Lập tức, nhờ được hưởng lợi do chính sách thuế áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam vào Mỹ thay đổi từ cột”non-MFN” sang cột” MFN” mà mức chênh lệch trung bình đối với hàng dệt may
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
v w
ĐÀM KIM THƯ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA TỔNG CÔNG TY DỆT MAY VIỆT NAM (VINATEX) SANG THỊ
TRƯỜNG MỸ
Chuyên ngành : Ngoại thương
Mã số : 5.02.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học : T.S Đoàn Thị Hồng Vân
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 : THỊ TRƯỜNG DỆT MAY MỸ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN NẮM VỮNG KHI XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG NÀY
1.1 Điểm lại các học thuyết về thương mại quốc tế Trang 1
1.2 Giới thiệu đôi nét về nước Mỹ 2
1.2.1 Đất nước, con người và văn hóa Mỹ 2
1.2.2 Kinh tế Mỹ 3
1.3 Quan hệ Việt – Mỹ 6
1.3.1 Những dấu mốc trong quá trình tái thiết lập quan hệ kinh tế giữa Mỹ và VN 6
1.3.2 Quan hệ thương mại Việt- Mỹ 7
1.3.3 Tình hình đầu tư trực tiếp cuả các doanh nghiệp Mỹ tại Việt Nam 7
1.4 Thị trường dệt may Mỹ và những vấn đề cần nắm vững khi xuất khẩu vào thị trường này 8
1.4.1 Đặc điểm chung cuả thị trường Mỹ 8
1.4.2 Tình hình XNK hàng dệt may cuả Mỹ 8
1.4.3 Những điều cần lưu ý khi xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ 9
1.4.3.1 Đặc điểm chung cuả doanh nhân Mỹ 9
1.4.3.2 Cơ chế quản lý cuả Mỹ đối với hàng nhập khẩu, nói chung, hàng dệt may, nói riêng 10
1.4.3.2.1 Hệ thống luật cơ bản điều tiết hoạt động nhập khẩu vào Mỹ 10
1.4.3.2.2 Các cơ quan điều hành thương mại Mỹ 13
1.4.3.3 Các hạn chế cuả Mỹ về nhập khẩu hàng dệt may 14
1.4.3.3.1 Thuế nhập khẩu 14
1.4.3.3.2 Hạn ngạch nhập khẩu và visa 14
1.4.3.3.3 Quy định về nhãn hàng hoá theo luật XĐSPSD và luật NHSPL 15
1.4.3.3.4 Quy định về tờ khai xuất xứ hàng hoá 15
1.4.3.3.5 Tiêu chuẩn về hàng dễ cháy 15
1.4.3.4 Các yêu cầu chung mà mọi hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ cần phải tuân thủ 16
1.4.3.5 Sơ bộ về hệ thống tiêu thụ hàng dệt may tại Mỹ 17
1.4.3.6 Một số bài học kinh nghiệm để đẩy mạnh XK hàng DM vào Mỹ 18
Kết luận cuối chương 1 19
CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CUẢ TỔNG CÔNG TY DỆT MAY VIỆT NAM (VINATEX) SANG THỊ TRƯỜNG MỸ TRONG THỜI GIAN QUA 2.1 Giới thiệu tổng quan về Tổng công ty dệt may Việt Nam( Vinatex) 20
2.1.1 Vài nét về ngành dệt may Việt Nam 20
Trang 32.1.3 Chức năng, nhiệm vụ và bộ máy tổ chức của Vinatex 23
2.1.4 Phân tích hoạt động kinh doanh của Vinatex 24
2.1.4.1 Kết qủa thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu 24
2.1.4.2 Kim ngạch XNK của Vinatex 24
2.1.4.2.1 Phân tích kim ngạch XK của Vinatex 24
2.1.4.2.2 Phân tích kim ngạch NK của Vinatex 28
2.2.Phân tích , đánh giá tình hình XK hàng dệt may của Vinatex vào Mỹ 29
2.2.1 Tình hình XK hàng dệt may của VN vào Mỹ 29
2.2.2 XK hàng dệt may của Vinatex vào Mỹ 31
2.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng 35
Phương pháp xác định các nhân tố ảnh hưởng 35
2.3.1 Những nhân tố tác động thuận lợi 35
2.3.2 Những nhân tố tác động không thuận lợi 36
2.3.3 Những điểm mạnh của Vinatex 37
2.3.4 Những điểm yếu của Vinatex 38
2.4 Đánh giá chung 41
Kết luận cuối chương 2 42
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA VINATEX SANG THỊ TRƯỜNG MỸ 3.1 Mục tiêu, quan điểm và cơ sở đề xuất các giải pháp : 43
3.1.1 Mục tiêu đề xuất các giải pháp 43
3.1.1.1 Mục tiêu chung 43
3.1.1.2 Những mục tiêu cụ thể 43
3.1.2 Quan điểm đề xuất các giải pháp 43
3.1.3 Cơ sở đề xuất các giải pháp 44
3.2 Các giải pháp đẩy mạnh XK hàng dệt may cuả Vinatex sang thị trường Mỹ: 44
3.2.1 Nhóm giải pháp 1: Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt may 44
Giải pháp 1 : giải pháp về tính hợp tác 45
Giải pháp 2 : giải pháp về nguồn nguyên liệu 47
Giải pháp 3: giải pháp về hiện đại hóa máy móc, trang thiết bị , công nghệ 49
Giải pháp 4: giải pháp về xây dựng thương hiệu và uy tín 50
3.2.2 Nhóm giải pháp 2: Đẩy mạnh công tác tiếp thị ở thị trường Mỹ 52
Giải pháp 5: Tăng cường thông tin và hiểu biết thị trường Mỹ 52
Giải pháp 6: Đẩy mạnh công tác tiếp thị vào thị trường Mỹ 53
3.2.3 Nhóm giải pháp 3: Xây dựng chiến lược sản phẩm 58
3.2.4 Nhóm giải pháp 4: Chuyển hình thức kinh doanh từ gia công sang FOB 59
3.2.5 Nhóm giải pháp 5: Về quản lý điều hành và phát triển nguồn nhân lực 60
3.3 Kiến nghị đối với Nhà nước và các ban ngành liên quan: 61
3.3.1 Về chính sách thuế và tài chính 61
3.3.2 Về chính sách đối với người lao động 61
Trang 43.3.3 Về ưu đãi đầu tư 62
3.3.4 Về thương mại và hải quan 62
Kết luận cuối chương 3 63
LỜI KẾT 64
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ CHƯƠNG 1 : Bảng 1.1 Quan hệ XNK giữa Việt Nam và Mỹ ( 1994-2000) Bảng 1.2 Đầu tư trực tiếp của Mỹ ở ViệtNam, giai đoạn 1994-6/2000 Bảng 1.3 Các thị trường NK hàng dệt may lớn năm 2000 Bảng 1.4 Sáu nhóm mặt hàng may mặc NK chủ yếu của Mỹ
Bảng 1.5 10 quốc gia cung cấp hàng dệt may lớn nhất thế giới cho Mỹ năm 2000
CHƯƠNG 2 :
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức của Vinatex
Bảng 2.1 So sánh một số chỉ tiêu của tòn ngành và Vinatex ( năm 2000)
Bảng 2.2 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của Vinatex từ 1996 đến 2000
Bảng 2.3 Kim ngạch XK của Vinatex so với toàn ngành dệt may
Bảng 2.4 Tổng kim ngạch XNK của Vinatex từ 1997 – 2000
Biểu đồ 2.1 Kim ngạch XNK của Vinatex
Bảng 2.5 Tổng hợp tình hình XK của Vinatex từ 1997 đến 2000
Bảng 2.6 Tổng hợi tình hình XK của Vinatex ( phân theo thị trường các châu lục
Bảng 2.7 Tình hình NK của Vinatex từ 1997 – 2000
Bảng 2.8 Kim ngạch XK hàng dệt may của Việt Nam vào Mỹ từ 1994-2000
Bảng 2.9 Các mặt hàng dệt may XK của VN vào thị trươòng Mỹ và tỷ trọng trong tổng
NK các mặt hàng này vào Mỹ
Bảng 2.10 Kim ngạch XK hàng dệt may của Mỹ vào Vinatex
Biểu đồ 2.2 Kim ngạch XK hàng dệt may của Mỹ vào Vinatex
Biểu đồ 2.2 Kim ngạch XK hàng dệt may của Mỹ vào Vinatex
Bảng 2.11 Kim ngạch XK của Vinatex vào 10 thị trường lớn nhất
Bảng 2.12 Các mặt hàng XK của Vinatex vào Mỹ
CHƯƠNG 3 :
Bảng 3.1 Ma trận SWOT về khả năng thâm nhập thị trường Mỹ của Vinatex
Bản đồ các tỉnh quy hoạch có thể trồng bông
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
I.TÍNH CẤP THIẾT CUẢ ĐỀ TÀI:
Hiệp định thương mại Việt- Mỹ vừa được phê chuẩn bởi Quốc hội hai nước cho phép Hiệp định chính thức có hiệu lực Lập tức, nhờ được hưởng lợi do chính sách thuế áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam vào Mỹ thay đổi từ cột”non-MFN” sang cột” MFN” mà mức chênh lệch trung bình đối với hàng dệt may là từ 30 đến 40%, một cơ hội mới vô cùng thuận lợi được mở ra cho hàng dệt may xuất khẩu cuả Việt Nam, trong đó có Tổng công ty dệt may V N ( VINATEX) – tổ chức cuả các doanh nghiệp dệt may hàng đầu cuả Việt Nam thuộc khu vực kinh tế nhà nước khối trung ương
Ai cũng biết, khoảng thời gian đầu sau khi Hiệp định song phương có hiệu lực cho tới khi Việt Nam và Mỹ phải ký kết một Hiệp định dệt may, mà theo đó Mỹ sẽ áp dụng hạn chế bằng áp dụng hạn ngạch ( quota) nhập khẩu cho hàng dệât may xuất khẩu từ Việt Nam , sẽ kéo dài không lâu Và kết quả thực hiện xuất khẩu cuả khoảng thời gian này sẽ làm căn cứ xây dựng số lượng hạn ngạch áp dụng theo Hiệp định hàng dệt may sẽ được ký kết giữa hai nước
Đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ, hơn lúc nào hết đã và đang trở nên vô cùng quan trọng cho tương lai cuả ngành dệt may Việt Nam nói chung Cùng với việc cố gắng phổ biến về Hiệp định thương mại Việt- Mỹ, Nhà nước và một số Bộ cùng các cơ quan hữu quan đang đưa ra nhiều giải pháp có tính vĩ mô nhằm trợ giúp ngành dệt may có thể tận dụng cơ hội này Tuy nhiên người thực hiện lại không phải
ai khác hơn là chính các doanh nghiệp trong ngành
Là một cán bộ đã công tác nhiều năm trong ngành dệt may, bản thân tôi không khỏi bức xúc với những trăn trở cuả Vinatex trong bối cảnh có nhiếu cơ hội mà không ít
thách thức mới này Vì thế tôi cho rằng viết luận văn : “ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CUẢ TỔNG CÔNG TY DỆT MAY VIỆT NAM (VINATEX) SANG THỊ TRƯỜNG MỸ “ với mục đích đưa ra
những giải pháp nhằm kịp thời đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Mỹ cuả Vinatex , mang tính cấp thiết và hữu ích thực sự
II.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN:
1 Nghiên cứu về đất nước và thị trường Mỹ nói chung , thị trường dệt may Mỹ nói riêng để thấy được tiềm năng xuất khẩu vào Mỹ cho hàng dệt may Việt Nam Đồng thời giới thiệu một số qui định cuả Mỹ về nhập khẩu hàng dệt may mà các nhà xuất khẩu cần nắm vững khi thực hiện xuất khẩu sản phẩm vào thị trường này
2 Đánh giá thực trạng xuất khẩu cuả Tổng công ty dệt may Việt Nam vào Mỹ thời
gian qua trong tổng thể công tác xuất khẩu cuả Tổng Công Ty ; nghiên cứu các yếu tố quan trọng nhất quyết định sức cạnh tranh cuả các sản phẩm dệt may trong khuôn
Trang 6khổ Vinatex và khả năng xuất khẩu sau khi Hiệp định thương mại Việt-Mỹ có hiệu lực
3 Phân tích ma trận SWOT trong việc đẩy mạnh xuất khẩu sang Mỹ cuả Vinatex làm
cơ sở và đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện việc đẩy mạnh xuất khẩu vào Mỹ trong thời gian tới
III.PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
-Nghiên cứu các quy định của Mỹ về hàng dệt may mà các doanh nghiệp khi thực hiện xuất khẩu vào Mỹ cần tuân thủ và chú ý
- Nghiên cứu khả năng xuất khẩu cuả các doanh nghiệp trực thuộc Tổng công ty dệt may Việt Nam trong tổng thể ngành dệt may cả nước
2.Về thời gian :
Do từ năm 1994 Mỹ mới tuyên bố xóa bỏ áp dụng cấm vận kinh tế đối với Việt Nam nên chỉ sau khắc thời gian này, quan hệ thương mại hai chiều giữa hai nước mới từng bước được tạo dựng
Hàng dệt may cuả Việt Nam, do chịu thuế suất nhập khẩu quá cao ( cột non-MFN) nên mới bắt đầu những bước thâm nhập hết sức khiêm tốn và còn rất nhỏ bé Tài liệu thống kê được lấy hết năm 2000 và do thời điểm hoàn thành luận văn này vào cuối năm 2001 nên số liệu xuất khẩu vào Mỹ cuả ngành cũng như cuả Vinatex vẫn chưa được công bố Tuy nhiên có thể nhận xét rằng, số liệu về kết quả xuất khẩu năm 2001 không có sự nhảy vọt, do Hiệp định thương mại Việt-Mỹ chính thức có hiệu lực đã vào tháng 12 cuả năm 2001
IV.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để thực hiện luận văn này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
1 Phương pháp phân tích thống kê :
Tôi đã dùng phương pháp phân tích để đánh giá các số liệu thống kê được sưu tầm và tập hợp từ các nguồn:
- Các báo cáo tổng kết cuả Vụ Aâu-Bắc Mỹ cuả Bộ thương mại Việt Nam
- Thống kê cuả Hải quan Việt Nam
- Các báo cáo tổng kết hàng năm cuả Tổng công ty dệt may Việt Nam
- Thống kê cuả Hải quan Mỹ khai thác từ Internet
- Một số tham luận tại các hội thảo về quan hệ thương mại Việt-Mỹ do Phòng thương mại và công nghiệp VN, Cục xúc tiến Bộ thương mại, Tổng Công Ty dệt may
VN, Trung tâm phát triển ngoại thương thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan đại diện Phòng thương mại và công nghiệp Mỹ tại VN tổ chức thời gian qua tại thành phố Hồ Chí Minh
Do thời gian nghiên cứu có hạn, tôi mới thực hiện gởi phiếu thăm dò sơ bộ đến một số chuyên gia là các cán bộ chủ chốt thuộc hàng ngũ lãnh đạo Vinatex, Hiệp hội dệt
