Lời nói đầuTrong chương trình giáo dục tiểu học, tốn học được coi là một mơn họccơng cụ, là “chìa khĩa” giản dị và quý báu mở cửa cho các ngành khoa họckhác, gĩp phần đặt nền mĩng cho vi
Trang 1Lời nói đầu
Trong chương trình giáo dục tiểu học, tốn học được coi là một mơn họccơng cụ, là “chìa khĩa” giản dị và quý báu mở cửa cho các ngành khoa họckhác, gĩp phần đặt nền mĩng cho việc hình thành và phát triển nhân cách củahọc sinh; giúp học sinh phát triển tư duy logic, trí tuệ, rèn luyện phương phápsuy luận, giải quyết vấn đề một cách khoa học, chính xác, nhận thức đúng đắn
về thế giới xung quanh từ đĩ hành động cĩ hiệu quả trong thực tiễn Như vậy
cĩ thể nĩi, tốn học cĩ vai trị rất quan trọng
Để bắt nhịp với sự phát triển của xã hội, chương trình giáo dục tiểu họcnĩi chung, chương trình mơn tốn nĩi riêng cũng cĩ nhiều thay đổi Cụ thể, từnăm học 2001 – 2002, cùng với các mơn học khác, mơn Tốn tiểu học đượcxây dựng mới trên quan điểm kế thừa chương trình Cải cách Giáo dục năm1981; tăng cường thực hành, giảm lí luận, phù hợp với thực tiễn Việt Nam;được trình bày dưới ánh sáng của tốn học hiện đại, tiếp cận với trình độ chungcủa các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên trong quátrình giảng dạy thực tế, nhiều giáo viên và học sinh vẫn gặp khơng ít khĩ khănđặc biệt là với nội dung giải tốn cĩ lời văn – một dạng tốn khĩ đối với họcsinh tiểu học Với học sinh lớp 4, nhận thức của các em đã cĩ tiến bộ hơn songcác em vẫn rất lúng túng với dạng tốn này dẫn đến kết quả học tập chưa khảquan
Với mong muốn gĩp phần nâng cao chất lượng giải tốn cĩ lời văn chohọc sinh tiểu học nĩi chung, học sinh lớp 4 nĩi riêng, tơi mạnh dạn đưa ranhững suy nghĩ, những biện pháp của mình về vấn đề này mong gĩp một phầnnào đĩ giúp cho việc giải tốn cĩ lời văn của học sinh lớp 4 thuận lợi hơn, đạtkết quả cao hơn Nhưng do thời gian, điều kiện và kinh nghiệm cịn hạn chếnên khơng tránh khỏi những thiếu sĩt Vì vậy, tơi rất mong nhận được những ýkiến đĩng gĩp của các nhà chuyên mơn các cấp để sáng kiến của tơi được hồnthiện hơn Tơi xin trân trọng cảm ơn !
Trang 2PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong dạy học toán nói chung, dạy học toán ở tiểu học nói riêng, giải toán
có vị trí đặc biệt quan trọng và là một trong những biểu hiện năng động nhấttrong hoạt động trí tuệ của học sinh Bởi trong giải toán, học sinh phải tư duymột cách tích cực và linh hoạt, phải biết suy nghĩ năng động và sáng tạo
Thông qua hoạt động giải toán, học sinh biết cách vận dụng các kháiniệm, quy tắc, công thức đã được học trong sách giáo khoa để xử lí các tìnhhuống đặt ra trong môn toán, trong các môn học khác và trong thực tế đời sốnglao động sản xuất Đồng thời thông qua hoạt động giải toán, giáo viên có thểphát hiện những ưu điểm cũng như những thiếu sót của học sinh về kiến thức,
kĩ năng và tư duy để có biện pháp kịp thời giúp các em phát huy những ưuđiểm hoặc khắc phục những nhược điểm đó Cũng thông qua hoạt động giảitoán, học sinh tự rút ra những ưu điểm và hạn chế của bản thân để có cáchkhắc phục, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học toán
Bên cạnh đó, hoạt động giải toán giúp học sinh rèn luyện những đức tính
và phong cách của người lao động mới, làm việc khoa học như ý chí khắc phục
