Chính vì vậy mà định hướng xây dựng hệ thống báo cáo tài chính áp dụng cho các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay là: dễ làm, dễ hiểu, dễ kiểm tra, từng bước nâng dần yêu cầu về thông tin
Trang 1D NG LI U MAI KHANH
TP H Chí Minh – N m 2000
Trang 21.2 VÀI NÉT VỀ HỆ THỐNG KẾ TOÁN HIỆN HÀNH Ở VIỆT NAM 7 1.3 HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN 8
1.3.1 Sự phát triển hệ thống báo cáo kế toán từ khi đổi mới nền kinh tế
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN ÁP DỤNG
CHO CÔNG TY DÂY VÀ CÁP ĐIỆN VIỆT NAM 21 2.1 GIỚI THIỆU CÔNG TY DÂY VÀ CÁP ĐIỆN VIỆT NAM (CADIVI) VÀ BỘ MÁY KẾ TOÁN CÔNG TY 21
2.2 THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN ÁP DỤNG
2.3 SỰ CẦN THIẾT CỦA HỆ THỐNG BÁO CÁO QUẢN TRỊ TRONG
Trang 3ÁP DỤNG CHO CÔNG TY DÂY VÀ CÁP ĐIỆN VIỆT NAM 38 3.1 MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN ÁP DỤNG CHO CADIVI 38
3.2 MỘT SỐ Ý KIẾN HOÀN THIỆN HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN ÁP DỤNG CHO CÔNG TY CADIVI 39
Trang 4- 1 -
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trình độ quản lý doanh nghiệp, trong điều kiện mới, đang được nâng cao dần thông qua công tác đào tạo mới và đào tạo lại Chính vì vậy mà định hướng xây dựng hệ thống báo cáo tài chính áp dụng cho các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay là: dễ làm, dễ hiểu, dễ kiểm tra, từng bước nâng dần yêu cầu về thông tin đối với kế toán doanh nghiệp, từng bước hội nhập vào kế toán của các nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần theo kịp trình độ quản lý doanh nghiệp của các nước trong khu vực và trên thế giới; làm cho sự phát triển của kế toán đồng hành với sự phát triển của kinh tế
Tuy nhiên, để thích nghi với môi trường kế toán mới trong giai đoạn hiện nay, các mục tiêu khi xây dựng hệ thống báo cáo tài chính áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam cần đạt được là:
• Phải đáp ứng được nhu cầu cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng, cho từng loại hình doanh nghiệp trước và sau khi thị trường chứng khoán được hình thành ở Việt Nam
• Phải phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế qua việc vận dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế phù hợp với môi trường kế toán đang biến động ở Việt Nam
Kế toán vẫn mang tính pháp lý, song trong khuôn khổ pháp lý, cho phép các doanh nghiệp lựa chọn các giải pháp kế toán thích hợp, vừa đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin "trung thực, hợp lý" cho các nhà đầu tư; các nhà cho vay; vừa đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin "chính xác, hợp pháp" phục vụ cho mục đích quản lý vĩ mô và thu thuế của các cơ quan chức năng của nhà nước
Dễ làm, dễ hiểu, dễ kiểm tra, từng bước nâng dần yêu cầu về thông tin đối với kế toán doanh nghiệp, từng bước hội nhập vào kế toán của các nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần theo kịp trình độ quản lý doanh nghiệp của các nước trong khu vực và trên thế giới; làm cho sự phát triển của kế toán đồng hành với sự phát triển kinh tế
Trang 5giải thích các khái niệm và đối chiếu với thông lệ quốc tế Mục đích cuối cùng là góp phần vào sự hiểu biết một cách khoa học bản chất của các nghiệp vụ và quá trình xử lý để từ đó giúp hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán doanh nghiệp đặc biệt là trong điều kiện quá trình cải cách đang và sẽ tiếp tục diễn ra tại Việt Nam theo xu hướng hội nhập vào nền kinh tế thế giới
II TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay, kế toán là nguồn cung cấp thông tin chủ yếu cho các tác nhân kinh tế để ra quyết định Muốn vậy, hệ thống kế toán của các nước trên thế giới nói chung và hệ thống kế toán Việt Nam nói riêng đã không ngừng hoàn thiện và phát triển, trong đó, hệ thống sẽ định hình cho các hoạt động kinh doanh đang diễn ra trên thị trường Xuất phát từ thực tiễn đó tôi đã quyết định
chọn và thực hiện đề tài: “Một số ý kiến hoàn thiện hệ thống báo cáo
kế toán áp dụng cho Công ty dây và cáp điện Việt Nam (CADIVI)”
nhằm góp phần vào việc phát huy vai trò của doanh nghiệp trong tình hình mới – nền kinh tế hội nhập
III MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Mục đích của đề tài là hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán của công ty CADIVI song song với quá trình Việt Nam đang xây dựng và hoàn thành các chuẩn mực kế toán Việt Nam Với mục đích này, phạm vi nghiên cứu của đề tài là toàn bộ báo cáo kế toán tại công ty CADIVI trên cơ sở nghiên cứu hệ thống báo cáo tài chính hiện hành của Việt Nam nhằm vận dụng có chọn lọc vào điều kiện công ty Phạm vi nghiên cứu của đề tài là toàn bộ hệ thống báo cáo kế toán của doanh nghiệp, xem xét một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn để có những giải pháp hữu ích cho quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán tại doanh nghiệp CADIVI
IV PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng xuyên suốt trong đề tài là phương pháp duy vật biện chứng Dựa vào phương pháp này, vấn đề đánh giá những ưu khuyết điểm của hệ thống báo cáo kế toán của doanh nghiệp trong giai đoạn mới của các doanh nghiệp Việt Nam được xem xét như là một hiện tượng khách quan luôn biến đổi, vận động và do đó hệ thống báo cáo của doanh nghiệp cũng cần được thường xuyên hoàn thiện Một số các nguyên tắc và phương pháp sau đây cũng được quán triệt và vận dụng: nguyên tắc khách
Trang 6- 3 -
nguyên tắc đi từ trừu tượng đến cụ thể, phương pháp diễn dịch- quy nạp, phương pháp hệ thống v.v…
V NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài bao gồm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về kế toán và hệ thống báo cáo kế toán
Chương 2: Thực trạng của hệ thống báo cáo kế toán áp dụng cho Công
ty dây và cáp điện Việt Nam
Chương 3: Một số ý kiến hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán áp dụng
cho Công ty dây và cáp điện Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN VÀ HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ
TOÁN 1.1 KẾ TOÁN VÀ VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN
1.1.1 Định nghĩa kế toán
Quá trình nghiên cứu cho ta thấy định nghĩa về kế toán phụ thuộc vào điều mà những nhóm người khác nhau trong xã hội đòi hỏi ở kế toán vào một thời điểm nào đó Chẳng hạn “Kế toán xã hội chủ nghĩa là công việc tính toán, ghi chép phản ánh bằng con số một cách liên tục, toàn diện và có hệ thống các loạïi vật tư, tiền vốn và mọi hoạt động kinh tế, qua đó mà giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch Nhà nước, tình hình bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa” Hay trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường thì “Kế toán là hoạt động dịch vụ Chức năng của nó là cung cấp thông tin định lượng về các thực thể kinh tế Thông tin chủ yếu là thông tin tài chính nhằm mục đích là có ích cho việc đề ra các quyết định kinh tế”
Ngoài ra còn có các định nghĩa khác như:
Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước Việt Nam đã định nghĩa “Kế toán là công việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ánh kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh, sử dụng vốn và kinh phí nhà nước cũng như các tổ chức, các xí nghiệp” [2,16]
Theo Ủy ban thuật ngữ của Viện kế toán công chứng Hoa Kỳ thì “Kế toán là nghệ thuật ghi chép phân loại và tổng hợp theo cách có ý nghĩa và theo hình thái tiền tệ, các giao dịch và các sự kiện mà ít nhất có một phần đặc tính tài chính và diễn giải kết quả từ chúng” [2,16]
Gần đây kế toán được định nghĩa có liên quan đến thông tin định lượng như sau: “Kế toán là một hoạt động dịch vụ, chức năng của kế toán là cung cấp thông tin định lượng, chủ yếu có bản chất tài chính về những đối tượng kinh tế mà mục tiêu để ra các quyết định kinh tế, lựa chọn giữa các phương án kinh doanh khác nhau” [2,17]
Cho dù có những quan điểm khác nhau nhưng phần lớn các định nghĩa đều hướng đến nội dung “Kế toán là một quá trình thu thập, xử lý và truyền đạt
Trang 8- 5 -
những thông tin có ích về một tổ chức kinh tế cho các đối tượng sử dụng để ra các quyết định kinh tế”
