Công khai Tất cả các hoạt động trên thị trường đều tiến hành công khai cho mọi thành viên và công chúng biết như các hoạt động của nhà phát hành, các loại chứng khoán được chào bán chào
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
==¬==
ĐẶNG ĐỀ ĐỐC
CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài Chính, Lưu Thông Tiền Tệ và Tín Dụng
Mã số: 5.02.09
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học PGS TS ĐÀO VĂN TÀI
Thành phố Hồ Chí Minh - 2001
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 5
Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
Mục đích nghiên cứu của luận văn 5
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn 5
Phương pháp nghiên cứu 5
Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1 6
LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 6
1.1 Định nghĩa về thị trường chứng khoán 6
1.1.1 Định nghĩa 6
1.1.2 Phân biệt thị trường chứng khoán và sở giao dịch chứng khoán 6
1.2 Vai trò của thị trường chứng khoán 6
1.2.1 Cầu nối tích lũy với đầu tư 6
1.2.2 Điều hòa vốn đầu tư 7
1.2.3 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán chứng khoán 7
1.2.4 Cung cấp thông tin kinh tế 7
1.3 Nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán 7
1.3.1 Trung gian mua bán 7
1.3.2 Công khai 7
1.3.3 Đấu giá 7
1.3.4 Pháp chế hoá mọi giao dịch 7
1.4 Phân loại thị trường chứng khoán 8
1.4.1 Cơ cấu tổ chức 8
1.4.2 Các loại hình thị trường chứng khoán 8
1.5 Hàng hoá lưu thông trên thị trường chứng khoán 9
1.5.1 Cổ phiếu 9
1.5.2 Trái phiếu 10
1.6 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán 11
1.6.1 Các doanh nghiệp 11
1.6.2 Các nhà đầu tư riêng lẻ 11
1.6.3 Các tổ chức tài chính 11
1.6.4 Nhà môi giới và kinh doanh chứng khoán 12
1.6.5 Người tổ chức thị trường 12
1.6.6 Nhà nước 12
1.7 Sự cần thiết phải thành lập thị trường chứng khoán Việt Nam 13 1.8 Những kinh nghiệm về xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở
Trang 4một số nước trên thế giới và bài học rút ra .13
1.8.1 Ở Trung Quốc 13
1.8.2 Một số nước ở thị trường mới nổi 14
1.8.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ các nước trong việc xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán 15
Kết luận chương 1 16
CHƯƠNG 2 17
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 17
2.1 Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam sau 1 năm hoạt động 17
Thực trạng hoạt động và những đánh giá về thị trường 17
2.1.1 Hàng hoá 17
2.1.2 Giao dịch, đăng ký, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán 18
2.1.3 Điều hành của TTGDCK TP HCM 20
2.1.4 Công ty chứng khoán và các định chế trung gian tài chính 20
2.1.5 Quản lý và giám sát thị trường 21
2.2 Đánh giá thực trạng của thị trường chứng khoán Việt Nam sau 1 năm hoạt động 22 2.2.1 Những kết quả đạt được của thị trường chứng khoán Việt Nam 22
2.2.2 Những hạn chế, tồn tại của thị trường chứng khoán Việt Nam và các nguyên nhân của nó .23
Kết luận chương 2 26
CHƯƠNG 3 27
CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 27
3.1 Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 27 3.1.1 Phát triển thị trường chứng khoán tập trung theo mô hình từ Trung tâm giao dịch chứng khoán lên Sở giao dịch chứng khoán 27
3.1.2 Xây dựng thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC) 27
3.1.3 Phát triển hàng hoá cho thị trường 28
3.1.4 Phát triển các định chế tài chính trung gian 29
3.1.5 Chiến lược hội nhập quốc tế 29
3.1.6 Đào tạo, nâng cao dân trí trong lĩnh vực thị trường chứng khoán 30
3.2 Các giải pháp ở tầm vĩ mô 30
3.2.1 Ban hành một số chính sách tài chính đặc biệt để khuyến khích doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần 30
3.2.2 Thành lập công ty đầu tư chứng khoán Việt Nam 30
Trang 53.2.3 Có chính sách khuyến khích các công ty phát hành cổ phiếu ra công chúng 31
3.2.4 Hoàn thiện khung pháp lý cho sự vận hành của thị trường chứng khoán 31
3.2.5 Thành lập Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Việt Nam 32
3.2.6 Thành lập Trung tâm lưu ký chứng khoán 32
3.2.7 Thành lập Trung tâm điện toán chứng khoán 32
3.3 Các giải pháp để phát triển thị trường cổ phiếu 33
3.3.1 Các biện pháp cưỡng chế để phát hành ra công chúng 33
3.3.2 Cho phép một số công ty phát hành được niêm yết trước khi chào bán ra công chúng 33 3.3.3 Các công ty liên doanh với việc phát hành cổ phiếu 34
3.3.4 Thành lập các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ mạnh 34
3.3.5 Tạo lòng tin cho công chúng vào thị trường chứng khoán 34
3.3.6 Mở rộng đối tượng đầu tư 35
3.3.7 Ban hành một chính sách tín dụng cho công nhân mua cổ phiếu 36
3.4 Các giải pháp để phát triển thị trường trái phiếu 37
3.4.1 Các phương pháp để phát triển thị trường trái phiếu 37
3.4.2 Mở rộng các nhà đầu tư 37
3.4.3 Giải pháp đẩy mạnh giao dịch trái phiếu Chính phủ 38
Kết luận chương 3 40
KẾT LUẬN 41
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Thị trường chứng khoán là một bộ phận không thể thiếu được của thị trường tài chính Thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ có thể giảm thâm hụt ngân sách, thực thi chính sách tiền tệ, các doanh nghiệp có thể huy động được vốn để đầu tư phát triển, cải thiện tình hình tài chính, giảm chi phí huy động vốn và nâng cao hiệu quả quản lý Thị trường chứng khoán cũng đem lại nhiều lợi ích cho công chúng và giúp họ có thể hưởng những thành quả đạt được của nền kinh tế
Mục đích nghiên cứu của luận văn
Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời tính cho đến tháng 10/2001 đã được hơn một năm Thành công cũng nhiều mà khiếm khuyết cũng không ít Các nền kinh tế chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính từ năm 1997 cũng đang hồi phục và phát triển trở lại Tuy nhiên, hai nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới là Mỹ và Nhật Bản thì đang có vấn đề, kinh tế Nhật Bản đang dậm chân tại chỗ và kinh tế Mỹ thì bắt dầu suy thoái gây ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế toàn cầu Do vậy, nghiên cứu các giải pháp cho quá trình phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam có ý nghĩa to lớn
Với việc đi sâu vào các giải pháp chủ yếu cho việc phát triển thị trường chứng khoán ở nước ta, luận văn sẽ góp phần giải quyết từng vấn đề cụ thể trong từng lãnh vực của thị trường chứng khoán
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Ngoài những vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán, luận văn còn đề xuất các giải pháp chủ yếu cho quá trình phát triển thị trường chứng khoán phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội ở nước ta
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, kết hợp với các phương pháp như phân tích, đánh giá và kế thừa một cách có chọn lọc và hệ thống tài liệu khoa học, thực tiễn có liên quan đến nội dung luận văn
Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và các công trình nghiên cứu của các tác giả có liên quan đến đề tài, phần nội dung luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận tổng quan về thị trường chứng khoán
Chương 2: Thực trạng hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp chủ yếu để phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 7Theo từ điển Anh ngữ thương mại Longman: thị trường chứng khoán (securities market) là một thị trường có tổ chức, là nơi các chứng khoán được mua bán tuân theo những quy tắc đã được ấn định Định nghĩa này đưa ra một thuật ngữ là chứng khoán (securities) mà cổ phiếu (share) và trái phiếu (bond) cũng chính là hai dạng của chứng khoán Chứng khoán đươc kết hợp bằng hai từ chứng và khoán đều có nghĩa là bằng cớ (evidence)
Có thể định nghĩa thị trường chứng khoán như sau:
Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính, mà tại đó diễn ra các công cụ tài chính trung và dài hạn theo nguyên tắc thị trường (quan hệ cung cầu) Các hàng hóa mua bán, giao dịch trên thị trường chứng khoán bao gồm các chứng khoán vốn và các chứng khoán nợ trung và dài hạn
1.1.2 Phân biệt thị trường chứng khoán và sở giao dịch chứng khoán
Thị trường chứng khoán là từ ngữ chung để chỉ các giao dịch mua bán chứng khoán có tổ chức và thông qua các thị trường khác nhau và trên thị trường ngoài danh mục, cụ thể như thị trường mua bán chứng khoán không niêm yết, thị trường có tổ chức thông qua hệ thống điện thoại, máy tính…
Sở giao dịch chứng khoán la một địa điểm cụ thể, có tổ chức, là nơi các thành viên tham gia thị trường chứng khoán gặp nhau để thực hiện các lệnh mua bán chứng khoán do các tổ chức và cá nhân giao cho
1.2 Vai trò của thị trường chứng khoán
1.2.1 Cầu nối tích lũy với đầu tư
Thị trường chứng khoán hoạt động như một trung tâm thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm lớn nhỏ từ các hộ dân cư, các doanh nghiệp đến các nhà đầu tư nước ngoài tạo thành nguồn vốn khổng lồ tài trợ cho nền kinh tế mà các phương thức khác không thể làm được Thị trường chứng khoán tạo cơ hội cho các doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh và thu được lợi nhuận nhiều hơn, đồng thời giúp Nhà nước giải quyết vấn đề thiếu hụt ngân sách, có thêm vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng thông qua thị trường trái phiếu
Trang 81.2.2 Điều hòa vốn đầu tư
Do tác dụng của quy luật cung cầu, thị trường chứng khoán tự động điều hòa các luồng vốn trong nước từ nơi thừa đến nơi thiếu, giải quyết linh hoạt, nhanh chóng mâu thuẫn giữa thừa và thiếu vốn đầu tư giữa các nước, các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế
1.2.3 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán chứng khoán
Với những phương tiện phục vụ và kỹ thuật thông tin hiện đại, thị trường chứng khoán tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên của thị trường giao dịch với nhau được nhanh chóng, dễ dàng, giảm được nhiều tổn thất do chênh lệch thời gian và chênh lệch giá
1.2.4 Cung cấp thông tin kinh tế
Thị trường chứng khoán là nơi cung cấp kịp thời, vô tư và chính xác những nguồn thông tin cần thiết có liên quan đến việc mua, bán chứng khoán của mọi thành viên tham gia thị trường
1.3 Nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là một định chế tài chính phát triển cao trong nền kinh tế thị trường, hoạt động theo cơ chế riêng biệt được tiêu chuẩn hóa và mang tính quốc tế Thị trường chứng khoán hoạt động theo những nguyên tắc sau:
1.3.1 Trung gian mua bán
Việc giao dịch chứng khoán được thực hiện thông qua môi giới, nguyên tắc này nhằm bảo vệ quyền lợi của người đầu tư, bảo đảm các chứng khoán lưu thông trên thị trường đều là chứng khoán hợp pháp, tránh cho người mua bị lừa gạt do thiếu kinh nghiệm hoặc thiếu thông tin chính xác
1.3.2 Công khai
Tất cả các hoạt động trên thị trường đều tiến hành công khai cho mọi thành viên và công chúng biết như các hoạt động của nhà phát hành, các loại chứng khoán được chào bán chào mua, giá cả, số lượng chứng khoán được mua bán
