1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái vùng đồng bằng sông cửu long

57 330 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 915,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Du lịch được biết đến là một trong những ngành tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới góp phần tạo ra việc làm, tăng nguồn thu, cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cấp các di sản văn

Trang 2

Mục Lục

Trang LỜI MỞ ĐẦU………1

Chương 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÀNH DU LỊCH……… 3

I LÝ THUYẾT KINH TẾ LIÊN QUAN ĐẾN DU LỊCH……… 3

I.1 Khái niệm và đặc điểm ngành du lịch……….3

I.2 Thị trường du lịch……….4

I.3 Sản phẩm- đặc trưng của sản phẩm du lịch……… 4

I.4 Các loại hình du lịch……….6

II LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH……….7

II.1 Các sắc thái của du lịch quốc tế hiện nay……… 8

II.2 Quá trình hình thành và phát triển ngành du lịch ở nước ta……… 11

Chương 2: ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG……… 17

I KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA DU LỊCH SINH THÁI………17

II TÍNH TẤT YẾU CỦA SỰ XUẤT HIỆN DU LỊCH SINH THÁI Ở VIỆT NAM……….18

III ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN VÀ HIỆN TRẠNG

KHAI THÁC DU LỊCH SINH THÁI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG…………21

III.1 Phương pháp đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên……….21

III.1.1 Phương pháp đánh giaù………21

III.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá……… 21

III.1.3 Điểm đánh giá ………24

III.1.4 Kết quả đánh giá TNDL vùng ĐBSCL……… 26

III.2 Hiện trạng khai thác du lịch sinh thái vùng ĐBSCL……….28

III.2.1 Vị trí địa lý và ý nghĩa du lịch………28

III.2.2 Đặc điểm môi trường vùng đồng bằng sông Cửu Long…………29

III.2.3 Hiện trạng phát triển du lịch và khai thác tài nguyên du

Trang 3

lịch tự nhiên vùng đồng bằng sông Cửu Long……….31

III.2.3.1 Hiện trạng phát triển du lịch………

…III.2.3.2 Hiện trạng khai thác TNDLST vùng ĐBSCL……….34

III.2.3.3 Đánh giá chung………35

Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ………36

I NHỮNG QUAN ĐIỂM VÀ NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI………36

I.1 Những quan điểm phát triển du lịch sinh thái………36

I.2 Những nguyên tắc………36

II GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VÙNG ĐBSCL…………37

II.1 Giải pháp xây dựng các tuyến điểm du lịch sinh thái……….37

II.2 Giải pháp tổ chức các chương trình du lịch sinh thái trọn gói….……….41

II.3 Giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững………43

II.4 Tổ chức các phương tiện vui chơi, nghỉ ngơi tại các điểm du lịch sinh thái………44

II.5 Tổ chức các hoạt động quảng cáo, bán và thực hiện các chương trình du lịch sinh thái……….46

KIẾN NGHỊ………49

KẾT LUẬN………51

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Du lịch được biết đến là một trong những ngành tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới góp phần tạo ra việc làm, tăng nguồn thu, cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cấp các di sản văn hóa, khuyến kích phát triển kinh tế v.v…

Vai trò vị trí và hiệu quả nhiều mặt của du lịch đã thuyết phục được chính phủ và người dân của chúng ta chấp nhận du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam

Chúng ta đã biết dù phát triển bất cứ loại hình du lịch nào đều phải dựa vào môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn Loại hình du lịch sinh thái, một xu thế tất yếu của du lịch thế giới hiện nay, và nhất là các nước đang phát triển như ở Việt Nam có tác động mạnh mẽ tới môi trường cả nhân văn lẫn tự nhiên điều đáng quan tâm là những tác động tiêu cực sẽ dẫn đến suy giảm môi trường và đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động du lịch

Việt Nam nói chung và các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng đang có xu thế phát triển du lịch sinh thái rất mạnh mẽ với sự lựa chọn bắt buộc là phải sử dụng có trách nhiệm các nguồn tài nguyên du lịch hay nói cách khác là phát triển du lịch sinh thái bền vững

Để góp phần tạo cơ sở ban đầu cho sự phát triển du lịch sinh thái đồng bằng sông Cửu Long Với sự hướng dẫn giúp đỡ của thầy: PGS.TS Nguyễn Đức Khương tôi đã nghiên cứu, đánh giá tiềm năng, hiện trạng phát triển và đề ra những biện pháp để phát triển loại hình du lịch sinh thái ở đồng bằng sông Cửu Long

Do du lịch sinh thái còn khá mới mẻ đối với Việt Nam Vùng Đồng bằng sông Cửu Long phương tiện giao thông không thuận tiện đối với việc đến các khu bảo tồn thiên nhiên hay các khu rừng ngập mặn Để thực hiện được đề tài tôi phải thu thập thông tin, các tài liệu nghiên cứu khoa học của các cơ quan nghiên cứu cũng như những đơn vị hoạt động du lịch trong vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước

Trang 5

Nội dung của đề tài: Những giải pháp thúc đẩy phát triển Du lịch sinh thái

Vùng đồng bằng sông Cửu Long

Chương II : Đánh giá tiềm năng phát triển Du lịch sinh thái vùng Đồng

bằng Sông Cửu Long Chương III : Những giải pháp thúc đẩy phát triển Du lịch sinh thái vùng

Đồng bằng Sông Cửu Long Với tất cả sự tận tình giúp đỡ của Thầy hướng dẫn, sự nỗ lực của bản thân cùng các kiến thức được trang bị Tôi đã hoàn thành cuốn luận án, mặt nào đó vẫn còn thiếu sót Vì vậy rất mong được sự đóng góp chỉ dẫn của tất cả các thầy cô giáo và đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn

Trang 6

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÀNH DU LỊCH

I LÝ THUYẾT KINH TẾ LIÊN QUAN ĐẾN DU LỊCH

I 1 Khái niệm và đặc điểm ngành du lịch

Ngành du lịch là một ngành kinh tế - dịch vụ có nhiệm vụ chủ yếu là phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi tìm hiểu thiên nhiên, đất nước, con người đồng thời kết hợp với các dạng nhu cầu khác như: nghiên cứu khoa học, khảo cổ, thể thao, tiếp thị v.v…

Với mức sống ngày càng nâng cao, thì ngành du lịch ngày càng phát triển Ngành du lịch càng phát triển thì sự giao lưu của người dân giữa các vùng, các khu vực, giữa các quốc gia càng xích lại gần nhau và càng hiểu biết nhau nhiều hơn Từ đó cho thấy sự phát triển ngành du lịch không chỉ đơn thuần mang lại hiệu quả kinh tế cho đất nước mà còn có ý nghĩa chính trị sâu sắc trong việc củng cố nền hòa bình trên toàn thế giới

Các đặc điểm của ngành du lịch

a Ngành du lịch là một ngành kinh tế

Hoạt động của ngành du lịch có nhiều bộ phận có tính chất kinh tế rất rỏ rệt, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều nước, du lịch được kể như một trong những ngành mũi nhọn, thu nhập của ngành du lịch ở nhiều nước rất lớn

Ví dụ: Nam Tư năm 1987 ngành du lịch thu hơn 1,6 tỷ, chiếm 3% tổng sản phẩm xã hội và 15% tổng thu nhập xuất khẩu (phục vụ gần 9 triệu khách nước ngoài) Trong hoạt động kinh tế của ngành du lịch có 3 phần:

- Phần sản xuất: gồm các hoạt động chế biến các món ăn uống của cửa hàng ăn uống, hoặc sản xuất dụng cụ du lịch, hay quà lưu niệm…

khách du lịch, các món ăn uống…

- Phần dịch vụ: gồm dịch vụ khách sạn, dịch vụ vận tải, dịch vụ phục vụ

tại bãi tắm, nơi vui chơi giải trí, khu chữa bệnh và khu nghiên cứu chuyên đề

Trang 7

b Ngành du lịch là một ngành văn hóa - xã hội

Hoạt động của ngành du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu có tính chất văn hóa

- xã hội của con người Các hoạt động tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu của người đi du lịch là các hoạt động văn hóa xã hội

