1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CAO SU KHU vực MIỀN ĐÔNG NAM bộ

56 206 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 815,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Miền Đông Nam Bộ gồm các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Thuận, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Lâm Đồng và TP.Hồ Chí Minh với đặc điểm là vùng có tốc độ tăng trưởng sản xuất công

Trang 2

MỞ ĐẦU

Quá trình đổi mới nền kinh tế của Việt Nam trong những năm qua đã mang lại nhiều thành tựu to lớn, tốc độ tăng GDP hàng năm đạt bình quân 7% trong 10 năm (1991-2000), kim ngạch xuất khẩu gia tăng qua từng năm, trong sản xuất công nghiệp đạt được tốc độ tăng trưởng bình quân 13,5% (1991-2000), năng lực sản xuất các sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Hệ thống kết cấu hạ tầng: bưu chính – viễn thông, đường sá, cầu cảng, sân bay, điện … được tăng cường, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu cho tiêu dùng và sinh hoạt cũng gia tăng một cách đáng kể Những thành tựu to lớn đó đã làm cho thế và lực của nước ta lớn mạnh lên nhiều

Tuy nhiên, bước vào thế kỷ 21 với nhiều biến đổi sâu sắc: khoa học và công nghệ có những bước tiến nhảy vọt, nền kinh tế tri thức đã và đang có vai trò nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất của loài người, toàn cầu hoá nền kinh tế đang lôi cuốn nhiều quốc gia tham gia, Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới để có thể hội nhập được với nền kinh tế thế giới

Với môi trường hoà bình, sự hợp tác, liên kết quốc tế và những xu thế tích cực trên thế giới tạo điều kiện để nước ta tiếp tục phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ được ngoại lực, nguồn vốn, công nghệ mới, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đó là cơ hội lớn để chúng ta tạo ra bước phát triển mới

Đồng thời, do nước ta căn bản vẫn là một nước nông nghiệp, điểm xuất phát kinh tế thấp, khoảng cách về trình độ phát triển giữa nước ta với nhiều nước trên thế giới còn rất lớn, trong khi nền kinh tế đất nước phải đi lên trong điều kiện cạnh tranh quốc tế quyết liệt Đây là một nguy cơ mà nếu chúng ta không nhanh chóng vươn lên thì sẽ tụt hậu xa hơn nữa về kinh tế Nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức để tiếp tục vươn lên mạnh mẽ là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế nước ta

Ngành cao su Việt Nam với tư cách là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, hàng năm mang lại kim ngạch xuất khẩu 300 triệu USD cho đất nước, được xếp là một trong ba mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam: Gạo, Cà phê, Cao su, có tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm từ 10 – 15%, đang trong quá trình phát triển để hội nhập với nền kinh tế thế giới cũng không thể nằm ngoài những cơ hội và thách thức ấy

Với vai trò là nguồn nguyên liệu quan trọng cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước, nhiều giá trị sử dụng mới của cao su thiên

Trang 3

nhiên ngày càng được phát hiện ra theo đà tiến bộ của khoa học kỹ thuật Tuy vậy, công nghiệp chế biến của ngành cao su Việt Nam vẫn chưa phát triển, gần 80% sản lượng mủ cao su sản xuất ra được xuất khẩu, chỉ 20% là tiêu dùng cho sản xuất và chế biến cao su nội địa Nguyên nhân của thực trạng này có thể thấy được một phần là do khó khăn về vốn đầu tư, phần khác do thiếu kinh nghiệm trong việc quản lý và trình độ lao động chưa tiếp cận được với công nghệ mới, từ đó dẫn đến việc thiếu quan tâm đầu tư cho công nghiệp chế biến cao su của các doanh nghiệp

Miền Đông Nam Bộ gồm các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Thuận, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Lâm Đồng và TP.Hồ Chí Minh với đặc điểm là vùng có tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp hàng năm cao nhất cả nước, và cũng là vùng chuyên canh cây cao su lớn nhất của ngành cao

su Việt Nam, nằm ở một vị trí địa lý thuận lợi, đã có một số cơ sở vật chất tương đối ổn định cho việc sản xuất và chế biến cao su, vì vậy đã hội đủ các điều kiện thuận lợi cho việc phát triển ngành công nghiệp chế biến cao su tại khu vực này

Tuy nhiên để phát triển mạnh những ưu thế vốn có của nó bên cạnh những khó khăn do ngành công nghiệp còn non trẻ và những thử thách trong quá trình hội nhập nền kinh tế của khu vực và thế giới, rất cần có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, địa phương và ngành cao su Việt nam trong việc đầu tư sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, cũng như cần có một định hướng chiến lược rõ ràng cho ngành Công nghiệp chế biến cao su khu vực miền Đông Nam Bộ trong những năm tới

Bức xúc trước những yêu cầu trên và với mong mỏi cho ngành Công nghiệp chế biến cao su khu vực miền Đông Nam Bộ nói riêng và ngành Công nghiệp chế biến cao su Việt Nam nói chung sẽ phát triển mạnh, đáp ứng mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta hiện nay, tôi đã chọn đề tài để

làm luận văn tốt nghiệp là:” Định hướng Chiến lược phát triển ngành công nghiệp chế biến cao su khu vực Miền Đông Nam Bộ đến năm 2010”

Mục tiêu của luận văn:

Nhằm xác định, phân tích thực trạng của ngành Công nghiệp chế biến cao su khu vực miền Đông Nam Bộ từ đó xác định các chiến lược để phát triển và đưa ra các giải pháp định hướng chiến lược cho ngành Công nghiệp chế biến cao su khu vực miền Đông Nam Bộ

Phương pháp nghiên cứu:

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn này là phương pháp lịch sử, phân tích, mô tả và thống kê

Trang 4

Đề tài này có liên quan đến nhiều vấn đề nhưng phạm vi của luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề chung của ngành Công nghiệp chế biến cao su khu vực miền Đông Nam Bộ, cũng như các giải pháp mang tính tổng quát, không đi sâu vào phân tích riêng cho từng doanh nghiệp cụ thể

Luận văn gồm có các phần chính như sau:

• Phần mở đầu

- Chương I: Tổng quan về ngành cao su và Sự cần thiết phải định hướng chiến lược phát triển ngành Công nghiệp chế biến cao su khu vực miền Đông Nam Bộ

- Chương II: Phân tích thực trạng về hoạt động của ngành Công nghiệp chế biến cao su khu vực miền Đông Nam Bộ

- Chương III: Định hướng chiến lược phát triển ngành công nghiệp chế biến cao su khu vực Miền Đông Nam Bộ đến năm

2010

• Phần kiến nghị và kết luận

Nguồn số liệu trong luận văn này được trích từ các báo cáo của Tổng công ty cao su Việt Nam và tài liệu của Sở kế hoạch đầu tư, Sở Công nghiệp TP.HCM

Do thời gian nghiên cứu, tài liệu thu thập và trình độ của tác giả còn ít, nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định Rất mong sự đóng góp ý kiến quí báu của quí thầy, cô để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Trang 5

CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CAO SU VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CAO SU

KHU VỰC MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

I-Tổng quan về ngành cao su ở Việt Nam và một số nước trên thế giới

1/ Tổng quan quá trình phát triển của ngành cao su Việt Nam :

a-Về trồng cây cao su:

Xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1897, đến nay cây cao su đã phát triển khá ổn định với diện tích ngày một tăng và hình thành nên các vùng sản xuất khá tập trung ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Quá trình này đã trải qua các giai đoạn phát triển sau:

• Giai đoạn trồng thử nghiệm và hình thành vùng chuyên canh cây cao

su khu vực Miền Đông Nam Bộ (1900-1945):

Từ năm 1900 đến năm 1920 là giai đoạn thử nghiệm, người Pháp chỉ trồng cao su trong thời gian này ở ngoại ô Sài Gòn – Thủ Dầu Một – Biên Hòa Tốc độ trồng hàng năm vào khoảng 300 ha, đến năm 1920 diện tích đạt 7.000

ha, sản lượng khai thác đạt 3.000 tấn Trong giai đoạn từ năm 1921 đến năm

1945, cây cao su đã phát triển mạnh ở Việt Nam do các đồn điền cao su đã học hỏi được kinh nghiệm từ người Anh ở Malaysia và người Hà Lan ở Indonesia về kỹ thuật cạo mủ và chế biến cao su Diện tích trồng cao su phát triển trong giai đoạn này lên đến 3.200 ha mỗi năm Đến năm 1945 diện tích trồng cây cao su là 138.000 ha, sản lượng khai thác đạt 77.400 tấn

Giai đoạn suy giảm việc trồng và chế biến cao su (1945-1975):

Do ảnh hưởng của chiến tranh nên từ năm 1945 – 1975 việc phát triển và kinh doanh cao su bị đình trệ, người Pháp chủ trương không đầu tư vào trồng cây cao su nữa mà chủ yếu là khai thác, tận thu mủ cao su, chuyển vốn đầu tư sang nơi khác như: Bờ Biển Ngà, Camơrun ở Châu Phi, Malaysia và Indonesia

