằng 80% máy mới, không được tiêu hao nguyên liệu quá 10%.Phải xem xét về công suất máy móc thiết bị, công suất khả thi, mức sản xuất dựkiến Đặc biệt cần quan tâm là giá cả thiết bị công nghệ (kể cả phần cứng vàphần mềm) Những yếu tố nhập khẩu do lượng thông tin không đầy đủ hoặc

Ngày đăng: 19/04/2013, 23:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng các giá biểu nước - Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bảng 1 Bảng các giá biểu nước (Trang 71)
Bảng 3: Các thông số tài trợ nợ - Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bảng 3 Các thông số tài trợ nợ (Trang 73)
Bảng 4:Kinh phí đầu tư của dự án - Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bảng 4 Kinh phí đầu tư của dự án (Trang 74)
Bảng 5: Các chi phí điều hành và bảo trì - Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bảng 5 Các chi phí điều hành và bảo trì (Trang 75)
Bảng 6: Biểu phí cố định hàng tháng - Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bảng 6 Biểu phí cố định hàng tháng (Trang 77)
Bảng lưu kim - Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bảng l ưu kim (Trang 79)
Bảng 7: Nhu cầu nước và cấp nước đến năm 2025 - Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bảng 7 Nhu cầu nước và cấp nước đến năm 2025 (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w