1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ thương mại quốc tế Việt Nam – Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho thương mại Việt Nam

48 393 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 84,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng “núi liền núi, sông liền sông”. Về mặt lịch sử, dân tộc và văn hóa, giữa hai nước Việt Trung cũng có những nét tương đồng, cùng trải qua những thăng thầm trong lịch sử. Tất cả những điều kiện lịch sử và tự nhiên đó đã khiến cho nhân dân hai nước từ rất sớm đã gắn bó với nhau tạo thành mối quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời. Trên cơ sở truền thống đó, mối quan hệ kinh tế giữa hai nước đã được hình thành và phát triển qua các thời kì lịch sử khác nhau từ cổ trung đại cho đến cận hiện đại và bây giờ là thời kì hiện đại. Quan hệ ViệtTrung trong gần 2200 năm lịch sử của nó đã trải qua nhiều thăng trầm và biến đổi. Có lúc hai nước là “anh em” những cũng có lúc là “đối phương” của nhau. Mối quan hệ đó, có thời kì tưởng chừng đã “đóng băng” nhưng rồi sau đó cả hai nước lại có thể trở lại mối quan hệ “giao thương hữu hảo”.Việt Nam và Trung Quốc có đường biên giới chung trên đất liền dài chừng 1350 km chạy qua 6 tỉnh (31 huyện) của Việt Nam và 2 tỉnh gồm 6 thành phố (14 huyện) của Trung Quốc. Trên đường biên giời chung đó có tổng cộng 25 cửa khẩu (4 cặp cửa khẩu quốc tế, 7 cửa khẩu quốc gia và 14 cửa khẩu tiểu ngạch). Điều này tạo điều kiện cho quan hệ hai nước nòi chung và quan hệ thương mại nói riêng. Quan hệ buôn bán giữa hai nước qua biên giời đã được hình thành từ lâu, nhưng thật sự phát triển mới 50 năm, đặc biệt là 10 năm sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ. Tuy có xảy ra một số “tranh chấp” gần đây giữa hai nước nhưng có thể thấy rằng quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước nói chung và quan hệ mua bán qua biên giới ViệtTrung nói riêng vẫn còn nhiều tiềm năng để phát triển hơn nữa. Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu cẩn thận và sâu sắc về mối quan hệ hai nước cũng như triển vọng hợp tác trong những năm tới là một yêu cầu cần thiết. Xuất phát từ thực tế đó, trên cơ sở hệ thống lý luận đã được học, cùng sợ giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Thi Xuân Hương, tôi chọn đề tài “Quan hệ thương mại quốc tế Việt Nam – Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho thương mại Việt Nam” với mong muốn giúp mọi người phần nào đó hiểu được quan hệ chặt chẽ về kinh tế thương mại giữa hai nước. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm hệ thống hóa những kiến thức chung nhât về quan hệ thương mại quốc tế Việt Nam – Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay, đồng thời cũng nêu lên nhưng vấn đề cần đặt ra cho thương mại Việt Nam. Từ đó, tôi chia đề tài ra làm hai phần chính:Chương 1: Quan hệ thương mại quốc tế giữa các quốc gia và xu hướng phát triển quan hệ thương mại trên thế giới.Chương 2: Thực trạng quan hệ thương mại ViệtTrung và những vấn đề đặt ra cho thương mại Việt Nam.

Trang 1

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

WTO Tổ chức thương mại thế giới World Trade OrganizationCAFTA,

Kim ngạch xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of

Southeast Asian Nations)

DOC Tuyên bố của các bên về ứng xử trên Biển Đông

COC Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông (Code of Conduct)

TPP Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

EPC gói thầu xây lắp thực hiện theo phương thức chìa khoá trao tay

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng “núi liền núi, sông liềnsông” Về mặt lịch sử, dân tộc và văn hóa, giữa hai nước Việt - Trung cũng cónhững nét tương đồng, cùng trải qua những thăng thầm trong lịch sử Tất cảnhững điều kiện lịch sử và tự nhiên đó đã khiến cho nhân dân hai nước từ rấtsớm đã gắn bó với nhau tạo thành mối quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời.Trên cơ sở truền thống đó, mối quan hệ kinh tế giữa hai nước đã được hìnhthành và phát triển qua các thời kì lịch sử khác nhau từ cổ trung đại cho đến cậnhiện đại và bây giờ là thời kì hiện đại Quan hệ Việt-Trung trong gần 2200 nămlịch sử của nó đã trải qua nhiều thăng trầm và biến đổi Có lúc hai nước là “anhem” những cũng có lúc là “đối phương” của nhau Mối quan hệ đó, có thời kìtưởng chừng đã “đóng băng” nhưng rồi sau đó cả hai nước lại có thể trở lại mốiquan hệ “giao thương hữu hảo”

Việt Nam và Trung Quốc có đường biên giới chung trên đất liền dàichừng 1350 km chạy qua 6 tỉnh (31 huyện) của Việt Nam và 2 tỉnh gồm 6 thànhphố (14 huyện) của Trung Quốc Trên đường biên giời chung đó có tổng cộng

25 cửa khẩu (4 cặp cửa khẩu quốc tế, 7 cửa khẩu quốc gia và 14 cửa khẩu tiểungạch) Điều này tạo điều kiện cho quan hệ hai nước nòi chung và quan hệthương mại nói riêng Quan hệ buôn bán giữa hai nước qua biên giời đã đượchình thành từ lâu, nhưng thật sự phát triển mới 50 năm, đặc biệt là 10 năm saukhi hai nước bình thường hóa quan hệ Tuy có xảy ra một số “tranh chấp” gầnđây giữa hai nước nhưng có thể thấy rằng quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nướcnói chung và quan hệ mua bán qua biên giới Việt-Trung nói riêng vẫn còn nhiềutiềm năng để phát triển hơn nữa Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu cẩn thận và sâusắc về mối quan hệ hai nước cũng như triển vọng hợp tác trong những năm tới làmột yêu cầu cần thiết

Xuất phát từ thực tế đó, trên cơ sở hệ thống lý luận đã được học, cùng sợgiúp đỡ và hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Thi Xuân Hương, tôi chọn

đề tài “Quan hệ thương mại quốc tế Việt Nam – Trung Quốc và những vấn đề

Trang 3

đặt ra cho thương mại Việt Nam” với mong muốn giúp mọi người phần nào đóhiểu được quan hệ chặt chẽ về kinh tế thương mại giữa hai nước

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm hệ thống hóa những kiến thứcchung nhât về quan hệ thương mại quốc tế Việt Nam – Trung Quốc trong giaiđoạn hiện nay, đồng thời cũng nêu lên nhưng vấn đề cần đặt ra cho thương mạiViệt Nam Từ đó, tôi chia đề tài ra làm hai phần chính:

Chương 1: Quan hệ thương mại quốc tế giữa các quốc gia và xu hướngphát triển quan hệ thương mại trên thế giới

Chương 2: Thực trạng quan hệ thương mại Việt-Trung và những vấn đềđặt ra cho thương mại Việt Nam

Trang 4

CHƯƠNG 1: QUAN HỆ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ GIỮA CÁC QUỐC GIA VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI TRÊN

xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanhhàng hoá riêng biệt của các quốc gia Thương mại quốc tế là một lĩnh vực quantrọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc

tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước Ngày nay, thương mại quốc tếkhông chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giữacác quốc gia vào phân công lao động quốc tế Vì vậy, phải coi thương mại quốc

tế như một tiền đề một nhân tố phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chọnmột cách tối ưu sự phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế

Thương mại quốc tế một mặt phải khai thác được mọi lợi thế tuyệt đối củađất nước phù hợp với xu thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế Mặt khác,phải tính đến lợi thế tương đối có thể được theo quy luật chi phí cơ hội Phảiluôn luôn tính toán cái có thể thu được so với cái giá phải trả khi tham gia vàobuôn bán và phân công lao động quốc tế để có đối sách thích hợp Vì vậy đểphát triển thương mại quốc tế có hiệu quả lâu dài cần phải tăng cường khả năngliên kết kinh tế sao cho mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn

1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của quan hệ thương mại trên thế giới.