1.1.2 Vai trò của kế toán
Kế toán là công cụ quản lý có vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối với bản thân doanh nghiệp mà còn đối với các cơ quan chức năng của nhà nước cũng như các đối tượng khác có quyền lợi trực tiếp hoặc gián tiếp đối với hoạt động của doanh nghiệp
Đối với Nhà nước: Thông tin của kế toán là căn cứ để tổng hợp, để tính thuế, để kiểm tra và chỉ đạo theo yêu cầu quản lý chung
Đối với Doanh nghiệp: thông tin của kế toán là cơ sở để lập kế hoạch, kiểm tra, đánh giá, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch, kiểm tra việc chấp hành luật pháp và là cơ sở để ra quyết định
Đối với đối tượng khác: thông tin của kế toán là căn cứ để quyết định đầu tư, mua bán, thanh toán cũng như xử lý những vấn đề liên quan đến quyền hạn, trách nhiệm giữa doanh nghiệp với các bên có liên quan
1.1.3 Phân biệt kế toán tài chính và kế toán quản trị
Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, một trong những chức năng quan trọng của kế toán là cung cấp thông tin hữu ích về một thực thể kinh tế cho các đối tượng sử dụng để đề ra các quyết định Tùy theo thông tin do kế toán cung cấp phục vụ cho đối tượng sử dụng nào mà người ta phân biệt kế toán tài chính và kế toán quản trị
• Kế toán tài chính: đưa ra những thông tin kế toán ngoài việc nó được sử dụng trong nội bộ quản lý của doanh nghiệp nó chủ yếu cung cấp thông tin kế toán cho các đối tượng bên ngoài quan tâm đến doanh nghiệp Do đó kế toán tài chính được xây dựng trên những cơ sở chung nhất của tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
• Kế toán quản trị: gắn liền với chức năng cung cấp thông tin hữu ích phục vụ duy nhất cho nội bộ ban quản trị doanh nghiệp để đề ra các quyết định kinh tế về quản trị doanh nghiệp
Trang 9a/ Những điểm khác nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính
Những điểm khác nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính được
tóm tắt bằng bảng sau:
Bảng 1-1: Sự khác biệt giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị
Đối tượng sử dụng thông
Đặc điểm thông tin
bộ về việc hoạch định và kiểm soát hướng đến tương lai
Chuẩn mực của thông tin
- Tôn trọng các nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung
- Không có những chỉ dẫn hoặc hạn chế chỉ có những tiêu chuẩn có ích
- Bất cứ khi nào được cần đến, không nhất thiết trên
cơ sở đều đặn
lệnh Như vậy, kế toán quản trị dùng cho nội bộ của người quản lý; đặt trọng
tâm cho tương lai nhiều hơn; cần số liệu thích hợp và linh động; ít chú trọng đến
tính chính xác của số liệu mà chú trọng đến các số liệu phi tiền tệ; chú trọng
Trang 10- 7 -
đến từng bộ phận của doanh nghiệp hơn là toàn doanh nghiệp; không tuân thủ những nguyên tắc chung của kế toán; không mang tính pháp lệnh
b/ Những điểm giống nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính
• Cả hai bộ phận của hệ thống thông tin kế toán, cùng liên quan đến trách nhiệm và việc quản lý doanh nghiệp
• Đều có liên hệ với hệ thống thông tin kế toán, cùng dựa trên hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán
• Đều cung cấp thông tin hữu ích giúp đối tượng sử dụng ra quyết định
• Đều có khái niệm trách nhiệm và quản lý: kế toán tài chính liên quan đến khái niệm quản lý trên toàn doanh nghiệp, còn kế toán quản trị liên quan đến khái niệm quản lý trên từng bộ phận doanh nghiệp
1.2 VÀI NÉT VỀ HỆ THỐNG KẾ TOÁN HIỆN HÀNH Ở VIỆT NAM
Từ thực tế thử nghiệm và sau đó áp dụng vào thực tiễn, từ những ý kiến, những phương án, giải pháp hoàn thiện hệ thống kế toán doanh nghiệp đã được trao đổi rộng rãi, hệ thống kế toán doanh nghiệp chính thức đã được ban hành theo Quyết định 1141-TC/QĐ/CĐKT ngày 01-11-1995 của Bộ trưởng Bộ tài chính, áp dụng thống nhất trong cả nước từ 01-01-1996
Cùng với hệ thống tài khoản kế toán; chế độ chứng từ kế toán và chế độ sổ kế toán, hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp đã được ban hành theo quyết định trên Ở quyết định này, lần đầu tiên trong tiến trình lịch sử kế toán Việt Nam, thuật ngữ “báo cáo tài chính” được sử dụng trong văn bản pháp quy về kế toán Có thể nói Quyết định 1141-TC/QĐ/CĐKT ngày 01-11-1995 của Bộ trưởng Bộ tài chính là mốc lịch sử đánh dấu sự phân biệt chính thức kế toán tài chính và kế toán quản trị nói chung cùng với hệ thống báo cáo tài chính và hệ thống báo cáo quản trị nói riêng
Nghiên cứu tiến trình lịch sử của kế toán nói chung và hệ thống báo cáo kế toán doanh nghiệp nói riêng ở Việt Nam, chúng ta có thể rút ra một số kết luận sau:
• Trong giai đoạn nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp chưa có sự phân biệt kế toán tài chính và kế toán quản trị nói chung và hệ thống báo cáo tài chính và hệ thống
Trang 11báo cáo quản trị nói riêng do nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng bên ngoài doanh nghiệp – các cơ quan chủ quản và các cơ quan chức năng của Nhà nước – và của các nhà quản trị doanh nghiệp gắn chặt với nhau
• Trong giai đoạn xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng
cơ chế mới về quản lý kinh tế – cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, mầm mống của sự phân biệt kế toán tài chính và kế toán quản trị nói chung và mầm mống của sự phân biệt hệ thống báo cáo tài chính và hệ thống báo cáo quản trị nói riêng đã hình thành do nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng bên ngoài doanh nghiệp – các cơ quan chủ quản và các cơ quan chức năng của Nhà nước – đã tách rời nhu cầu thông tin của các nhà quản trị doanh nghiệp
• Trong giai đoạn nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bắt đầu có sự phân biệt kế toán tài chính và kế toán quản trị nói chung cũng như hệ thống báo cáo tài chính và hệ thống báo cáo quản trị nói riêng, do yếu tố cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh đã hình thành cùng với
cơ chế thị trường; các đối tượng sử dụng thông tin kế toán, bên ngoài doanh nghiệp, được mở rộng-không chỉ là các cơ quan chức năng của Nhà nước mà còn là các nhà đầu tư, các chủ nợ…
1.3 HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN
1.3.1 Sự phát triển hệ thống báo cáo kế toán từ khi đổi mới nền kinh tế
đất nước
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (khóa VI) tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, xác định: “Cơ chế vận hành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác” Quan điểm này tiếp tục được xác định trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (khóa VII) tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII: “…tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
Như vậy, đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là nền kinh tế nhiều thành phần được vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
Trang 12• Đổi mới chế độ kế toán phải được thực hiện một cách căn bản trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực và thông lệ kế toán nền kinh tế thị trường, xóa bỏ các yếu tố của cơ chế kế hoạch hóa tập trung trong kế toán
• Đổi mới chế độ kế toán phải hướng theo một mô hình kế toán kinh tế thị trường tiên tiến và phổ biến trên thế giới, có tính tới điều kiện và khả năng thực tế và yêu cầu quản lý của ta
• Đổi mới chế độ kế toán phải phù hợp và phục vụ có hiệu quả cho việc thu nhận các chỉ tiêu của hệ thống tài khoản kế toán quốc gia (SNA), phải được tiến hành đồng bộ và cùng với việc đổi mới các cơ chế chính sách liên quan trước hết là cơ chế tài chính doanh nghiệp
• Đổi mới chế độ kế toán phải theo hướng tin học hóa và hiện đại hóa công tác kế toán, đồng thời phải đơn giản, dễ làm, dễ kiểm tra, vừa phục vụ được yêu cầu quản trị kinh doanh của cơ sở, vừa đảm bảo đáp ứng yêu cầu quản trị kinh doanh của cơ sở, vừa đảm bảo đáp ứng yêu cầu quản lý và kiểm soát vĩ mô của Nhà nước; được quốc tế chấp nhận
Trên tinh thần đó, Ban nghiên cứu và soạn thảo dự án cải cách hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam đã được thành lập Sau nhiều lần dự thảo với sự tham gia tích cực của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia lý luận và thực tiễn về kế toán, Bộ tài chính đã có quyết định số 1205 và 1206 TC/CĐKT ngày 14/12/1994 ban hành hệ thống tài khoản kế toán và hệ thống báo cáo kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp được chọn thử nghiệm từ 01/01/1995