I 2 Thị trường du lịch

Thị trường du lịch là nơi thực hiện sự trao đổi sản phẩm du lịch vì mục đích thỏa mãn nhu cầu mong muốn của khách du lịch Nhu cầu và ước muốn đó, được gọi là cầu du lịch Nó được đo lường bằng số lượng khách du lịch

Cầu du lịch là thành phần quyết định tạo nên thị trường du lịch Nó là một tập hợp những khách hàng có khả năng và mong muốn tiến hành một cuộc trao đổi nhằm giúp cho họ thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ sản phẩm du lịch Như vậy cầu

du lịch được tạo ra từ nhu cầu của khách hàng, nhưng nhu cầu đó đã được biến thành mong muốn và sức mua thực tế Trong đó nhu cầu của khách là cơ sở ban đầu có ý nghĩa quyết định Nhu cầu này phụ thuộc vào mức thu nhập, khác nhau của khách hàng về tập quán, nhu cầu tâm sinh lý, về giá cả, nhưng chủ yếu phụ thuộc vào yếu tố thu nhập Đã có cầu xuất hiện ắt phải có cung đáp ứng

Vậy cung du lịch được hiểu là khả năng cung cấp sản phẩm du lịch do đơn

vị kinh doanh du lịch thực hiện

Quan hệ giữa cung và cầu trên thị trường du lịch ràng buộc lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau Cung tác động lên cầu qua khối lượng và cơ cấu của nó, cầu ảnh hưởng đến sự phát triển của cung qua việc tăng tiêu thụ và phân hóa của cầu Xu hướng đặc trưng của thị trường du lịch là sự cân bằng tương ứng giữa cung và cầu du lịch

I 3 Sản phẩm - đặc trưng của sản phẩm du lịch

I.3.1 Sản phẩm du lịch là loại sản phẩm mang tính chất tổng hợp, gồm nhiều dịch vụ: vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí

Như vậy sản phẩm du lịch của một quốc gia được cấu thành bởi sản phẩm

du lịch của địa phương, sản phẩm du lịch địa phương được cấu thành từ sản phẩm khách sạn, phục vụ của ngành du lịch

Trang 8

Các yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch

- Các di sản thiêng liêng, tài nguyên thiên nhiên (rừng, núi, biển, bờ biển)

- Các di sản do con người tạo ra: các công trình kiến trúc, các lăng tẩm, di tích lịch sử, viện bảo tàng, tôn giáo, phong tục tập quán

- Hệ thống các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc phục vụ du lịch

- Những cơ số vật chất kỹ thuật phục vụ ngành du lịch, khách sạn nhà hàng, khu vui chơi, giải trí

Như vậy, có thể nói sản phẩm du lịch được cấu thành bởi hai yếu tố chính:

+ Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch gồm tài thiên nhiên và tài nguyên do con người tạo ra Tài nguyên thiên nhiên: bao gồm các di sản tài nguyên thiên nhiên như rừng (động vật, thực vật nguyên sinh); núi non đèo, suối, hang động, biển, bãi biển, hồ, phong cảnh thiên nhiên khí hậu

Tài nguyên do con người tạo ra: bao gồm các di sản do con người tạo ra như: các di tích lịch sử, lăng tẩm, đền đài, tôn giáo, phong tục tập quán, thực phẩm đặc sản tự nhiên, sản phẩm thủ công, mỹ nghệ mang tính đặc trưng, hệ thống chính trị, pháp luật giáo dục

+ Các dịch vụ cung cấp để khai thác sử dụng các tài nguyên du lịch đó

Các dịch vụ này không phải là mục đích của chuyến du lịch nhưng thiếu nó thì không thểû hình thành một chuyến du lịch Các dịch vụ này bao gồm: phục vụ ăn uống, phục vụ lưu trú, thông tin liên lạc, vận chuyển giao thông, cơ sở vật chất kĩ thuật, phục vụ việc vui chơi giải trí: công viên, sân golf, rạp hát

I.3.2 Đặc trưng của sản phẩm du lịch

- Sản phẩm du lịch là sản phẩm tổng hợp được tạo ra từ các nguồn kinh doanh khác nhau (vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí, tham quan ) các nguồn kinh doanh này có sự liên quan mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau tạo nên chất lượng của sản phẩm du lịch

Trang 9

- Nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm du lịch dễ bị thay đổi, nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: tính hình kinh tế, tình hình chính trị, tình hình kinh tế xã hội, của các nước có sản phẩm du lịch để bán

- Cuối cùng nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm du lịch hết sức uyển chuyển, lệ thuộc vào mốt nhất thời, phong trào hay thay đổi động cơ du lịch của khách

Chính vì sản phẩm du lịch có đặc trưng như vậy nên hoạt động maketing có vị trí đặc biệt trong ngành du lịch

- Nghỉ ngơi: để thỏa mãn nhu cầu thư giãn nhằm lấy lại sức làm việc Nghĩ ngơi cũng đi đôi với giải trí và hoạt động tham quan Song cần thấy rằng tham quan, giải trí chỉ là phụ mà nghĩ ngơi là chủ yếu

- Thể thao: Những môn thể thao của hoạt động du lịch: săn bắn, leo núi, bơi lội, lướt ván, bơi thuyền

- Nghiên cứu chuyên đề: người ta kết hợp du lịch với nghiên cứu sinh học, sử học, dân tộc học, kinh tế và quản lý, y học và các hoạt động khoa học khác Loại hình đang được chú ý vì có nhu cầu ngày càng tăng

- Du lịch công vụ, du lịch thương mại: khi đi du lịch thường kết hợp với đi công việc như đàm phán, giao dịch, ngoại giao, nghiên cứu tìm cơ hội, tìm đối tác đầu tư Trong điều kiện kinh tế mở hiện nay các loại hình du lịch này đặc biệt phát triển mạnh

- Du lịch thăm viếng v.v…

Trang 10

II LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH

Hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu

Trong thời kỳ cổ đại Ai Cập và Hy lạp, hoạt động du lịch mang tính chất tự phát Tới đế chế La Mã, du lịch phát triển ở hai hình thức cá nhân và tập thể Lúc này đã bắt đầu xuất hiện những cuốn sách ghi chép và hướng dẫn về các tuyến hành trình, các suối nước nóng của các tác giả như Sêza, Taxit

Đến thế kỹ 15 - 16, khi mà làn sóng các tín đồ tràn ngập các bến cảng Marsel, Vơnizơ các cơ sở hoạt động du lịch được mở ra ở nhiều nơi trong các thành phố này Tuy nhiên, hoạt động của các tổ chức thời kì này vẫn chưa mang tính liên tục mà mới chỉ thành từng “ đợt” phục vụ lượng khách tương đối đông

Tới thế kỹ 17 sau khi các cuộc chiến tranh kết thúc cùng với sự phát triển kinh tế thông tin bưu điện cũng như giao thông vận tải đã không ngừng tăng trưởng nhanh chóng và do đó đã thúc đẩy ngành du lịch phát triển mạnh mẽ Du lịch lúc này đã thành “mốt” của các tầng lớp thượng lưu Điều đó đòi hỏi sự ra đời của các cơ sở chuyên thực hiện những công việc liên quan đến du lịch Ở Pháp đã xuất hiện công ty kinh doanh tổng hợp “gà trống vàng” do ông Renoldo Teofract thành lập Hãng đã tổ chức những chuyến du lịch với các dịch vụ: từ phương tiện đi lại, tham quan giải trí, đến phụ vụ ăn uống và lưu trú

Năm 1814 thương gia người ý là Drovanlri đã tổ chức các “phòng gặp gỡ” để phổ biến các tuyến hành trình về thủ tục, hộ chiếu tổ chức các chuyến du lịch v.v…