Lịch sử phát triển của loài người gắn liền với sự phát triển của nền sảnxuất xã hội, mà một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển đó

Trang 5

là sự phân công lao động xã hội Theo học thuyết Mác - Lênin về phân cônglao động xã hội thì phân công lao động là sự tách biệt các loại hoạt động, laođộng khác nhau trong nền sản xuất xã hội Điều kiện ra đời của phân công laođộng xã hội là sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và ngược lại, khi phâncông lao động xã hội đạt đến sự hoàn thiện nhất định , lại trở thành nhân tố thúcđẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, vì nó tạo điều kiện cho ngườilao động tích luỹ kinh nghiệm, kỹ năng sản xuất, nâng cao tri thức, trình độchuyên môn, nghiệp vụ, khả năng quản lý và hoàn thiện công cụ lao động Nóicách khác, phân công lao động xã hội góp phần thúc dẩy nhanh sự phát triển củatiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ mà tiến bộ khoa học công nghệ lạichính là một yếu tố cấu thành quan trọng của lực lượng sản xuất xã hội, do đóphân công lao động xã hội là một động lực thúc đẩy sự phát triển của lực lượngsản xuất xã hội.

Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội loài người đã trải qua các giai đoạnphân công lao động xã hội lớn :

* Giai đoạn 1: Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt Các bộ lạc chăn nuôimang thịt sữa đổi ngũ cốc, rau quả của các bộ lạc trồng trọt Đó là mầm mống rađời của quan hệ sản xuất - trao đổi hàng hoá giản đơn

* Giai đoạn 2: Nghề thủ công tách rời khỏi nghề nông Sản xuất chuyênmôn hoá bắt đầu phát triển, dẫn đến sự ra đời của ngành công nghiệp Đặc biệt,với sự xuất hiện vai trò tiền tệ đã khiến cho quan hệ sản xuất và trao đổi hànghoá tiền tệ ra đời, thay thế quan hệ sản xuất trao đổi hàng hoá giản đơn

* Giai đoạn 3: Tầng lớp thương nhân xuất hiện, lưu thông hàng hoá tách

ra khỏi lĩnh vực sản xuất, khiến cho các quan hệ sản xuất và trao đổi hàng hoá

- tiền tệ trở nên phức tạp, ngày càng mở rộng, tạo điều kiện cho ngoại thươngcủa từng quốc gia phát triển và thương mại quốc tế ra đời

Trải qua các hình thái kinh tế xã hội có sự thống trị của các chế độ Nhànước khác nhau, từ chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, đến chế độchiếm tư bản chủ nghĩa và kể cả chế độ xã hội chủ nghĩa mới hình thành từ đầu

Trang 6

thế kỷ này, các quan hệ sản xuất, trao đổi hàng hoá - tiền tệ đã phát triển trênphạm vi toàn thế giới, hình thành nên sự đa dạng, phức tạp của các mối quan hệkinh tế quốc tế, trong đó, sôi động nhất và cũng chiếm vị trí, vai trò, động lựcquan trọng nhất cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế mở của mỗi quốc gia vàcho cả nên kinh tế thế giới là các hoạt động thương mại quốc tế.

Như vậy, phân công lao động quốc tế là biểu hiện của giai đoạn phát triểncao của phân công lao động xã hội, là quá trình tập trung hoá sản xuất và cungcấp một loại hoặc một số loại sản phẩm và dịch vụ vào một quốc gia nhất định,dựa trên cơ sở những ưu thế của quốc gia đó về điều kiện tự nhiên, kinh tế, khoahọc - kỹ thuật, công nghệ và xã hội để đáp ứng nhu cầu của các quốc gia khác,thông qua các hoạt động kinh tế đối ngoại, trong đó thương mại quốc tế đóng vaitrò trọng tâm

Lịch sử phát triển kinh tế quốc tế thế giới cho đến nay đã có 3 kiểu phâncông lao động quốc tế điển hình là : phân công lao động quốc tế tư bản chủnghĩa, phân công lao động quốc tế xã hội chủ nghĩa và phân công lao động toànthế giới Do những biến động phức tạp trong đời sống chính trị - xã hội thếgiới, kể từ sau năm 1991 với sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô

và các nước Đông Âu, thế giới đương đại chỉ còn tồn tại và phát triển hai kiểu làphân công lao động xã hội và phân công lao động toàn thế giới Nếu gạt bỏnhững sắc thái riêng biệt nhất định, ngày nay ta dễ nhận thấy sự vận động, pháttriển của cả hai kiểu phân công lao động quốc tế này đang có xu hướng tiến tớimột thể thống nhất, mặc dù vẫn luôn chứa đựng nhiều mâu thuẫn phức tạp dotính đa dạng của nền kinh tế thế giới tạo ra Cùng với quá trình toàn cầu hoá,khu vực hoá kinh tế thế giới, là những tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạngkhoa học công nghệ đã thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế đạt tớitrình độ sâu rộng chưa từng thấy Chuyên môn hoá càng phát triển thì quan hệhiệp tác càng bền chặt, đó là đặc trưng cơ bản của phân công lao động quốc tếngày nay

Trang 7

Trong quá trình tái sản xuất mở rộng, do yêu cầu khách quan của việc xãhội hoá lực lượng sản xuất, các nước ngày càng quan hệ chặt chẽ với nhau, lệthuộc vào nhau Sự giao lưu tư bản, trao đổi mậu dịch, do đó, ngày càng phongphú Sự phát triển của hệ thống thông tin hiện đại, đặc biệt là kỹ thuật thông tin

vi điện tử và sự phát triển của giao thông vận tải đã tạo điều kiện cho phân cônglao động quốc tế gày càng phát triển, làm tăng quá trình toàn cầu hoá nền kinh tếthế giới và đời sống của các dân tộc Sự phát triển mạnh mẽ của các Công tyxuyên quốc gia càng làm nổi bật tính thống nhất của nền sản xuất thế giới