Tóm lại, thời gian qua, môi trường kế toán Việt Nam có những biến động lớn, chi phối định hướng phát triển kế toán nói chung và hệ thống báo cáo kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp nói riêng Cùng với những thay đổi về cơ chế quản lý kinh tế, khi nền kinh tế còn vận hành trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, hệ thống báo cáo kế toán cũng được hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu
Trang 13thông tin đã thay đổi của các cơ quan chủ quản, các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước Khi cơ chế vận hành nền kinh tế chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống kế toán doanh nghiệp nói chung và hệ thống báo cáo kế toán doanh nghiệp nói riêng đã kịp thời cải cách để đáp ứng nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng trong thời kỳ mới
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường thì báo cáo kế toán được sử dụng như một phương tiện để cung cấp thông tin cho những người sử dụng đề
ra các quyết định kinh tế: “Báo cáo kế toán định kỳ là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, công nợ và nguồn vốn, cũng như tình hình tài chính kết quả kinh doanh trong kỳ của một doanh nghiệp nhằm phục vụ các yêu cầu thông tin cho việc đề ra các quyết định của chủ doanh nghiệp, hội đồng quản trị doanh nghiệp, nhà đầu tư, người cho vay hiện tại, tương lai và các cơ quan tổ chức chức năng“
Thuật ngữ “Báo cáo tài chính“ lần đầu tiên được sử dụng trong Quyết định số 1141 – TC /QĐ/CĐKT ban hành ngày 01/11/1995 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Đây là một bước thay đổi mang ý nghĩa quan trọng vì cùng với việc phân biệt kế toán tài chính và kế toán quản trị trong hệ thống kế toán thì cũng phân biệt hệ thống báo cáo tài chính, kết quả của kế toán tài chính, và hệ thống báo cáo quản trị, kết quả của kế toán quản trị
1.3.2 Định nghĩa báo cáo kế toán
Khi nền kinh tế còn vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung thì: “ Báo cáo kế toán là phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế về tình hình kết quả sản xuất kinh doanh và sử dụng vốn của một đơn vị kế toán trong một thời kỳ nhất định vào một hệ thống biểu mẫu báo cáo đã quy định “
Vậy báo cáo kế toán là một trong các phương pháp của kế toán được sử dụng để thực hiện các chức năng của nó – chức năng phản ánh và kiểm tra đối tượng kế toán trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung
Báo cáo tài chính được định nghĩa dưới nhiều hình thức khác nhau:
• “Báo cáo tài chính được dùng để mô tả hoạt động và tình trạng tài chính của các loại hình tổ chức khác nhau“
Trang 14- 11 -
• “Các báo cáo tài chính chuyển đến ban quản trị và những người bên ngoài có quan tâm một hình ảnh súc tích về khả năng sinh lợi và tình hình tài chính của một doanh nghiệp Chúng là sản phẩm cuối cùng của quá trình kế toán“
Trong “Khuôn mẫu cho việc lập và trình bày các báo cáo tài chính“ của Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) thì:
• “Các báo cáo tài chính (…) được lập và trình bày ít nhất mỗi năm một lần và đã được định hướng theo yêu cầu về thông tin của người sử dụng bên ngoài“
• “Các báo cáo tài chính hình thành nên một bộ phận của quá trình báo cáo tài chính Một bộ báo cáo tài chính hoàn chỉnh thường bao gồm bảng cân đối tài sản, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo luân chuyển tiền tệ (…) và những biểu bảng ghi chú, giải thích khác, là một bộ phận không tách rời của các báo cáo tài chính “
Báo cáo quản trị là những báo cáo chi tiết phục vụ yêu cầu quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh của toàn doanh nghiệp và từng bộ phận doanh nghiệp Tùy theo yêu cầu và khả năng quản lý trong từng ngành, từng doanh nghiệp, từng thành phần kinh tế…mà hệ thống báo cáo kế toán quản trị có thể khác nhau về số lượng cũng như kết cấu nhưng các báo cáo này phải cung cấp được những thông tin cần thiết cho các nhà quản trị trong việc điều hành và quản lý doanh nghiệp
Tóm lại báo cáo kế toán là hệ thống thông tin đã được hệ thống kế toán xử lý nhằm cung cấp thông tin có ích cho người sử dụng để ra các quyết định kinh tế Và tùy theo đối tượng sử dụng, nếu là các đối tượng bên trong doanh nghiệp thì đó là hệ thống báo cáo quản trị, còn nếu cung cấp cho cả các đối tượng sử dụng bên ngoài doanh nghiệp thì đó là hệ thống báo cáo tài chính
1.3.3 Mục đích của báo cáo kế toán
Đối tượng sử dụng báo cáo kế toán và nhu cầu thông tin của họ sẽ quyết định mục đích của báo cáo kế toán, do đó khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, không có sự phân biệt giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị thì cũng không có sự phân biệt về mục đích báo cáo của hai hệ thống này Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường thì sự phân biệt này được thể hiện rõ và mục đích của báo cáo tài chính được xác định trong
Trang 15QĐ1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ trưởng Bộ tài chính về việc ban hành “Chế độ kế toán doanh nghiệp”
“Tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, công nợ, nguồn vốn, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ hạch toán Cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua và những dự đoán trong tương lai Thông tin của báo cáo tài chính là căn cứ quan trọng cho việc đề ra các quyết định về quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoặc đầu tư vào doanh nghiệp của các chủ doanh nghiệp, chủ sở hữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai của doanh nghiệp.”
Ngoài ra mục đích lập báo cáo tài chính còn được xác định trong “Khuôn mẫu cho việc lập và trình bày các báo cáo tài chính” sẽ đáp ứng nhu cầu của người sử dụng thông tin trong việc:
• Dự đoán khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra tiền và các khoản tương đương tiền trong tương lai
• Dự đoán nhu cầu vay trong tương lai
• Dự đoán năng lực của doanh nghiệp trong việc huy động các nguồn tài trơ.ï
• Dự đoán khả năng của doanh nghiệp trong việc thực hiện các cam kết tài chính khi nó đến hạn
• Đánh giá những thay đổi tiềm tàng trong các nguồn lực kinh tế mà doanh nghiệp có thể kiểm soát trong tương lai
• Dự đoán năng lực của doanh nghiệp để tạo ra những dòng tiền từ
cơ sở các nguồn lực hiện có
• Đánh giá hiệu quả mà doanh nghiệp đạt được từ việc sử dụng các nguồn lực bổ sung
• Đánh giá các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo
Trang 16- 13 -
• Đánh giá khả năng tạo ra tiền, các khoản tương đương tiền trong tương lai của doanh nghiệp và nhu cầu sử dụng các nguồn tiền này
Vậy báo cáo tài chính được lập nhằm đáp ứng những yêu cầu chung nhất của hầu hết những người sử dụng Tuy nhiên, các báo cáo tài chính không cung cấp toàn bộ các thông tin mà người sử dụng yêu cầu để ra các quyết định kinh tế vì chúng chỉ đưa ra các ảnh hưởng tài chính quá khứ và cũng không bắt buộc cung cấp các thông tin phi tài chính, do đó báo cáo quản trị được lập nhằm đáp ứng nhu cầu này Nó được lập để cung cấp thông tin hữu ích phục vụ cho việc hoạch định, kiểm soát và ra quyết định của nhà quản trị ở những cấp độ khác nhau phù hợp với đặc điểm hoạt động cụ thể của nhà doanh nghiệp
1.3.4 Yêu cầu đối với báo cáo kế toán
a/ Yêu cầu đối với báo cáo tài chính
¬ Dựa trên hai giả thuyết căn bản là:
• Cơ sở dồn tích
Để đáp ứng được các mục đích của mình, các báo cáo tài chính được lập trên cơ sở kế toán dồn tích Theo cơ sở này, ảnh hưởng của các nghiệp vụ, các sự kiện được hạch toán khi chúng phát sinh (mà không phải vào thời điểm thực tế thu tiền hoặc chi tiền) và chúng được ghi chép trong các báo biểu kế toán và được thể hiện trong các báo cáo tài chính của kỳ mà chúng phát sinh Các báo cáo tài chính được lập trên cơ sở kế toán dồn tích không chỉ thông báo cho người sử dụng các nghiệp vụ đã qua có liên quan đến việc thu chi tiền tệ mà còn thông báo cho người sử dụng các thông tin về các nghĩa vụ doanh nghiệp phải thanh toán và các nguồn tiền doanh nghiệp sẽ thu trong tương lai Vì thế các báo cáo tài chính đó cung cấp những thông tin về các nghiệp vụ quá khứ và các sự kiện khác rất hữu ích để người sử dụng các thông tin đó đưa ra các quyết định hợp lý