ở Châu Á Các đồn điền cao su không được chăm sóc và diện tích cao su ngày càng thu hẹp, đến năm 1974 chỉ còn 68.400 ha với sản lượng khoảng 21.000 tấn

Giai đoạn này cũng là giai đoạn đánh dấu việc Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cao su nguyên liệu và cây cao su lần đầu tiên xuất hiện ở miền Bắc nước

ta Năm 1961, Chính phủ đã cho trồng đại trà từ Nghệ An đến Vĩnh Phú với diện tích 6.000 ha, năng suất 800 – 900 kg/ha Tuy nhiên do điều kiện khí hậu không thích hợp nên đến năm 1975 diện tích cây cao su ở các tỉnh Phía Bắc còn lại khoảng 4.500 – 5.000 ha

Trang 6

Giai đoạn phục hồi và phát triển việc trồng cây cao su (1975-2000):

Từ năm 1975 đến 1985, Sau khi thống nhất đất nước, diện tích cao su còn lại của cả nước khoảng 42.000 ha, trong đó phần lớn là diện tích cao su già cỗi cần thanh lý, có 10 nhà máy và cơ sở chế biến cao su ở miền Nam thì 03 nhà máy bị tàn phá hoàn toàn, 07 cơ sở bị xuống cấp trầm trọng

Tuy nhiên được sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước trong việc trồng và phát triển cây cao su nên tốc độ tăng diện tích trồng cây cao su bình quân từ năm 1976 – 1980 đạt 3.000 ha/năm Từ năm 1981 – 1985 diện tích cây cao su đã tăng tốc độ lên khá nhanh từ 5.000 ha đến 20.000 ha/năm với số vốn đầu tư và hợp tác của Liên Xô, Cộng hoà dân chủ Đức, Bungari, Balan

Diện tích cao su giai đoạn này được thể hiện qua biểu sau:

Bảng 1 - Diện tích trồng và sản lượng cao su từ 1976-1985:

Năm Diện tích

(ha)

Sản lượng (tấn)

Năm Diện tích

(ha)

Sản lượng (tấn)

Bảng 2 - Diện tích trồng và sản lượng cao su từ 1986-2000:

Năm Diện tích

(ha)

Sản lượng (tấn)

Năm Diện tích

(ha)

Sản lượng (tấn)

Trang 7

(Nguồn: Tổng công ty cao su Việt Nam)

Bảng 3 – Biểu đồ Diện tích và Sản lượng cao su qua các giai đoạn:

Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)

b -Về tình hình khai thác và chế biến mủ cao su

Theo kiểm kê vườn cây ở thời điểm 1-1-1999 thì chất lượng vườn cây

theo nhóm chất lượng được phân như sau:

Bảng 4 – Bảng phân loại chất lượng vườn cây:

Loại chất lượng A B C D

Vườn cây kinh doanh 18% 18% 21% 43%

kém so với các vườn cây trồng từ 1986 trở đi, ngoài chỉ tiêu chung về chất

lượng nêu trên, một số chỉ tiêu cụ thể về chất lượng như mật độ vườn cây, số

cây thực sinh, số cây cạo trên ha cũng có sự biến động rất lớn giữa các năm

trồng, giữa các lô trong từng năm Các diện tích vườn cây kém chất lượng này

có năng suất thấp hơn năng suất bình quân, đã kéo theo năng suất bình quân

của toàn ngành thấp, măïc dù trong nhiều năm qua ngành cao su đã có những

bước phát triển nhanh về công tác chọn giống và kỹ thuật trồng cao su

Trang 8

Tốc độ tăng năng suất bình quân của toàn ngành được thể hiện ở biểu đồ sau:

Bảng 5 – Biểu đồ tốc độ tăng năng suất bình quân toàn ngành cao su

0 0,5

1 1,5

Năm

Đông nam bộ Tây nguyên Duyên Hải Miền Trung

(Nguồn: Tổng công ty cao su Việt Nam)

Qua biểu đồ cho thấy từ năm 1998 các Công ty ở Miền Đông Nam bộ đã vượt năng suất 1 tấn/ha, trong đó có những vườn cây đạt sự tăng trưởng năng suất rất cao như Phước Hòa có năng suất năm 1998 tăng 35% so với năm 1997 và vượt 1,3 tấn/ha năm 1999, việc tăng năng suất của Phước Hòa là nhờ thâm canh và các biện pháp quản lý kỹ thuật vì chất lượng vườn cây Phước Hòa khá thấp Một số vườn cây khác như Tây Ninh, Dầu Tiếng có chất lượng tốt có khả năng năng suất vượt 1,4 tấn/ha, đã có những nông trường đạt trên 1,6 tấn/ha Tuy nhiên một số vườn cây có thuận lợi là có nền đất rất tốt, trong những năm kiến thiết cơ bản thì vườn cây phát triển khá nhưng năng suất lại cho rất thấp như Lộc Ninh Ngoài ra, trong thực tế cũng có một số vườn cây có chất lượng quá thấp hoặc đã được khai thác quá mức từ những năm trước(Đồng Nai) Với khu vực Tây Nguyên năng suất bình quân hiện tại chưa cao vì đa số các vườn cây mới được đưa vào khai thác nhưng đã có những công ty năng suất đã vượt mức 1 tấn/ha( Chư Sê )

Về tình hình sơ chế cao su:

Đến năm 2000 toàn ngành có 30 nhà máy sơ chế cao su với công suất thiết kế 225.000 tấn, công suất này đủ đáp ứng nhu cầu chế biến cho số lượng khai thác Các nhà máy này được phân bố theo vùng nguyên liệu như sau:

Trang 9

- Các nhà máy khu vực Đông nam bộ phần lớn có công suất trên 6.000 tấn/năm với 21 nhà máy

tấn/năm với 9 nhà máy

Hệ thống các nhà máy chế biến được xây dựng trên địa bàn miền Đông Nam Bộ bao gồm:

Bảng 6 – Phân bố các nhà máy chế biến cao su khu vực Đông Nam Bộ

Đơn vị tính: Tấn

ĐƠN VỊ Số nhà

máy

Công suất thiết kế

Sản lượng chế biến

1.Công ty cao su Đồng Nai

2 Công ty cao su Bà Rịa

3 Công ty cao su Tây Ninh

4 Công ty cao su Bình Long

5 Công ty cao su Dầu Tiếng

6 Công ty cao su Phú Riềng

7 Công ty cao su Đồng Phú

8 Công ty cao su Phước Hoà

9 Công ty cao su Lộc Ninh

10.Viện kinh tế-kỹ thuật cao su

11 Công ty công nghiệp cao su

37.00018.0009.00010.00030.0008.0004.0006.2004.200200600

Tổng cộng 21 150.000 127.200

(Nguồn: Tổng công ty cao su Việt Nam)

Chủng loại sản phẩm,công nghệ và thiết bị:

Với đặc điểm sản xuất đại điền, việc thu mủ nước từ vườn cây có nhiều thuận lợi nên ngành cao su khu vực Đông Nam Bộ đã sản suất ra 75% sản phẩm sơ chế là chủng loại mủ SVR 3,3L , đây là loại mủ có nhu cầu tiêu thụ thấp trên thị trường thế giới Trong khi đó, cơ cấu sản phẩm loại SVR 10,20 và tương đương trong tổng sản lượng rất thấp (khoảng 20%), mà loại này thị trường thế giới có nhu cầu cao, do chủ yếu phục vụ cho công nghiệp sản xuất vỏ xe ( tiêu thụ 70% sản lượng cao su thiên nhiên ) Đây là một yếu tố làm cho việc tiêu thụ sản phẩm cao su nguyên liệu gặp nhiều khó khăn vì không đáp ứng được yêu cầu về chủng loại mủ của các Công ty nước ngoài

Về chất lượng thiết bị, hiện nay một số nhà máy của Ngành được đầu tư hoàn chỉnh và hiện đại, sản phẩm có chất lượng khá đồng đều ở một số công ty như Dầu Tiếng, Đồng Nai, Đồng Phú … Tuy nhiên trong toàn ngành tính đồng

Trang 10

đều còn thấp, nhất là giữa hai khu vực Đông Nam bộ và Tây Nguyên còn có khoảng cách khá lớn về chất lượng sản phẩm; trong từng Công ty sản phẩm cũng chưa thật đồng đều, sự khác biệt xảy ra trong từng nhà máy, theo từng mùa và thậm chí trong từng lô hàng Chất lượng sản phẩm không đồng đều cũng là yếu tố làm khó tiêu thụ sản phẩm mà nguyên nhân chính là công tác quản lý chất lượng nguyên liệu