Năm 1841 Thomas Cook đã tổ chức thành công chuyến du lịch cho 570 người đi từ Leicester đến Loughborough và ngược lại Ông nhận ra rằng việc tổ chức các cuộc hành trình du lịch có thể biến thành hoạt động kinh doanh có lãi Từ 1942 Thomas Cook hoạt động rất tích cực trong việc tổ chức các chuyến du lịch Năm 1946 được sự ủng hộ của các hãng tàu biển, Thomas Cook đã tổ chức các chuyến du lịch sang Xcotlen Năm 1953 ông đã tổ chức các chuyến du lịch tập thể cho người Anh ra nước ngoài Đây là chuyến du lịch quốc tế đầu tiên và

ba năm sau ông đã tổ chức chuyến du lịch vòng quanh Châu Âu thu được thắng lợi vang dội Chính Thomas Cook là người đặc ra nền móng cho việc phát triển

du lịch hiện đại

Trang 11

Ngày nay nền kinh tế thế giới đã phát triển ở mưc độ cao Khoa học kỹ thuật, phát triển như vũ bão Mức sống của dân cư thế giới đã được nâng lên nhiều lần do đó nhu cầu du lịch của dân cư càng trở nên cấp thiết Du lịch đã trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu Nhiều nước đã lấy chỉ tiêu đi du lịch của dân cư là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng của cuộc sống Tùy theo vị trí tiềm năng có nước coi du lịch như là một nền kinh tế mũi nhọn WTO dự báo vào năm 2000 con số du khách toàn cầu sẽ lên đến 660 triệu người trong đó du khách Đức, Mỹ, Anh, Nhật, Pháp, sẽ tràn ngập các điểm du lịch hấp dẫn nhất trên thế giới Tỉ lệ tăng trưởng của ngành công nghiệp du lịch sẽ tăng xắp xỉ 4,4%”

Như vậy ta có thể tin chắc rằng ngành du lịch thế giới sẽ tiếp tục phát triển và mang lại nguồn lợi khổng lồ cho nhiều quốc gia trên thế giới

II 1 Các sắc thái của du lịch quốc tế hiện nay

- Hướng đi của du khách thay đổi :

Vào đầu thế kỷ 20 một nhà ngoại giao Hoa kỳ đã nói: “ Địa Trung Hãi là vùng biển của quá khứ , Đại Tây Dương là vùng biển của hiện tại, Thái Bình Dương là vùng biển của tương lai” Thật vậy, trung tâm kinh tế đang chuyển từ Đại Tây Dương sang Châu Á Thái Bình Dương Trong đó khu vực phát triển với tốc độ cao và năng động nhất là Đông Nam Á Do vậy, ngày nay du khách đang chuyển hướng du lịch về vùng Châu Á -Thái Bình Dương nhiều hơn Hội đồng giao thông và du lịch thế giới trụ sở tại Brussel dự đoán tổng thu nhập do du lịch hàng năm ở Châu Á và Thái Bình Dương (do khách du lịch chi cộng với đầu tư vốn vào công nghiệp du lịch) sẽ tăng từ 800 tỉ USD vào năm 1995 lên tới 2000 tỉ USD tới 2005 Điều này sẽ làm tăng tỉ trọng của thị trường đi lại và du lịch của Châu Á - Thái Bình Dương từ 23% len 27% vượt lên Mỹ và sát nút sau Tây Âu

- Các quốc gia Châu Á có nền công nghiệp du lịch phát triển như:

Trung Quốc là quốc gia có bề dày lịch sử với biết bao danh lam thắng cảnh Vào những năm đầu Trung Quốc mới cải cách, mở cửa, có 9,4 triệu du khách tới tham quan, thu 940 triệu USD

Năm 1991 hơn 33,3triệu du khách tới Trung Quốc, thu nhập hơn 2,80 tỷ USD Năm 1993 có trên 41 triệu du khách, thu nhập tới 6 tỷ USD

Năm 1995 có 44 triệu du khách, thu 8 tỷ USD

Trang 12

Hồng Kông: xưa nay vốn là nơi du lịch của vùng Đông Á Với vị trí thuận lợi, nhiều dịch vụ hấp dẫn du khách đã mang lại thành công trong công nghiệp

du lịch Du khách tăng lên hàng năm và luôn giữ ở mức độ cao Năm 1995 có trên 10 triệu du khách đến Hồng Kông

Hàn Quốc: Là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm, GDP năm 1994 tăng 8,2% Đáng chú ý là nguồn thu nhập do kinh doanh du lịch đạt tốc độ tăng trưởng 582% Năm 1990 có 2,9 triệu lượt du lịch khách nước ngoài doanh thu đạt trên 3 tỷ USD

Năm 1995 Hàn Quốc phấn đấu năm 1995 đón được 5 triệu lượt du khách với thu nhập khoảng 6 tỷ USD

Các nước ASEAN (Đông Nam Á): sáu nước trong khu vực ASEAN (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philipines, Singapore, Thailand) được coi như một trong những khu vực có tốc độ tăng trưởng nguồn khách lớn nhất thế giới Trong vòng 6 năm qua, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 12% Năm1987, sáu nước đón tiếp được 12 triệu lượt khách, đến năm 1993 số khách này đã tăng lên 23,46 triệu, năm 1994 là 26 tri ệu và năm 1995 ước trên 28 triệu lượt khách

Bảng: Số lượng khách du lịch đến các nước ASEAN

Số lượng du khách quốc tế Tên nước

1992 (triệu người) 1993 (triệu người) 1994 (triệu người) 1995 (triệu người)

0,57 3,4 6,5 1,37 6,34 5,76

0,58 4,0 7,2 1,6 6,88 6,13

0,5 4,5 7,93 2,0 7,32 6,6 (Nguồn: báo cáo năm 1995 về công nghiệp du lịch ASEAN - Tài liệu của ban thu ký ASEAN tại Jakarta)

Ngành du lịch ASEAN đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế của các nước thành viên Năm 1994, cùng với đà tăng trưởng kinh tế, ngành du lịch các nước ASEAN đã thu được những thành quả nổi bật Số lượng

Trang 13

quốc tế đến khu vực AESAN năm 1994 là 26 triệu lượt khách, tăng 9% so với năm 1993 (23,46 triệu người) Khách du lịch các nước ASEAN chiếm 4,9% tổng số khách du lịch toàn thế giới, so với 4,7% năm 1993 Về thu nhập từ du lịch, theo tính toán của các cơ quan du lịch quốc gia ASEAN thì tổng thu nhập từ du lịch của các nước ASEAN vượt 21 tỷ USD trong 1994 (so với 18,7 tỷ USD năm 1993)

Hiện nay, Châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là các nước Đông Nam Á có tốc độ tăng trưởng khách du lịch lớn nhất thế giới, mở ra triển vọng to lớn cho sự phát triển ngành công nghiệp du lịch của các nước ASEAN Ngành du lịch là một ngành được ưu tiên phát triển và đầu tư trong các nước ASEAN

- Sự quốc tế hóa du lịch:

Từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay, nền kinh tế thế giới trải qua những bước thăng trầm và không ngừng phát triển đi lên Song song với việc phát triển kinh tế, hoạt động du lịch càng trở nên nhộn nhịp và mang lại hiệu quả cao, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung trên toàn thế giới Du lịch được gọi là ngành xuất khẩu vô hình, tốc độ tăng thu nhập của du lịch vượt

xa tốc độ tăng của nhiều ngành kinh tế Trong vòng hơn 40 năm (1950 - 1994) thu nhập từ du lịch quốc tế tăng lên khoảng 161 lần

Hiện nay với chính sách kinh tế mở, sự mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có thể đi du lịch đến hầu hết các quốc gia khác nhau vì mục đích hòa bình, hữu nghị và sự hiểu biết lẫn nhau

Bên cạnh đó việc trao đổi kinh nghiệm, phối hợp hoạt động trong nhiều lĩnh vực, việc quảng cáo, tổ chức các chuyến du lịch liên vùng để phục vụ khách ngày càng lớn mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng du khách Cùng với quá trình quốc tế hóa du lịch, xu hướng du lịch giải trí, du lịch tập thể phát triển mạnh hơn du lịch kinh doanh Điều này nói lên nhịp độ lao động ngày càng khẩn trương, do đó nhu cầu giải trí của tập thể người lao động ngày càng trở nên bức thiết hơn

- Sự phát triển du lịch sinh thái:

Sau một thời gian phát triển du lịch nhiều quốc gia đã nhận thấy rằng nếu không kịp thời chấn chỉnh thì thu nhập của hoạt động du lịch không kheó sẽ không bù đắp được những thiệt hại do du lịch gây ra với môi trường tự nhiên và

Trang 14

xã hội Chính vì ý thức được vấn đề trên, một loại hình du lịch mới xuất hiện vào đầu thập kỹ 90 đã gây tranh cải không ít đó là du lịch sinh thái gọi tắt là Ecotourism Du lịch sinh thái đòi hỏi kỹ nghệ du lịch và du khách phải ý thức bảo vệ môi sinh và sự bình yên của con người, phải giữ cho môi trường tự nhiên được trong sạch và môi trường xã hội lành mạnh Theo thống kê của WTO và CATA thì doanh thu từ du lịch sinh thái ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong doanh thu ngành du lịch

- Du lịch và sự phát triển địa phương:

Việc phát triển công nghiệp dẫn đến đô thị hóa dân chúng có khuynh hướng rời bỏ làng mạc hoặc những vùng đất phì nhiêu để sinh sống Những việc phát triển du lịch tại một địa phương nào đó sẽ kéo theo các ngành khác phát triển, giải quyết lực lượng lao động dư thừa, đổi mới bộ mặc xã hội, các cơ sở hạ tầng được kiến tạo để thích hợp với du khách Du lịch, một ngòi nổ để phát triển các ngành khác Chúng ta có th ể giữ tầm quan trọng của du lịch khi biết chính phủ Singapo đang triển khai kế hoạch chi hơn 13 tỉ USD để nâng cấp ngành du lịch có sự tham gia của 12 bộ trong chính phủ Tại Australia với mạng lưới gồm

22 nghìn khách sạn, 52 nghìn nhà nghĩ tư nhân, có 39 nghìn hiệu cà phê, có 1500 bãi tắm và hồ bơi, 5000 sân quần vợt, 200 phòng thể dục thể thao, 60 trường leo núi, 601 trường trượt tuyết, 80 vườn bách thảo và nhiều cơ sở sản xuất các hàng hóa tiêu dùng , thủ công mỹ nghệ đã đem lại hàng triệu công ăn việc làm cho người lao động, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa - dịch vụ thỏa mãn nhu cầu khách quốc tế và dân sở tại, thu về một nguồn lợi lớn cho nhà nước Úc

II 2 Quá trình hình thành và phát triển ngành du lịch ở nước ta:

Có thể nói rằng du lịch của người dân trên đất nước ta đã có từ lâu đời Người Việt đã biết du lịch nghĩa là đi chơi một cách lịch lãm và đã đúc rút được thú vui đặc trưng khi đi du lịch đó là: “trà tam tửu tứ du hành nhị” Tuy nhiên, nó chỉ là nhu cầu du lịch vốn có tiềm ẩn trong con người nói chung, song ngành du lịch Việt Nam thì mãi 1960 mới được hình thành Có thể chia quá trình hình thành và phát triển ngành du lịch Việt Nam thành 3 giai đoạn:

Giai đoạn đầu từ 1960 - 1975: Cơ sở vật chất kĩ thuật, trang thiết bị vật tư còn nhiều thi ếu thốn, đội ngũ cán bộn nhân viên phục vụ chưa nhiều kinh nghiệm, trình độ chuyên môn nghi ệp vụ còn hạn chế Do tính chất nhiệm vụ của đất nước trong giai đoạn này mà du lịch chưa có điều kiện phát triển

Trang 15

Giai đoạn từ 1976 - 1990: Ngày 27 -6- 1978 quốc hội ra nghị định thành lập tổng cục du lịch trực thuộc hội đồng bộ trưởng Sự kiện này đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong quá trình phát tri ển ngành du lịch Việt Nam Giai đoạn này bộ máy tổ chức quản lý của tổng cục du lịch dần được hoàn thiện Năm 1981 du lịch Việt Nam là thành viên chính thức của tổ chức du lịch thế giới (WTO) Cơ sở vật cchất kĩ thuật của ngành cũng được mở rộng bằng việc xây dựng khách sạn mới ở miền Bắc, tiếp quản các khách sạn của chế độ củ sau ngày miền Nam giải phóng

Do hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại và do bối cảnh quốc tế lúc đó cộng thêm cơ chế quản lý kinh tế còn mang nặng tính bao cấp của thời chiến, nên chưa tạo được những động lực cần thiết thúc đẩy ngành du lịch phát triển

Một số đặc điểm của giai đoạn này là cơ sở vật chất của ngành còn nghèo nàn, thiếu thốn, lạc hậu và xuống cấp Tính đ ến 1989 toàn ngành có 140 khách sạn và 6980 buồng, trong đó có 4000 buồng đạt ti êu chuẩn đón khách quốc tế Các khách sạn phân bố không đều Nhiều nơi có điêu kiện tụ nhiên ,văn hóa để phát triển du lịch nhưng không đủ khách sạn như hà nội ,quảng ninh , Hải phòng Cỏ sở hạ tâng như giao thông, điên nước, bưu điện….kém phát triển Bên cạnh đó đội ngũ cán bộ, công nhân phục vụ trong nganh du lịch đến năm 1989 khoảng

20000 người, hầu hết chưa qua đào tạo, nên trình độ nghiệp vụ trong quản lý và phục vụ còn yếu kém

Kết qủa họat động kinh doanh du lịch của giai đoạn này chưa đáng kể, cụ thể: năm 1976 trong hoạt dộng du lịch quốc tế, số ngày khách du lịch quốc tế là 184.119 ngày khách, doanh thu là 23.776.000đ, nộp ngân sách 1.219.000đ Năm

1980, số ngày khách du lịch quốc tế là290.000 ngày khách, doanh thu 51.000.000đ và nộp ngân sách 11.748.000đ Năm 1989 đón được 215.000 khách quốc tế, doanh thu 2,9 triệu rúp và 45,85 triệu USD So với những năm đầu thập niên 80 số lượng khách cũng như doanh thu ngoại tệ đã tăng hàng chục lần

Từ năm 1986 các hoạt đông du lịch đưa người Việt Nam đi du lịch nước ngoài là:10.000 khách Thị trường chủ yếu là các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên xô Bên cạnh phát triển du lịchquốc tế , du lịch nội địa ở giai đoạn này phát triển tương đối nhanh So với thời kỳ 1976-1980 thì khách du lịch nội địa thơì kỳ 1981-1985 tăng 15,6 lần và thời kỳ 1989 tăng 21,7 lần

Trang 16

Nhìn chung hoạt động du lich giai đoạn này vẫn mang nặng tính chất phục vụ theo cơ chế của nền kinh tế tập trung bao cấp, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch nội địa

Giai đoạn từ 1990 đến nay: trong giai đoạn này ngành du lịch có sự chuyển biến khá mạnh mẽ

Tình hình hoạt động kinh doanh: Lượng khách quốc tế tăng từ 250 ngàn ngừơi năm 1990 lên 1 triệu năm 1994 và 1,3 triệu năm 1995.Khách nội điạ tăng từ 1 triệu năm 1995 lên 3,5 tiệu năm 1994 và 5-5,5 triệu năm 1995; 1997-1998 trên 8.000 tỷ

Du khách từ các nước vào Việt Nam tham quan du lịch, tìm hiểu cơ hội đầu tư; kinh doanh buôn bán, Việt kiều về thăm quê hương v.v… ngày càng đông dẫn đến tổng doanh thu từ du lịch ngày càng cao Tổng thu nhập của xã hội từ du lịch là khoảng 8.000tỷ năm 1995 (800triệu USD) và 9.500 tỷ (1996); 1998 là 8.200tỷ

Bảng kết quả kinh doanh du lịch qua các năm:

(triệu người)

Khách nội địa

(Nguồn : Tổng cục du lịch)

Có được kết qua như vậy là nhờ chính sách mở cửa, ổn định chính trị, phát triển kinh tế của đất nước Đó cũng là kết quảcủa những có gắng phấn đấu trong toàn ngành du lịch cũng như các ngành có liên quanđến cải tiến cơ chế quản lý, đổi mới chính sách hoàn thiện tổ chức, nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh doanh dịch vụ du lịch