• Tính liên tục của hoạt động kinh doanh
Các báo cáo tài chính được lập theo giả định doanh nghiệp đang hoạt động và sẽ tiếp tục hoạt động trong một tương lai có thể dự kiến trước Vì thế, người ta giả định rằng doanh nghiệp không có ý định mà cũng không cần thiết phải từ bỏ hoặc thu hẹp quy mô hoạt động của mình một cách nghiêm trọng Nếu thực tế diễn ra trái với giả định trên đây thì báo cáo tài chính có thể phải
Trang 17được lập theo một giả định khác và như vậy giả định đó sẽ được trình bày cụ thể
¬ Các định tính của một báo cáo tài chính:
• Dễ hiểu
Chất lượng cơ bản của các thông tin do các báo cáo tài chính cung cấp là những thông tin này phải dễ hiểu đối với người sử dụng Người sử dụng ở đây được hiểu là người có kiến thức về kinh doanh và hoạt động kinh tế, hiểu biết về kế toán ở mức vừa phải, sẵn lòng nghiên cứu các thông tin được cung cấp với mức độ tập trung suy nghĩ vừa phải Tuy nhiên, thông tin về những vấn đề phức tạp cần được kèm theo báo cáo tài chính vì nó phục vụ cho các yêu cầu ra các quyết định về quản lý kinh tế của người sử dụng, những thông tin này không thể bị loại ra vì lý do là nó có thể sẽ là rất khó hiểu đối với người sử dụng
• Thích hợp
Để có ích các thông tin phải phù hợp để đáp ứng các yêu cầu đưa ra các quyết định kinh tế của người sử dụng Những thông tin có chất lượng phù hợp là những thông tin có tác động đến quyết định kinh tế của người sử dụng bằng cách giúp họ đánh giá các sự kiện quá khứ, hiện tại hoặc tương lai hoặc xác nhận, chỉnh lý các đánh giá quá khứ của họ
Vai trò xác nhận và dự đoán của các thông tin có quan hệ tương hỗ lẫn nhau Ví dụ các thông tin về mức độ tài sản và cơ cấu tài sản rất có giá trị với người sử dụng khi họ muốn dự đoán khả năng của doanh nghiệp để tận dụng cơ hội và phản ứng với các tình huống ngược lại Các thông tin tương tự đóng vai trò xác nhận về các chuẩn đoán quá khứ, ví dụ, tìm ra cách thức để xây dựng nên doanh nghiệp hoặc lập kế hoạch kinh doanh
Các thông tin về tình hình tài chính và tình hình kinh doanh đã qua thường được sử dụng như những căn cứ để dự đoán tình hình tài chính tương lai Tuy nhiên, khả năng dự đoán từ các thông tin lấy trong các báo cáo tài chính sẽ được tăng cường thông qua cách trình bày các sự kiện nghiệp vụ đã qua Ví dụ, dự đoán giá trị của báo cáo thu sẽ có giá trị xác thực hơn nếu như các khoản mục bất thường, khoản mục đặc biệt, khoản mục không định kỳ của thu nhập hoặc chi phí được trình bày riêng biệt
Trang 18- 15 -
• Trọng yếu
Tính thích hợp của các thông tin còn chịu ảnh hưởng bởi bản chất và tính trọng yếu của thông tin đó Trong một số trường hợp, chỉ cần bản chất của các thông tin cũng đủ để xác định tính phù hợp của những thông tin đó Ví dụ, khi báo cáo về một bộ phận mới có thể sẽ có ảnh hưởng tới việc đánh giá các rủi ro và các thuận lợi mà doanh nghiệp sẽ gặp trong tương lai bất kể tính trọng yếu của những kết quả mà bộ phận mới sẽ đạt trong kỳ báo cáo Trong những trường hợp khác cả bản chất và tính trọng yếu đều rất quan trọng, ví dụ, giá trị hàng tồn kho hiện có của đơn vị được phân theo chủng loại chính phù hợp với hoạt động kinh doanh
Các thông tin được coi là trọng yếu nếu không có hoặc xác định sai những thông tin đó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyết định kinh tế của người sử dụng thông tin Mức độ trọng yếu lại tùy thuộc vào mức độ của hạng mục hoặc mức độ của các sai lầm mà trong hoàn cảnh cá biệt nào đó đã bị bỏ sót hoặc xác định sai Vì vậy, khái niệm trọng yếu đưa ra một ngưỡng hơn là một định tính mà thông tin phải chứa đựng nếu nó là hữu ích
• Đáng tin cậy
Để hữu ích thông tin phải đáng tin cậy Các thông tin có chất lượng đáng tin cậy khi chúng không mắc những sai lầm nghiêm trọng hoặc phản ánh méo mó một cách cố ý và có thể phụ thuộc vào người sử dụng các thông tin đó cho một mục đích khách quan hợp lý
Các thông tin có thể thích hợp nhưng lại không đáng tin cậy về bản chất hoặc cách trình bày bởi vì các thông tin này có thể có những sai lầm mà người
ta chưa phát hiện ra Ví dụ nếu trị giá của khoản tiền đòi bồi thường trong một vụ kiện tụng tranh chấp có thể sẽ là không hợp lý khi ta công nhận toàn bộ số tiền này trong bảng tổng kết tài sản nhưng sẽ là hợp lý khi ta trình bày khoản tiền đó ở tài liệu bổ sung
Trang 19• Trình bày trung thực
Để có độ tin cậy, các thông tin phải được trình bày một cách trung thực về những giao dịch và các sự kiện khác có liên quan Nó trợ giúp cho việc trình bày hoặc có thể được dự kiến là hợp lý để trình bày Vì vậy bảng tổng kết tài sản cần trình bày một cách trung thực các nghiệp vụ, sự kiện khác có liên quan đến việc đánh giá tài sản có, công nợ và vốn cổ phần của doanh nghiệp vào thời điểm lập báo cáo mà những chỉ tiêu đó đáp ứng được các yêu cầu của các tiêu thức hạch toán
Hầu hết các thông tin tài chính đều phụ thuộc vào một số rủi ro do việc trình bày chưa xác thực với tình hình thực tế, ví dụ thông tin không khách quan vô tư hoặc do những khó khăn tiềm tàng trong việc xác định các nghiệp vụ, sự kiện khác mà lẽ ra những thông tin đó phải được xác định một cách chuẩn xuất phát từ những nghiệp vụ, những sự kiện thực tế Trong một số trường hợp việc tính toán ảnh hưởng tài chính của các chỉ tiêu có thể không thật chắc chắn đến nỗi mà thường doanh nghiệp không dám công nhận chúng trong báo cáo tài chính của mình, ví dụ, mặc dù hầu hết các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh đều có cố gắng xây dựng uy tín nhưng thật khó tính toán khi xác định chỉ tiêu này một cách đáng tin cậy Trong những trường hợp khác, có thể sẽ là thích hợp khi hạch toán các khoản mục và trình bày các rủi ro sai lầm xung quanh việc hạch toán và đánh giá chúng
• Nội dung hơn hình thức
Nếu thông tin được trình bày một cách trung thực về những nghiệp vụ và sự kiện khác mà chúng phải trình bày, điều cần thiết ở đây là những thông tin đó được tính toán và trình bày phù hợp với bản chất kinh tế và hình thái sở hữu chứ không đơn thuần chỉ là hình thức pháp lý của chúng Hình thái của các giao dịch hoặc các sự kiện khác không phải lúc nào cũng nhất quán với hình thức pháp lý hoặc hình thức cơ cấu của chúng Ví dụ, một doanh nghiệp có thể nhượng bán một tài sản cho doanh nghiệp khác theo phương thức nào đó để lập thành những chứng từ chuyển giao quyền sở hữu pháp lý cho người mua, nhưng cũng có thể trong thỏa thuận mua bán sẽ có một điều khoản là doanh nghiệp tiếp tục được hưởng các lợi ích kinh tế do tài sản này mang lại trong tương lai Trong những trường hợp như vậy việc báo cáo bán hàng sẽ không trình bày được toàn bộ các nghiệp vụ phát sinh (nếu có giao dịch)
Trang 20- 17 -
• Tính khách quan
Để có độ tin cậy cao, thông tin trong các báo cáo tài chính phải khách quan, không bị xuyên tạc, bóp méo một cách vô lý Các báo cáo tài chính sẽ không được coi là khách quan nếu như bằng việc lựa chọn hoặc trình bày thông tin chúng có ảnh hưởng đến việc ra các quyết định hoặc xét đoán và cách lựa chọn trình bày đó nhằm đạt đến kết quả mà người lập báo cáo đã biết trước
• Thận trọng
Tuy nhiên, những người lập các báo cáo tài chính thường phải trình bày các nội dung về nhiều sự kiện, tình thế không chắc chắn khó có thể tránh được, chẳng hạn như khả năng thu hồi các khoản phải thu khó đòi, thời gian hữu dụng có thể của máy móc thiết bị và số lượng các trái quyền có thể phát sinh Các yếu tố không chắc chắn như vậy được hạch toán bằng cách trình bày nội dung bản chất của nó và thực hiện nguyên tắc thận trọng trong việc lập các báo cáo tài chính Thận trọng bao gồm cả mức độ lường trước các sự kiện cần xét đoán trong quá trình dự đoán trên cơ sở những dữ liệu không thật chắc chắn, ví dụ như tài sản và thu nhập thì không được tính cao lên, ngược lại công nợ và chi phí lại không được tính thấp xuống Tuy nhiên việc thực hiện tính thận trọng cũng không có nghĩa là che dấu nguồn dự trữ hoặc lập các quỹ dự phòng lớn hơn yêu cầu thực tế Việc cố ý ghi giá trị của các tài sản hoặc thu nhập thấp hơn thực tế hoặc xác định chi phí công nợ cao hơn thực tế không được coi là sự thận trọng mà là xuyên tạc sự thật và điều này sẽ dẫn đến việc các thông tin trong báo cáo tài chính thiếu khách quan