1.3.3 Đấu giá
Việc mua bán chứng khoán được thực hiện thông qua đấu giá giữa những nhà môi giới với nhau Giá chứng khoán hình thành trên cơ sở quan hệ cung cầu, không một người hoặc tổ chức nào có quyền áp đặt hoặc định giá theo ý chủ quan được
1.3.4 Pháp chế hoá mọi giao dịch
Các nghiệp vụ giao dịch đều được quy định bằng các văn bản mang tính luật pháp cao nhằm bảo vệ các nhà đầu tư Nhiệm vụ chính của pháp chế hóa là tạo ra một môi trường trung thực, trật tự, hạn chế đến mức thấp nhất các tiêu cực
Trang 9do lừa đảo, đầu cơ thao túng thị trường
1.4 Phân loại thị trường chứng khoán
1.4.1 Cơ cấu tổ chức
Bao gồm hai bộ phận:
1.4.1.1 Thị trường sơ cấp
Còn gọi là thị trường cấp I hay thị trường phát hành Đây là nơi mua bán chứng khoán mới phát hành bởi các công ty, tổ chức nhà nước, chính phủ Thị trường sơ cấp là thị trường tạo lập, tăng vốn, vay vốn do các công ty, tổ chức phát hành
Việc phát hành chứng khoán ở các thị trường này được kiểm soát bởi hội đồng chứng khoán quốc gia Ở Việt Nam gọi là Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
1.1.4.2 Thị trường thứ cấp
Còn được gọi là thị trường cấp II, là thị trường mua đi bán lại chứng khoán đã được bán ở thị trường sơ cấp Trên thị trường thứ cấp, lợi nhuận thu được từ việc mua bán chứng khoán thuộc về nhà đầu tư và những nhà mua bán chứng khoán chứ không thuộc về tổ chức phát hành chứng khoán
Chứng khoán được giao dịch trên thị trường thứ cấp không làm nguồn vốn của nhà phát hành tăng, trong khi phát hành chứng khoán ở thị trường sơ cấp nhằm thu hút vốn đầu tư nghĩa là việc mua bán ở thị trường sơ cấp làm tăng vốn đầu tư Tuy nhiên, việc giao dịch chứng khoán ở thị trường thứ cấp có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát hành chứng khoán là việc thu hút vốn đầu tư, vì việc giao dịch chứng khoán ở thị trường thứ cấp làm cho chứng khoán có tính thanh khoản, nghĩa là người đầu tư dễ dàng bán lại chứng khoán họ không thích, lấy lại vốn để đầu tư vào lĩnh vực khác
Thị trường thứ cấp tạo điều kiện cho việc mua bán ở thị trường sơ cấp dễ dàng thuận lợi Ngược lại, thị trường sơ cấp là cơ sở tiền đề của thị trường thứ cấp, nếu không có thị trường sơ cấp thì không thể có thị trường thứ cấp
1.4.2 Các loại hình thị trường chứng khoán
Căn cứ theo mô hình tổ chức và phương thức giao dịch, thị trường chứng khoán có hai loại:
1.4.2.1 Thị trường chứng khoán tập trung
Nơi đó, việc giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện thông qua các thành viên của sở giao dịch chứng khoán và tại sàn giao dịch, do đó, thị trường này còn được gọi là thị trường chứng khoán chính thức Hàng hoá giao dịch trên thị trường này là các chứng khoán của những công ty được niêm yết trên sàn giao dịch
1.4.2.2 Thị trường chứng khoán phi tập trung
Còn được gọi là thị trường OTC (Over The Counter), là thị trường mà mọi
Trang 10hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện tự do bất cứ lúc nào, nơi nào, có thể thông qua người môi giới hoặc chính người sở hữu chứng khoán thực hiện, không thông qua sở giao dịch chứng khoán Đó là thị trường tự phát xuất hiện đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển thị trường chứng khoán Hàng hoá trên thị trường này là các chứng khoán của những công ty chưa đủ điều kiện niêm yết hoặc không niêm yết trên sàn giao dịch
1.5 Hàng hoá lưu thông trên thị trường chứng khoán
Hàng hoá lưu thông trên thị trường chứng khoán là chứng khoán – bằng chứng xác nhận quyền sở hữu hay quyền chủ nợ hợp pháp đối với tài sản hay vốn của tổ hức phát hành Có hai loại chứng khoán chủ yếu trên thị trường chứng khoán: cổ phiếu và trái phiếu
1.5.1 Cổ phiếu
Cổ phiếu là một loại chứng từ, dưới hình thức chứng từ hay ghi trên hệ thống điện tử, do các công ty cổ phần phát hành xác nhận quyền sở hữu hợp pháp của người có cổ phiếu hợp pháp của người có cổ phiếu đối với tài sản của người phát hành
Cổ phiếu được phát hành lúc thành lập công ty và lúc công ty gọi thêm vốn để phát triển sản xuất kinh doanh
Giá trị ban đầu ghi trên cổ phiếu được gọi là mệnh giá Mệnh giá của cổ phiếu chỉ có giá trị danh nghĩa Tuỳ theo hiệu quả sản xuất kinh doanh và phương thức phân phối, giá giao dịch cổ phiếu sẽ tăng hay giảm và ngày càng bỏ
xa mệnh giá
Để phù hợp với tâm lý của người đầu tư và tạo nên sự hấp dẫn hơn cho cổ phiếu, người ta chia cổ phiếu thành nhiều loại khác nhau:
1.5.1.1 Cổ phiếu thường
Nếu một công ty chỉ có quyền phát hành một loại cổ phiếu thì công ty đó sẽ phát hành cổ phiếu thường Cổ phiếu thường thể hiện quyền sở hữu chủ yếu đối với một công ty, cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường có quyền kiểm soát lớn nhất đối với ban lãnh đạo công ty Cổ phiếu thường thụ hưởng lợi tức sau cùng
so với tất cả các loại chứng khoán vốn và nợ khác của một công ty, cũng có nghĩa là khi một công ty giải thể (dù nguyên nhân nào) thì cổ phiếu thường được chia tài sản sau cùng
1.5.1.2 Cổ phiếu ưu đãi:
Cổ phiếu ưu đãi có lợi tức xác định giống như trái phiếu Lợi tức của cổ phiếu ưu đãi được hưởng trước khi chia lợi tức cho cổ phiếu thường Khi một công ty giải thể thì người giữ cổ phiếu ưu đãi được chia phần tài sản của công ty trước những người giữ cổ phiếu thường nhưng sau những người giữ trái phiếu Do đó, cổ phiếu ưu đãi cũng gần giống như một loại trái phiếu mà không được sự
Trang 11đảm bảo của một trái phiếu, đồng thời lại không hấp dẫn bằng một cổ phiếu
