Hiện nay, các vấn đề liên kết giữa các địa phương/Quốc gia đang được đặt ra và quan tâm, đặc biệt liên kết trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có một số tác giả đã xem xét, nghiên
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN VI AN
GIẢI PHÁP LIÊN KẾT VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG TRONG THU HÚT
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)
CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN HIỆP
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Vi An
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Các chữ
BOT Xây dựng-kinh doanh-chuyển giao
BT Hợp đồng xây dựng- chuyển giao
BTO Xây dựng- chuyển giao- kinh doanh
CNH-HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
CCN Cụm công nghiệp
CoE Hội đồng Châu Âu
DHMT Duyên hải miền Trung
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
IMF Quỹ Tiền tệ quốc tế
KCN Khu công nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
UNDP Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc
UNCTAD Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Hợp tác và Phát triển WAIPA Tổ chức Xúc tiến Đầu tư Thế giới
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIÊN KẾT TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 14
1.1 TỔNG QUAN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 14 1.1.1 Một số khái niệm về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 14
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI 17
1.2 TỔNG QUAN VỀ LIÊN KẾT THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 21
1.2.1 Khái niệm về liên kết giữa các địa phương 21
1.2.2 Tổng quan về liên kết giữa các địa phương trong thu hút FDI 22
1.2.3 Nội dung liên kết trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của một địa phương 30
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LIÊN KẾT TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA ĐỊA PHƯƠNG 36
1.3.1 Các nhân tố bên ngoài địa phương: 36
1.3.2 Các nhân tố bên trong địa phương: 39
Trang 5CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LIÊN KẾT VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG TRONG THU HÚT FDI CỦA
TỈNH QUẢNG NGÃI TRONG THỜI GIAN QUA 40
2.1 KHÁI QUÁT BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LIÊN KẾT TRONG THU HÚT FDI CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI VÀ CÁC TỈNH TRONG VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG 40
2.1.1 Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI của tỉnh Quảng Ngãi 40
2.1.2 Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI của Vùng duyên hải miền Trung 44
2.2 THỰC TRẠNG THU HÚT FDI CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI TRONG THỜI GIAN QUA 48
2.2.1 Qui mô FDI của tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua: 48
2.2.2 Thực trạng về các chính sách thu hút vốn FDI của tỉnh Quảng Ngãi 53
2.2.3 Đánh giá kết quả của thu hút FDI tại tỉnh Quảng Ngãi 55
2.3 THỰC TRẠNG LIÊN KẾT VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI 58
2.3.1 Thực trạng liên kết trong hoạch định tổ chức thu hút đầu tư 59
2.3.2 Thực trạng liên kết trong lãnh đạo thực thi thu hút đầu tư 67
2.3.3 Thực trạng liên kết trong hỗ trợ và quản lý tiền dự án và dự án đầu tư 71
2.3.4 Thực trạng liên kết trong dịch vụ hỗ trợ đầu tư 74
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG 79
2.4.1 Thành công 79
2.4.2 Hạn chế 81
2.4.3 Nguyên nhân 82
Trang 6CHƯƠNG 3 NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG TRONG THU HÚT FDI CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI 85
3.1 ĐỊNH HƯỚNG LIÊN KẾT VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG TRONG THU HÚT FDI CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI 85 3.1.1 Mục tiêu và các chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 85 3.1.2 Mục tiêu thu hút FDI của tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian đến 88 3.1.3 Nhu cầu liên kết Vùng trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Vùng duyên hải miền Trung 91 3.1.4 Vị thế và năng lực liên kết của tỉnh Quảng Ngãi 92 3.2 CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG TRONG THU HÚT FDI CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI 94 3.2.1 Giải pháp liên kết trong hoạch định tổ chức thu hút đầu tư 94 3.2.2 Giải pháp liên kết trong lãnh đạo thực thi thu hút đầu tư 101 3.2.3 Giải pháp liên kết trong hỗ trợ và quản lý tiền dự án và dự án đầu tư 104 3.2.4 Giải pháp liên kết trong dịch vụ hỗ trợ đầu tư 106 3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC LIÊN KẾT TRONG THU HÚT FDI 109 3.3.1 Giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức liên kết thu hút FDI 109 3.3.2 Giải pháp nâng cao năng lực liên kết trong thu hút FDI 110 3.3.3 Giải pháp liên kết hỗ trợ quản lý liên kết Vùng trong thu hút FDI 112
KẾT LUẬN 114 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vùng duyên hải miền Trung (DHMT) chiếm một phần ba chiều dài bờ biển của nước ta, với vị trí là “mặt tiền” của đất nước hướng ra biển Đông; có tiềm năng kinh tế biển to lớn Trong thời gian gần đây, mỗi địa phương trong Vùng đều có những nỗ lực mạnh mẽ, chủ động khai thác lợi thế về điều kiện
tự nhiên, thu hút đầu tư, tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương Bên cạnh đó, Vùng duyên hải miền Trung cũng đã hình thành một hệ thống đô thị phân bố khá đều theo lãnh thổ Đây là những yếu tố có tác động lớn đến việc thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của vùng trong tương lai
Quảng Ngãi là tỉnh thuộc Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung, là một trung tâm kinh tế và an ninh quốc phòng lớn của Vùng Nhận thức được những lợi thế đặt biệt, riêng có, trong thời gian qua tỉnh Quảng Ngãi đã tăng cường công tác thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp tư nước ngoài vào Quảng Ngãi góp phần làm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh nhà Tuy nhiên, cơ cấu đầu tư FDI vào tỉnh còn bất hợp lý dẫn đến mất cân đối trong việc phát triển giữa các ngành kinh tế làm ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng CNH-HĐH của tỉnh Quảng Ngãi Đồng thời, những lĩnh vực đầu tư FDI vào Quảng Ngãi còn mang nặng tính lắp ráp, gia công Vì vậy, việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa thực sự tạo ra động lực phát triển ngành công nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung tại tỉnh
Qua quá trình thu hút FDI của mỗi địa phương Vùng duyên hải miền Trung trong thời gian qua cho thấy, nếu chỉ dựa vào “lợi thế tĩnh“ về điều kiện tự nhiên mỗi địa phương có được để thực hiện chính sách ưu đãi kêu gọi đầu tư, mà thiếu sự liên kết để tạo ra “lợi thế động” nhằm tối ưu hóa nguồn
Trang 10lực hữu hạn, thì sẽ khó có thể nâng cao được sức cạnh tranh của toàn Vùng trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Xuất phát những vấn đề thực tiễn
trên đây, nghiên cứu đề tài “Giải pháp liên kết với các địa phương vùng
Duyên hải miền Trung trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của tỉnh Quảng Ngãi” là cần thiết và cấp bách
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Trên cơ sở khái quát hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và liên kết giữa các địa phương trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Quảng Ngãi và thực trạng liên kết của Quảng Ngãi với các địa phương Vùng duyên hải miền Trung thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp thích hợp trong liên kết của Quảng Ngãi với các địa phương Vùng duyên hải miền Trung nhằm đẩy mạnh hơn nữa thu hút FDI trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
tỉnh Quảng Ngãi và các nỗ lực của chính quyền địa phương trong thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài và trong liên kết với các địa phương khác trong Vùng duyên hải miền Trung trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Quảng Ngãi
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu những ảnh hưởng của đầu tư FDI và vai trò