Quốc tế hoá nền sản xuất tất yếu dẫn tới các loại liên kết kinh tế Sự pháttriển của khoa học - công nghệ cùng với sự chuyển dịch vốn, kỹ thuật từ cácnước công nghiệp phát triển sang các nước đang phát triển đã giúp cho nhiềunước trở thành nước công nghiệp mới có đủ tiềm lực kinh tế quay trở lại cạnhtranh với các nước công nghiệp phát triển Sự ra đời của hàng loạt các liên minhkinh tế Nhà nước ở các khu vực, các tổ chức kinh tế ở khắp các Châu lục, cũngnhư sự hiệp tác và liên minh kinh tế dưới nhiều hình thức khác đã đánh dấu sựphân công lao động sâu sắc và mở rộng quy mô phát triển chưa từng có Hệ quảtrực tiếp là sự tốc độ phát triển ngoại thương, đặc biệt là xuất khẩu của hầu hếtcác nước tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế đều đã tăngmạnh và liên tục trong các thập niên gần đây và hiện nay.Năm 1950, tổng kimngạch xuất khẩu của thế giới còn ở mức 59,7 tỷ USD nhưng đến năm 1990nghĩa là 4 thập niên sau đã lên đến con số 3.332 tỷ USD, tăng 57,6 lần bình quânhàng năm tăng 10,5 % Điều lưu ý là suốt thời kỳ dài, từ sau thế chiến thứ haiđến nay, nền kinh tế thế giới nói chung và thương mại quốc tế nói riêng, mặc dù

đã trải qua những bước thăng trầm trong sự phát triển, nhưng nhìn chung tốc độtăng của thương mại quốc tế đều tăng nhanh hơn tốc độ tăng của sản xuất thếgiới

Lý giải về sự tăng nhanh của thương mại quốc tế có thể bằng nhiềunguyên nhân khác nhau, song phải thấy có một nguyên nhân cơ bản là nhờ đạtđược hiệu quả kinh tế do quá trình phân công lao động quốc tế mang lại Thực tế

Trang 8

cho thấy những lợi nhuận thu được từ thương mại quốc tế nhờ khai thác sựchênh lệch về giá cả tương đối giữa các nước, tuy rất quan trọng nhưng còn íthơn nhiều so với lợi nhuận thu được nhờ tăng cường tính đa dạng và chuyênmôn hoá theo nhãn hiệu của từng loại sản phẩm sản xuất ở nhiều quốc gia khácnhau Thương mại trong ngành không chỉ tạo ra các khả năng mở rộng tiêudùng, thoả mãn nhu cầu của người mua, mà đã trở thành yếu tố cơ bản, quyếtđịnh động thái tăng trưởng kim ngạch ngoại thương hầu hết các nước thuộc mọikhu vực khác nhau trong nền kinh tế thế giới Thương mại trong ngành là biểuhiện phát triển cao độ của sản xuất chuyên môn hoá trong giai đoạn hiện nay.

Nó không giải thích vì sao nước Anh xuất khẩu xe hơi sang Hông Kông nhưnglại có thể giải thích một hiện tượng thực tế nảy sinh mà David Ricardo đã khônglàm được là vì sao Anh xuất khẩu xe hơi (như Rovers, Jaguars ) sang Đức,nhưng lại nhập xe hơi (như Mercedes, Andis ) từ Đức Điều dễ hiểu là mặc dùđều là xe hơi nhưng tất cả các loại xe hơi do Anh sản xuất đều có những đặcđiểm khác so với tất cả các loại xe hơi do Đức sản xuất Tương tự như vậy, Nhật

là cường quốc về sản xuất tivi chất lượng cao bởi các nhãn hiệu nổi tiếng nhưSony, JVC, Sanyo nhưng vẫn không ít người Nhật thích dùng tivi với các nhãnhiệu khác của nước ngoài như Philip cuả Hà Lan, Sam Sung, Deawoo của HànQuốc Lý do chính khiến cho sự trao đổi thương mại giữa các nước về cùngmột loại sản phẩm là sự đa dạng của các nhãn hiệu khác nhau về loại sản phẩm

đó, sẽ mang lại những thoả mãn về nhu cầu của người tiêu dùng, do có sự khácnhau về hình thức, mẫu mã, giá cả Đối với cả người sản xuất với người tiêudùng đều có thể tìm thấy những lợi ích cơ bản sau đây của việc phát triểnthương mại trong ngành

* Thứ nhất, người tiêu dùng thoả mãn được nhu cầu lựa chọn trong

số nhiều nhãn hiệu khác nhau của cùng một loại sản phẩm trong ngành

* Thứ hai, thương mại trong ngành mang lại lợi thế kinh tế đáng kểnhờ mức độ mở rộng quy mô chuyên môn hoá sản xuất của mỗi quốc gia

về một loại nhãn hiệu sản phẩm trong ngành, sau đó đem chúng trao đổi

Trang 9

với nhau qua thương mại quốc tế, thay cho tình trạng trước đây, mỗi quốcgia đều phải cố gắng sản xuất những lượng nhỏ của tất cả các nhãn hiệutrong ngành.

Trên đây, chúng ta đã thấy lợi ích của phát triển thương mại trong ngành

là mang lại hiệu quả kinh tế nhờ quy mô mở rộng của chuyên môn hoá sản xuất

về một loại nhãn hiệu sản phẩm trong ngành Đối với các nước có nền kinh tế

mở, quy mô nhỏ (như Việt Nam), vấn đề này càng có ý nghĩa quan trọng Thôngthường, ở các nước này, phạm vi hàng hoá, mà theo đó họ có thể có được quy

mô hiệu quả trong sản xuất bị giới hạn nhiều so với các nước có nền kinh tế quy

mô lớn Do đó, các nước này bao giờ cũng có thể mang lại lợi ích kinh tế tươngđối nhiều hơn so với việc chỉ lo tự cung tự cấp bằng cách sản xuất tất cả các loạisản phẩm, mỗi thứ một ít với chi phí cao

1.1 LỢI ÍCH CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Buôn bán nói chung và buôn bán quốc tế nói riêng là hoạt động kinh tếtrao đổi hàng hoá - tiền tệ đã có từ lâu đời và sự phát triển của nó luôn luôngắn liền với sự phát triển văn minh của xã hội loài ngươì Như vậy là con người

đã sớm tìm thấy lợi ích của thương mại quốc tế, nhưng để giải thích một cáchkhoa học về nguồn gốc của những lợi ích thương mại quốc tế thì đó đã khôngphải là vấn đề đơn giản Quá trình nghiên cứu của các trường phái kinh tế khácnhau trong lịch sử phát triển tư tưởng kinh tế thế giới đã đưa ra những lý thuyết

để lý giải vấn đề này, khẳng định tác động tích cực của thương mại quốc tế đốivới sự tăng trưởng và phát triển kinh tế theo trình tự nhận thức từ thấp đến cao,

từ đơn giản đến phức tạp, từ phiến diện đến toàn diện, từ hiện tượng đến bảnchất

* Lý thuyết trọng thương.