• Đầy đủ
Để có độ tin cậy, các thông tin trong các báo cáo tài chính phải được hoàn tất trong phạm vi những vấn đề trọng yếu và chi phí bỏ ra Một sự bỏ sót có thể gây ra những thông tin sai lệch dẩn đến những kết luận nhầm lẫn và như vậy các thông tin không được coi là thích hợp vì chúng không đầy đủ và không đáng tin cậy
• Có thể so sánh được
Người sử dụng phải có khả năng so sánh các thông tin trong các báo cáo tài chính của kỳ này với kỳ trước để xác định xu hướng biến động về tình hình tài chính và kinh doanh của doanh nghiệp Người sử dụng cũng phải so sánh các
Trang 21báo cáo tài chính của các doanh nghiệp khác nhau để đánh giá mối tương quan về tình hình tài chính và tình hình kinh doanh và các thay đổi về tình hình tài chính giữa các doanh nghiệp Vì vậy, việc xác định tính toán và trình bày các ảnh hưởng tài chính của các giao dịch và các sự kiện khác như vậy phải được tiến hành một cách nhất quán giữa kỳ này với các kỳ khác trong phạm vi một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp với nhau
Một ngụ ý quan trọng của tính chất định tính về tính có thể so sánh được là người sử dụng phải được thông báo về các chính sách kế toán mà doanh nghiệp áp dụng để lập các báo cáo tài chính cũng như mọi thay đổi về các chính sách này và ảnh hưởng của những thay đổi đó Người sử dụng cần có thể xác định sự khác biệt giữa các chính sách kế toán đối với các giao dịch và các sự kiện mà một doanh nghiệp đã sử dụng giữa kỳ này với kỳ khác và giữa các doanh nghiệp khác nhau Tuân thủ các Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế, bao gồm việc trình bày các chính sách kế toán mà doanh nghiệp đã sử dụng, giúp cho các báo cáo tài chính có thể so sánh được với nhau
Sự cần thiết cho việc so sánh được sẽ không bị lẫn lộn với tính đồng nhất đơn thuần và không được phép gây trở ngại trong việc áp dụng và nâng cao các chuẩn mực kế toán Vì người sử dụng muốn so sánh sự biến động về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh qua các kỳ khác nhau, cho nên bất kỳ một doanh nghiệp nào khi thực hiện các phương pháp kế toán giống nhau đối với các giao dịch và dữ kiện thì sẽ không thích hợp nếu như chính sách kế toán tuân theo đó không giữ được tính chất về định tính, tính phù hợp và độ tin cậy
¬ Những hạn chế về tính phù hợp và tin cậy của thông tin
• Kịp thời
Nếu có sự chậm trể trong việc báo cáo các thông tin thì sự chậm trể đó có thể làm mất đi tính phù hợp của các thông tin Các nhà quản lý có thể cần sự cân đối giữa việc báo cáo đúng kỳ với việc cung cấp các thông tin đáng tin cậy Để cung cấp những thông tin trên cơ sở kịp thời người ta cho rằng cần thiết phải báo cáo trước khi tất cả các phương diện giao dịch hoặc sự kiện được nhận biết
Ngược lại, việc báo cáo chậm trể khi mà tất cả các phương diện đều được biết thì các thông tin có thể có độ tin cậy cao nhưng sẽ có rất ít tác dụng cho việc đưa ra các quyết định kinh tế kịp thời Để đạt được sự cân đối về tính phù hợp và độ tin cậy người ta phải cân nhắc sao cho phải phục vụ tốt nhất cho các yêu cầu ra các quyết định kinh tế của người sử dụng
Trang 22- 19 -
• Cân đối giữa lợi ích và chi phí
Cân đối giữa lợi ích và chi phí là một hạn chế hơn là tính chất định tính Lợi ích từ các thông tin phải cao hơn những chi phí bỏ ra để có được thông tin đó Tuy nhiên, việc đánh giá lợi ích và chi phí chủ yếu là một quá trình xét đoán
Hơn nữa các chi phí không cần thiết là phải tính cho những người sử dụng dù họ có thể hưởng lợi ích từ những thông tin mà họ thu được Các lợi ích cũng có thể người sử dụng thông tin được hưởng nhiều hơn là những người cung cấp thông tin, ví dụ, việc cung cấp thông tin bổ sung cho những người cho vay có thể làm giảm bớt các chi phí đi vay của doanh nghiệp.Vì vậy, sẽ rất là khó khăn khi người ta kiểm tra tính toán cân đối giữa lợi ích và chi phí trong mọi trường hợp cá biệt Hơn nữa, những người soạn thảo các chuẩn mực nói riêng cũng như những người lập và báo cáo tài chính phải nhận thức được hạn chế này
• Cân đối giữa các tính chất định tính
Trên thực tế việc cân đối hoặc sự cân bằng giữa các tính chất định tính thường là rất cần thiết Nói chung thì việc đạt được sự cân đối hợp lý giữa các tính chất định tính nhằm để đáp ứng mục đích của các báo cáo tài chính luôn luôn là mục tiêu của người lập và người sử dụng các báo cáo tài chính Tầm quan trọng tương đối của các tính chất định tính trong những trường hợp khác nhau đó là xét đoán chuyên môn
b/ Yêu cầu đối với báo cáo quản trị
Nhìn chung yêu cầu đối với những thông tin trên báo cáo quản trị cũng giống như những yêu cầu đối với những thông tin trên báo cáo tài chính nhưng những yêu cầu nói trên cũng có những đặc điểm như sau:
• Tính thích hợp của thông tin trên báo cáo quản trị thể hiện ở chỗ thông tin đó phải thích hợp với từng nhà quản trị, từng quyết định cụ thể và từng bộ phận trong doanh nghiệp
• Thông tin trên báo cáo quản trị chủ yếu phục vụ cho nội bộ doanh nghiệp nên tính so sánh của nó chỉ trong phạm vi từng phương án, từng bộ phận thực hiện các chức năng, từng trung tâm trách nhiệm trong doanh nghiệp
Trang 23• Trong khi báo cáo tài chính mang tính bắt buộc thì báo cáo quản trị mang tính hướng dẩn do đó doanh nghiệp chỉ lập báo cáo quản trị khi thông tin trên báo cáo đó mang lại lợi ích cao hơn chi phí bỏ ra để có được thông tin đó Vì vậy, yêu cầu cân đối giữa lợi ích và chi phí của thông tin trên báo cáo quản trị là quan trọng
Tuy nhiên, thông tin trên báo cáo quản trị chủ yếu hướng về tương lai, phục vụ cho việc hoạch định, kiểm soát, ra quyết định của các nhà quản trị và không chịu sự chi phối của các nguyên tắc kế toán được quy định do đó tính có ích, tính kịp thời của thông tin là yêu cầu rất quan trọng
Tóm lại, hệ thống báo cáo kế toán là nguồn cung cấp thông tin quan trọng cho nhiều đối tượng sử dụng khác nhau để đề ra các quyết định kinh tế Tùy vào đối tượng sử dụng thông tin cũng như tính chất thông tin mà hệ thống báo cáo kế toán được chia thành hệ thống báo cáo tài chính và hệ thống báo cáo quản trị Báo cáo tài chính chủ yếu phục vụ cho đối tượng sử dụng bên ngoài và được soạn thảo theo những nguyên tắc kế toán quy định nhằm cung cấp những thông tin có ích và có độ tin cậy cao Còn báo cáo quản trị thì chỉ phục vụ cho nội bộ doanh nghiệp và được trình bày theo yêu cầu của bản thân doanh nghiệp nên nó không chịu sự chi phối của các nguyên tắc kế toán mà mang tính đa dạng và linh hoạt cao để giúp cho nhà quản trị ở các cấp độ quản lý khác nhau trong doanh nghiệp đạt được hiệu quả cao nhất trong việc thực hiện các chức năng quản lý của mình
Trang 24- 21 -
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN ÁP DỤNG CHO CÔNG TY DÂY VÀ CÁP ĐIỆN VIỆT NAM 2.1 GIỚI THIỆU CÔNG TY DÂY VÀ CÁP ĐIỆN VIỆT NAM (CADIVI) VÀ BỘ MÁY KẾ TOÁN CÔNG TY
2.1.1 Vài nét về Công ty CADIVI
a/ Lịch sử hình thành Công ty CADIVI
Công ty Dây và Cáp Điện Việt Nam - CADIVI thành lập ngày
16-10-1975 theo Quyết định số 220/TC LK của Tổng cục trưởng Tổng cục Cơ Khí Luyện Kim và Điện Tử với tên gọi lúc bấy giờ là Công Ty Dây Đồng Miền Nam, trên cơ sở thống nhất quản lý các xí nghiệp thuộc ngành dây và cáp điện của 10 doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và Khu Công nghiệp Biên Hòa-Đồng Nai được hình thành trong chế độ cũ trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng - 30/4/1975, sau đó lần lượt được đổi tên:
• Công ty Luyện Kim Màu - Quyết định số 237/CP ngày 3-12-1976 của Thủ tướng Chính Phủ
• Xí nghiệp Liên Hiệp Cán Kéo Dây Đồng và Nhôm - Quyết định số 210 ngày 29-9-1982 của Bộ Trưởng Bộ Cơ Khí Luyện Kim
• Xí nghiệp Liên Hiệp Dây và Cáp Điện - CADIVI - Quyết định số 207/CL-TC ngày 6-11-1989 của Bộ Trưởng Bộ Cơ Khí Luyện Kim
