Hidrotanxit được điều chế chủ yếu bằng phương pháp đồng kết tủa ở những pH khác nhau, từ dung dịch hỗn hợp muối chứa các cation kim loại cần thiết, các vật liệu hidrotanxit có bề mặt lớn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN TIẾN THẢO
HÀ NỘI – 2012
Trang 3DANH MỤC HÌNH
Hình 1.3 Mẫu tia X của khoáng HT ([Mg1-xAlx(OH)2][(CO3)x/n].mH2O tương
Hình 1.4 Mẫu tia X của khoáng HT ([Mg1-xAlx(OH)2][(CO3)x/n].mH2O 8
Hình 1.5 DTA của khoáng HT ([Mg1-xAlx(OH)2][(CO3)x/n].mH2O 9
Hình 3.4 Các đường hấp phụ/giải hấp nitơ của 2 mẫu hiđrotanxit và sự phân
bố mao quản BJH của mẫu Mg0.5Co0.2Al0.3(OH)2(CO3)0.15.mH2O 43
Hình 3.6 Hoạt tính xúc tác Mg0.7-xCoxAl0.3(OH)2(CO3)0.15.mH2O (x=0 – 0,3)
đối với phản ứng oxi hóa stiren ở khoảng 850
Trang 4Hình 3.7A Sự phụ thuộc độ chuyển hóa stiren trên xúc tác hidrotanxit
phản ứng
48 Hình 3.7B Sự biến đổi độ chọn lọc sản phẩm trên xúc tác hidrotanxit
phản ứng
48
Hình 3.7C Sự biến đổi độ chọn lọc sản phẩm trên xúc tác hiđrotanxit
phản ứng
49
Hình 3.8A Sự phụ thuộc độ chuyển hóa stiren trên xúc tác hidrotanxit
phản ứng
50
Hình 3.8B Sự biến đổi độ chọn lọc sản phẩm trên xúc tác hidrotanxit
phản ứng
50
Hình 3.8C Sự biến đổi độ chọn lọc sản phẩm trên xúc tác hidrotanxit
phản ứng
51
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ oxi hóa stiren trên m ẫu xúc tác
Bảng 3.1.2 Sự phân bố sản phẩm oxi hóa ở cùng độ chuyển hóa stiren
trên xúc tác Mg0.7-xCoxAl0.3(OH)2(CO3)0.15.mH2O (x = 0,1– 0,3)
53
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN 9
1.1 Giới thiệu chung 9
1.1.1 Khái niệm về hidrotanxit 9
1.1.2 Đặc điểm cấu trúc 9
1.1.3 Trạng thái hydrat hóa của hidrotanxit 11
1.1.4 Trạng thái tinh thể của hidrotanxit 11
1.2 Tính chất 11
1.2.1 Tính chất trao đổi anion 12
1.2.2 Tính hấp phụ 13
1.3 Các phương pháp điều chế hidrotanxit 17
1.3.1 Phương pháp muối – bazơ 17
1.3.2 Phương pháp muối – oxit 18
1.3.3 Phương pháp đồng kết tủa 18
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc hidrotanxit 19
1.4.1 Ảnh hưởng của pH thay đổi 19
1.4.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ 21
1.4.3 Già hóa kết tủa 21
1.4.4 Tách kết tủa ra khỏi sản phẩm phụ 21
1.4.5 Làm khô chất kết tủa và gel 22
1.5 Ứng dụng của hidrotanxit 22
1.5.1 Ứng dụng hidrotanxit làm xúc tác 22
1.5.2 Ứng dụng hidrotanxit làm chất ức chế 22
1.5.3 Ứng dụng hidrotanxit làm chất hấp phụ và trao đổi ion 23
1.6 Phản ứng oxi ho ́ a ankylbenzen 23
1.6.1 Phản ứng oxi hóa chọn lọc ankylbenzen 23
1.6.2 Oxi hóa pha lỏng stiren 26
1.6.3 Ứng dụng của sản phẩm benzanđehit 28
Chương 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM 29
2.1 Điều chế xúc tác 29
Trang 72.1.1 Hoá chất 29
2.1.2 Quy trình tổng hợp 29
2.2 Nghiên cứu đặc trưng xúc tác bằng các phương pháp vật lý 30
2.2.1 Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD) 30
2.2.2 Phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM) 32
2.2.3 Phương pháp hiển vi điê ̣n tử truyền qua (TEM) 33
2.2.4 Phương pháp xác định diện tích bề mặt riêng 34
2.2.5 Phương pháp phổ hồng ngoại (IR) 39
2.3 Phản ứng oxi hóa pha lỏng stiren 40
2.3.1 Hóa chất 40
2.3.2 Các bước tiến hành 40
2.3.3 Phân tích sản phẩm 41
2.3.3.1 Phân tích sản phẩm bằng phương pháp sắc ký 41
2.3.3.2 Điều kiện làm việc 42
2.3.3.3 Định lượng sản phẩm phản ứng 42
2.4 Độ chuyển hóa và độ chọn lọc sản phẩm 43
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 45
3.1 Đặc trưng của hidrotanxit Mg-Co-Al-O 45
3.1.1 Nghiên cứu đặc trưng xúc tác bằng phương pháp nhiễu xạ tia X 45
3.1.2 Hình ảnh SEM 46
3.1.3 Hình ảnh TEM 47
3.1.4 Đặc trưng bằng phương pháp hấp phu ̣ - giải hấp phụ nitơ (BET) 48
3.1.5 Phổ hồng ngoại 50
3.2 Phản ứng oxi hóa pha lỏng stiren 52
3.2.1 Ảnh hưởng của thời gian phản ứng đến hoạt tính xúc tác 53
3.2.2 Ảnh hưởng củ a nhiệt độ phản ứng 56
3.2.3 Đánh giá khả năng chọn lọc sản phẩm của xúc tác hidrotanxit ở độ chuyển hóa xác định 59
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 8MỞ ĐẦU
Hidrotanxit (HT) là khoáng vật hiếm trong tự nhiên có màu trắng, thuộc họ
khoáng sét anion Khoáng sét anion tổng hợp đã được các nhà khoáng học (Aminoff
và Broomi) công bố vào khoảng năm 30 của thế kỉ 20, với nhiều tên gọi khác nhau
như: hidrotanxit, pyroaucite, takovite Đến năm 1987 Drits đã đề nghị một hệ
thống danh pháp để thống nhất tên gọi Những năm sau này khái niệm “Hydrocite
đan xen” (Lamellar Double Hydrocite - LDH) được dùng để giải thích sự hiện diện
của hai cation kim loại khác nhau trong hợp chất này [1, 13]
Hidrotanxit là một loại vật liệu lớp tồn tại như các khoáng vật cũng như
trong các pha tổng hợp Tính đa dạng của vật liệu này thể qua việc có thể điều
chế bằng một dãy các hidrotanxit có tỷ lệ các cation kim loại và anion trong các
lớp xen kẽ khác nhau Đây là những đặc tính thuận lợi để điều chế các chất xúc
tác có hoạt tính và độ chọn lọc sản phẩm mong muốn cao [5] Hidrotanxit được
điều chế chủ yếu bằng phương pháp đồng kết tủa ở những pH khác nhau, từ dung
dịch hỗn hợp muối chứa các cation kim loại cần thiết, các vật liệu hidrotanxit có