Biện pháp chủ yếu quản lý chất lượng sản phẩm là quản lý nguồn nguyên liệu bao gồm từ khâu khai thác, vận chuyển, đến xử lý trong nhà máy và cuối cùng là khâu KCS Khâu KCS đã được quan tâm với hình thức là hầu hết các công ty đều có bộ phận KCS với tổng công suất kiểm phẩm là 750-800 mẫu/ca, đủ để kiểm tra toàn bộ sản phẩm SVR sản xuất Riêng khu vực Tây Nguyên tình hình quản lý chất lượng còn kém, hiện tại các bộ phận KCS chỉ kiểm tra bằng quang lượng Đến nay tình hình này được cải thiện phần nào nhờ vào việc xây dựng một phòng kiểm phẩm chung do Viện nghiên cứu cao su quản lý Tuy nhiên, khâu KCS chỉ là 1 công đoạn đo lường trong đảm bảo chất lượng sản phẩm, chủ yếu là khâu quản lý chất lượng nguyên liệu để đảm bảo độ đồng đều của các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm Khâu này vẫn còn yếu và chưa có sự quan tâm đúng mức ở các Công ty

Tình hình tiêu thụ trong nước và xuất khẩu

• Sản phẩm mủ cao su

Từ năm 1990 đến năm 1994, tổng sản lượng cao su thiên nhiên trên thế giới tiêu thụ là 26.690.000 tấn trong đó khoảng 19.000.000 tấn được nhập khẩu Sản lượng cao su thiên nhiên của Việt Nam trong những năm đó đạt 346.000 tấn khi cộng dồn và trên 80% sản luợng sản xuất ra đã được xuất khẩu Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Trung Quốc và Nam Á

Từ 10-15% sản lượng đã được tiêu thụ nội địa và gia tăng đều đặn hàng năm nhờ ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm cao su phát triển nhưng sản lượng cao su nguyên liệu cũng gia tăng theo tỷ lệ 15% cao hơn so với năm trước Sản lượng từ năm 1995 đến năm 1998 đã tăng đều và đến năm 2000 đạt 219.000 tấn, sản luợng xuất khẩu là 150.000 tấn

• Sản phẩm chế biến:

Là một trong những quốc gia xuất khẩu mủ cao su hàng đầu trên thế giới nhưng ngành công nghiệp chế biến sản phẩm cao su của Việt Nam còn rất non trẻ, công nghệ sản xuất còn lạc hậu so với các nước trong khu vực và thế giới,

cơ cấu, chủng loại sản phẩm còn rất ít chưa đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường trong nước

Bao gồm các sản phẩm chủ yếu:

Trang 11

- Bóng thể thao: sản phẩm chủ yếu là bóng rổ và bóng bầu dục nên dùng để xuất khẩu là chính, trong khi đó nhu cầu trong nước còn rất thấp Tuy là mặt hàng chủ yếu dùng để xuất khẩu nhưng thị trường xuất khẩu dài hạn của sản phẩm này chưa ổn định và chịu áp lực cạnh tranh rất lớn Hiện nay, công ty này đang chuyển đổi sản phẩm nhằm vào thị trường nội địa (sản xuất sản phẩm bóng chuyền, bóng đá)

- Giày thểå thao: Đây là một trong những ngành đang được Nhà nước tạo điều kiện để phát triển, với lợi thế giá gia công rẻ, tuy vậy hiện chỉ mới dừng lại ở việc gia công giày xuất khẩu cho các đơn vị trong và ngoài nước, chưa chủ động thực hiện sản xuất vì chưa có thị trường và nhu cầu về vốn lưu động lớn

- Các sản phẩm từ nguyên liệu cao su như vỏ xe, các loại sản phẩm nhúng là các sản phẩm có thị trường rất lớn cả trong và ngoài nước nhưng đặc điểm các sản phẩm này là khả năng tiêu thụ phụ thuộc rất lớn vào thương hiệu và công nghệ sản xuất, vì vậy khả năng sản xuất chủ yếu là cung cấp trên thị trường nội địa, và một phần nhỏ là xuất khẩu

2/ Tình hình sản xuất và tiêu thụ mủ cao su trên thế giới:

Theo báo cáo của ANRPC (Hiệp hội các nước sản xuất cao su thiên nhiên) thì mức tiêu thụ của các nước hội viên của ANRPC bao gồm Ấn độ, Indonesia, Malaysia, Papua, Tân ghi- nê, Srilanka, Thái lan và Việt Nam trong năm 2000 là 1,9 triệu tấn

Mặc dù có những biến động thất thường nhưng nhìn chung năm 2000 giá cao su thiên nhiên trên các thị trường châu Á đã tăng trở lại, tăng 8-10% so với năm 1999, đạt bình quân 1.168 SGD/tấn (RSS2 tại Singapore); 76,8 yên/kg (RSS1 tại Tokyo); 27,85 Bath/kg (RSS1 tại Bangkok) Riêng tại NewYork, giá cao su RSS1 năm 2000 chỉ tăng gần 2% so với năm 1999, đạt bình quân 833,5 USD/tấn Theo Nhóm nghiên cứu cao su quốc tế (IRSG) suốt 2 năm 1998-1999, giá cao su thiên nhiên thế giới giảm mạnh đã làm nông dân nhiều nước Đông Nam Á không chú trọng đầu tư vào cây cao su

Thái Lan hiện nay là nước xuất khẩu mủ cao su đứng đầu thế giới, tỷ lệ tăng sản lượng hàng năm trước đây là 7%/năm, nhưng hiện nay đang chựng lại khoảng 3%/năm, năng suất cao su 9,87 tạ/ha Sản lượng cao su thiên nhiên năm

2000 là 2,26 triệu tấn

Ngành công nghiệp chế biến sản phẩm cao su đang phát triển mạnh, hàng năm tiêu thụ mủ cao su khoảng 210.000 tấn

Là một nước sản xuất được nhiều chủng loại mủ cao su đáp ứng nhu cầu trên thị trường thế giới, giảm được chi phí sản xuất mủ cao su thấp nhất so với

Trang 12

các nước sản xuất và xuất khẩu cao su, năng suất cao su 9,57 tạ/ha.Tuy nhiên diện tích tái canh không cao, một phần diện tích trồng cao su hiện nay phải nhường chỗ cho phát triển khu công nghiệp và đô thị.Sản lượng cao su thiên nhiên năm 2000 chỉ đạt 1,744 triệu tấn giảm mạnh so với dự đoán trước là 1,79 triệu tấn.Ngành công nghiệp chế biến sản phẩm cao su hàng năm tiêu thụ 169.000 tấn mủ cao su

Năng suất cao su 7,09 tạ/ha Sản lượng cao su tăng đột biến vào năm

1994 do bắt đầu khai thác khu vực trồng mới Năm 2000 sản lượng cao su thiên nhiên tăng 1,5% so với năm 1999, lên 475.000 tấn Nhưng việc tăng trưởng trong tương lai của cây cao su tai Trung Quốc bị hạn chế do không thích hợp về khí hậu và đất đai Do vậy Trung Quốc hàng năm phải nhập khẩu khoảng 500.000 tấn mủ cao su để phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến sản phẩm cao su có nhu cầu tiêu thụ khoảng 900.000 tấn/năm

Ấn Độ không phải là quốc gia có điều kiện đất đai thích hợp cho việc trồng cây cao su, nhưng sản lượng hàng năm lên đến 609.000 tấn, năng suất cao su đạt 9,94 tạ/ha, tiêu thụ nội địa 600.000 tấn/năm Như vậy tuy chưa phải là quốc gia có ngành công nghiệp chế biến sản phẩm cao su phát triển cao trên thế giới nhưng so sánh với các quốc gia sản xuất và tiêu thụ cao su thiên nhiên trên thế giới, Ấn Độ hiện đứng hàng thứ tư sau Thái Lan, Indonesia, Malaysia về sản xuất và sau Mỹ, Nhật, Trung Quốc về tiêu thụ

Theo số liệu thống kê của Nhóm Nghiên Cứu Cao su Thế Giới (IRSG), lượng cao su thiên nhiên sản xuất ra trong năm 2000 đạt 6.890.000 tấn tăng khoảng 180.000 tấn so với 1999, lượng cao su tiêu thụ trong năm 2000 ở mức

Trang 13

cao hơn là 7.250.000 tấn Tình hình công nghiệp cao su nói chung và nhất là công nghiệp sản xuất vỏ xe đang phát triển mạnh, nhu cầu tiêu thụ săm lốp ô tô thế giới năm 2000 tăng gần 3% so với năm 1999, lên 796,1 triệu chiếc, đồng thời nhu cầu tiêu thụ cao su còn gia tăng mạnh ở các khu vực trên thế giới Theo IRSG, năm 2000 nhu cầu tiêu thụ cao su thiên nhiên châu Á tăng 5% so với năm 1999 lên 3,65 triệu tấn, tại châu Aâu, Bắc Mỹ, châu Phi tăng 2-4,5%

II-Sự cần thiết phải định hướng chiến lược phát triển ngành công nghiệp chế biến khu vực miền Đông Nam Bộ:

1/Quá trình phát triển và vị trí của ngành cao su khu vực Đông Nam Bộ ở Việt

Nam:

Khu vực miền Đông Nam bộ gồm: Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Thuận, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Lâm Đồng và TP.Hồ Chí Minh là một khu vực có điều kiện khí hậu và đất đai rất thích hợp cho việc trồng và phát triển cây cao su.Trong quá trình phát triển khoảng 100 năm qua, diện tích cây cao su khu vực miền Đông Nam bộ đã không ngừng gia tăng cả về số lượng và chất lượng vườn cây

Trước năm 1975 có 04 Công ty chuyên canh cao su Đông Nam bộ:

Đặc điểm của thời kỳ này là kinh doanh tập trung với qui mô lớn, chuyên môn hoá cao, cơ sở vật chất tương đối hiện đại, tổ chức kinh doanh theo phương thức khép kín từ khâu sản xuất, chế biến đến khâu tiêu thụ.Thời kỳ này, cao su đã là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu

Sau năm 1975, xác định vai trò kinh tế to lớn của cây cao su mang lại, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương phát triển mạnh loại cây công nghiệp có giá trị này.Vì vậy, diện tích vườn cây cao su trong khu vực đã tăng rất nhanh, sản lượng cao su hàng năm tăng từ 10%-15%.Năng suất bình quân của các Công ty Miền Đông Nam Bộ đã vượt 1 tấn/ha, cao nhất trên cả nước

Song song với việc phát triển vườn cây cao su (chiếm tỷ lệ hơn 80% diện tích khai thác toàn ngành), hệ thống các nhà máy chế biến mủ cao su cũng đã được xây dựng hoàn chỉnh và hiện đại với công suất chế biến trên 150.000 tấn/năm với tổng cộng 21 nhà máy đáp ứng đủ nhu cầu chế biến từ khai thác của riêng khu vực này

Trang 14

Với vai trò là khu vực chuyên canh cây cao su của cả nước, Miền Đông Nam Bộ đã nhận được sự quan tâm đầu tư của Tổng công ty cao su Việt Nam thông qua cơ cấu vốn đầu tư của Tổng Công ty qua các năm như sau:

Bảng 7: Cơ cấu vốn đầu tư của Tổng Công ty cao su qua các năm

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Giai đoạn 1995 1996 1997 1998 1999 2000 I-Giá trị TSCĐ

1-Nông nghiệp

Tốc độ tăng

Đông Nam bộ

Tây nguyên và DHMT

2-Công nghiệp và dịch vụ

Tốc độ tăng

II-Đầu tư dở dang

Nông nghiệp

Đông Nam bộ

Tây nguyên và DHMT

2907

2849

2684

16558

658 658

472

186

3980

390237%

3628

2747834%

754 754

490

264

4438

433411%

3966

36810433%

861 861

497

364

4552

4396 1%

3937

459

156 50%

3937

57923450%

1000 1000

488

512

4900

45290,3%

3937

59237158%

1100 1100

488

612

Tổng cộng 3565 4734 5299 5524 5750 6000 Tốc độ tăng 33% 12% 4% 4% 4%

(Nguồn: Tổng công ty cao su Việt Nam)Tổng vốn đầu tư tính đến 31/12/2000 là 6.000 tỷ đồng, trong đó khu vực nông nghiệp 5.629 tỷ đồng, chiếm 94% tổng vốn đầu tư Lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ chỉ chiếm 6% tổng vốn Trong lĩnh vực Nông nghiệp, phần chủ yếu cũng tập trung ở Đông Nam bộ với tổng vốn là 4.425 tỷ đồng, chiếm 74% tổng vốn

Các số liệu này cho thấy, trong những năm qua việc đầu tư chủ yếu là tập trung cho khu vực nông nghiệp ở Đông Nam bộ Qui mô diện tích vườn cây cao su hiện có của khu vực Miền Đông Nam bộ là 165.481 ha, chiếm 78% diện tích vườn cây cao su trong cả nước

Cơ cấu chủng loại sản phẩm chủ yếu của các nhà máy chế biến khu vực này là: mủ SVR 3,3L (chiếm 71,73%), SVR CV 50, SVR CV60 (Chiếm 10,22%), mủ kem 4,66%, SVR 10,20 (chiếm 13,39%)

Năm 2000, các công ty khu vực Miền Đông Nam Bộ khai thác sản lượng đạt 150.000 tấn, trong đó 80% được xuất khẩu sang các thị trường Trung Quốc, châu Âu và Nam Á Doanh thu năm 2000 của các Công ty khu vực này là 1.926 tỷ đồng với tổng chi phí 1.377 tỷ đồng Đạt tỷ lệ lãi trên doanh thu là 19%

Trang 15

Mặc dù giá xuất khẩu sản phẩm cao su những năm gần đây (1998-1999) đang giảm, tuy nhiên với xu hướng giá thành đang giảm xuống do năng suất tăng và quản lý chặt chẽ các định mức, cũng như hợp lý hoá các chi phí nên các công ty vẫn giữ được mức lợi nhuận cao đóng góp một phần đáng kể vào ngân sách nhà nước

Các doanh nghiệp chế biến các sản phẩm cao su mặc dù có rất nhiều cố gắng trong việc đầu tư phát triển sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ nhưng hiệu quả hoạt động chưa cao, chủ yếu chỉ có các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ là hoạt động có hiệu quả nhờ vào sự năng động trong việc đa dạng hoá sản phẩm và thích nghi nhanh chóng với sự thay đổi của thị trường, nhưng mức độ qui mô sản xuất còn nhỏ và công nghệ còn lạc hậu

Đánh giá thành quả đạt được và những tồn tại:

Hoạt động sản xuất kinh doanh cao su khu vực Miền Đông Nam Bộ đã đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trong những năm qua khá cao từ 10 -15%, đạt những chỉ tiêu cơ bản về diện tích, sản lượng Vườn cây cao su có chất lượng tốt, năng suất bình quân không ngừng gia tăng Hiệu quả hoạt động tuy lệ thuộc vào giá cả trên thị trường xuất khẩu nhưng nhìn chung trong những năm qua đã có những bước phát triển và đóng góp đáng kể vào ngân sách Nhà nước

Tuy vậy, ngành cao su khu vực này còn có những vướng mắc trong quá trình phát triển đó là:

- Một số diện tích vườn cây cao su không đem lại hiệu quả cao, tốc độ phát triển không đồng đều dẫn đến có sự biến động lớn về số lượng sản phẩm sản xuất

- Sản phẩm mủ cao su chưa phù hợp với nhu cầu thị trường

- Chưa xâm nhập được vào các thị trường lớn và ổn định, bị lệ thuộc khá nhiều vào thị trường Trung Quốc

- Chưa phát triển mạnh ngành công nghiệp cao su để có thể gia tăng giá trị của sản phẩm

2/Sự cần thiết của việc định hướng chiến lược phát triển ngành công nghiệp

chế biến cao su:

Nước ta đã có kinh nghiệm hơn một thế kỷ trồng và khai thác cao su thiên nhiên, có nhân lực dồi dào, đất đai, khí hậu thích hợp và thuận lợi cho sự phát triển cây cao su ở Việt Nam

Đảng và Nhà Nước ta cũng đã xác định hiện nay và trong tương lai cao

su thiên nhiên có vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế và quá trình công nghiệp hoá của đất nước thông qua việc phê duyệt tổng quan phát triển

Trang 16

của ngành cao su từ nay đến năm 2005 là 700.000 ha, trong đó riêng khu vực miền Đông Nam bộ là 300.000 ha

Khu vực miền Đông Nam bộ là một khu vực thích hợp cho việc trồng và khai thác cây cao su trong nhiều thập kỷ qua, được sự quan tâm của ngành cũng như chính quyền địa phương trong việc khuyến khích phát triển vườn cây cao

su, ngành cao su khu vực Miền Đông Nam Bộ đã có một cơ sở vật chất tương đối hoàn chỉnh, tình hình tiêu thụ sản phẩm khá ổn định và hiệu quả, có lực lượng cán bộ- công nhân có trình độ và gắn bó với nghề nghiệp… Tuy nhiên ngành cao su khu vực miền Đông Nam bộ còn đứng trước nhiều thử thách đó là: sản phẩm còn đơn điệu và chưa phù hợp với nhu cầu của thị trường, xu hướng cạnh tranh ngày càng gay gắt khi AFTA, APEC có hiệu lực, cơ chế chính sách của Nhà nước còn nhiều bất cập, các doanh nghiệp có mức phát triển và cạnh tranh không đồng đều, doanh thu, tỷ suất lợi nhuận còn thấp so với tài sản quản lý…

Bên cạnh đó, do ngành công nghiệp chế biến phát triển chưa cao nên giá trị gia tăng của cao su nguyên liệu xuất khẩu vẫn rất thấp và phụ thuộc quá nhiều vào biến động của thị trường thế giới Do vậy phát triển ngành công nghiệp chế biến là một lĩnh vực then chốt trong việc giữ vững thị trường xuất khẩu và phát triển thị trường trong nước khi Việt Nam giảm mức thuế nhập khẩu đối với mặt hàng cao su sản phẩm trong khu vực ASEAN, cũng như khi Việt Nam ký Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và gia nhập WTO

