1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo thực tế cơ sở tại trường THPT Việt Đức và trường THPT Việt Nam – Ba Lan

19 896 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 145,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thâm nhập, nghiên cứu thực tế cơ sở là một trong những yêu cầu và nhiệm vụ quan trọng của người giảng viên đại học. Nó giúp cho mỗi giảng viên có cơ hội tiếp cận, tìm hiểu và nắm bắt được tình hình thực tế, xác định được mối quan hệ giữa lý luận với thực tiễn, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy, đảm bảo giảng dạy lý luận luôn gắn liền với thực tiễn. Với ý nghĩa đó, ban lãnh đạo Khoa quản lý đã chỉ đạo và phân công nhóm giảng viên tập sự tiến hành đợt thực tế cơ sở tại các trường THPT. Trong khoảng thời gian hai tuần, tác giả đã chọn điểm đến thực tế là trường THPT Việt – Đức và trường THPT Việt Nam – Ba Lan để nghiên cứu về công tác quản lý nói chung và sự vận dụng các phương pháp quản lý trong quá trình quản lý của từng nhà trường nói riêng. Để nghiên cứu vấn đề này, tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn, phương pháp thu thập tài liệu… Để có được bản báo cáo thu hoạch ngày hôm nay, đặc biệt là để tác giả hoàn thành đợt thực tế với nhiều bài học kinh nghiệm, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể CB, GV, NV và học sinh của hai trường THPT Việt Đức và trường THPT Việt Nam- Ba Lan. Đặc biệt là hai vị Hiệu trưởng của hai nhà trường đã luôn dành thời gian, tạo điều kiện giúp đỡ và tận tình chia sẻ kinh nghiệm quản lý cho tác giả. Tác giả cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giảng viên TS. Nguyễn Thị Tuyết Hạnh đã luôn hướng dẫn, động viên tác giả trong quá trình thực tế tại cơ sở. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng chắc chắn bài báo cáo còn nhiều thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự thông cảm và chia sẻ của quý thầy cô. Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 1

HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC

KHOA QUẢN LÝ

BÁO CÁO THỰC TẾ CƠ SỞ Tại trường THPT Việt Đức và trường THPT Việt Nam – Ba Lan

Hà Nội, tháng 03 năm 2013

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Thâm nhập, nghiên cứu thực tế cơ sở là một trong những yêu cầu và nhiệm

vụ quan trọng của người giảng viên đại học Nó giúp cho mỗi giảng viên có cơ hội tiếp cận, tìm hiểu và nắm bắt được tình hình thực tế, xác định được mối quan

hệ giữa lý luận với thực tiễn, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy, đảm bảo giảng dạy lý luận luôn gắn liền với thực tiễn

Với ý nghĩa đó, ban lãnh đạo Khoa quản lý đã chỉ đạo và phân công nhóm giảng viên tập sự tiến hành đợt thực tế cơ sở tại các trường THPT Trong khoảng thời gian hai tuần, tác giả đã chọn điểm đến thực tế là trường THPT Việt – Đức

và trường THPT Việt Nam – Ba Lan để nghiên cứu về công tác quản lý nói chung và sự vận dụng các phương pháp quản lý trong quá trình quản lý của từng nhà trường nói riêng Để nghiên cứu vấn đề này, tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn, phương pháp thu thập tài liệu…

Để có được bản báo cáo thu hoạch ngày hôm nay, đặc biệt là để tác giả hoàn thành đợt thực tế với nhiều bài học kinh nghiệm, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể CB, GV, NV và học sinh của hai trường THPT Việt Đức và trường THPT Việt Nam- Ba Lan Đặc biệt là hai vị Hiệu trưởng của hai nhà trường đã luôn dành thời gian, tạo điều kiện giúp đỡ và tận tình chia sẻ kinh nghiệm quản lý cho tác giả Tác giả cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giảng viên

TS Nguyễn Thị Tuyết Hạnh đã luôn hướng dẫn, động viên tác giả trong quá trình thực tế tại cơ sở

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng chắc chắn bài báo cáo còn nhiều thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự thông cảm và chia sẻ của quý thầy cô

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 3

NỘI DUNG

I NHỮNG NÉT KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG THPT VIỆT – ĐỨC VÀ TRƯỜNG THPT VIỆT NAM – BA LAN.

1.1 Khái quát về trường THPT Việt – Đức.

1.1.1 Đặc điểm nhà trường THPT Việt – Đức

Trường THPT Việt – Đức được thành lập ngày 03 tháng 03 năm 1955 Qua

58 năm hình thành và phát triển với 5 lần đổi tên, từ năm 1997 đến nay trường mang tên THPT Việt – Đức Trường nằm ở khu vực trung tâm của thành phố Hà Nội, nơi có dân cư đông đúc, đời sống kinh tế - xã hội phát triển cao

THPT Việt – Đức là một trong những trường có quy mô lớn nhất Hà Nội, hàng năm có gần 1000 học sinh tốt nghiệp, tỷ lễ đỗ tốt nghiệp từ 99,9% đến 100%; tỷ lệ học sinh đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng gần 80% Trường đã đạt được mục tiêu đào tạo học sinh với chất lượng cao, chất lượng toàn diện, và liên tục đạt được danh hiệu Trường tiên tiến và tiên tiến xuất sắc

Trường THPT Việt – Đức có đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên khá hùng hậu với 108 người, trong đó có 1 Hiệu trưởng, 3 Hiệu phó, 96 giáo viên và

08 nhân viên Về chất lượng, 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên đạt chuẩn đào tạo, trong đó có 33 thạc sỹ chiếm 36% và 09 người đang theo học thạc sỹ, cán

bộ quản lý của nhà trường dù không được đào tạo chính quy về quản lý nhưng đều đã học qua các lớp bồi dưỡng quản lý Đảng bộ nhà trường có 42 đảng viên Phần lớn đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên của nhà trường có độ tuổi khá cao (độ tuổi từ 40 trở lên chiếm trên 60%), phần lớn giáo viên, nhân viên của nhà trường là nữ giới

Do trường có đội ngũ cán bộ, giáo viên có trình độ, chất lượng cao, lại là trường đã có tiếng tăm và nhiều thành tích nên trường thu hút được một lượng lớn học sinh đăng ký thi đầu vào, từ đó nhà trường dễ dàng tuyển chọn được đội ngũ học sinh có chất lượng Năm học 2012 – 2013 trường có tổng số 2125 học sinh với 46 lớp được phân ban theo nguyện vọng và năng lực học tập của học sinh Học sinh trường THPT Việt – Đức được theo học 3 ngoại ngữ: tiếng Anh, tiếng Nhật và tiếng Đức

Trang 4

1.1.2 Thuận lợi, khó khăn đối với công tác quản lý trường THPT Việt – Đức.

a, Thuận lợi:

- Nhà trường có truyền thống “dạy tốt, học tốt” được HS và CMHS tín nhiệm Đội ngũ CB, GV, NV của nhà trường được đào tạo cơ bản, có trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm tốt, có kinh nghiệm trong giảng dạy Lực lượng giáo viên trẻ tuy không chiếm số lượng lớn nhưng lại rất sôi nổi, nhiệt tình, có năng lực sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại Đây là một thuận lợi rất cơ bản cho công tác quản lý của nhà trường

- Ban giám hiệu, các tổ trưởng tổ chuyên môn đều là những người có năng lực, có kỹ năng quản lý, được GV, NV, HS và CMHS ủng hộ

- Trường có mối quan hệ hữu nghị, kết nghĩa với nhiều trường và tổ chức trên thế giới như trường Goethe – Gymnasium Sebmiz (Đức), KoJo (Nhật), Hội đồng Anh (Anh), Trung tâm ngoại ngữ RV (Singapo)…nên CB, GV, NV và HS

có nhiều cơ hội được tiếp cận nguồn kiến thức phong phú, học hỏi kinh nghiệm quản lý,phương pháp giảng dạy và học tập hiện đại của nước ngoài

- Trường nằm trong khu vực trung tâm của Hà Nội, dân cư có trình độ học vấn cao, học sinh chủ yếu là con em của những gia đình có kinh tế, có vị trí trong xã hội, họ rất coi trọng việc học tập của con và luôn sẵn sàng đóng góp, đầu tư cho nhà trường Đây là một thuận lợi không nhỏ cho công tác quản lý của nhà trường trên con đường đưa nhà trường phát triển đi lên

- Trường nằm ở khu vực trung tâm thành phố lại có diện tích rộng nên trường có nhiều hình thức tăng nguồn thu cho nhà trường Do vậy áp lực kinh tế của nhà trường nhìn chung không quá gay gắt

b, Khó khăn.

- Đòi hỏi của HS, CMHS và xã hội ngày càng cao về chất lượng giáo dục, đặc biệt là chất lượng giảng dạy môn ngoại ngữ Từ đó, nhà trường phải luôn tìm tòi đổi mới, các nhà quản lý phải tạo được động lực và tìm con đường nâng cao chất lượng của nhà trường

Trang 5

- Đội ngũ GV cũng như CBQL có độ tuổi khá cao, điều này tạo ra khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn tri thức cũng như những đòi hỏi cao của thời đại Đặc biệt phần lớn đội ngũ GV có thâm niên nên nguồn chi lương hàng năm cao làm giảm nguồn tiền để đầu tư cho các hoạt động khác của nhà trường

- Trường nằm trên địa bàn đông dân cư, kinh tế - xã hội phát triển sôi động, nhiều tệ nạn xã hội nên nhà trường rất khó khăn trong công tác quản lý học sinh

HS của nhà trường phần lớn là con em nhà có điều kiện và thế lực nên việc học tập đôi khi không được các em coi trọng

1.2 Khái quát về trường THPT Việt Nam – Ba Lan.

1.2.1 Đặc điểm nhà trường THPT Việt Nam – Ba Lan.

Trường THPT Việt Nam – Ba Lan được thành lập năm 1960 Trường nằm ở khu vực ven nội thành Hà Nội, cạnh các khu đô thị đang phát triển như khu đô thị Định Công, khu đô thị Đại Kim Đây là khu vực có nhiều thành phần dân cư khá phức tạp, cư dân gốc thì chủ yếu là dân số già còn cư dân trong các khu đô thị thì chủ yếu là dân số trẻ cho nên lượng học sinh nằm trong độ tuổi học THPT của vùng không cao

Trước đây, trường THPT Việt Nam – Ba Lan là một trong những trường có chất lượng cao của Hà Nội, nhưng do nhiều nguyên nhân (trong đó có nguyên nhân khu vực thiếu học sinh) nên trong những năm gần đây trường phải hạ điểm thi đầu vào xuống mức trung bình để tuyển đủ HS (ví dụ: năm học 2012 – 2013 điểm thi đầu vào lớp 10 chỉ 41,5 điểm) HS của trường một phần được tuyển từ Thanh Trì lên, một phần được tuyển từ khu vực nội thành xuống Đây chủ yếu là những học sinh không vào được các trường ở khu vực các em sinh sống cho nên chất lượng đầu vào của HS không cao Nhiều HS năng lực còn hạn chế, ý thức học tập thấp Năm học 2012 – 2013, trường có 40 lớp với 1876 học sinh Trường nằm ở khu vực dân cư có đời sống kinh tế - xã hội không cao HS chủ yếu là con

em của những gia đình công nhân, nông dân (từ Thanh Trì lên), thu nhập thấp Trường THPT Việt Nam – Ba Lan có 94 CB, GV, NV trong đó có 1 hiệu trưởng, 3 phó hiệu trưởng 100% CB, GV, NV của trường đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó có chiếm 20% Các cán bộ quản lý của nhà trường đều đã tham gia các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý ngắn hạn Trường có 06 tổ chuyên môn

Trang 6

và một tổ hành chính Trường có một chi bộ Đảng với 27 đảng viên/96 CB,GV,

NV Đội ngũ CB, GV của nhà trường chủ yếu có tuổi đời còn trẻ và phần lớn là

nữ giới

1.2.2 Những thuận lợi, khó khăn đối với công tác quản lý nhà trường.

a, Thuận lợi:

- Trong quá trình hoạt động và phát triển, trường THPT Việt Nam – Ba Lan luôn nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của UBND Quận Hoàng Mai, của sở GD&ĐT và UBND thành phố Hà Nội

- Trường THPT Việt Nam – Ba Lan có đội ngũ CB, GV, VN trẻ, nhiệt tình trong công tác, nhanh nhạy về công nghệ cho nên việc tiếp cận, đổi mới phương pháp giảng dạy mới được thực hiện nhanh chóng và hiệu quả Mặt khác, do CB,

GV, NV của trường có tuổi đời còn trẻ cho nên hàng năm trường tiết kiệm được một lượng tiền chi lương, từ đó có điều kiện tăng cường đầu tư cho các hoạt động khác và tăng nguồn thu nhập tăng thêm cho giáo viên Đây là một thuận lợi đối với công tác quản lý nói chung và công tác quản lý tài chính nói riêng của nhà trường

- Trường nằm ở khu vực ven nội thành, mức độ phát triển kinh tế - xã hội chậm hơn các vùng khác cho nên sự tác động tiêu cực của xã hội, các tệ nạn cũng ít hơn các vùng có kinh tế phát triển

- Mặc dù phụ huynh của học sinh nhà trường thuộc nhiều thành phần dân cư khác nhau với mức thu nhập trung bình không cao, nhưng họ lại rất quan tâm việc học tập của con em với mong muốn đầu tư cho con em học tập để đổi đời

Vì vậy, các chính sách phát triển của nhà trường luôn được phụ huynh ủng hộ

b, Khó khăn:

- Nguồn học sinh đầu vào hàng năm của nhà trường không ổn định, lượng học sinh trong độ tuổi của khu vực rất ít buộc nhà trường phải tuyển những học sinh thuộc đối tượng “vớt” từ các khu vực khác Chất lượng đầu vào nhìn chung

là thấp làm cho vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục cho kịp các trường trong khu vực và đảm bảo yêu cầu xã hội trở thành một bài toán nan giải cho nhà trường, đặc biệt là cho các nhà quản lý

Trang 7

- Học sinh của nhà trường có xuất thân từ nhiều thành phần dân cư khác nhau do vậy các em có đời sống kinh tế và đặc điểm tâm lý khá đa dạng, phong phú Điều này đòi hỏi CB, GV, NV nhà trường phải tôn trọng sự đa dạng, phải nắm bắt được tâm lý của từng đối tượng học sinh để từ đó có những cách quản

lý, giảng dạy phù hợp (đòi hỏi phải có sự linh hoạt trong quản lý)

- Phần lớn HS của trường THPT Việt Nam – Ba Lan có năng lực học tập và

ý thức chưa cao, đòi hỏi CB, GV của nhà trường phải có kinh nghiệm quản lý và cách ứng xử phù hợp Tuy nhiên, trên thực tế, đội ngũ CB, GV còn khá trẻ, thiếu kinh nghiệm Làm thế nào để giải quyết vấn đề này luôn là câu hỏi được đặt ra cho cán bộ quản lý của nhà trường

- Do trường nằm ở khu vực ngoại thành cho nên ngoài nguồn kinh phí do nhà nước cấp để thực hiện việc giáo dục học sinh thì nhà trường không có khoản thu đáng kể nào

Như vậy, trường THPT Việt – Đức và trường THPT Việt Nam – Ba Lan đóng ở hai khu vực khác nhau, có những đặc điểm khác nhau về đội ngũ CB,

GV, HS, về điều kiện và tiềm năng phát triển (có những nét đối lập nhau) Chính những đặc điểm khác nhau này đã tác động, chi phối đến phong cách và phương pháp quản lý của các cấp quản lý trong hai nhà trường

II SỰ VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CỦA TRƯỜNG THPT VIỆT – ĐỨC VÀ TRƯỜNG THPT VIỆT NAM – BA LAN.

2 1 Vài nét lý luận về phương pháp quản lý giáo dục.

Có nhiều cách định nghĩa về phương pháp quản lý (PPQL) nhưng nhìn chung có thể coi, PPQLlà tổng thể các cách thức tác động có tính hướng đích của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Trong giáo dục, phương pháp quản lý giáo dục (PPQLGD) là tổng hợp những cách thức tác động có thể có và có chủ đích của chủ thể quản lý giáo dục đến đối tượng và khách thể quản lý khi tiến hành các hoạt động quản lý để thực hiện những nhiệm vụ, chức năng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu quản lý giáo dục đã đề ra PPQL có vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý Nó tác động rất lớn đến

sự thành công hay thất bại trong việc thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của một tổ

Trang 8

chức Có nhiều cách tiếp cận và phân loại PPQL nhưng trên thực tế, phân loại theo nội dung và cơ chế tác động là cách phân loại phổ biến Theo cách phân loại này, PPQL gồm 3 phương pháp: Phương pháp hành chính, phương pháp tâm lý xã hội, phương pháp kinh tế

Phương pháp hành chính là phương pháp tác động dựa vào mối quan hệ thứ bậc trong tổ chức; là cách tác động trực tiếp của người quản lý lên những người dưới quyền bằng các mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định quản lý dứt khoát, mang tính bắt buộc đòi hỏi mọi người phải chấp hành nghiêm ngặt, nếu vi phạm

sẽ bị xử lý kịp thời thích đáng.

Đây là phương pháp không thể thiếu trong quản lý bất kỳ các cơ quan, tổ chức nào vì nó xác lập trật tự, kỷ cương làm việc trong tổ chức; nối kết các phương pháp khác lại thành một hệ thống và giải quyết các vấn đề trong tổ chức một cách nhanh chóng

Phương pháp hành chính được cấu thành từ ba yếu tố:

+ Hệ thống văn bản luật và các văn bản pháp quy đã được ban hành Ví dụ Luật giáo dục, Điều lệ các nhà trường, …

+ Các văn bản hành chính, các mệnh lệnh do người lãnh đạo tổ chức ban hành như: nội quy nhà trường, chương trình công tác, kế hoạch năm học, chức năng nhiệm vụ giao cho từng bộ phận, cá nhân…

+ Kiểm tra việc chấp hành các văn bản, các quy định hành chính

Phương pháp tâm lý – xã hội là những cách thức tác động lên trí tuệ, tình cảm, ý thức và nhân cách của con người trong tổ chức nhằm nâng cao tính tự giác, lòng nhiệt tình hoạt động của họ trong việc thực thi nhiệm vụ.

Sử dụng phương pháp tâm lý – xã hội một cách hợp lý sẽ giúp nhà quản lý động viên được tinh thần chủ động, tích cực, tự giác của đối tượng quản lý, tạo ra bầu không khí cởi mở, thân thiện, tin cậy lẫn nhau giúp nhau cùng phát triển

Phương pháp tâm lý – xã hội là sự kết hợp các phương pháp giáo dục, thuyết phục, động viên, tạo dư luận xã hội, gây áp lực tâm lý…

+ Nhà quản lý phải tổ chức phổ biến, giáo dục chủ trương, đường lối của ngành, những quy định, quyết định của đơn vị cho toàn thể thành viên trong tổ chức giúp mọi người hiểu rõ, ủng hộ và quyết tâm thực hiện theo những quy định đó

+ Nhà quản lý giáo dục phải quan tâm đến từng thành viên, hiểu được tâm tư nguyện vọng của họ, lắng nghe, tôn trọng và tạo các mối quan hệ lành mạnh, trong sáng, tốt đẹp giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý

Trang 9

+ Giáo dục ý thức lao động tự giác, có năng suất, có hiệu quả;

+ Chỉ đạo xây dựng tác phong làm việc có tổ chức, có kỷ luật, khoa học, hiệu quả…trong toàn nhà trường

+ Xây dựng bầu không khí làm việc tập thể lành mạnh, đoàn kết nhất trí trong đó mỗi cá nhân đều gắn bó với tập thể của mình, hết mình cống hiến vì một tập thể vững mạnh

+ Kích thích mỗi thành viên nỗ lực phấn đấu nâng cao trình độ, lao động tích cực và sáng tạo trước hết vì bản thân họ và vì lợi ích của tổ chức

+ Nhà quản lý biết khơi dậy ở cấp dưới những hoài bão, ước mơ thành đạt trong tương lai và gắn liền với sự trưởng thành của tổ chức để họ thiết kế lấy một cách sống và làm việc tích cực nhằm hiện thực hóa ước mơ của mình;

+ Trong quá trình làm việc với cấp dưới người quản lý giáo dục phải: lắng nghe, tin tưởng, tạo điều kiện tối đa cho cấp dưới phát triển sự nghiệp Giải quyết các xung đột trong tổ chức một cách hợp tình, hợp lý với lòng chân thành, cảm thông và chia sẻ Coi trọng các biện pháp động viên, khen thưởng kịp thời các thành tích hay sự tiến bộ của đối tượng quản lý, quan tâm cải thiện đời sống vật chất cũng như tinh thần cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh trong nhà trường

Phương pháp kinh tế là sự tác động gián tiếp tới người bị quản lý bằng cơ chế kích thích lao động thông qua lợi ích vật chất để họ tích cực tham gia công việc chung và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

Trong trường học, phương pháp kinh tế được thể hiện ở sự kết hợp trách nhiệm, nghĩa vụ của cán bộ giáo viên, học sinh với những kích thích có tính đòn bẩy

Nội dung của phương pháp kinh tế:

+ Cơ sở khách quan của phương pháp kinh tế là các quy luật kinh tế Trong quản lý giáo dục người ta đã tính toán vốn đầu tư, giá thành đào tạo… áp dụng các chỉ tiêu, định mức lao động, các biện pháp khuyến khích vật chất thông qua các chế độ về tiền lương, tiền thưởng…

+ Xây dựng hệ thống mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tế của

tổ chức và coi đó là những định hướng phát triển chung của tổ chức; xây dựng các tiêu chuẩn, định mức,chỉ tiêu cụ thể cho từng bộ phận, từng cá nhân trong tổ chức, coi đó vừa là mục tiêu cho họ phấn đấu vừa là tiêu chí để đánh giá, xếp loại năng lực cán bộ, giáo viên Tổ chức hệ thống kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện của thành viên, quy định một khoảng thời gian nhất định để bình bầu, đánh giá phân loại, thưởng phạt theo chế độ đã quy định

Trang 10

+ Bằng chế độ thưởng phạt vật chất, trách nhiệm kinh tế chặt chẽ để khuyến khích, điều chỉnh hoạt động của các bộ phận, cá nhân trong tổ chức, xác lập trật

tự, kỷ cương, chế độ trách nhiệm cho mọi bộ phận, cá nhân trong tổ chức

2.2 Sự vận dụng các phương pháp quản lý trong công tác quản lý ở trường THPT Việt – Đức.

2.2.1 Sự vận dụng phương pháp hành chính

Phương pháp hành chính được Hiệu trưởng nhà trường xác định là phương pháp cơ bản, không thể thiếu trong quản lý nhằm xác lập và duy trì trật tự, kỷ cương trong nhà trường Vì vậy, các cấp quản lý trong nhà trường đều coi trọng phương pháp hành chính

Điều này thể hiện rất rõ trong việc xây dựng và thực hiện hệ thống văn bản, nội quy, quy chế của nhà trường

Trường THPT Việt – Đức có hệ thống văn bản rất phong phú bao gồm: kế hoạch năm học, kế hoạch kỳ học, kế hoạch thanh tra – kiểm tra nội bộ, quy chế dân chủ cơ sở, quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế thi đua – khen thưởng và kỷ luật, quy chế phân công giảng dạy làm công tác chủ nhiệm, nội quy học sinh… Tất cả các loại văn bản này được xây dựng theo năm học Đối với những văn bản cũ nhưng vẫn còn giá trị thì được giữ nguyên hoặc chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với điều kiện mới

Quy trình xây dựng các văn bản như sau: Trước khi bước vào năm học, căn

cứ vào những quy định, yêu cầu của Ngành, của Sở GD&ĐT Hà Nội, … Hiệu trưởng nhà trường đã chỉ đạo CBQL, các bộ phận trong nhà trường xây dựng dự thảo các loại kế hoạch, quy định, quy chế Từ đó, trường tổ chức họp toàn thể

CB, GV, NV để thảo luận, góp ý bổ sung chỉnh sửa cho dự thảo các loại văn bản của từng bộ phận hoặc của nhà trường Điều này thể hiện sự lắng nghe và tạo cơ hội cho cấp dưới thể hiện ý kiến của mình của các cấp quản lý trong nhà trường Sau khi thống nhất ý kiến của tập thể CB, GV, NV trong nhà trường Hiệu trưởng hoặc trưởng các bộ phận ban hành các văn bản của trường hoặc bộ phận

Để đưa các văn bản vào thực tiễn, ban giám hiệu nhà trường đã thực hiện tuyên truyền tới mọi đối tượng liên quan (trong trường và ngoài trường) bằng nhiều hình thức khác nhau như: qua văn bản, qua hội họp, qua bảng thông báo, thiết kế

sổ tay học sinh…

Ngày đăng: 21/10/2015, 16:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w