bề mặt lớn, có cấu trúc lỗ xốp, có khả năng trao đổi ion , và các tính chất khác
như: hóa học, quang học, xúc tác, điện tử Do đó nó được ứng dụng nhiều trong
các lĩnh vực khác nhau như: chất mang, chấp hấp phụ, xúc tác màng chọn lọc ion
… Gần đây các nhà nghiên cứu đã cho thấy một số kim loại chuyển tiếp như:
Ru, Cu, Fe, Mn, V, Ti… tẩm/mang trên chất xúc tác hidrotanxit để có các hoạt
tính tốt đối với các phản ứng oxi hóa pha lỏng ancol benzylic, stiren, toluen [4 -
7] Trong số các kim loại kể trên, Cu và Ru tỏ ra hiệu quả với stiren nhưng
không thể oxi hóa ankylbenzen khác Ni và Fe, Ti, Mn mang trên silicat, zeolit…
có hoạt tính thấp với ankylbenzen [4, 5, 22, 26, 40] Ngoài ra, phản ứng tạo
thành hỗn hợp nhiều sản phẩm nên gặp khó khăn trong việc phân tích Vì vậy, để
đánh giá xác thực vai trò hoạt động xúc tác hidrotanxit trong phản ứng oxi hóa
ankylbenzen nói chung và stiren nói riêng, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu
“Oxi hóa pha lỏng stiren trên xúc tác Mg 0,7 – x Co x Al 0,3 (OH) 2 (CO 3 ) 0,15 mH 2 O”
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN
1.1.1 Khái niệm về hidrotanxit
Hidrotanxit là hỗn hợp các hydroxit của các kim loại hóa trị II và kim loại
hóa trị III có công thức tổng quát là [1, 8, 15, 32]:
[M2+1-x M3+x(OH)2]x+[An-x/n].mH2O, trong đó: - M2+
: Kim loại hóa trị II như Mg, Ni, Zn, Ca,
M3+: Kim loại hóa trị III như Al, Fe, Cr, Co
An- : anion như: F-, Cl-, NO3-, SO42-, CO32-,
Giá trị x từ 0.2 – 0.33, với x=M3+/(M2+ + M3+)
Các ion kim loại tạo thành lớp đa diện mang điện tích dương Để cấu trúc
trung hòa về điện, các anion được xen vào các khoảng trống giữa hai lớp đa diện
1.1.2 Đặc điểm cấu trúc
Cấu trúc của hidrotanxit gồm những lớp hydroxit [M2+1-x M3+x(OH)2]x+ được
tạo thành từ các hydroxit của kim loại hóa trị 2 và 3 Trong đó, một phần kim loại
hóa trị 2 được thay thế bằng kim loại hóa trị 3 lớp đa diện nên mang điện tích
dương Đa diện có đỉnh là các nhóm OH, tâm là các kim loại Do đó, hidrotanxit có
cấu trúc tương tự như cấu trúc của brucite trong tự nhiên (hình 1.2) [15, 32]
Lớp xen giữa [An-x/n].mH2O là các anion mang điện tích âm và các phân tử
nước nằm xen giữa lớp hydroxit để trung hòa lớp điện tích dương [1]
Hình 1.1 Cấu tạo một lớp hidrotanxit
Trang 10Lớp hydroxit liên kết với lớp xen giữa bằng lực hút tĩnh điện Liên kết giữa
các phân tử nước và các anion trong lớp xen giữa là liên kết hidro Do vậy, các
anion và phân tử nước sẽ giải phóng ra nếu xử lý hidrotanxit ở nhiệt độ cao Ví dụ:
Hidrotanxit [Mg1-xAlx(OH)2](CO3)x/n.mH2O sau khi nung giải phóng CO2 và H2O
tạo thành các oxit có diện tích bề mặt cao:
[Mg1-xAlx(OH)2](CO3)x/n.mH2O Mg1-xAlxO1+x/2 + x/2 CO2 + H2O
Các oxit này có thể kết hợp với các anion để tái tạo cấu trúc hidrotanxit [32 ]
Với A là anion cần hấp phụ như: H2AsSO4-, HAsSO42-, AsSO43-
Trong đó kim loại hóa trị II (M2+
) phối trí bát diện với những ion hydroxit xung quanh (hình 1.2) Những bát diện này dùng chung cạnh kế cận để hình thành
những miếng, lớp Trong hidrotanxit, một vài nguyên tử (M2+) được thay thế bởi ion
hóa trị (III) (M3+) Sự thay thế M3+ bởi M2+ làm xuất hiện điện tích dương trên
những lớp hydroxit kim loại, bởi vì M3+ vẫn phối trí bát diện với những nhóm
hydroxit [32]
Hình 1.2 Cấu trúc tổng quát của hidrotanxit
Phần điện tích dương trong hidrotanxit được trung hòa bởi anion (An-) ở lớp
trung gian Do đó, hidrotanxit có khả năng trao đổi anion ở lớp trung gian Ngoài
Trang 11những anion, các phân tử nước cũng được định vị ở lớp trung gian giữa những lớp
hydroxit kim loại
1.1.3 Trạng thái hydrat hóa của hidrotanxit
Ở nhiệt độ nhất định, khi áp suất hơi bão hòa của nước đạt cân bằng,
hidrotanxit chứa một lượng nước xác định trong cấu trúc Phân tử nước kết tinh hấp
phụ trên bề mặt của tinh thể Khi độ ẩm khoảng 50% hidrotanxit có từ 3-5 lớp nước,
tinh thể và khi độ ẩm đạt đến 95% hidrotanxit có khoảng 20 lớp nước tinh thể
Những phân tử nước phân bố giữa các lớp hydroxit được gọi là nước cấu trúc (nước
trong mạng), những phân tử nước này đóng góp vào tổng thành phần hóa học của
sản phẩm
Tổng số phân tử nước trong một đơn vị công thức chứa nhóm kép hydroxit
có giá trị cực đại là (1-x) Ở điều kiện nhiệt độ và áp suất như trên, tồn tại cân bằng
giữa độ ẩm của áp suất ngoài và trạng thái hydrat hóa giữa các lớp đơn và các lớp
kép M(OH)n
Như vậy, trạng thái hydrat hóa của hidrotanxit khác với trạng thái tinh thể
của chúng Sự hydrat hóa ngoài mạng có thể quan sát sự thay đổi kích thước tinh
qua kính hiển vi điện tử truyền qua phân giải cao (HTEM)
1.1.4 Trạng thái tinh thể của hidrotanxit
Với những loại khoáng sét anion tổng hợp, ta thu được hợp chất vi tinh thể
có độ mỏng khoảng 0.3-0.6 µm, các tinh thể lớn chỉ có ở các hợp chất tự nhiên Ví
Khoảng không gian giữa các lớp hidroxi chứa các anion và các phân tử nước
sắp xếp một cách hỗn độn Điều này đã tạo ra một số tính chất đặc trưng của các
dạng hidrotanxit [15]
Trang 121.2.1 Tính chất trao đổi anion
Đây là một trong những tính chất quan trọng của hợp chất hidroxi kép, dạng
