Từ thực tế trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cún “Nghiên CÚĨI sự biến động thành phần loài Ve giáp thuộc bộ Oribatida Acari: Oribatida ở đất trồng cây cà chua tại cánh đồng làng Trun
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC s u PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
===soCQo3===
N G U Y Ễ N TH Ị H Ò N G LIÊN
NGHIÊN CÚXJ SỤ BIÉN ĐỘNG THÀNH PHÀN LOÀI
VE GIÁP THUỘC B ộ ORIBATIDA (ACARI: ORIBATIDA) Ở ĐẤT TRỒNG CÂY CÀ CHUA TẠI CÁNH ĐỒNG LÀNG TRUNG HẬU - XÃ TIÈN PHONG
HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHÓ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TÓT N G H IỆP ĐẠI HỌC• • • •
C h u yên n gành: Sin h th ái học
HÀ NỘI, 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
N G U Y Ê N THỊ H Ô N G LIÊN
NGHIÊN CỨU S ự BIÉN ĐỘNG THÀNH PHÀN LOÀI
VE GIÁP THUỘC B ộ ORIBATIDA (ACARI:
ORIBATIDA) Ở ĐẤT TRỒNG CÂY CÀ CHUA TẠI CÁNH ĐỒNG LÀNG TRUNG HẬU - XÃ TIÈN PHONG
HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHÓ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT N G H IỆP ĐẠI HỌC• • • •
C h u yên n gành: Sinh thái học
N gười hướng dẫn khoa học:
TS N G U Y Ễ N TH Ị TH U ANH
TS Đ À O D U Y TR IN H
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn, em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu của các đơn vị và cá nhân Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Các thầy cô trong khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2 đã nhiệt tình giảng dạy
Sự hỗ trợ khoa học và tạo điều kiện làm việc của các cán bộ của bộ môn Động vật học, Ban chủ nhiệm khoa Sinh - KTNN
Ban lãnh đạo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, tập thế cán bộ phòng Sinh thái môi trường đất đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em được học tập và hoàn thành luận văn của mình
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Thu Anh và TS.Đào Duy Trinh đã trục tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo trong
suốt quá trình thực hiện khóa luận
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn ỉ
Vĩnh phúc, ngày 4 thảng 05 năm 2015
Sinh viên
NGUYỄN THỊ HỒNG LIÊN
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi trình bày trong khóa luận là kết
quả nghiên cứu của bản thân dưới sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Thị Thu Anh và TS Đào Duy Trinh.
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cún trong khóa luận này
Sinh viên
NGUYỄN THỊ HÒNG LIÊN
Trang 5DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Số lượng mẫu đất thu theo các giai đoạn phát triến của
cây cà chua tại khu vực nghiên cứu 9Bảng 3.1 Thành phần loài và phân bố của Ve giáp ở đất trồng
cây cà chua, cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện
Mê Linh, thành phố Hà Nội 14Bảng 3.2 Thành phần phân loại học của Ve giáp ở đất trồng cây
cà chua, cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê
Linh, thành phố Hà Nội 18Bảng 3.3 Danh sách họ, giống, loài Ve giáp phân bố theo độ sâu
ở đất trồng cây cà chua, cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền
Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 19Bảng 3.4 Một số chỉ số định lượng của Ve giáp theo tầng đất ở
đất trồng cây cà chua, cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền
Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 23Bảng 3.5 Các loài Ve giáp un thế ở đất trồng cây cà chua, cánh
đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành
phố Hà Nội 25
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 3.1 Cấu trúc ưu thế của quần xã Ve giáp ở đất trồng cây cà