liên kết với các địa phương khác trong Vùng duyên hải miền Trung trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Quảng Ngãi, các giải pháp được đề
xuất tăng cường khả năng liên kết thu hút FDI
- Về không gian: Vùng duyên hải miền Trung được giới hạn trong 09
Trang 11tỉnh là Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi , Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận
- Về thời gian: Thực trạng của đối tượng nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi đến nữa đầu năm 2015
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống hoá: Phương pháp này được sử dụng trong phần tìm hiểu cơ sở lý luận, nghiên cứu vấn đề, tiếp cận những nội dung người đi trước đã làm nhằm nhìn nhận vấn đề nghiên cứu một cách toàn diện hơn, từ đó, xác định được nội dung cần tập trung nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Tiến hành thu thập dữ liệu từ các nguồn là các báo cáo, tổng hợp của các cơ quan quản lý Nhà nước về thu hút FDI và các tài liệu được công bố của các cơ quan thống kê và tổ chức có liên quan Ngoài
ra, một số thông tin dữ liệu sơ cấp được thu nhập thừ điều tra phỏng vấn
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Phương pháp này được sử dụng nhằm làm rõ các khái niệm trung tâm của vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, được sử dụng trong các lập luận quy nạp và suy diễn nhằm xác định cụ thể những thành công và hạn chế của việc liên kết đến thu hút FDI của tỉnh Quảng Ngãi, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về liên kết trong thu hút đầu tư trực tiếp nước
Trang 126 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của một địa phương đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên thế giới và ở Việt Nam Hiện nay, các vấn đề liên kết giữa các địa phương/Quốc gia đang được đặt ra và quan tâm, đặc biệt liên kết trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có một số tác giả đã xem xét, nghiên cứu làm cơ sở hình thành các lý luận cơ bản, tăng cường nghiên cứu, phát huy tốt nhất tiềm năng hiện có, đưa ra các giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài của các quốc gia phát triển Dưới đây là một số nghiên cứu:
Quốc tế
- Imad A Moosa (2002) đã tổng kết các lý thuyết FDI thành 3 nhóm là nhóm lý thuyết với giả định thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nhóm lý thuyết dựa vào giả định thị trường không hoàn hảo và nhóm lý thuyết khác Cơ sở của đầu tư trực tiếp nước ngoài được giải thích trên nhiều phương diện như có đầu tư quốc tế là do có sự khác biệt tỷ suất lợi nhuận giữa các quốc gia; đầu
tư xuất phát từ nhu cầu khai thác các lợi thế tài sản đang sở hữu, lợi thế nội bộ hoá hay lợi thế địa điểm đầu tư của chủ đầu tư; đầu tư do có tác động của mở rộng quy mô thị trường; đầu tư do nhu cầu đa dạng các hình thức đầu tư nhằm hạn chế rủi ro của chủ đầu tư; đầu tư theo mô hình về vòng đời sản phẩm và vòng đời công nghệ….Nghiên cứu của Imad A Moosa (2002) cho thấy, Vốn FDI góp phần phát triển các ngành có lợi thế so sánh, các ngành có lợi nhuận cao và các ngành có khả năng cạnh tranh cao Tuy nhiên, nếu chính phủ các nước không có định hướng tốt dễ gây mất cân đối về ngành kinh tế Mặc dù đầu tư trực tiếp nước ngoài được cho là có cả tác động tích cực lẫn tác động tiêu cực đến quốc gia đầu tư cũng như quốc gia nhận đầu tư, nhưng vốn FDI vẫn là nguồn vốn quan trọng cho tất cả các quốc gia trên thế giới và vì thế đầu
tư trực tiếp nước ngoài vẫn luôn diễn ra mạnh mẽ trong điều kiện toàn cầu
Trang 13hoá ngày nay
- Có nhiều cách tiếp cận trong lý thuyết về thu hút vốn FDI, tiêu biểu là hai trường phái của Loewendahl (2001)[24], được dẫn trong Bartels and de Crombrugghe (2009)[16], tiếp cận thu hút đầu tư theo quá trình ra quyết định đầu tư của chủ đầu tư Theo cách tiếp cận này, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu là một quá trình marketing quốc tế trong đầu tư và chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là các chính sách xúc tiến và hỗ trợ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI promotion and facilitation) Thường đây là nỗ lực của các chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương Cụ thể, khung chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được chia thành 4 nhóm nội dung, gồm: hoạch định và tổ chức thu hút đầu tư; lãnh đạo thực thi thu hút đầu tư; hỗ trợ thực thi thu hút đầu tư và hỗ trợ, giám sát hoạt động thu hút đầu
tư Cũng theo nghiên cứu này, các công cụ được sử dụng trong thu hút được chia thành 2 nhóm là nhóm công cụ thể chế (regulatory measures) và nhóm công cụ khuyến khích (incentive measures) Cách tiếp cận thứ hai về thu hút FDI là cách tiếp cận của marketing địa phương trong thu hút đầu tư (place marketing in investment attraction) của Kotler và cộng sự (1993) Khác với quan điểm cho rằng địa phương là nơi cần vốn đầu tư và thu hút đầu tư, đó là việc nỗ lực thu hút đầu tư của các cấp chính quyền Quan điểm này xem địa phương là một sản phẩm mang cơ hội đầu tư đối với khách hàng là các nhà đầu tư và thu hút đầu tư không chỉ gói gọn trong các nỗ lực của chính quyền
mà là của một tập thể gồm chính quyền, các tổ chức và cá nhân của địa phương đó
Về nghiên cứu thực tiễn thu hút đầu tư của các quốc gia, có thể nói rằng bất cứ quốc gia nào cũng có các khảo sát, báo cáo và đánh giá về các chính sách và nỗ lực có liên quan Chẳng hạn, nghiên cứu chính sách thu hút FDI của các nước Malaysia, Singapore, Thailand, United Kingdom Nghiên cứu
Trang 14của Mutascu, Hetes và Miru (2010) [26] xây dựng nên khung tổng quát về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các quốc gia Trung và Đông Âu đã đưa ra nhiều kinh nghiệm đúc kết có giá trị tham khảo đối với nhiều quốc gia đang phát triển
Một trong những khía cạnh quan trọng của thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là liên kết, hợp tác trong thu hút Hợp tác giữa các địa phương có thể được hiểu là sự liên minh, kết hợp về các mối quan hệ trong một hay nhiều lĩnh vực cụ thể nào đó nhằm đem lại lợi ích chung cho tất cả các địa phương
và từng địa phương tham gia Vấn đề hợp tác, liên kết giữa các địa phương luôn được chú ý và nghiên cứu khá bài bản cả về lý thuyết lẫn thực tiễn, làm
cơ sở để phát triển các vùng ở các nước trên thế giới David Ricardo (1772 - 1823) trong cuốn Principles of Political Economy and Taxation (Những nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế khóa) đã khuyến khích việc phát triển thương mại dựa trên lợi thế so sánh về nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động
để tạo nên các trung tâm kinh tế lớn Ricardo cũng cho rằng, các trung tâm kinh tế này sẽ là đầu tàu cho sự phát triển kinh tế quốc gia Bên cạnh đó, trong các công trình của Perroux (1955), đặc biệt trong tác phẩm Những nguyên lý kinh tế học, đã luận chứng về các liên kết theo cách tiếp cận tính lan tỏa dựa vào lý thuyết về “cực tăng trưởng” Quan điểm của ông là thiết lập các vùng
có các ngành với các doanh nghiệp lớn có sức hút mạnh, tức là tập trung các hoạt động kinh tế ở những khu vực năng động nhất tạo nên “cực tăng trưởng” của vùng Các cực tăng trưởng này có sức lan tỏa, sức hút dòng hàng hóa nguyên liệu và lao động trong các khu vực khác trong và ngoài vùng, thúc đẩy hình thành không gian liên kết kinh tế và mạng lưới buôn bán, hình thành các liên kết kinh tế giữa cực tăng trưởng với các vùng xung quanh Mỗi cực tăng trưởng có một vai trò nhất định, dần dần sẽ phát triển và lan tỏa kéo theo
sự phát triển của các khu vực khác trong vùng Ông cho rằng, tăng trưởng và
Trang 15phát triển không thể xuất hiện đồng đều ở mọi nơi với một nguồn lực tới hạn