• Công ty Dây và Cáp Điện Việt Nam - CADIVI - Quyết định số 238/CL-TC CBĐT ngày 23-03-1995 của Bộ Trưởng Bộ Công Nghiệp Nặng
Công ty Dây và Cáp Điện Việt Nam - CADIVI thuộc Tổng Công ty Thiết Bị Kỹ Thuật Điện - Bộ Công Nghiệp Nặng, nay là Bộ Công Nghiệp, là doanh nghiệp nhà nước chuyên sản xuất, chế tạo các loại dây và cáp điện phục vụ rộng rãi cho các ngành kinh tế quốc dân và các nhu cầu sử dụng dây và cáp điện trong sinh hoạt thường ngày
Công ty Dây và Cáp Điện Việt Nam còn sản xuất các thiết bị chuyên dùng như: máy biến áp 1 pha 25-75-100 KVA, động cơ điện, cầu dao điện, biến
Trang 25dòng điện, hạt PVC, cáp bọc cao su, cáp điều khiển… và các loại sản phẩm khác như: nhôm hình phục vụ xây dựng cơ bản, trang trí nội thất…
Hiện nay Công ty Dây và Cáp Điện Việt Nam là đơn vị chủ yếu sản xuất kinh doanh sản phẩm dây và cáp điện có chất lượng cao trên thị trường trong nước
Công ty Dây và Cáp Điện Việt Nam (Vietnam Electric Wire and Cable
Corp) tên giao dịch là CADIVI
Các xí nghiệp thành viên của CADIVI:
1 Xí nghiệp Thành Mỹ (THAMYCO) - Khu Công nghiệp Biên Hòa Đồng Nai
2 Xí nghiệp Tân Á ( SUNAWICA) - Q Tân Bình - TP Hồ Chí Minh
3 Xí nghiệp Long Biên (VIDICO) - Khu Công nghiệp Biên Hòa Đồng Nai
4 Xí nghiệp Khí Cụ Điện 2 - Q 6 -TP Hồ Chí Minh
5 Xí nghiệp Việt Thái (VITHAICO) - Khu Công nghiệp Biên Hòa Đồng Nai
b/ Những đặc điểm chủ yếu về tổ chức quản lý và phân cấp quản lý:
¬ Đặc điểm tổ chức quản lý
Công ty Dây và Cáp điện Việt Nam thực hiện chế độ quản lý hai cấp: cấp công ty và cấp các xí nghiệp phụ thuộc, trực thuộc Công ty là cấp quản lý tập trung thống nhất, các xí nghiệp thành viên tùy theo đặc điểm mà được công
ty phân quyền hạn và một số mặt quản lý nhất định Hầu hết các xí nghiệp đều hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế nội bộ trừ Xí nghiệp Khí Cụ Điện
2 hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế độc lập
Ở công ty: giúp việc cho giám đốc có các phó giám đốc (phụ trách kinh doanh, kỹ thuật) và các phòng chuyên môn (kế hoạch vật tư, tổ chức hành
Trang 26Nhiệm vụ của các phòng chuyên môn ở các xí nghiệp:
• Cụ thể hóa và triển khai theo dõi những nội dung chuyên môn được công ty giao cho xí nghiệp
• Báo cáo tình hình, kết quả công việc cho các phòng chuyên môn của công ty
Tuy phòng chuyên môn ở xí nghiệp trực thuộc chịu sự chỉ đạo chuyên môn của công ty nhưng vẫn có tính chất hoạt động độc lập tương đối của nó
Bộ máy quản lý ở các đơn vị trực thuộc và phụ thuộc chịu trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch do công ty giao trong phạm vi chức năng quyền hạn của mình
¬ Phân cấp quản lý kinh tế tài chính công ty
Là doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân đầy đủ, công ty CADIVI là cấp quản lý cao nhất chịu trách nhiệm trước Nhà nước trong việc thống nhất quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn, vật tư, lao động, quản lý toàn bộ quy trình công nghệ, chỉ đạo mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn công ty Công ty là cấp trực tiếp quan hệ với ngân sách nhà nước về vốn sản xuất và phân phối kết quả sản xuất
Các đơn vị phụ thuộc và trực thuộc có nhiệm vụ tổ chức sản xuất kinh doanh trong phạm vi nhiệm vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được giao, chịu trách nhiệm quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả tài sản, tiền vốn mà công
ty cấp phát Ngoài ra, xí nghiệp trực thuộc thì được giao quyền hoạt động như một doanh nghiệp độc lập
2.1.2 Bộ máy kế toán của CADIVI
a/ Tổ chức bộ máy kế toán
¬ Hình thức tổ chức bộ máy kế toán
Trang 27Phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất, nội dung, mức độ phân cấp quản lý và để đáp ứng yêu cầu quản lý chỉ đạo sản xuất, Công ty CADIVI tổ chức kế toán theo hình thức vừa tập trung vừa phân tán
¬ Nhiệm vụ của phòng kế toán công ty và các xí nghiệp phụ thuộc, trực thuộc:
• Phòng kế toán công ty
- Tổ chức toàn bộ công tác kế toán của hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
- Hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại văn phòng công
ty và các nghiệp vụ kinh tế có liên quan giữa công ty và các
xí nghiệp trực thuộc, phụ thuộc
- Tổng hợp và lập báo cáo quyết toán toàn công ty
- Hướng dẩn và kiểm tra công tác kế toán ở các đơn vị trực thuộc và phụ thuộc
• Phòng kế toán của các xí nghiệp phụ thuộc
- Thu thập, xử lý các chứng từ ban đầu, lập một số bảng kê chi tiết phục vụ trực tiếp cho yêu cầu quản lý và chỉ đạo sản xuất của xí nghiệp, báo cáo về phòng kế toán của công ty để tổ chức hạch toán chi tiết và tổng hợp
- Mở một số sổ chi tiết phục vụ cho hạch toán kinh tế nội bộ
• Phòng kế toán của các xí nghiệp trực thuộc
- Hạch toán chi tiết và tổng hợp toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại xí nghiệp
- Cung cấp số liệu và lập báo cáo quyết toán gởi về phòng kế toán công ty
¬ Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán
Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán của công ty CADIVI được tóm tắt bằng
sơ đồ (Xem hình 2-1):
Trang 28¬ Hệ thống tài khoản sử dụng
• Phòng kế toán công ty: để phản ánh toàn bộ tình hình vốn, nguồn vốn, tình hình hoạt động và kết quả sản xuất kinh doanh của toàn công ty, kế toán có thể sử dụng tất cả các tài khoản trong hệ thống tài khoản do Bộ tài chính quy định
• Phòng kế toán của các xí nghiệp phụ thuộc: không sử dụng các
TK 121, 128, 129, 131, 161, 221, 222, 228, 229, 311, 341, 451,
461, 511, 512, 521, 531, 532, 632, 642, 711, 811, 911
Trang 29SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN
Hình 2-1: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
Kế toán trưởng phụ trách chung và mảng tài chính
Phó kế toán trưởng phụ trách kế toán
Trưởng phòng kế toán tài vụ tại các xí nghiệp
Phòng kế toán tài vụ Kế
toán thanh toán
Kế toán vật
tư
Kế toán TSCĐ và XDCB
Kế toán giá thành
Kế toán thành phẩm và tiêu thụ
Kế toán tổng hợp
Phòng kế toán tài vụ công ty Kế
toán
thanh
toán
Kế toán vật tư
Kế toán TSCĐ và XDCB
Kế toán giá thành
Kế toán thành phẩm và tiêu thụ
Kế toán tổng hợp
Trang 30- 27 -
Ngoài ra, giữa công ty và các xí nghiệp phụ thuộc còn sử dụng một số tiết khoản được quy định như sau:
TK13687 Thanh toán nội bộ về thuế giá trị gia tăng được khấu trừ
TK136810 Thanh toán nội bộ khác được chuyển
TK33687 Thanh toán nội bộ về thuế giá trị gia tăng được khấu trừ
TK336810 Thanh toán nội bộ khác được chuyển
xí nghiệp phụ thuộc.)
• Phòng kế toán của các xí nghiệp trựcï thuộc: được trao quyền hạch toán độc lập nên để phản ánh mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại
xí nghiệp thì phòng kế toán có thể sử dụng tất cả các tài khoản trong hệ thống tài khoản do Bộ tài chính quy định
Trang 31¬ Hệ thống báo cáo kế toán: bao gồm các loại báo cáo kế toán gởi cho phòng kế toán công ty
• Bảng cân đối tài khoản
• Chi phí bán hàng
• Chi phí quản lý phân xưởng
• Giá thành sản phẩm
• Tiêu thụ
• Tăng giảm tài sản cố định
• Công nợ phải thanh toán
¬ Một số nghiệp vụ chủ yếu ở các xí nghiệp phụ thuộc
• Giao nhận vật tư nội bộ giữa công ty và các xí nghiệp
• Bán hàng ở xí nghiệp nội bộ
+ Khi xí nghiệp bán hàng
NơÏ TK131/CoÙ TK511,TK333 Hai bút toán của công ty thường được thực hiện ở cuối quý
+ Khi xí nghiệp thu tiền bán hàng
Nợ TK111/CoÙ TK 13882 + Khi xí nghiệp nộp tiền bán hàng cho công ty
Trang 322.2.1 Thực trạng của hệ thống báo cáo quản trị trong CADIVI
Hiện nay, nền kinh tế đã chuyển biến từ cơ chế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để có thể đứng vững trong thị trường đầy tính cạnh tranh này thì Công ty CADIVI cũng đã lập ra một hệ thống thông tin nội bộ để giúp các nhà quản trị nắm bắt nhanh thời cơ và đưa
ra những quyết định kịp thời hợp lý
Hàng tháng, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì các phòng chức năng ở các xí nghiệp đều lập:
• Kế hoạch tiêu thụ (Xem Phụ lục II.17 )
• Kế hoạch sản xuất (Xem Phụ lục II.18 )
• Báo cáo vật tư chủ yếu cho sản xuất (Xem Phụ lục II.19)
Và gởi cho các phòng chức năng trên công ty Sau đó, các phòng này lập các kế hoạch ở quy mô toàn công ty, quy mô xí nghiệp như:
• Phòng kinh doanh dựa vào các hợp đồng kinh tế đã ký kết, các đơn đặt hàng và khả năng tiêu thụ của các xí nghiệp để lập kế hoạch tiêu thụ (Xem Phụ lục II.11, II.12)
• Phòng kế hoạch vật tư dựa vào kế hoạch tiêu thụ và báo cáo tồn kho lập kế hoạch sản xuất (kế hoạch mua và sử dụng nguyên liệu) (Xem Phụ lục II.13, II.14, II.15)
• Phòng lao động tiền lương dựa vào kế hoạch sản xuất để lập kế hoạch tiền lương (Xem Phụ lục II.16 )
Kế hoạch
tiêu thụï Kế hoạch sản xuất
Kế hoạch mua và sử dụng NVL
Kế hoạch tiền lương
Trang 33Hình 2-2: Mô hình lập kế hoạch hàng tháng của CADIVI
Trong quá trình kế toán chi tiết của hệ thống kế toán, các tài khoản chi tiết, sổ kế toán chi tiết, các báo cáo chi tiết đã được thiết kế lại theo nhu cầu quản lý và tổng hợp thành các báo cáo đặc thù, sử dụng cho từng mục tiêu quản trị khác nhau Để đánh giá trách nhiệm của từng giám đốc xí nghiệp, hàng quý các phòng kế toán các xí nghiệp phải nộp các báo cáo sau cho phòng kế toán công ty:
• Chi phí bán hàng
• Chi phí quản lý phân xưởng
• Giá thành sản phẩm
• Bảng kê tiêu thụ
• Chi tiết các tài khoản công nợ
Trên cơ sở đó, phòng kế toán công ty có thể lập báo cáo phân tích giá thành giữa các xí nghiệp thành viên, hay báo cáo phân tích việc thực hiện kế hoạch của các xí nghiệp thành viên
Bên cạnh đó để giúp cho ban giám đốc có thể đưa ra những quyết định đúng đắn về những sản phẩm mới và phương án sản xuất mới thì phòng kế toán
xí nghiệp hoặc công ty tùy theo yêu cầu có thể lập những báo cáo như:
• Giá ước tính của sản phẩm
• Dự án đầu tư dài hạn
2.2.2 Thực trạng của hệ thống báo cáo tài chính trong CADIVI
Cuối quý, sau khi kế toán các xí nghiệp phụ thuộc và công ty đối chiếu các TK1368 với TK3368 với nhau thì kế toán tổng hợp thuộc phòng kế toán công ty sẽ loại bỏ các tài khoản này trên các bảng cân đối tài khoản Sau đó, kế toán dựa vào các bảng cân đối đã điều chỉnh, các bảng tiêu thụ, chi phí bán hàng… và cộng các chỉ tiêu lại với nhau theo từng loại tài sản lưu động, tài sản cố định, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí, thu nhập để lập
ba biểu báo cáo:
Trang 34• Các đối tượng kế toán hoàn toàn mới, phát sinh trong nền kinh tế thị trường: các khoản đầu tư tài chính; các khoản thế chấp, ký quỹ, ký cược; tài sản cố định thuê tài chính; tài sản cố định vô hình; các khoản chiết khấu bán hàng; các khoản giảm giá hàng bán…đã được trình bày trên báo cáo tài chính
• Các chỉ tiêu của hệ thống báo cáo tài chính được xây dựng trên cơ sở tuân thủ các yêu cầu của báo cáo tài chính trong cơ chế thị trường, đặc biệt là yêu cầu thận trọng: các chỉ tiêu về dự phòng giảm giá các khoản đầu tư; dự phòng các khoản phải thu khó đòi; dự phòng giảm giá hàng tồn kho; các chỉ tiêu liên quan đến chi phí thời kỳ như chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp…
• Cung cấp được những thông tin đáng tin cậy, đáp ứng hầu hết các nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng trong việc đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp và dự đoán tình hình tài chính tương lai bằng sự phân biệt rõ ràng tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn, nợ ngắn hạn, nợ dài hạn trên bảng cân đối kế toán, bằng việc tính toán lợi tức qua nhiều bước; phân biệt lợi tức theo từng loại hoạt động… Với lượng thông tin này, ban lãnh đạo doanh nghiệp có thể thực hiện các quyết định kinh doanh kịp thời và hiệu quả
• Đã thấy được tầm quan trọng của hệ thống thông tin nội bộ và bước đầu đã có những ý tưởng về báo cáo quản trị
• Đã lập những báo cáo có tính chất là cơ sở định hướng, cơ sở kiểm tra đánh giá mọi hoạt động kinh doanh của các bộ phận trong
Trang 35công ty dẩn đến tăng cường trách nhiệm quản lý và điều hành của công ty
• Đã lập được dự toán tiêu thụ, dự toán sản xuất, tương đối chính xác theo hướng có kết hợp giữa nhà quản trị cấp thấp và nhà quản trị cấp cao nên vừa khuyến khích được nhân viên làm việc tốt hơn và các chỉ tiêu kế hoạch cũng không có xu hướng hạ thấp xuống
b/ Nhược điểm
¬ Báo cáo tài chính
• Khi lập báo cáo tài chính cho toàn công ty các chỉ tiêu được cộng gộp lại với nhau sau khi đã loại bỏ các tài khoản nội bộ, do đó báo cáo tài chính không phản ánh chính xác các chỉ tiêu doanh thu, giá vốn hàng bán, thu nhập, trị giá hàng tồn kho và các khoản phải thu (tăng một cách giả tạo do hoạt động bán hàng giữa XN Khí Cụ Điện 2 và công ty cũng như với các xí nghiệp khác trong công ty
• Khoản mục “Nhận ký quỹ, ký cược” trên báo cáo tài chính được trình bày theo chế độ kế toán doanh nghiệp:”Trường hợp thế chấp bằng giấy tờ (giấy chứng nhận sở hữu nhà, đất, tài sản) không phản ảnh trên tài khoản mà chỉ theo dõi trên sổ chi tiết.” nên chỉ thể hiện phần tài sản thế chấp mà công ty cầm giữ thật sự trong khi đó phần lớn các đại lý của công ty đều thế chấp bằng giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản hay quyền sử dụng đất Điều đó dẫn đến vi phạm tính đầy đủ của báo cáo tài chính và tương tự khoản mục “Các khoản mục thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn” cũng vậy
• Khi lập báo cáo tài chính cho toàn công ty các chỉ tiêu được cộng gộp lại với nhau sau khi đã loại bỏ các tài khoản nội bộ và do quy định của phòng kế toán công ty khi bán hàng, các xí nghiệp phụ thuộc phản ánh khoản phải thu khách hàng trên TK13882 Do đó, khoản mục “Phải thu của khách hàng” trên bảng cân đối kế toán chỉ phản ánh khoản phải thu của khách hàng giao dịch tại công ty và tại XN Khí cụ điện 2; còn các khoản phải thu khách hàng của các xí nghiệp khác thì được thể hiện trên khoản mục “Các khoản phải thu khác” Điều này làm cho người đọc báo cáo có cái nhìn lệch lạc về tình hình tài chính của công ty
Trang 36- 33 -
• Khoản mục “Nợ dài hạn đến hạn trả” chứa trong nó hai nội dung nợ dài hạn đến hạn trả và nợ đã quá hạn trả Khi phản ánh khoản mục này trên báo cáo tài chính thì người đọc chỉ biết là trong kỳ tới doanh nghiệp cần một lượng tiền như thế này để thanh toán nợ tới hạn chứ khoản mục này không phản ánh doanh nghiệp có lành mạnh về tài chính hay không Do đó nó vi phạm tính đầy đủ của các khoản mục trên báo cáo tài chính
• Các chỉ tiêu dự phòng đến cuối năm mới lập cho năm sau, trong khi bảng cân đối kế toán được lập hàng quý, điều này làm cho tính thích hợp của chỉ tiêu dự phòng bị hạn chế
• Việc thể hiện chỉ tiêu “Tài sản thiếu chờ xử lý” trên bảng cân đối kế toán là không đáng tin cậy, vi phạm yêu cầu thận trọng
• Chỉ tiêu “Tài sản thừa chờ xử lý” không thỏa mãn định nghĩa về
“Nợ phải trả” vì các tài sản này có thể là tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
• Hiện nay, theo chế độ kế toán quy định thì báo cáo luân chuyển tiền tệ là báo cáo hướng dẩn, không bắt buộc kết hợp với việc lập báo cáo này còn gặp những khó khăn nhất định do đó mà phòng kế toán không lập báo cáo luân chuyển tiền tệ Đây là một thiếu sót vô cùng to lớn vì theo Khuôn mẫu để soạn thảo và trình bày báo cáo tài chính cũng như Dự thảo chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày các báo cáo tài chính thì báo cáo luân chuyển tiền tệ là một trong những bộ phận cấu thành nên một bộ báo cáo tài chính hoàn chỉnh Bên cạnh đó, ban giám đốc công ty cũng bắt đầu nhận
ra được những ích lợi do báo cáo này mang lại và đang yêu cầu phòng kế toán công ty lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ nhằm giúp cho Ban giám đốc kiểm soát lượng tiền lưu chuyển trong kỳ để không bị động về tiền mặt
¬ Báo cáo quản trị
• Còn quá đơn sơ, chưa có hệ thống chặt chẽ công ty chỉ mới lập dự toán doanh thu, dự toán sản xuất, dự toán mua và sử dụng nguyên vật liệu, dự toán nhân công trực tiếp Đó chỉ là những báo cáo đầu tiên của phần dự toán và thiếu hàng loạt các dự toán quan trọng như dự toán chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng và quản lý
Trang 37doanh nghiệp, và đặc biệt là thiếu dự toán tiền mặt Việc thiếu dự toán tiền mặt làm cho phòng kế toán tài vụ công ty gặp nhiều khó khăn trong việc luân chuyển tiền giữa công ty và các xí nghiệp thành viên để đáp ứng nhu cầu chi hàng ngày của doanh nghiệp Và việc thiếu dự toán tiền mặt cũng làm cho công ty không dự đoán được các khoản sẽ thu được lẫn các khoản phải chi