chua, cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh,
thành phố Hà Nội 26
Trang 8MỤC LỤC
MỞ Đ Ầ U 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nội dung nghiên cú n 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giớ i 3
1.2 Tinh hình nghiên cún Ve giáp (Acari: Oribatida) ở Việt Nam 4
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIẺM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚXJ 8
2.1 Đối tượng nghiên cứu 8
2.2 Thời gian nghiên c ú n 8
2.3 Địa điểm nghiên cứ u 8
2.4 Phương pháp nghiên cún 9
2.4.1 Ngoài thực đ ịa 9
2.4.2 Trong phòng thí nghiệm 10
2.4.3 Xử lí số liệu 11
2.5 Vài nét khái quát về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên c ú n 12
2.5.1 Vị trí địa lý, địa hình 12
2.5.2 Khí hậu, thủy v ăn 13
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 14
3.1 Đa dạng thành phần loài Ve giáp ở đất trồng cây cà chua tại cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà N ộ i 14
3.1.1 Thành phần loài Ve giáp ở đất trồng cây cà chua tại cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà N ộ i 14
3.1.2 Thành phần phân loại học của Vc giáp ở đất trồng cây cà chua tại cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà N ộ i 17
Trang 93.1.3 Đặc điểm phân bố của Ve giáp theo độ sâu ở đất trồng cây cà chua tại cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
19
3.2 Một số chỉ số định lượng của Ve giáp ở đất trồng cây cà chua tại cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 23
3.2.1 Số lượng lo ài 23
3.2.2.Số cá thể 24
3.2.3 Chỉ số đa dạng loài H ’ 24
3.2.4 Chỉ số đồng đ ề u J ’ 24
3.3 Các loài Ve giáp ưu thế ở đất trồng cây cà chua tại cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà N ộ i 24
KÉT LUẬN VÀ KIẾN N G H Ị 27
TÀI LIỆU THAM K H Ả O 28
Trang 10M Ở ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cà chua - Lycopersỉcon esculentum Mill., thuộc họ Cà - Solanaceae Cà
chua thuộc họ cây Bạch Anh, các loại cây trong họ này thường phát triển từ 1 đến 3 mét chiều cao Cà chua là một loại rau quả dùng làm thực phẩm Quả ban đầu có màu xanh, chín ngả màu từ vàng đến đỏ Cà chua có vị hơi chua
và là thực phẩm bổ dưỡng, giàu vitamin c và A, đặc biệt là giàu lycopene tốt cho sức khỏe
Cà chua được phát triển trên toàn thế giới do sự tăng trưởng tối iru của
nó trong điều kiện tăng trưởng khác nhau Các loại cà chua được trồng trọt phổ biến nhất là loại quả đường kính khoảng 5cm - 6cm Hầu hết các giống đều cho ra trái màu đỏ, nhung một số giống cho quả vàng, cam, hồng, tím, đen hoặc trắng
Trong cà chua có chứa rất nhiều chất dinh dưỡng có lợi cho cơ thể như carotene, lycopene, vitamin, kali và aminoacid Tất cả những chất này đều rất
có lợi cho con người Đặc biệt các vitamin B, vitamin c và beta carotene giúp chống lại quá trình oxy hóa của cơ thể, giảm thiểu nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch và ung thư
Môi trường đất là môi trường sống rất đặc thù, với cấu trúc phức tạp, trong đó chứa cả một thế giới sinh vật vô cùng đa dạng và phong phú Nhóm động vật đất chiếm hơn 90% tổng sinh lượng hệ động vật ở cạn và hơn 50% tổng số loài động vật sống trên trái đất
Trong số các loài động vật sống trong đất, nhóm động vật chân khóp bé (Microathropoda), với kích thước cơ thể khoảng 0,1 mm - 0,2mm đến 2,0mm
- 3,0mm thường chiếm ưu thế về số lượng Hai đại diện chính của nhóm này
là Ve giáp (Acari) và Bọ nhảy (Collembola), trong đó ve giáp là loài có số lượng chiếm ưu thế Ve giáp là loài có số lượng cá thể phong phú, dễ thu
Trang 11lượm, dễ nhận dạng, lại rất ăn tạp, mật độ quần thể lớn và nhạy cảm với những biến đổi của môi trường sống.
Xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội là vùng đất được hình thành trên nền phù sa cổ, nền đất bạc màu do đó thích hợp với trồng màu và đặc biệt là trồng cây cà chua Cho đến nay, các nghiên cứu về Ve giáp chủ yếu ở hệ sinh thái rùng, còn ở hệ sinh thái nông nghiệp thì chưa được nghiên cứu nhiều
Từ thực tế trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cún “Nghiên CÚĨI sự biến động thành phần loài Ve giáp thuộc bộ Oribatida (Acari: Oribatida) ở đất trồng cây cà chua tại cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Lỉnh, thành p h ố Hà N ộ i”.
hệ sinh thái đất
3 Nội dung nghiên cứu
Đa dạng thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) ở đất trồng cà chua.Đặc điểm phân bố, biến động số lượng của Oribatida theo độ sâu tầng đất ở đất trồng cà chua
Phân tích một số chỉ số định lượng của Ve giáp, sự tương đồng thành phần loài ve giáp ở đất trồng cà chua
Xác định các loài Ve giáp un thế ở đất trồng cà chua
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giói
Trên thế giới, các nhóm động vật không xương sống nói chung và Oribatida nói riêng đã được nghiên cứu từ rất lâu, cách đây hàng trăm năm Ở Đức với công trình của Hermann J.F năm 1804; ở Ý là công trình của Canestrini G & Fanzago F năm 1876, 1877; Tuy nhiên, các công trình nghiên cún về Oribatida chỉ phát triển mạnh trong thời gian gần đây
Khu hệ ve giáp trên thế giới hiện đã mô tả khoảng 10000 loài và thực tế lên đến 100000 loài Theo Balogh J và Balogh B (1992), số lượng giống ve giáp trên thế giới đã tăng từ 700 giống đến 1000 giống chỉ trong 20 năm gần đây [11]
Trong các công trình nghiên cứu về Acari trước đây, các công trình của Berlese đóng một vai trò quan trọng và có một vị trí đặc biệt Ông là một trong những người quan tâm đến Ve giáp ở Châu Âu sớm nhất Chỉ từ năm
1881 đến 1923, ông đứng tên một mình, hoặc là đồng tác giả của 73 công trình nghiên cứu về Acari, Micoarthropoda, Scorpionide Trong đó ông đã mô
tả khoảng 120 loài Oribatida Tuy nhiên tất cả những loài do Berlese mô tả (hầu hết là loài mới cho khoa học) đều viết bằng tiếng la tinh rất ngắn gọn, chỉ gồm một vài nét gạch đầu dòng Vì thế sau này, các loài do Berlese mô tả đã được Hammen (2009) tu chỉnh, sắp xếp lại dựa trên hệ thống phân loại của Grandjean (1954) và công bố trong công trình “ Berlese’s primitive Oribatida mites” (Hammen L Van Der, 2009) (Zipende Zoo.com)
Ở Canada, khu hệ ve giáp là một trong những khu hệ được nghiên cứu khá kỹ Theo Behan - Pelletier et al., 2000, mặc dù các dẫn liệu về sinh thái, phân bố của chúng có nhiều, nhung về khu hệ, số loài được biết chỉ chiếm 1/4
số loài có trong thực tế [12]
Trang 13Còn ở Thụy Sĩ, trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác, cùng với kết quả nghiên cún của riêng mình Schatz, 2002 đã công bố và tổng họp bản mục lục các loài ve giáp đã biết ở khu vực Trung Châu Mỹ Danh mục này gồm 543 loài ve giáp thuộc 87 họ Ngoài ra, ông còn liệt kê số lượng
ve giáp đã thu thập ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác thuộc Trung Mĩ như Cuba (225 loài), Jamaica (28 loài) Hiện tại 498 loài Ve giáp đã được ghi nhận (gồm 300 loài đã xác định tên, 198 loài còn ở dạng Sp.) (Schatz, 2002) [13]