Trong điều kiện kinh tế đất nước hiện nay thì tư cách cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp hóa là tư cách bền vững nhất của cây cao su Bởi cho đến thời điểm hiện nay, chúng ta chỉ vẫn thực hiện bán nguyên liệu mủ cao su là chính (chiếm trên 80%) và có lẽ đó cũng là điều nhức nhối nhất mà ngành cao

su Việt Nam đang phải tìm cách tháo gỡ Chừng nào nguyên liệu cao su chưa chuyển đổi sang hàng hóa công nghiệp để tạo ra sản phẩm tiêu dùng thì chừng đó ngành cao su vẫn chưa hoàn tất được mục tiêu đặt ra của mình

Đứng trước thực trạng trên cần có một chiến lược chung phát triển phù hợp cho ngành, làm định hướng để xây dựng những biện pháp, bước đi trong những năm tới với mục tiêu là sản xuất kinh doanh ngày càng hiệu quả, hoàn thành tốt những nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó

III-Những vấn đề chung về xây dựng định hướng chiến lược:

1/Dự báo phát triển:

Là những tiên đoán thay đổi của môi trường trong việc thực hiện những chiến lược tương lai của công ty.Mục đích của việc tiên đoán những hoàn cảnh mà công ty phải đối diện nhằm ước tính thời điểm và cường độ của những thay

Trang 17

đổi ảnh hưởng đến công ty.Nói cách khác là khi nào những ảnh hưởng đó xảy

ra và xác suất xảy ra là gì

Một số những phương pháp để tiên đoán thường dùng là:

- ý kiến chuyên gia: Tập hợp các chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm sau đó yêu cầu cho các giải pháp để giải quyết vấn đề

- Xu hướng ngoại suy: Dùng toán học và các hàm số ngoại suy

- Xu hướng liên hệ: Dùng tương quan giữa các chuỗi thời gian với những kết quả khác nhau nhằm tìm ra mối liên hệ trong tương lai

- Đặt mô hình năng động: Sử dụng những hệ thống phương trình toán và thống kê để tiên đoán sự thay đổi của môi trường

- Phân tích tác động đan chéo: Nhằm nhận ra một bộ những xu hướng then chốt bằng cách đặt câu hỏi:”Nếu biến cố A xảy ra thì nó tác động tới những xu hướng khác như thế nào?” Rồi thu thập tất cả những kết quả lại thành một bộ những liên kết, biến cố này sẽ lôi kéo biến cố khác

- Những kịch bản đa dạng: Xây dựng những hình ảnh của tương lai có thể thay thế cho nhau, nếu rõ xác suất nào đó có thể xảy ra

- Yêu cầu tiên đoán sự may rủi: Tìm tất cả những biến cố chủ yếu ảnh hưởng quan trọng tới công ty, mỗi biến cố được cho điểm về tính phù hợp và sự lôi cuốn, biến cố nào có điểm cao sẽ được chú ý nghiên cứu

2/Phân tích môi trường bên ngoài:

Các yếu tố môi trường có một tác động to lớn đến toàn bộ các bước tiếp theo của quá trình quản trị chiến lược.Chiến lược được lựa chọn phải được hoạch định trên cơ sở các điều kiện môi trường đã nghiên cứu

Môi trường của tổ chức có thể chia thành hai mức độ: môi trường vĩ mô (hay còn gọi là môi trường tổng quát), môi trường vi mô (hay còn gọi là môi trường đặc thù)

Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp doanh nghiệp trả lời câu hỏi : Doanh nghiệp đang trực diện với những gì?

Mỗi yếu tố của môi trường vĩ mô có thể ảnh hưởng đến tổ chức một cách độc lập hoặc trong mối liên kết với các yếu tố khác Các yếu tố chủ yếu của môi trường vĩ mô để nghiên cứu bao gồm: các yếu tố kinh tế, yếu tố chính phủ và chính trị, yếu tố xã hội, yếu tố tự nhiên và yếu tố công nghệ

Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố ngoại cảnh đối với doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành sản xuất kinh doanh đó

Có 5 yếu tố cơ bản là: đối thủ cạnh tranh, người mua, người cung cấp, các đối thủ mới tiềm ẩn và sản phẩm thay thế

Trang 18

Ảnh hưởng chung của các yếu tố này thường là một sự thật phải chấp nhận đối với tất cả các doanh nghiệp, để đề ra được một chiến lược thành công thì phải phân tích từng yếu tố chủ yếu đó Sự hiểu biết các yếu tố này giúp doanh nghiệp nhận ra các mặt mạnh và mặt yếu của mình liên quan đến các cơ hội và nguy cơ mà ngành kinh doanh đó gặp phải

3/Phân tích môi trường bên trong:

Tất cả các tổ chức đều có những điểm mạnh, điểm yếu trong các lĩnh vực kinh doanh Những điểm mạnh và yếu bên trong cùng với những cơ hội và

đe dọa bên ngoài và nhiệm vụ rõ ràng là những điểm cơ bản cần quan tâm khi thiết lập các mục tiêu và chiến lược Các mục tiêu và chiến lược được xây dựng nhằm lợi dụng những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu bên trong – những yếu tố mà nhà quản trị có thể kiểm soát được

Trong một doanh nghiệp bao gồm tất cả các yếu tố và hệ thống bên trong của nó, phải cố gắng phân tích một cách kỹ lưỡng các yếu tố nội bộ đó nhằm xác định rõ các ưu điểm và nhược điểm của mình Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp nhằm giảm bớt nhược điểm và phát huy ưu điểm để đạt lợi thế tối đa Các yếu tố nội bộ chủ yếu gồm các lĩnh vực chức năng như: nguồn nhân lực, nghiên cứu và phát triển, sản xuất, tài chính kế toán, marketing và nề nếp tổ chức chung…

4/Xác định mục tiêu:

Bước quan trọng kế tiếp trong tiến trình quản trị chiến lược liên quan tới việc xác định những mục tiêu của tổ chức Những mục tiêu hợp lý phải dựa trên sự phân tích môi trường.Những kết quả mong muốn được xác định bởi những mục tiêu trở thành những đối tượng chiến lược của doanh nghiệp hướng tới

Mục tiêu dài hạn là mục tiêu cho thấy những kết quả mong muốn trong một thời gian dài

Mục tiêu ngắn hạn phải rất biệt lập và đưa ra những kết quả nhằm tới một cách chi tiết Chúng là những kết quả riêng biệt mà công ty kinh doanh có

ý định phát sinh trong vòng chu kỳ quyết định kế tiếp

5/Công cụ phân tích và lựa chọn định hướng chiến lược:

Ma trận điểm mạnh - điểm yếu, cơ hội – nguy cơ (SWOT)

Ma trận điểm mạnh - điểm yếu, cơ hội – nguy cơ là công cụ kết hợp quan trọng có thể giúp cho các nhà quản trị phát triển bốn loại chiến lược như sau: chiến lược điểm mạnh – cơ hội (SO), chiến lược điểm yếu – cơ hội (WO), chiến lược điểm mạnh – nguy cơ (ST) và chiến lược điểm yếu – nguy cơ (WT) Sự kết hợp các yếu tố quan trọng bên trong và bên ngoài là nhiệm vụ khó khăn

Trang 19

nhất của việc phát triển một ma trận SWOT, nó đòi hỏi phải có sự phán đoán tốt, nếu không sẽ không có một kết hợp tốt nhất

+ Các chiến lược SO sử dụng những điểm mạnh bên trong của công ty để tận dụng những cơ hội bên ngoài Tất cả các nhà quản trị đều mong muốn tổ chức của họ ở vào vị trí mà những điểm mạnh bên trong có thể được sử dụng để lợi dụng xu hướng và biến cố của môi trường bên ngoài Thông thường các tổ chức sẽ theo đuổi chiến lược WO, ST hay WT để tổ chức có thể ở vào vị trí mà họ có thể áp dụng các chiến lược SO Khi một công ty có những điểm yếu lớn thì nó sẽ cố gắng vượt qua, làm cho chúng trở thành điểm mạnh Khi một tổ chức phải đối đầu với những mối đe dọa quan trọng thì nó sẽ tìm cách tránh chúng để có thể tập trung vào những cơ hội

+ Các chiến lược WO nhằm cải thiện những điểm yếu bên trong bằng cách tận dụng những cơ hội bên ngoài Đôi khi những cơ hội lớn bên ngoài đang tồn tại, nhưng công ty có những điểm yếu bên trong ngăn cản nó khai thác những cơ hội này

+ Các chiến lược ST sử dụng các điểm mạnh của một công ty để tránh khỏi hay giảm đi ảnh hưởng của những mối đe dọa bên ngoài