Trang 10

Lý thuyết trọng thương ở Châu Âu đã phát triển từ giữa thế kỷ XV đếngiữa thế kỷ XVIII, với nhiều đại biểu khác nhau: Jean Bodin, Melon, Jully,Colbert (Pháp), Thomas Mrm, Josias, Chhild, James Stewart (Anh)

Nội dung chính của thuyết này là: Mỗi quốc gia muốn đạt được sự thịnhvượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ bằng phát triểnngoại thương và mỗi quốc gia chỉ có thể thu được lợi ích từ ngoại thương nếucán cân thương mại mang dấu dương (hay giá trị xuất khẩu lớn hơn giá trị nhậpkhẩu) Được lợi là vì thặng dư của xuất khẩu so với nhập khẩu được thanh toánbằng vàng, bạc và chính vàng, bạc là tiền tệ, là biểu hiện của sự giàu có Đối vớimột quốc gia không có mỏ vàng hay bạc chỉ còn cách duy nhất là trông cậy vàophát triển ngoại thương

Lý thuyết trọng thương mặc dù có nội dung rất sơ khai và còn chứa đựngnhiều yếu tố đơn giản, phiến diện, chưa cho phép phân tích bản chất bên trongcủa các sự vật hiện tượng kinh tế, song đó đã là những tư tưởng đầu tiên của cácnhà kinh tế học tư sản cổ điển nghiên cứu về hiện tượng và lợi ích của ngoạithương ý nghĩa tích cực của học thuyết này là đối lập với tư tưởng phong kiếnlúc bấy giờ là coi trọng kinh tế tự cung, tự cấp Ngoài ra, những người trọngthương cũng sớm nhận thức được vai trò qua trọng của nhà nước trong quản lý,điều hành trực tiếp các hoạt động kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuếquan, bảo hộ mậu dịch trong nước để bảo hộ các ngành sản xuất non trẻ, kiểmsoát nhập khẩu, thúc đẩy xuất khẩu

* Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith.

Trong nhiều tác phẩm của mình, trong đó nổi tiếng nhất là cuốn sách

“nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc giàu có của các quốc gia”, Adam Smith

đã đề cao vai trò của thương mại , đặc biệt là ngoại thương đã có tác dụng thúcđẩy nhanh sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của các nước, song khác với sựphiến diện của trọng thương đã tuyệt đối hoá quá mức vai trò ngoại thương, ôngcho rằng ngoại thương có vai trò rất to lớn nhưng không phải nguồn gốc duynhất của sự giàu có Sự giàu có không phải do ngoại thương mà là do công

Trang 11

nghiệp, tức là do hoạt động sản xuất đem lại chứ không phải do hoạt động lưuthông Theo ông, hoạt động kinh tế (bao gồm cả hoạt động sản xuất và lưuthông) phải được tiến hành một cách tự do, do quan hệ cung cầu và biến độnggiá cả thị trường quy định Sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất choai? Đó là câu hỏi cần được giải quyết ở thị trường.

Theo Adam Smith, sức mạnh làm cho nền kinh tế tăng trưởng là do sự tự

do trao đổi giữa các quốc gia, do đó mỗi quốc gia cần chuyên môn vào nhữngngành sản xuất có lợi thế tuyệt đối, nghĩa là phải biết dựa vào những ngành sảnxuất có thể sản xuất ra những sản phẩm có chi phí sản xuất nhỏ hơn so với quốcgia khác, nhưng lại thu được lượng sản phẩm nhiều nhất, sau đó đem cân đối vớimức cầu ở mức giá lớn hơn giá cân bằng Chính sự chênh lệch giá nhờ mức cầutăng lên ở quốc gia khác làm cho nền kinh tế tăng trưởng

Quan điểm trên thể hiện nội dung cơ bản của lý thuyết lợi thế tuyệt đối trongthương mại quốc tế Một nước được coi là có lợi thế tuyệt đối so với một nướckhác trong việc chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá A khi cùng một nguồn lực

có thể sản xuất được nhiều sản phẩm A hơn là nước thứ 2

* Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo.

Lý thuyết về lợi thế so sánh trên đây cho thấy một nước có lợi thế tuyệtđối so với nước khác về một loại hàng hoá, nước đó sẽ thu được lợi ích ngoạithương, nếu chuyên môn hoá sản xuất theo lợi thế tuyệt đối Tuy nhiên, do lýthuyết này chỉ dựa vào lợi thế tuyệt đối nên đã không giải thích được vì sao mộtnước có lợi thế tuyệt đối hơn hẳn so với nước khác, hoặc một nước không có lợithế nào vẫn có thể tích cực tham gia vào quá trình hợp tác và phân công laođộng quốc tế để phát triển mạnh các hoạt động thương mại quốc tế

Khắc phục những hạn chế của lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và cũngtrả lời những câu hỏi trên đây, năm 1817, trong tác phẩm nổi tiếng của mình

“Những nguyên lý của kinh tế chính trị” nhà kinh tế học cổ điển người AnhDavid Ricardo đã đưa ra lý thuyết lợi thế so sánh, nhằm giải thích tổng quát

Trang 12

chính xác hơn về cơ chế xuất hiện lợi ích trong thương mại quốc tế Nội dungbao gồm:

Mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế, bởi vì:phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước.Nguyên nhân chính là do chuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm nhất địnhcủa mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nước khác thông qua con đườngthương mại quốc tế

Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc

bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với các nước khác, vẫn có thể và có lợi khi thamgia vào phân công lao động và quốc tế, vì mỗi nước đều có những lợi thế sosánh nhất định về một số mặt hàng và một số kém lợi thế so sánh nhất định vềmột số mặt hàng khác

Vậy có thể kết luận rằng, một trong những điểm cốt yếu nhất của lý thuyếtlợi thế so sánh là những lợi ích do chuyên môn hoá sản xuất và thương mại quốc

tế phụ thuộc vào lợi thế so sánh chứ không phải là lợi thế tuyệt đối Lợi thế sosánh là điều kiện cần và đủ đối với lợi ích của thương mại quốc tế

Liên quan đến lợi thế so sánh, có một khái niệm rất cơ bản trong kinh tếhọc đã được David Ricardo đề cập đến đó là chi phí cơ hội Chi phí cơ hội là chiphí bỏ ra để sử dụng cho một mục tiêu nào đó Giả sử, một nền kinh tế khép kín(nền kinh tế đóng) có các nguồn lực nhất định có thể sản xuất ra lương thực vàquần áo Thông thường càng dùng nhiều nguồn lực để sản xuất ra lương thực thìcàng có ít nguồn lực để sản xuất ra quần áo Chi phí cơ hội của lương thực làlượng quần áo bị giảm đi do dùng nguồn lực vào sản xuất quần áo thay cho sảnxuất lương thực Như vậy chi phí cơ hội của một hàng hoá là số lượng nhữnghàng hoá khác mà người sản xuất phải giảm đi để có thể làm thêm ra một đơn vịhàng hoá đó

Tóm lại là: Lợi ích thương mại quốc tế bắt nguồn từ sự khác nhau về lợithế so sánh ở mỗi quốc gia, mà các lợi thế so sánh đó có thể được biểu hiện bằngcác chi phí cơ hội khác nhau của mỗi quốc gia, do đó lợi ích của thương mại

Trang 13

quốc tế cũng chính là bắt nguồn từ sự khác nhau về các chi phí cơ hội của mỗiquốc gia Chi phí cơ hội cho ta biết chi phí tương đối (chi phí so sánh) để làm rasản phẩm hàng hoá khác nhau của mỗi quốc gia, hay nói cách khác, khi các chiphí cơ hội ở tất cả các quốc gia đều giống nhau thì không có lợi thế so sánh vàcũng không có khả năng nảy sinh các lợi ích do chuyên môn hoá và thương mạiquốc tế Đó cũng là nội dung cơ bản của quy luật lợi thế so sánh đã được DavidRicardo khẳng định là: các nước sẽ có lợi khi chuyên môn hoá sản xuất và xuấtkhẩu những sản phẩm mà họ làm ra với chi phí cơ hội (chi phí so sánh) thấp hơn

so với các nước khác Quy luật này đã được nhiều nhà kinh tế khác tiếp tục pháttriển, hoàn thiện, trở thành quy luật chi phối động thái phát triển của thương mạiquốc tế