Ở Nga, nghiên cún về Ve giáp phát triển mạnh từ những năm 50 của thế
kỷ 20 Cho đến nay đã ghi nhận được 300 loài ve giáp ở tất cả các hệ sinh thái, riêng khu hệ Oribatida sống trên cây cũng được đặc biệt đến nghiên cứu
từ mấy chục năm (Ermilov S.G., et al., 2007)
Năm 2004, Karasawa đã nghiên cún cấu trúc quần xã Oribatida ở đất treo và các nhân tố hữu sinh, vô sinh gây nên sự đa dạng của chúng Theo tác giả, Oribatida là một trong những nhóm Chân khớp chiếm ưu thế về số lượng trong đất treo Từ sinh cảnh này thu được không ít hon 50 loài Độ đa dạng loài Oribatida ở đất treo có thể thấp hơn so với khu hệ Oribatida ở đất rừng (Karasawa, 2004) [14]
Nghiên cún về sinh học và sinh thái học của Oribatida trên thế giới hiện nghiên cứu về: vai trò của Oribatida trong sự phân hủy và chu trình dinh dưỡng, về quy luật và các yếu tố phát tán Oribatida, nghiên cún về môi trường sống, về sự đa dạng và phân bố của Oribatida trên toàn cầu
1.2 Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) ở Việt Nam
Ở Việt Nam, động vật chân khớp bé ở đất đã được nghiên cứu từ những năm 30 của thế kỷ XX Ban đầu là các nghiên cứu lẻ tẻ của các tác giả nước ngoài kết hợp nghiên cún cùng các nhóm sinh vật khác
Trang 14Năm 1967, lần đầu tiên trong công trình “New Oribatid from Viet Nam”, hai tác giả người Hungari là Balogh J và Mahunka s đã giới thiệu khu hệ, danh pháp học và đặc điếm phân bố của 33 loài Ve giáp, trong đó đã mô tả 29 loài, 4 giống mới cho khoa học [15].
Từ sau năm 1975, các tác giả trong nước bắt đầu đã tiến hành nghiên cứu độc lập về Oribatida Đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cún của tác giả
Vũ Quang Mạnh về nhóm Chân khóp bé (Microarthropoda) ở đất Cà Mau và
Từ Liêm năm 1980, 1984 [1]
Vũ Quang Mạnh, Mara Jeleva, 1987 đã giới thiệu đặc điểm phân bố và danh pháp phân loại học của 11 loài mới cho khu hệ Oribatida Việt Nam và 1 loài mới cho khoa học [2]
Nghiên cún khu hệ Oribatida ở Việt Nam của Mahunka, 1988 đã xác định 15 loài mới cho khoa học, trong đó có một số loài mới thu từ mẫu đất vùng Tam Đảo [16]
Vũ Quang Mạnh, Cao Văn Thuật, 1990 xác định được 24 loài Oribatida
ở vùng đồi núi đông bắc Việt Nam khi tiến hành nghiên cứu cấu trúc định lượng của nhóm Microarthropoda ở 7 kiểu sinh thái, ở 5 dải độ cao khí hậu và
3 loại đất Theo 2 tác giả này, trong nhóm Microarthropoda, Oribatida luôn chiếm số lượng chủ yếu từ 70 - 80% tổng số lượng, còn nhóm Collemboda chỉ chiếm 10% [3]
Vũ Quang Mạnh, Vương Thị Hòa, 1995 đã giới thiệu danh sách 146 loài
và phân loài Oribatida ở Việt Nam và phân tích đặc điếm thành phần loài của chúng [4]
Năm 1996, Vũ Quang Mạnh, Lại Văn Tạc, Nguyễn Văn Sức đã nghiên cứu quần xã động vật chân khớp bé (Microarthropoda) và động vật đất cỡ trung bình (Mesofauna) liên quan đến việc sử dụng thuốc trừ cỏ Sofit cho lúa [5]
Trang 15Năm 2006, Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh công bố 30 loài Oribatida được phát hiện ở Vườn quốc gia Xuân Sơn - Phú Thọ Công bố Oribatida họ Oppidae Grandjean, 1954; phân họ Oppindae Grandjean, 1951 và Mulltioppiinae Balogh, 1938 ở Việt Nam (Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh, 2006) [6].