và vượt qua khó khăn, lòng say mê và tìm tòi, sáng tạo trong học tập Qua đóhình thành cho học sinh thói quen xét đoán vấn đề có căn cứ, tính cẩn thận,chu đáo, làm việc có kế hoạch, có kiểm tra kết quả cuối cùng, từng bước hìnhthành và rèn cho học sinh khả năng suy luận, thói quen suy nghĩ độc lập, linhhoạt, khắc phục cách suy nghĩ máy móc, rập khuôn Từ đó hình thành khảnăng trình bày, diễn đạt một vấn đề một cách chặt chẽ và mạch lạc, từng bướcphát triển tư duy cho học sinh Qua hoạt động giải toán, học sinh được củng cốkiến thức và rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội, giáodục môi trường,…
Nhận thức được vị trí cũng như tầm quan trọng của giải toán có lời vănđối với học sinh, những năm qua, nhiều giáo viên đã tích cực nghiên cứu, traudồi chuyên môn nghiệp vụ, tìm tòi các phương pháp giảng dạy tối ưu nhất cho
Trang 3học sinh; nhiều phụ huynh cũng đã quan tâm, kèm cặp con em mình trong việchọc toán song thực tế vẫn có không ít giáo viên, học sinh gặp khó khăn với nộidung giải toán có lời văn này Thậm chí có những học sinh không hiểu, bế tắc,không biết cách giải dẫn đến chán nản, ngại học, ngại suy nghĩ, kết quả học tậpkhông cao Vậy làm thế nào để học sinh hiểu và biết cách giải các bài toán cólời văn ở tiểu học nói chung và ở lớp 4 nói riêng ? Làm thế nào để học sinh cóhứng thú học toán hơn và say mê giải toán hơn ? …
Là một giáo viên với nhiều năm đứng lớp bản thân tôi luôn trăn trở vềvấn đề này Tôi nhận thấy cần phải suy nghĩ, nghiên cứu nghiêm túc, tìm rabiện pháp tốt nhất để nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinhlớp 4
Xuất phát từ những suy nghĩ đó, năm học 2011 – 2012 tôi đã chọn đề tài
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4” để nghiên cứu với mong muốn góp một phần tiếng nói nho nhỏ của
mình vào việc giải quyết vấn đề không mấy đơn giản này
I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1 Cơ sở lí luận:
Trong chương trình toán tiểu học, toán có lời văn là một dạng toán khó đốivới học sinh Thực tế cho thấy nhiều học sinh giải và thực hiện tốt các kĩ năngtính toán với các dạng toán khác nhưng khi giải toán có lời văn lại lúng túng vàgiải sai Bởi các bài toán có lời văn không như các bài toán thực hiện phép tính,học sinh chỉ cần nhìn vào yêu cầu và thực hiện Bài toán có lời văn là bài toánchưa có phép tính, là dạng toán được diễn đạt bằng lời văn, bằng những câuchữ, học sinh phải tư duy để tìm ra phép tính và giải Mà mỗi đề toán, bài toán
có lời văn thường là sự kết hợp của 3 thứ ngôn ngữ: ngôn ngữ tự nhiên (ngônngữ trong đời sống, ví dụ: “bay đi”, “chạy đến”,…), ngôn ngữ toán học và ngônngữ kí hiệu (chữ số, các dấu phép tính, các dấu quan hệ, các loại dấu ngoặc,…)
Ba thứ ngôn ngữ ấy được thể hiện trong mỗi bài toán với 3 yếu tố Đó là các dữkiện của bài toán, những ẩn số và những điều kiện của bài toán Trong đó, dữ
Trang 4kiện của bài toán là những cái đã cho, đã biết trong bài toán Đôi khi nó đượccho dưới dạng ẩn bởi ngôn ngữ (có thể là các câu, từ hoặc có thể là những chữsố,…); những ẩn số là những cái chưa biết và cần tìm, thường được diễn đạtdưới dạng câu hỏi của bài toán; những điều kiện là quan hệ giữa các dữ kiện và
ẩn số (giữa cái đã cho và cái phải tìm) Những quan hệ này thường không đơngiản, để hiểu được và tìm ra cách giải không phải là vấn đề dễ dàng đối với họcsinh tiểu học Các em thường tri giác trên tổng thể, chú ý không chủ định chiếm