Cổ phiếu ưu đãi bao gồm nhiều loại tương ứng với nhiều hình thức ưu đãi: + Cổ phiếu ưu đãi tích luỹ
+ Cổ phiếu ưu đãi không tích luỹ
+ Cổ phiếu ưu đãi tham dự chia phần
+ Cổ phiếu ưu đãi không tham dự chia phần
+ Cổ phiếu ưu đãi có quyền chuyển đổi thành cổ phiếu thường
+ Cổ phiếu ưu đãi có thể chuộc lại
1.5.2 Trái phiếu
Trái phiếu là một loại chứng từ chứng nhận quyền đòi nợ – gốc lẫn lãi – của trái chủ đối các cá nhân hay tổ chức phát hành, nó là một chứng khoán nợ mà người chủ nợ của tổ chức phát hành là người chủ sở hữu trái phiếu đó
Người mua trái phiếu hàng năm, hàng quý họ sẽ được trả một số tiền lời theo mức lãi suất đã định và khi đáo hạn họ sẽ nhận được tiền vốn gốc Tình hình lạm phát tiền tệ, hoặc có sự thay đổi trong chính sách tài chính tín dụng (tăng) cung có thể làm ảnh hưởng giá trị trái phiếu trên thị trường
Các đặc điểm chung của trái phiếu:
Mệnh giá: Mệnh giá của trái phiếu là số tiền ghi trên trái phiếu khi phát hành, số tiền này sẽ được hoàn lại cho trái chủ khi đáo hạn Trái phiếu phát hành lần đầu, thường được mua bán đúng mệnh giá của nó Tùy theo tình hình thị trường, mức sinh hoạt tại từng khu vực, từng nước mà trái phiếu có mệnh giá tương xứng Nhưng có một điểm chung nhất là mệnh giá ghi trên trái phiếu thường được cơ câu theo cơ cấu tiền như 1, 2, 5, 10, 20, 50, 100 để thuận tiện trong việc mua bán trao đổi
Ngày đáo hạn: Trái phiếu lưu thông trên thị trường chứng khoán là trái phiếu dài hạn Thời hạn trái phiếu rất khác nhau giữa các công ty, tùy mục đích và thời gian sử dụng vốn phát hành Chẳng hạn như trái phiếu có mục đích là trái phiếu phát hành để huy động vốn cho mục đích đầu tư như là xây dựng cơ sở hạ tầng… có thời gian thu hồi vốn lâu thường từ 15 – 30 năm
Lãi suất: Mỗi trái phiếu có giá trị cam kết của công ty hay chính phủ sẽ thanh toán cho người có trái phiếu một số tiền lãi cố định vào một ngày xác định Lãi suất thường được công bố trên tỉ lệ phần trăm so với mệnh giá của trái phiếu Thông thường trái chủ sẽ nhận lãi vào một ngày định kỳ của mỗi 6 tháng hay 1 năm
Các loại trái phiếu
Phân theo hình thức phát hành, bao gồm:
+ Trái phiếu vô danh
+ Trái phiếu ký danh
Trang 12Phân theo hình thức sở hữu, bao gồm:
+ Trái phiếu công ty
+ Trái phiếu chính phủ
+ Trái phiếu đô thị
Phân theo thời gian, bao gồm:
+ Trái phiếu ngắn hạn
+ Trái phiếu trung hạn
+ Trái phiếu dài hạn
Phân theo tính chất, bao gồm:
+ Trái phiếu không có tài sản thế chấp
+ Trái phiếu có khả năng chuyển đổi
+ Trái phiếu có quỹ mua lại
+ Trái phiếu thế chấp bất động sản
+ Trái phiếu ủy thác thiết bị
+ Trái phiếu trả lãi theo lợi tức
+ Trái phiếu có lãi suất thả nổi
+ Trái phiếu có vật thế chấp bảo đảm
+ Trái phiếu có tài sản bảo đảm
+ Trái phiếu thế chấp ủy thác
+ Trái phiếu kèm theo quyền mua cổ phần
1.6 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
1.6.1 Các doanh nghiệp
Các doanh nhiệp tham gia thị trường với tư cách là người tạo ra hàng hoá
ở thị trường sơ cấp và mua bán lại các chứng khoán ở thị trường thứ cấp
Doanh nghiệp là công ty cổ phần có vị trí quan trọng nhất, nó tạo ra một khối lượng hàng hoá lớn qua việc phát hành cổ phiếu để bán lần đầu ở thị trường
sơ cấp nhằm tạo vốn cho công ty mới thành lập hoặc phát hành bổ sung để tăng vốn phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của công ty
1.6.2 Các nhà đầu tư riêng lẻ
Là chủ thể tham gia thị trường chứng khoán với tư cách là nhà mua bán chứng khoán quan trọng Họ là những người có tiền tiết kiệm và muốn đầu tư số tiền để dành của mình vào chứng khoán để được hưởng lợi tức hàng năm Họ cũng là những người bán chứng khoán của mình trên thị trường chứng khoán để rút vốn trước thời hạn hoặc để có những khoản chênh lệch giá Họ tham gia thị trường bằng nhiều cách khác nhau, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp
1.6.3 Các tổ chức tài chính
Các công ty bảo hiểm, các quỹ hưu trí, quỹ tương hỗ tham gia thị trường chứng khoán với tư cách vừa là người mua, vừa là người bán để tìm kiếm lợi
Trang 13nhuận từ cổ tức, lãi trái phiếu, hoặc tìm kiếm giá thặng dư, hoặc tìm kiếm thanh khoản Vai trò của các tổ chức này ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển ngày càng to lớn
Các ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại tham gia thị trường chứng khoán với tư cách là người phát hành cổ phiếu để tạo nguồn vốn khi mới thành lập hoặc tăng vốn bổ sung cũng như phát hành trái phiếu để huy động vốn
Các doanh nghiệp khi muốn phát hành cổ phiếu (đối với công ty cổ phần) hoặc trái phiếu để tạo vốn hoặc tăng vốn có thể nhờ các ngân hàng thương mại làm các dịch vụ: tư vấn về phát hành, làm đại lý phát hành để hưởng phí hoa hồng hoặc bảo lãnh phát hành toàn bộ để hưởng phí bảo lãnh
Ngoài ra, các ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ khác với tư cách là một trung gian môi giới chứng khoán như mua bán chứng khoán hộ cho khách hàng để hưởng phí hoa hồng; lưu giữ chứng khoán; nhận và trả cổ tức cho khách hàng; làm dịch vụ thanh toán chứng khoán
1.6.4 Nhà môi giới và kinh doanh chứng khoán
Những nhà môi giới là những nhà trung gian thuần tuý, họ hoạt động như các đại lý cho những người mua bán chứng khoán Họ tham gia thị trường chứng khoán nhằm đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch trên thị trường là chứng khoán thực và thị trường hoạt động lành mạnh, đều đặn, hợp pháp và phát triển, bảo vệ lợi ích của người đầu tư