mà trước hết tập trung ở một số điểm có lợi thế phát triển hơn, sau đó lan tỏa qua các kênh khác nhau với những hiệu ứng khác nhau đối với nền kinh tế John Friedmann (1966), trong tác phẩm Regional development policy: A case study of Venezuela; Cambridge, Mass: MIT Press4 đã đưa ra một cách tiếp cận về liên kết không gian trong phát triển vùng là mô hình trung tâm - ngoại vi Quan điểm của ông nhấn mạnh về tổ chức không gian vùng với các liên kết sản xuất và thương mại trong một trung tâm có nguồn lực dồi dào, trong đó nguồn lực con người có chất lượng tay nghề cao Ở những trung tâm này có sự phát triển và đổi mới liên tục sẽ thu hút sự phát triển ở các vùng ngoại vi Các vùng ngoại vi có nhiều lao động trình độ thấp hơn và sự phát triển lại phụ thuộc vùng trung tâm Với cách tiếp cận nghiên cứu về đầu vào - đầu ra, Trong tác phẩm The strategy of economic development , Hirschman (1958) khi đề cập đến liên kết kinh tế vùng ông đã sử dụng khái niệm liên kết ngược (backward linkages, upstream linkages) và liên kết xuôi (forward linkages, downstream linkages) để nghiên cứu các mối quan hệ ngành và liên ngành Ông cho rằng các hiệu ứng liên kết ngược nảy sinh từ nhu cầu cung ứng đầu vào của một ngành nào đó mới được thiết lập; còn hiệu ứng liên kết xuôi phát sinh từ việc sử dụng đầu ra của ngành đó như là đầu vào của các ngành khác đi theo Nói cách khác bất kỳ một ngành nào mới được thiết lập cũng kéo theo các hoạt động sản xuất khác nhằm cung cấp đầu vào cho nó; và mọi ngành, trừ các ngành sản xuất hàng hóa cuối cùng, đều kéo theo các hoạt động khác sử dụng đầu ra của nó như đầu vào của mình Hiệu ứng liên kết được xem như các xung lực tạo ra các khoản đầu tư mới thông qua sự vận động của các mối quan hệ đầu vào - đầu ra Đây chính là điểm mấu chốt trong
lý thuyết phát triển kinh tế của Hirschman khi ông khuyến nghị cần tập trung đầu tư vào những ngành có các mối liên kết mạnh, để thông qua sức lan tỏa
Trang 16của chúng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (tăng trưởng không cân đối)
Trong các nghiên cứu hợp tác giữa các địa phương trong một quốc gia, các thuật ngữ thường được sử dụng là: hợp tác giữa các địa phương (inter-local, inter-municipal, inter-regional cooperation ),hành động tập thể (collective action), phối hợp và hợp tác giữa chính quyền các địa phương (inter-jurisdiction coordination and cooperation) Các nghiên cứu thực tiễn ở Châu Âu và Canada thường về quan hệ hợp tác giữa địa phương theo loại hình quản lý chính quyền đô thị (municipal governance) trong đó có các thành phố lân cận một hay vài thành phố lớn trong cùng một vùng, hợp tác liên kết trong cung cấp các dịch vụ công cộng Điển hình là công trình nghiên cứu chung của Hội đồng Châu Âu (CoE), Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) và Sáng kiến Chính quyền địa phương của Hiệp hội mở (LGI) về Sổ tay Hợp tác giữa các địa phương năm 2008 [30], trong đó có giới thiệu các khía cạnh khá nhau về hợp tác giữa các địa phương trong bối cảnh Liên minh Châu Âu Các nghiên cứu trong bối cảnh của Mỹ thường nhắc đến thuật ngữ
“hành động chung mang tính thể chế” để chỉ các mối quan hệ hợp tác, phối hợp qua lại giữa các địa phương dưới cấp liên bang Điển hình là nghiên cứu của Feiock (2013) [19], nghiên cứu về khung hành động chung mang tính thể chế của các chính quyền địa phương với các định nghĩa, hình thức,các chi phí, lợi ích rủi ro trong các mối quan hệ này
Liên kết, hợp tác giữa các địa phương của một vùng trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự liên minh, kết hợp các nỗ lực chính sách nhằm tác động, khuyến khích và lôi kéo các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn vào địa phương mình nói riêng và vào cả vùng nói chung theo định hướng và các mục tiêu chung của vùng, có lợi cho tất cả các địa phương Về mặt lý thuyết, liên kết trong thu hút đầu tư được cho là do có sự tồn tại của “thất bại thị trường”
Để vốn được đầu tư sử dụng ở một nơi đem lại hiệu quả cao nhất thì sự điều
Trang 17phối của cơ chế thị trường tự do là hợp lý nhất, tức cho phép cạnh tranh tự do trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo trong thu hút đầu tư Ngược lại, nếu có
“thất bại thị trường” thì vai trò của nhà nước trong can thiệp với một mức độ nào đó đến các luồng đầu tư là cần thiết, trong đó có phối hợp chính sách giữa các địa phương Nhìn chung, các nghiên cứu trên thế giới đều tập trung vào nghiên cứu liên kết giữa các quốc gia trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nghiên cứu liên địa phương trong một quốc gia còn rất hạn chế Các lý thuyết trong lĩnh vực này thường nghiên cứu cạnh tranh giữa các quốc gia trong thu hút trong khuôn khổ lý thuyết trò chơi và đánh giá tác động của hoạt động hợp tác của các đối thủ cạnh tranh Điển hình một nghiên cứu của Glass và Saggi (2000) [20] nghiên cứu về mặt lý thuyết khả năng hợp tác trong điều kiện cạnh tranh bằng các công cụ thuế trong thu hút đầu tư, hay UNCTAD (2005a) [29] nghiên cứu về hợp tác giữa các nước đang phát triển trong các thỏa thuận đầu tư quốc tế Trong thực tiễn, nghiên cứu liên kết hợp tác giữa các quốc gia trong thu hút đầu tư thường dưới dạng nghiên cứu các hiệp định song và đa phương giữa các quốc gia liên quan đến tạo lập môi trường thu hút đầu tư công bằng và thực trạng triển khai các hiệp định quốc tế này Trong các nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn này, cơ sở của hợp tác giữa các quốc gia/địa phương trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài được phân tích khá tổng quát Cụ thể, hợp tác có thể là giải pháp tốt bởi nó có thể giúp các bên tiết kiệm nguồn lực dùng trong cạnh tranh, dành nguồn lực này phục
vụ cho mục đích khác, chẳng hạn phát triển “sản phẩm” là các cơ hội và môi trường đầu tư trong thu hút đầu tư, tăng cường hoạt động tập thể tạo vị thế cạnh tranh với các nhóm cạnh tranh khác, hạn chế những tác động tiêu cực từ cạnh tranh Tuy nhiên, hợp tác và liên kết giữa các địa phương cũng có các
“chi phí” của nó như hợp tác giữa các địa phương có thể sẽ cản trở sự phân phối nguồn lực một cách hiệu quả so với điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn
Trang 18hảo bởi nó có thể tạo nên tình trạng độc quyền nhóm và nâng cao khả năng có thể có lợi ích nhóm thông qua thông đồng trong liên kết hợp tác Bên cạnh đó, không phải lúc nào hợp tác liên kết cũng là một công cụ hiệu quả, bởi hợp tác luôn có chi phí trực tiếp của nó như chí phí thay đổi tổ chức, chi phí đào tạo lại và chi phí giao dịch duy trì hợp tác, chưa kể tính “nghẽn” khi số lượng thành viên của liên kết ngày càng tăng Rất có khả năng chi phí này lớn hơn nhiều so với lợi ích có được từ việc hạn chế cạnh trạnh lẫn nhau Hơn thế nữa,
sự phối hợp giữa các địa phương thành viên trong liên kết cũng có khả năng thất bại, đặc biệt khi mỗi địa phương có những mong đợi và mục tiêu riêng khi tham gia vào liên kết và vì thế có những hành vi chiến lược khác nhau trong “trò chơi” liên kết Về loại hình hợp tác và liên kết giữa các địa phương trong thu hút đầu tư nước ngoài, xét theo tương quan trình độ phát triển của địa phương tham gia, Feiock (2013) [19] cho rằng có 9 hình thức hợp tác khác nhau giữa các địa phương trong một hành động chung cụ thể là quan hệ mạng lưới phi chính thức (informal networks), hợp đồng hợp tác (contracts), thoả thuận có tính ràng buộc (mandated agreements), nhóm điều phối chung (working groups), quan hệ đối tác (partnerships), quan hệ mạng lưới có tổ chức (constructed networks), hệ thống tự tổ chức đa phương diện (multiplex self-organizing systems), hội đồng chính quyền địa phương (councils of governments) và cơ quan trung ương điều phối khu vực (centralized regional authorities) UNCTAD (2005b) [30] cho rằng có hai loại là liên kết khu vực theo chiều ngang và liên kết khu vực theo chiều dọc
Theo Bartels and de Crombrugghe (2009) [16], quyết định chọn địa điểm đầu tư của nhà đầu tư thường qua hai giai đoạn, đầu tiên là chọn một khu vực địa lý nhất định trước, sau đó mới chọn một nơi cụ thể trong khu vực địa lý đó
để đầu tư Với đặc trưng này, các địa phương trong vùng có thể có hai dạng hợp tác: hợp tác nhằm hạn chế bất lợi khi cạnh tranh thu hút nhà đầu tư về