ưu thế, dễ bị phân tán, lôi cuốn vào các trực quan, gợi cảm, hướng ra bên ngoài,vào hoạt động, chưa có khả năng hướng vào bên trong, vào tư duy Trí nhớ trựcquan - hình tượng, máy móc phát triển hơn trí nhớ logic; hình tượng, hình ảnh
cụ thể dễ nhớ hơn các câu chữ trừu tượng, khô khan; trí tưởng tượng chịu nhiềutác động của hứng thú, kinh nghiệm sống, mẫu vật đã biết, đã quan sát Mặc dù
ở cuối cấp tiểu học (lớp 4, lớp 5), học sinh bước đầu có khả năng phân tích,tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, suy luận, phán đoán (ở mức độ đơngiản) song khả năng phân tích và tổng hợp phát triển không đồng đều, khôngđúng, không đầy đủ dẫn đến khái quát sai trong hình thành khái niệm Khi giảitoán, học sinh thường bị ảnh hưởng một số từ ngữ “thêm”, “bớt”, “nhiều gấp”,
…và thường tách chúng ra khỏi điều kiện chung để lựa chọn phép tính ứng với
từ đó, do vậy mà các em dễ mắc sai lầm Khi nghe một mệnh đề toán học, các
em chưa có khả năng phân tích rành mạch các thuật ngữ, các bộ phận của câu
mà hiểu nó một cách tổng quát Thêm vào đó, vốn từ ngữ, thuật ngữ toán họccòn hạn chế nên việc giải toán đã khó khăn lại càng khó khăn hơn với các em.Bởi thế nên giáo viên muốn kết quả học tập cũng như chất lượng giải toán
có lời văn của học sinh được nâng cao thì cần phải xem xét, nghiên cứu ởnhiều phương diện: phương pháp giảng dạy của giáo viên, phương pháp họctập của học sinh, …trên cơ sở nắm chắc đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học,nhận thức rõ vai trò của mình trong quá trình dạy học Từ đó đưa ra nhữngbiện pháp giảng dạy phù hợp với các em
2 Cơ sở thực tiễn:
Trang 5Qua giảng dạy và quan sát thực tế (thăm lớp, dự giờ) các giờ học Toáncủa các em học sinh lớp 4, tôi thấy việc tổ chức dạy và học môn Toán trongtrường Tiểu học Thống Nhất còn nhiều khó khăn như: Sự nhận thức của các
em học sinh không đồng đều, nhiều em chưa thấy được vai trò của môn toántrong quá trình học tập, chưa thấy được giá trị, ý nghĩa của việc học toán tronglao động và công tác sau này, ý thức tự giác trong học tập của các em chưacao Điều kiện, hoàn cảnh gia đình của nhiều học sinh còn khó khăn, éo le.Bên cạnh đó phương pháp giảng dạy của một số giáo viên chưa linh hoạt, chưasáng tạo, cứng nhắc,…
Từ những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trên đây tôi nhận thức được rằngcần phải có biện pháp giúp học sinh nâng cao chất lượng giải toán có lời văngóp phần đào tạo thế hệ học sinh tương lai có đủ các kỹ năng cần thiết để tiến
xa hơn trên con đường học tập của mình
III THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
- Từ tháng 09 năm 2011 đến hết tháng 04 năm 2012
IV MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Giúp học sinh hiểu, biết cách giải và trình bày bài giải của dạng toán có lờivăn ở lớp 4 góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán lớp 4 trongnhà trường
- Giúp học sinh thuận lợi trong quá trình học toán, qua đó giúp các em học tốtcác môn học khác
- Giúp các em phát triển một cách toàn diện Đồng thời góp phần thực hiệnmục tiêu đào tạo của nhà trường trong giai đoạn mới
- Trau dồi, tích lũy kinh nghiệm, nâng cao năng lực bản thân, hiểu vấn đề mộtcách hệ thống từ đó đưa ra biện pháp phù hợp để phục vụ công tác giảng dạy
V ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Các bài giải dạng toán có lời văn của học sinh lớp 4A, 4B trường Tiểu học
Thống Nhất, thành phố Thái Nguyên
VI NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Trang 6Với sáng kiến này tôi đã đề ra các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Thu thập thông tin qua vở ghi môn Toán của học sinh khóa trước để tìmhiểu những lỗi phổ biến của các em khi giải toán có lời văn
- Điều tra, khảo sát tình hình học toán (nội dung giải toán có lời văn) củahọc sinh lớp 4A, 4B trường Tiểu học Thống Nhất, thành phố Thái Nguyên đểnắm được thực trạng và tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó
- Đưa ra một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn chohọc sinh lớp 4
VII PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Tìm hiểu, nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến sáng kiến để làm cơ
sở lý luận cho việc nghiên cứu
2 Phương pháp đàm thoại, điều tra, phỏng vấn:
- Tiến hành dự giờ, thăm lớp và trao đổi với các giáo viên chủ nhiệm củacác lớp để tìm ra những biện pháp dạy cho học sinh từng lớp
- Gặp gỡ trao đổi với học sinh để nắm được tư tưởng, suy nghĩ, … của các
em và tìm ra những biện pháp phù hợp, có hiệu quả đối với việc “Nâng caochất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4”
- Trao đổi với phụ huynh học sinh, phối kết hợp thực hiện để giúp học sinhhọc toán tốt hơn
3 Phương pháp kiểm tra, đánh giá:
- Kiểm tra thực trạng việc học toán (phần toán có lời văn) của học sinh
- Đánh giá, phân loại các bài giải toán có lời văn của học sinh theo từng giaiđoạn trong quá trình nghiên cứu
PHẦN II: NỘI DUNG
Trang 7I THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN
CỦA HỌC SINH
u n m h c tôi đã ti n hành đi u tra kh o sát 56 h c sinh các l p 4A,
Đ ọc tôi đã tiến hành điều tra khảo sát 56 học sinh các lớp 4A, ến hành điều tra khảo sát 56 học sinh các lớp 4A, ều tra khảo sát 56 học sinh các lớp 4A, ảo sát 56 học sinh các lớp 4A, ọc tôi đã tiến hành điều tra khảo sát 56 học sinh các lớp 4A, ớp 4A,
4B c a tr ng Ti u h c Th ng Nh t, c th :ủa trường Tiểu học Thống Nhất, cụ thể: ường Tiểu học Thống Nhất, cụ thể: ểu học Thống Nhất, cụ thể: ọc tôi đã tiến hành điều tra khảo sát 56 học sinh các lớp 4A, ống Nhất, cụ thể: ất, cụ thể: ụ thể: ểu học Thống Nhất, cụ thể:
Lớp
T.Shọc sinh
1344,8 %
1140,7 %
414,8%
13,7%
Từ bảng số liệu khảo sát cụ thể trên đây có thể nói số học sinh đạt điểmkhá giỏi chiếm tỉ lệ thấp, số học sinh đạt điểm trung bình và dưới trung bìnhchiếm lỉ lệ khá cao Qua giảng dạy từ những năm học trước, từ những bài làmcủa học sinh khóa trước mà tôi thu thập được và từ bài kiểm tra khảo sát thực
tế tôi nhận thấy học sinh thường mắc các lỗi cơ bản như sau:
* L i gi i sai, không đ y đ , không đúng v i yêu c u c a bài toán, l i gi i ờng Tiểu học Thống Nhất, cụ thể: ảo sát 56 học sinh các lớp 4A, ủa trường Tiểu học Thống Nhất, cụ thể: ớp 4A, ủa trường Tiểu học Thống Nhất, cụ thể: ờng Tiểu học Thống Nhất, cụ thể: ảo sát 56 học sinh các lớp 4A,không t ng ng v i phép tính, danh s sai, ví d 1: ương ứng với phép tính, danh số sai, ví dụ 1: ứng với phép tính, danh số sai, ví dụ 1: ớp 4A, ống Nhất, cụ thể: ụ thể:
Bài toán 1 : Một cửa hàng bán vải, ngày thứ nhất cửa hàng bán được 230mét vải, ngày thứ hai cửa hàng bán được 340 mét vải, ngày thứ ba cửa hàng
Bài giải 2Ngày thứ ba bán được số mét vải là:
Trang 8230 + 340 = 570 (m)
Ngày thứ ba bán số mét vải là:
570 : 3 = 190 (m) Đáp số: 190 m
230 + 340 = 570 (m)
Cả ba ngày bán được số mét vải là:
570 : 3 = 190 (m) Đáp số: 190 m
54 : 6 = 9 (lít)
Số lít dầu đựng vào 72513 can là:
72513 x 9 = 652607 (can) Đáp số: 652607 can
Bài giải 3 Mỗi can đựng vào số lít dầu là:
Trang 9Trưng bình mỗi xe chuyển được là :
81 : 9 = 9 (tạ) Đáp số: 9 tạ
5 ô tô đi sau chở được số là:
45 x 4 = 180 (tạ)Trung bình mỗi xe chở được số thực phẩm là:
(180 + 180 ) : 9 = 400 (tạ)
400 tạ = 40 tấn Đáp số: 40 tấn
* Lời giải sai, phép tính sai Ví dụ:
Bài toán 4: Người ta xếp 187 250 cái áo vào các hộp, mỗi hộp 8 áo Hỏi có thểxếp được vào nhiều nhất bao nhiêu hộp và còn thừa mấy cái áo ? (Bài 3 –sgkToán 4 trang 77), có học sinh đã giải như sau:
Bài giải
187 250 : 8 = 23 408 (dư 2) (hộp)
Số hộp đựng được số áo là 23 408 hộp dư 2 cái áo
187 250 : 9 = 20805 (dư 5) (hộp)
Số hộp đựng được nhiều nhất là 20805 hộp và còn thừa 5 cái áo
Đáp số: 20805 hộp (dư 2 cái áo)
Nguyên nhân dẫn đến việc học sinh giải toán sai :
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh giải toán sai nhưtrên, có thể kể đến những nguyên nhân khách quan như:
Nhiều học sinh không nhận được sự quan tâm của người thân về việc họccủa mình, hoặc có nhưng không thường xuyên Điều này đã ảnh hưởng khôngnhỏ tới tâm lý cũng như ý chí phấn đấu, vươn lên trong học tập của các em.Các em dễ bằng lòng với những gì đã đạt được, ngại học, ngại rèn luyện,không muốn phấn đấu
Mặt khác do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, nhiều em không có góchọc tập riêng ở nhà Điều này cũng góp phần ảnh hưởng đến kết quả học tậpcủa học sinh
Trang 10Bên cạnh đó, một số giáo viên còn chưa linh hoạt, chưa sáng tạo, chưa tíchcực, chưa tâm huyết với việc giảng dạy Một số giáo viên trẻ vốn kinh nghiệm,phương pháp truyền đạt còn hạn chế Phong trào học toán ở một số lớp chưathực sự sôi nổi, chưa thu hút được nhiều học sinh tham gia, chưa được các giáoviên chủ nhiệm quan tâm sát sao.
Một số bài toán trong chương trình tương đối khó với những học sinh cósức học trung bình, yếu Ví dụ như bài toán 3 (SGK Toán 4 – trang 129): TạiHội khỏe Phù Đổng toàn quốc lần thứ VI năm 2004, số huy chương vàng của
Phương pháp học tập của học sinh chưa tốt, chưa tích cực, chưa chủ động.Khả năng tiếp thu kiến thức, hình thành kĩ năng của một số học sinh còn chậm,năng lực tư duy yếu, lẫn lộn giữa dữ kiện và ẩn số của bài toán (cái đã cho vàcái phải tìm), khả năng diễn đạt ngôn ngữ kém, lủng củng, vốn hiểu biết thực
tế của học sinh còn hạn chế nên mới có câu lời giải “số can đựng vào số lítdầu” Đây là những nguyên nhân dẫn đến việc học sinh giải toán sai
Sự không cẩn thận, không đọc kĩ đề bài, không hiểu đề bài với các mốiquan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm của bài toán cũng là một nguyên nhândẫn đến việc giải toán sai Đặc biệt, sự “rỗng” hoặc không nắm chắc kiến thức,
kĩ năng thực hiện các phép tính cơ bản (+, - , x, : ) hoặc nhầm lẫn các thuậtngữ toán học đã học ở lớp dưới như: hơn (kém) ….đơn vị, gấp lên (giảm đi) …
Trang 11lần, quên các công thức, quy tắc, cách giải một số dạng toán (bài toán Tìm hai
số khi biết tổng hoặc hiệu và tỉ số của hai số đó, bài toán Tìm phân số của một
số, bài toán Tìm số trung bình cộng,…) cũng dẫn đến việc giải sai, thậm chí
không giải được các bài toán có lời văn
II BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Trước thực tế chất lượng học toán của học sinh như đã khảo sát, qua tìmhiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó tôi đã nghiên cứu và tìm ra một sốbiện pháp nhằm nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh rồi ápdụng trong giảng dạy với các lớp mà tôi đã điều tra Qua thời gian thử nghiệm,tôi nhận thấy những biện pháp mà tôi đã tiến hành dưới đây có hiệu quả đángkể
1 Xây dựng kế hoạch nghiên cứu:
Ngay từ đầu năm học tôi đã xây dựng kế hoạch nghiên cứu và báo cáoBGH để cùng phối hợp thực hiện
2 Tổ chức gặp gỡ, trao đổi với giáo viên chủ nhiệm lớp và các bậc phụ huynh học sinh:
Trong quá trình học tập của học sinh thì giáo viên chủ nhiệm lớp và phụhuynh học sinh là những người có vai trò rất quan trọng Nhận thức rõ vai trò
ấy, tôi đã tiến hành gặp gỡ với các giáo viên chủ nhiệm, phổ biến kế hoạch;gặp gỡ các phụ huynh học sinh lớp 4 ngay trong những ngày đầu năm học đểtrao đổi với các phụ huynh cũng như giáo viên chủ nhiệm về vai trò của giảitoán có lời văn trong học toán nói riêng và trong học tập nói chung,… Chỉ ranhững hạn chế, những ảnh hưởng của giải toán có lời văn đối với việc học tậpcủa các em Đưa ra thực trạng kết quả, chất lượng giải toán có lời văn của họcsinh, những đánh giá chung về thực trạng và những nguyên nhân dẫn đến thựctrạng đó Đề xuất biện pháp cùng phối hợp thực hiện nhằm nâng cao chấtlượng giải toán có lời văn cho học sinh như: thống nhất với giáo viên chủnhiệm về phương pháp giảng dạy, hình thức tổ chức dạy học, … học sinh khi ởtrường, thống nhất với phụ huynh trong việc đôn đốc, kèm cặp các em khi ở
Trang 12nhà,…Qua đó nhận thức về vai trò của việc cùng con học tập, giải toán trongcác phụ huynh sẽ được nâng cao hơn, từ đó họ sẽ quan tâm hơn đến việc họctập của các em, tạo điều kiện cho các em học tập, rèn luyện kĩ năng giải toán
Ngay từ đầu năm học tôi đã đề xuất kế hoạch và phối hợp cùng nhà trường
tổ chức cho giáo viên giao lưu, tọa đàm, dự chuyên đề về giải toán và dạy giảitoán có lời văn cho học sinh lớp 4 để cùng nghiên cứu, trao đổi những khókhăn, vướng mắc khi giảng dạy; phổ biến cách xây dựng phong trào học tậpcác môn học nói chung, môn Toán nói riêng trong lớp chủ nhiệm, tạo hứng thúhọc toán cho học sinh trong lớp cho các giáo viên trong khối và giáo viên chủ
nhiệm lớp 4 Giới thiệu một số sách tham khảo, tài liệu: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học; Giáo trình chuyên đề Rèn kĩ năng giải toán tiểu học; Hỏi – đáp về dạy học toán ở lớp 4; 100 câu hỏi và đáp về việc dạy học Toán ở tiểu học,… cho giáo viên Trao đổi với giáo viên về kinh nghiệm giảng dạy môn
Toán lớp 4, biện pháp rèn kĩ năng giải toán có hiệu quả cho học sinh bằng cáchoạt động như:
Giải các bài toán, nâng dần mức độ phức tạp trong mối quan hệ giữa các
số đã cho và số phải tìm hoặc điều kiện bài toán bằng nhiều thủ thuật (giữnguyên giả thiết của bài toán, nâng cao yêu cầu đối với kết luận; thay đổi giảthiết, giữ nguyên kết luận; thay đổi cả giả thiết và kết luận,…) để khai thác và