Năm 2010, các tác giả Đào Duy Trinh, Trịnh Thị Thu, Vũ Quang Mạnh
đã đưa ra các dẫn liệu về thành phần loài, đặc điểm phân bố và địa động vật khu hệ Oribatida ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ Ghi nhận được 103 loài thuộc 48 giống, 28 họ, số loài giảm dần theo độ cao và theo thứ tự: rùng
tự nhiên —> trảng cỏ cây bụi —► rùng nhân tác —> đất canh tác —> vườn quanh nhà Đặc điểm phân bố và địa động vật khu hệ Oribatida ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn thể hiện rõ yếu tố Ấn Độ - Mã Lai [7]
Năm 2012, các tác giả Đào Duy Trinh,Trần Thị Ngà, Hoàng Thị Hiền, Nguyễn Thị Thảo, Hà Trọng Hiến đã nghiên cứu sự tương đồng thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) tại khu công nghiệp Tân Trường - Hải Dương
và phụ cận nhằm giúp xác định những loài gần gũi nhau và có những loài chỉ xuất hiện ở một sinh cảnh.Từ đó giải thích nguyên nhân, ảnh hưởng tại sao phải dựa vào nhiều yếu tố sinh thái học của khu vực nghiên cún [8]
Năm 2012, các tác giả Đào Duy Trinh, Vũ Quang Mạnh đã nghiên cứu cấu trúc quần xã Oribatida theo mùa ở hệ sinh thái đất rừng Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ số loài giảm đi theo thứ tự mùa khô —> mùa mưa thể hiện rõ nhất ở sinh cảnh rùng tự nhiên [9]
Các nghiên cứu hầu như tập trung tìm hiểu thành phần loài và được tiến hành nhiều ở lãnh thổ phía bắc của đất nước, cũng đã có một vài nghiên cứu ở miền Nam và khu vực Tây Nguyên nhung chưa thấy có công trình nghiên cứu nào về Oribatida ở khu vực Bắc miền Trung và chủ yếu là các nghiên cún trên
hệ sinh thái rừng còn ở hệ sinh thái nông nghiệp thì chưa được nghiên cứu
Trang 16nhiều Đe tìm hiểu thấu đáo vai trò của nhóm ve giáp sống trong môi trường đất và để đưa nhóm này ứng dụng vào lĩnh vực khoa học và thực tiễn thì việc nghiên cún ve giáp cần được đấy mạnh nghiên cún trong những năm tiếp theo.
Trang 17CHƯƠNG 2 ĐÓI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cún
Các loài Ve giáp (Acari: Oribatida) thuộc ngành Chân khớp (Arthropoda), phân ngành Chân khớp có kìm (Chelicerata), lớp Hình nhện (Arachnida), phân lớp Ve bét (Acari)
2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015, tổng số mẫu là 50 mẫu
2.3 Địa điếm nghiên cứu
Tại ruộng trồng cà chua trên cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
Mầu thu được từ thực địa được đưa về phòng thí nghiệm Động vật học tại trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 để xử lý
Trang 18Bảng 2.1 Số lượng mẫu đất thu theo các giai đoạn phát triển của cây
cà chua tại khu vực nghiên cún
Đợt thu
Tầng đất
1 15 ngày sau khi trông (cây được 4 - 5 lá) 5 5
2 25 ngày sau khi trông (cây băt đâu ra hoa) 5 5
3 35 ngày sau khi trông (cây băt đâu tạo quả) 5 5
4 50 ngày sau khi trông (cây đã đậu trái đêu) 5 5
5 90 ngày sau khi trồng (cây sắp thu hoạch) 5 5
50
Chú thích:
A I: Tầng đất có độ sâu từ Ocm - 1 Ocm
A2: Tầng đất có độ sâu tù’ lOcm - 20cm
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4,1 Ngoài thực địa
Trên thực địa, mẫu đất định lượng thu theo phương pháp chuẩn Ghilarov, 1975 Trong suốt quá trình phát triển của cây cà chua, tôi tiến hành lấy 5 đợt Mỗi đợt lấy 10 mẫu (5 mẫu tầng AI từ Ocm - lOcm và 5 mẫu tầng A2 từ lOcm - 20cm); kích thước của mỗi mẫu là 5cm X 5cm X lOcm Diện tích bề mặt tương ứng là 25cm2, trên nền đất trồng cà chua Các mẫu định lượng của đất được thu lặp lại 5 lần ở mỗi tầng và ở mỗi điếm nghiên cứu Tổng số mẫu thu được là 50 mẫu
Trang 19Tất cả các mẫu sau khi thu ở thực địa đều được cho ngay vào túi nilon riêng, có ghi các thông số cần thiết (ngày, tháng lấy mẫu, địa điểm, tầng phân bố ) rồi buộc chặt lại và để vào thùng vận chuyến.