Những người kinh doanh chứng khoán là người đứng ra mua chứng khoán của người bán sau đó bán lại cho người mua khác những chứng khoán đã mua với giá cao hơn đã mua vào để có thu nhập do chênh lệch giá mua và giá bán Đây là lĩnh vực kinh doanh có nhiều rủi ro lớn, nếu giá các chứng khoán lên, người kinh doanh có lời, còn ngược lại thì bị lỗ
1.6.5 Người tổ chức thị trường
Là người tạo ra địa điểm và phương tiện để phục vụ cho việc mua bán chứng khoán, đó là Sở giao dịch chứng khoán
Nhà nước tham gia thị trường chứng khoán với tư cách một doanh nghiệp bình thường Nhà nước tạo hàng hoá cho thị trường chứng khoán thông qua việc chính phủ hoặc chính quyền địa phương phát hành trái phiếu để vay nợ dân và các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước ở thị trường sơ cấp để phục vụ cho các
Trang 14mục đích của Nhà nước
Ở thị trường thứ cấp, Nhà nước đóng vai trò là người mua bán chứng khoán của các doanh nghiệp trong các trường hợp như nhà nước muốn nắm tỷ lệ cổ phần chi phối ở một mức nào đó đối với các doanh nghiệp nhà nước muốn quản lý hoặc ngược lại
1.7 Sự cần thiết phải thành lập thị trường chứng khoán Việt Nam
Trong sự nghiệp cộng nghiệp hoá, hiện đại hoá, “vốn” là vấn đề được đặt lên hàng đầu Thị trường chứng khoán chính là giải pháp cho vấn đề này Thị trường chứng khoán là nơi huy động và phân phối vốn dài hạn chủ yếu cho nền kinh tế thông qua các chứng khoán nợ và chứng khoán vốn Thị trường chứng khoán có hai chức năng kinh tế quan trọng: Bằng cách tạo ra cơ chế huy động vốn qua thị trường sơ cấp, thị trường chứng khoán khuyến khích việc huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong nước và nguồn vốn nước ngoài để hỗ trợ phát triển kinh tế Chức năng thứ hai của thị trường chứng khoán là phân bổ các nguồn huy động được vào những nơi sử dụng hiệu quả nhất thông qua việc định giá chứng khoán tại thị trường thứ cấp
Ở nước ta hiện nay, nhu cầu mua bán trao đổi, chuyển nhượng chứng khoán có chiều hướng tăng Từ khi thị trường chứng khoán Việt Nam chưa hình thành thì việc mua bán trao đổi cũng đã điễn ra qua thị trường ngầm Hơn nữa, chính phủ đang thực hiện cổ phần hoá một số doanh nghiệp nhà nước, nếu không thông qua thị trường chứng khoán thì việc cổ phần hoá có nguy cơ diễn ra một cách không công khai, thiếu lành mạnh và đẫn đến thất thoát tài sản
1.8 Những kinh nghiệm về xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở một số nước trên thế giới và bài học rút ra
1.8.1 Ở Trung Quốc
Việc phát hành cổ phiếu rộng rãi ra công chúng trở nên phổ biến từ năm
1984 và thị trường sơ cấp không chính thức được bắt đầu từ đó, nhưng nó chỉ phát triển thực sự vào năm 1988 khi chính phủ cho phép giao dịch tín phiếu kho bạc nhà nước Việc giao dịch cổ phiếu được hợp pháp hoá bằng sự ra đời Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến năm 1990, 1991 và hàng loạt các trung tâm giao dịch trước đó Trên nhiều khía cạnh, thị trường vốn ở Trung Quốc phát triển rất nhanh
Thị trường cổ phiếu ở Trung Quốc phát triển nhanh do đẩy mạnh việc cơ cấu lại quan hệ sở hữu của cac doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là phương pháp cổ phần hoá Đầu năm 1996, trong 118.000 doanh nghiệp nhà nước, số cần giữ lại 100% vốn nhà nước chỉ có 2.000 doanh nghiệp, số còn lại là các doanh nghiệp cần cơ cấu lại quan hệ sở hữu hoặc giải thể
Trang 15Trung Quốc là một điển hình về các định chế đa dạng tham gia quản lý và giám sát việc phát hành trái phiếu Đối với trái phiếu do các định chế tài chính và quỹ đầu tư phát hành, thì Ngân hàng Trung ương Trung Quốc có trách nhiệm kiểm tra và chấp thuận Đối với trái phiếu do các công ty đầu tư nhà nước phát hành thì Uỷ ban Kế hoạch chịu trách nhiệm Bộ Tài chính chịu trách nhiệm về việc phát hành trái phiếu kho bạc nhà nước
Việc phát hành trái phiếu có những khó khăn trong thời kỳ đầu, do việc yêu cầu công nhân mua trái phiếu mang tính hành chính, cưỡng ép Năm 1991, Bộ Tài chính đã áp dụng phương pháp tổ hợp bảo lãnh để phát hành trái phiếu lần đầu tiên Tổ hợp bảo lãnh này đã được cho bảo lãnh 2,5 tỷ nhân dân tệ trong tổng số 19,9 tỷ nhân dân tệ trái phiếu kho bạc phát hành đợt đó Kết quả có 58 tổ chức tài chính, đại lý tư nhân nhận hoa hồng 0,15% tổng số trái phiếu bảo lãnh và bán hết trái phiếu cho tất cả các nhà đầu tư tự nguyện Qua đợt phát hành này, Bộ Tài chính thấy rằng phương pháp tổ hợp bảo lãnh tạo ra nhiều thuận lợi cho việc bảo lãnh phát hành trái phiếu, ví dụ như đã tạo cho các nhà bảo lãnh chủ động chào giá, thu hoa hồng cũng như các điều kiện khác
Phương pháp bảo lãnh phát hành ở Trung Quốc rất thành công trong việc bán một số lượng lớn trái phiếu kho bạc, khi loại trái phiếu này có tỉ lệ lãi suất khá hấp dẫn so với các loại đầu tư khác
Việc phát hành trái phiếu công ty ở Trung Quốc cũng được quản lý chặt chẽ Riêng các công ty trách nhiệm hữu hạn muốn phát hành trái phiếu ra công chúng phải là công ty có hai cổ đông là pháp nhân Nhà nước Các công ty trước khi phát hành trái phiếu phải là các công ty được niêm yết trên sở giao dịch và phải hội đủ các điều kiện về báo cáo tài chính và công bố thông tin cập nhật
1.8.2 Một số nước ở thị trường mới nổi
Malaysia đã sử dụng các công cụ đầu tư tập thể bằng cách thành lập hai tổ chức: Quỹ đầu tư và tập đoàn vốn quốc gia để mua cổ phần các doanh nghiệp nhà nước Hai tổ chức này được quản lý trong một quỹ ủy thác Kết quả rất khả quan: các danh mục đầu tư đã thu được một mức lãi trung bình hàng năm là 15,8% trong suốt thời kỳ 1981-1990 so với mức 7,8% cho lãi tiền gửi tiết kiệm trong cùng thời gian
Trong khi đó, để phân bổ rộng rãi quyền sở hữu vốn, Hàn Quốc đã tiến hành việc bán cổ phiếu với tỉ lệ giảm giá cao cho công chúng được sử dụng để phân phối lại của cải cho các nhóm công chúng thu nhập thấp Phương pháp này thích hợp nhất đối với các nước có thị trường vốn và tài sản tương đối phát triển Năm 1987, Hàn Quốc thực hiện chương trình sở hữu rộng rãi với tên gọi là
“Chương trình cổ phần của nhân dân” – PSP) với hai mục tiêu chủ yếu là phân phối lại sở hữu và của cải cho nhóm người có thu nhập thấp và phân bổ quyền
Trang 16sở hữu càng rộng rãi càng tốt Từ năm 1988 đến năm 1992, cổ phần của 7 doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu quả được phân phối thông qua cách phân bổ ưu tiên chiếm 95% số tài sản đưa ra (20% dành cho những người làm trong doanh nghiệp và 75% dành cho những người có thu nhập thấp) Cổ phiếu chiếm 5% được đưa ra mời chào công chúng Ngoài ra, một số biệt đãi về tài chính đã khích lệ sự tham gia vào PSP: những người làm công trong các doanh nghiệp là đối tượng của chương trình này được hưởng hoặc 30% thấp hơn giá đã định hoặc là một kế hoạch trả dần trong 5 năm không tính lãi; những người có thu nhập thấp cũng được hưởng sự giảm giá và hưởng lãi suất thấp đối với các khoản vay dùng để mua cổ phần
Kết quả của chương trình này rất đáng khích lệ, chẳng hạn năm 1988, 34% tài sản của các doanh nghiệp trên đã được bán ra công chúng với khoảng 3,2 triệu người tham gia Những người này đã nhận được khoản khấu trừ là 60% so với giá thị trường và những người thuộc nhóm có thu nhập thấp sau vài tháng đã bán lại cổ phần của họ để hưởng gần 100% lãi trên khoản tiền đã bỏ ra
1.8.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ các nước trong việc xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán
Ở Trung Quốc, sự hình thành và phát triển thị trường chứng khoán trải qua
3 giai đoạn: thời gian từ 1981-1985 là giai đoạn mang tính tự phát, các doanh nghiệp tự động phát hành cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong lúc người phát hành lẫn người đầu tư chưa có nhận thức đầy đủ về thị trường chứng khoán; thời gian 1986-1991 là giai đoạn các nhà lãnh đạo nhận thức được sự cần thiết phải phát triển thị trường chứng khoán nhưng chưa có định hướng và phương thức quản lý có hiệu quả; thời gian từ 1992 đến nay là giai đoạn phát triển hệ thống quản lý thị trường chứng khoán, từng bước hoà nhập vào thị trường tài chính thế giới
Như vậy, Trung Quốc có một thị trường chứng khoán phát triển nhanh, trong quá trình đi lên có nhiều vấp váp và đó cũng là những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam chúng ta trong quá trình xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán, có thể tóm tắt các bài học sau:
Thị trường chứng khoán cần quản lý tập trung ở trung ương, không nên giao cho các địa phương quản lý dù ở lãnh vực nào
Thị trường tập trung chính thức phải là thị trường cho các loại chứng khoán có chất lượng, phải có hệ thống giao dịch tốt, phù hợp cho từng giai đoạn phát triển, không thể coi giao dịch chứng khoán như giao dịch một loại hàng hoá bình thường được
Một số nước ở thị trường mới nổi đã cho chúng ta nhiều bài học bổ ích trong quá trình xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán, sau đây là một số
Trang 17lĩnh vực cần quan tâm:
Việc chuyển đổi sở hữu từ các doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần cần có một chương trình đồng bộ để khuyến khích rộng rãi công chúng tham gia mua cổ phần, đáng lưu ý là mệnh giá các chứng khoán phải nhỏ, phù hợp với thu nhập của người lao động; có một định chế quỹ đầu tư mạnh để thu hút vốn, tích tụ vốn để từ đó có thể tham gia vào công cuộc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước một cách có hiệu quả
Khi thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, cần quan tâm đến nhóm người có thu nhập thấp, có các chính sách phù hợp để tạo điều kiện cho họ tham gia mua được các cổ phiếu của các công ty làm ăn có hiệu quả, có cổ tức cao
Kết luận chương 1
Ở chương này, tác giả đã trình bày khái quát các nhân tố của thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là nơi huy động và phân phối vốn có hiệu quả nhất cho nền kinh tế, hoạt động dưới các nguyên tắc công khai, trung gian, đấu giá và pháp chế hóa mọi giao dịch Các vấn đề cơ bản của hàng hóa chủ yếu của thị trường chứng khoán là trái phiếu và cổ phiếu, cấu trúc của thị trường như thị trường sơ cấp, điều kiện phát hành, Sở giao dịch chứng khoán, thị trường phi tập trung đều được phân tích; các chủ thể tham gia thị trường như các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, ngân hàng thương mại đều được cấu trúc ở chương này
Chương này cũng đề cập đến sự cần thiết khách quan phải xây dựng và phát triển một thị trường chứng khoán cho Việt Nam; kinh nghiệm và những bài học rút ra ở một số quốc gia về xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra chiến lược phát triển thị trường chứng khoán cho Việt Nam một cách chuẩn xác và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội ở nước ta
Trang 18Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.1 Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam sau 1 năm hoạt động
Sự ra đời và đi vào hoạt động của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (TTGDCK TP HCM) ngày 20/07/2000 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng đồng bộ và hoàn thiện thị trường tài chính ở Việt Nam Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam, mở ra một kênh huy động vốn trung và dài hạn mới bên cạnh hệ thống ngân hàng, khẳng định quyết tâm của Đảng, Nhà nước thực hiện đường lối “Xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta” Tuy quy mô thị trường còn nhỏ bé, vai trò tác động đến nền kinh tế chưa lớn nhưng đây là bước thí điểm, tập dượt quan trọng để các cơ quan quản lý điều hành, các tổ chức tham gia thị trường và công chúng đầu tư làm quen với một lĩnh vực đầu tư mới, điều đó tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển lành mạnh và ổn định của thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Thực trạng hoạt động và những đánh giá về thị trường
2.1.1 Hàng hoá
2.1.1.1 Cổ phiếu niêm yết
Trong phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000, có 2 cổ phiếu được giao dịch đó là cổ phiếu của công ty cổ phần Cơ điện lạnh (REE) và cổ phiếu của công ty cổ phần Cáp và Vật liệu Viễn thông (SACOM) Tiếp đó, phiên giao dịch thứ tư đưa thêm 2 cổ phiếu của công ty cổ phần Giấy Hải Phòng (HAPACO) và công ty cổ phần Kho vận Giao nhận Ngoại thương (TRANSIMEX) vào giao dịch Phiên giao dịch thứ 60, cổ phiếu của công ty cổ phần Chế biến hàng Xuất khẩu Long An (LAFOOCO) được đưa vào giao dịch Ngày 16/07/2001 có thêm cổ phiếu của công ty cổ phần Khách sạn Sài Gòn (SGH) được đưa vào giao dịch Tính đến ngày 28/07/2001 trên thị trường có 6 công ty niêm yết với tổng số cổ phiếu đăng ký niêm yết là 33,8 triệu, đạt giá trị là 338 tỉ đồng (tính theo giá trị sổ sách)
2.1.1.2 Trái phiếu
Trong vòng 1 năm, TTGDCK TP HCM đã tổ chức 8 phiên đấu thầu trái phiếu chính phủ qua TTGDCK, trong đó đã tổ chức thành công 3 đợt đấu thầu, tổng giá trị trái phiếu trúng thầu là 805 tỷ đồng, thời hạn 5 năm lãi suất từ 6,5%/năm đến 7,3%/năm Có 5 đợt đấu thầu không thành công vì lãi suất đặt thầu cao hơn lãi suất chỉ đạo của Bộ Tài chính Bên cạnh đó, Kho bạc Nhà nước đã phát hành 2 đợt trái phiếu chính phủ theo hình thức bảo lãnh phát hành
Trang 19với tổng giá trị 700 tỷ đồng; như vậy, đến nay đã có trên 1.500 tỷ đồng trái phiếu chính phủ được niêm yết trên thị trường chứng khoán
Cổ phiếu Trái phiếu
1.500 tỷ (81,6%)
338 tỷ (18,4%)
Hình 2.1 Giá trị chứng khoán được niêm yết
Ủy ban chứng khoán Nhà nước đã phối hợp với Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo và hướng dẫn việc đưa các trái phiếu trung và dài hạn của các ngân hàng thương mại lên niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán Đến nay có 2 loại loại trái phiếu của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được niêm yết tại TTGDCK TP HCM với tổng giá trị niêm yết là 157,7 tỷ đồng, chiếm 14,75% tổng giá trị phát hành
2.1.1.3 Hoạt động của các công ty niêm yết
Hoạt động của các công ty kể từ khi niêm yết trên TTGDCK TP HCM cho thấy có những chuyển biến tốt Do áp lực của cạnh tranh, công khai thông tin, nên các công ty này đã có những tiến bộ trong việc điều hành quản lý, mở rộng sản xuất, kinh doanh Các công ty niêm yết đều có tốc độ tăng trưởng cao về doanh thu và lợi nhuận So với năm 1999, doanh thu năm 2000 tăng 25%-36%, lợi nhuận tăng 16%-20% Các công ty niêm yết bắt đầu làm quen với thị trường chứng khoán và bước đầu đã thực hiện được những quy định công bố công khai thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh, kinh tế tài chính của mình
ra công chúng
2.1.2 Giao dịch, đăng ký, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán
2.1.2.1 Khối lượng giao dịch
Tính đến ngày 28/07/2001, TTGDCK TP HCM đã thực hiện được 151 phiên giao dịch, với 14,2 triệu cổ phiếu và trên 500.000 trái phiếu, đạt tổng giá trị giao dịch 727 tỷ đồng, trong đó giao dịch cổ phiếu chiếm 90% Thị trường cổ phiếu hoạt động sôi động thu hút được đông đảo nhà đầu tư quan tâm Nêu như giá trị giao dịch thời kỳ đầu là 1 tỷ đồng/phiên, thì trong thời gian sau này, giá trị giao dịch trong khoảng 8 đến 15 tỷ đồng/phiên
18
Trang 20Trái phiếu 3%
Cổ phiếu 97%
Cổ phiếu 90%
Trái phiếu 10%
Hình 2.2 Tỷ lệ hàng hóa giao dịch trên
Thị trường có xu hướng tăng giá liên tục do mất cân đối lớn về cung-cầu Giá các loại cổ phiếu tăng từ 4 đến 7 lần so với giá của phiên giao dịch đầu tiên Trong đó cao nhất là cổ phiếu TRANSIMEX tăng 7 lần và thấp nhất là cổ phiếu SACOM tăng 4 lần Chỉ số VN-Index lên đỉnh cao là 571 điểm, cho đến ngày 28/07/200 là 445,37 điểm Giá trị thị trường của 6 loại cổ phiếu đạt 2.301 tỷ đồng (tính theo giá đóng cửa ngày 27/07/2001)
Giá của các trái phiếu ít có sự biến động
2.1.2.3 Hệ thống giao dịch
Hệ thống giao dịch được nước ngoài cung cấp cùng với hệ thống lưu ký, đăng ký, thanh toán bù trừ do công ty tin học trong nước cung xây dựng Đây là hệ thống bán tự động với mạng cục bộ, có năng lự giải quyết được 300.000 lệnh
1 phiên Hệ thống này đáp ứng được hoạt động giao dịch của thị trường với quy mô nhỏ
Với hệ thống giao dịch hiện tại, khả năng mở rộng tính năng giao dịch và giám sát thị trường có nhiều hạn chế, cần phải được nâng cấp trong thời gian tới
19
2.1.2.4 Lưu ký, thanh toán bù trừ
TTGDCK TP HCM thực hiện đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ cho 9 loại chứng khoán Đến nay, số cổ phiếu được lưu ký chiếm 43,8% cổ phiếu lưu hành của các công ty niêm yết Còn một bộ phận chứng khoán chưa lưu ký tập trung nên chưa kiểm soát được việc mua bán và sang tên chuyển nhượng cho những cổ phiếu này, gây khó khăn cho việc xác định và quản lý cổ đông lớn
Việc thanh toán bù trừ các giao dịch chứng khoán giữa TTGDCK TP
Trang 21HCM và công ty chứng khoán qua Ngân hàng chỉ định thanh toán thực hiện thông suốt theo chế độ quy định
2.1.2.5 Công bố thông tin
Việc công bố công khai thông tin của các bên tham gia thị trường như công ty niêm yết, công ty chứng khoán đã bước đầu đi vào nề nếp, song vẫn còn có trường hợp chưa tuân thủ đúng các quy định của quy chế công bố thông tin Một số công ty niêm yết còn nộp báo cáo không đúng hạn
Trong thời gian vừa qua UBCKNN và TTGDCK TP HCM đã thực hiện việc triển tra, chấn chỉnh và hoàn thiện quy trình và chất lượng công bố thông tin của các bên tham gia thị trường Bên cạnh đó, UBCKNN và TTGDCK TP HCM đã phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng tuyên truyền về thị trường chứng khoán cho người đầu tư, giúp họ nâng cao trình độ hiểu biết về lĩnh vực mới mẻ này
2.1.3 Điều hành của TTGDCK TP HCM
Các hoạt động của TTGDCK TP HCM nhằm vào việc điều hành hoạt động giao dịch, hoạt động lưu ký, đăng ký và thanh toán bù trừ và giám sát các hoạt động công bố thông tin Qua 151 phiên giao dịch, hệ thống giao dịch đã hoạt động trôi chảy, không có các sự cố xảy ra TTGDCK TP HCM đã đảm bảo đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ cho các cổ đông, theo dõi tình hình mua bán và tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của thành viên hội đồng quản trị và cổ đông lớn
Trung tâm đã thường xuyên nhắc nhở, đôn đốc tổ chức niêm yết nộp đầy đủ các báo cáo định kỳ, báo cáo không định kỳ, yêu cầu tổ chức niêm yết lập quy trình công bố thông tin nội bộ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công bố thông tin, chấn chỉnh các thiếu sót trong hoạt động công bố thông tin của các tổ chức niêm yết Đối với các thành viên, TTGDCK TP HCM đã giám sát tình hình thay đổi nhân sự, nhân viên kinh doanh thiếu giấy phép hành nghề, tình hình mở chi nhánh, đại lý nhận lệnh Tuy nhiên trong công tác điều hành của TTGDCK TP HCM một số mặt còn lúng túng nhất là khâu giám sát thị trường và hoạt động công bố thông tin
2.1.4 Công ty chứng khoán và các định chế trung gian tài chính
2.1.4.1 Công ty chứng khoán
Cho đến tháng 7/2001 đã có 8 công ty chứng khoán được Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước (UBCKNN) cấp giấy phép hoạt động, đó là: Công ty Chứng khoán Bảo Việt, Công ty trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn, Công ty cổ phần Chứng khoán Đệ Nhất, Công ty trách nhiệm hữu hạn Chứng khoán Thăng Long, Công
ty trách nhiệm hữu hạn Chứng khoán ACB, Công ty trách nhiệm hữu hạn Chứng khoán Ngân hàng Công thương và Công ty trách nhiệm hữu hạn Chứng khoán
Trang 22Ngân hàng Nông nghiệp
Khi mới đi vào hoạt động các công ty còn gặp nhiều bỡ ngỡ, nhưng cho đến nay các công ty này đều đã triển khai được các loại hình hoạt động như môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư Tổng số tài khoản công ty chứng khoán mở cho khách hàng tính cho đến ngày 28/07/2001 là 5.847, tăng 2,23 lần so với 1.813 tài khoản mở trong tháng 8/2000 Doanh thu môi giới của các công ty chứng khoán cũng tăng lên đáng kể, doanh thu môi giới trung bình khoảng 100 triệu đồng/tháng Đến hết quý II năm 2001, hoạt động kinh doanh của hầu hết các công ty chứng khoán bắt đầu có lãi, tuy mức độ của từng công ty có khác nhau Một số công ty chứng khoán sẽ mở thêm chi nhánh, và chuẩn bị mở đại lý nhận lệnh tại các địa phương Mặt hạn chế của các công ty chứng khoán vẫn là thiếu đội ngũ hành nghề về chứng khoán và thị trường chứng khoán, một số công ty chưa chấp hành các nguyên tắc và quy định đối với khách hàng như cho người đầu tư mở nhiều tài khoản, ưu tiên các lệnh giao dịch khối lượng lớn, chưa theo dõi sát và và phát hiện những vi phạm của khách hàng
2.1.4.2 Tổ chức lưu ký
Cho đến tháng 7/2001, UBCKNN đã cấp phép hoạt động lưu ký chứng khoán cho 10 tổ chức, bao gồm 7 công ty chứng khoán và 3 chi nhánh ngân hàng nước ngoài Sau 1 năm hoạt động, các công ty chứng khoán và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã tích cực triển khai nghiệp vụ lưu ký, tuân thủ các quy định của UBCKNN và TTGDCK TP HCM Hoạt động lưu ký, thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán về cơ bản được thực hiện tốt
2.1.4.3 Ngân hàng chỉ định thanh toán
Trong quá trình chuẩn bị để đưa TTGDCK TP HCM đi vào hoạt động, UBCKNN đã phối hợp với Ngân hàng Nhà nước cho phép Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam làm ngân hàng chỉ định thanh toán Cho đến nay, hoạt động thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán của ngân hàng chỉ định thanh toán Cho đến tháng 7/2001, hoạt động thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán của ngân hàng chỉ định thanh toán được thực hiện tốt, chưa có hiện tượng
vi phạm nguyên tắc thanh toán
2.1.4.4 Công ty kiểm toán
UBCKNN đã lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập cho các tổ chức phát hành và kinh doanh chứng khoán Căn cứ vào giấy phép hoạt động kiểm toán do Bộ Tài chính cấp, đến thời điểm tháng 7/2001, UBCKNN đã chấp thuận cho 6 công ty kiểm toán được kiểm toán các tổ chức phát hành và kinh doanh chứng khoán
2.1.5 Quản lý và giám sát thị trường
Xác định công tác quản lý, giám sát hoạt động thị trường đóng vai trò