+ Các chiến lược WT là những chiến lược phòng thủ nhằm làm giảm đi những điểm yếu bên trong và tránh khỏi những mối đe doạ từ môi trường bên

ngoài

Để có được một định hướng chiến lược tốt và có hiệu quả cao, cần thiết phải nắm vững và phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp cả yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong, cũng như thực hiện tốt công tác dự báo và nắm rõ các nhân tố ảnh hưởng khác tác động đến quá trình phát triển của doanh nghiệp

Do đó, việc vận dụng lý thuyết xây dựng định hướng chiến lược kết hợp với phân tích đúng thực trạng của các doanh nghiệp hoạt động trong ngành chế biến cao su khu vực miền Đông Nam bộ, nắm rõ các nhân tố tác động trong thời gian tới ảnh hưởng như thế nào trong quá trình phát triển đó là nguồn dữ liệu quan trọng để xây dựng định hướng chiến lược phát triển ngành công nghiệp chế biến cao su khu vực Miền Đông Nam Bộ đến năm 2010, trên cơ sở phù hợp với chính sách vĩ mô của Nhà nước, chính sách phát triển của địa phương; dựa vào định hướng chiến lược của Nhà nước, của ngành nông nghiệp và căn cứ vào tình hình thực trạng, khả năng nội lực của Tổng Công ty cao su

trong xu thế cạnh tranh và hội nhập cùng khu vực và thế giới

Trang 20

CHƯƠNG 2:

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CAO SU KHU VỰC MIỀN ĐÔNG NAM BỘ THỜI GIAN QUA

I-Về năng lực sản xuất:

1.Cao su nguyên liệu:

Đến năm 2.000 trên địa bàn miền Đông Nam bộ có 21 nhà máy sơ chế mủ cao su được phân bố đều theo vùng nguyên liệu (Bảng 6), với tổng công suất thiết kế đạt 150.000 tấn/năm Sản lượng chế biến năm 2000 chung cho toàn khu vực là 127.200 tấn, như vậy chỉ đạt 85% so với công suất thiết kế, nếu đánh giá về hiệu quả công suất hoạt động của nhà máy thì điều này là không đạt yêu cầu, tuy nhiên hoạt động của nhà máy còn phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu khai thác được của khu vực, vì vậy với công suất sản xuất hiện nay của khu vực đã đáp ứng đủ nhu cầu chế biến và có dự phòng, cũng như chế biến gia công cho các thành phần kinh tế khác Trong giai đoạn tới cần khai thác tốt công suất của các nhà máy chế biến hiện có và hạn chế việc đầu tư xây dựng mới các nhà máy chế biến mủ cao su nguyên liệu tại khu vực miền Đông Nam bộ, việc xây dựng mới này cần phải căn cứ vào tình hình cụ thể trong kế hoạch phát triển vườn cây, tránh tình trạng nhà máy được xây dựng xong nhưng không có nguyên liệu để chế biến

2.Cao su sản phẩm:

Mặc dù cây cao su đã có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, đã phát triển mạnh mẽ để nước ta trở thành quốc gia xuất khẩu cao su lớn trên thế giới, tuy nhiên ngành công nghiệp chế biến sản phẩm cao su thì phát triển rất chậm

Trong giai đoạn thực dân Pháp khai thác các đồn điền cao su, các chủ đồn điền người Pháp ở Đông Nam bộ đã xây dựng một số cơ sở nhỏ để chế biến sản phẩm cao su như đắp vỏ xe, làm đệm, găng, vỏ ruột xe đạp … phục vụ cho nhu cầu của quân đội Pháp và một phần thị trường nội địa

Trước năm 1975, tại Miền Nam đã có một số nhãn hiệu có uy tín như cao su Sao Vàng, cao su Michelin, găng tay, ủng, giày dép…nhưng quy mô sản xuất còn nhỏ

Sau ngày giải phóng, Đảng và Nhà nước ta đã quyết tâm xây dựng ngành cao su Việt Nam lớn mạnh, phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước Trong sự quyết tâm đó, với nỗ lực vươn lên , mạnh dạn đổi mới công nghệ, ngành cao su Việt Nam đã có sự phát triển mới trong sản xuất chế biến sản phẩm cao su như Casumina, Sao Vàng, Rubimex … sản xuất các mặt hàng cao su có uy tín như vỏ ruột xe, đệm goăng kỹ thuật, giày dép, nệm … ,ngoài ra còn có hàng ngàn cơ sở sản xuất vừa và nhỏ tham gia chế biến sản phẩm cao

Trang 21

su của các thành phần kinh tế khác tập trung phần lớn ở thành phố Hồ Chí Minh và khu vực miền Đông Nam bộ góp phần hình thành một ngành công nghiệp chế biến cao su của Việt Nam

Về năng lực sản xuất hàng năm:

Công ty Casumina ở TP.HCM với dây chuyền sản xuất săm lốp xe gắn máy có công suất 1.200.000 bộ/năm, dây chuyền sản xuất săm lốp ô tô có công suất 600.000 bộ/năm, số lượng mủ cao su tiêu thụ hàng năm của công ty là 13.000 tấn

Công ty cao su Thống Nhất hiện đang sản xuất hơn 200 chủng loại mặt hàng xuất khẩu gồm phụ tùng cao su kỹ thuật gioan, phớt, cúp-pen, bộ đo huyết kế, vòng đĩa …

Các công ty ở miền Đông Nam bộ với đặc điểm gần vùng nguyên liệu, nhưng chỉ chú trọng đến khâu chế biến mủ cao su nguyên liệu mà không tập trung chế biến cao su sản phẩm, vì vậy hoạt động của ngành công nghiệp chế biến cao su sản phẩm tại khu vực này còn mang tính nhỏ lẻ, do các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp tư nhân tham gia là chủ yếu

Công ty Công nghiệp Cao su đầu tư dây chuyền sản xuất sản phẩm giầy – đế giầy thể thao từ năm 1997 và bắt đầu hoạt động vào năm 1999, với công suất 1,2 triệu đôi giầy thể thao/năm, 2,4 triệu đôi đế và khoảng 0,2 triệu đôi dép/năm Dây chuyền sử dụng công nghệ trung bình của Hàn Quốc nên chất lượng sản phẩm không cao

Công ty sản xuất và kinh doanh dụng cụ thể thao, đầu tư công nghệ của Đài Loan, có công suất 1 triệu quả bóng/năm, hoạt động từ năm 1998, nhưng sản phẩm chủ yếu được xuất khẩu

Hoạt động của các Công ty sản xuất sản phẩm cao su trong khu vực này đã góp phần tiêu thụ được 10% sản lượng mủ cao su sản xuất ra của toàn quốc (khoảng 22.000 tấn/ năm)

Trong khi đó tại Miền Bắc và Miền Trung, các doanh nghiệp chế biến sản phẩm cao su tại khu vực này chỉ tiêu thụ được sản lượng mủ cao su hàng năm là 8.000 tấn ( chiếm 27% so với cả nước) như:

Công ty cao su Sao Vàng ở Miền Bắc đã đưa ra thị trường nhiều chủng loại sản phẩm với 19 loại săm lốp ô tô và nâng sản lượng lên 100.000 bộ quy chuẩn/năm với sản lượng tiêu thụ mủ cao su hàng năm là 5.000 tấn

Ở Miền Trung, Công ty cao su Đà Nẵng hàng năm sản xuất đưa ra thị trường khoảng 200.000 vỏ xe các loại và đang lập kế hoạch nâng sản lượng hàng năm lên đến 500.000 vỏ xe các loại vào năm 2005 đã góp phần tiêu thụ 3.000 tấn mủ cao su/ năm

Trang 22

Như vậy, hoạt động sản xuất và chế biến sản phẩm từ cao su chủ yếu tập trung tại khu vực Miền Đông Nam bộ nhưng với qui mô chưa lớn và chưa xứng đáng đối với một vùng chuyên canh cây cao su Qua đánh giá về mặt sản lượng tiêu thụ mủ cao su nguyên liệu hàng năm của các nhà máy cho thấy mức độ sản xuất với qui mô còn thấp, sản lượng sản xuất ra chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu tiêu dùng nội địa ( cung cấp cho khoảng 22-28% nhu cầu tiêu dùng trên toàn quốc)

II-Về công nghệ sản xuất và chế biến:

1.Cao su nguyên liệu:

Qui trình chế biến mủ cao su:( Sơ đồ 1)

Mủ cao su sau khi cạo lớp vỏ theo đường rãnh xéo chảy ra ngoài được gọi tên kỹ thuật là latex Đây là hỗn hợp màu trắng đục có chứa 40% hạt cao

su khô, nước và các chất hoà tan khác

Latex vừa thu được có độ pH = 7,2 nên có tính kiềm yếu và chỉ có thể ổn định trong thời gian ngắn Khi độ pH giảm dần các hạt cao su bắt đầu keo tụ lại

do tác dụng của vi khuẩn và có mùi hôi Để ngăn hiện tượng keo tụ khi chưa kịp lọc hạt cao su ra khỏi dung dịch người ta cho vào latex 0,15% amôniac