* Lý thuyết nguồn lực và Thương mại Hecksher - Ohlin

Chúng ta đã thấy rằng lợi thế so sánh là nguồn gốc những lợi ích củathương mại quốc tế, nhưng lợi thế so sánh do đâu mà có? Vì sao các nước khácnhau lại có chi phí cơ hội khác nhau? Lý thuyết lợi thế so sánh của DavidRicardo đã không giải thích được những vấn đề trên đây Để khắc phục nhữnghạn chế này, hai nhà kinh tế học Thuỵ điển, Eli Hecksher và B.Ohlin trong tácphẩm “Thương mại liên khu vực và quốc tế” xuất bản 1933, đã phát triển lợi thế

so sánh của David Ricardo thêm một bước bằng việc đưa ra mô hình H-O đểtrình bầy lý thuyết ưu đãi về nguồn lực sản xuất vốn có Lý thuyết này đã giảithích hiện tượng thương mại quốc tế là do trong một nền kinh tế mở cửa, mỗiquốc gia đều hướng đến chuyên môn hoá các ngành sản xuất mà cho phép sửdụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nước đó là thuận lợi nhất Nói cách khác,theo lý thuyết H-O, một số nước này có lợi thế so sánh hơn trong việc sản xuất

và xuất khẩu một số sản phẩm hàng hoá của mình là do việc sản xuất những sảnphẩm đó đã sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà một trong số nước đó đã được ưuđãi hơn so với một số nước khác Chính sự ưu đãi về các lợi thế tự nhiên của cácyếu tố sản xuất này (bao gồm vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu ) đã

Trang 14

khiến một số nước đó có chi phí cơ hội thấp hơn (so với việc sản xuất các sảnphẩm hàng hoá khác) khi sản xuất những sản phẩm hàng hoá đó.

Như vậy, cơ sở lý luận khoa học của lý thuyết H-O vẫn chính là dựa vào

lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo, nhưng ở trình độ phát triển cao hơn

là đã xác định được nguồn gốc của lợi thế so sánh chính là sự ưu đãi về các yếu

tố sản xuất mà kinh tế học phát triển đương đại vẫn gọi là nguồn lực sản xuất

Và do vậy, lý thuyết H-O còn được coi là lý thuyết lợi thế so sánh về các nguồnlực sản xuất vốn có, hoặc vắn tắt hơn là lý thuyết nguồn lực sản xuất vốn có Đócũng chính là lý thuyết hiện đại về thương mại quốc tế Sau này, nó còn đượccác nhà kinh tế học nổi tiếng khác như Paul Samuelson, james William tiếptục mở rộng và nghiên cứu tỷ mỉ hơn để khẳng định tư tưởng khoa học của định

lý H-O hay còn gọi là quy luật H-O về tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất, trước đó

đã được Hecksher-Ohlin đưa ra với nội dung: một nước sẽ sản xuất loại hànghoá mà việc sản xuất nó cần sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn có củanước đó và nhập khẩu hàng hoá mà việc sản xuất nó cần nhiều yếu tố đắt vàtương đối khan hiếm hơn của nước đó

Tuy còn có những khiếm khuyết lý luận trước thực tiễn phát triển phứctạp của thương mại quốc tế ngày nay, song quy luật này đang là quy luật chiphối động thái phát triển của thương mại quốc tế và có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễnquan trọng đối với các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nước kém pháttriển, vì vậy nó đã chỉ ra rằng đối với các nước này, đa số là những nước đôngdân, nhiều lao động, nhưng nghèo vốn do đó trong giai đoạn đầu của quá trìnhcông nghiệp hoá đất nước, cần tập trung xuất khẩu những hàng hoá sử dụngnhiều lao động và nhập khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều vốn Sự lựa chọncác sản phẩm xuất khẩu phù hợp với các lợi thế so sánh về các nguồn lực sảnxuất vốn có như vậy sẽ là điều kiện cần thiết để các nước kém và đang phát triển

có thể nhanh chóng hội nhập vào sự phân công lao động và hợp tác quốc tế, vàtrên cơ sở lợi ích thương mại thu được sẽ thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng và pháttriển kinh tế ở những nước này

Trang 15

1.2 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI TRÊN THẾ GIỚI

Đẩy mạnh phát triển thương mại và dịch vụ quốc tế là xu hướng tất yếu củatất cả các nước trên thế giới, nhất là các nước đã phát triển; do năng lực sản xuấtngày càng lớn, cho nên luôn luôn ở tình trạng thiếu thị trường tiêu thụ sản phẩm

có lợi nhất Hoạt động thương mại quốc tế ngày càng mở rộng và cạnh tranh thịtrường thế giới ngày càng gay gắt là tất yếu Các quốc gia trên thế giới hiện nay

dù lớn hay nhỏ, sớm hay muộn đều đi theo xu hướng tham gia ngày càng nhiềuvào quá trình hợp tác kinh tế khu vực và thế giới, đa phương, đa chiều, đa lĩnhvực, trong đó thương mại là một trong những lĩnh vực được coi là trọng tâm.Đặc điểm nổi bật về xu hướng phát triển thương mại quốc tế ngày nay là:

Nội dung hoạt động thương mại rộng lớn mang tính quốc tế, chiphối hầu hết các lĩnh vực đời sống kinh tế – xã hội Do đó, thương mại ngày naykhông chỉ là những hoạt động mua bán sản phẩm hàng hóa vật thể mà còn baogồm cả những hành vi mua bán và dịch vụ phi vật thể, tất cả đều nhằm thu lợinhuận

Hình thành các loại hình công ty, tập đoàn lớn, công ty xuyên quốcgia, đa quốc gia, với phạm vi hoạt động không biên giới và hình thành các tổchức, hiệp hội thương mại khu vực và toàn cầu Phạm vi tác động của thươngmại quốc tế ngày nay mang ý nghĩa vô cùng sâu rộng, bao gồm nhiều thànhphần thương mại, nhiều thương nhân và hợp thành mạng lưới chằng chịt các loạihình kinh doanh và dịch vụ; vừa liên doanh, liên kết, vừa tự do hoá, vừa độcquyền, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, vừa bình đẳng và không bình đẳng trongkinh doanh, đều cùng nhau tham gia hoạt động mua bán và dịch vụ trên thịtrường, trên cơ sở hành lang pháp luật quốc gia và luật lệ quốc tế

Xu thế liên doanh liên kết thương mại song phương, đa phương,bình đẳng ngày càng mở rộng và không ngừng phát triển Đặc điểm kinh doanhthương mại ngày nay gồm hai chiều hướng: Một là, kinh doanh chuyên ngành,theo một sản phẩm hay một thương hiệu nhất định thành một hệ thống trên toàn

Trang 16

cầu Hai là, tổ chức mô hình những công ty, tập đoàn kinh doanh tổng hợp vớinhiều loại hình, nhiều hàng hóa và dịch vụ khác nhau để nâng cao ưu thế cạnhtranh và chiếm lĩnh thị trường khu vực và thị trường thế giới.