cấu trúc này có thể trao đổi một lượng lớn anion bên trong bằng những anion khác ở
các trạng thái khác nhau
Thực hiện phản ứng trao đổi anion có thể dẫn đến thay đổi giá trị của khoảng
cách lớp trung gian giữa hai lớp hydroxyl kế cận Sự thay đổi phụ thuộc vào hình
dạng và điện tích của các anion trao đổi [28] Do cấu trúc lớp và sự đan xen anion,
hidrotanxit có khả năng phân tán và trao đổi anion
Phản ứng trao đổi anion thường ở dạng cân bằng sau:
[M2+M3+A] + A’ = [M2+
M3+A’] + A A: anion ở lớp xen giữa
A’: anion cần trao đổi Hoặc có thể trao đổi ở dạng sau:
HT-A’ + A- = HT-AA’
HT-A: HT có 1 anion xen giữa A’
HT-AA’: HT có 2 anion xen giữa cùng tồn tại, lúc này quá trình trao đổi xảy
ra không hoàn toàn, A không trao đổi hết với A’
Sự trao đổi thuận lợi với các anion có mật độ điện tích cao Sự trao đổi anion
trong hidrotanxit phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Sự tương tác tĩnh điện của lớp hidrotanxit tích điện dương với anion xen giữa
và năng lượng tự do các anion cần trao đổi
- Ái lực trao đổi của lớp hydroxit với các anion cần trao đổi trong dung dịch
và ái lực của lớp hydroxit với anion trong lớp xen giữa
- Cấu tạo của ion cần trao đổi (A)
- Hằng số cân bằng trao đổi tăng khi bán kính anion trao đổi giảm, trao đổi ion
Trang 13sẽ thuận lợi với các anion trong dung dịch có nồng độ cao
- Anion hóa trị II được ưu tiên hơn anion hóa trị I, và thời gian trao đổi cũng
nhanh hơn
- Sự trao đổi ion tiên với các ion có trong mạng lưới tinh thể vật liệu có cấu
tạo giống với những ion trao đổi
- Khả năng trao đổi anion còn phụ thuộc vào pH Điều kiện lọc, rửa và sấy khô
cũng ảnh hưởng đến quá trình trao đổi anion pH luôn luôn phải nằm trong
vùng tồn tại bền của hydroxit và các anion bù trừ điện tích
1.2.2 Tính hấp phụ
Sự hấp phụ các anion có thể dẫn đến sự tái tạo lại cấu trúc lớp của
hidrotanxit sau khi xử lý hidrotanxit ở nhiệt độ cao Tính chất hấp phụ thể hiện rất
tốt đối với HT/CO3
2- HT/CO32- sau khi nung ở nhiệt độ nhất định sẽ có khả năng hấp phụ tốt hơn lúc chưa nung Khi đó HT/CO32- bị mất các phân tử nước lớp xen
giữa và khí CO2 thoát ra để hình thành tâm bazơ O2- có cấu trúc kiểu M2+
dung dịch các anion khác [15]
Điển hình cho tính hấp phụ HT/CO3
là hidrotanxit được điều chế từ nhôm và magie có công thức cụ thể như sau: [Mg1-xAlx(OH)2][(CO3)x/n].mH2O
(HT/[Mg-Al-CO3]) Phương trình tái tạo cấu trúc lớp như sau: Mg1-xAlx(O)1+x/2 +
x/nAn- + (1+x/2)H2O -> [Mg1-xAlx(OH)2][Ax/n].mH2O với A là anion cần hấp
phụ có thể là halogen, hợp chất hữu cơ, anion vô cơ (CrO42-, HPO42-, SiO32-,
HVO42-, Cl-, MnO4- )
Hidrotanxit chỉ hấp phụ với các anion hình thành lớp xen giữa, hidrotanxit
không có khả năng trao đổi cation với Mg và Al ở các tấm bát diện do lực liên kết
tạo phức lớn Các hidrotanxit hấp phụ trong môi trường nước nên chịu nhiều tác
động của yếu tố ngoại cảnh như pH, các ion và hợp chất lạ
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hấp phụ cũng giống như các yếu tố ảnh
hưởng đến quá trình trao đổi ion
Trang 14Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ
a) Ảnh hưởng của nhiệt độ nung
Hidrotanxit có khả năng tạo thành oxit khi nung từ 400 – 8000C Các oxit tạo
thành có thể hydrat hóa và hấp dẫn các anion khác để tái tạo lại cấu trúc
Tùy theo nhiệt độ nung mà hidrotanxit/[CO3
2-] hình thành các chất khác nhau
và có tính chất khác nhau Có thể là Mg1-xAlx(O)1+x/2 hoặc các spinel và MgO (hình 1.3)
Hình 1.3 Mẫu tia X của khoáng HT ([Mg 1-x Al x (OH) 2 ][(CO 3 ) x/n ].mH 2 O)
ở nhiệt độ nung khác nhau
Trang 15Trên 4000C MgO bắt đầu hình thành Trên 6000C ion Al có bán kính nhỏ hơn bán
kính của Mg, sẽ khuếch tán vào MgO và bắt đầu xuất hiện spinel
6000C
Mg1-xAlxO1+x/2 MgO + MgAl2O4 (spinel)
Hình 1.4 Giản đồ nhiễu xạ tia X của khoáng hidrotanxit
([Mg 1-x Al x (OH) 2 ][(CO 3 ) x/n ].mH 2 O) [15]
Phân tích TG và DTA để xem xét quá trình đehidroxit của mẫu khoáng
hidrotanxit /[CO3] (hình 1.5)
Quá trình giảm khối lượng thu nhiệt đặc trưng cho sự cắt đứt các liên kết:
- Ở 2100C và 2200C peak thu nhiệt: đó là sự mất nước xen giữa hai lớp
Trang 16- Ba giai đoạn giảm khối lượng quan sát đượ trên hình ứng với 3 quá trình:
mất nước, phản ứng dehydroxit và quá trình đecacbonat (hình 1.5)
Hình 1.5 DTA của khoáng HT ([Mg 1-x Al x (OH) 2 ][(CO 3 ) x/n ].mH 2 O)
Tùy theo tỉ lệ M2+/M3+ trong hidrotanxit mà hỗn hợp sản phẩm nung có thành phần
khác nhau Ví dụ M2+:M3+ = 4:1 thì lượng spinen tạo ra khi nung ở nhiệt độ cao là
lớn nhất và M2+:M3+ = 2:1 lượng spinel sinh ra là nhỏ nhất Kích thước của spinel
nhỏ hơn kích thước của các oxit [Mg – Al – O], lượng spinel sẽ tăng lên khi tái tạo lại
cấu trúc hidrotanxit nhiều lần
b) Ảnh hưởng của tỉ lệ Mg/Al
Khi tăng tỉ lệ Mg trong hỗn hợp 2 muối dẫn đến sự thay đổi về tính chất Tùy
theo tỷ lệ Mg/Al mà lượng H2O và CO2 thoát ra ở nhiệt độ nhất định sẽ khác nhau
Trong lớp hydroxit một phần kim loại hóa trị 2 được thay thế bằng kim loại hóa trị
3 nên mạng cấu trúc mang điện tích dương Do đó, tỷ lệ giữa Mg/Al càng nhỏ thì khả
năng thay thế kim loại hóa trị 3 sẽ càng lớn và mật độ điện tích dương càng nhiều dẫn