Trang 19đầu tư tại địa phương mình và hợp tác để cùng lôi kéo nhà đầu tư quan tâm lựa chọn khu vực mình để đầu tư Việc kết hợp mục đích của hai hình thức này trong một mối liên hệ liên kết không phải lúc nào cũng dễ dàng do bản chất vừa hợp tác vừa cạnh tranh của nó
Trong nước
Có nhiều nghiên cứu khác nhau trên nhiều khía cạnh về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vấn đề liên kết kinh kế, liên kết vùng Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này tập trung đi sâu phân tích, nghiên cứu các vấn đề về thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài và vấn đề liên kết với các địa phương để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Tỉnh Quảng Ngãi Dưới đây là nghiên cứu của một
số tác giả liên quan đến nội dung thực hiện của đề tài này
Hiện nay, các nghiên cứu thu hút đầu tư có liên quan đến tỉnh Quảng Ngãi, chủ yếu có các báo cáo hàng năm của tỉnh cùng với các đề xuất, giải pháp Tuy nhiên, các nghiên cứu về liên kết thu hút FDI giữa tỉnh Quảng Ngãi
và các địa phương vùng DHMT lại chưa được tỉnh đề cập đến nhiều
Liên quan đến liên kết vùng kinh tế của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, đáng chú ý là các bài viết có liên quan đăng trong Kỷ yếu Hội thảo liên kết kinh tế trên địa bàn miền Trung – Tây Nguyên do Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng tổ chức năm 2009 và cuốn sách “Liên kết phát triển các tỉnh duyên hải miền Trung” tập hợp các bài viết của 3 hội thảo do Tổ điều phối vùng các tỉnh DHMT và Quỹ nghiên cứu phát triển miền Trung xuất bản năm 2012 Liên quan trực tiếp đến xúc tiến đầu tư Vùng duyên hải miền Trung có các nghiên cứu và báo cáo được tập hợp trong Kỷ yếu Hội nghị Xúc tiến đầu tư Vùng duyên hải miền Trung do Ban Điều phối Vùng duyên hải Miền Trung tổ chức vào tháng 3 năm 2013
- Báo cáo khảo sát Liên kết giữa các địa phương trong phát triển vùng tại Cộng hòa Liên bang Đức, tập thể tác giả Viện nghiên cứu quản lý kinh tế
Trang 20Trung ương (2011) Các tác giả bằng phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích, căn cứ tình hình thực tế ở Cộng hòa Liên bang Đức để đúc kết
và đưa ra những nhận định, quan điểm làm cơ sở cho việc hình thành các lý luận về liên kết kinh tế vùng, các luận điểm căn bản và các lý luận liên kết với các địa phương trong thu hút FDI cho đề tài này
- GS.TS.Trương Bá Thanh, Đại học Kinh tế Đà Nẵng (3/2009); PGS.TS
Lê Thế giới (2/2008); TS.Hồ Kỳ Minh-Ths.Lê Minh Nhất Duy, Viện nghiên cứu phát triển kinh tế-xã hội Đà Nẵng (2012); TS.Nguyễn Văn Huân, Viện Kinh tế Việt Nam (2012) Với phương pháp tư duy lý luận, phương pháp tổng kết thực tiễn đã hình thành nên một số cơ sở lý luận cho vấn đề liên kết, liên kết vùng, giải đáp các thắc mắc và đưa ra các giải pháp trong thực tiễn quá trình phát triển các tỉnh duyên hải miền Trung
- TS.Nguyễn Hiệp, Đại học Kinh tế Đà Nẵng (2012) Với phương pháp nghiên cứu những vấn đề cốt lõi mang tính lý luận và thực tiễn trong chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài để hình thành nên ý tưởng liên kết trong vấn đề thu hút FDI và các công cụ cũng như chính sách có liên quan đến FDI, vấn đề cạnh tranh và hợp tác trong thu hút FDI rất hữu ích cho các nội dung được xây dựng trong đề tài
- PGS.TS.Mai Ngọc Cường (2000), Với thực tiễn đã đúc kết được, bằng phương pháp tổng hợp, nghiên cứu các cơ chế chính sách hiện hành cũng như những bất cập, vướng mắc trong quá trình thực thi chính sách cần
bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới, tác giả đã đưa ra một số giải pháp mà trong quá trình hoàn thiện đề tài này có thể tham khảo, vận dụng
- Liên quan đến nội dung phần thực trạng tình hình thu hút FDI của tỉnh Quảng Ngãi và sự liên kết với các tỉnh vùng duyên hải miền Trung, đề tài thu thập số liệu tình hình thu hút các dự án FDI của tỉnh Quảng Ngãi từ trước đến năm 2014 từ Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Ngãi, và tình hình liên kết
Trang 21giữa Quảng Ngãi với các tỉnh trong Vùng duyên hải miền Trung cho đến nay
- Bên cạnh cơ sở lý luận và việc phân tích thực trạng cụ thể, tìm ra những nguyên nhân, hạn chế trong vấn đề liên kết của Tỉnh Quảng Ngãi với các địa phương Vùng duyên hải miền Trung trong thu hút FDI và để đảm bảo các giải pháp đưa ra đáp ứng được yêu cầu thực tiễn và có tính ứng dụng cao, tác giả đã tham khảo một số thêm một số tài liệu và luận văn khác có liên quan đến đề tài này
- Đề tài luận văn thạc sỹ Kinh tế phát triển “Giải pháp liên kết với các địa phương vùng duyên hải miền Trung trong thu hút FDI của tỉnh Bình Định”, Phan Văn Toàn, Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2014
- Đề tài luận văn thạc sỹ Kinh tế phát triển “ Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Quảng Ngãi”, Trần Thị Diễm Hương, Đại học Đà Nẵng,
Đà Nẵng, 2011
Ngoài ra đề còn kế thừa, vận dụng một số tài liệu như: sách, giáo trình, các tài liệu có liên quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài, liên kết vùng, liên kết kinh tế vùng, các nghiên cứu thực tế tại địa phương về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp FDI và còn kết hợp tham khảo một số luận văn kinh tế khác
Có thể thấy rằng nghiên cứu về liên kết trong thu hút FDI giữa các địa phương là không nhiều kể cả trong và ngoài nước Riêng đối với Quảng Ngãi, vấn đề liên kết trong thu hút FDI chỉ mới dừng lại ở giác độ tham gia vào các diễn đàn chung được Ban Điều phối Vùng duyên hải miền Trung đề xuất để thảo luận và định hướng chính sách, thông qua đó cùng xúc tiến đầu tư tại một thời điểm với tư cách là một vùng Hiện vẫn chưa có nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề lý luận và thực tiễn liên kết của Quảng Ngãi với các địa phương khác trong hoạt động này
Trang 22CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIÊN KẾT TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.1 TỔNG QUAN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.1.1 Một số khái niệm về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
a Khái quát về FDI
Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) đưa ra định nghĩa FDI như sau: FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là một khía cạnh để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn các trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là
“công ty con” hay “chi nhánh công ty” [31]
Tại Việt nam, theo Luật Đầu tư Việt Nam năm 2005 thì FDI được hiểu là việc các ĐTNN đưa vốn bằng tiền hoặc bất cứ hình thức tài sản nào vào Việt Nam để tiến hành hoạt động đầu tư và có tham gia quản lý hoạt động kinh doanh Ở đây hoạt động FDI có khác với các hình thức đầu tư nước ngoài khác là có sự trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư
Như vậy FDI được hiểu là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay của công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh và có tham gia hoạt động quản lý nó FDI cũng chính là một loại hình
di chuyển vốn giữa các quốc gia
Đầu tư trực tiếp có thể là hợp tác kinh doanh hoặc thành lập công ty với 100% vốn nước ngoài Hợp tác kinh doanh có nghĩa là việc một hay nhiều nhà đầu tư nước ngoài cùng góp vốn với một hoặc nhiều đối tác Việt Nam trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập một công ty liên doanh Theo đó các chủ
Trang 23đầu tư phải đóng góp một phần vốn vào vốn pháp định của công ty liên doanh
đó Các thành viên tham gia góp vốn gọi là các sáng lập viên và đều có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ đóng góp vốn Lợi nhuận của các nhà đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh và được phân phối chia theo tỷ lệ vốn đóng góp
- FDI có các đặc điểm sau:
+ FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc sáp nhập các doanh nghiệp với nhau
+ FDI không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn liền với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý, tạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư
+ FDI ngày nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh của công ty đa quốc gia (Multinational Corporations - MNCs)
- Với các đặc điểm trên FDI có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của quốc gia cũng như của địa phương Điều đó thể hiện việc đem lại nhiều lợi ích như:
+ Cơ hội tiếp xúc với công nghệ mới đối với các nước đang phát triển, góp phần tăng năng xuất lao độn cũng như khai thác được những thế mạnh của quốc gia cũng như của địa phương
+ Là nhân tố kích thích cho sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia và địa phương
+ Tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân
+ Nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá, mở rộng thị trường và
mở rộng quan hệ trong việc hội nhập kinh tế quốc tế
Do vậy đối với các nước đang phát triển thì FDI thực sự là cần thiết cho sự phát triển kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 24b Khái quát về thu hút FDI
Có nhiều cách tiếp cận trong lý thuyết về thu hút FDI, tiêu biểu là hai trường phái sau đây Loewendahl (2001)[24], được dẫn trong Bartels and de Crombrugghe (2009) [16], tiếp cận thu hút đầu tư theo quá trình ra quyết định đầu tư của chủ đầu tư Theo cách tiếp cận này, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu là một quá trình marketing quốc tế trong đầu tư, trong đó các chính quyền địa phương phải nỗ lực để lôi kéo các nguồn lực của địa phương mình thông qua chính sách và thực thi chính sách để các nhà đầu tư tiềm năng biết đến quốc gia/địa phương như là một địa điểm đầu tư hấp dẫn, giúp các nhà đầu tư này hình thành ý đồ đầu tư, ra quyết định đầu tư và được cấp giấy phép đầu tư đồng thời giữ các nhà đầu tư hiện tại tiếp tục hoạt động kinh doanh và gia tăng đầu tư tại quốc gia/địa phương đó Chính sách thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài được hiểu là hệ thống các nguyên tắc mà chính quyền của một quốc gia/địa phương vận dụng, các công cụ và biện pháp mà họ áp dụng nhằm tác động, lôi kéo và khuyến khích các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tư vốn vào quốc gia/địa phương mình theo các mục tiêu và định hướng đã định
Cách tiếp cận thứ hai về thu hút FDI là cách tiếp cận của marketing địa phương trong thu hút đầu tư (place marketing in investment attraction) của Kotler và cộng sự (1993) Khác với quan điểm cho rằng quốc gia/địa phương
là nơi cần vốn đầu tư và thu hút đầu tư, đó là việc nỗ lực thu hút đầu tư, nỗ lực của các cấp chính quyền, quan điểm này xem quốc gia/địa phương là một sản phẩm mang cơ hội đầu tư đối với khách hàng là các nhà đầu tư và thu hút đầu tư không chỉ gói gọn trong các nỗ lực của chính quyền mà là của một tập thể gồm chính quyền, các tổ chức và cá nhân của quốc gia/địa phương đó Như vậy, chiến lược marketing hỗn hợp mà các tổ chức chính quyền nổ lực để thu hút “khách hàng” phải hướng tới chiến lượt “sản phẩm” và “xúc
Trang 25tiến” “Sản phẩm” ở đây được hiểu là những gì chính quyền địa phương có thể cung cấp được cho các nhà đầu tư tài nguyên, nguồn nhân lực, hệ thống các quy định chính sách về đầu tư, cơ sở hạ tầng, các dịch vụ hỗ trợ đầu tư
“Sản phẩm” hấp dẫn chỉ là một phần trong chiến lượt marketing đầu tư, “xúc tiến” sẽ là chiến lượt cần thiết để đưa thông tin và hình ảnh về “sản phẩm” tới các nhà đầu tư nước ngoài
Thu hút FDI có thể được xem là một chức năng cần thiết của các cấp chính quyền tại các nước đang phát triển, nơi mà FDI có thể là một lời giải cho yêu cầu về vốn và công nghệ cao cho quá trình công nghiệp hóa, hội nhập với các nước trên thế giới
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI
a Sự ổn định của môi trường vĩ mô
Đây là điều kiện tiên quyết của mọi ý định và hành vi đầu tư Điều này đặc biệt quan trọng đối với việc huy động và sử dụng vốn nớc ngoài, Để thu hút được FDI, nền kinh tế địa phương phải là nơi an toàn cho sự vận động của vốn đầu tư, và là nơi có khả năng sinh lợi cao hơn các nơi khác
Mức độ ồn định kinh tế vĩ mô được đánh giá thông qua tiêu chí: chống lạm phát và ốn định tiền tệ Tiêu chí này được thực hiện thông qua các công
cụ của chính sách tài chính tiền tệ như lãi suất, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, các công cụ thị trường mở đồng thời phải kiểm soái được mửc thâm hụt ngân sách hoặc giữ cho ngân sách cân bằng
b Hệ thống Pháp luật và chính sách đầu tư nước ngoài của quốc gia
và của các địa phương trong vùng kinh tế tiếp nhận đầu tư
Tăng trưởng của doanh nghiệp có vốn ĐTNN thường gặp nhiều khó khăn hơn các doanh nghiệp trong nước về các vấn đề liên quan đến môi trường pháp lý Bên cạnh đó môi trường pháp lý cũng quyết định đến đặc điểm của thị trường địa phương và trong nước Môi trường pháp luật là bộ
Trang 26phận không thể thiếu đối với hoạt động FDI Đây chính là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp FDI Một môi trường pháp lý
ổn định và phù hợp là cơ sở rất quan trọng cho một môi trường kinh doanh tốt
và điều này đóng vai trò quyết định đến việc tăng trưởng của các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp ĐTNN Đây thường là yếu tố được quan tâm đầu tiên của các nhà đầu tư khi lựa chọn địa điểm thực hiện các hoạt động kinh doanh Vấn đề mà các nhà ĐTNN quan tâm là:
Môi trường cạnh tranh lành mạnh, quyền sờ hữu tài sàn tư nhân được pháp luật bảo đảm
Quy chế pháp lý của việc phân chia lợi nhuận đối với các hình thức vận động cụ thể của vốn nước ngoài
Quy định về thuế, giá, thời hạn thuê đất Bởi yếu tố này tác động trực tiếp đến giá thành sản phầm và tỷ suất lợi nhuận
Do vậy, hệ thống pháp Luật phái thể hiện được nội dung cơ bản của nguyên tắc: Tôn trọng Độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi và theo thông lệ Quốc tế Đồng thời phải thiết lập và hoàn thiện định chế pháp lý tạo niềm tin cho các nhà ĐTNN
Bên cạnh hệ thống văn bản pháp luật thì nhân tố quyết định pháp luật có hiệu lực là bộ máy quản lý Nhà nước phải gọn nhẹ, cán bộ quản lý theo hướng tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư song không ảnh hưởng đến sự phát triển chung của nền kinh tế và xã hội
c Sự phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng và các dịch vụ phụ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật là cơ sở để thu hút FDI và cũng là nhân tố thúc đầy hoạt động FDI diễn ra nhanh chóng, có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Cơ sở hạ tầng thường là mối quan tâm hàng đầu được các nhà đầu tư đưa ra xem xét rất kỹ lưỡng khi quyết định đầu tư
Trang 27hoặc mở rộng hoạt động tại địa phương
Bên cạnh đó, hệ thống các dịch vụ phụ trợ phục vụ cho hoạt động FDI của doanh nghiệp hiện cũng được coi là yếu tố tác động không nhỏ đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp Hệ thống phụ trợ này có thể bao gồm các hoạt động tư vấn hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện các thủ tục giấy
tờ có liên quan đến doanh nghiệp, cung cấp các thông tin có liên quan đến thị trường, các chương trình marketing, các hỗ trợ để doanh nghiệp có thể tiếp cận với các dịch vụ tài chính Do môi trường chính sách trên toàn quốc thống nhất, nên vai trò của chính quyền địa phương trong cung cấp các dịch vụ hỗ trợ là yếu tố quan trọng quyết định tính hấp dẫn của môi trường đầu tư tại địa phương so với các địa bàn khác
d Trình độ quản lý và năng lực của người lao động
Nguồn lao động vừa là nhân tố đế thu hút vừa là nhân tố sử dụng có hiệu quả FDI Trình độ lao động phù hợp với yêu cầu, năng lực quản lý cao thì sẽ tạo ra năng xuất cao Bên cạnh đó, các nhà ĐTNN sẽ giảm được một phần chi phí đào tạo và bớt được thời gian đào tạo nên tiến độ và hiệu quả của các dự
án sẽ đạt đúng theo mục tiêu đề ra Ngược lại, trình độ thấp kém của người lao động sẽ làm cho nước chủ nhà thua thiệt, đặc biệt là ở các khâu của quá trình quản lý hoạt động FDI Mặt khác, sai lầm của các cán bộ quản lý Nhà nước có thể làm thiệt hại về thời gian, tải chính cho nhà ĐTNN và cho nước chủ nhà Vì vậy, nước chủ nhà phải tích cực nâng cao trình độ dân trí của người lao động để không chỉ có nâng cao khả năng tiếp cận công nghệ, kỹ thuật tiên tiến mà còn nâng cao kỹ thuật quản lý kinh tế