Tự động hóa, hiện đại hóa, áp dụng công nghệ thông tin vào quản

lý, mua bán qua mạng, hoạt động kinh doanh và dịch vụ mang tính phổ biến vàngày càng phát triển

Do cạnh tranh trên thị trường ngày càng quyết liệt, thương mạikhông ngừng cải tiến phương thức phục vụ hiện đại và luôn luôn đổi mới dịch

vụ theo xu hướng lấy người tiêu dùng làm trọng tâm và coi khách hàng như

"thượng đế"

Trang 17

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT – TRUNG

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

2.1 LỊCH SỬ QUAN HỆ VIỆT NAM TRUNG QUỐC

2.1.1 Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trước khi hai nước giành được độc lập

Lịch sử quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đã hình thành từ rất sớm, khoảng

2200 năm trước đây Và cũng từ ngày đó, quan hệ buôn bán giao thương giữathương nhân hai quốc gia cũng được hình thành Vào thế kỷ X, XI Việt Nam đãgiao lưu kinh tế với Trung Quốc và các nước Đông Nam Á Đến thế kỷ XVII,giao lưu kinh tế Việt nam với Trung Quốc và các nước Đông Nam Á phát triểnrộng Ở miền Bắc Việt Nam, tiêu biểu là hai đô thị: Kinh Kỳ (Thăng Long) vàPhố Hiến (Hưng Yên), ở miền Nam là Hội An (Faifo) Kinh Kỳ, Phố Hiến cóthương điếm của Trung Quốc, Xiêm La (bên cạnh những thương điếm củaphương tây: Anh, Hà Lan…), Hội An có thương điếm của Trung Quốc, NhậtBản, Xiêm La, Mã Lai, Miến Điện…

Tiếp theo các triều đại phong kiến Việt Nam: Lý, Trần, Lê, Nguyễn đãtiếp tục quan hệ buôn bán qua biên giới với các triều đại phong kiến TrungQuốc: Tống, Nguyên, Minh, Thanh Lúc bấy giờ buôn bán qua biên giới hainước Việt - Trung chỉ là sự thông thương nhằm bổ sung cho nhau, với hai hìnhthức chủ yếu là cống nạp và dân gian Bước vào thời kỳ cận đại, Việt Nam trởthành thuộc địa, Trung Quốc trở thành nửa thuộc địa của tư bản phương Tây, hainước Việt Nam và Trung Quốc đã ký "Điều ước Việt Nam (năm 1885)" và

"Chương trình hợp tác biên giới (năm 1896)", trong đó, quy định 25 điểm đồntrú tuần tra dọc biên giớichung giữa hai nước cũng chính là điểm họp chợ chungcho cư dân hai bờ biên giới Ưu thế thương mại nghiêng về các thương nhânTrung Quốc

Trang 18

2.1.2 Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc kể từ khi khi hai nước giành được độc lập

Năm 1945, sau khi kết thúc đại chiến thế giới lần thứ hai, nước Việt NamDân chủ Cộng hoà (nay là CHXHCN Việt Nam) ra đời (2.9.1945) tiếp theonước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập (1.10.1949), và chỉ mấytháng sau đó (18.1.1950) hai nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (dưới đây gọitắt là Việt Nam) và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (dưới đây gọi tắt là TrungQuốc) đã thiết lập quan hệ ngoại giao Điều đó đã mở ra một thời kỳ mới trongquan hệ hai nước về nhiều mặt, tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ quan hệkinh tế - buôn bán giữa hai nước, trong đó có buôn bán qua biên giới Việt -Trung Trong khoảng thời gian, từ những năm 50 đến những năm 70, trên tinhthần "Vừa là đồng chí, vừa là anh em", hai nước đã ký các bản "Nghị định thưbuôn bán tiểu ngạch biên giới Việt - Trung" (năm 1955) và "Nghị định thư traođổi hàng hoá biên giới Việt - Trung (năm 1957)" đã quy định xây dựng 26 điểmgiao dịch (19 điểm trên bộ và 7 điểm trên biển) trên biên giới chung của hainước Trong khoảng thời gian (1956 - 1969), mức buôn bán qua biên giới giữaViệt Nam với Quảng Tây trị giá 44,94 triệu Nhân dân tệ Trong khoảng thờigian 1966 - 1976, ở Trung Quốc đang tiến hành cuộc cách mạng văn hóa, hầunhư đóng cửa hoàn toàn với thế giới bên ngoài nên đã ảnh hưởng tới buôn bánqua biên giới giữa Trung Quốc với các nước láng giềng, trong đó có Việt Nam

Từ khi 2 nước giành được độc lập cho đến những năm 80 của thế kỷ 20,quan hệ kinh tế giữa hai nước có thể chia ra làm 5 giai đoạn chính sau đây:

Giai đoạn 1950-1954: Sau chiến thắng biên giới 1950, các tỉnh Cao Bằng,

Bắc Cạn, Lạng Sơn được giải phóng tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu buônbán trao đổi hàng hóa của nhân dân hai bên biên giới Tháng 9/1951, Chính phủhai nước Việt Trung đã ký các hiệp định về mậu dịch, Hiệp định về tiền tệ vàhợp đồng xuất nhập khẩu Đồng thời thành lập các ty quản lý xuất nhập khẩu ởLạng Sơn, Cao Bằng, và các Đồng quản lý xuất nhập khẩu ở các cửa khẩu biêngiới Một số công ty xuất nhập khẩu ở các tuyến ra đời dưới sự lãnh đạo của bộ

Trang 19

công thương để làm nhiệm vụ xuất nhập khẩu hàng hóa Tháng 2/1953 cửa khẩuLào Cai được mở cửa thông thương buôn bán với Hồ Kiều của Trung Quốc Từđầu năm 1954 công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta tiếntriển mạnh mẽ Hội nghị thứ 4 bàn về đấu tranh kinh tế với địch họp tại Việt Bắc

đã nêu rõ chủ trương tích cực đẩy mạnh xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhậpkhẩu các loại hàng hóa cần thiết phục vụ sản xuất và chiến đấu Chính phủ ta đãkhuyến khích trao đổi một số mặt hàng như sa nhân, cà phê với Trung Quốc Đểtạo điều kiện thuận lợi hơn cho buôn bán dân gian qua biên giới, Chính phủ ta

đã ban hành nghị định 39/TTg về quản lý mậu dịch tiểu ngạch nhân dân biêngiới Việt Trung

Giai đoạn từ 1954-1964: Đây là thời kỳ khôi phục và xây dựng kinh tế ở

miền Bắc, ngày 10/2/1955 khánh thành đường sắt Hà Nội – Mục Nam Quan, tạođiều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hành khách và hàng hóa từ Thủ đô lênbiên giới phía Bắc để trao đổi hàng hóa với Trung Quốc và các nước XHCNkhác Ngày 7/7/1955 chính phủ ta đã ký với Trung Quốc nghị định thư về traođổi hàng hóa giữa các công ty mậu dịch địa phương vùng biên giới và Hiệp địnhviện trợ Xuất phát từ yêu cầu thực tế kỳ họp khóa VIII Quốc hội Việt Nam đãquyết định chia Bộ thương nghiệp thành Bộ nội thương và Bộ ngoại thương Với

sự thay đổi lại tổ chức, công tác xuất nhập khẩu đã trưởng thành thêm một bước,hàng loạt các công ty xuất nhập khẩu biên giới được thành lập với nhiệm vụ traođổi hàng hóa và nhận hàng viện trợ qua biên giới Việt Trung