đến lượng anion trung hòa điện càng nhiều Vậy với tỉ lệ Mg:Al = 2:1, hidrotanxit sau
khi nung thành hidrotanxit oxit sẽ hấp phụ tái tạo lại cấu trúc tốt nhất [29]
Trang 17c) Ảnh hưởng của pH
pH có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hấp phụ hidrotanxit được tổng hợp
trong môi trường bazơ có pH trong khoảng: 9 – 10 Ở pH thấp sẽ phá các liên kết
trong oxit, các oxit sẽ bị hòa tan trong dung dịch khi có pH quá thấp Ở pH cao
nồng độ OH- lớn tạo điều kiện cho các anion dễ dàng hấp phụ tái tạo lại cấu trúc
mới Lượng Mg trong [Mg – Al – O] trước khi hấp phụ và sau khi hấp phụ anion tái
tạo lại cấu trúc lớp sẽ khác nhau, trong dung dịch Mg bị tan một phần tạo kết tủa
Mg(OH)2 làm giảm nồng độ OH-, ảnh hướng đến khả năng hấp phụ Tuy nhiên, quá
trình giảm này pH không ảnh hưởng đáng kể Lượng Al trong hidrotanxit trước và
sau khi hấp phụ vẫn giữ nguyên pH = 9 – 11 thường là khoảng hấp phụ tối ưu nhất
cho hidrotanxit
1.3 Các phương pháp điều chế hidrotanxit
Do có ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau, nên hidrotanxit được
nghiên cứu nhiều nhằm điều chế các hợp chất kiểu hidrotanxit Hidrotanxit có thể
điều chế trực tiếp từ các dung dịch muối kim loại, oxit kim loại này hay biến tính
các khoáng chất tự nhiên bằng cách trao đổi anion, phương pháp đồng kết tủa hay
nung để sắp xếp lại cấu trúc
1.3.1 Phương pháp muối – bazơ
Năm 1992 Feikenecht và Geber lần đầu tiên tổng hợp hỗn hợp 2 hydroxit
[Mg – Al – CO3] bởi phản ứng hỗn hợp muối của hai kim loại trên với một dung
dịch bazơ của một kim loại kiềm Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất
để điều chế hidrotanxit cacbonat (HTC) của hai (hoặc lớn hơn) cation kim loại hóa
trị II và kim loại hóa trị III Phương pháp tổng hợp này dựa trên sự kết tủa đồng thời
các hydroxit của hai (hay nhiều hơn) cation kim loại hóa trị II và kim loại hóa trị III
(phương pháp đồng kết tủa) Sau Feitkenecht và Geber phương pháp này được tiếp
tục phát triển dựa trên sự thay đổi các thông số như: nồng độ các chất, điều kiện lọc,
rửa và điều chỉnh pH Đây chính là những yếu tố quyết định sự hình thành của
hidrotanxit cacbonat (HTC)
Trang 18Ưu điểm phương pháp muối – bazơ:
Có thể điều chế được trực tiếp sản phẩm HTC có cấu tạo xác định;
Sự đồng kết tủa trong dung dịch anion chọn lọc;
Có thể điều chỉnh tỷ lệ giữa kim loại hóa trị II, kim loại hóa trị III thông
qua tỷ lệ ion kim loại trong dung dịch ban đầu
Tuy nhiên, cấu trúc và tính chất hóa lý của sản phẩm phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như: phương pháp kết tủa, nhiệt độ và thời gian già hóa, độ tinh khiết, lọc,
rửa ion và sấy khô
1.3.2 Phương pháp muối – oxit
Phương pháp này được Boehm, Steinle và Vieweger sử dụng lần đầu tiên
năm 1977 để điều chế [Zn – Cr – Cl] Quá trình thực nghiệm bao gồm việc tạo
thành một huyền phù của ZnO từ một lượng dư dung dịch muối CrCl3 trong vài
ngày ở nhiệt độ phòng Năm 1981 cũng với những tiền chất trên Lal và Howe đã
điều chế hidrotanxit [Zn – Cr – Cl] bằng cách cho ZnO (ở dạng bột nhão) vào dung
dịch CrCl3 và khuấy trong 10 giờ Tuy nhiên, kết quả là không thu được sản phẩm
tinh khiết do vẫn còn lại một lượng ZnO dư Phản ứng tổng quát của phương pháp
này là: M2+O + xM3+An-3/n + (m + 1) H2O = M2+1-xM3+x(OH)2.mH2O + xMeIIXn2/n
Phương pháp muối – oxit còn được dùng điều chế các loại HTC khác như [Zn – Al
– Cl]; [Zn – Cr – Cl]; [Zn – Cr – NO3]; [Zn – Al – NO3] Ví dụ, hệ [Zn – Cr – Cl]
được điều chế bởi phản ứng:
3ZnO + CrCl3 + (n + 3)H2O Zn2Cr(OH)6.nH2O + ZnCl2
1.3.3 Phương pháp đồng kết tủa
Phương pháp này được tổng hợp từ hai muối kim loại hóa trị 2 và 3 Cho hỗn
hợp muối của hai kim loại trên vào dung dịch muối của kim loại kiềm có tính bazơ
Hỗn hợp dung dịch được giữ ở pH không đổi trong quá trình điều chế Các chất
tham gia phản ứng được khuấy trộn với tốc độ không đổi trong suốt quá trình phản
ứng xảy ra Phương pháp đồng kết tủa điều chế hidrotanxit có kích thước nhỏ
Trang 19(nanomet, micromet), độ đồng nhất cao, ít tạp chất, diện tích bề mặt lớn, tỉ trọng
nhỏ Tuy nhiên cấu trúc và tính chất hóa lý của sản phẩm còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như: phương pháp kết tủa, bản chất và nồng độ của chất phản ứng, pH kết
tủa, nhiệt độ và thời gian già hóa, độ tinh khiết, rửa sạch và sấy khô [15]
1.3.3.1 Phương pháp kết tủa trong dung dịch đồng thể
Phương pháp này dựa trên cơ sở kết tủa dần một chất trong quá trình phản
ứng trong thể tích dung dịch Phương pháp này được ứng dụng trong trường hợp tạo
thành các tinh thể có hình dáng hoàn thiện
1.3.3.2 Phương pháp kết tủa trong chế độ chu kì và liên tục
Phương pháp này được ứng dụng rộng rãi trong điều chế xúc tác và chất
mang trong phòng thí nghiệm, trong công nghiệp Kết tủa ở pH cố định được thực
hiện bằng cách cho đồng thời các tác chất vào lò phản ứng và trộn mạnh theo hai
chế độ chu kì và liên tục Trong chế độ chu kì thì quá trình kết tủa có giá trị pH cố
định, còn nồng độ chất kết tủa và dung dịch muối thay đổi Còn chế độ liên tục thì