e Hệ thống thị trường đồng bộ, chiến lược phát triển hướng ngoại
Hoạt động kinh doanh muốn đem lại hiệu quả cao thì phải diễn ra trong môi trường thuận lợi, có đầy đủ các thị trường: thị trường lao động, thị trường tài chính, thị trường hàng hoá
Trang 28Các nhà ĐTNN tiến hành sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà đòi hỏi phải có một hệ thống thị trường đồng bộ, đảm bảo cho hoạt động của nhà đầu
tư được tồn tại và đem lại hiệu quả Thị trường lao động là nơi cung cấp lao động cho nhà đầu tư Thị trường tài chính là nơi cho nhà đầu tư vay vốn để tiến hành sản xuất kinh doanh và thị trường hàng hoá - dịch vụ là nơi tiêu thụ sản phẩm, lưu thông hàng hóa, đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư Hệ thống thị trường này sẽ đảm bảo cho toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thuận lợi - từ nguồn đầu vào đến việc tiêu thụ sản phẩm đầu ra
Chiến lược phát triền kinh tế hướng ngoại là thực hiện chiến lược xuất khẩu Mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh với các Quốc gia khác tạo điều kiện cải thiện cán cân thương mại, chiếm được lòng tin của các nhà đầu tư
f Nguồn lực và các lợi thế so sánh của quốc gia/vùng kinh tế tiếp nhận đầu tư
Chi phí cho các yếu tố đầu vào là yếu tố quyết định cho khả năng cạnh tranh của sản phẩm Vì vậy mức độ sẵn có, chất lượng, và chi phí của các đầu vào cần thiết luôn là quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư Thông thường, các yếu tố nguồn lực sản xuất bao gồm vốn, nguồn tài nguyên, nguồn nhân lực và công nghệ Đối với các doanh nghiệp ĐTNN các yếu tố nguồn vốn và công nghệ thường đóng vai trò thứ yếu so với hai yếu tố còn lại Để đảm bảo tính cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác, các doanh nghiệp FDI cố gắng khai thác tối đa các nguồn lực này tại địa phương để giảm chi phí sản xuất và đảm bảo tính chủ động cho doanh nghiệp
g Hệ thống thông tin
Trong hoàn cảnh lãnh thổ là sự kết nối của các hệ thống và mạng lưới, thông tin giữ vai trò quan trọng Một mạng lưới thông tin giữa các cơ quan quản lý và hệ thống doanh nghiệp có thường được tổ chức theo nguyên tắc
Trang 29trung gian Trung gian ở đây được hiểu là một nhóm các chuyên gia đảm trách việc thu thập và quản lý thông tin để cung cấp cho các doanh nghiệp tiếp cận Các chuyên gia này phải hiểu rõ các vấn đề doanh nghiệp gặp phải và thường xuyên tiếp xúc với doanh nghiệp Nếu thiết lập được một bầu không khí tin tưởng giữa chủ doanh nghiệp và các chuyên gia thu thập thông tin sẽ giúp các doanh nghiệp trong việc xây dựng chiến lược phát triển và đóng vai trò chính cho việc ra quyết định cho các hoạt động của doanh nghiệp
1.2 TỔNG QUAN VỀ LIÊN KẾT THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.2.1 Khái niệm về liên kết giữa các địa phương
Theo nghiên cứu của CoE, UNDP và LGI (2008) định nghĩa liên kết giữa các địa phương (intermunicipal cooperation) là việc các chính quyền địa phương lân cận nhau cùng nổ lực thực hiện các công việc trong xây dựng, phát triển, quản lý các dịch vụ và cơ sở hạ tầng công cộng hoặc trong cung ứng các dịch vụ này nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người sử dụng và cho mục đích phát triển của địa phương
Liên kết địa phương là liên kết mang tính hợp tác bổ sung lẫn nhau giữa các địa phương có những nét tương đồng về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, phân bố dân cư Nhằm mục đích tăng cường sức hút đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các địa phương trong vùng Phương thức liên kết rất đa dạng,
đó có thể là tập trung phát triển một hạt nhân trung tâm, xung quanh là các vệ tinh hoặc cũng có thể là một thành phẩm được đưa qua nhiều giai đoạn mà mỗi địa phương đảm nhận một vai trò trong chuỗi giá trị sản phẩm đó
Như vậy, liên kết giữa các địa phương có thể được hiểu là sự liên minh, kết hợp giữa các địa phương về các mối quan hệ trong một hay nhiều lĩnh vực
cụ thể nào đó nhằm đem lại các lợi ích chung cho tất cả các địa phương và từng địa phương tham gia Sự hợp tác giữa các địa phương trong việc xây
Trang 30dựng các quy hoạch cũng như hình thành các cơ chế, chính sách phát triển thống nhất thúc đẩy sự phát triển của từng địa phương là một trong những ví
dụ điển hình về liên kết kinh tế Do đó, để đảm bảo sự thành công trong liên kết, cần phải có một môi trường chính sách minh bạch, bình đẳng và đồng thuận giữa các chủ thể tham gia liên kết
1.2.2 Tổng quan về liên kết giữa các địa phương trong thu hút FDI
a Khái niệm về liên kết giữa các địa phương trong thu hút FDI
Một trong những khía cạnh quan trọng của thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là hợp tác, liên kết trong thu hút FDI Liên kết trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa các địa phương là sự liên kết quá trình marketing quốc tế trong thu hút đầu tư, trong đó các địa phương thông qua định hướng, chính sách, công cụ và hoạt động của mình nỗ lực liên kết với nhau nhằm lôi kéo các nhà đầu tư tiềm năng biết đến địa phương mình như là một địa điểm đầu
tư hấp dẫn, giúp các nhà đầu tư này hình thành ý đồ đầu tư, ra quyết định đầu
tư, đồng thời giữ các nhà đầu tư hiện tại tiếp tục hoạt động kinh doanh và gia tăng đầu tư tại địa phương mình
Cơ sở của sự liên kết chính là các lợi ích có được từ liên kết trong điều kiện có “thất bại thị trường” Về mặt lý thuyết, để vốn được đầu tư sử dụng ở một nơi đem lại hiệu quả cao nhất thì sự điều phối của cơ chế thị trường tự do
là hợp lý nhất, tức cho phép cạnh tranh tự do trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo trong thu hút đầu tư Ngược lại, nếu có các thất bại thị trường thì vai trò của Nhà nước trong việc can thiệp với một mức độ nào đó đến các luồng đầu
tư là cần thiết, trong đó có các tác động hợp tác
Cơ sở của sự liên kết giữa các địa phương trong thu hút FDI nằm ở khía cạnh hợp tác sẽ giúp các bên có thể để dành nguồn lực dùng cho việc cạnh tranh giữa các địa phương với nhau trước đây phục vụ cho mục đích khác, chẳng hạn phát triển “sản phẩm” là những gì chính quyền địa phương có thể
Trang 31cung cấp được cho các nhà đầu tư nhằm tăng cường thu hút đầu tư, hạn chế những tác động tiêu cực từ cạnh tranh, đồng thời tăng cường hoạt động tập thể, tạo vị thế cạnh tranh với các nhóm cạnh tranh khác Chính điều này sẽ giúp cho từng địa phương có được lợi thế cạnh tranh cao hơn so với các địa phương không tham gia hợp tác
Tuy nhiên, hợp tác và liên kết giữa các địa phương cũng cần phải có các
“chi phí” của nó Hợp tác giữa các địa phương có thể sẽ tạo nên tình trạng độc quyền nhóm Bên cạnh đó, hợp tác liên kết không phải lúc nào cũng là một công cụ hiệu quả, bởi hợp tác luôn có chi phí trực tiếp của nó, chưa kể tính
“nghẽn” (congestion) khi số lượng thành viên của liên kết ngày càng tăng Rất
có khả năng chi phí này lớn hơn nhiều so với lợi ích có được từ việc hạn chế cạnh trạnh lẫn nhau Hơn thế nữa, sự phối hợp giữa các địa phương thành viên trong liên kết cũng có khả năng thất bại, đặc biệt khi mỗi địa phương có những mục tiêu và kỳ vọng riêng khi tham gia vào liên kết và vì thế có những hành vi chiến lược không đồng nhất trong “trò chơi” liên kết
b Lợi ích, chi phí và rủi ro trong liên kết thu hút FDI của địa phương
Lợi ích liên kết thu hút FDI :
Trong phát triển kinh tế, hợp tác có thể hoạt động như một chất xúc tác
để khám phá những cách thức mới trong kinh doanh và liên kết trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa các địa phương là một trong những hình thức hợp tác ở trình độ cao của mỗi địa phương, và đã đem đến cho địa phương đó những cơ hội để nhận được những lợi ích lớn hơn, an toàn hơn và nhân bản hơn, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, những lợi ích đó là:
+ Tiết kiệm các nguồn lực nhờ giảm được chi phí cạnh tranh đồng thời
sử dụng hiệu quả hơn nguồn vốn của mỗi địa phương;
+ Tăng quy mô hoạt động nhằm đạt đến quy mô hiệu quả nhờ có phân công lao động xã hội;
Trang 32+ Tăng khả năng linh hoạt của mỗi bên trong việc phát huy thế mạnh; + Tăng được sức mạnh cạnh tranh chung nhờ sử dụng được những ưu thế riêng biệt của các bên;
+ Giúp giảm thiểu chi phí trong việc mời các chuyên gia, cố vấn vì khi
có sự liên kết thì sẽ có việc chia sẻ nội bộ những kinh nghiệm, thành công, các giải pháp phát triển và các ranh giới chéo giữa các địa phương với nhau + Giúp giảm thiểu các rủi ro thông qua sự chia sẻ trách nhiệm
Chi phí trong quá trình liên kết
Theo Richard C Feiock (2013) [19], các hành động tâp thể nào cũng có những chi phí và rủi ro của nó Khi hợp tác có thể mang lại nhiều lợi ích, nhưng có thể đi kèm với những rủi ro và chi phí liên quan Như với những lợi ích của sự hợp tác , bản chất của những rủi ro và chi phí sẽ được tình hình cụ thể và thường rất khó để định lượng Tuy nhiên , sự khớp nối rõ ràng về những rủi ro và chi phí là rất quan trọng để đánh giá có hay không có hiệu quả hay lợi thế trong hoạt động hợp tác Richard C Feiock (2013) cho rằng gồm
có 4 dạng chi phí giao dịch (transaction costs) trong việc hợp tác sau đây:
+ Chi phí tìm kiếm thông tin phục vụ liên kết (search and information cost);
+ Chi phí đàm phán, giao dịch trong quá trình liên kết (bargaining cost); + Chi phí triển khai giám sát, kiểm tra tính hiệu lực trong thực hiện các thỏa thuận liên kết (enforcement cost);
+ Thiệt hại do có thể mất một số quyền tự chủ trong các hoạt động liên kết theo thỏa thuận (loss of autonomy)
Rủi ro trong quá trình liên kết:
Cũng theo Richard C Feiock (2013), những rủi ro của sự hợp tác được hình thành bởi bản chất của các vấn đề tiềm ẩn khung hành động tập thể Các rủi ro trong hợp tác (collaboration risks) thể hiện trong ba loại: rủi ro về mất
Trang 33phối hợp, phân chia không công bằng, và đào tẩu:
+ Rủi ro trong phối hợp (coordination risk) là rủi ro phát sinh trong quá trình liên kết do khả năng phối hợp giữa các hoạt động chung thấp dẫn đến không đạt được mục tiêu liên kết hay phát sinh thêm các chi phí mới; cũng có thể giữa các bên không đồng nhất với nhau nên không thể phối hợp chung + Rủi ro bất đồng trong phân phối lợi ích và phân chia chi phí (division risk) là rủi ro phát sinh khi các bên liên kết đã thỏa thuận được các mục tiêu chung nhưng gặp phải bất đồng trong phân chia chi phí và phân phối các lợi ích từ liên kết
+ Rủi ro tác dụng phụ (defection risk) là rủi ro phát sinh khi có tình huống quyết định hay hành động của một bên tham gia có ảnh hưởng tiêu cực đến các đối tác khác trong thỏa thuận liên kết
c Các hình thức liên kết trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Liên kết trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra cả hai phương diện vĩ mô và vi mô Ở tầm vĩ mô liên kết trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua sự thiết lập các mối quan hệ hợp tác thu hút đầu tư nước ngoài giữa các nước, các địa phương, khu vực Ở tầm vi mô, liên kết trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua sự thiết lập các mối quan hệ hợp tác làm ăn giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế Liên kết có nhiều hình thức như: liên kết ngang, liên kết dọc, liên kết chính thức, liên kết phi chính thức, liên kết đa phương, liên kết song phương… Theo các nhà nghiên cứu, dù là hình thức nào liên kết cũng có vai trò quan trọng trong hỗ trợ, thúc đẩy các chủ thể tham gia hợp tác và mang lại hiệu quả thu hút đầu tư cao
Căn cứ theo tính tự chủ của đối tác tham gia liên kết (Richard C Feiock, 2013) [19]: có 9 hình thức hợp tác khác nhau giữa các địa phương trong một hành động chung, cụ thể:
Trang 34- Quan hệ mạng lưới phi chính thức (informal networks): Các địa phương tự quyết định trong việc tìm kiếm, lựa chọn đối tác tin tưởng trong mạng lưới quan hệ để hợp tác với nhau và phát triển thành các thỏa thuận hợp tác, giao kèo với nhau Hình thức này được ưa chuộng vì không chỉ để duy trì quyền tự chủ và quyền lực địa phương mà còn để đảm bảo sự biến đổi cục diện đã thỏa thuận với nhau nhằm đạt được mục tiêu đã định
- Hợp đồng hợp tác (contracts): Là hợp đồng ký kết giữa các đơn vị cá nhân thông qua liên doanh và hợp đồng dịch vụ đòi hỏi sự nhất trí của các bên tham gia Hợp đồng hợp tác thiết lập các công cụ quản trị bảo đảm quyền tự chủ của địa phương trong khi cung cấp một cơ chế chính thức để giải quyết các vấn đề nảy sinh cũng như những vấn đề khác có liên quan đến các bên và Mạng lưới hợp đồng liên kết chính quyền địa phương trong các thỏa thuận ràng buộc về mặt pháp lý, thỏa thuận hỗ trợ lẫn nhau để quản lý tình trạng khẩn cấp
+ Thỏa thuận có tính ràng buộc (mandated agreements): Thỏa thuận có tính ràng buộc yêu cầu hai hoặc nhiều cơ quan có thẩm quyền tham gia vào những thỏa thuận dịch vụ, trong đó xác định bản chất, phạm vi và một số các điều khoản của thỏa thuận Trong thỏa thuận có tính ràng buộc, cơ quan có thẩm quyền cấp cao hơn có thể cung cấp kinh phí cho Thỏa thuận này, nhưng
nó bắt buộc phải hình thành mối quan hệ hợp tác giữa các cơ quan có thẩm quyền cấp dưới với nhau Mục đích của mối quan hệ này là làm giảm những nhũng nhiễu, khó khăn có thể xảy ra do tác động vô thức gây ra đối với một công việc cụ thể
+ Nhóm điều phối chung (working groups): Nhóm điều phối hay Hội đồng là các hiệp hội tự nguyện gồm các cán bộ công chức nhà nước đã được bầu cử hoặc bổ nhiệm không chính thức, để chia sẻ, trao đổi thông tin và phối hợp làm việc cùng với nhau Các quyết định của nhóm không chính thức này
Trang 35dưới hình thức tăng cường hợp tác chia sẻ những hiểu biết và kỳ vọng với nhau, mặc dù chỉ thực thi những vấn đề mang tính chất xã hội, có tính bắt buộc chung Nhóm điều phối chung cũng có cũng có thể mang hình thức tương tác thường xuyên với nhau thông qua các hiệp hội nghề nghiệp hoặc hội nghị cộng đồng
+ Quan hệ đối tác (partnerships): Quan hệ đối tác và các thỏa thuận đa phương khác nhau được thực hiện tự nguyện bởi các đối tác tham gia Quan
hệ này yêu cầu các đối tác chấp nhận các điều khoản chung và có nghĩa vụ đối với hành động của mình Quan hệ đối tác thường bao gồm cả tổ chức công, tổ chức tư nhân và diễn ra phổ biến Ví dụ, quan hệ đối tác phát triển kinh tế vùng ngày càng trở nên phổ biến và không ngừng tăng lên để thực hiện các nỗ lực phát triển kinh tế vùng
+ Xây dựng mạng lưới có tổ chức (constructed networks): Xây dựng mạng lưới có tổ chức bao gồm các cơ chế được thiết kế hoặc điều phối bởi bên thứ ba chẳng hạn như chính quyền cấp cao hơn để cấu trúc các mối quan
hệ đa phương trên các lĩnh vực chính sách có liên quan Cơ quan cấp trên cung cấp kinh phí và các ưu đãi cho các đối tác tham gia vào các thỏa thuận hợp tác Thông thường, chính quyền cấp trên chỉ định một tổ chức dẫn đầu có trách nhiệm phát triển, quản lý, phối hợp cung ứng dịch vụ liên chính quyền
+ Hệ thống tự tổ chức đa phương diện (multiplex self-organizing systems): Hệ thống tự tổ chức đa phương diện dựa vào sự gắn kết giữa việc phối hợp chính sách thông qua nhiều chính sách với các chức năng khác nhau Các thỏa thuận dưới hình thức đàm phán cá nhân khó khả thi khi kết nối nó trong một mối quan hệ với một chính sách có liên quan Những mối quan hệ
đa chiều giữa hai đối tác với nhau thì chắc chắn và ổn định hơn nếu so với các mối quan hệ đó chỉ đến từ một phía, do đó nó tạo ra những cơ hội lớn hơn cho việc trao đổi trong tương lai Mô hình chung của hội nhập khu vực như liên
Trang 36doanh song phương, các thỏa thuận, hợp đồng và đã tạo ra sự gắn kết bằng các thỏa thuận ràng buộc ở cấp độ vĩ mô
+ Cơ quan trung ương điều phối khu vực (centralized regional authorities): Cơ quan có thẩm quyền của khu vực có đầy đủ chức năng và phạm vi địa lý để có thể "nội hóa" các yếu tố bên ngoài và các vấn đề về quy