Trang 7may VN, lãnh đạo cuả một số công ty thành viên hàng đầu thuộc Vinatex Đây cũng chính là những người – theo đánh giá cuả cá nhân tôi- rất tâm huyết với công tác xuất khẩu hàng dệt may và chia sẻ với tôi về ý tưởng khi thực hiện luận văn này
3 Phương pháp qui nạp, duy vật biện chứng:
Từ việc nghiên cứu các tài liệu, các số liệu tập hợp được , với ý kiến tham gia cuả một số chuyên gia đầu ngành, tôi cũng cố gắng đưa ra những nhận định có tính chất tổng hợp, bao quát Cùng với những đánh giá vừa chủ quan vừa khách quan về thực trạng xuất khẩu vào Mỹ cuả Vinatex, tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu cuả Tổng Công Ty dệt may VN vào thị trường Mỹ
V.BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN:
Nội dung cuả luận văn kết cấu trong 3 chương như sau:
CHƯƠNG 1 : THỊ TRƯỜNG DỆT MAY MỸ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN NẮM VỮNG KHI XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG NÀY
Chương này giới thiệu một số nét cơ bản về các mặt đất nước, nền kinh tế, văn hóa Mỹ, con người và doanh nhân Mỹ Tiếp theo, luận văn điểm lại quan hệ Việt - Mỹ kể từ 1994 - năm Mỹ tuyên bố hủy bỏ áp dụng cấm vận kinh tế đối với Việt Nam Phần này cũng nghiên cứu về thị trường dệt may Mỹ cùng những vấn đề mà các doanh nghiệp dệât may cần nắm vững khi thực hiện xuất khẩu vào thị trường này
Ở phần cuối chương, luận văn nêu ra một số kinh nghiệm cuả các nưóc đi trước đã thành công trong việc đưa hàng dệt may cuả mình thâm nhập vào thị trưòng Mỹ và trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực cuả họ như Trung Quốc, Thái Lan, Aán Độ
CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA TỔNG
CÔNG TY DỆT MAY VIỆT NAM ( VINATEX) VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ TRONG THỜI GIAN QUA
Ở chương này luận văn đã đưa ra giới thiệu tổng quan về Tổng công ty dệt may VN
với vị trí quan trọng đặc biệt của nó trong ngành dệt may của Việt Nam Phần tiếp theo cũng là nội dung chính của chương 2, luận văn đi vào phân tích hoạt động kinh doanh của Vinatex mà chủ yếu là công tác xuất khẩu trong thời gian 5 năm đầu hoạt động kể từ khi chính thức được thành lập Qua phần đánh giá này ta có thể thấy được xuất khẩu của Vinatex đã không ngừng tăng nhanh và khá vững chắc, với những chủng loại mặt hàng khá phong phú và các khu vực thị trường có tính tương đồng với toàn ngành Hoạt động nhập khẩu của TCT cũng được đề cập đến để thấy rõ đặc điểm quan trọng nhất của XK ở đây phụ thuộc khá nặng nề vào nguồn nhập khẩu, chính điều này quyết định loại hình XK chủ yếu là thực hiện gia công cho nước thứ 3 – một loại hình hình doanh kém hiệu quả
XK vào Mỹ là vấn đề được tập trung phân tích trong phần kế tiếp cho thấy Vinatex đã hết sức cố gắng thâm nhập thị trường mới mẻ và khó tính này Tuy tốc độ gia tăng khá cao song có thể thấy kết quả còn rất nhỏ bé, vừa so với tiềm năng của TCT, vừa so với nhu cầu của thị trường rộng lớn Tỷ trọng của phần XK vào Mỹ cũng đã
Trang 8chứng tỏ, so với những thị trường XK chính của TCT như Nhật Bản hay EU , thật không đáng kể nhiều
Để thấy được những nguyên nhân đã và sẽ tiếp tục tác động đến kết qủa XK của Vinatex vào Mỹ và cũng để làm cơ sở đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm đẩy mạnh XK vào Mỹ cuả TCT dệt may VN trong thời gian tới, luận văn đã đi sâu phân tích các nhân tố thuộc ma trận SWOT ảnh hưởng đến hoạt động này Những nhân tố này bao gồm:
- Những nhân tố tác động thuận lợi ( thời cơ)
- Những nhân tố tác động không thuận lợi ( thách đố )
- Những điểm mạnh của Vinatex
- Những điểm yếu của Vinatex
Những đánh giá và phân tích này sẽ làm cơ sở để đưa ra những giải pháp phù hợp và có hiệu qủa ở chương cuối của luận văn
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT
MAY CUẢ VINATEX SANG THỊ TRƯỜNG MỸ
Lấy việc phân tích các yếu tố cuả môi trường bên ngoài và môi trường bên trong như phần cuối chương 2 ( phân tích ma trận SWOT) làm cơ sở và với mục tiêu đã định cuả luận văn nhằm đầy mạnh xuất khẩu vào Mỹ cho Vinatex, luận văn đã đưa ra các giải pháp cụ thể tóm lược trong 5 nhóm với một số giải pháp cụ thể bao gồm:
Nhóm giải pháp 1: gồm 4 giải pháp cụ thể nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cuả hàng dệt may để đẩy mạnh xuất khẩu vào Mỹ Vấn đề này bao trùm các khiá cạnh như: giải quyết vấn đề nguyên liệu đầu vào cho ngành, hiện đại hóa máy móc thiết
bị , xây dựng thương hiệu sản phẩm và sự phối hợp giữa các doanh nghiệp sản xuất
Nhóm giải pháp 2: có 2 giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh công tác tiếp thị ở thị trường Mỹ bao gồm việc nâng cao hiểu biết về khách hàng và các công tác tiếp thị cụ thể
Nhóm giải pháp 3 : Xây dựng chiến lược sản phẩm , xác định mặt hàng mũi nhọn cuả
Vinatex xuất khẩu vào thị trường Mỹ
Nhóm giải pháp 4 : Chuyển dần từ hình thức kinh doanh gia công cho bên thứ ba sang
loại hình xuất khẩu trực tiếp từ nguồn nguyên phụ liệu trong nước ( FOB)
Nhóm giải pháp 5: Đề cập về vấn đề quản lý điều hành và phát triển nguồn nhân lực
Khi thực hiện luận văn này , chúng tôi mong muốn được góp phần nhỏ bé của mình vào việc đưa ra những giải pháp với những bước đi thích hợp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của Vinatex nói riêng và ngành dệt may Việt Nam nói chung sang thị trường Mỹ – một thị trường hứa hẹn nhiều tiềm năng song cũng không
ít thách thức đối với toàn ngành
Trang 9Chương 1:
THỊ TRƯỜNG DỆT MAY MỸ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN NẮM
VỮNG KHI XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG NÀY
Trước khi đi vào nghiên cứu sâu về thị trường Mỹ ( đặc biệt là thị trường dệt may Mỹ ) và những điểm cần lưu ý khi xuất khẩu hàng hoá vào thị trường Mỹ, xin đựợc điểm lại các học thuyết về thương mại quốc tế :
• Thuyết trọng thương
• Học thuyết về lợi thế tuyệt đối cuả A Smith
• Học thuyết về lợi thế so sánh cuả D.Ricardo
• Học thuyết về chi phí cơ hội cuả Haberler
• Thuyết về tỷ trọng nhân tố cuả Heckscher-Ohlin
Do khuôn khổ cuả luận văn rất hạn chế , nên chúng tôi xin không trình bày lại nội dung cuả các học thuyết này, nhưng từ việc nghiên cứu các học thuyết chúng tôi rút ra các nhận xét sau:
- Mỗi quốc gia, dù hùng mạnh hay nhỏ bé , đều có thể và có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế thông qua việc phát huy các lợi thế cuả mình Theo đó, mỗi quốc gia sẽ tập trung , chuyên môn hoá sản xuất những sản phẩm mà mình có lợi thế để xuất khẩu và nhập khẩu những sản phẩm mà mình không có lợi thế Thông qua đó, lợi ích kinh tế cuả mỗi quốc gia cũng như cuả toàn thế giới đều gia tăng
- Với các quốc gia nghèo, đông dân, thì những ngành thâm dụng lao động là những ngành có lợi thế so sánh
- Với Việt Nam, dệt may chính là ngành có lợi thế so sánh Chúng ta cần tập trung, phát triển mạnh ngành này , không chỉ để đáp ứng yêu cầu trong nước , mà chủ yếu để xuất khẩu
- Kinh nghiệm cuả các nước đi trước cho thấy: muốn phát triển ngành dệt may thành công thì yếu tố thị trường đầu ra chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng
- Mỹ là thị trường dệt may hàng đầu thế giới Sau khi Hiệp định thương mại Mỹ có hiệu lực, ngành dệt may Việt Nam, nói chung, Tổng công ty dệt may Việt Nam nói riêng đang tập trung toàn lực để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này Muốn xuất khẩu vào Mỹ thành công thì cần hiểu thấu đáo thị trường Mỹ và cách thức làm ăn với người Mỹ Phần tiếp theochúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu vấn đề này
Trang 10Việt-1.2 GIỚI THIỆU ĐÔI NÉT VỀ NƯỚC MỸ:
1.2.1 Đất nước, con người và văn hóa Mỹ:
Mỹ là một quốc gia trẻ, một thuộc địa giành được độc lập bằng chiến tranh Diện tích của Mỹ khoảng 9,3 triệu km2, đứng thứ 4 trên thế giới sau Nga, Canada và Trung Quốc Đây là một đất nước có chiều rộng trải dài từ Đông sang Tây là 3.000
km đi hết 8-10 giờ máy bay và có 3 múi giờ Mỹ nằm ở trung tâm Châu lục Bắc Mỹ: phía Bắc giáp Canada, phía Nam giáp Mehico, phía Đông giáp Đại Tây Dương và phía Tây giáp Thái Bình Dương
Mỹ có dân số khoảng 280 triệu người (tính đến hết năm 2000) chiếm khoảng 5% dân số thế giới, với mật độ dân cư khoảng 30 người/km2 Về dân số Mỹ đứng hàng thứ 3 trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ Đây là quốc gia đa dân tộc với nền văn hóa đa dạng phong phú Dân da trắng chiếm đại đa số cư dân (gần 80%), số còn lại là người da màu Người da trắng phần lớn là người gốc Tây Ban Nha và người di cư từ Đức, Ý, Ailen…
Về mặt tôn giáo: phần lớn dân Mỹ theo đạo Tin lành chiếm tới 61% dân số, 25% theo Thiên chúa giáo La Mã, 2% là người Do thái giáo, 5% gồm các tôn giáo khác và khoảng 7% dân số không theo đạo nào
Ngôn ngữ chính thức và chủ yếu của Mỹ là tiếng Anh, một số ít người nói tiếng Tây Ban Nha
Mỹ là một liên bang gồm 50 bang và một nhóm các đảo nằm ở Thái Bình Dương
Đây là một nước phân quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp Có ba cấp chính quyền: Nhà nước liên bang, bang và các đơn vị hành chính địa phương Mỹ có vô khối các hãng có quyền lực hợp cánh do liên bang hay bang lập nên, có khi có những hãng có quyền lực tới mức đáng sợ… Nếu như có sự tranh chấp giữa các xí nghiệp họ thường cầu viện đến tòa án (chính phủ liên bang hay bang không can thiệp) Khắp mọi nơi trên đất Mỹ có các văn phòng tư pháp và văn phòng luật sư Đây là một đặc tính của văn hóa Mỹ
Điều khó khăn cho tất cả mọi người và đặc biệt cho tất cả các nhà kinh doanh nước ngoài là sự cùng tồn tại nhiều văn bản có tính chất khác nhau (luật pháp, các quy tắc) được thừa nhận ở mức độ khác nhau và thường khó mà biết được cái nào phù hợp hơn cái nào trong từng trường hợp cụ thể) Lịch sử, địa lý, lối sống Mỹ, vai trò siêu cường đều góp phần hình thành nên nền văn hóa Mỹ và cũng tạo nên chủ nghĩa cá nhân kiểu Mỹ: áp đặt, hiếu thắng Tất cả những đức tính đó được thể hiện ở bàn thương lượng mà các đối tác khi làm ăn với người Mỹ cần nắm vững
1.2.2 Kinh tế Mỹ:
Khoảng thời gian vào đầu và giữa thế kỷ thứ XX nhiều nền kinh tế của Châu Âu và Châu Á trong đó có Nhật Bản bị tàn phá nặng nề do hậu quả của hai cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai Trong khi đó, nền kinh tế của Mỹ lại phát
Trang 11triển mạnh nhờ chiến tranh và trở nên giàu có thông qua việc bán vũ khí, bán lương thực, thực phẩm, của cải và tư bản ở các châu lục khác chuyển tới cất giấu trong chiến tranh… Khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc vào năm 1945, GNP của Mỹ chiếm đến 42% tổng GNP của toàn cầu, và trong thế giới tư bản Mỹ chiếm 54,6% tổng sản lượng công nghiệp, 24% xuất khẩu và 74% dự trữ vàng
Bằng sức mạnh áp đảo tuyệt đối về kinh tế sau chiến tranh, Mỹ đã bỏ vốn lớn để thành lập các tổ chức tài chính tiền tệ như: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế nay là Ngân hàng thế giới (WB) Sau đó Mỹ cùng góp vốn lớn để thành lập công ty tài chính quốc tế (IFC) vào năm 1956, Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA) năm 1960, Ngân hàng phát triển Á Châu (ADB) năm 1966, Công ty đầu tư đa biên (MIGA) năm 1990…
Ngoài ra, với sự tài trợ của Mỹ, nhiều tổ chức chi phối hoạt động kinh tế và thương mại trên thế giới ra đời, như: Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT), ngày nay là Tổ chức thương mại thế giới (WTO), các tổ chức kinh tế khác của Liên hiệp quốc như: UNDP, FAO, UNIDO… cũng nhận được sự tài trợ và chịu sự khống chế của Mỹ Và cũng chính thông qua các tổ chức tài chính – kinh tế trên đây Mỹ chi phối rất mạnh nền kinh tế toàn cầu
• Về tài chính: sức mạnh và khả năng tự do chuyển đổi của đồng đô la Mỹ đã được
duy trì suốt nửa thế kỷ qua: gần 50% tổng lưu lượng thanh toán và đầu tư quốc tế đã được thực hiện qua đồng tiền này Ngoài ra Mỹ còn duy trì sự thống trị thị trường tài chính tiền tệ thế giới thông qua việc phát triển nhanh thị trường chứng khoán: trị giá giao dịch qua thị trường chứng khoán Mỹ năm 2000 đạt khoảng 14.000 tỷ USD so với 2.500 tỷ của các nước NICs Cùng với EU và Nhật Bản, Mỹ là một trong 3 chủ đầu tư lớn nhất toàn cầu Nhờ nắm được tất cả các yếu tố trên, Mỹ gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động tài chính thế giới
• Về công nghiệp: hầu như Mỹ luôn đi đầu trong khám phá và phát triển các ngành
công nghiệp tiên phong Chính sự năng động này đã giúp cho sự phát triển của Mỹ không hề suy giảm trong suốt 100 năm qua và họ luôn giữ được vị trí hàng đầu thế giới Có thể điểm qua những mốc chính sau đây: cuối thế kỷ 19 Mỹ đi đầu phát triển khai thác và chế biến dầu mỏ; đầu thế kỷ 20 Mỹ đã tập trung nhằm đưa công nghiệp sản xuất xe hơi, máy bay, công nghiệp đóng tàu trở thành các ngành công nghiệp mũi nhọn thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung; Vào giữa thế kỷ Mỹ cùng với các nước công nghiệp phát triển khác đầu tư cho phát triển công nghiệp điện và điện tử: Cuối thế kỷ thứ XX sang thế kỷ XXI Mỹ tập trung vào phát triển công nghệ thông tin, tin học và tranh thủ đưa ngay những sản phẩm ấy áp dụng nhanh trong thực tiễn, chẳng những trong nội bộ nền kinh tế Mỹ mà còn phát triển khắp toàn cầu
Một số ngành mũi nhọn đặc biệt phát triển của Mỹ như: công nghiệp năng
lượng, công nghiệp chế tạo…
Trang 12• Về nông nghiệp: Mỹ cũng có một nền nông nghiệp rất phát triển nhờ có diện tích
lãnh thổ rộng lớn, có nhiều miền khí hậu thuận lợi, công nghệ sinh học phát triển khả năng ứng dụng cao và chính phủ Mỹ giàu có hàng năm giành trên 10 tỷ USD tài trợ cho phát triển nông nghiệp Chính vì vậy, tất cả các ngành nông nghiệp của Mỹ: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, chế biến nông sản đều rất phát triển Năm
2000 xuất khẩu nông sản mang về cho Mỹ trên 46 tỷ USD Mỹ đứng đầu thế giới về xuất khẩu lúa mì, bắp, thịt các loại, đậu tương, và đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu gạo, thủy sản và nước trái cây
• Về dịch vụ: Trước hết phải thấy được dịch vụ tài chính như trình bày phần trên đã
góp phần quan trọng đảm bảo cho Mỹ có được ảnh hưởng lớn tới toàn bộ hoạt động tài chính thế giới Bên cạnh đó Mỹ cũng chi phối các loại hình dịch vụ khác trên thế giới bao gồm: dịch vụ thương mại điện tử, dịch vụ thông tin, dịch vụ bưu điện, dịch vụ du lịch, dịch vụ vận tải hàng không, dịch vụ vận tải biển… Mỗi loại hình dịch vụ chiếm từ 7-22% thị phần dịch vụ quốc tế Riêng các sản phẩm âm nhạc và điện ảnh Mỹ cũng chiếm gần 30% giá trị sản phẩm giao dịch trong lĩnh vực này của thế giới
Văn hóa ẩm thực của Mỹ cũng phát triển và phổ biến nhanh trên toàn cầu với những đồ uống với thương hiệu nổi tiếng nhất thế giới như Pepsi, Coca Cola, với thức ăn nhanh (fast food), bánh mì kẹp thịt (hamburger)… đều là loại thức ăn rất phổ biến
ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
Hầu như các nước trên thế giới ở các mức độ khác nhau đều sử dụng thông tin của các hãng truyền thông của Mỹ như CNN, CBS, Network…
Hàng năm các ngành dịch vụ của Mỹ mang lại doanh thu cho đất nước họ hàng ngàn tỷ USD Theo dự đoán đến năm 2010 thu nhập từ dịch vụ của nước này chiếm tới 93% GDP của cả nước
• Về chính sách đối ngoại: Chính phủ Mỹ chủ trương thúc đẩy nhanh tiến trình
toàn cầu hóa và tự do hóa trong tất cả các lĩnh vực kinh tế: tài chính, ngân hàng, thương mại, dvv… bằng cách xây dựng hệ thống thương mại và thị trường thế giới trên cơ sở các nguyên tắc, sáng kiến của Mỹ Các nguyên tắc và sáng kiến này được thể chế hóa bằng các Hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Mỹ dùng cơ chế của WTO để buộc các nước thực hiện các cam kết song phương và đa phương, mở cửa thị trường của mình, đặc biệt đối với lĩnh vực mà Mỹ có lợi thế cạnh tranh hoặc ở thế độc quyền Đối với các nước đang phát triển, các nước có nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi như: Nga, Trung Quốc, Việt Nam, các nước khối SNG và các nước Đông Âu cũ… Mỹ thi hành chính sách: “cây gậy và củ cà rốt”, vừa gây sức ép, vừa có chính sách hỗ trợ ưu đãi để thông qua các hiệp định song phương và đa phương, buộc các nước này phải thực hiện cải tổ nền kinh tế, phát triển kinh tế thị trường, đẩy nhanh tiến trình hội nhập đảm bảo lợi ích ổn định lâu dài về tài chính, thương mại và đầu tư cho Mỹ
Trang 13Cho đến thời điểm này, tháng 12/2001, Mỹ đã ký khoảng 280 Hiệp định thương mại song phương, đa phương và các Hiệp định chuyên ngành Việc thực thi các Hiệp định này đảm bảo thuận lợi hơn cho sự bành trướng và duy trì vị trí số 1 của nền kinh tế Mỹ trên toàn thế giới
• Kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái:
Mới đây cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia (NBER) tại Mỹ đã chính thức tuyên bố kinh tế Mỹ suy thoái từ tháng 3/2001, sau hơn 120 tháng liên tục phát triển IMF, WB và OECD đều thống nhất nhận định: tăng trưởng kinh tế Mỹ năm 2001 chỉ đạt 1,1%, giảm 4,1% so với mức tăng 5,2% năm 2000
Cuộc tấn công khủng bố nước Mỹ ngày 11/9/2001 làm cho nền kinh tế Mỹ trượt dốc mạnh hơn, các ngành sản xuất, hàng không, du lịch, bảo hiểm… tổn thất nặng nề Thảm kịch 11/9 dẫn tới việc nước Mỹ lao vào cuộc chiến chống khủng bố Kinh tế suy thoái kéo theo nạn thất nghiệp gia tăng Theo Bộ Lao động Mỹ tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ trong tháng 12/2001 tiếp tục tăng từ 5,6% trong tháng 11 lên 5,8% trong tháng 12, với 124.000 công nhân bị sa thải Đây là tỷ lệ thất nghiệp cao nhất trong vòng 6 năm qua và là bằng chứng cho thấy nền kinh tế Mỹ tiếp tục suy thoái
Kinh tế Mỹ suy thoái là một trong những điểm bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam khi thâm nhập thị trường Mỹ để thực hiện Hiệp định thương mại Việt Mỹ vừa có hiệu lực
1.3 QUAN HỆ VIỆT – MỸ:
1.3.1 Những dấu mốc trong quá trình tái thiết lập quan hệ kinh tế giữa Mỹ và Việt Nam
Sau 20 năm Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh chia cắt đất nước Việt Nam và bị thất bại hoàn toàn vào 30/4/1975, đã để lại cho đất nước Mỹ nhiều tổn hại nặng nề mà cho đến nay cái gọi là "Hội chứng sau chiến tranh Việt Nam" vẫn còn âm ỉ Cuộc cấm vận kinh tế của Mỹ đối với Việt Nam kéo dài trên 15 năm và những sự kiện đáng chú ý sau đây - đánh dấu sự phát triển kinh tế giữa Việt Nam và Mỹ:
• Ngày 3/2/1994: Chính phủ Mỹ tuyên bố bỏ cấm vận buôn bán với Việt Nam
• Ngày 11/7/1995: Tổng Thống Mỹ tuyên bố công nhận ngoại giao và bình thường
hóa quan hệ với Việt Nam
• Ngày 5/8/1995: Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ thăm Việt Nam
• Tháng 10/1995: Chủ tịch nước CHXNCN Việt Nam dự lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Liên Hợp Quốc và lần đầu tiên thăm Mỹ, tiếp xúc với nhiều quan chức cao cấp của Chính quyền Mỹ, Hội đồng thương mại Mỹ tổ chức "Hội nghị về bình thường hóa quan hệ, bước tiếp theo trong quan hệ Mỹ - Việt"
• Tháng 11/1995: Phái đoàn liên bộ Mỹ thăm Việt Nam tìm hiểu hệ thống luật lệ thương mại đầu tư của Việt Nam
• Tháng 4/1996: Mỹ trao cho Việt Nam văn bản "Những yếu tố bình thường hóa quan hệ kinh tế thương mại với Việt Nam"
Trang 14• Tháng 7/1996: Việt Nam trao cho Mỹ văn bản "Năm nguyên tắc bình thường hóa quan hệ kinh tế - thương mại và đàm phán Hiệp định thương mại với Mỹ"
• Tháng 9/1996: Bắt đầu quá trình đàm phán Hiệp định Thương mại song phương Cuộc đàm phán này kéo dài 4 năm, thực hiện qua 11 vòng (xem Phụ lục 1)
Trong quá trình đàm phán, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Mỹ được củng cố bằng những sự kiện:
- Ngày 10/3/1998: Tổng thống Mỹ tuyên bố bãi bỏ việc áp dụng điều luật bổ sung Jackson–Vanic đối với Việt Nam, góp phần thúc đẩy bình thường hóa quan hệ thương mại Từ đây hàng năm quyết định này đều được tiếp tục gia hạn
- Năm 1999: Việt Nam giành cho Mỹ quy chế tối huệ quốc trong buôn bán, được gia hạn hàng năm
- Ngày 16/11/2000 - 19/11/2000: Tổng thống Mỹ Bill Clinton tới thăm Việt Nam
- Cuối tháng 1/2001 gần 200 doanh nghiệp Mỹ đang có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam ký tên gởi kiến nghị lên chính quyền mới của Mỹ - Chính quyền của Tổng thống Bush - đề nghị: Đưa Hiệp định thương mại Việt - Mỹ thông qua ở Quốc hội Mỹ, họp trong tháng 3/2001
- Từ 3 giờ sáng ngày 11/12/2001 Hiệp định thương mại Việt – Mỹ chính thức có hiệu lực Hiệp định thương mại Việt – Mỹ đã được Quốc hội Mỹ và Quốc hội Việt Nam thông qua lần lượt vào các ngày 18/10 và 7/12 Tổng thống Mỹ G Bush và Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký phê chuẩn Hiệp định vào hồi 15 giờ ngày 10/12/2001 (tức 3 giờ sáng ngày 11/12, giờ Hà Nội), tại Washington, Bộ trưởng Thương mại Vũ Khoan và Đại diện thương mại Mỹ Zoellick đã trao đổi thư phê chuẩn Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ của Chính phủ hai nước Kể từ thời điểm đó, Hiệp định chính thức có hiệu lực ngay lập tức và vô điều kiện
Tóm lại, trong nửa cuối thế kỷ thứ 20 lịch sử giữa hai nước Việt Nam và Mỹ
có rất nhiều sự kiện ghi lại bằng máu và nước mắt của hàng triệu người, nhưng 5 năm qua nhờ sự nỗ lực của cả hai phía mà mối quan hệ kinh tế - xã hội được cải thiện theo hướng hợp tác để phát triển trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau
1.3.2 Quan hệ thương mại Việt – Mỹ:
Từ 3/2/1994, Chính phủ Mỹ tuyên bố hủy bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam cho đến nay hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Mỹ không ngừng gia
tăng (xem bảng 1.1)
Trang 15Bảng 1.1: Quan hệ xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Mỹ (1994 - 2000)
Chỉ tiêu 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Xuất khẩu (triệu USD) 50,4 200,0 308,0 372,0 553,4 601,9 821,7
So sánh với năm trước (%) - 396,8 154 120,8 148,8 108,8 136,5
Nhập khẩu (triệu USD) 172,0 252,0 616,0 278,0 269,5 277,3 367,7
So sánh với năm trước (%) - 146,5 244,4 45,13 96,94 102,9 132,6
Tổng kim ngạch XNK
(triệu USD)
So sánh với năm trước (%) - 203,2 204,4 70,35 126,6 106,8 135,3
Nguồn: Hải quan Mỹ
Từ bảng 1.1 ta thấy: kim ngạch XNK giữa hai nước không ngừng gia tăng Trong điều kiện quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Mỹ mới được tái thiết, Mỹ vừa cho Việt Nam được hưởng MFN (11/12/2001) thì tình hình phát triển thương mại nêu trên là đáng phấn khởi Tuy nhiên, sự phát triển trên là quá khiêm tốn, quá nhỏ bé so với tiềm năng hai nước
1.3.3 Tình hình đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Mỹ tại Việt Nam :
Tuy các nhà đầu tư Mỹ vào Việt Nam muộn hơn các nhà đầu tư khác, nhưng giờ đây
Mỹ đã trở thành một trong 10 nước dẫn đầu đầu tư vào Việt Nam ( xem bảng 1.2 )
Bảng 1.2: Đầu tư trực tiếp của Mỹ ở Việt Nam, giai đoạn 1994 - 6/2000
Năm Số dự án Số vốn đăng ký
Trang 16Bảng 1.2 cho thấy tình hình đầu tư của Mỹ vào Việt Nam trong 7 năm qua
Tóm lại :
Nghiên cứu hoạt động kinh tế đối ngoại trong thời gian qua giữa Việt Nam và Mỹ ta thấy sự phát triển xuất nhập khẩu, quan hệ đầu tư giữa hai nước phát triển khá tốt, nhưng sự phát triển này chưa tương xứng với tiềm năng và mong muốn cả của hai phía Theo chúng tôi, để đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Mỹ, cần nghiên cứu thực trạng xuất khẩu ở từng ngành hàng, đánh giá đúng những thuận lợi và khó khăn trên thị trường Mỹ từ đó đề xuất các giải pháp giúp các nhà doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập được thị trường này Phần tiếp theo chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu thị trường dệt may Mỹ
1.4 THỊ TRƯỜNG DỆT MAY MỸ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN NẮM VỮNG KHI XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG NÀY:
1.4.1 Đặc điểm chung của thị trường Mỹ:
Mỹ là thị trường lớn nhất toàn cầu với dân số 280 triệu dân và thu nhập bình quân đầu người vào năm 2000 ước khoảng 42.000 USD (theo Internet) Dân Mỹ được xem là dân có sức tiêu dùng lớn nhất trong các nước có nền công nghiệp phát triển Theo kết quả nghiên cứu của một nhóm chuyên gia Liên Hiệp quốc: nếu sức tiêu dùng của các gia đình Nhật Bản và EU cho là 1, thì con số này của các gia đình ở Mỹ là 1,7
Ngoài ra, hàng năm Mỹ xuất khẩu ra thị trường thế giới một trị giá hàng hóa khoảng gần 900 tỷ USD, trong đó có nhiều loại hàng xuất khẩu cần đến nguyên liệu nhập khẩu
Về chất lượng hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ rất linh hoạt với phương châm kinh doanh thương mại là: “tiền nào của nấy” Mức sống của dân cư cũng rất đa dạng, vì vậy có hệ thống cửa hàng dành cho người có thu nhập cao, lại có cửa hàng cho người có thu nhập thấp Vì vậy hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ rất đa dạng và đa loại từ nhiều quốc gia khác nhau nhằm có thể phục vụ cho các phân khúc thị trường khác nhau
1.4.2 Tình hình XNK hàng dệt may của Mỹ:
Theo thống kê của WTO, năm 2000 buôn bán hàng dệt may toàn thế giới là
334 tỷ USD (hàng dệt 148 tỷ đồng và hàng may 186 tỷ) Trong đó, buôn bán hàng dệt của Mỹ chiếm 91 tỷ (hàng dệt 24 tỷ - bằng 16,2% của thế giới và hàng may hơn
67 tỷ – bằng 36% của thế giới) Số liệu trên cho thấy Mỹ không những chỉ là nhà nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới mà còn là một nhà xuất khẩu lớn về hàng dệt may ra thị trường thế giới
* Về xuất khẩu: Mỹ xuất khẩu ra thị trường thế giới nhiều nhất là bông thiên
nhiên, xơ, sợi, vải sản xuất bằng công nghệ cao và hiện còn ít nước làm được Mỹ
Trang 17đứng vị trí thứ 7 về xuất khẩu hàng dệt sau Trung Quốc, Hồng Kông, Đức, Italia, Hàn Quốc và Đài Loan với kim ngạch năm 2000 là 9,51 tỷ USD – 6,4% tổng xuất khẩu hàng dệt thế giới và tăng 30% so với năm trước
Về xuất khẩu hàng may năm 2000 Mỹ đứng thứ 4 thế giới sau Trung Quốc, Hồng Kông và Italia với kim ngạch 8,27 tỷ USD chiếm 4,4% thế giới nhưng lại giảm 6% so với năm trước
Xuất khẩu vẫn tiếp tục đóng vai trò chính đối với việc tăng trưởng của công nghiệp dệt Mỹ Nhiều công ty Mỹ đã thành công trong việc lựa chọn xuất khẩu những mặt hàng vải đặc biệt chuyên dùng không thể sản xuất ở những nước khác Ngoài ra họ còn tiếp tục đầu tư vào các dự án liên doanh với nước ngoài
Tuy vậy trước xu thế tự do hóa thương mại về hàng dệt may chuyển từ buôn bán hạn chế bằng hạn ngạch sang môi trường cạnh tranh tự do không còn bị hạn chế về định lượng đối với các thành viên WTO sau 31/12/2004 Vì vậy Chính phủ Mỹ lo ngại điều này sẽ gây tổn hại cho công nghiệp dệt may Mỹ
* Về nhập khẩu: Để thấy được vị trí của Mỹ trên thị trường nhập khẩu hàng
dệt may thế giới, trước hết ta xem xét số liệu trong bảng 1.3 (xem bảng 1.3 )
Bảng 1.3: Các thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn năm 2000
dệt
Sản phẩm may
Cộng
1 Mỹ Triệu USD 14.463 58.389 72.846
% so với năm trước 11,68 12,80 12,57
2 EU
* Nội bộ Triệu USD 34.933 27.142 62.076
% so với năm trước -14,80 -11,50 -13,39
* Từ ngoài khối Triệu USD 23.177 42.216 65.394
% so với năm trước -6,79 -0,58 -2,87
3 Nhật Triệu USD 6.600 18.884 25.484
% so với năm trước 12,20 18,20 16,10
4 Canada Triệu USD 5.157 2.951 8.108
% so với năm trước 0,12 0,30 6,23
Nguồn: Tạp chí dệt may 157/2001
Từ bảng 1.3 ta thấy: Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới, nếu năm 2000, tổng giá trị hàng dệt may xuất khẩu của Mỹ là 72.846 triệu USD, thì Nhật chỉ nhập 25.484 triệu, Canada 8.108 triệu USD…
Trang 18Các mặt hàng may mặc nhập khẩu vào Mỹ khá đa dạng, phong phú, nhiều
nhất là 6 nhóm hàng trong bảng 1.4.( xem bảng 1.4 )
Bảng 1.4: Sáu nhóm mặt hàng may mặc nhập khẩu chủ yếu của Mỹ
CAT 352/652 Đồ lót từ sợi cotton và nhân tạo 8,17%
CAT 347/348 Quần dài và quần soọc 5,83%
CAT 369 Hàng trang trí nội thất bằng vải từ sợi cotton 5,81%
CAT 669 Hàng trang trí nội thất bằng vải từ sợi nhân tạo 4,65%
CAT 223 Vải không dệt từ sợi cotton và nhân tạo 4,27%
CAT 338/339 Áo sơ mi dệât kim từ sợi cotton 4,22%
Nguồn: Hải quan Mỹ
Mỹ nhập khẩu hàng may mặc chủ yếu từ các nước Châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Hồng Kông…) và các nước Châu Mỹ (Canada, Mexico…) Xin xem danh sách 10
nhà cung cấp hàng may mặc chủ yếu vào thị trường Mỹ trong bảng 1.5( xem bảng
1.5)
1.4.3 Những điều cần lưu ý khi xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ:
1.4.3.1 Đặc điểm chung của doanh nhân Mỹ:
Người Mỹ ngày nay nói chung được nhìn nhận là cởi mở, thẳng thắn, khá nồng nhiệt và dễ dàng tạo lập quan hệ bạn bè Người Mỹ quan niệm giao tiếp xã hội ít nhất cũng tạo cho người ta cảm giác vui vẻ, dễ chịu và có được những hiểu biết mới về con người, về thế giới
Tuy nhiên họ thường coi rằng nếu một người quá huyên thuyên nói hết cả phần đáng ra để cho người khác nói thì người đó bị đánh giá là ích kỷ Ngược lại, người nào nói quá ít thì bị cho là thiếu ý thức trách nhiệm, không có tinh thần tập thể và đó là biểu hiện bất lịch sự Nếu trong cuộc gặp gỡ có nhiều gương mặt mới, mọi người đều phải có bổn phận tự giới thiệu ngay từ phút đầu tiên với khách chưa quen biết Cũng như người Châu Âu, người Mỹ luôn tránh những câu hỏi về đời tư
Điểm cần chú ý là người Mỹ rất có tinh thần tôn trọng pháp luật Người Mỹ có thể không tin vào Chính phủ, không tin thậm chí cả cha mẹ, anh chị, vợ con, nhưng một người duy nhất bao giờ cũng được hoàn toàn tin cậy - đó là luật sư riêng của họ Trong kinh doanh, người Mỹ thường yêu cầu luật sư riêng của mình tham gia để tránh các sơ hở có thể xảy ra trong quá trình ký kết hợp đồng hoặc dành chắc phần thắng
Trang 19chỉ vi phạm một lần mà pháp luật biết tới sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh sau này
Người Mỹ biết tôn trọng lời hứa, nếu nhận thấy điều gì có thể làm được họ sẽ hứa và thực hiện cho được Những điều gì cảm thấy khó khăn hoặc không cho phép hứa hẹn họ sẽ trả lời “không” Điều này hoàn toàn khác với người Nhật, dù rõ ràng phải trả lời “không”, người Nhật lại tìm cách tránh né Vì vậy khi bị người khác thất hứa, người Mỹ có thể tức giận và hủy bỏ quan hệ
Ở Mỹ thời gian quý như vàng, với câu “Time is money” được người Mỹ rất ưa chuộng, họ luôn cảm thấy thiếu thời gian nên luôn sử dụng thời gian biểu chặt chẽ theo chương trình định trước Điều quan trọng hơn cả là sự sai hẹn, có khi chỉ ø 5 phút là điều bất lịch sự mà một số người đã quen sử dụng rành rọt thời gian có thể tức giận và hủy bỏ cuộc gặp gỡ
Vì những lý do trên đây mà trong kinh doanh với các thương nhân Mỹ, những vấn đề cần được lưu tâm tối đa là: cách thức ứng xử trong giao tiếp, công tác chuẩn bị chu đáo cho thương lượng và việc theo sát tiến trình thương lượng và đàm phán là chìa khóa để việc giao tiếp với doanh nhân Mỹ thành công
1.4.3.2 Cơ chế quản lý của Mỹ đối với hàng nhập khẩu, nói chung, hàng dệt may, nói riêng
1.4.3.2.1 Hệ thống luật cơ bản điều tiết hoạt động nhập khẩu vào Mỹ:
* Một số luật cơ bản điều tiết hoạt động thương mại nói chung:
• Luật thuế suất năm 1930: Luật này ra đời nhằm điều tiết hàng hóa nhập khẩu
vào Mỹ bảo vệ chống lại hàng hóa giả, luật này quy định mức thuế rất cao đối với hàng nhập khẩu Cho đến nay nhiều điều khoản của luật này vẫn còn hiệu lực, song thuế suất đã được nhiều lần chỉnh đổi và hạ xuống nhiều
• Luật buôn bán năm 1974: Luật này định hướng cho các hoạt động buôn bán Nó
bao gồm nhiều điều khoản cho phép đền bù tổn thất cho các ngành công nghiệp của Mỹ bị cạnh tranh bởi hàng nhập khẩu Đạo luật này gây nhiều bất lợi cho hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ vì hàng hóa của họ được Chính phủ đứng sau lưng bảo hộ
• Hiệp định buôn bán năm 1979: Đây là một hiệp định bao gồm các điều khoản về
sự bảo trợ của Chính phủ về các chướng ngại kỹ thuật trong buôn bán, các sửa đổi thuế bù trừ và thuế chống hàng thừa, ế – một loại thuế đánh vào các loại hàng hóa bị cho là có trợ giá hoặc bán phá giá Hiệp định này được thông qua nhằm mục đích thực hiện một số bộ luật được thương lượng tại vòng đàm phán Tokyo của tổ chức GATT
• Luật tổng hợp về buôn bán và cạnh tranh năm 1988: Luật này ủy nhiệm cho
Tổng thống Mỹ tham gia vòng đàm phán Uruguay, đồng thời thiết lập thủ tục đặc biệt (SUPER 301) cho phép Mỹ áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với các quyết định không chịu mở cửa cho hàng hóa thâm nhập vào và vi phạm quyền sở
Trang 20hữu trí tuệ của Mỹ như áp dụng cấm vận, áp dụng biện pháp trả đũa (như tăng thuế, hủy ưu đãi, cấm…) Đây là công cụ chính trị để phân biệt đối xử trong buôn bán với Mỹ
* Một số đạo luật cần ghi nhớ trong buôn bán hàng dệt may:
• Luật điều tiết nhập khẩu hàng dệt may:
a) Quy định chung của Hiệp định đa sợi (MFA – Multifiber Agreement)
- Cho phép thỏa thuận song phương giữa nước nhập và xuất khẩu hàng dệt
- Cho phép mỗi nước được đơn phương định đoạt khi thấy thị trường của mình bị phương hại
- Cho phép áp dụng hạn ngạch để hạn chế số lượng với mức dựa trên khối lượng mậu dịch Hạn ngạch được bù trừ và chuyển hoán qua lại giữa các loại sản phẩm và giữa các năm
- MFA lần thứ nhất (MFA I) có hiệu lực 4 năm, kết thúc vào cuối 1977 và gia hạn thêm 4 năm nữa MFA II có hiệu lực từ 1977-1981 MFA III có hiệu lực từ 1981-
1986 MFA IV có hiệu lực từ 1986 và hết hạn 31/7/1991 Hiện nay là MFA V
- Hiệp định này lập Cục Giám sát hàng dệt (TSB Textile surveilance Body) gồm đại diện các nước tham gia MFA và có nhiệm vụ theo dõi thực hiện Hiệp định và báo cáo cho Ủy ban hàng dệt trực thuộc GATT
b) Quy định của Mỹ:
Theo quy định của MFA, Tổng thống Mỹ quyết định việc đàm phán Hiệp định hàng dệt song phương giữa Mỹ và các nước dựa trên cơ sở thương lượng có hiệu lực từ 3 đến 6 năm, quy định các điều khoản cơ bản sau:
- Hạn ngạch được xuất sang Mỹ: quy định theo chủng loại hàng (CAT – Category), khối lượng tính theo m2 (SME) hoặc tương đương
- Hạn ngạch phân theo các loại: hạn ngạch tổng hợp, loại cụ thể và loại điều chỉnh linh hoạt
Với từng điều kiện cụ thể, Hiệp định lại cho phép: chuyển cùng chủng loại CAT từ năm trước sang, mượn trước cùng chủng loại của năm sau, hay được hoán đổi giữa các sản phẩm trong năm nhưng phải trong mức hạn ngạch cho phép
- Hiệp định quy định cơ chế tham khảo ý kiến giữa Mỹ và nước ký kết, và trong trường hợp nếu nước ký kết không tuân thủ, Mỹ giành quyền đơn phương cắt bỏ hạn ngạch và cấm nhập khẩu
c) Quy định về hạn ngạch (quota) hàng dệt may của Mỹ:
Mỹ duy trì một hệ thống quota rất lớn và phức tạp đối với việc nhập khẩu những sản phẩm dệt và nguyên liệu dệt (chủ yếu là vải) Hầu hết các loại hạn ngạch này đều đạt được trên cơ sở điều khoản 3 của MFA
Chương 204 Bộ luật nông nghiệp năm 1954 (đã được sửa đổi) ủy nhiệm Tổng thống có quyền giới hạn xuất khẩu mặt hàng dệt, nguyên liệu dệt của nước ngoài và việc nhập khẩu của nước đó vào Mỹ Năm 1988, Mỹ đã ký kết Hiệp định đôi bên
Trang 21cùng có lợi cho 42 sản phẩm dệt của các nước xuất khẩu, trong đó có 27 mặt hàng xuất khẩu theo MFA
Những Hiệp định này kiểm soát 60-65% tổng số buôn bán hàng dệt và vải Điều lệ bắt buộc: mỗi quốc gia ký thỏa thuận tay đôi với Mỹ về hàng dệt đều phải có trách nhiệm bảo đảm không xuất khẩu vào Mỹ lượng hàng quá giới hạn đã nêu ra trong thỏa thuận
Hải quan Mỹ có thể giúp Chính phủ nước ngoài bằng cách yêu cầu nhập khẩu phải được thực hiện theo đúng văn bản xuất khẩu hợp lệ (visa), hải quan có quyền ngăn chặn việc nhập khẩu hàng hóa thiếu visa, hoặc hàng vượt quá hạn ngạch cho phép Hải quan đưa ra các báo cáo hàng tuần về việc sử dụng hay tỷ lệ nhập vào của từng nước theo danh mục các loại quota
• Quyền tự vệ (Safeguard):
Áp dụng điều 19 của GATT, Mỹ áp dụng quyền tự vệ: nghĩa là tuy cho phép các nước hưởng ưu đãi về thuế và phi thuế nhưng nếu xét thấy sản xuất trong nước bị phương hại thì Mỹ sẽ giành quyền đơn phương hủy bỏ các ưu đãi đó và áp dụng biện pháp hạn chế
• Luật chống bán phá giá (Antidumping) – thuế đối kháng:
Luật Mỹ quy định chống bán phá giá trong thương mại quốc tế Khi có hiện tượng một nước bán phá giá vào Mỹ, nước này sẽ điều tra, và nếu khẳng định kết quả Mỹ sẽ áp dụng thuế đối kháng để triệt tiêu, tức là bán phá giá 5% so với giá phổ thông thì Mỹ sẽ thu thêm 5% thuế để triệt tiêu tác động các phá giá này gây ra cho thị trường của họ
• Luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ:
Phần 337 luật thuế 1930 có quy chế nghiêm cấm sử dụng bất hợp pháp quyền tác giả, mẫu mã, kiểu dáng công nghiệp Trường hợp vi phạm sẽ bị Mỹ trừng phạt rất nặng
• Luật trách nhiệm sản phẩm:
Luật này quy định người sản xuất phải chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa đối với sức khỏe người tiêu dùng Nếu sản xuất sai quy chế về chất lượng quốc gia sẽ bị phạt Luật này ra đời nhằm bảo vệ lợi ích cho người tiêu dùng
1.4.3.2.2 Các cơ quan điều hành thương mại Mỹ:
Luật thương mại của Mỹ được thi hành bởi nhiều tổ chức, cơ quan, những cơ quan chính phủ có vai trò điều hành hoạt động thương mại bao gồm:
• Văn phòng thương mại quốc tế (International Trade Administration – ITA)
• Ủy ban thương mại quốc tế (International Trade Commission – ITC)
• Tòa án thương mại quốc tế (Court of International Trade – CIT)
• Đại diện thương mại Mỹ (US Trade Representative – USTR)
Ngoài ra còn có các tổ chức liên quan như:
Trang 22• Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm (FDA)
• Cơ quan bảo vệ môi trường (CEPA)
• Cục Hải quan liên bang (USCD)
( Xem chi tiết ở Phụ lục 2)
1.4.3.3 Các hạn chế của Mỹ về nhập khẩu hàng dệt may:
1.4.3.3.1 Thuế nhập khẩu:
Muốn xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ thì trước hết cần nghiên cứu kỹ hệ thống thuế nhập khẩu của Mỹ Các mức thuế áp dụng cho từng loại hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ được quy định trong Danh mục điều hòa thuế quan Mỹ (Harmonized Tariff Schedules – HTS) HTS được xây dựng phù hợp với Công ước HS của Tổ chức Hải quan Quốc tế (WCO)
(Xem chi tiết các quy định về thuế nhập khẩu của Mỹ ở Phụ lục 3)
1.4.3.3.2 Hạn ngạch nhập khẩu và visa:
Nói chung, Mỹ không có giới hạn về hạn ngạch trừ khi trong một hiệp định hàng dệt may có quy định về hạn ngạch Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, luật thương mại Mỹ cho phép chính phủ Mỹ đơn phương áp đặt các hạn ngạch mang tính hành chính đối với các loại hàng dệt may Có hai loại hạn ngach: hạn ngach tuyệt đối và hạn ngạch tính theo thuế suất
Hạn ngạch tuyệt đối là hạn ngạch hạn chế về số lượng Vì vậy, trong suốt thời gian áp dụng hạn ngạch, chỉ một số lượng hàng hóa đã được ấn định mới được phép nhập khẩu Một số hạn ngạch tuyệt đối được áp dụng trên toàn thế giới, còn một số chỉ áp dụng đối với một vài quốc gia nào đó Số hàng nhập khẩu nào dư ra so với hạn ngạch sẽ bị giữ lại tại một “khu ngoại thương” để bổ sung cho kỳ hạn ngạch sau đó hoặc được đưa vào kho ngoại quan hoặc cũng có thể bị trả về hoặc tiêu hủy dưới sự giám sát của nhân viên hải quan Các hiệp định về hàng dệt có quy định gia tăng các hạn ngạch theo từng thời điểm
Hạn ngạch tính theo thuế suất áp dụng cho một số lượng hàng nhập khẩu được quy định với một mức thuế thấp trong một thời hạn nào đó Không có giới hạn về số lượng hàng nhập khẩu trong suốt thời hạn này, nhưng nếu hàng nhập khẩu vượt quá số lượng cho phép hưởng mức thuế thấp thì số hàng dư đó sẽ phải chịu mức thuế cao hơn
Hàng dệt may cần có “visa” mới được vào Mỹ Một visa hàng dệt may là dấu xác nhận trên một hóa đơn hoặc một “giấy phép kiểm soát nhập khẩu” do Chính phủ nước ngoài cấp Visa này được dùng để kiểm soát việc xuất khẩu hàng dệt may và sản phẩm từ hàng dệt từ nước ngoài vào Mỹ hoặc dùng để ngăn cấm việc nhập lậu mặt hàng này vào Mỹ Một visa hàng dệt may có thể bao gồm hàng có hạn ngạch hoặc không hạn ngạch Hàng dệt có hạn ngạch có thể cần hoặc không cần một visa tùy thuộc vào nước xuất xứ Một visa hàng dệt may không có bảo đảm cho việc nhập
Trang 23khẩu hàng vào Mỹ Nếu thời gian hạn ngạch chấm dứt mà visa cho hàng dệt may được cấp sau đó bởi chính phủ nước ngoài và hàng đã nhập vào Mỹ, lô hàng nhập này sẽ không được giải phóng cho nhà nhập khẩu cho đến khi hạn ngạch mới được cấp phép
Hệ thống thông tin Visa Điện tử, “ELVIS”, quy định về việc chuyển các thông tin visa bằng điện tử liên quan đến hàng dệt từ một quốc gia nào đó cho Hải quan Mỹ Giúp tránh visa gian lận dùng để lẩn tránh quota Các nước có ELVIS: Trung Quốc, Hồng Kông, Bangladesh, Philippines, Indonesia, Singapore, Thái Lan, Hàn Quốc, Malaysia, Srilanca, Cambodia
1.4.3.3.3 Quy định về nhãn hàng hóa theo luật xác định sản phẩm hàng tiêu dùng (Luật XĐSPSD) và Luật Nhãn hiệu sản phẩm len (Luật NHSPL) năm 1939
Trừ một số trường hợp ngoại lệ, tất cả các sản phẩm sợi, dệt khi nhập khẩu vào Mỹ đều phải được đóng dấu, niêm phong kín và ghi nhãn theo đúng quy định
của Luật XĐSPSD và Luật NHSPL (xem phụ lục 4)
1.4.3.3.4 Quy định về tờ khai xuất xứ hàng hóa dùng cho Uûy ban thực hiện Hiệp
Định Hàng Dệt May và hạn ngạch nhập hàng dệt may
Hàng dệt may nhập khẩu vào Mỹ phải tuân thủ theo những quy định nghiêm
ngặt về tờ khai xuất từ hàng hóa (xem chi tiết trong phụ lục 5)
1.4.3.3.5 Tiêu chuẩn về hàng dễ cháy:
Hầu hết các sản phẩm hàng dệt may nhập vào Mỹ để tiêu thụ đều phải tuân thủ các quy định của Luật về sản phẩm dễ cháy Luật này có quy định về tính dễ bén lửa đối với hàng dệt may Không ai có thể xuất khẩu vào Mỹ các sản phẩm hàng may mặc hoặc đồ trang trí nội thất hoặc bất kỳ loại vải hay chất liệu liên quan nào để sử dụng cho các sản phẩm đó nếu họ không tuân thủ các tiêu chuẩn về hàng dễ cháy Có một số sản phẩm được nhập vào Mỹ rồi gia công lại để giảm tính chất dễ cháy của chúng sao cho đáp ứng được tiêu chuẩn của Luật trên Điều này phải được ghi trong hóa đơn hay giấy tờ liên quan khác của lô hàng
1.4.3.4 Các yêu cầu chung mà mọi hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ cần phải tuân thủ:
Ngoài những hạn chế riêng với hàng dệt may đã nêu ở trên, khi xuất khẩu hàng hóa, nói chung, hàng dệt may, nói riêng, vào Mỹ, còn phải thực hiện các yêu cầu sau:
• Yêu cầu về môi trường: khách hàng Mỹ chỉ tiến hành kinh doanh với các đối tác
có chung mục đích bảo vệ môi trường Điều này bao gồm việc tuân thủ các đạo luật của Chính phủ nước sở tại, các tiêu chuẩn quốc tế và các quy định của Mỹ về cấm sử dụng hóa chất phá hủy tầng ozone (như chất hydrocholoro Fluorocarbons)
Trang 24cũng như các tiêu chuẩn quốc tế về bảo vệ sinh thái, bảo vệ động thực vật hoang dã như đã liệt kê trong Đạo luật các loài nguy hiểm năm 1973
• Sức khỏe và an toàn: Khách hàng Mỹ chỉ thiết lập quan hệ kinh doanh với các
đối tác khi họ đảm bảo môi trường làm việc không độc hại và an toàn cho công nhân của mình
• Pháp lý: Khách hàng Mỹ yêu cầu đối tác kinh doanh tuân thủ các đạo luật và đáp
ứng các yêu cầu pháp lý liên quan đến hoạt động kinh doanh của mình, tức là các nhà cung cấp phải tuân thủ các điều khoản đã cam kết, cũng như các điều kiện đã nêu ra trong hợp đồng mua hàng và xem xét kỹ lưỡng các quy định về xuất xứ nhằm quản lý phân loại hạn ngạch và nhãn hiệu hàng hóa
• Chế độ tiền lương và phúc lợi: Các đối tác kinh doanh đảm bảo trả lương và chế
độ phúc lợi cho nhân viên phù hợp với các luật hiện hành tại nước sở tại
• Thời gian làm việc: Công nhân nước sở tại không được phép làm việc quá 48
giờ/tuần và chế độ làm việc ngoài giờ phải phù hợp thỏa đáng với luật pháp của nước đó
• Lao động trẻ em: Sử dụng lao động trẻ em là bất hợp pháp “Trẻ em” được xác
định là một cá thể trong độ tuổi (hoặc nhỏ hơn) giáo dục phổ cập và dưới 14 tuổi Khách hàng Mỹ trong mọi trường hợp đều không cho phép đối tác của mình sử dụng lao động trẻ em tại nơi sản xuất
• Lao động bị ép buộc hoặc đang trong thời gian cải tạo: Khách hàng Mỹ không
chấp nhận đối tác sử dụng hoặc cho phép sử dụng lao động bị ép buộc hoặc đang trong thời gian cải tạo ở nơi sản xuất “Lao động bị ép buộc” được xác định là những người bị ép buộc phải làm tất cả các công việc hoặc dịch vụ mà bản thân những người này không tự nguyện làm
(Xem phụ lục 6 – giới thiệu tiêu chuẩn SA 8000)
• Nhãn hiệu, bản quyền và bằng sáng chế: yêu cầu này nhắc nhở các nhà cung
cấp về đạo luật bảo vệ tên tuổi, thiết kế, sáng tạo hoặc phát minh của một công
ty tránh khỏi việc vi phạm quyền sử dụng của một công ty khác Hàng hóa vi phạm yêu cầu này lập tức không được phép nhập khẩu vào Mỹ và khách hàng có thể bị kiện và phải bồi thường cho công ty sở hữu nhãn hiệu và thiết kế đó
1.4.3.5 Sơ bộ về hệ thống tiêu thụ hàng dệt may tại Mỹ
Các công ty, cửa hàng bán lẻ là gạch nối quan trọng giữa các nhà sản xuất và người tiêu dùng Mỹ Kỹ nghệ bán lẻ hàng may mặc và dụng cụ gia đình ở Mỹ và ngành kỹ nghệ rất mạnh về tài chính lẫn quy mô tổ chức Một cách tổng quát có thể chia các công ty kinh doanh bán lẻ hàng may mặc ở Mỹ thành 7 nhóm theo thứ tự giá cả mặt hàng như sau:
Trang 25• Công ty chuyên doanh (Speciality store) với mô hình hoạt động là hệ thống các
cửa hàng chuyên về một nhóm sản phẩm có chất lượng cao, nhãn hiệu nổi tiếng và giá bán rất cao
• Công ty siêu thị (Department store) là mô hình hoạt động với hệ thống bán lẻ
tổng hợp hàng tiêu dùng, trong đó chủ yếu là quần áo và dụng cụ gia đình
• Công ty bán lẻ quốc gia (Chainstore or National account) là mô hình công ty
hoạt động với các cửa hàng chuyên bán quần áo, giày dép, đồ trang sức…, được tổ chức thành mạng lưới rộng khắp trên toàn quốc
• Công ty siêu thị bình dân (Discount store): mô hình công ty này được tổ chức
tương tự như loại hình công ty siêu thị nhưng quy mô rất lớn và doanh số bán hàng cũng rất lớn vì nó phục vụ cho mọi tầng lớp đại chúng
• Công ty bán hàng giảm giá (Off-price store): mô hình công ty này được tổ chức
tương tự như loại siêu thị bình dân nói trên nhưng giá cả rẻ hơn
• Công ty bán hàng qua bưu điện, TV, catalog (Mail order): đây là mô hình tổ
chức giới thiệu sản phẩm qua catalog, quảng cáo tờ rơi, qua truyền hình…Họ nhận đơn đặt hàng và giao nhận hàng hóa tận nhà qua bưu điện, điện thoại …Hiện nay, hệ thống hoạt động bán hàng của các công ty này ngày càng phát triển lớn mạnh
1.4.3.6 Một số bài học kinh nghiệm để đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ:
Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước xuất khẩu hàng dệt may chủ yếu vào Mỹ như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Hồng Kông, Ấn Độ, Thái Lan…ta có thể rút ra các bài học sau:
• Tận dụng kiều dân sống ở Mỹ để đẩy mạnh xuất khẩu: Đó là kinh nghiệm của
Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines…Họ tận dụng hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp gốc Hoa, gốc Hàn…để làm bàn đạp đưa mạnh hàng hóa vào thị trường Mỹ mà không cần buôn bán qua trung gian Với những khu thương mại của người Hoa ở các thành phố lớn của nước Mỹ mà hàng hóa Trung Quốc, Đài Loan chiếm lĩnh thị trường Mỹ mau chóng và hiệu quả
• Nâng cao tính cạnh tranh về giá để chiếm lĩnh thị trường: Đó là kinh nghiệm
của Trung Quốc, Thái Lan, Peru…Thật vậy, thị trường Mỹ rất lớn, nhưng người Mỹ khá thực dụng: giá rẻ vẫn là một trong những yếu tố quan trọng để chiếm lĩnh thị trường, đặc biệt là thị trường bình quân và thu nhập thấp
Chính nhờ chính sách giá rẻ mà không vi phạm luật chống phá giá của Mỹ , nhiều mặt hàng như: quần áo, đồ chơi trẻ em, giày dép, hàng dệt kim… của Trung Quốc chiếm thị phần rất lớn ở Mỹ
• Đa dạng hóa mặt hàng , cải tiến mẫu mã thường xuyên , cũng là biện pháp
quan trọng đế chiếm lĩnh thị trường Mỹ: Đó là kinh nghiệm của Nhật Bản và Hàn Quốc, Trung Quốc
Trang 26• Có chính sách ưu đãi thu hút vốn đầu tư nước ngoài để làm ra hàng xuất
khẩu đưa vào thị trường Mỹ: Đó là kinh nghiệm của Trung Quốc và Campuchia:
sau khi được hưởng quy chế tối huệ quốc của Mỹ, các nước này giành những ưu đãi về thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có hàng xuất khẩu sang Mỹ, nhờ vậy mà Campuchia thu hút mạnh vốn đầu tư từ Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, họ “đổ xô” đến Cămpuchia để tận dụng ưu đãi về hạn ngạch của Mỹ giành cho nước này Nếu năm 1996 doanh số xuất khẩu ngành may của Cămpuchia chỉ đạt 72 triệu USD (đây là năm bắt đầu Mỹ cho Campuchia hưởng quy chế tối huệ quốc) thì năm 1999 tăng vọt lên 600 triệu USD (chiếm hơn 90% kim ngạch xuất khẩu của nước này), 70% số này xuất khẩu sang Mỹ
• Nâng cao vai tro ø của Hiệp hội ngành hàng ( ví du ï: Hiệp hội dệt may ) để
tạo nên sức mạnh tổng hợp, đủ sức thực hiện các đơn hàng lớn của thị trường Mỹ
• Chú trọng phát triển nguồn nguyên liệu trong nước: Quy hoạch các vùng
trồng bông, trồng dâu, nuôi tằm… tập trung, hiện đại hóa ngành dệt, để đủ sức cung cấp các loại vải đạt chất lượng cao cho ngành may…
KẾT LUẬN CUỐI CHƯƠNG 1
Mỹ là một cường quốc có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế thế giới Đẩy mạnh xuất khẩu sang Mỹ không những giúp chúng ta tăng kim ngạch xuất khẩu, mà còn có khả năng đẩy nhanh quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới
Thị trường dệt may Mỹ rất rộng lớn, đa dạng và tính cạnh tranh cũng rất quyết liệt Muốn tận dụng được những cơ hội do Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ đem lại, muốn đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ thì phải nghiên cứu kỹ thị trường, thông hiểu các luật lệ, quy định, cách làm ăn ở thị trường Mỹ, phải học tập kinh nghiệm của các nước đi trước và điều hết sức quan trọng phải biết phát huy nội lực, tăng sức cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam
Chương tiếp theo chúng tôi sẽ tập trung phân tích hoạt động xuất khẩu của Vinatex nhằm tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ để xây dựng các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của Vinatex vào Mỹ trong thời gian tới./
Trang 27Chương 2
PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA TỔNG CÔNG TY DỆT MAY VIỆT NAM (VINATEX) VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ TRONG THỜI GIAN QUA 2.1 Giới thiệu tổng quan về Tổng Công ty dệt may Việt Nam
2.2 Phân tích, đánh giá tình hình xuất khẩu hàng dệt may của Vinatex vào
thị trường Mỹ
2.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng
2.4 Đánh giá chung
2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY DỆT MAY VIỆT NAM (VINATEX):
2.1.1 Vài nét về ngành dệt may Việt Nam:
Để xác định được đúng vị trí và tầm quan trọng của Tổng Công ty dệt may Việt Nam, đầu tiên xin giới thiệu đôi nét về ngành dệt may của nước nhà
Qua kết quả nghiên cứu, tổng hợp chúng tôi rút ra những nhận xét về ngành dệt may Việt Nam như sau:
• Là ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động nhất: Hiện nay, ước tính có khoảng gần 1.200 doanh nghiệp dệt may trong toàn ngành và hàng chục ngàn cơ sở nhỏ khác (tính với mọi thành phần kinh tế), thu hút một lực lượng lao động gần 1.600.000 người Theo dự báo của các nhà nghiên cứu, đến năm 2005 và 2010, lực lượng lao động ngành dệt may sẽ tăng lên tương ứng là 3.000.000 và 4.000.000 người, đó là chưa kể đến một lực lượng lao động khá lớn thu hút vào lĩnh vực phát triển cây bông và trồng dâu nuôi tằm (ước tính lượng lao động này hiện nay khoảng 70.000 người, năm 2005 khoảng 180.000 người và 2010 khoảng 450.000 người)
• Là ngành công nghiệp mang lại kim ngạch XK cao nhất: năm 2000, kim ngạch
XK của ngành dệt may Việt Nam đạt gần 2.000 triệu USD, năm 2005 và 2010 ước đạt con số tương ứng là 4.000 triệu USD và 7.000 triệu USD Thông qua việc xuất khẩu, nền kinh tế Việt Nam mới có thể hội nhập vào nền kinh tế thế giới và kinh tế khu vực Đồng thời qua xuất khẩu, góp phần tăng tích lũy tư bản cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước (xem phụ lục 7)
Trang 28• Sức ép của tiến trình hội nhập kinh tế, cơ hội thị trường xuất khẩu đã rộng mở cho dệt may Việt Nam như thị trường EU, Nhật Bản, Trung Đông, Châu Á, Châu Mỹ, đặc biệt là Mỹ, một khi Hiệp định thương mại song phương vừa có hiệu lực Đối với thị trường Mỹ, trong thời gian đầu chưa có hạn ngạch, ngành dệt may Việt Nam cần tranh thủ xuất vào tối đa Đối với thị trường ASEAN, ngành dệt may Việt Nam cần tăng sức cạnh tranh để đối phó với sản phẩm các nước trong khối này có điều kiện thâm nhập vào Việt Nam với thuế suất thấp sau năm 2005 Còn đối với thị trường EU, sẽ bãi bỏ hạn ngạch dệt may cho các nước thành viên WTO sau năm 2004
• Do không có thị trường vững chắc, chưa có được nguồn nguyên liệu ổn định, nên thời gian qua ngành may Việt Nam hoạt động chủ yếu bằng hình thức gia công, hiệu quả thấp Sắp tới, một mặt cần có chiến lược đúng đắn để xây dựng thị trường vững chắc, mặt khác, cần đầu tư phát triển các vùng trồng bông, phát triển ngành dệt nhằm tạo ra nguồn vải và phụ liệu chất lượng cao, phục vụ cho may xuất khẩu, tăng tỷ trọng xuất khẩu tự doanh, tăng giá trị và lợi nhuận thông qua hình thức xuất khẩu này
• Đồng thời phải phát triển mạnh ngành may, bởi ngành dệt may Việt Nam hiện còn quá nhỏ bé so với tiềm năng của chính mình và so với ngành dệt may của các
nước trong khu vực (xem phụ lục 8)
Mặt khác đến năm 2006, với việc Việt Nam tham gia hoàn toàn vào tổ chức AFTA, sẽ cắt bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan đối với hàng dệt may nhập khẩu vào Việt Nam Chính vì vậy, cần tăng tốc phát triển dệt may vào giai đoạn từ nay đến năm 2005 hàng dệt may của chúng ta mới có thể đủ năng lực cạnh tranh vào thời điểm 2006 và những năm sau đó
• Cho đến cuối năm 2000, ngành dệt may Việt Nam có:
+ 231 doanh nghiệp dệt may Nhà nước
+ Gần 800 đơn vị công ty THNN, cổ phần, tư nhân, gồm: gần 600 đơn vị may và gần 200 tổ hợp dệt
+ Có 221 dự án đầu tư liên doanh và 100% vốn nước ngoài đang triển khai hoạt động trên các lĩnh vực: Sợi – dệt – nhuộm – đan len – may mặc – phụ tùng máy may, với số vốn đăng ký là 1.804 triệu USD
+ Thu hút khoảng 1.600.000 lao động (chưa tính lao động trồng bông, trồng dâu nuôi tằm) Chiếm khoảng 25% lực lượng lao động công nghiệp
+ Chiếm 8,58% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước (tính năm 1999)
+ Chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
+ Hiện có khoảng 1.500.000 cọc sợi, trong đó đầu tư mới khoảng 10 vạn cọc, sản xuất được 85.000 tấn sợi/năm
+ 14.000 máy dệt các loại, trong đó có khoảng 2.000 máy dệt khổ rộng (không thoi) và sản xuất được 380 triệu mét/năm (khổ 80 cm)
Trang 29+ Khả năng nhuộm, hoàn tất vải: 380 triệu mét/năm (trong đó chỉ 15% đạt xuất khẩu)
+ Sản xuất 35 triệu sản phẩm dệt kim các loại (theo số liệu của TC Thống kê) Theo ý kiến các chuyên gia dệt kim, sau 10 năm đầu tư, hiện nay ngành dệt kim có khoảng 1000 máy dệt kim, sản xuất khoảng 90 triệu sản phẩm T-shirt quy chuẩn
+ 25.000 tấn khăn bông các loại
+ 190.000 máy may các loại, sản xuất 400 triệu sản phẩm may
Trong ngành dệt may Việt Nam thì Vinatex giữ vị trí đặc biệt quan trọng, dưới đây xin giới thiệu về Vinatex
2.1.2 Giới thiệu sơ nét về Tổng Công ty Dệt may Việt Nam :
Tổng Công ty dệt may Việt Nam (Vietnam National Textile and Garment Corporation) - Tên giao dịch Vinatex
Trụ sở chính : 25 Bà Triệu, Quận Hoàn Kiếm – Hà Nội
Điện thoại: (84.4) 8265897 – 8257700; Fax: (84.4) 8262269
Trang 30mình, cụ thể là thực hiện nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng, nguyên vật liệu chuyên ngành và xuất khẩu các sản phẩm của toàn bộ các nhà máy xí nghiệp thành viên của liên hiệp, của ngành
Quá trình đổi mới của nền kinh tế cả nước với sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN kể từ 1986 đã làm thay đổi diện mạo, nội dung cũng như tốc độ phát triển kinh tế chung của mọi ngành Cùng với đó là sự xuất hiện và phát triển khá năng động của các thành phần kinh tế khác trong xã hội Bên cạnh khu vực các doanh nghiệp quốc doanh và tập thể, đã hình thành khu vực tư nhân Rồi với Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam các xí nghiệp liên doanh và các xí nghiệp 100% vốn nước ngoài lần lượt ra đời
Trong số các doanh nghiệp thuộc khu vực Nhà nước, các xí nghiệp quốc doanh địa phương ( thuộc loại vừa và nhỏ) được Nhà nước giao cho UBND các tỉnh và thành phố quản lý Các doanh nghiệp quốc doanh Trung Ương (thuộc loại lớn và trung bình) thuộc sự quản lý của Liên Hiệp các xí nghiệp dệt và Liên hiệp các xí nghiệp may Đến năm 1995 các Liên hiệp này sát nhập, trên cơ sở đó Vinatex ra đời
Việc sát nhập hai phân ngành dệt – may và thành lập Vinatex là hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển của ngành dệt – may thế giới
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ và bộ máy tổ chức của Vinatex:
Các nhiệm vụ chính của VINATEX được qui định trong quyết định của Thủ tướng Chính Phủ về việc thành lập Tổng Công Ty dệt may Việt Nam như sau:
1 Thực hiện nhiệm vụ kinh doanh hàng dệt và hàng may mặc theo quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành dệt và ngành may của Nhà nước và theo yêu cầu của thị trường, bao gồm: xây dựng kế hoạch phát triển, đầu tư, tạo nguồn vốn đầu tư, sản xuất tiêu thụ sản phẩm, cung cứng nguyên vật liệu, xuất nhập khẩu phụ liệu, thiết bị phụ tùng; liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài phù hợp với pháp luật và chính sách của Nhà nước
2 Nhận và sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn do Nhà nước giao, gồm: cả phần vốn đầu tư vào doanh nghiệp khác, nhận và sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất đai và các nguồn nhân lực khác do Nhà nước giao để thực hiện nhiệm vụ kinh doanh và những nhiệm vụ khác được giao
3 3.Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ, công nghệ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công nhân trong Tổng Công Ty
Trang 31Xin giới thiệu bộ máy tổ chức của Vinatex qua sơ đồ 2.1 ( xem trang kế tiếp)
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Vinatex
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN KIỂM SOÁT TỔNG GIÁM ĐỐC
CÁC PHÓ TGĐ PHÓ TGĐ THƯỜNTRỰC
CÁC BAN CHỨC NĂNG CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO
Trường trung cấp DM Nam Định Trường trung cấp may thời trang số 1 Trường trung cấp may thời trang số 2 Trung tâm đào tao về quản lý
Ban Kế hoạch Thị trường
Ban Kế toán tài chính
Ban Kỹ thuật đầu tư
Ban Tổ chức hành chính
Trung tâm xúc tiến xuất khẩu CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU
Viện nghiên cứu kỹ thuật dệt may Viện thiết kế thời trang
Công ty tài chính dệt may
Tạp chí dệt may
Trung tâm hợp tác LĐ quốc tế
Trung tâm y tế dệt may
Các VP đại diện
Văn phòng đại diện tại Nga Văn phòng đại diện tại Ucraina Văn phòng đại diện tại Ba Lan Văn phòng đai diện tai New York
Các liên doanh
trong nước viên ở phía Bắc Các DN thành viên ở phía Nam Các DN thành Các liên doanh với nước ngoài
Công ty may Bình Minh
Công ty may Hồ Gươm
Công ty may Tân Câu
Công ty may thời trang
Công ty Dona Bochang Domatex
Clipsal Vinatex Hongkong
Trang 32Từ sơ đồ đó ta thấy: Vinatex bao gồm các công ty trung ương, thuộc Nhà nước trong lĩnh vực dệt và may Hiện tại Tổng công ty hoạt động với 60 thành viên, trong đó :
- 42 công ty thành viên chuyên về sản xuất, chế biến bông, kéo sợi, dệt thoi và dệt kim, nhuộm, hoàn tất và sản xuất hàng may mặc
- TCT có một công ty tài chính;
- 4 công ty sửa chữa cơ khí và sản xuất phụ tùng;
- 1 Viện kỹ thuật dệt may và 1 Viện nghiên cứu và thiết kế mẫu thời trang
- 3 trường đào tạo và dạy nghề;
- 2 cơ quan chi nhánh tại Hải Phòng và Đà Nẵng;
- 2 công ty thương mại và XNK tại Hà Nội, và 1 công ty thương mại tại TP H C M;
- Một số liên doanh với các địa phương và với các công ty nước ngoài;
- Một số văn phòng đại diện nước ngoài như CHLB Nga, Ucraina và Ba Lan và gần đây nhất là văn phòng tại NewYork–Mỹ
( Xem sơ đồ 2.1 : Bộ máy tổ chức của Vinatex )
So với toàn ngành Dệt may , Vinatex có một vị trí rất quan trọng , điều đó thể
hiện qua bảng so sánh 2.1 ( xem bảng 2.1 )
Bảng 2.1: So sánh một số chỉ tiêu của toàn ngành và VINATEX (năm 2000)
NGÀNH
Trong đó VINATEX
Tỷ trọng của VINATEX
1 GT Tổng sản lượng (giá
4 Sản phẩm chủ yếu:
5 Thiết bị:
Nguồn: Vinatex
Trang 33Từ bảng 2.1 ta thấy: mặc dù số doanh nghiệp của Vinatex chỉ chiếm 5% số doanh nghiệp trong toàn ngành, sử dụng lao động chiếm 6,3%, nhưng giá trị tổng sản lượng chiếm tới 30,6% và kim ngạch xuất khẩu chiếm 30,2% toàn ngành
2.1.4 Phân tích hoạt động kinh doanh của Vinatex:
2.1.4.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu:
Mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn, lại phải cạnh tranh gay gắt và toàn diện trên thị trường trong nước và quốc tế, toàn TCT cũng đã đạt được những kết quả khá khả quan trong kỳ kế hoạch 1996 – 2000 Có thể thấy được kết quả này qua bảng
tổng hợp số 2.2 (xem bảng 2.2 )
Bảng 2.2: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của Vinatex từ 1996 đến 2000
Chỉ tiêu Đơn vị 1996 1997 1998 1999 2000 Tăng b quân
6 Sản phẩm chủ yếu
- Sợi toàn bộ 1000 tấn 56,9 61,9 64,4 72,5 79,4 8,9%
- Vải các loại* Tr.m2 139,0 140,3 158,8 164,0 180 5,6%
- Sản phẩm dệ kim Tr.SP 20 20,2 22,1 21,3 22,2 3,0%
- Sản phẩm may Tr.SP 35,1 38,1 40,3 45,1 55,1 9,9%
7 Thu nhập bình quân 1000đ 682 811 868 960 -
* Kể cả vải dệt kim Nguồn: Báo cáo tổng kết của Vinatex
Số liệu của bảng này cho ta thấy, các chỉ tiêu kế hoạch chủ yếu trong 5 năm
1996 – 2000 có tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm tương đối cao Nếu so với mục tiêu kế hoạch đã đặt ra (bao gồm: giá trị sản xuất công nghiệp tăng 17,6%, doanh thu tăng 21,4%, kim ngạch xuất khẩu tăng 23,5%) thì mức độ tăng trưởng trong giai đoạn này chưa đạt được như mong muốn Tuy nhiên ta cũng phải ghi nhận rằng trong điều kiện gặp nhiều khó khăn (thiếu vốn, thị trường…) và so với mức tăng chung của cả nền kinh tế, thì đây cũng là một thành tích, thể hiện quyết tâm và sự cố gắng lớn của các doanh nghiệp trong Tổng công ty
Trang 342.1.4.2 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Vinatex:
Đi sâu phân tích về tổng kim ngạch XNK ta thấy: Từ 1997 đến 2000, kim
ngạch XNK của Vinatex không ngừng tăng (xem bảng 2.3 và biểu đồ 2.1) Trong đó
thì kim ngạch XK chiếm từ 53 – 56%, kim ngạch NK chiếm 44 – 47% Kim ngạch
NK xấp xỉ kim ngạch XK, đây là nét đặc thù của ngành dệt may Việt Nam nói chung, Vinatex nói riêng, mà chúng tôi sẽ đi sâu phân tích trong phần tiếp theo
2.1.4.2.1 Phân tích kim ngạch xuất khẩu của Vinatex:
Trong bối cảnh chung từ 1991 kim ngạch XK hàng dệt may của Việt Nam liên tục tăng trưởng với tốc độ cao (từ 1991 đến 1996 mức tăng bình quân là 58%), đến
1996 đã đạt trên 1 tỷ USD và đứng thứ 2 sau dầu thô Năm 1997, do ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính trong khu vực, tốc độ kim ngạch XK dệt may chậm lại Đó cũng là tình hình chung nhất của XK hàng dệt may thuộc Vinatex Có thể thấy được số liệu về XK của Tổng công ty trong tổng thể các số liệu về kim
ngạch XK hàng dệt may cả nước qua bảng 2.4 ( xem bảng 2.4 )
Nhìn về lượng tuyệt đối, rõ ràng XK của Vinatex đã có sự tăng trưởng khá đều và ở mức cao, tuy nhiên tỷ trọng trong XK chung của toàn ngành có xu hướng giảm , cho thấy mức độ tăng trưởng trong các khu vực còn lại khác của ngành, bao gồm khu vực Nhà nước do địa phương quản lý, khu vực tư nhân và khu vực đầu tư nước ngoài đã có sự vượt trội hơn hẳn
Bảng 2.4 : Kim ngạch xuất khẩu của Vinatex so với toàn ngành dệt may
ĐVT: triệu USD
1996 1997 1998 1999 2000
1 Toàn ngành DM 1.150 1.349 1.351 1.747 1.892
Trong đó VINATEX 390 472 451 485 572
2 Tỷ trọng của VINATEX 34% 35% 33,4% 29,3% 30,2%
Nguồn: Vinatex
Hiện nay cả nước có gần 500 đơn vị tham gia XK hàng dệt may, Vinatex có 39 đơn vị, chiếm trên 30% tổng trị giá XK của toàn ngành Điều này cho thấy về quy mô và năng lực sản xuất cũng như XK của các doanh nghiệp thuộc Vinatex so với các doanh nghiệp trong nước thuộc các khu vực còn lại của toàn ngành là khá cao và có
ưu thế hơn
• Phân tích các mặt hàng xuất khẩu của Vinatex (xem bảng 2.5) Ta thấy:
Xét về mặt hàng XK, trong tổng kim ngạch XK của Vinatex, hàng may mặc chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều so với các sản phẩm dệt (sợi, vải), và hàng may mặc vẫn được coi là hàng XK chủ lực của dệt may Việt Nam cũng như của Vinatex Điều
Trang 35này phần nào phản ánh sự yếu kém của ngành dệt, một điểm yếu chung của ệt may cả nước mà các sản phẩm của nó không những chưa xuất khẩu được bao nhiêu, mà còn chưa đáp ứng được yêu cầu cho may mặc hàng xuất khẩu Đây là một điểm yếu mà Vinatex cần khắc phục, một khi muốn đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Mỹ
Chính vì ngành dệt yếu mà ngành may mặc đương nhiên sẽ chịu cảnh làm gia công cho người khác để chỉ đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động, hay phải nhập khẩu nguyên phụ liệu từ nước khác về mà làm hàng may XK, hưởng phần lợi nhuận nhỏ nhoi
Trong các sản phẩm may thì số liệu phản ảnh, ta chỉ mới thực hiện được các đơn hàng cho những sản phẩm còn đơn giản như: áo khoác (jacket), sơ mi, quần tây Các sản phẩm đòi hỏi cao hơn về thiết bị và công nghệ, cũng như về tay nghề của
người thợ như bộ complet, hàng thời trang…số lượng XK còn chưa đáng kể (xem phụ
lục 9) Hàng thun (dệt kim) là loại sản phẩm được ưa chuộng tiêu dùng nhiều ở các
nước phát triển có thu nhập cao cũng chưa có số lượng XK đáng kể Một số đơn vị thành viên của Vinatexcó mặt hàng dệt kim xuất được trực tiếp theo hình thức kinh doanh FOB là các công ty Thành Công, Đông Phương, Phước Long ở phía Nam, dệt Hà Nội, dệt kim Đông Xuân ở phía Bắc
Ngoài ra khi nói về các mặt hàng XK của Vinatex có thể đề cập đến một khía cạnh khác, đó là một số doanh nghiệp thành viên đã trở thành các đơn vị tiên phong của ngành dệt may VN trong việc mở ra các mặt hàng XK hoàn toàn mới
Ở đây phải kể đến Công ty dệt Phong Phú với việc đầu tư mới và thực hiện
XK mặt hàng vải denim và quần áo jean (denim), một mặt hàng có nhu cầu tiêu thụ khá lớn ở các nước phát triển Công ty Dệt Hà Nội cũng đã đầu tư và bắt đầu cho ra các sản phẩm tương tự thuộc nhóm hàng này cùng với Công ty dệt Phong Phú
Tiếp đó là Công ty dệt may Sài Gòn với mặt hàng ren và rèm trang trí trong nhà bằng đăng ten, một mặt hàng lần đầu tiên được sản xuất trong nước, vừa phục vụ nhu cầu về các sản phẩm dệt ngày càng phong phú và càng được nâng cấp của thị trường nội địa, vừa tham gia XK và làm đa dạng thêm danh mục các sản phẩm dệt may của Việt Nam bán được ra thị trường thế giới
Các công ty May Việt Tiến, May Nhà Bè ở phía Nam, Công ty may 10 ở phía Bắc là các doanh nghiệp thành viên của Vinatex đi đầu trong việc đầu tư trang thiết
bị các dây chuyền may hiện đại có nhiều khâu tự động để đáp ứng nhu cầu đặt hàng của các khách hàng nước ngoài về các mặt hàng có tính đặc chủng, chất lượng cao, giá trị gia tăng lớn, như bộ comple nam, bộ vest cao cấp cho nữ…
• Phân tích về thị trường xuất khẩu của Vinatex.:( Xem bảng 2.6 )
Từ số liệu của bảng 2.6 cho thấy: Vinatex đã xuất khẩu hàng hóa của mình đến hầu khắp các châu lục trên trái đất, trong đó Châu Âu và Châu Á là các thị trường chủ yếu của công ty, mỗi châu lục chiếm trên 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của Vinatex Còn thị trường châu Mỹ, chủ yếu là Mỹø, mặc dù là thị trường mới, ban
Trang 36đầu chiếm một tỷ trọng rất khiêm tốn, năm 1997 chỉ chiếm 3,1% nhưng đã tăng lên rất nhanh trong ba năm gần đây, cụ thể: năm 1998 chiếm 4,8%, năm 1999: 6,9%, năm 2000 đã lên đến 9,9% Điều đó chứng tỏ Mỹø là thị trường rất quan trọng và đầy tiềm năng đối với Vinatex
Còn nếu phân tích sâu theo từng quốc gia khu vực, thì Vinatex có các thị trường lớn: EU, Nhật Bản, Mỹ và các nước Bắc Mỹ khác, SNG và các nước Đông Âu Trong khuôn khổ của đề tài này thị trường Mỹ sẽ được phân tích kỹ ở phần tiếp theo
Các thị trường còn lại xin xem phân tích chi tiết ở Phụ lục 10
• Phân tích kim ngạch xuất khẩu theo phương thức kinh doanh
Như trên đã phân tích mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Vinatex là hàng may mặc
Kim ngạch XK hàng may đã tăng nhanh trong những năm vừa qua và trở thành ngành công nghiệp XK quan trọng của nền kinh tế
Gia công XK chính là nét đặc thù của ngành may Việt Nam do ngành chưa đủ sức thiết kế các mẫu mã hợp với thị hiếu tiêu dùng trên thị trường quốc tế, chưa tự chủ được nguyên liệu và các loại phụ liệu cho hàng may XK, công tác tiếp thị còn rất yếu, chưa có mạng lưới tiêu thụ trên thị trường thế giới… Với phương thức sản xuất gia công này, hầu như tất cả các loại vải và phụ liệu như khuy nút, dây kéo, nhãn mác, bao bì… đều được tạm nhập rồi tái xuất, sau khi đã trở thành sản phẩm hoàn chỉnh để xuất khẩu Thời gian gần đây, với sự tiến bộ kỹ thuật và đổi mới thiết bị máy móc, liên doanh với nước ngoài, sản xuất phụ liệu may trong nước có nhiều tiến bộ, đã sản xuất được bông tấm lót áo lạnh (liên doanh của Công ty may Việt Tiến), chỉ may cao cấp (liên doanh của Công ty Phong Phú), rồi một số loại nút áo, dựng mex, khóa kéo với chất lượng khá cao có thể đảm bảo cho xuất khẩu
Do ta hầu như chưa có khách hàng mua hàng trực tiếp và việc cung cấp hàng
ra thị trường thế giới luôn phải qua nước thứ ba, nên thị trường hàng may mặc xuất khẩu có thể nói thực chất là của người đặt gia công Giá trị tăng tạo nên trên sản phẩm may mặc xuất khẩu chủ yếu là tiền lương của cán bộ quản lý sản xuất cùng với người công nhân trực tiếp sản xuất Song cũng phải ghi nhận một thực tế là qua gia công cho các nước, các doanh nghiệp may của Việt Nam mới dần dần làm quen được với công nghệ may các mặt hàng phức tạp, thời trang của thế giới Do ngành có ưu thế là công nhân nhìn chung có tay nghề tốt, khéo léo nên sản phẩm sản xuất ra đều đạt yêu cầu chất lượng của khách hàng Tuy vậy, do ít được trang bị máy chuyên dùng hiện đại, phải dùng nhiều thao tác thủ công nên năng suất ngành may của ta thấp so với các nước Một số mặt hàng yêu cầu nhiều máy chuyên dùng ta còn bị hạn chế
Hiện nay hàng may mặc xuất khẩu từ các hợp đồng gia công chiếm đến 80%
Ví dụ năm 1997, giá trị XK của Vinatex đạt 475 triệu USD, nhưng XK trực tiếp chỉ
Trang 37chiếm 24% tổng kim ngạch Bên cạnh đó cũng cần thiết phải đề cập đến một thực tế là rất nhiều các đơn hàng XK hàng may mặc đi nước ngoài, tuy cũng được gọi là kinh doanh theo hình thức mua đứt bán đoạn (FOB), nhưng do không có được nguồn cung cấp nguyên liệu tại chỗ, các công ty may mặc của ta đều phải tự thực hiện việc nhập khẩu nguyên phụ liệu từ nước ngoài về, chỉ có khâu may là thực hiện trong nước So với hình thức gia công thuần túy (mọi nguyên phụ liệu đều do bên đưa gia công cấp) thì đây cũng đã là một bước tiến đáng kể của ngành may, vì ở đây ta có thể tự mình kiểm soát và khống chế được giá cả của các loại nguyên phụ liệu, chất lượng của chúng và tiến bộ cung cấp chúng có phù hợp với yêu cầu hay không, ta cũng cần tính toán được định mức tiêu hao nguyên phụ liệu phù hợp, để qua đó khống chế giá thành sản phẩm… Nhờ tất cả những điều này mà ta có thế chủ động hơn trong khâu chào bán hàng hóa, giá trị gia tăng trong việc làm hàng XK sẽ được tăng hơn, lợi nhuận thu về cho doanh nghiệp nói riêng và cho đất nước nói chung được nhiều hơn Những công ty có kim ngạch XK đứng đầu Vinatex, rất năng động như Công ty may Việt Tiến, Công ty may 10 cũng phải chấp nhận thực tế là làm gia công là chủ yếu, dần đang chuyển sang hình thức kinh doanh bằng việc tự nhập khẩu nguyên phụ liệu như trên
Với mục tiêu ban đầu là mang lại công ăn việc làm và đồng thời qua đó học hỏi cách tiếp cận thị trường thế giới tạo nền cho XK, phương thức gia công là cần thiết và chấp nhận được trong giai đoạn đầu Song rõ ràng đã đến lúc ta phải nhanh chóng vươn lên thực hiện XK trực tiếp nhằm nâng cao hiệu quả XK hàng dệt may Đây là một chiến lược mà ngành dệt may nói chung và Vinatex riêng với vai trò chủ đạo của mình phải phấn đấu thực hiện được càng sớm càng tốt Đặc biệt, là để XK vào thị trường Mỹ thì phải chuyển qua phương thức XK trực tiếp ( tự doanh) bởi thị trường này không thích hình thức gia công Để chuyển đổi sang hình thức XK trực tiếp (trong ngành thường gọi là hình thức bán hàng theo điều kiện FOB) thì chính ngành phải tích cực khắc phục được những yếu kém hiện nay về công tác thị trường, không được ỷ lại và phụ thuộc quá nhiều vào các đối tác nước ngoài, khắc phục mối liên kết lỏng lẻo giữa ngành dệt và ngành may hiện nay, nhất là giữa các đơn vị trong cùng Tổng Công ty Phải chuyển nhanh từ cách tiếp cận hiện nay theo hướng chỉ chú trọng đến đầu tư – sản xuất sang hướng chú trọng thị trường – hiệu quả Từ đó khắc phục những mặt yếu của doanh nghiệp, chủ động tìm kiếm thị trường, chủ động sáng tạo và đưa ra các mẫu mã mới phù hợp với khuynh hướng và thị hiếu tiêu dùng trên thị trường thế giới nhằm thu hút khách hàng Ngành dệt phải khắc phục những yếu kém của khâu này về thiết bị và công nghệ để có thể tạo mặt hàng đáp ứng được các sản phẩm may XK Tóm lại, để chuyển sang xuất khẩu trực tiếp 4 nhược điểm cần được ưu tiên khắc phục, đó là:
- Phải tạo được nhãn mác
- Tăng cường cho khâu thiết kế mẫu mã
Trang 38- Tăng cường tỷ lệ sản xuất nội địa
- Nâng cao khả năng cạnh tranh
Hiện nay, nguyên phụ liệu phục vụ cho hoạt động của Vinatex phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nhập khẩu, để thấy rõ điều đó xin xem tiếp phần sau
2.1.4.2.2 Phân tích kim ngạch nhập khẩu của Vinatex:(Xem bảng 2.7)
Từ số liệu của bảng 2.7 ta thấy: cùng với sự tăng trưởng của kim ngạch XK, thì kim ngạch NK cũng tăng theo, nếu năm 1997, kim ngạch nhập khẩu là 412.597.800 USD thì năm 2000 tăng lên đến 447.526.355 USD Kim ngạch NK luôn chiếm trên dưới 80% kim ngạch XK Đây cũng là nét đặc thù của các nước phát triển ngành dệt may nhờ con đường gia công cho nước ngoài Điều đó cũng cho thấy: tuy kim ngạch
XK hàng dệt may ngày càng lớn, nhưng phần thực sự đất nước và doanh nghiệp thu được là không đáng kể, chưa tương xứng với công sức chúng ta phải bỏ ra
Đi sâu phân tích cơ cấu mặt hàng nhập khẩu ta thấy: Do ngành dệt còn yếu kém và không có sự gắn bó chặt chẽ với ngành may, nếu nguyên phụ liệu may mặc luôn là nhóm hàng nhập khẩu chủ yếu, chiếm trên 80% tổng kim ngạch nhập khẩu Trong khi đó, nhóm hàng máy móc – thiết bị – phụ tùng lại chiếm một tỷ trọng rất khiêm tốn, khoảng 10% kim ngạch nhập khẩu, điều đó cho thấy: ta chưa đầu tư thích
đáng để hiện đại hóa ngành dệt may (Xem chi tiết bảng 2.7)
Phần tiếp theo chúng tôi sẽ tiến hành phân tích, đánh giá tình hình xuất khẩu của Vinatex vào thị trường Mỹ
2.2 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA VINATEX VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ:
Để có căn cứ đánh giá tình hình XK hàng dệt may của Vinatex vào thị trường Mỹ, trước hết cần điểm qua tình hình XK hàng dệt may của VN vào Mỹ
2.2.1 Tình hình xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào Mỹ:
Là một thị trường sản xuất và tiêu thụ hàng dệt may lớn nhất thế giới, dân số đông và mức tiêu thụ hàng dệt may lại cao gấp rưỡi so với EU (27 kg/người ở Mỹ) Riêng Mỹ có mức tiêu thụ 95 tỷ USD/năm, trong đó nhập khẩu chiếm 48,8% Ngành dệt may của Mỹ đứng thứ 10 trong các ngành công nghiệp và đứng thứ 2 trong các ngành sản xuất hàng hóa có thời hạn sử dụng không dài Công nghiệp dệt của Mỹ luôn gắn với thị trường sản phẩm dệt và quần áo may sẵn của thế giới
Mỹ là nhà nhập khẩu lớn nhất về hàng dệt và quần áo của thế giới Thị trường hàng dệt may ở Mỹ là rất lớn, nhưng hiện tại vẫn áp dụng hạn ngạch nhập khẩu Một số loại quần áo may sẵn chủ yếu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Indonesia, Ấn Độ, Nhật Bản, Srilanka, Mexico, Malaysia, Philippines, Pakistan, Rumania, Singapore, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Đài Loan
Trang 39Theo quy định của ATC (Hiệp định hàng dệt may), đối với các thành viên của WTO (trừ Trung Quốc 2008), kể từ 1/1/2005 hệ thống quota NK dệt may sẽ hoàn toàn bị gỡ bỏ Trong khi đó các nước không phải thành viên WTO sẽ tiếp tục bị áp đặt quota theo hiệp định dệt may song phương Đây là điều mà Việt Nam cần hết sức quan tâm khi theo đuổi chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ
Để thấy được vị trí nhỏ bé của hàng dệt may Việt Nam XK vào Mỹ ta hãy lược qua vài con số sau Gộp tất cả các nước ASEAN, XK của họ chỉ chiếm 12,64% trong tổng NK dệt may Mỹ (năm 2000) NK từ Việt Nam chỉ chiếm 0,5% tổng NK từ ASEAN và 0,07% tổng NK của Mỹ từ tất cả các nước
Về trị giá Việt Nam đứng thứ 8 trong số các nước ASEAN (Thái Lan đứng đầu) và thứ 57 trong tất cả các nước xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ
Về quần áo các nước ASEAN chiếm 43,23% nhập khẩu quần áo của Mỹ với Philippines và Indonesia dẫn đầu Còn Việt Nam đứng vị trí thứ 43 về XK quần áo
vào thị trường này (Xem số liệu ở phụ lục 11)
Qua các số liệu có được ta thấy: lượng và tỷ trọng hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ còn quá nhỏ bé
Lý giải điều này cũng không quá phức tạp, kể từ tháng 2/1994 Chính phủ Mỹ tuyên bố hủy bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam, hoạt động thương mại 2 chiều giữa 2 quốc gia mới bắt đầu hình thành và phát triển
Thứ nhất, ngay khi Hiệp định thương mại song phương giữa hai nước còn chưa được ký kết một số doanh nghiệp Việt Nam đã năng động tìm kiếm các mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh, cụ thể là một số mặt hàng không phải chịu thuế nhập khẩu (như chè, gia vị…) hay chịu thuế nhập khẩu thấp – tức là chênh lệch giữa mức thuế MFN và non-MFN không nhiều (như găng tay…)
Thứ hai, các doanh nghiệp nước ngoài tiến hành sản xuất hàng hóa mang nhãn hiệu Mỹ như Nike, Reebok sau đó đưa nhập khẩu vào Mỹ
Nhờ đấy đã dần hình thành quan hệ thương mại giữa hai nước
• Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào Mỹ được thể hiện qua bảng 2.8 Bảng này cho thấy: kim ngạch XK hàng dệt may của Việt Nam vào Mỹ không ngừng gia tăng; nếu năm 1994 Việt Nam chỉ xuất khẩu được 2,56 triệu USD, thì năm 2000 đã xuất được 48,57 triệu USD Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ thấp hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của dệt may Việt Nam nói chung; và tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường Mỹ mới chỉ chiếm khoảng 2-2,5% tổng kim ngạch XK của dệt may Việt Nam và mới chỉ chiếm một tỷ trọng hết sức khiêm tốn 0,05-0,07% tổng kim ngạch NK hàng dệt may của Mỹ
Trang 40Bảng 2.8: Kim ngạch XK hàng dệt may của Việt Nam vào Mỹ từ 1994-2000
Đơn vị: Triệu USD
Hàng dệt 0.11 1.78 3.59 5.326 5.053- -
Hàng may 2.45 15.09 20.01 20.602 21.347 - -
Cộng dệt & may 2.56 16.87 23.60 25.928 26.400 30.00 49,57
Chênh lệch(triệu USD) + 14,31 + 6,73 + 2,328 + 0.472 + 3,6 + 19,57
Chênh lệch (%) + 58,98 + 38,89 + 9,86 + 1,82 + 13,65 + 65,23
Tỷ trọng/TổngKN (%) 0,46 2,25 2,15 1,99 1,82 1,78 2,62
Nguồn: Hải quan Mỹ và tính toán của tác giả
• Xét về mặt hàng, ta thấy: Hiện nay về mặt hàng dệt may, Việt Nam mới chỉ xuất
khẩu được vào Mỹ 11 mặt hàng thuộc các category sau đây (thứ tự theo kim
ngạch từ cao đến thấp):
CAT 340: sơ mi nam và bé trai cotton, dệt thoi
CAT 338: sơ mi nam và bé trai cotton, dệt kim
CAT 339: sơ mi nữ và bé gái cotton, dệt kim
CAT 331: găng tay cotton
CAT 647: quần dài nam và bé trai từ sợi nhân tạo
CAT 648: quần dài nữ và bé gái từ sợi nhân tạo
CAT 348: quần dài nữ và bé gái từ sợi cotton
CAT 638: sơ mi nam và bé trai dệt kim từ sợi nhân tạo
CAT 639: sơ mi nữ và bé gái dệt kim từ sợi nhân tạo
CAT 641: sơ mi nữ và bé gái dệt thoi từ sợi nhân tạo
CAT 640: sơ mi nam và bé trai dệt thoi từ sợi nhân tạo
Ta hãy xem xét bảng 2.9 để thấy được trị giá XK và tỷ lệ của chúng trong NK
những mặt hàng này của Mỹ và so sánh đơn giá trung bình của chúng so với các nước
khác
Bảng 2.9 : Các mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ và tỷ
trọng trong tổng nhập khẩu của mặt hàng này của Mỹ
1999 2000 CAT Đơn vị
Trị giá (USD) %
NKH
K
Trị giá 1 đơn vị
Trị giá các nước