Giai đoạn 1965-1975: Việt Nam tiến hành công cuộc kháng chiến chống

đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đấtnước thì từ những năm 1966 Trung Quốc bắt đầu tiến hành “ Đại cách mạng vănhóa vô sản” Cuộc “cách mạng” này kết thúc vào năm 1976 Mặc dù thời kỳ đó,tình hình xã hội Trung Quốc có nhiều biến động, nhưng quan hệ Việt Trung vẫnphát triển một cách tốt đẹp Cùng thời kỳ đó Việt Nam tiếp tục tổ chức lại hoạtđộng ngoại thương của mình, hoàn chỉnh các chính sách, chế độ về mậu dịch đốingoại đồng thời tăng cường sự hợp tác giúp đỡ của Trung Quốc nhằm khắc phục

Trang 20

những khó khăn thời chiến Chính phủ phê duyệt cho Bộ ngoại thương đƣợcphép cử cán bộ, đoàn đại diện tham dự hội chợ Quảng Châu Trung Quốc để giaodịch với các thương nhân Trung Quốc và thương nhân các nước khác, nghiêncứu các kinh nghiệm làm ăn và chuẩn bị hàng xuất khẩu Tháng 7/1965 Chínhphủ Việt Nam ký với Trung Quốc nghị định thư về chuyển tải hàng xuất khẩucủa Việt Nam sang qua các cảng của Trung Quốc Chính phủ ta đã đề nghị vớiTrung Quốc cho phép thành lập một số trạm tiếp nhận và điều chỉnh hàng việntrợ của Trung Quốc và hàng xuất khẩu của Việt Nam trên đất Trung Quốc (MãnChâu Lý, Nam Ninh, Côn Minh, Hoàng Phố, Trạm Giang) Từ năm 1967 đến

1975, Chính phủ ta đã ký với Chính phủ Trung Quốc các Nghị định thư, Thưtrao đổi về việc Chính phủ Trung Quốc viện trợ không hoàn lại, viện trợ bệnhTrong các ngành công nghiệp, những ngành công nghiệp của Việt Nam sẽ phảichịu sức ép cạnh tranh gay gắt nhất từ Trung Quốc sẽ là những ngành đang hìnhthành, đang đầu tư phát triển như điện - điện tử, cơ khí, ô tô, xe máy,… bởi đâychính là những ngành mà Trung Quốc đã và đang phát triển mạnh với năng lựccạnh tranh cao Các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, giày da, chế biến thựcphẩm, cao su, nhựa… Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với hàng hoá Trung Quốc,nhưng mức độ ít gay gắt hơn do Việt Nam đã có bước tiến nhất định trong việcphát triển các ngành này và Trung Quốc cũng không có ưu thế vượt trội nhiều sovới Việt Nam trong các mặt hàng này và thị hiếu của người tiêu dùng Việt Namkhông phải là thế mạnh củ hàng hoá Trung Quốc Tuy nhiên, với sức mạnh cạnhtranh về mẫu mã, giá cả, khi lộ trình mở cửa và cắt giảm thuế quan của ViệtNam được thực hiện theo các cam kết gia nhập WTO và CAFTA, thì sức épcạnh tranh từ hàng hoá Trung Quốc trên thị trường nội địa Việt Nam sẽ rất gaygắt

Có thể nói hoạt động xuất nhập khẩu thời kỳ này tập trung vào việc vậnchuyển hàng viện trợ từ Trung Quốc và các nước anh em phục vụ cho công cuộckháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Trang 21

Giai đoạn 1976-1978: Khi hoàn thành nhiệm vụ cao cả là giải phóng

miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam đã tiến hành tổng tuyển cử trong cảnước bầu ra Quốc hội nước Việt Nam thống nhất Cùng thời gian với cuộc “ Đạicách mạng vô sản” kết thúc, Trung Quốc thực sự bước vào công cuộc cải cách

mở cửa Trong giai đoạn này Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục ký các hiệp địnhtrao đổi hàng hóa Mặc dù mậu dịch biên giới Việt Trung có những lợi thếkhông thể so sánh được: Đó là thị trường truyền thống lâu đời, vị trí núi liền núi,sông liền sông, hàng hóa hai bên bổ sung cho nhau Tuy nhiên, từ năm 1978 trở

về trước, buôn bán qua biên giới Việt Trung còn giới hạn ở mức nhỏ bé khôngđáng kể, chủ yếu là hoạt động mua bán dân gian tự phát do nhu cầu sinh hoạtthông thường điều tiết Phía Việt Nam xuất sang Trung Quốc một vài mặt hànghoa quả tươi, Trung Quốc xuất sang Việt Nam chủ yếu là các mặt hàng côngnghiệp nhẹ tiêu dùng như vải vóc, quần áo may sẵn, đồ gia dụng, công cụ sảnxuất Mậu dịch biên giới hai nước Việt Trung chưa thể phát triển vì nền kinh tếhai nước chưa phát triển, vùng trao đổi hàng hóa giữa hai bên vẫn chủ yếu làkhu vực miền núi, mang nặng tính tự cung tự cấp

Giai đoạn 1978-1988: Cuối năm 1978, Trung Quốc đưa ra quốc sách cải

cách - mở cửa, nhưng lúc bấy giờ (1978 - 1988) mới chú trọng mở cửa khu vựcven biển, chưa chú ý đến mở cửa khu vực biên giới Đồng thời, từ năm 1979 đếnhết thập kỷ 80, quan hệ hai nước Việt Nam và Trung Quốc bước vào thời kỳkhông bình thường, biên giới chung giữa hai nước chiến trường thay cho thịtrường, những nhân tố đó đã ảnh hưởng đến sự gián đoạn buôn bán qua biên giớihai nước

2.1.3 Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc kể từ khi bình thường hóa quan hệ đến nay.

Sau một thời gian ngắn tạm thời trong tình trạng căng thẳng không bìnhthường, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đã được bình thường hoá trở lại vào

Trang 22

đầu tháng 11.1991 Sự kiện này đánh dấu một mốc quan trọng, đồng thời cũng

mở ra một giai đoạn mới của quan hệ Việt Nam - Trung Quốc Bình thường hoáquan hệ Việt Nam - Trung Quốc được diễn ra trong bối cảnh quốc tế và tìnhhình mỗi nước đã có những biến đổi hết sức sâu sắc Về tình hình quốc tế, sau

sự kiện Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã, thế giới bước vàomột giai đoạn mới, chiến tranh lạnh kết thúc, hoà bình và đối thoại thay thế chochiến tranh và đối đầu Hoà bình và phát triển trở thành trào lưu chính của thờiđại Còn về tình hình mỗi nước, Trung Quốc từ năm 1978 và Việt Nam từ năm