tất cả các thành phần được giữ cố định trong toàn bộ tiến trình
1.3.3.3 Phương pháp xây dựng lại cấu trúc
Được đề nghị năm 1983 bởi Miyata, dung dịch rắn Mg1-3x/2AlxO được điều
chế bằng cách nung hidrotanxit [Mg – Al – CO3] ở khoảng nhiệt độ 500-700oC Sau
đó hỗn hợp được hydrat hóa bằng dung dịch nước chứa cation khác tạo thành một
hidrotanxit cacbonat (HTC) mới Bên cạnh một số hidrotanxit cũng được điều chế
bằng phương pháp trao đổi anion hữu cơ, anion dạng polyoxometalic
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc hidrotanxit
1.4.1 Ảnh hưởng của pH thay đổi
Kết tủa với pH tăng:
pH được điều chỉnh bằng cách chuẩn độ điện thế một dung dịch hỗn hợp
muối kim loại bằng dung dịch bazơ của kim loại kiềm hoặc muối cacbonat của kim
loại kiềm Hệ [Zn – Cr – Cl] đã được điều chế bằng cách thêm dung dịch NaOH với
nồng độ không đổi vào hỗn hợp dung dịch ZnCl2 và CrCl3
Trang 20Kết tủa với pH giảm:
Thêm hỗn hợp dung dịch muối kim loại có tính axit vào dung dịch muối
NaOH Phương pháp này được Bish và Brinley (năm 1977) dùng để điều chế [Ni –
Al – CO3] bằng cách thêm vào hỗn hợp dung dịch NaOH đã bão hòa CO2 một
lượng xác định hỗn hợp dung dịch muối NiCl2 và AlCl3[17] Phương pháp này cho
sản phẩm có độ tinh khiết thấp Trong cả hai trường hợp trên đều phải xử lý thủy
nhiệt để hoàn thiện cấu trúc
Điều chế ở pH không đổi:
Đây là một trong những phương pháp thông dụng để điều chế những loại
khoáng sét anion tổng hợp khác nhau Dung dịch hỗn hợp hai muối kim loại hóa trị
II và hóa trị III, được thêm vào dung dịch tính kiềm được giữ ở pH không đổi với
tốc độ xác định Các chất tham gia phản ứng hòa trộn với tốc độ không đổi Có thể
điều chỉnh đồng thời các yếu tố: tốc độ thêm dung dịch hỗn hợp hai muối kim loại,
pH và nhiệt độ kết tủa
Với hợp chất [Zn – Al – Cl] khoảng pH để thu được sản phẩm có cấu trúc
dạng hidrotanxit là từ 6,0 đến 10,0 trong đó pH tối ưu là 7,0 đến 9,0 Ở pH thấp
hơn, ta thu được một hợp chất vô định hình, trong khi pH cao hơn, những tinh thể
Zn(OH)2 dạng brucite tồn tại cùng pha với HTC
Với hợp chất [Mg – Al – Cl] khoảng pH để thu được sản phẩm có cấu trúc
dạng hidrotanxit là từ 8,0 đến 10,0 pH tối ưu có thể thay đổi tùy theo điều kiện bền
của hỗn hợp hidrotanxit của kim loại hóa trị II và kim loại hóa trị III Điều chế
hidrotanxit bằng phương pháp đồng kết tủa (pH không đổi), cho sản phẩm có một
số ưu điểm như:
- Độ kết tinh, mức độ đồng nhất và pha tinh khiết hơn;
- Phân bố kích thước hạt và bán kính trung bình của hạt ít bị ảnh hưởng bởi
xử lý thủy nhiệt;
- Diện tích bề mặt và đường kính mao quản cao hơn phương pháp điều chế
hidrotanxit ở pH thay đổi
Trang 211.4.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ
Trong nhiều trường hợp, các yếu tố như: pH tối ưu, thời gian già hóa thích
hợp cũng không tạo được pha HTC kết tinh tốt, khi đó xử lý nhiệt giúp cải thiện sự
kết tinh của pha vô định hình hoặc của vật liệu kết tinh không tốt
Phản ứng đồng kết tủa chủ yếu được thực hiện ở nhiệt độ phòng Do đó xử lý
thủy nhiệt sau khi kết tủa thường có ảnh hưởng hơn Xử lý thủy nhiệt để cải tạo tinh
thể HTC Nhưng nhiệt độ của quá trình phải không quá cao để tránh HTC bị phân hủy
1.4.3 Già hóa kết tủa
Hỗn hợp sau phản ứng chứa gel và chất kết tủa mới có năng lượng tự do cao
Do đó về nhiệt động học chúng sẽ không bền theo thời gian, đặc biệt ở nhiệt độ cao,
trong HTC diễn ra nhiều quá trình khác nhau Sản phẩm vừa mới kết tinh chưa ổn
định, các tiểu phân mịn, nhỏ thành phần chưa kịp liên kết lại với nhau tạo thành cấu
trúc Vì vậy, cần phải có thời gian đủ để ổn định cũng như nhiệt độ cần thiết để các
phần tử kết hợp lại chặt chẽ dưới dạng cấu trúc khung cứng, cấu trúc này sẽ ít bị
biến đổi
Quá trình già hóa trên có ý nghĩa rất quan trọng trong điều chế xúc tác vì nó
quyết định thành phần hóa học, cấu trúc xốp, độ bền theo thời gian, khi già hóa gel
thể tích và bán kính lỗ xốp tăng lên đáng kể
Thời gian già hóa để hidrotanxit có cấu trúc ổn định thường trong khoảng từ
10 – 12h
1.4.4 Tách kết tủa ra khỏi sản phẩm phụ
Chất kết tủa thường dưới dạng nhũ tương, gel Dịch huyền phù có chứa nhiều
sản phẩm phụ và một lượng ion kim loại thủy phân không hoàn toàn nên có ảnh
hưởng đến tính chất của xúc tác Do đó việc tách kết tủa và rửa đòi hỏi tốn nhiều
thời gian Thường các muối dễ hòa tan được loại bằng cách rửa nước, trường hợp
trong thành phần chất kết tủa có muối bazơ hoặc muối axit, không bị loại ra hết sẽ
ảnh hưởng đến tâm hoạt động của xúc tác, gây nhiều phản ứng không mong muốn
Trang 221.4.5 Làm khô chất kết tủa và gel
Là giai đoạn bắt buộc của phương pháp kết tủa và gel Trong giai đoạn này
có ảnh hưởng đến sự hình thành cấu trúc và tính chất của xúc tác Ảnh hưởng của
điều kiện làm khô lên cấu trúc của dựa trên nhiều yếu tố như: phương pháp làm
khô, khối lượng, bản chất của tạp chất trong vật liệu làm khô, hàm lượng nước của
hydrogel trước khi làm khô, nhiệt độ và tốc độ loại nước, bản chất kết tủa và gel
1.5 Ứng dụng của hidrotanxit
Với những tính chất trên hidrotanxit được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh
vực khác nhau như:
1.5.1 Ứng dụng hidrotanxit làm xúc tác
Hidrotanxit có thể làm xúc tác đa cấu tử do có khả năng phân tán lớn các kim
loại đa hóa trị như Co, Ni, Fe, Do vậy, hidrotanxit được xem như là chất xúc tác
đa cấu tử Ví dụ, hidrotanxit tổng hợp Mg/Al/Ni được ứng dụng làm xúc tác cho
phản ứng refominh parafin có hơi nước Ngoài ra, các ứng dụng chủ yếu của
hidrotanxit là:
Xúc tác axit-bazơ,
Xúc tác oxy hóa-khử (phụ thuộc vào tính oxy hóa-khử của kim loại
chuyển tiếp hóa trị II, hóa trị III),
Xúc tác quang hóa,
Làm chất mang
Xúc tác platin mang trên chất mang hidrotanxit hoặc hỗn hợp oxit M1-xAlxO1+x/2 làm
chất mang cho hệ xúc tác oxi hóa pha lỏng stiren, ankylbenzen
1.5.2 Ứng dụng hidrotanxit làm chất ức chế
Hidrotanxit với cấu trúc [M1-xAlx(OH)2](CO3)x/2.nH2O sau khi nung (giải
phóng khí CO2) có thể làm chất ức chế trong các trường hợp sau:
- Sử dụng trong dược và y học như: trung hòa lượng axit trong dịch vị, tạo
phức với các dẫn xuất của axit salixilat,
- Để điều chế các hợp chất với thiết bị phản ứng loại nano có tính chọn lọc hóa
Trang 23học cao,
- Sử dụng trong kỹ thuật tách, chiết và màng lọc,
- Sử dung làm chất hấp phụ để tách đồng phân quang học, hấp phụ-giải hấp,
- Làm vật liệu lọc, thẩm thấu và màng chọn lọc ion,
- Làm vật liệu điện tử: điện cực, chất điện môi, chất điện dẫn trong pin, ắc
qui
- Vật liệu quang hóa: vật liệu phát quang, thiết bị quang học
1.5.3 Ứng dụng hidrotanxit làm chất hấp phụ và trao đổi ion
Hidrotanxit có cấu trúc lớp nên dễ trao đổi ion và có khả năng hấp phụ rất tốt
được ứng dụng trong công nghiệp và trong đời sống như: hấp phụ ion kim loại
chuyển tiếp, hấp phụ và xử lý các hợp chất mầu hữu cơ; hấp phụ và trao đổi ion kim
loại nặng… [21]
1.6 Phản ứng oxi hóa ankylbenzen
1.6.1 Phản ứng oxi hóa chọn lọc ankylbenzen
Các ankylbenzen là sản phẩm của các quá trình chế biến và chuyển hóa dầu
mỏ, chúng rất khó bị oxi hóa ở nhiệt độ thấp Thực tế cho thấy các sản phẩm oxi
hóa ankylbenzen (epoxi, ancol, andehit, xeton, axit…) là nguyên liệu quý cho các
ngành công nghiệp dược phẩm, thuốc nhuộm, hóa nông, hương liệu, mỹ phẩm, hóa
chất, chất dẻo… [11, 18, 24] Vì vậy, phản ứng oxi hóa chọn lọc ankylbenzen thành
các sản phẩm có giá trị luôn thu hút được nhiều sự quan tâm Hiện nay, đã có nhiều
công trình nghiên cứu, tìm kiếm các hệ xúc tác oxi hóa không hoàn toàn các ankyl
hydrocarbon thơm được công bố [5 - 8, 19, 23, 24- 27, 31] Tuy nhiên, cho đến nay,
xúc tác oxi hóa ankylbenzen được biết đến nhiều nhất là các hệ vật liệu chứa crôm
Ch.Subrahmanyam và cộng sự [14] tiến hành phản ứng oxi hóa pha lỏng toluen
bằng khí oxi trên hai xúc tác Cr-AlPO4 và Cr-MCM-48, kết quả cho thấy sự phân
bố sản phẩm khác nhau trên hai xúc tác nghiên cứu Với Cr-AlPO4, quá trình oxi
hóa và đeankyl hóa xảy ra đồng thời, dẫn đến sản phẩm chủ yếu là benzanđehit và
benzen cùng với một lượng đáng kể CO và CO2 (36,6%) Trong khi đó, sản phẩm
Trang 24chính của Cr-MCM-48 là benzanđehit cũng chỉ đạt 44,7% Sự tạo thành benzen là
kết quả của quá trình đeankyl hóa trên tâm axit Al3+, còn benzanđehit được tạo
thành từ phản ứng oxi hóa mạch nhánh metyllbenzen trên tâm Cr6+/Cr5+ Tuy nhiên,
độ chuyển hóa toluen trên cả hai loại xúc tác trên là khá thấp (1,4 - 2,2%) Trong
khi đó, A.Sakthivel và cộng sự [9] đạt được độ chuyển hóa và độ chọn lọc sản phẩm
cao hơn trên xúc tác Cr-MCM-41
Điều đó cho thấy cấu trúc của xúc tác và chất mang có ảnh hưởng nhất định
đến sự phân bố sản phẩm Đối với vinylbenzen, A.Sakthivel và cộng sự [9] thực
hiện phản ứng oxi hóa trên xúc tác Cr-MCM-41 và Cr-MCM-48 thu được sản phẩm
chủ yếu là axetophenon Trong trường hợp này, độ chuyển hóa vinylbenzen tăng
theo hàm lượng Cr mang trên MCM-48, nhưng độ chọn lọc sản phẩm trên xúc tác
Cr-MCM-41 là cao hơn so với Cr-MCM-48 do có sự tạo thành sản phẩm phụ Cả
hai trường hợp sau đều cho độ chọn lọc sản phẩm không cao
Nhìn chung, các xúc tác chứa Cr có xu hướng oxi hóa sâu, tạo thành hỗn
hợp sản phẩm phức tạp không mong muốn như: điol, axit cacboxylic, thậm chí CO
hoặc CO2… nên việc phân tích sản phẩm và tính toán hiệu suất phản ứng thường
gặp nhiều khó khăn [14] Do vậy, các nhà khoa học hiện nay chủ yếu tập trung
nghiên cứu các xúc tác có thể oxi hóa nhẹ ankylbenzen cho độ chọn lọc sản phẩm
mong muốn cao [9, 10] Các ion kim loại chuyển tiếp như: V, Ni, Ti, Fe, Co,
Mn… đã được sử dụng làm xúc tác cho quá trình oxi hóa chọn lọc mạch nhánh
của ankylbenzen [12] (Bảng 1.1) Trong số này, Fe-MCM-41 tỏ ra hiệu quả đối
với quá trình oxi hóa stiren bằng H2O2 và sản phẩm chính là stiren glycol, axit
benzoic [38] hoặc stiren oxit [41] Trong ba nguyên tố thuộc nhóm VIIIB ở trên
(Fe, Co, Ni) thì Co-MCM-41 cho độ chuyển hóa cao nhất đối với quá trình oxi hóa
stiren (Bảng 1.1) [38] Trong khi đó xúc tác Fe và Ni/chất mang tỏ ra kém hiệu
quả đối với phản ứng oxi hóa các ankylbenzen [41] Thực vậy, xúc tác
Ni-MCM-41 chỉ chuyển hóa 4,4% stiren thành stiren oxit mà không thể oxi hóa etylbenzen,
toluen [39]
Trang 25Bảng 1.1 Oxi hóa stiren trên các xúc tác khác nhau