2.4.2 Trong phòng thí nghiệm
Mầu sau khi lấy ở thực địa được đưa về phòng thí nghiệm động vật học của trường để xử lý Chúng tôi tiến hành tách nhóm động vật chân khớp bé theo phương pháp phễu lọc “Berlese - Tullgren” Nguyên lý chung của phương pháp là dựa vào tập tính hướng sáng âm và chui sâu xuống đất của Ve giáp khi các lớp đất trên bị khô dần [10]
Chúng tôi sử dụng rây lọc tròn, có kích thước mắt lưới 2mm - 3mm và phiễu lọc bằng thủy tinh có đường kính 20cm Các mẫu đất được bẻ nhỏ, rải đều lên 1'ây lọc, sau đó đặt rây lọc chứa mẫu đất vào phễu lọc đặt trên giá, ở miệng phiễu có ống thu đựng dung dịch formol 4%
Mầu được tách lọc trong điều kiện phòng thí nghiệm 25°c - 30°c, 7 ngày đêm 1'ồi tiến hành thu ống nghiệm dưới đáy phễu đã được lọc Dùng nút bông bịt kín ống nghiệm và lấy dây chun bó các ống nghiệm của cùng một tầng tại một địa điểm lại với nhau, sau đó cho vào lọ nhựa có chứa dung dịch formon 4% để giữ mẫu không bị hỏng
* Xử lý, phân tích Orỉbatỉda
Đặt giấy lọc có chia ô lên phễu lọc, đổ dung dịch có chứa trong ống nghiệm lên tờ giấy lọc đó, tráng lại nhiều lần bằng nước cất để tránh sót mẫu Đen lúc đã lọc hết dung dịch trong giấy lọc thì đặt giấy lọc ra đĩa Petri và tiến hành phân tích dưới kính hiển vi Khi soi mẫu dưới kính hiển vi, dùng kim phân tích nhặt từng cá thể động vật để tập trung tại một góc của đĩa Petri, nhận dạng và ghi số liệu từng nhóm vào sổ bảo tàng Tất cả các mẫu phân tích sau khi được TS Nguyễn Thị Thu Anh, TS Đào Duy Trinh kiểm tra sẽ được đưa vào ống nghiệm nhỏ có chứa dung dịch bảo quản, bên trong có nhãn ghi
Trang 20địa điểm, thời gian, sinh cảnh, tầng đất rồi nút lại bằng bông không thấm nước Đe giữ mẫu được lâu và không bị giòn, nát cần bổ sung vài giọt dung dịch định hình Glyxerin.
* Định loại Oribatida
Trước khi định loại cần phải tẩy màu, làm trong vỏ kitin cứng Quá trình này diễn ra trong vài ngày hoặc lâu hơn nên cần nhặt Oribatida riêng ra một lam kính lõm Đưa lam kính lõm quan sát dưới kính hiển vi Dùng kim chuyển từng Oribatida vào chỗ lõm dưới lamen để quan sát các tư thế khác nhau theo hướng lưng bụng và ngược lại
Sau khi quan sát, định loại xong, tất cả Oribatida đã được định tên cùng sinh cảnh được chuyển vào ống nghiệm (5 X 40)mm có chứa dung dịch formon 4%, nút chặt bằng bông đế bảo quản lâu dài Các loài trong một giống được sắp xếp theo vần a, b, c Định loại tên loài theo các tài liệu phân loại, các khóa định loại của tác giả: Vũ Quang Mạnh, 2007
na: số lượng cá thể của loài a
n: tổng số cá thể của toàn bộ mẫu theo sinh cảnh hay địa điểm Theo Ermilov và Chistyakov, 2007: loài Oribatida ưu thế là nhũng loài
có độ ưu thế đạt giá trị 5% trở lên