Mủ latex sau khi được cô đặc lại và tách nước ra bằng máy ly tâm mủ sẽ được cán thành các tấm mủ cao su mỏng gọi là crếp

Các tấm crếp được rửa sạch bằng các máy rửa nước Sau đó được đưa

chế ở công đoạn này gọi là crếp khói

crếp trắng

Do vậy tuỳ theo các công đoạn thực hiện trong quá trình chế biến được thực hiện như thế nào mà cho ra các sản phẩm khác nhau theo tên kỹ thuật như: mủ latex, mủ đông, crếp trắng, crếp xông khói hay tên thương mại như: cao su crếp SVR 10, SVR 20, cao su Cream Skim, mủ tờ ICR, RSS, ADS, mủ cốm, cao su khối…

Trang 23

Cán crếp Cán crếp Cán crếp

Trang 24

Công nghệ khai thác và chế biến cao su trên thực tế đã có những đổi mới đáng kể, cơ bản đáp ứng được yêu cầu chế biến mủ hiện nay Các nhà máy chế biến đã đầu tư dây chuyền sản xuất tiên tiến nhằm tạo ra sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường, trong đó ảnh hưởng lớn nhất trong việc thay đổi công nghệ là thị trường Trung Quốc cần các loại cao su chế biến như mủ cốm, mủ kem…Và các thị trường khác ở Châu Âu, Mỹ cần cao su loại SVR 10,20 để sản xuất trong công nghiệp ô tô

Một số nhà máy đã sử dụng công nghệ chế biến mủ cao su theo công nghệ tiên tiến của Pháp, Đức và Hàn Quốc như công nghệ chế biến mủ kem, mủ cốm… Tuy nhiên vẫn còn nhiều nhà máy chế biến sử dụng và cải tiến từ những máy móc thiết bị cũ đã có từ trước 1975 mà số lượng máy móc thiết bị này chiếm tới 30% trong toàn bộ máy móc thiết bị đang phục vụ trong ngành chế biến cao su hiện nay

Qua đánh giá công nghệ và thiết bị sơ chế mủ cao su cho thấy công nghệ

sơ chế mủ cao su hiện nay ở nước ta nói chung và khu vực Miền Đông Nam Bộ nói riêng đang có những bước tiến đáng kể so với những năm trước đây, số lượng và chất lượng sản phẩm không ngừng gia tăng và đã tìm được chỗ đứng trên thị trường thế giới, tuy vậy chất lượng sản phẩm cao su sơ chế của ta chưa thật đồng đều, ổn định Do chất lượng cao su sơ chế ở các nước trên thế giới cũng không ngừng được nâng cao, đã giảm được hàm lượng chất bẩn nhỏ hơn 0,02%, đồng thời thiết bị và công nghệ sơ chế cũng không ngừng phát triển

Vì vậy, việc luôn nắm bắt những thay đổi của công nghệ trên thế giới và nhu cầu về chất lượng sản phẩm trên thị trường, từ đó có những phương án đầu

tư và cải tiến công nghệ phù hợp theo kịp với sự phát triển của thị trường là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của các doanh nghiệp chế biến mủ cao su trong thời gian hiện nay và trong tương lai

2.Cao su sản phẩm:

Đặc trưng của các ngành công nghiệp chế biến nói chung và ngành công nghiệp chế biến sản phẩm cao su nói riêng phụ thuộc khá nhiều vào sự phát triển của ngành công nghiệp cơ khí Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam với ngành công nghiệp cơ khí chưa phát triển nên đa số các công ty hoạt động trong lĩnh vực chế biến sản phẩm cao su đều sử dụng thiết bị và công nghệ chế biến nhập khẩu từ nước ngoài như công nghệ chế biến vỏ ruột xe gắn máy, xe

ô tô đang phát triển theo hình thức đầu tư, liên doanh với nước ngoài để tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào Việt Nam Các sản phẩm chế biến từ cao

su khác được đầu tư với quy mô vừa và nhỏ sử dụng công nghệ còn lạc hậu,

Trang 25

đồng thời các doanh nghiệp chưa có sự quan tâm đúng mức trong việc đầu tư sản xuất, mở rộng thị trường, tập trung nghiên cứu và đa dạng hoá sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường , do đó số lượng mặt hàng được sản xuất từ cao

su nguyên liệu ở Việt Nam còn rất ít chưa tương xứng với vai trò của cây cao

su trong nền kinh tế

Có thể thấy cơ cấu các chủng loại sản phẩm được chế biến từ cao su qua

sơ đồ sau:

Công dụng Tỷ lệ(%)

Lốp và săm xe

Sản phẩm latex (Sản phẩm nhúng)

Y khoa ( công cụ y tế, giải phẫu, găng tay, ống truyền máu)

Cao su xốp ( nệm mút, gối…)

Keo, nhựa, hồ dán

68

8

5 5,8 5,9

2 2,1 3,2

Tổng cộng 100

(Nguồn: Tổng công ty cao su Việt Nam)Hoạt động mạnh nhất trong ngành công nghiệp chế biến cao su ở Việt Nam đó chính là sản xuất săm lốp ô tô, xe máy, đây là một ngành mà trên thế giới đã tiêu thụ 68% sản lượng cao su thiên nhiên sản xuất ra

Tại Miền Bắc, Công ty Cao su Sao Vàng không ngừng đầu tư máy móc thiết bị hiện đại, trang bị đồng bộ các dây chuyền sản xuất săm lốp ô tô, xe máy, xe đạp, đảm bảo sản phẩm chất lượng cao, mở rộng quy mô sản xuất ở các chi nhánh Xuân Hòa, chi nhánh Thái Bình, nâng cao năng lực sản xuất các

xí nghiệp tại Hà Nội Công ty cũng đã hoàn thành dự án bổ sung và thay thế thiết bị dây chuyền sản xuất săm lốp xe tải với tổng vốn đầu tư trên 10 tỷ đồng

Tại Tp.HCM và khu vực miền Đông Nam Bộ, Công ty Casumina đã cùng với Công ty Yokohama và Công ty thương mại Mitsubishi của Nhật Bản thành lập liên doanh sản xuất các loại săm lốp ô tô và xe gắn máy, trong đó phần vốn góp của phía Nhật Bản trong tổng vốn pháp định là 70%

Nhà máy cao su kỹ thuật Sông Bé xây dựng và lắp đặt dây chuyền đắp vỏ xe nhập của Ấn Độ nhưng do yếu kém về mặt quản lý và dây chuyền lắp

Trang 26

đặt không đồng bộ nên công suất thực tế chỉ đạt 30% công suất thiết kế, hoạt động không có hiệu quả

Tại Miền Trung, Công ty cao su Đà Nẵng với vốn đầu tư 150 tỷ đồng, bắt đầu đi vào sản xuất từ năm 1996 Công ty vừa lắp đặt thêm dây chuyền sản xuất mới của Ấn Độ với số vốn đầu tư 30 tỷ đồng nâng mức tiêu thụ cao su nguyên liệu lên 2.500 tấn/năm

Mặc dù ngành công nghiệp chế biến cao su Việt Nam đã có những cố gắng đáng kể trong việc đầu tư và đổi mới công nghệ, sản phẩm được thị trường nội địa chấp nhận, thị trường ngày càng tăng đã và đang hướng tới xuất khẩu sang các nước, nhưng nhìn chung với thực trạng công nghệ hiện nay của ngành nói chung và của khu vực Miền Đông Nam bộ nói riêng còn đang lạc hậu và cũ kỹ so với thế giới (mức độ hiện đại chỉ chiếm 5%, trung bình 40,6%, lạc hậu 54,4%) Việc đầu tư công nghệ vào lĩnh vực sản xuất vỏ lốp ô tô, xe tải, xe nông nghiệp… chưa đáng kể, qui mô nhỏ, thiết bị không hiện đại, mà lĩnh vực này lại là chủ lực trong ngành công nghiệp chế biến cao su, tiêu thụ 68% sản lượng cao su trên thế giới

Bảng 9: So sánh trình độ công nghệ của máy móc thiết bị giữa các ngành

Trình độ công nghệ của máy móc thiết bị chính so với thiết

bị cùng loại của thế giới

Ngành công nghiệp chế

biến hàng tiêu dùng

Tổng số

Hiện đại hơn

Trung bình

16 15,6

51 43,7 18,2

80

28 44,4

54,4

14,3

(Nguồn: Sở công nghiệp TP.HCM)

Trang 27

III-Về tình hình tiêu thụ trong nước và xuất khẩu:

1.Cao su nguyên liệu:

Với vườn cao su có chất lượng tốt, năng suất bình quân không ngừng gia tăng Sản phẩm sơ chế có chất lượng tốt và từng bước đáp ứng được nhu cầu của thị trường

Tình hình sản xuất kinh doanh trong những năm vừa qua của các công ty khu vực Miền Đông Nam Bộ được thống kê qua bảng sau:

Đơn vị tính: tỷ đồng

Chỉ tiêu 1990 1995 1997 1998 1999 2000

Doanh thu

Chi phí

Lãi trước thuế

Lãi sau thuế

1574

941

633

411 40%

1406

1162

244

183 17%

1371

1284

87

65 6%

1557

1431

119

59 8%

1926

1377

549

366 19%

(Nguồn: Tổng công ty cao su Việt Nam)

Do tác động của giá cả tiêu thụ trên thị trường thế giới nên kết quả kinh doanh trong năm 1998,1999 đã giảm đáng kể so với năm 1997 và 1995, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu bình quân năm 1998-1999 chỉ đạt 6%/doanh thu Tuy nhiên có một điểm cần lưu ý là giá mủ cao su trong 2 năm 1998 và 1999 đã giảm đáng kể, đầu năm 1999 mức giá xuất khẩu thấp nhất trong khoảng 2 thập niên qua (8.200.000 đồng/tấn), trong năm 2000 giá bán trung bình là 9.240.000 đồng/tấn, tăng 12% so với năm 1999

Mặt khác, một điểm mạnh là hiện tại xu hướng giá thành đang giảm xuống vì những lý do: do năng suất tăng và do quản lý chặt chẽ các định mức, hợp lý hoá các chi phí Nếu giá thành bình quân năm 1997 là 9,2 triệu đồng/tấn thì giá thành năm 1998 là 8,25 triệu đồng/tấn và năm 1999 là 7,58 triệu đồng/tấn, tỷ lệ giảm giá thành 19% trong khi đó tỷ lệ tăng năng suất chỉ là 12% Việc giảm giá thành trong điều kiện các chi phí cố định như khấu hao TSCĐ, lãi vay Ngân hàng tăng là một tiền đề quan trọng trong việc tăng hiệu quả kinh doanh trong những năm tới

Tình hình tiêu thụ sản phẩm từ năm 1995-2000 đã tăng đều và đến năm

2000 đạt 196.000 tấn và mức xuất khẩu tăng lên 150.000 tấn

Trang 28

Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Trung Quốc, Nam Á và Các nước Châu Âu Từ năm 1995, cao su Việt Nam được xuất nhiều sang Châu Âu nhưng tỷ lệ vẫn ở mức dưới 2% nếu so với tổng nhập khẩu của khu vực Châu Âu Thị trường Bắc Á bao gồm Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Hồng Kông là các thị trường có tiềm năng lớn nhưng ta chỉ mới cung cấp được 1,5% tổng nhu cầu Riêng đối với thị trường Bắc Mỹ, với tổng nhu cầu trên 1 triệu tấn cao su thiên nhiên thì ta chỉ cung cấp khoảng 0,02% Nam Á với sự phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp cao su của Malaysia đã tăng mức tiêu thụ lên trên 700.000 tấn nhưng tỷ lệ xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này vẫn chưa đến 4% Gần 70% sản lượng xuất khẩu của Việt Nam là thị trường Trung Quốc, nhưng nếu so với tổng nhập khẩu của Trung Quốc thì Việt Nam chỉ đạt 35,27% trong năm 1995 và giảm xuống 30% trong năm 1998

2.Cao su sản phẩm:

Công ty sản xuất và kinh doanh dụng cụ thể thao, trong năm 2000 đạt giá trị tổng sản lượng 10 tỷ đồng tăng 107% so với kế hoạch, tổng doanh thu thực hiện được 9,6 tỷ đồng tăng 106% so với kế hoạch, lợi nhuận trước thuế đạt 9,5 triệu đồng, tăng 130% so với kế hoạch Thị trường chủ yếu là xuất khẩu

Công ty công nghiệp cao su đạt giá trị tổng sản lượng 63,3 tỷ đồng, vượt 10,2% kế hoạch, doanh thu vượt 8,7% kế hoạch (tăng 2,3 lần so với năm 1998), sản phẩm chủ yếu là giày dép dành cho xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu đạt 3,35 triệu USD

Công ty Casumina đạt doanh thu năm 2000 gần 500 tỷ đồng, tăng 8,1 lần

so với doanh thu năm 1991 với các mặt hàng chủ yếu là săm lốp các loại

Tuy nhiên so với nhu cầu tiêu thụ tại thị trường Việt nam thì các doanh nghiệp chỉ đáp ứng được một phần nhỏ Chỉ riêng mặt hàng săm lốp ô tô, hàng năm Nhà nước phải bỏ ngoại tệ để nhập về gần 9 triệu chiếc lốp xe các loại từ Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ…Đây là một nghịch lý mà nhiều năm qua ngành cao su đã trăn trở nhưng chưa có giải pháp thiết thực để giải quyết vấn đề

Sơ đồ 2 : Thị trường sản phẩm chế biến từ cao su tại Việt Nam

Nhập khẩu Nội địa 22 - 28%

Ngày đăng: 21/10/2015, 11:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 - Diện tích trồng và sản lượng cao su từ 1986-2000: - PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CAO SU KHU vực MIỀN ĐÔNG NAM bộ
Bảng 2 Diện tích trồng và sản lượng cao su từ 1986-2000: (Trang 6)
Bảng 3 – Biểu đồ Diện tích và Sản lượng cao su qua các giai đoạn: - PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CAO SU KHU vực MIỀN ĐÔNG NAM bộ
Bảng 3 – Biểu đồ Diện tích và Sản lượng cao su qua các giai đoạn: (Trang 7)
Bảng 4 – Bảng phân loại chất lượng vườn cây: - PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CAO SU KHU vực MIỀN ĐÔNG NAM bộ
Bảng 4 – Bảng phân loại chất lượng vườn cây: (Trang 7)
Bảng 5 – Biểu đồ tốc độ tăng năng suất bình quân toàn ngành cao su. - PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CAO SU KHU vực MIỀN ĐÔNG NAM bộ
Bảng 5 – Biểu đồ tốc độ tăng năng suất bình quân toàn ngành cao su (Trang 8)
Bảng 6 – Phân bố các nhà máy chế biến cao su khu vực Đông Nam Bộ. - PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CAO SU KHU vực MIỀN ĐÔNG NAM bộ
Bảng 6 – Phân bố các nhà máy chế biến cao su khu vực Đông Nam Bộ (Trang 9)
Bảng 7: Cơ cấu vốn đầu tư của Tổng Công ty cao su qua các năm. - PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CAO SU KHU vực MIỀN ĐÔNG NAM bộ
Bảng 7 Cơ cấu vốn đầu tư của Tổng Công ty cao su qua các năm (Trang 14)
Sơ đồ sau: - PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CAO SU KHU vực MIỀN ĐÔNG NAM bộ
Sơ đồ sau (Trang 25)
Bảng 9:  So sánh trình độ công nghệ của máy móc thiết bị giữa các ngành. - PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CAO SU KHU vực MIỀN ĐÔNG NAM bộ
Bảng 9 So sánh trình độ công nghệ của máy móc thiết bị giữa các ngành (Trang 26)
Bảng 10: Tình hình SXKD của các công ty miền Đông nam bộ qua các năm. - PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CAO SU KHU vực MIỀN ĐÔNG NAM bộ
Bảng 10 Tình hình SXKD của các công ty miền Đông nam bộ qua các năm (Trang 27)
Sơ đồ 2 : Thị trường sản phẩm chế biến từ cao su tại Việt Nam. - PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CAO SU KHU vực MIỀN ĐÔNG NAM bộ
Sơ đồ 2 Thị trường sản phẩm chế biến từ cao su tại Việt Nam (Trang 28)
Sơ đồ 3:Tỷ lệ vốn đầu tư trong sản xuất sản phẩm cao su ở Việt Nam. - PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CAO SU KHU vực MIỀN ĐÔNG NAM bộ
Sơ đồ 3 Tỷ lệ vốn đầu tư trong sản xuất sản phẩm cao su ở Việt Nam (Trang 29)
Bảng 11: Đánh giá khả năng cạnh tranh và hiệu quả KT-XH trong hội  nhập kinh tế quốc tế của một số hàng nông sản Việt Nam - PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CAO SU KHU vực MIỀN ĐÔNG NAM bộ
Bảng 11 Đánh giá khả năng cạnh tranh và hiệu quả KT-XH trong hội nhập kinh tế quốc tế của một số hàng nông sản Việt Nam (Trang 33)
Bảng 12:Dự báo nhu cầu tiêu thụ và sản lượng sản xuất tại một số quốc gia. - PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CAO SU KHU vực MIỀN ĐÔNG NAM bộ
Bảng 12 Dự báo nhu cầu tiêu thụ và sản lượng sản xuất tại một số quốc gia (Trang 34)
Bảng 13 : Dự báo khả năng tài chính. - PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CAO SU KHU vực MIỀN ĐÔNG NAM bộ
Bảng 13 Dự báo khả năng tài chính (Trang 42)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w