ra trong kỳ dẩn đến việc thường bị động về tiền mặt và phải vay ngắn hạn để bù đắp các khoản thiếu hụt tạm thời này Khoản mục
“Vay ngắn hạn” của công ty thường chiếm khoảng 30% tổng tài sản của doanh nghiệp và làm cho công ty luôn phải gánh chịu một khoản chi phí lãi vay cho khoản vay này và dẩn đến lợi nhuận của công ty bị giảm xuống Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay khi vốn là yếu tố vô cùng quan trọng thì dự toán tiền mặt là rất cần do nó cho ta biết trong kỳ kế hoạch doanh nghiệp cần vay bao nhiêu tiền để sản xuất kinh doanh cũng như doanh nghiệp có bao nhiêu tiền cho đầu tư ngắn hạn, từ đó nó giúp cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn
• Chưa có bộ phận kế toán quản trị riêng biệt cho từng xí nghiệp cũng như ở cấp công ty, vì thế công tác kế toán quản trị ít được quan tâm và các báo cáo chỉ được thực hiện khi ban giám đốc yêu cầu báo cáo hoặc khi công tác kế toán tài chính đã hoàn thành Bên cạnh đó, các báo cáo quản trị cũng do các nhân viên kế toán-những người được đào tạo chủ yếu để làm những công việc thuộc lĩnh vực kế toán tài chính-thực hiện do đó các báo cáo này mang tính rời rạc và các thông tin này thường có độ tin cậy cao nhưng ít có tính kịp thời Điều đó dẩn đến chưa đáp ứng các yêu cầu đa dạng trong công tác quản trị doanh nghiệp
• Dự toán mua nguyên vật liệu chỉ mới dự toán đến phần số lượng chứ chưa đề cập đến phần chi phí mua vì vậy thiếu thông tin cung cấp cho việc xây dựng dự toán tiền mặt
• Báo cáo giá ước tính cho sản phẩm mới không cung cấp thông tin thích hợp giúp cho doanh nghiệp đề ra quyết định vì nếu trong trường hợp giá bán cao không được chấp nhập thì dựa vào báo cáo này doanh nghiệp không thể biết được đâu là mức giá thấp nhất mà doanh nghiệp có thể chấp nhận để bù đắp định phí
Trang 38- 35 -
• Báo cáo phục vụ chức năng kiểm tra kiểm soát việc thực hiện kế hoạch chỉ ở mức chênh lệch chung, chưa phân tích đến sự biến động của từng nhân tố
• Chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin trong việc xây dựng kế hoạch, lập dự toán và kiểm tra, cũng như việc đề ra các quyết định trong kinh doanh
2.3 SỰ CẦN THIẾT CỦA HỆ THỐNG BÁO CÁO QUẢN TRỊ TRONG CÔNG TY CADIVI
Khi sự cạnh tranh mang tính toàn cầu gia tăng ở hầu hết các ngành, các doanh nghiệp buộc phải nghiên cứu những trình độ sản xuất cao hơn để giá các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp mang tính cạnh tranh Do đó, các nhà kế toán có trách nhiệm triển khai việc đo lường sản xuất để giúp cho ban quản trị đáp ứng những đòi hỏi của cạnh tranh quốc tế
Hệ thống sản xuất tự động hóa đã tạo khả năng cho các nhà sản xuất có thể sản xuất các sản phẩm đa dạng hơn và tốc độ kỹ thuật đang thay đổi có nghĩa là chu kỳ sống của hầu hết các sản phẩm được rút ngắn Để cạnh tranh, các nhà sản xuất phải giữ vững thị phần đang thay đổi nhanh chóng Các nhà quản trị phải có những thông tin kịp thời về chi phí sản xuất và các tính chất sản phẩm khác để đáp ứng lại một cách nhanh chóng và có hiệu quả trong sự cạnh tranh này
Năng lực và tốc độ của các máy tính hiện đại đã làm cho các nhà quản trị tài chính có khả năng xem xét việc phát triển các hệ thống thông tin tài chính một cách toàn diện hơn so với trong quá khứ Do đó việc phân tích tài chính nhiều hơn bằng cách thức hiệu quả hơn trong một thời gian có hạn đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho những người ra quyết định Do đó, giờ đây các nhà quản lý mong đợi được cung cấp những thông tin hữu ích có căn cứ để đảm bảo cho những quyết định quan trọng của họ
Doanh nghiệp càng phức tạp càng có những vấn đề kế toán khó khăn và Công ty CADIVI cũng vậy Để có thể điều hành các xí nghiệp phụ thuộc, trực thuộc ở các khu vực khác nhau hoạt động một cách hài hòa ví dụ như các xí nghiệp cung cấp lao vụ một cách kịp thời cho nhau, điều hòa dòng tiền giữa các
xí nghiệp, cung cấp đầy đủ nhu cầu nguyên vật liệu sản xuất cho các xí nghiệp…, các nhà quản trị yêu cầu hệ thống kế toán phải cung cấp thông tin thích hợp cho họ
Trang 39Trong môi trường sản xuất truyền thống, tồn kho nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm… được giữ như là một khoản dự trữ đáp ứng nhu cầu cần thiết Tuy nhiên trong những năm gần đây, các nhà quản lý đã đi đến nhận định rằng dự trữ nhiều là tốn kém Nó làm hao mòn những tài nguyên có giá trị và tạo ra những chi phí chìm Do đó nhiều công ty đã thay đổi hoàn toàn cách tiếp cận của họ đối với việc quản lý sản xuất và quản lý tồn kho Các nhà quản lý này đã chuyển sang một chiến lược mới đối với việc kiểm soát dòng sản xuất trong quá trình sản xuất nhhiều giai đoạn Trong hệ thống sản xuất đúng lúc (just-in-time production system), nguyên vật liệu và các chi tiết được mua hoặc được sản xuất ngay khi được dùng ở mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất Sự tiếp cận này đối với việc quản lý sản xuất và tồn kho mang lại khả năng tiết kiệm chi phí đáng kể do mức tồn kho được giảm xuống Công ty CADIVI là doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, chi phí nguyên vật liệu kết tinh trong từng sản phẩm chiếm tỉ lệ khá lớn từ 60%-70% và hầu hết các nguyên vật liệu này đều nhập khẩu hoặc mua của các công ty có tính chất nước ngoài Thế nên việc theo dõi chi phí nguyên vật liệu sản xuất, so sánh tình hình thực hiện chi phí vật liệu thực tế với kế hoạch và việc lên kế hoạch mua và dự trữ nguyên vật liệu là một yêu cầu hết sức quan trọng Phản ánh, giám sát chặt chẽ được chi phí nguyên vật liệu cũng như cố gắng đưa mức tồn kho theo hướng tiếp cận trên thì CADIVI có thể đưa ra những biện pháp thích hợp và kịp thời nhằm điều chỉnh hoạt động doanh nghiệp sao cho đạt được hiệu quả cao nhất
Mặt khác, Ray H.Garrison, khi nghiên cứu sự phát triển của kế toán quản trị đã viết là phạm vi cạnh tranh đã gia tăng trên khắp thế giới, một sức ép về chi phí-giá cả dữ dội, kỹ thuật phát triển nhanh chóng ở hình thức tự động hóa cao hơn, khả năng to lớn trong việc thu thập và báo cáo thông tin Những thay đổi được mang lại bởi những sự kiện này đã làm tăng nhu cầu thông tin của các nhà quản lý, đặc biệt là các thông tin có liên quan đến các hoạt động nội bộ mà không thể tìm được từ các báo cáo tài chính truyền thống
Tóm lại, hệ thống báo cáo kế toán của Công ty CADIVI là một hệ thống báo cáo hỗn hợp giữa hệ thống báo cáo tài chính và hệ thống báo cáo quản trị nhưng chủ yếu là cung cấp các thông tin của kế toán tài chính với mục tiêu chính là phục vụ cho việc quản lý vĩ mô của nhà nước và các đối tượng sử dụng khác ở bên ngoài doanh nghiệp Hệ thống báo cáo tài chính áp dụng ở Công ty CADIVI với những ưu điểm của nó bước đầu đã đáp ứng được những nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng nhưng vẫn còn một số khiếm khuyết liên quan đến việc soạn thảo và trình bày các thông tin Do đó, để có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng thì hệ thống báo cáo tài chính hiện hành
Trang 40- 37 -
cần được khắc phục những hạn chế đang tồn tại Bên cạnh đó, thông tin về kế toán quản trị hầu như rất sơ sài và không có hệ thống Trong khi ở các nước phát triển thì kế toán quản trị làmột công cụ quan trọng cung cấp các thông tin cần thiết giúp cho các nhà quản trị ra các quyết định kịp thời và hợp lý mà các thông tin này thì hệ thống kế toán tài chính không thể đáp ứng được Từ đó chúng ta nhận thấy khi nền kinh tế chuyển sang hướng kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì yêu cầu thông tin kinh tế ngày càng đa dạng và phức tạp hơn, nhất là hiện nay, khi mà doanh nghiệp phải tự lo vốn kinh doanh, tự tìm kiếm thị trường tiêu thụ, tự quyết định giá bán sản phẩm… thì các thông tin của kế toán quản trị là vô cùng quan trọng và không thể thiếu được Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay khi mà nhà nước chưa có hướng dẩn chung về hệ thống báo cáo quản trị thì các doanh nghiệp nên dựa vào loại hình hoạt động cũng như nhu cầu thông tin quản lý của doanh nghiệp và xây dựng hệ thống báo cáo quản trị cho doanh nghiệp mình