Trang 17

So với các nước, số lượng khách du lịch Quốc tế vào Việt Nam chưa

nhiều, nhưng đó là con số rất có ý nghĩa của ngành du lịch Việt Nam Nhịp độ

tăng trung bình hàng năm là 40% là rất khả quan cho ngành du lịch Tuy nhiên

khi so sánh về số lượng khách du lịch Quốc tế đến các nước lân cận thuộc khố

ASEAN, ta có thể nhận thấy một cách dễ dàng rằng Việt Nam đi chậm rất nhiều

so với các nước trong khu vực

Bảng : Tăng trưởng số lượng khách du lịch Quốc tế đến các nước thuộc ASEAN và Việt Nam

Lượng khách du lịch Quốc tế đến

(năm)

Các nươcù ASEAN (người)

Việt Nam (người)

Thị phần tươngđối của Việt Nam(%)

(Nguồn : Tổng cục du lịch)

Về cơ sở vật chất, hiện nay đã có trên 2.300 cơ sở lưu trú với 42.000

phòng Trong đó có 22.000 phòng đủ tiêu chuẩn phục vụ khách Quốc tế, với một

số khu du lịch, cơ sở vui chơi giải trí được hình thành, các phương tiện vận

chuyển hành khách tăng cả số lượng và chất lượng Hiện nay cả nước có 813

doanh nghiệp du lịch thuộc các thành phần với khoảng 15.000 cán bộ công nhân

viên, có 79 doanh nghiệp được phép kinh doanh lữ hành Quốc tế

Do hoạt động du lịch sôi động, thị trường du lịch được mở rộng, các doanh

nghiệp du lịch Việt Nam ngày càng tăng cường quan hệ ký kết hợp đồng làm ăn

với các hãng du lịch của các nước trên thế giới Đến nay, các doanh nghiệp du

lịch Việt Nam đã ký kết quan hệ hợp đồng với gần 500 hãng du lịch của 45 nước

trên thế giới Các doanh nghiệp du lịch ngày càng tham gia nhiều vào càc hội

chợ, hội nghi du lịch

Đến nay, ngành du lịch Việt Nam đã ký được 7 hiệp định hợp tác du lịch

cấp chính phu với Singapore, Malaysia, Thailan, Philippin, Trung quốc, Lào… Du

Trang 18

lịch Việt Nam hiện là thành viên của tổ chức du lịch thế giới (WTO), của Hiệp hội du lịch Châu Á-Thái Bình dương (PATA) Một số doanh nghiệp du lịch Việt Nam còn là thành viện của Hiệp hội du lịch Hoa Kỳ (ASTA)

Trong nước, du lịch Việt Nam đã thành lập Hiệp hội lữ hành và Hiệp hội khách sạn, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trao đổi nghiệp vụ, kinh nghiệm làm ăn, hỗ trợ hợp tác lẫn nhau để thúc đẩy nhau cùng phát triển

Để đáp ứng kịp thời nguyện vọng của các ngành du lịch nhằm góp phần xây dựng nền kinh tế đất nước, ngày 27/12/1992, chính phủ đã có nghị định số 20/CP quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy ngành Du lịch Việt Nam Sau đó, ngày 22/6/1993, Chính phủ lại có nghị quyết số 45/CP

“Về đổi mới quản lý và phát triển ngành du lịch Đó là thuận lợi cơ bản đối với ngành du lịch, tạo ra chỗ đứng của ngàng trong nền kinh tế quốc dân

Bên cạnh việc hoàn thiện và từng bước phát triển của mình, ngành Du lịch Việt Nam vẫn còn tồn tại những thiếu sót lớn như sau:

- Tình trạng thi nhau bỏ vốn xây dựng khách sạn nhà hàng tràn lan, thiếu sự cân đối, quy hoạch Từ giữa năm 1997 đến nay cung ngày càng vượt cầu, cao điểm là vao giữa năm 1998 Chỉ nói riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh khi hai đại khách sạn Sotifel Plaza & Delta Caravelle đưa thêm 620 phòng vào khai thác nâng tổng số phòng lên 14.867 phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế, dẫn đến cơn bão

“hạ giá phòng”, tình trạng cạnh tranh phòng không lành mạnh giữa các khách sạn, các công ty lữ hành … Đã làm chao đảo trong kinh doanh du lịch suốt hai năm qua

- Việc mở ra đủ loại dịch vụ khác nhau để gọi là “kinh doanh du lịch” nhưng chất lượng các dịch vụ còn thấp hoặc bị biến tướng không phù hợp với yêu cầu về thuần phong mỹ thuật, văn hóa dân tộc, gây nên sự lộn xôn thiếu mỹ quan… Điều này đã làm xấu đi những cảnh quan du lịch, thậm chí làm ảnh hưởng đến cả một số di tích lịch sử, văn hóa của dân tộc, gây ô nhiễm môi trường, làm giảm bớt giá trị của sản phẩm du lịch Việt Nam đối với khách du lịch quốc tế

- Về trình độ tổ chức quản lý, kinh nghiệm sẵn có cũng như trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của những người làm công tác du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu Các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân các công ty TNHH… đổ xô nhau vào làm du lịch mà không nhận thức đúng đắn về du lịch, gây xáo trộn mất trật tự, không thể quản lý nỗi Từ đó sẽ dẫn đến giá phải trả không thể lường trước được

Trang 19

- Du khách đến Việt Nam so với các nước chưa phải là nhiều song đã phát sinh nhiều chuyện phải bàn, không phải chí có trách nhiệm của riêng ngành du lịch nó liên quan đến các ngành nội vụ, ngoại giao, hải quan, hàng không, giao thông, văn hóa, ngân hàng, tài chính, thương mại… rồi nội bộ ngành du lịch cũng có những mâu thuẫn, cạnh tranh nhau, tạo nên những sơ hở về mặt quản lý cấp nhà nước

Tất cả những thiếu sót nói trên, cần được sự phối hợp của nhiều bộ, nhiều ngành cùng hiệp đồng giải quyết Tất nhiên, bản thân ngành du lịch trước hết phải nỗ lực phát huy, khai thác mọi yếu tố nội lực của mình để vượt qua những cản ngại, nhanh chóng vươn lên hòa nhập, đuổi kịp trình độ phát triển của các nước Đông Nam Á và thế giới trong lĩnh vực du lịch

CHƯƠNG 2:

ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI

VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

I- Khái niệm và đặc điểm của du lịch sinh thái:

Một quan niệm mới về du lịch đã gây tranh cãi không ít trong ngành du lịch Đó là du lịch sinh thái gọi tắt là Ecotoursism Mô hình du lịch sinh thái được bàn đến nhiều trong những năm gần đây

Du lịch sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và

Trang 20

văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho công đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn

Có thể nói gọn Ecotour là một tour du lịch sinh thái đưa con người về với thiên nhiên, cây cỏ, đồng nội

Du lịch sinh thái thướng phát triển mạnh ở Nam Phi, các nước châu Phi da đen các nước châu Mỹ La tinh và các nước Châu Á mà ở đó có môi trương tự nhiên còn mang tính hoang sơ

Du lịch sinh thái phát triển có lơị cho con ngươì và thiên nhiên Đầu tiên hệ sinh thái ở nơi đó được bảo vệ, sau đó cuộc sống người dânở những khu vực này được nâng cao

Song cũng cần thấy hết mặt trái của du lịch sinh thái ở chỗ nó đã góp phần không nhỏ trong việc phá vỡ cân bằng sinh thái Ví dụ qua thống kê của nganh du lich Côsta Rica mới đâycho thấy, môt triệu khách du lịch vào thăm rừng quốc gia Iguacu mỗi năm đã góp phần phá vỡ cân bằng sinh thái tại đây Và du lich sinh thái phát triển sẽ dẫn đến tình trạng nền văn hoá mai một hoặc

bị pha tạp Vì mục đích kinh doanh, người ta di dời dân địa phương đi nơi khác Sự lai căng văn hóa từ nhiều nơi mang đến là điều không thể tránh khỏi