Trái lại, khi Ni thay thế Mg trong mạng cấu trúc Mg-Al hidrotanxit thì hoạt
tính xúc tác Ni-Al hidrotanxit thay đổi theo chiều hướng ngược lại Suman K Jana
và cộng sự [35] nhận được độ chuyển hóa etylbenzen đạt 47% và độ chọn lọc của
Trang 26metylphenyl xeton là 99% trên xúc tác Ni-Al hidrotanxit Điều này cho thấy quá
trình oxi hóa các ankylbenzen không chỉ phụ thuộc vào bản chất của ion kim loại
chuyển tiếp mà còn ảnh hưởng của bản chất các chất mang (mạng lưới, độ
axit/bazơ, vai trò của oxi hấp phụ giữa các lớp oxit, các khuyết tật mạng…) Tương
tự như trên, Suman K Jana và các cộng sự [35] thực hiện quá trình oxi hóa
ankylbenzen trên một họ xúc tác MnO4- tẩm vào giữa các lớp Mg-Al hidrotanxit và
thu được độ chọn lọc xeton trên 95% với độ chuyển hóa ankylbenzen trong khoảng
40-50% (Bảng 1.1)
Như vậy, chất nền Mg-Al hidrotanxit đã có ảnh hưởng tích cực đến hoạt tính
oxi hóa của hệ xúc tác kim loại chuyển tiếp/hidrotanxit đối với quá trình oxi hóa
ankylbenzen
1.6.2 Oxi hóa pha lỏng stiren
Phản ứng oxi hóa stiren thường thực hiện ở pha lỏng tùy thuộc vào điều điện
tiến hành phản ứng như xúc tác, tác nhân oxi hóa sẽ tạo thành hỗn hợp các sản
phẩm khác nhau:
+ [O]
H +
O CH
Theo phản ứng trên thì sản phẩm bao gồm stiren oxit và benzandehit là
những nguyên liệu quý có rất nhiều ứng dụng trong các ngành công nghiệp như:
công nghệ thực phẩm, dược phẩm, chất màu, chất bảo vệ thực vật, Ví dụ,
benzanđehit được sử dụng làm chất trung gian trong quá trình sản xuất điều chế
phẩm màu, thuốc nhuộm (triphenyl metan), nhựa phenol benzanđehit (được sử sụng
để sản xuất chất chịu lửa, chữa cháy)
Hiện nay, benzanđehit được sản xuất từ các nguyên liệu ban đầu như: ancol
benzylic, vinylbenzen, toluen… trong đó stiren là một sản phẩm từ quá trình chế
biến dầu mỏ Những công trình đầu tiên, nghiên cứu sự oxi hoá stiren thành
benzanđehit là sử dụng xúc tác đồng thể Cu2(OH)PO4 và CoCl2, nhưng hiệu suất
chuyển hóa không cao [17] Phản ứng thực hiện trong điều kiện đồng thể nên tiêu
Trang 27tốn một lượng lớn dung môi Quá trình này luôn kèm theo công đoạn tách loại sản
phẩm phản ứng và thải ra một lượng lớn muối kim loại nặng (Co3+, Mn2+…) gây ô
nhiễm môi trường [17] Gần đây, để oxi hoá nối đôi C=C thành anđehit hoặc xeton
người ta sử dụng các xúc tác dạng nano spinel MgxFe3-xO4, peoxo vanadium,
TS-1…[17, 33] Năm 2007, Liang Nie và các đồng nghiệp đã thực hiện phản ứng oxi
hoá stiren thành benzanđehit sử dụng tác nhân oxi hoá là O2 ở 1000C, 10 atm trên hệ
xúc tác TiO2/SiO2, tác giả quan sát thấy hiệu suất phản ứng và độ chọn lọc sản
phẩm phụ thuộc rất nhiều vào diện tích bề mặt của xúc tác Độ chọn lọc có thể đạt
được tới 100%, nhưng hiệu suất còn khá khiêm tốn và chỉ thực hiện trong khoảng
thời gian ngắn (1 giờ) Khi kéo dài thời gian phản ứng đến 4 giờ thì độ chọn lọc
giảm xuống là 93,8% Nhược điểm của phản ứng là tiến hành ở áp suất và nhiệt cao
(10 atm, 1000C) nên khó kiểm soát và cho nhiều sản phẩm phụ, đặc biệt quá trình
polime hoá diễn ra nhanh [17] Sản phẩm có thể là benzanđehit, anđehit focmic,
stiren oxit, axit benzoic, phenyletilen glycol Con đường hình thành các sản phẩm
trên hiện vẫn là chủ đề đang được thảo luận Năm 2006, Sebastia J và cộng sự [36]
đề xuất con đường tạo thành sản phẩm oxi hóa stiren trên xúc tác Co(II) trao đổi với
zeolit X như sau:
Hình 1.6 Cơ chế oxi hóa stiren trên xúc tác Co(II)/zeolit X [36]
Trang 28Theo sơ đồ này, phản ứng xảy ra theo cơ chế gốc tự do và sản phẩm là:
anđehit, stiren oxit, fomalđehit nhưng không đề cập đến sự tạo thành axit benzoic,
điol hay các sản phẩm polime hóa
1.6.3 Ứng dụng của sản phẩm benzanđehit
Benzanđehit là chất lỏng không màu, sôi ở 1800C, có mùi thơm hắc đặc
trưng (mùi dầu hạnh nhân) Benzanđehit là một hợp chất có ứng dụng rất lớn:
- Nó được coi như là chất trung gian trong quá trình tạo ra các sản phẩm
thơm dùng làm nước hoa hoặc dùng trong thực phẩm: Xinamanđehit và dẫn xuất
- Benzanđehit còn là chất trung gian của quá trình tạo ra các rượu thơm, axit
benzoic và các sản phẩm ứng dụng trong nhiếp ảnh
Benzanđehit có vai trò quan trọng trong công nghiệp dược phẩm, nó là
nguyên liệu đầu cho quá trình điều chế các sản phẩm thuốc như:
- Clorampheniol (C11H12O2N2Cl2): Thuốc kháng sinh không màu, có trong
thuốc nhỏ mắt
- Epheđrin (C10H15O): Có trong thuốc nhỏ mũi Tác động lên cuống phổi,
huyết áp, mạch máu, hệ thần kinh trung ương
- Ampicilin: Thuốc kháng sinh mạnh, chữa được nhiều bệnh
Benzanđehit cũng được dùng làm nguyên liệu để sản xuất các loại thuốc trừ
sâu (đibenzoquat)
Ngoài ra, benzanđehit còn được sử dụng làm chất trung gian trong quá trình
sản xuất điều chế phẩm màu, thuốc nhuộm (triphenyl metan), nhựa phenol
benzanđehit (được sử sụng để sản xuất chất chịu lửa, chữa cháy)
Nhờ những tính chất lớp của hidrotanxit và những ứng dụng to lớn mà phản
ứng oxi hóa pha lỏng stiren đem lại đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các
nhà khoa học Trong nghiên cứu này, chúng tôi điều chế hệ xúc tác hidrotanxit
Trang 29Chương 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM 2.1 Điều chế xúc tác
Như đã trình bày ở trên, hidrotanxit có nhiều ứng dụng trong lĩnh vực hấp
phụ xúc tác Trong nghiên cứu này, chúng tôi điều chế một số mẫu hidrotanxit chứa
Mg, Al, Co và bước đầu nghiên cứu ứng dụng làm xúc tác oxi hóa pha lỏng stiren
2.1.1 Hoá chất
- Magie nitrat (Mg(NO3)2.6H2O)
- Coban nitrat (Co(NO3)2 6H2O)
- Nhôm nitrat (Al(NO3)3.9H2O)
- Natri cacbonat (Na2CO3)
- Natri hydroxit (NaOH)
2.1.2 Quy trình tổng hợp
Với hệ xúc tác hidrotanxit Mg0,7-xCoxAl0,3(OH)2(CO3)0,15.nH2O chúng tôi tiến
hành thực nghiệm ở 4 mẫu khác nhau (với x = 0; 0,1; 0,2; 0,3) tương ứng với 4 mẫu
xúc tác sau:
- Mẫu 0: Mg0,7Al0,3(OH)2(CO3)0,15.mH2O
- Mẫu 1: Mg0,6Co0,1Al0,3(OH)2(CO3)0,15.mH2O
- Mẫu 2: Mg0,5Co0,2Al0,3(OH)2(CO3)0,15.mH2O
- Mẫu 3: Mg0,4Co0,3Al0,3(OH)2(CO3)0,15.mH2O
Trang 30Cách tiến hành:
Dung dịch A: Hòa tan lượng cân (Mg(NO3)2.6H2O, Al(NO3)3.9H2O,
Co(NO3)2.6H2O) ở 4 mẫu riêng biệt trong 150 ml nước cất
Dung dịch B: Hòa tan lượng cân NaOH ở 4 mẫu riêng biệt trong 150 ml nước cất
Dung dịch C: Hòa tan lượng cân Na2CO3 ở 4 mẫu riêng biệt trong 25 ml nước cất
Mẫu 0 Cho từ từ 150 (ml) dung dịch A từ buret thứ nhất và 150 (ml) dung dịch B
từ buret thứ hai vào cốc thủy tinh chứa 25 ml dung dịch C Điều chỉnh pH của hỗn
hợp trong cốc thủy tinh trong khoảng 9.5±0.5 bằng dung dịch B (dung dịch NaOH)
Hỗn hợp được khuấy liên tục ở 600C trong 24 giờ Lọc và rửa kết tủa bằng nước
nóng, thu được chất rắn rồi đem sấy khô ở 800
C, nghiền mịn thu được xúc tác hidrotanxit Mg0,7Al0,3(OH)2(CO3)0,15.mH2O
Mẫu 1 Làm tương tự mẫu 0 ta thu được xúc tác hidrotanxit
2.2 Nghiên cứu đặc trưng xúc tác bằng các phương pháp vật lý
Xúc tác hidrotanxit Mg-CoAl-O đã được chúng tôi tổng hợp và nghiên cứu
các đặc trưng vật lý bằng các phương pháp như: nhiễu xạ tia X (XRD), kính hiển vi
điện tử truyền qua (SEM), Phương pháp hiển vi điê ̣n tử truyền qua phân giải cao
(TEM), đẳng nhiệt hấp phu ̣ – giải hấp phụ (BET), phổ hồng ngoại (IR)
2.2.1 Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD)
Đây là phương pháp quan trọng nhất để xác định cấu trúc và phân tích
thành phần pha của xúc tác Ta có thể xác định được độ lớn và hình dạng của tế
bào cơ sở dựa vào các thông số về tính chất đối xứng của tinh thể, các trục tinh
thể, kích thước các cạnh của tế bào và góc giữa các cạnh của ô cơ sở thu được từ
Trang 31phương pháp XRD Từ đó có thể biết được hệ tinh thể, số nguyên tử trong mỗi tế
bào và nhóm không gian Vì vậy, có thể tìm ra cách bố trí các nguyên tử trong
một tế cơ sở và khoảng cách giữa các nguyên tử nút mạng để từ đó xác định cấu
trúc vật liệu xúc tác
Theo lý thuyết tinh thể, các tinh thể được cấu thành bởi các nguyên tử hoặc
ion được sắp xếp đều đặn trong không gian theo một quy luật xác định Mỗi mặt
mạng được coi như lớp phản xạ tia X khi chúng chiếu vào Do các mặt mạng song
song nên khi xét hai mặt I và II ta nhận thấy khoảng cách d giữa hai mặt mạng có
Hình 2.1 Hình các mặt phản xạ trong nhiễu xạ tia X
Khi chiếu chùm tia X vào hai mặt đó với góc , để các tia phản xạ giao thoa với
nhau thì hiệu quang trình của hai tia 11’ và 22’ phải bằng số nguyên lần bước sóng
(phương trình Bragg): 2dsin = n
Trong đó:
d: khoảng cách giữa các mặt trong mạng tinh thể
: độ dài bước sóng của tia X
: góc tới của tia bức xạ
n: bậc phản xạ
Thường thì lấy n =1, ta có: 2dsin =
Trang 32Với mỗi nguồn tia X có độ dài bước sóng nhất định, khi thay đổi ta được
giá trị d tương ứng, đặc trưng cho mỗi loại vật liệu So sánh với giá trị d chuẩn sẽ
xác định được mạng tinh thể của vật liệu nghiên cứu [2]
Có hai phương pháp sử dụng tia X để nghiên cứu cấu trúc tinh thể:
- Phương pháp bột: mẫu nghiên cứu ở dạng bột
- Phương pháp đơn tinh thể: mẫu gồm những đơn tinh thể có kích thước đủ lớn
Mặc dù vậy, phương pháp XRD cũng có một số nhược điểm:
- Không phát hiện được các chất có hàm lượng nhỏ
- Tuỳ theo bản chất và mạng lưới không gian mà độ nhạy phân tích định tính
dao động trong khoảng 1-30%
Chúng tôi đã tiến hành ghi giản đồ XRD các mẫu xúc tác trên máy
D8ADVANCE, tại Khoa Hóa học – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học
Quốc gia Hà Nội, ống phát tia CuK (=1,54056
0
A), cường độ dòng ống phát 40
mA, góc quét 2 từ 100 và 200 đến 700, tốc độ góc quét 0,20/phút
2.2.2 Phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM)
Nguyên lý hoạt động của phương pháp này dựa trên việc sử dụng tia điện tử
để tạo ảnh mẫu nghiên cứu Chùm tia điện tử được tạo ra từ catot qua hai tụ quang
điện tử sẽ được hội tụ lên mẫu nghiên cứu Khi chùm tia điện tử đập vào mẫu sẽ
phát ra các tia điện tử truyền qua Tia truyền qua được dẫn qua điện thế gia tốc rồi
vào phần thu và biến đổi thành tín hiệu ánh sáng, tín hiệu được khuếch đại, đưa vào
mạng lưới điều khiển tạo độ sáng tối trên màn ảnh (hình 2.2) Mỗi điểm trên mẫu
cho một điểm tương ứng trên màn Độ sáng tối trên màn ảnh phụ thuộc vào lượng
điện tử phát ra tới bộ thu và phụ thuộc vào hình dạng bề mặt mẫu nghiên cứu
Phương pháp SEM cho phép xác định hình thể bề mặt của xúc tác rắn, dạng tinh
thể, dạng hạt, kích thước hạt…