mô của tổ chức Một ví dụ, Tại Mỹ nỗ lực thống nhất những chính quyền địa phương trong vùng thành một chính quyền chung đô thị đa năng, hợp nhất thành phố và các quận đã không thành công Nguyên nhân là do sự tranh giành quyền lực hay sự chia sẻ quyền lực khi hợp nhất và nhiều vấn đề khác, các chi phí chính trị và hành chính cũng bị giới hạn lại và yêu cầu phải đưa ra các giải pháp cụ thể để thu hẹp phạm vi hành động theo cơ chế tập thể
Liên kết thu hút FDI trong giai đoạn hiện nay được diễn ra trên một phạm vi rộng lớn, ở cả tầm vi mô lẫn vĩ mô Vì vậy, bên cạnh phát triển nội lực bên trong để tăng hiệu quả của sự phối hợp, thì việc đẩy mạnh liên kết những chủ thể tham gia trong quá trình hợp tác là một điều tất yếu
+ Hội đồng chính quyền địa phương (councils of governments): Hội đồng chính quyền địa phương và các tổ chức cơ quan khác trong vùng quan tâm đến mối quan hệ tập thể và mối quan hệ của các chính sách trong số đối tác tham gia Cơ cấu tổ chức và trách nhiệm theo quy định của pháp luật, ví
dụ như ở Hoa Kỳ thường dựa trên luật pháp liên bang và tiểu bang Họ có một loạt các hình thức và hình thức phổ biến nhất là Hội đồng chính quyền vùng
và các tổ chức quy hoạch đô thị, được thiết kế để quản lý các vấn đề giao thông vận tải liên bang trong khu vực đô thị bằng việc phân bổ quỹ liên bang
Căn cứ theo mối quan hệ:
- Liên kết theo chiều dọc:
+ Trên góc độ vĩ mô: Là sự phân cấp giữa Trung ương với chính quyền địa phương, giữa Bộ với Sở chuyên ngành; liên kết trong quản lý ngành và
Trang 37quản lý lãnh thổ theo địa phương đối với hoạt động thu hút FDI
+ Trên góc độ vi mô: Là mối liên kết giữa nhà phân phối, các tập đoàn, doanh nghiệp FDI đến các doanh nhiệp vừa và nhỏ địa phương hoặc giữa nhà phân phối, các tập đoàn, doanh nghiệp FDI đến các doanh nhiệp lớn ở địa phương hình thành chuỗi giá trị sản phẩm Nhìn chung liên kết theo chiều dọc không giới hạn về mặt địa lý và quy mô doanh nghiệp
- Liên kết theo chiều ngang:
+ Trên góc độ vĩ mô: Là giữa các bộ chuyên ngành, giữa các vùng liên kết với nhau hay giữa các địa phương liên kết với nhau trong hoạt động thu hút FDI
+ Trên góc độ vi mô: Là mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành với các doanh nghiệp của các ngành khác có liên quan Liên kết này thường giới hạn ở phạm vi địa lý cụ thể hay thông qua các hiệp hội ngành nghề Trong liên kết theo chiều ngang, các doanh nghiệp cùng ngành có thể phối hợp với nhau để cung cấp hàng hóa cho đơn hàng lớn, các doanh nghiệp đầu vào và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bổ trợ
Căn cứ theo hình thức quản lý:
- Liên kết chính thức:
+ Trên góc độ vĩ mô: Là liên kết giữa hai hay nhiều bộ chuyên ngành, giữa hai hay nhiều vùng liên kết với nhau hay giữa hai hay nhiều địa phương liên kết với nhau dưới sự giám sát, quản lý của Trung ương đối với hoạt động FDI
+ Trên góc độ vi mô: Là liên kết giữa hai hay nhiều doanh nghiệp trong ngành hoặc khác ngành với nhau dưới sự giám sát, quản lý của các cơ quan chức năng đối với hoạt động thu hút FDI
- Liên kết phi chính thức:
Trang 38+ Trên góc độ vĩ mô: Là giữa hai hay nhiều bộ chuyên ngành, giữa hai hay nhiều vùng, giữa hai hay nhiều địa phương tự liên kết với nhau mà không
có sự giám sát, quản lý của Trung ương đối với hoạt động thu hút FDI
+ Trên góc độ vi mô: Là sự tự liên kết giữa hai hay nhiều doanh nghiệp trong ngành hoặc khác ngành với nhau không dưới sự giám sát, quản lý của các cơ quan chức năng đối với hoạt động thu hút FDI
Căn cứ theo cấu trúc thành phần:
- Liên kết song phương:
+ Trên góc độ vĩ mô: Là giữa hai bộ chuyên ngành, giữa hai vùng liên kết với nhau hay giữa hai địa phương liên kết với nhau trong hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
+ Trên góc độ vi mô: Là mối liên kết giữa hai doanh nghiệp trong ngành với nhau hoặc giữa doanh nghiệp trong ngành với doanh nghiệp thuộc ngành khác có liên quan
- Liên kết đa phương:
+ Trên góc độ vĩ mô: Là giữa các bộ chuyên ngành, giữa các vùng liên kết với nhau hay giữa các địa phương liên kết với nhau trong hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
+ Trên góc độ vi mô: Là mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành với nhau hoặc với các doanh nghiệp thuộc ngành khác có liên quan
1.2.3 Nội dung liên kết trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của một địa phương
Với giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài, liên kết trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài được Đề tài tiếp cận theo hướng quản trị hoạt động marketing của các cơ quan nhà nước hữu quan Điều này sẽ giúp cho cách tiếp cận của đề tài dễ dàng hơn so với cách tiếp cận marketing địa phương Theo cách tiếp cận này, Bartels and de Crombrugghe (2009) [16] dẫn nghiên
Trang 39cứu của Loewendahl (2001) đưa ra 4 nhóm với 10 nội dung cụ thể trong hoạt động thu hút đầu tư Dựa theo kết quả nghiên cứu này, đề tài hình thành nên nội dung liên kết thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài với nội dung cụ thể như sau:
a Nhóm nội dung thứ nhất: là liên kết trong hoạch định tổ chức thu hút đầu tư Các nội dung của nhóm này gồm:
- Liên kết trong đánh giá môi trường thu hút đầu tư
Thực chất của việc đánh giá môi trường thu hút đầu tư là việc xem xét, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thu hút đầu tư như môi trường
vĩ mô, môi trường cạnh tranh trong thu hút và năng lực tổ chức thu hút đầu tư của địa phương Vì vậy, việc liên kết trong công tác đánh giá môi trường đầu
tư giúp cho các chủ thể tham gia có cơ hội đánh giá, so sánh được những vấn
đề như sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của địa phương, chỉ số giá tiêu dùng, công tác thủ tục hành chính Đồng thời, các địa phương có thể nhận thức được sự bất lợi của việc cạnh tranh trong thu hút đầu hay việc cạnh tranh trong cung ứng các “sản phẩm” đáp ứng nhu cầu cho nhà đầu tư giữa các địa phương với nhau Bên cạnh đó, các địa phương có thể nhận thức được năng lực tổ chức thu hút đầu tư của mình
- Liên kết trong định hướng chính sách thu hút;
Một mức độ cao của sự liên kết định hướng chính sách là rất quan trọng,
vì nó sẽ nâng cao hiệu quả thực hiện các mục tiêu ưu tiên thu hút đầu tư Sự gắn kết chính sách đề cập đến mức độ nhất quán nội bộ các mục tiêu, chính sách thu hút FDI, các hình thức quản lý của mỗi địa phương Đây là một kết nối mạnh mẽ và phối hợp giữa các các nhà hoạch định chính sách địa phương bởi việc thu hút FDI không phải là một mục đích tự thân mà là phương tiện để thúc đẩy phát triển kinh tế Mặt khác, liên kết trong định hướng chính sách thu hút sẽ hạn chế các rủi ro trong thu hút FDI của mỗi địa phương; hạn chế
Trang 40những xung đột, cạnh tranh trong mục tiêu thu hút Do đó sự phối hợp trong định hướng chính sách thu hút của địa phương là cần thiết để giảm thiểu tổn thất của việc cạnh tranh thu hút đầu tư với nhau và mang lại lợi ích có thể chia
sẻ từ sự hợp tác này
- Liên kết trong xác định mục tiêu thu hút;
Mục đích cơ bản nhất của việc liên kết giữa các địa phương là giúp cho các bên liên quan đạt được các mục tiêu trong thu hút đầu tư nước ngoài Vì vậy, liên kết phải đặt việc thống nhất mục tiêu thu hút lên hàng đầu theo hướng các mục tiêu đó không mâu thuẫn và không ảnh hưởng tiêu cực đến các lợi ích của các bên tham gia liên kết Và khi bắt đầu bước vào đàm phán liên kết, giữa các địa phương cần thiết phải thống nhất trước các mục tiêu thu hút để có những thỏa thuận phù hợp Các mục tiêu này có thể là về lượng vốn đầu tư, số dự án FDI, lao động trong doanh nghiệp FDI, tỷ lệ đóng góp của phần vốn FDI vào GDP, nộp ngân sách hàng năm, tỷ lệ đóng góp của doanh nghiệp FDI vào tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước/địa phương đó cũng có thể là uy tín và hình ảnh môi trường đầu tư của từng địa phương và của nhóm tham gia liên kết
- Liên kết trong hoạch định và sử dụng công cụ khuyến khích thu hút đầu tư
Liên kết trong hoạch định và sử dụng công cụ khuyến khích thu hút đầu