Như vậy: Du lịch sinh thái đòi hỏi ngành du lịch và khách du lịch ý thức bảo vệ môi sinh và con người Đối với chính quyền, các cơ quan chức năng cần quản lý chặt chẽ các dự án phát triển du lịch, các công trình xây dựng khách sạn, cơ sở hạ tầng cùng các tiện nghi du lịch không được ảnh hưởng đến sinh thái thiên nhiên

Du lịch sinh thái còn có những tên gọi khác nhau như:

- Du lịch thiên nhiên

- Du lịch dựa vào thiên nhiên

- Du lịch môi trường

- Du lịch xanh

- Du lịch có trách nhiệm

Thống kê năm1996 của tổ chức du lịch thế giới (WTO) cho biết, trong trong tổng số 592 triệu khách du lịch , tổng doanh số 423 tỷ USD, thì nguồn thu từ Ecotour chiếm 1/3 tỷ trọng Đến nay Ecotour đã thực sự thống trị lục địa đen, chẳng hạn Kênya tổng kết 80% du khách đến với họ là tham gia Ecotour Các nước đang phát triển thuộc vùng nhiệt đới ở châu Á cũng là một thị trường thuận lơị cho phát triển du lịch sinh thái Tại châu Á có môi trường sống phong

Trang 21

phú nhất trên hành tinh hiện nay Có những khu rừng nhiệt đơí ít gây chết người hơn so với các khu rừng tại châu Phi và Nam mỹ Châu Á có những bãi đá ngầm san hô đep đầy bí ẩn xét theo khía cạnh văn hóa Các nước ở đây còn có một nền văn minh lâu đời thể hiện qua kiến trúc cổ xưa , tôn giaó, tập quán , trang phục độc đaó

Cần cho phát triển du lịch sinh thái là những chính sách phù hợp để baỏ tồn thiên nhiên và di sản văn hóa Theo tiến sĩ Sano, một nhà tổ chư c du lịch sinh thái thì có 7 lĩnh vực quan trọng cần xem xét một dự án du lịch sinh thái :

- Đánh giá về tài nguyên thiên nhiên

- Đánh giánền văn hoá địa phương hay khu vực

- Chế độ quản lý tài nguyên thiên nhiên

- Thói quen và thị hiếu của du khách

- Luât pháp quốc gia và nội qui của địa phương

- Bộ máy quản lý hành chính

II Tính tất yếu của sự xuất hiện du lịch sinh thái ở Việt nam

Ngày 7-9-1999, tại Hà Nội , Tổng Cục Du lịch Việt Nam phối hợp cùng Tổ chức Bảo Tồn Thiên Nhiên Thế Giới (IUCN) và Ủy Ban Kinh Tế Xã Hội Châu Á – TBD (ESCAP) tổ chức hội thảo “Xây dựng chiến lươc quốc gia về phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam”

Với một hệ thống gồm 107 khu rừng có diện tích gần 2,382 triệu ha, trong đó có 12 vườn quốc gia , 61 khu rừng bảo tồn thiên nhiên và 34rừng văn hóa – lịch sử và bảo vệ môi trường cùng núi cao biển rộng sông dài bình nguyên và cao nguyên với nhiều loài chim thú Khí hậu Việt nam ôn hoà, bốn muà thuận lợi cho du lịch, tham quan, giải trí ngoài trời Việt Nam sẽ trở thành một trong những điểm du lịch sinh thái hấp dẫn trong khu vực và trên thế giới Cụ thể:

Bắc bộ: Có Vịnh Hạ Long nổi tiếng là một kỳ quan thế giói, rừng Cúc Phương nguyên sinh được bảo tồn Tam đảo có khí hậu ôn đới, bãi biển Đồ Sơn không bị ô nhiễm, Hà Nội có hồ gươm, có các công trình và di tích cổ xưa như Văn Miếu

Trung bộ: Có sông Hương, núi Ngự, chùa Thiên Mụ, phố cổ Hội An Trong các bãi biển miền Trung phải kể đến bãi biển Nha Trang cát trắng Đi bằng đường bộ, đường sắt , hàng không hay đường biển, du khách sẽ thấy bãi

Trang 22

biển Đại Lãnh vơí hình trăng non cách Nha Trang 80 km về phía Bắc Và 40 km về phía Nam thị trấn Tuy Hoà lấp lánh nước biển trong xanh dưới răng thông rì rào Nếu khách đi qua bằng xe lửa sẽ qua bảy đường hầm xuyên núi liên tục ,có hầm đá đen nổi tiếng dài gần 1000m phong canh thiên nhiên chưa bị con người tàn phá

Miền cao nguyên trung bộ với Pleiku, Kontum, Daklak đất đỏ bazan thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp Đà Lạt với những đồi thông, thác nước thiên nhiên hùng vĩ, hồ nước có phong cảnh ngoạn mục, ngoài ra, khí hậu ở đây là tài nguyên có một không hai ở Việt Nam cũng như khu vực Đông Nam Á Ởû đây khí hậu có thể cảm nhận được bốn mùa trong một ngày Bảo Lộc có rừng nguyên sinh Nam Cát Tiên với nhiều muông thú (gần đây đã phát hiên được loài tê giác 1 sừng)

Nam Bộ: Đồng Nai có suối nước nóng Bình Châu ở Xuyên Mộc là nơi ngoài việc du lịch còn có khả năng chữa bệnh bằng nước khoáng, các căn cứ thời chiến tranh của Thái Lan, Nam Triều Tiên và Úc, nay được phục hồi rất phù hợp với khách du lịch cựu chiến binh về thăm những kỷ niện xưa

Bà Rịa-Vũng Tàu có bãi tắm mênh mông dọc biển từ Long Hải, Phước Hải tới Vũng Tàu Trước đây đã là nơi nghỉ mát của người Pháp thời thuộc địa Long Hải có rừng hoa anh đào, ngoài khơi cách đất liền khoảng 300km có Côn Đảo (một quần đảo gồm 16 hòn đảo: hòn Trứng, hòn Cau … với các điểm du lịch bơi lặn Bến Đầm, leo núi Mũi cá mập, đỉnh Tình yêu …) một di tích lịch sử, một địa điểm du lịch lý tưởng cho du lịch sinh thái nằm giữa Thái Bình Dương

Đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu từ tỉnh Long an có di tích Óc Eo, có vườn thanh long, loại trái cây đặc sản mà khách nước ngoài ưa chuộng

Sau Long An là tỉnh Tiền Giang mà du khách có thể dùng thuyền đi trên sông Cửu Long để thăm cù lao Thới Sơn, trại rắn Đồng Tâm Tiền Giang còn có Cồn Rồng, Cồn Phụng, rất thích hợpvới du lịch sinh thái

Cần Thơ được gọi là Tây Đô gạo trắng nước trong nói lên sự trù phú của địa phương Ở đây hạ tầng cơ sở, sân bay, cầu cảng về cơ bản có đủ điều kiện phát triển du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng

Đồng tháp có sản phẩm đặc thù như: vườn sếu, vườn hạc ở Tam Nông, vườn cò ở huyện Tháp Mười, vườn hồng Sa Đéc

Kiên Giang, điểm tận cùng của đất nước với diện tích 6.248km² bao gồm 608km² hải đảo và 200km bờ biển Riêng Hà Tiên và Phú Quốc có 104 hòn đảo