1986 đều bắt đầu tiến hành công cuộc cải cách và đổi mới, chuyển đổi mô hìnhphát triển từ kinh tế kế hoạch truyền thống sang kinh tế thị trường Cả hai nướcđều cần môi trường bên trong ổn định, môi trường bên ngoài hoà bình để thựchiện nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng và phát triển kinh tế Vì vậy, từ khi bìnhthường hoá năm 1991 đến nay, quan hệ hai nước đã nhanh chóng phát triển trêntất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá v.v…và đã đạt được những thànhtựu quan trọng Quan hệ Việt Nam Trung Quốc đã có rất nhiều khởi sắc đặc biệt

là lĩnh vực kinh tế, mối quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước đã phát triểnnhanh chóng với những nội dung và phương thức hợp tác mới mà các giai đoạntrước đây chưa từng có:

-Về thương mại, từ năm 1991 đến nay, cùng với việc bình thường hoá

quan hệ về mặt chính trị, quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước cũng đãđược khôi phục và phát triển Chính phủ hai nước đã ký kết hơn 30 hiệp định vàvăn bản thoả thuận, trong đó có khoảng 20 hiệp định về kinh tế thương mại hoặc

có liên quan đến kinh tế thương mại Ngoài ra, một số bộ, ngành ở Trung ương

và chính quyền địa phương của hai nước cũng đã ký nhiều văn bản hợp tác kinh

tế mậu dịch song phương Trên cơ sở các hiệp định đã được ký kết cùng với sự

nỗ lực của cả hai bên, đến nay trên trường biên giới đất liền giữa hai nước đã có

25 cặp cửa khẩu được khai thông, trong đó có 4 cặp cửa khẩu quốc tế, 7 cửakhẩu quốc gia và 14 cặp cửa khẩu tiểu ngạch Ngoài ra còn có thêm 59 cặpđường mòn biên giới và 13 chợ biên giới đã được hình thành Những hiệp định

Trang 23

và văn bản được ký kết cùng với những cặp cửa khẩu được khai thông đã tạo cơ

sở pháp lý và điều kiện thuận lợi cho các ngành, các địa phương và các doanhnghiệp hai nước phát triển quan hệ kinh tế thương mại Nhờ vậy kim ngạch buônbán hai chiều giữa hai nước tăng trưởng rất nhanh, từ 32 triệu USD năm 1991lên 2,8 tỷ USD năm 2001, tăng gấp 87 lần Trong chuyến thăm hữu nghị chínhthức Việt Nam cuối tháng 3 năm 2002 của Tổng Bí thư Giang Trạch Dân, lãnhđạo hai nước đã nhất trí phấn đấu đưa kim ngạch mậu dịch hai nước lên 3,5 tỷUSD trong năm 2002 và đạt 5 tỷ USD vào năm 2005 Trung Quốc hiện đã trởthành đối tác thương mại lớn thứ 5 của Việt Nam

Ngoài buôn bán chính ngạch theo tập quán và thông lệ quốc tế, thời gianqua buôn bán tiểu ngạch (mậu dịch biên giới) giữa hai nước cũng phát triển rấtmạnh Tỷ lệ giữa buôn bán chính ngạch và buôn bán tiểu ngạch dao động trongkhoảng 50-60% Buôn bán qua biên giới đã góp phần làm tăng nguồn thu ngânsách trên địa bàn, giải quyết việc làm và cải thiện đời sống cho cư dân vùng biêngiới Cùng với buôn bán chính ngạch và buôn bán tiểu ngạch, trong giao lưukinh tế thương mại giữa hai nước còn xuất hiện các hình thức và dịch vụ khácnhư quá cảnh, tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu… Các mặt hàng quá cảnh và tạmnhập khẩu vào Việt Nam, tái xuất khẩu đi Trung Quốc gồm: ô tô, xe máy, hàngđiện tử, cao su, nhôm thỏi, sợi tổng hợp, thuốc lá…

-Về đầu tư, từ khi hai nước bình thường hoá quan hệ, cùng với việc phát

triển quan hệ thương mại, hoạt động đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại ViệtNam ngày càng nhiều lên Tính đến nay, Trung Quốc đã đầu tư vào Việt Nam

107 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đầu tư theo đăng ký là 214,1 triệu USD,vốn thực hiện là 68,7 triệu USD (không kể đặc khu hành chính Hồng Kông),đứng thứ 22 trong số hơn 60 nước và lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam" 1 Trongthời gian qua, sự hợp tác Việt - Trung trong lĩnh vực kinh tế thương mại tuy sốlượng chưa nhiều, quy mô chưa lớn nhưng đã mang những nội dung và phươngthức hết sức mới thể hiện đúng tinh thần hợp tác bình đẳng, cùng có lợi và bướcđầu tuân theo các quy luật của kinh tế thị trường

Trang 24

2.2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRUNG QUỐC

2.2.1 Thực trạng quan hệ thương mại Việt-Trung từ 2001 đến 2010

Quan hệ ngoại thương Việt Nam - Trung Quốc trong những năm qua đã

có bước phát triển mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng tổng kim ngạch xuất nhậpkhẩu bình quân 27,4%/năm trong giai đoạn 2001-2006 Từ năm 2004, TrungQuốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam Năm 2006, tổngkim ngạch mậu dịch giữa hai nước đạt 10,420 tỷ USD Trong đó xuất khẩu đạt3,030 tỷ USD, nhập khẩu đạt 7,390 tỷ USD; nhập siêu 4,360 tỷ USD Đến năm

2007, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 15,858 tỷ USD tăng vọt 52,2% so vớinăm 2007, trong đó xuất khẩu đạt 3,356 tỷ USD (tăng 10,8%), nhập khẩu đạt12,502 tỷ USD(tăng 69,2%), nhập siêu lên tới 9,145 tỷ USD

Bảng 2.1 Xuất nhập khẩu hàng hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc

Đơn vị: Triệu USD

Nguồn: Niên giám thống kê, Tổng cục Thống kê, Báo cáo số liệu XNK, Tổng cục Hải quan

Buôn bán với Trung Quốc chiếm khoảng 12% tổng kim ngạch ngoạithương của Việt Nam, trong khi Việt Nam chỉ chiếm 0,78% tổng kim ngạchngoại thương của Trung Quốc, Việt Nam là bạn hàng lớn thứ 27 của TrungQuốc

Về xuất khẩu: Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc giai đoạn

2001-2006 tăng bình quân 35,6%/năm Năm 2001-2006, đạt hơn 3 tỷ USD, năm 2007 đạthơn 3,3 tỷ USD, khiến cho Trung Quốc trở thành bạn hàng xuất khẩu lớn thứ ba

Ngày đăng: 21/10/2015, 23:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Xuất nhập khẩu hàng hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc - Quan hệ thương mại quốc tế Việt Nam – Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho thương mại Việt Nam
Bảng 2.1. Xuất nhập khẩu hàng hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc (Trang 24)
Bảng 2.3. Nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam từ Trung Quốc - Quan hệ thương mại quốc tế Việt Nam – Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho thương mại Việt Nam
Bảng 2.3. Nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam từ Trung Quốc (Trang 26)
Bảng 2.5: Kim ngạch XNK hàng hoá Việt Nam – Trung Quốc giai đoạn - Quan hệ thương mại quốc tế Việt Nam – Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho thương mại Việt Nam
Bảng 2.5 Kim ngạch XNK hàng hoá Việt Nam – Trung Quốc giai đoạn (Trang 33)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w