Trang 23

Hà Tiên được mang danh là thập cảnh (do có 10 cảnh đẹp) Phú Quốc là hòn

đảo lớn nhất Việt Nam với diện tích 573km² Riệng quần đảo Hải Tặc là mô

hình du lịch “du lịch sạch” có 16 hòn đảo nhỏ thích hợp cho du lịch sinh thái

Vùng Minh Hải với 2 tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau có rừng tràm, đước là loại

rừng nguyên sinh, vườn chim sát biển Bạc Liêu cách thị xã 5km, thông thường

chim về đông nhất vào tháng 11-12 và bay đi vào tháng 2, vườn nhãn Bạc Liêu

nổi tiếng cả vùng với loại nhãn quý và cả các cây nhãn gần trăm tuổi Cà Mau

với sân chim Đầm Dơi mà khi vào người ta chỉ với tay là có thể lấy được trứng

chim (xin nhắc nhỏ nên để lại mỗi tổ 1 trái để chim còn về) Sóc Trăng một tỉnh

nằm bên trái Quốc Lộ 1với nền văn hóa mạng đậm nét Khơme và người Hoa

Ngoài các vườn chim như các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Sóc Trăng

còn có Chùa Dơi, được xây dựng trên 300 năm với hàng trăm ngàn con đơi bay

đi ăn trái cây ở nơi khác mà không hề phá vườn cây trái quanh chùa

Ta thấy ,Việt Nam có tiềm năng về du lịch sinh thái hay du lịch thiên

nhiên rất phong phú và đa dạng Môi trường thiên nhiên gần như nguyên vẹn

không có ô nhiễm bởi sự phát triển công nghiệp và đô thị hoá thích hợp với các

loại hình du lịch trên Riêng đồng bằng sông Cửu Long có khả năng phát triển

mạnh loại hình du lịch sinh thái sông nước

III ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN VÀ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC DU LỊCH SINH THÁI VÙNG ĐỒNG

BẰNG SÔNG CƯỦ LONG

III 1 Phương pháp đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên

III 1.1 Phương pháp đánh giá:

- Xác định khả năng thuận lợi (tốt, trung bình, kém) của các loại tài

nguyên du lịch đối với hoạt động du lich

- Xác định khả năng khai thác loại hình du lịch, qui mô hoạt động (quốc

tế; địa phương) nhằm thiết kế các tuyến du lịch

III 1.2 Các chỉ tiêu đánh giá

Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu và đánh giá có từ trước đến nay của

các ngành khoa học (Đặng Duy Lợi: 1992; Nguyễn Minh Tuệ: 1993; Trần Văn

Thành: 1995), để xây dựng thang đánh giá theo 3 chỉ tiêu thu hút khách du lịch

Trang 24

(tính hấp dẫn, tính an toàn, cơ sở hạ tầng kỹ thuật ) và 4 chỉ tiêu quản lý khác (sức chứa, tính thời vụ, tính liên kết và tính bền vững) Các chỉ tiêu được đánh giá theo 4 bậc tương ứng với mức độ thuận lợi, áp dụng đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên (TNDLTN)

Dưới đây là 7 chỉ tiêu đánh giá TNDLTN được áp dụng đánh giá các điểm DLTN vùng ĐBSCL

- Tính hấp dẫn

Tính hấp dẫn khách du lịch là yếu tố có tính tổng hợp và thường được xác định bằng vẻ đẹp của cảnh quan thiên nhiên, sự đa dạng của địa hình, sự thích hợp của khí hậu đối với sức khoẻ, sự đặc sắc và độc đáo của các hiện tượng và

di tích tự nhiên và quy mô về không gian của điểm tài nguyên

a Rất hấp dẫn : có trên 5 phong cảnh đẹp, đa dạng; 3 hiện tượng di tích tự nhiên đăïc sắc; độc đáo; đáp ứng được trên 5 loại hình du lịch (LHDL)

b Khá hấp dẫn : Có từ 3-5 phong cảnh đẹp, đa dạng ;có 1 hiện tượng di tích tự nhiên đặc sắc; đáp ứng 3-5 LHDL

c Trung bình : có từ 1-2 phong cảnh đẹp , đáp ứng 1-2 loại hình du lịch

d Kém: phong cảnh đơn điệu đáp ứng 1 loại hình du lịch

- Tính an toàn:

Là một chỉ tiêu thu hút khách du lịch, đảm bảo sự an toàn về sinh thái và xã hội, được xác định bởi tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội (cướp giật, ăn xin, bán hàng rong), vệ sinh môi trường (các bệnh dịch: bệnh ngoài da, sốt rét, dịch tả, sida, nước sạch, rác thải…)

a Rất an toàn: không xảy ra một trường hợp nào về an ninh, sinh thái và thiên tai bão lụt, xoáy, lốc…

b Khá an toàn: như trên, nhưng có hiện tượng quấy nhiễu bởi những người bán hàng rong

c Trung bình: Có hoạt động ăn xin, bán hàng rong

d Kém: Có xảy ra cướp giật, đe dọa tính mạng của khách du lịch, nước uống không đảm bảo vệ sinh, không đạt các chỉ tiêu của Tổ chức sức khỏe Thế giới (WHO)

Trang 25

- Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật (CSHT & VCKT)

nó, dù tài nguyên du lịch có hấp dẫn, độc đáo đến đâu cũng vẫn chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng, không thể khai thác cho hoạt động du lịch, hoặc nếu triển khai thì sẽ có những tác động tiêu cực làm tổn hại đến tính bền vững của môi trường tự nhiên (MTTN)

a Rất tốt: CSHT & VCKT đồng bộ, đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn quốc tế (khách sạn đạt từ 3 sao trở lên, phương tiện giao thông liên lạc quốc tế)

b Khá: CSHT & VCKT đồng bộ, đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn quốc tế (khách sạn đạt từ 1-2 sao trở lên, phương tiện giao thông liên lạc tại chổ)

c Trung bình: có được một số CSHT & VCKT nhưng chưa đồng bộ, chưa đủ tiện nghi

d Kém: Còn thiếu nhiều CSHT & VCKT, nếu có thì chất lượng thấp và có tính quyết định đối với việc thu hút khách du lịch

tính quyết định đối với việc thu hút khách du lịch

- Tính bền vững:

Tính bền vững của môi trường tự nhiên nói lên khả năng bền vững của các thành phần và bộ phận tự nhiên trước áp lực của hoạt động du lịch của khách du lịch và các hiện tượng tự nhiên tiêu cực hoặc thiên tai

a Rất bền vững: Không có thành phần hoặc bộ phận tự nhiên nào bị phá hoại (rừng, đất, động vật,…), khả năng tự phục hồi cân bằng sinh thái của môi trường nhanh, tài nguyên du lịch tự nhiên tồn tại vững chắc trên một trăm năm hoạt động du lịch diễn ra liên tục

b Khá bền vững: có 1 đến 2 thành phần hoặc bộ phận tự nhiên bị phá hoại ở mức độ không đáng kể, có khả năng tự phục hồi nhanh, tài nguyên du lịch tự nhiên tồn tại vững chắc trên 50-100 năm hoạt động

du lịch diễn ra thường xuyên

c Trung bình: có từ 1-2 thành phần hoặc bộ phận tự nhiên nào bị phá hoại ở mức độ đáng kể phải có sự hỗ trợ tích cực của con người mới

Trang 26

phục hồi nhanh được, tài nguyên du lịch tự nhiên tồn tại từ 10-15 năm, hoạt động du lịch có thể bị hạn chế

d Kém: có từ 2-3 thành phần hoặc bộ phận tự nhiên nào bị phá hoại nặng phải có sự hỗ trợ tích cực của con người mới phục được (trồng rừng), nhưng chậm; tồn tại vững chắc dưới 10năm, hoạt động du lịch bị gián đoạn

- Tính thời vụ:

Thời gian hoạt động du lịch được xác định bởi số thời gian thích hợp nhất trong năm của các điều kiện khí hậu và thời tiết đối với sức khỏe của du khách và số thời gian trong năm thuận lợi nhất cho việc triển khai các hoạt động du lịch Tính thời vụ của tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến hướng khai thác, đầu tư quy hoạch kinh doanh hoạt động du lịch

a Rầt dài: triển khai hoạt động du lịch suốt năm (trên 300 ngày)

b Khá dài: từ 200 – 300 ngày

a Rất tốt: có từ 5 điểm TNDLTN trở lên

b Khá tốt: có từ 3-5 điểm TNDLTN

c Trung bình: có từ 2-3 điểm TNDLTN

d Kém: chỉ có 1 điểm hoặc không có điểm TNDLTN nào xung quanh có thể liên kết được

- Sức chứa khách du lịch:

Sức chứa khách du lịch là tổng sức chứa lượng khách tại một điểm TNDL cho một đoàn khách du lịch đến trong một ngày hoạt động Sức chứa khách du lịch phản ánh khả năng và qui mô triển khai HĐDL tại mỗi điểm du lịch và được xác định bằng các chỉ tiêu đã được xác lập qua khảo sát thiết kế, thực nghiệm và kinh nghiệm thực tế:

a Rất lớn: Hơn 1.000 người/ngày, trên 250 người/lượt tham quan

b Khá lớn: 500-1.000 người/ngày, từ 150- 250 người/lượt tham quan

c Trung bình: 100-500 người/ngày, từ 50- 250 người/lượt tham quan

Trang 27

d Kém : Dưới 100 người/ngày, dưới 50người/lượt tham quan

Bốn chỉ tiêu trên về tính bền vững, tính thời vụ, tính liên kết và sức chứa khách du lịch có tính quyết định đối với việc quản lý khai thác và đầu tư du lịch

III.1.3 Điểm đánh giá:

Điểm đánh giá TNDLTN bao gồm số điểm đánh giá riêng của từng chỉ tiêu và số điểm đánh giá tổng hợp đối với sức thu hút khách và vấn đề quản lý khai thác

Điểm đánh giá từng chỉ tiêu là số điểm của bậc đánh giá nhân với hệ số của chỉ tiêu

- Điểm bậc đánh giá: theo 4 bậc điểm: 4,3,2,1

- Hệ số chỉ tiêu:

• Hệ số 3: Tính hấp dẫn, tính bền vững, tính liên kết

• Hệ số 2: CSHT & VCKT, tính thời vụ

• Hệ số 1: Tính an toàn, sức chứa

- Điểm đánh giá tổng hợp là tổng số điểm đánh giá riêng của từng chỉ tiêu:

* Sức thu hút khách:

Trang 28

Loại C: Điểm tài nguyên có khả năng thu hút khách địa phương trong phạm vi

huyện, tỉnh

* Quản lý, khai thác:

Loại A: Không cần đầu tư nhiều trong quản lý khai thác

Loại B: Cần đầu tư nhiều trong quản lý khai thác

Loại C: Cần đầu tư rất nhiều trong quản lý khai thác

III.1.4 Kết quả đánh giá TNDL vùng ĐBSCL

Dựa trên cơ sở 7 chỉ tiêu đánh giá và 3 hệ số tính điểm, có thể sơ bộ đánh giá được 34 điểm TNDLTN (bảng 1), thuộc 11 loại hình TNDLTN (bảng 2)

- Các điểm TNDLTN có ý nghĩa quốc tế và quốc gia:

Có 13 điểm TNDLTN hấp dẫn khách du lịch quốc tế và quốc nội và rất thuận lợi cho việc khai thác và quản lý du lịch, trong đó có 03 điểm loại tài nguyên sông suối (sông Tiền, sông Hậu, suối Đá Bàn ở Phú Quốc), 01 điểm loại tài nguyên đồi (Núi Cấm), 02 điểm loại tài nguyên bãi biển (ở Phú Quốc), 04 điểm loại tài nguyên hang Karst, 02 điểm loại tài nguyên khu bảo tồn thiên nhiên (Tràm Chim, Phú Quốc) 04 điểm tài nguyên hệ sinh thái sân chim (bảng 1)

- Các điểm TNDLTN có ý nghĩa vùng và địa phương

Có 21 điểm hấp dẫn khách du lịch quốc nội trong vùng ĐBSCL và vùng lân cận và tương đối thuận lợi cho việc khai thác và quản lý, một số điểm cần phải đầu tư nhiều, trong đó có 03 điểm loại tài nguyên sông, rạch, 01 suối, 02 điểm loại tài nguyên đảo, 05 điểm loại tài nguyên biển, 02 điểm loại tài nguyên hang Karst, 01 điểm loại tài nguyên cồn sông, 02 điểm loại tài nguyên hệ sinh

Ngày đăng: 21/10/2015, 11:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Thị Liên Diệp – Nguyễn Văn Nam: Chiến lược và chính sách kinh doanh, NXB Thoáng Keâ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược và chính sách kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Thị Liên Diệp, Nguyễn Văn Nam
Nhà XB: NXB Thoáng Keâ
3. Nguyễn Văn Đính – Phạm Hồng Chương: Quản trị kinh doanh Lữ hành. Nhà xuất bản Thống Kê năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị kinh doanh Lữ hành
Tác giả: Nguyễn Văn Đính, Phạm Hồng Chương
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống Kê
Năm: 1998
5. Donald E. HawHins & KregLindberg: Du lịch sinh thái. Hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quản lý, Cục Môi trường xuất bản tháng 1/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái. Hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quản lý
Tác giả: Donald E. HawHins, Kreg Lindberg
Nhà XB: Cục Môi trường
Năm: 1999
7. Witt. Sand Moutinho (1990): Tourism Marketing and Management Handbook, U.K Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tourism Marketing and Management Handbook
Tác giả: Witt, Sand Moutinho
Nhà XB: U.K
Năm: 1990
8. Đặng Duy Lợi: Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và TNTN huyện Ba Vì phục vụ cho mục đích du lịch. Tóm tắt luận án PTS Khoa học địa lý- mã hiệu 1.07.01 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và TNTN huyện Ba Vì phục vụ cho mục đích du lịch
Tác giả: Đặng Duy Lợi
11. Nguyễn Quang Thu: Quản trị tài chính căn bản, Nhà xuất bản Giáo dục 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính căn bản
Tác giả: Nguyễn Quang Thu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1999
15. Phan Huy Xu: Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Báo cáo nghiên cứu khoa học tháng 11/1998, Khoa Du lịch Trường đại học Dân lập Văn Lang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Phan Huy Xu
Nhà XB: Khoa Du lịch Trường đại học Dân lập Văn Lang
Năm: 1998
1. Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư (1995) Báo cáo tổng hợp đề tài “Hiện trạng và những định hướng cho công tác qui hoạch phát triển DL vùng ĐBSCL.Cơ quan thiết kế qui hoạch. Viện Nghiên Cứu phát triển du lịch Khác
4. Phạm Văn Hậu – Trần Văn Thành (1997): Phương pháp đánh giá tài nguyên du lịch. Thông tin khoa học số 18, 11/1997, Trường ĐHSP TP.HCM Khác
6. Khung chiến lược môi trường cho tiểu vùng Mê Kông mở rộng. Hội thảo quốc gia về Dự án RETA. No,5783 của Ngân hàng Phát triển Châu Á Khác
9. Non nước Việt Nam. Sách hướng dẫn du lịch, Tổng Cục Du lịch- Nhà xuất bản Văn Hóa 1999 Khác
10. Lê Bá Thảo: Địa lý Đồng Bằng Sông Cửu Long, Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Tháp Khác
12. Nguyễn Minh Tuệ và NNK (1996): Địa lý du lịch, Nhà xuất bản TP. HCM Khác
13. Hồ Hùng Vân (1995): Thiết kế các tuyến điểm du lịch trong và ngoài thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010, Công ty Du lịch sài Gòn Tourist (Báo cáo khoa học đề tài 7) Khác
14. Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển Du lịch sinh thái ở Việt Nam, Hội thảo 7-9/09/1999, Tổng Cục Du lịch Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng kết quả kinh doanh du lịch qua các năm: - Giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng k ết quả kinh doanh du lịch qua các năm: (Trang 16)
Bảng : Tăng trưởng số lượng khách  du  lịch  Quốc  tế  đến  các  nước  thuộc                   ASEAN và Việt Nam - Giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái vùng đồng bằng sông cửu long
ng Tăng trưởng số lượng khách du lịch Quốc tế đến các nước thuộc ASEAN và Việt Nam (Trang 17)
Bảng 1 : Đánh giá các điểm tài nguyên du lịch tự nhiên vùng ĐBSCL - Giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 1 Đánh giá các điểm tài nguyên du lịch tự nhiên vùng ĐBSCL (Trang 29)
Bảng 2 : Đánh giá xếp loại tài nguyên du lịch tự nhiên vùng ĐBSCL - Giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 2 Đánh giá xếp loại tài nguyên du lịch tự nhiên vùng ĐBSCL (Trang 30)
Bảng phụ lục 1 - Giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng ph ụ lục 1 (Trang 54)
Bảng phụ lục 2 - Giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng ph ụ lục 2 (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm