1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số GIẢI PHÁP CHIẾN lược NHẰM THÚC đẩy sự PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN đồ gỗ GIA DỤNG TRONG THẬP NIÊN đầu THẾ kỷ 21 TRÊN địa bàn TP HCM

42 261 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 574 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển cũng như thực trạng của ngành chế biến đồ gỗ gia dụng thành phố Hồ Chí Minh, từ đó xây dựng các giải pháp chiến lược ch

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LUẬN ÁN THẠC SỸ KHOA HỌC KINH TẾ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 1999

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: PGS-TS NGUYỄN ĐỨC KHƯƠNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 1999

MỤC LỤC

Lời nói đầu:

Chương I: Giới thiệu về ngành chế biến đồ gỗ gia dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

1 Sơ lược về tình hình tài nguyên rừng Việt Nam

2 Quá trình hình thành và phát triển ngành chế biến đồ gỗ gia dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

3 Vai trò, vị trí của ngành chế biến gỗ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

4 Giới thiệu qui trình sản xuất sản phẩm đồ mộc gia dụng

4.1 Giới thiệu một số máy móc thiết bị và tổ làm việc chủ yếu

4.2 Qui trình sản xuất đồ mộc gia dụng

Chương II: Thực trạng ngành chế biến đồ gỗ gia dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

1 Nguồn nguyên liệu

1.1 Nguồn nguyên liệu gỗ tại thành phố Hồ Chí Minh

1.2 Nguồn nguyên liệu gỗ của các tỉnh lân cận

1.3 Xu hướng sử dụng nguồn gỗ từ rừng trồng và rừng tự nhiên để chế biến

1.4 Nguồn nguyên liệu gỗ nhập khẩu

2 Công nghệ, máy móc thiết bị

3 Trình độ lực lượng lao động

3.1 Lao động gián tiếp

3.2 Lao động trực tiếp

4 Vấn đề tiêu thụ sản phẩm, khách hàng

4.1 Thị trường nội địa

4.2 Thị trường nước ngoài

5 Chủ trương, chính sách phát triển ngành chế biến gỗ

6 Sự tham gia của các thành phần kinh tế vào ngành chế biến gỗ thành phố Hồ Chí Minh

Chương III: Các giải pháp chiến lược và những kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển ngành chế biến đồ gỗ gia dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

1 Nhiệm vụ của ngành chế biến đồ gỗ gia dụng thành phố Hồ Chí Minh

2 Mục tiêu của ngành chế biến đồ gỗ gia dụng thành phố Hồ Chí Minh

3 Các giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành chế biến đồ gỗ gia dụng thành phố Hồ Chí Minh

Giải pháp 1: Tăng trưởng thông qua việc hội nhập hàng ngang

Giải pháp 2: Tăng trưởng hội nhập vào các tổ chức cung cấp các yếu tố đầu vào ( hội nhập về phía sau )

¬ Hội nhập vào các tổ chức tài chánh

¬ Hội nhập vào các tổ chức cung ứng nguyên liệu gỗ phôi

¬ Hội nhập vào ngành sản xuất, cung ứng máy móc thiết bị chuyên ngành

2

Trang 3

¬ Hội nhập vào các tổ chức đào tạo nguồn nhân lực

Giải pháp 3: Tăng trưởng hội nhập vào các tổ chức thương mại, dịch vụ ( hội nhập về phía trước ) và chiến lược thâm nhập-phát triển thị trường trong và ngoài nước

4 Một số kiến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước

Kết luận

Tài liệu tham khảo

LỜI MỞ ĐẦU

Ngành chế biến đồ gỗ gia dụng tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, Việt Nam nói chung đã hình thành và phát triển từ lâu đời với những đội ngũ thợ mộc lành nghề, trong đó có một số không ít đạt trình độ nghệ nhân Thế nhưng vì điều kiện lịch sư,û đất nước ta đã phải trải qua chiến tranh trong thời gian rất dài nên ngành chế biến đồ gỗ gia dụng không có đủ điều kiện phát triển như các nước trong khu vực và trên thế giới Trong khi các nước đầu tư vào khoa học kỷ thuật để cơ giới hóa, tự động hóa ngành công nghiệp chế biến đồ gỗ gia dụng thì ở Việt Nam chúng ta phải trải qua giai đoạn chiến tranh và sau đó là thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh trong tình trạng bị Mỹ cấm vận về kinh tế Do đó, trình độ chế biến gỗ đặc biệt là chế biến đồ gỗ gia dụng bằng máy móc công nghiệp của Việt Nam lạc hậu hơn so với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới Tuy nhiên, sau khi nền kinh tế Việt nam chuyển mình từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chũ nghiã, ngành công nghiệp chế biến đồ gỗ gia dụng thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được sự tiến bộ khá nhanh so với các khu vực khác trong nước Hơn nữa, trong quá trình phát triển, nền kinh tế Việt nam đang từng bước tham gia vào các thể chế hợp tác kinh tế khu vực và thế giới Tháng 7 năm 1995, Việt nam đã chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Từ tháng 1 năm 1996, Việt nam tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), thực hiện các cam kết của một thành viên theo Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) Việt nam cũng là thành viên sáng lập của Diễn đàn Hợp tác Á- Âu (ASEM) Tháng 11 năm 1998, nước ta đã chính thức gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) Từ năm 1994, Việt nam đã nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), một tổ chức bao gồm 135 thành viên, và đã qua ba vòng đàm phán,… Một mặt, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế giúp cho các nước phát triển có cơ hội mở rộng thị trường, tăng thu hút đầu tư và công nghệ, tham gia một cách bình đẳng vào việc xây dựng những “luật chơi” chung công bằng và bình đẳng hơn để bảo vệ lợi ích của mình Mặt khác, quá trình này cũng đặt các nước đó vào vị thế dễ bị thua thiệt nếu không có sự chuẩn bị tốt, không tích cực và chủ động tham gia Việt nam đang hội nhập vào nền kinh tế thế giới với những lợi ích có thể gặt hái và những thách thức lớn đi kèm Thách thức lớn nhất là tính cạnh tranh của hàng hóa Việt nam một khi các hàng rào thuế quan và phi thuế quan được bãi

Trang 4

bỏ Vậy thì, ngành chế biến đồ gỗ gia dụng thành phố Hồ Chí Minh đã chuẩn bị những gì và chuẩn bị như thế nào để sản phẩm của mình có thể cạnh tranh với sản phẩm gỗ gia dụng của các nước ASEAN vào năm 2006, thời điểm mà sản phẩm gỗ gia dụng nằm trong 15 loại hàng hóa thuộc chương trình giảm thuế nhanh xuống còn 0 – 5% ? Rõ ràng, nước sắp đến chân và ngành chế biến đồ gỗ gia dụng Việt nam sắp phải cạnh tranh trong một thị trường đông hơn 400 triệu dân với rất nhiều cơ hội nhưng cũng đầy rũi ro

Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy sự phát triển ngành chế biến đồ gỗ gia dụng trong thập niên đầu thế kỷ 21 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” có ý nghĩa quan trọng và cấp bách cả về lý luận lẫn thực tiễn

Mục đích nghiên cứu: Xây dựng các giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy sự phát triển ngành chế biến đồ

gỗ gia dụng trong những năm của thập niên đầu thế kỷ 21 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Qua đó, hy vọng rằng các cơ sở-doanh nghiệp chế biến đồ gỗ gia dụng, các cơ quan quản lý ngành chế biến gỗ, các cơ quan quản lý Nhà nước,… có thể xem đây như là một tài liệu tham khảo

Đối tượng nghiên cứu: là các cơ sở, doanh nghiệp chế biến đồ mộc gia dụng nội địa, đồ mộc thủ công mỹ

nghệ và đồ mộc xuất khẩu thuộc ngành chế biến đồ mộc gia dụng

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển cũng như thực trạng của ngành chế

biến đồ gỗ gia dụng thành phố Hồ Chí Minh, từ đó xây dựng các giải pháp chiến lược cho ngành chế biến đồ mộc gia dụng trong những năm của thập niên đầu thế kỷ 21 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học kinh tế, chú trọng phương

pháp lịch sử, mô tả Ngoài ra, người nghiên cứu còn phải đọc tài liệu, phỏng vấn hay trò chuyện, quan sát, thống kê, phân tích, đánh giá để rút ra những kết luận mang tính lý luận và sát thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh

Đề tài này có tính bao quát của một ngành nên đòi hỏi phải nghiên cứu nhiều mặt, nhiều vấn đề liên quan,…từ đó mới có thể xây dựng được những giải pháp chiến lược sâu sắc Thế nhưng, vì thời gian có hạn cũng như trình độ nghiên cứu còn hạn chế,… tôi chỉ xin trình bày đề tài này giới hạn trong các nội dung sau đây:

- Lời mở đầu

- Chương I: Giới thiệu về ngành chế biến đồ gỗ gia dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

- Chương II: Thực trạng ngành chế biến đồ gỗ gia dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

- Chương III: Các giải pháp chiến lược và những kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển ngành chế biến đồ gỗ gia dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

- Kết luận

- Tài liệu tham khảo

Vì thời gian có hạn và trình độ tác giả còn nhiều hạn chế nên Luận án không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự góp ý chân thành của quý Thầy, Cô và các độc giả quan tâm đến đề tài này

CHƯƠNG I:

4

Trang 5

GIỚI THIỆU VỀ NGÀNH CHẾ BIẾN ĐỒ GỖ GIA DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH

1 Sơ lược về tình hình tài nguyên rừng Việt Nam

2 Quá trình hình thành và phát triển ngành chế biến đồ gỗ gia dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

3 Vai trò, vị trí của ngành chế biến gỗ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

4 Giới thiệu qui trình sản xuất sản phẩm đồ mộc gia dụng

4.1 Giới thiệu một số máy móc thiết bị và tổ làm việc chủ yếu

4.2 Qui trình sản xuất đồ mộc gia dụng

Trang 6

1 Sơ lược về tình hình tài nguyên rừng Việt Nam

Như chúng ta đã biết, nguyên vật liệu chính của ngành chế biến đồ gỗ gia dụng chính là gỗ, sản phẩm được khai thác từ rừng Chính vì vậy, để nghiên cứu sự phát triển của ngành chế biến gỗ ta phải bắt đầu từ việc nghiên cứu tài nguyên rừng Việt Nam mà trong đó chủ yếu nghiên cứu về gỗ Rừng Việt Nam là rừng nhiệt đới, có rất nhiều loại gỗ quí hiếm và hàng trăm chủng loại gỗ khác nhau Trước đây, chúng ta từng tự hào là Việt Nam có “rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu” và nguồn tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản…rất phong phú trên mọi miền đất nước Thế nhưng, trải qua các giai đoạn lịch sử và các giai đoạn phát triển kinh tế, nguồn tài nguyên rừng của đất nước chúng ta ngày càng cạn kiệt Trước hết, chúng ta phân tích về diện tích rừng và độ che phủ của rừng qua các năm từ 1943 đến 1997

Bảng 1: Diện tích rừng và độ che phủ qua các năm

(Đơn vị tính: Ha) Diện tích đất có rừng

Năm

Diện tích lãnh thổ

Rừng tự nhiên Rừng trồng Tổng cọng

Tỷ lệ che phủ (%)

- 92.600 422.300 583.600 744.900 1.049.700 1.374.300

14.272.000 11.169.300 10.608.000 9.891.900 9.175.600 9.302.200 9.562.300

43,51 33,80 32,11 29,90 27,70 28,15 28,87

Nguồn: - Viện điều tra quy hoạch rừng

- Số liệu thống kê Nông Lâm nghiệp – Thủy sản Việt Nam 1990 – 1998 và dự báo năm 2000

Nhà xuất bản Thống kê Hà Nội 1999

¬ Trong giai đoạn từ năm 1943 đến năm 1976, nguồn tài nguyên rừng bị tàn phá rất nặng nề chủ yếu là do chiến tranh Năm 1943, Việt Nam có 14.272.000 ha rừng tự nhiên với độ che phủ 43,51% chủ yếu là rừng nguyên sinh với rất nhiều loại gỗ quý hiếm Đến năm 1976, diện tích rừng tự nhiên chỉ còn 11.076.700

ha và trồng thêm được 92.600 ha, độ che phủ chỉ còn 33,80% giảm 9,71% so với năm 1943 Đây là thời gian xảy ra chiến tranh, đất nước bị chia cắt nên công tác quản lý, bảo vệ rừng còn nhiều hạn chế

¬ Trong gian đoạn từ năm 1976 đến năm 1990, đất nước đã được thống nhất, toàn Đảng toàn dân tham gia khôi phục hậu quả của chiến tranh để lại và xây dựng cuộc sống mới Do đó, nhà nước chưa có sự đầu tư, quan tâm đúng mức trong việc xây dựng chính sách bảo vệ và phát triển rừng Đến năm 1990, diện tích rừng tự nhiên chỉ còn 9.175.600 ha , trồng thêm được 744.900 ha và độ che phủ chỉ còn 27,70%, giảm thêm 6,1% so với năm 1976 Trong giai đoạn này, ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam chưa được phát triển nên việc xuất khẩu gỗ tròn với khối lượng rất lớn là nguyên nhân chủ yếu làm giảm diện tích rừng Hơn thế nữa, việc quản lý bảo vệ rừng trong giai đoạn này còn rất nhiều hạn chế, lõng lẽo nên việc khai thác, chặt phá rừng bừa bãi xãy ra thường xuyên với diện tích lớn Một nguyên nhân làm giảm diện tích rừng nữa là chính sách đi kinh tế mới sau ngày hòa bình lập lại, người dân đi kinh tế mới đã chặt phá, đốt rừng làm nương rẫy với một diện tích rất đáng kể Thật vậy, tính từ năm 1986 đến năm 1990, trung bình mỗi năm khai thác 3.630.800 m3 gỗ và 30.365.200 stere củi Trong giai đoạn này, nền công nghiệp

6

Trang 7

chế biến gỗ chưa phát triển nên nhà nước có chủ trương khuyến khích xuất khẩu gỗ tròn, gỗ xây dựng cơ

bản với khối lượng rất lớn, đặc biệt là vào năm 1990 sản lượng gỗ khai thác lên đến 4.445.600 m3

¬ Trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 1995, Nhà nước đã có sự quan tâm và xây dựng các chính sách bảo

vệ, phát triển rừng sau một thời gian dài rừng bị tàn phá nghiêm trọng Do đó, diện tích rừng tự nhiên bị

giảm đi không đáng kể ngược lại diện tích rừng trồng tăng từ 744.000 ha năm 1990 lên 1.049.700 ha vào

năm 1995 Cùng với việc xây dựng và thực hiện chính sách bảo vệ - phát triển rừng, Nhà nước cũng đã

đề ra những chính sách trong việc qui hoạch, khai thác rừng để lấy gỗ nguyên liệu phục vụ cho việc xây

dựng trong nước, đồng thời phục vụ cho ngành chế biến đồ mộc gia dụng Thật vậy, từ năm 1991 đến

năm 1995, trung bình mỗi năm khai thác 2.879.400 m3 gỗ, và 30.515.600 stere củi, giảm trung bình

751.400 m3 gỗ/ năm so với giai đoạn trước Trong giai đoạn này, Nhà nước đã có chủ trương cấm xuất

khẩu gỗ tròn, gỗ xây dựng cơ bản và chỉ cho xuất khẩu sản phẩm gỗ dưới dạng sơ chế hoặc tinh chế Chủ

trương cấm xuất khẩu gỗ tròn, gỗ xẻ xây dựng cơ bản, ván sàn sơ chế là nguyên nhân chủ yếu làm giảm

lượng khai thác gỗ hằng năm trong giai đoạn này

¬ Trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 1997, diện tích rừng tự nhiên giảm đi không đáng kể và diện tích

rừng trồng tăng lên đến 1.374.300 vào năm 1997 Từ năm 1996 đến 1998, trung bình mỗi năm khai thác

2.506.500 m3 gỗ, và 27.384.600 stere củi, giảm trung bình 372.900 m3 gỗ/ năm so với giai đoạn trước

Trong giai đoạn này, Nhà nước đã có chủ trương cấm xuất khẩu các loại sản phẩm, bán sản phẩm tiêu hao

nhiều nguyên liệu như: xà điện, tà vẹt, cột gỗ các loại, khung cửa, ván coffa, pallete,…và chỉ cho xuất

khẩu sản phẩm gỗ hoàn chỉnh dưới dạng tinh chế Đặc biệt, ngày 30 tháng 03 năm 1996 đã có Quyết định

374/NN-PTNT của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn quy định tạm thời về nhập khẩu gỗ

nguyên liệu từ các nước trong khu vực Hơn nữa, ngày 02 tháng 05 năm 1997 đã có Chỉ thị 286/TTg của

Thủ Tướng Chính Phủ về những biện pháp cấp bách để bảo vệ rừng tự nhiên đồng thời khuyến khích xuất

khẩu sản phẩm gỗ từ rừng trồng

Qua các số liệu được phân tích ở trên, rõ ràng nguồn tài nguyên rừng của Việt Nam hiện nay không còn

phong phú như chúng ta thường nói trước đây Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của đất nước, là bộ

phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị lớn đối với nền kinh tế quốc dân Sản phẩm từ rừng, đặc

biệt là gỗ và lâm sản, là nguồn lợi kinh tế quan trọng của đất nước Tuy nhiên, việc khai thác quá nhiều và

không có kế hoạch đã dẫn tới làm suy kệt nguồn tài nguyên quý giá này Hơn nữa, diện tích rừng mất đi đáng

kể là nguyên nhân chính làm môi trường sinh thái chúng ta đang sống biến đổi theo chiều hướng ngày càng

xấu, các trận lũ lụt lớn vừa xảy ra ở miền Trung đã minh chứng điều này Hơn thế nữa, diện tích rừng ngày

càng giảm cũng là nguyên nhân làm giảm số lượng hoặc tuyệt chủng một số loài động vật quý hiếm sinh sống

trong rừng Sau đây là bảng số liệu minh chứng sản lượng khai thác gỗ, củi hằng năm ở nước ta trong các năm

qua:

Bảng 2: Sản lượng khai thác gỗ, củi hàng năm

Gỗ Củi Năm

Sản lượng (1000 m3 )

Tốc độ phát triển sản lượng (%)

Sản lượng (1000 stere)

Tốc độ phát triển sản lượng (%)

100 109,3 90,6 97,2

28.395,0 31.021,0 29.518,0 30.833,0

100 109,2 95,2 104,5

Trang 8

136,3 72,2 83,7 107,3 97,9 98,9 101,4 87,5 88,9

32.059,0 30.237,0 30.397,0 31.671,0 30.445,0 29.828,0 28.827,2 27.356,4 25.970,1

104,0 94,3 100,5 104,2 96,1 97,9 96,6 94,9 94,9

Nguồn: - Niên giám thống kê Việt Nam 1998

Trong đó: Tốc độ phát triển năm trước bằng 100%

2 Quá trình hình thành và phát triển ngành chế biến đồ gỗ gia dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Ngành chế biến đồ gỗ gia dụng tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, Việt Nam nói chung đã hình thành và phát triển từ lâu đời với những đội ngũ thợ mộc lành nghề, trong đó có một số không ít đạt trình độ nghệ nhân Thế nhưng vì điều kiện lịch sư,û đất nước ta đã phải trải qua chiến tranh trong thời gian rất dài nên ngành chế biến đồ gỗ gia dụng không có đủ điều kiện phát triển như các nước trong khu vực và trên thế giới Trong khi các nước đầu tư vào khoa học kỹ thuật để cơ giới hóa, tự động hóa ngành công nghiệp chế biến đồ gỗ gia dụng thì ở Việt Nam chúng ta phải trải qua giai đoạn chiến tranh và sau đó là thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh trong tình trạng bị Mỹ cấm vận về kinh tế Do đó, trình độ chế biến gỗ đặc biệt là chế biến đồ gỗ gia dụng bằng máy móc công nghiệp của Việt Nam lạc hậu hơn so với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới Để có thể nhìn thấy rõ ràng quá trình hình thành và phát triển của ngành chế biến đồ gỗ gia dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, ta chia quá trình này thành nhiều giai đoạn gắn liền với quá trình chuyển đổi về chủ trương, chính sách phát triển ngành chế biến gỗ của Đảng và Nhà nước ta

¬ Trước năm 1975, thành phố Hồ Chí Minh nằm dưới sự quản lý của chính quyền củ Máy móc thiết bị chủ yếu của ngành chế biến đồ gỗ gia dụng trong giai đoạn này hầu như chưa có mấy, chỉ có một số thiết bị đơn lẽ điển hình như máy cưa vòng CD4 để xẽ gỗ tròn thành từng phách gỗ, cưa mâm để rong thành từng thanh gỗ, máy cắt, máy cuốn, máy lọng, máy khoan Rõ ràng, các máy móc thiết bị này không thể đáp ứng cho quy trình sản xuất đồ mộc công nghiệp Sản phẩm chủ yếu của ngành chế biến gỗ trong giai đoạn này là gỗ xây dựng để làm nhà cửa, gỗ để đóng tàu thuyền,… Đặc biệt trong giai đoạn này ở miền Nam chưa hình thành các nhà máy chế biến đồ gỗ gia dụng Đồ mộc gia dụng chủ yếu được làm bằng thủ công bởi những người thợ mộc ở các cơ sở nhỏ của tư nhân Mẫu mã mặt hàng tương đối phong phú do có những tiếp cận nhất định với những mẫu mã nước ngoài thông qua các catalogue Các khu phố chuyên sản xuất và mua bán các sản phẩm đồ mộc gia dụng đã được hình thành tại thành phố Hồ Chí Minh như : vùng Gò Vấp, vùng Ngả tư Bảy Hiền, đường Ngô Gia Tự, đường Nguyễn Thị Minh Khai,…

¬ Từ năm 1975 đến năm 1986, đất nước đã được thống nhất và đi vào khôi phục – phát triển kinh tế theo hướng kế hoạch hóa tập trung bao cấp trong thế bị bao vây, cấm vận kinh tế bởi đế quốc Mỹ Nền kinh tế Việt Nam lúc này có những hạn chế nhất định trong quá trình phát triển và ngành chế biến gỗ cũng không thể nằm ngoài ảnh hưởng đó Trong giai đoạn này, Nhà nước đã hình thành một số xí nghiệp quốc doanh và tập hợp các cơ sở sản xuất tư nhân thành các tổ hợp, tổ sản xuất để sản xuất đồ mộc gia dụng Nhiệm vụ chủ yếu của các xí nghiệp chế biến gỗ là cung ứng gỗ xẽ xây dựng cơ bản nội địa, khung nhà ở, đóng tàu thuyền và một số đồ mộc gia dụng giản đơn theo chỉ tiêu kế hoạch của thành phố để sử dụng trong nước Máy móc thiết bị ngành chế biến gỗ được sản xuất trong nước như máy bào liên hợp, máy khoan,

8

Trang 9

máy tourpi,… chưa nhập khẩu máy móc từ nước ngoài vì bọn đế quốc đứng đầu là Mỹ đang thực hiện chủ trương bao vây, cấm vận đối với nước ta Trong thời kỳ này, hàng hóa xuất khẩu chủ yếu là gỗ tròn: thông, dầu,…ván sàn sơ chế và cây chuốt tròn cho thị trường Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Aâu Nói chung, ngành chế biến đồ gỗ gia dụng của thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn này hầu như không phát triển mấy so với giai đoạn trước năm 1975

¬ Từ năm 1986 đến năm 1991, đây là giai đoạn mà nền kinh tế Việt Nam đang từng bước chuyển mình từ

cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Cùng với sự chuyển mình của các ngành công nghiệp khác, ngành công nghiệp chế biến gỗ cũng bắt đầu có sự thay đổi Trong những năm cuối của giai đoạn này, nhà nước đã bắt đầu hạn chế xuất khẩu gỗ tròn và khuyến khích xuất khẩu sản phẩm gỗ xẽ xây dựng cơ bản, đồ gỗ sơ chế nhằm giải quyết việc làm cho lực lượng lao động dư thừa, tăng giá trị hàng xuất khẩu đồng thời tạo tiền đề phát triển cho ngành công nghiệp chế biến gỗ Mặt khác, do yêu cầu của khách hàng, vấn đề ngâm tẩm và sấy sau khi cưa xẽ đã bắt đầu được một số xí nghiệp chế biến gỗ thực hiện Các doanh nghiệp chế biến gỗ cũng đã nhập khẩu một số máy móc thiết bị từ nước ngoài, chủ yếu là từ Đài Loan như: máy bào 4 mặt, bào 3 mặt, máy khoan, máy tourpi, máy shaper copy, máy router, máy tiện tự động, máy chà nhám,… Sản phẩm đồ mộc gia dụng xuất khẩu được chế biến bằng máy móc công nghiệp chủ yếu trong những năm cuối của giai đoạn này là các loại bàn ghế kiểu đơn giản, thanh băng ghế, ván sàn và các mặt hàng rất đơn giản Ngoài ra, các doanh nghiệp còn xuất khẩu ván, gỗ xây dựng cơ bản qua các nước Thái Lan, Đài Loan,… trong thời kỳ này Bảng số liệu sau đây sẽ minh chứng về sản lượng các mặt hàng được xuất khẩu trong giai đoạn này Bảng 3: Khối lượng các mặt hàng gỗ xuất khẩu từ năm 1986 đến 1991

Đơn vị tính: m3

Mặt hàng 1986 1987 1988 1989 1990 1991

- Gỗ tròn

- Gỗ xẻ, ván

- Đồ mộc sơ chế

242.388 35.135 5.325

106.159 55.070 10.517

Nguồn: Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh

Nói tóm lại, trước năm 1991 các xí nghiệp chế biến gỗ tại thành phố Hồ Chí Minh chỉ biết cưa xẽ gỗ xây dựng cơ bản và sơ chế đồ gỗ xuất khẩu, chưa biết sản xuất đồ gỗ tinh chế Đây là thời kỳ sử dụng nguyên liệu gỗ không hiệu quả, khai thác và sử dụng lãng phí, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên

Đứng trước tình hình đó, ngày 19 tháng 03 năm 1992, Chỉ thị 90/CT của Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng đã ra đời và quy định từ năm 1992 trở đi nghiêm cấm việc xuất khẩu các loại gỗ tròn, gỗ xẻ, ván sàn sơ chế và các loại song mây nguyên liệu

¬ Từ năm 1992 đến nay, cùng với sự xuất hiện nhiều thành phần kinh tế, ngoài các doanh nghiệp quốc doanh còn có rất nhiều các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài đã mạnh dạn đầu tư vốn và công nghệ vào ngành chế biến đồ gỗ gia dụng xuất khẩu trên đất nước ta Các doanh nghiệp chế biến đồ gỗ gia dụng không ngừng đầu tư máy móc thiết bị tinh chế đồ gỗ từ đơn giản đến hiện đại và do đó, chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao Trong thời kỳ ban đầu, sản phẩm tinh chế chủ yếu là các chi tiết sản phẩm rất đơn giản như mặt ghế ngồi, mặt thớt, ngăn kéo, với tiêu chuẩn chất lượng thấp Dần dần, trình độ chế biến đồ gỗ gia dụng của các doanh nghiệp chế biến gỗ được nâng lên do trang bị máy móc thiết bị ngày càng hiện đại, tích luỹ kinh nghiệm ngày càng nhiều và cũng do yêu cầu của khách hàng ngày càng cao Chính điều này cũng đã đào thải

Trang 10

nhiều xí nghiệp, cơ sở sản xuất nhỏ không đủ điều kiện, khả năng trang bị thêm máy móc thiết bị, thay đổi quy trình công nghệ nhằm cho ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu chất lượng của khách hàng Sản phẩm đồ mộc gia dụng xuất khẩu được chế biến bằng máy móc công nghiệp trong giai đoạn sau này chủ yếu là bàn, ghế, kệ,…đã được sản xuất hoàn chỉnh và được xuất khẩu qua các nước Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc,…và một số nước Châu Aâu Ngoài ra, các sản phẩm đồ gỗ thủ công mỹ nghệ được sản xuất chủ yếu từ các cơ sở tư nhân cũng được xuất khẩu trong thời gian qua Bảng số liệu sau đây sẽ minh chứng điều này

Bảng 4: Khối lượng các sản phẩm gỗ được xuất khẩu từ năm 1992 đến năm 1999

Đơn vị tính: m3

1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 27.354 45.981 66.189 83.854 75.872 50.354 37.552 33.088

Nguồn: Sở Thương Mại thành phố Hồ Chí Minh

Qua số liệu bảng trên, ta nhận thấy rằng khối lượng các sản phẩm gỗ xuất khẩu tăng dần từng năm từ 1992 với 27.354 m3 đến 1995 lên tới 83.854 m3 sau đó giảm xuống còn 33.088 m3 vào năm 1999 Sở dĩ như vậy là

vì do chính sách của Nhà Nước hạn chế từng bước khối lượng gỗ xuất khẩu từ rừng tự nhiên trong giai đoạn này Cụ thể:

- Quyết định số 664/TTg ngày 18 tháng 10 năm 1995 của Thủ Tướng Chính Phủ cấm xuất khẩu các loại sản phẩm, bán sản phẩm tiêu hao nhiều nguyên liệu như: xà điện, tà vẹt, cột gỗ các loại, khung cửa ra vào, khung cửa sổ, quan tài, thùng bệ xe ô tô, ván coffa, pallete,…

- Chỉ thị số 286-TTg ngày 02 tháng 05 năm 1997 của Thủ Tướng Chính Phủ cấm xuất khẩu gỗ và các loại sản phẩm chế biến từ gỗ, trừ hàng gỗ thủ công mỹ nghệ

- Quyết định số 65-1998/QĐ-TTg ngày 24 tháng 03 năm 1998 của Thủ Tướng Chính Phủ cấm xuất khẩu sản phẩm gỗ từ rừng tự nhiên trong nước, trừ sản phẩm gỗ mỹ nghệ

Nhìn chung, ngành chế biến đồ gỗ gia dụng tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, Việt Nam nói chung có lịch sử hình thành và phát triển khá lâu đời Tuy nhiên, do ảnh hưởng của chiến tranh kéo dài và sự bao vây cấm vận cùng cơ chế quản lý tập trung sau ngày hòa bình lập lại mà ngành công nghiệp chế biến gỗ gia dụng Việt Nam nói chung, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã bị tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới Tuy nhiên, trong quá trình hồi phục và phát triển ngành chế biến gỗ cũng đạt được sự tiến bộ khá nhanh và cũng đã trải qua rất nhiều bước thăng trầm do những thay đổi về chính sách của Nhà nước trong từng giai đoạn

3 Vai trò, vị trí của ngành chế biến gỗ tại thành phố Hồ Chí Minh

Như đã giới thiệu ở trên, ngành chế biến gỗ tại thành phố Hồ Chí Minh còn rất non trẻ: máy móc thiết bị lạc hậu; trình độ kỹ thuật, tổ chức, quản lý còn thấp; chất lượng sản phẩm chưa cao và chưa có uy tín trên thương trường quốc tế Chính vì thế, ngành chế biến gỗ chiếm một vị trí khá khiêm tốn so với các ngành công nghiệp khác tại thành phố Hồ Chí Minh Các chỉ tiêu tổng hợp sau đây sẽ phản ảnh khá rõ ràng:

10

Trang 11

Bảng 5: Các chỉ tiêu tổng hợp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

1995 1996 1997 1998 Các chỉ tiêu Đơn vị

Tính Tổng số Ngành

6 Cơ cấu lao

động công nghiệp

1077

4,3

12037

2,8

Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hồ Chí minh 1998

Trong đó: Kim ngạch xuất khẩu ngành chế biến gỗ không kể đầu tư nước ngoài

Nhìn vào bảng trên, ta nhận xét và đánh giá các chỉ tiêu như sau:

̇ Giá trị sản xuất công nghiệp ngành chế biến gỗ năm 1995 đạt 834.593 triệu đồng, chiếm 2,4% so với tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Trải qua các năm 1996, 1997,

Trang 12

1998 giá trị sản xuất công nghiệp ngành chế biến gỗ có tăng lên nhưng không đáng kể, đặc biệt năm

1998 giảm 110.708 triệu đồng so với năm 1997 Trong khi đó, tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh tăng lên hằng năm, vì vậy cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp nghành chế biến gỗ giảm từ 2,4 trong năm 1995 xuống còn 1,4 trong năm 1998 Rõ ràng, đây là biểu hiện không tốt đối với ngành công nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

̇ Số cơ sở chế biến gỗ giảm từ 1.766 (chiếm 5,4% số cơ sở sản xuất công nghiệp) trong năm 1995 xuống còn 1.151 (chiếm 4,7%) trong năm 1998 Do đó, số lao động trong ngành chế biến gỗ giảm từ 18.590 (chiếm 4,6% tổng số lao động công nghiệp) trong năm 1995 xuống còn 13.257 lao động (chiếm 2,7%) trong năm 1998, giảm 5.333 lao động Điều này thật đáng cho chúng ta phải suy nghĩ, sau một khoảng thời gian 4 năm thì số cơ sở và lao động trong ngành chế biến gỗ không những không tăng lên mà còn giảm đi đáng kể, đẩy ra cho xã hội 5.333 lao động

̇ Kim ngạch xuất khẩu trong ngành chế biến gỗ năm 1995 đạt 39.278.000 USD, chiếm 1,5% so với tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Thế nhưng, trải qua các năm tiếp theo kim ngạch xuất khẩu giảm dần và đến năm 1998 chỉ còn 35.014.000 USD, chỉ chiếm 0,9% so với tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Đây là một thực tế, một xu hướng đáng lo ngại cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong thời gian qua Tiếp theo, ta hãy đánh giá vai trò, vị trí của ngành chế biến gỗ thành phố Hồ Chí Minh đối với ngành chế biến gỗ của Việt Nam

Bảng 6: Giá trị sản xuất công nghiệp ngành chế biến gỗ

( Giá so sánh năm 1994 – Đơn vị tính: Tỷ đồng )

- Giá trị SXCN ngành CB gỗ cả nước

- Giá trị SXCN ngành CB gỗ t.p HCM

- Cơ cấu giá trị SXCN

3.323,5 713,5 21,5%

3.198,5 628,3 19,6%

3.145,7 633,2 20,1%

3.114,2 575,5 18,5%

Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 1998

Giá trị SXCN ngành chế biến gỗ thành phố Hồ Chí Minh năm 1995 đạt 713,5 tỷ đồng, chiếm 21,5 % so với tổng giá trị sản xuất công nghiệp ngành chế biến gỗ của cả nước Thế nhưng, trải qua các năm 1996, 1997 và 1998 giá trị SXCN ngành chế biến gỗ thành phố Hồ Chí Minh có xu hướng giảm dần và chỉ đạt 575,5 tỷ đồng vào năm 1998, chiếm tỷ lệ 18,5% so với tổng giá trị sản xuất công nghiệp ngành chế biến gỗ của cả nước Điều này nói lên rằng, nếu xét trong phạm vi ngành chế biến gỗ thì thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỷ trọng lớn, giữ vai trò quan trọng Tuy nhiên, nếu xét theo xu hướng phát triển của ngành qua bảng số 7 sau đây:

Bảng 7: Xu hướng phát triển ngành (So sánh cả nước với t.p HCM)

Chỉ tiêu Đvt 1995 1996 1997 1998

- Giá trị SXCN ngành CBG cả nước

Tốc độ phát triển

- Giá trị SXCN ngành CBG t.p HCM

Tốc độ phát triển

Tỷ đồng % Tỷ đồng %

3.323,5

100 713,5

100

3.198,5 -3,7 628,3 -12,0

3.145,7 -2,0 633,2 +0,7

3.114,2 -2,0 575,5 -10,2

Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 1998

12

Trang 13

thì ta nhận thấy xu hướng phát triển chung của ngành chế biến gỗ của cả nước cũng như của thành phố Hồ Chí Minh ngày càng có xu hướng giảm Tuy nhiên, tốc độ giảm của ngành này tại thành phố Hồ Chí Minh qua các năm quá lớn Điều này ít nhiều đã phản ảnh sự đe dọa đến xu hướng phát triển và vai trò của ngành chế biến gỗ trên phạm vi cả nước và đặc biệt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Cần thấy rằng, trong một tương lai không xa, nếu không có sự quan tâm đúng mức của Nhà nước hướng vào sự phát huy nội lực trong việc huy động vốn đầu tư và đổi mới công nghệ nhằm vực dậy và phát triển ngành này thì liệu ngành chế biến gỗ có còn giữ vai trò là một ngành công nghiệp chuyên môn hóa trong cơ cấu ngành công nghiệp của nước ta nữa hay không? Rất rõ ràng, đây là một điều rất đáng lo ngại

Nói tóm lại, qua sự phân tích ở trên đã thể hiện hầu hết các chỉ tiêu tổng hợp của ngành chế biến gỗ trong những năm qua có xu hướng giảm so với các ngành công nghiệp khác tại thành phố Hồ Chí Minh và cơ cấu giá trị SXCN ngành chế biến gỗ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước cũng có xu hướng ngày càng giảm dần Vậy nguyên nhân nào đã dẫn đến tình trạng này? Theo tôi, có thể do một số nguyên nhân sau đây:

• Cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực Đông Nam Á xảy ra từ giữa tháng 7 năm 1997 ảnh hưởng rất lớn đến ngành chế biến gỗ nói riêng, các ngành công nghiệp khác tại thành phố Hồ Chí Minh nói chung Phần lớn các sản phẩm đồ gỗ gia dụng được xuất khẩu sang các nước Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật,…và nhu cầu tiêu dùng của các nước này giảm sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng Hơn thế nữa, do đồng tiền của các nước bị khủng hoảng kinh tế bị mất giá nên hàng hoá của các nước này như Indonesia, Malaysia, Myanma, Thái Lan,…trở nên rẽ hơn hàng hoá Việt Nam Điều này đã gây sự bất lợi trong việc cạnh tranh về giá đối với các sản phẩm, hàng hoá Việt Nam trên thương trường quốc tế

• Các chủ trương, chính sách kinh doanh liên quan đến ngành chế biến gỗ thường xuyên thay đổi, không ổn định trong thời gian dài gây nên tâm lý lo lắng, hoang mang trong giới đầu tư Cụ thể, Chỉ Thị 286-TTg ngày 02 tháng 05 năm 1997 của Thủ Tướng chính phủ và Quyết Định 1124/1997/QĐ-TTg ngày 25 tháng

12 năm 1997 của Thủ Tướng Chính Phủ cấm xuất khẩu gỗ và các loại sản phẩm chế biến từ gỗ đã gây ách tắc trong việc sản xuất, xuất khẩu và ảnh hưởng đến tâm lý của các doanh nhân trong ngành chế biến gỗ trong thời gian dài Do đó, các nhà kinh doanh đã không dám đầu tư mở rộng sản xuất với qui mô lớn

• Thiếu sự quan tâm của các cấp trong việc thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ trên phạm

vi cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng nên đã làm giảm mất động lực kích thích đối với ngành này

4 Giới thiệu qui trình sản xuất sản phẩm đồ mộc gia dụng

Như chúng ta đã biết, đồ mộc gia dụng được sản xuất từ hai phương thức: công cụ thủ công và máy móc công nghiệp

- Đồ mộc gia dụng được sản xuất bằng công cụ thủ công đã hình thành và phát triển từ thời xa xưa, có những đội ngũ thợ mộc đạt trình độ của những nghệ nhân Tuy nhiên, qui mô sản xuất của loại hình này thường không lớn lắm, tập trung ở các cơ sở tư nhân hoặc ở một khu vực, một làng, một dãy phố Một điều đáng chú ý là trước đây, những người thợ mộc dùng những công cụ thủ công như: bào tay, cưa tay, khoan tay, đục tay,…để sản xuất các sản phẩm đồ mộc gia dụng và do đó, năng suất lao động rất thấp Ngày nay, những người thợ mộc có thể dùng một số máy móc thiết bị chế biến gỗ như: máy bào liên hợp, máy lọng, máy rong, máy cắt, khoan điện, máy tiện,… để hổ trợ cho một số công việc của mình Tuy nhiên, các sản phẩm được sản xuất từ những công cụ thủ công có sự đồng điều không cao và thường được tiêu dùng trong nước Chỉ có những mặt hàng thủ công mỹ nghệ được chạm trổ rất tinh vi mà máy móc công nghiệp không thể làm được mới được xuất khẩu ra nước ngoài

Trang 14

- Đồ mộc gia dụng được sản xuất bằng máy móc công nghiệp mới hình thành và phát triển vào những năm cuối của thập niên 80 nên trình độ chế biến còn nhiều hạn chế so với các nước khác Thế nhưng, đồ mộc gia dụng được sản xuất bằng máy móc công nghiệp thường là sản phẩm của các công ty với qui mô lớn và năng suất lao động cao hơn rất nhiều so với sản xuất bằng công cụ thủ công Hơn nữa, hầu hết các sản phẩm đồ mộc gia dụng được sản xuất bằng máy móc công nghiệp có độ đồng đều, chất lượng cao và được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài

Trước hết, ta hãy giới thiệu một số máy móc thiết bị và tổ làm việc chủ yếu trong qui trình sản xuất đồ mộc gia dụng bằng máy móc công nghiệp:

4.1 Giới thiệu một số máy móc thiết bị và tổ làm việc chủ yếu:

Bào 4 mặt: Đểå cho thanh gỗ được thẳng, bề mặt phẳng tạo thuận lợi cho các công việc gia công sau

Cắt: Để cho ra chi tiết dài đúng kích thước mong muốn

Rong: Để cho ra chi tiết có chiều dày hay rộng đúng kích thước mong muốn, gia công theo chiều dài

thanh gỗ và theo đường thẳng

Lọng: Để tạo hình dáng ban đầu của chi tiết (hình tròn, hình cong ), gia công theo đường cong

Ghép phôi: Để tạo ra mặt phẳng lớn từ những thanh gỗ nhỏ Cuốn 2 mặt: Mặt phẳng sau khi ghép phôi sẽ bị so le, ghồ ghề Cuốn 2 mặt để tạo mặt phẳng tương đối

đồng nhất, ít bị so le Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chà nhám mặt phẳng sau này

Tourbi: Để tạo hình dáng chính xác cho chi tiết nhỏ

Shaper copy: Cũng là một dạng của tourbi, tạo hình dáng chính xác của chi tiết lớn

Router: Cũng là một dạng của tourbi nhưng nhỏ hơn, dùng để móc rãnh mà máy khoan không làm được

Khoan lỗ tròn: Mục đích dùng để kết nối với các chi tiết khác bằng con chốt gỗ

Khoan mộng vuông: Cho ra một lỗ hình vuông, hình chữ nhật trên chi tiết sản phẩm dùng để kết nối với

các chi tiết khác có mộng dương

Nhám mặt phẳng: Dùng để chà nhám mặt phẳng chi tiết sản phẩm

Nhám cạnh cong: Dùng để chà nhám cạnh cong chi tiết sản phẩm

** Mục đích của chà nhám làm bề mặt chi tiết sản phẩm thật phẳng, láng tạo điều kiện thuận lợi cho bước công việc vẹc ni

Phun vẹc ni: Là công việc sau cùng của bước công việc vẹc ni bao gồm: nhám chổi, bả bột lót, chà bột lót và phun vẹc ni Phun vẹc ni để phủ một lớp bóng bao phủ sản phẩm nhằm bảo vệ sự trầy sướt, bảo quản và tăng vẻ đẹp của sản phẩm

Lắp ráp thành phẩm: là lắp ráp những chi tiết, cụm chi tiết thành thành phẩm, sản phẩm hoàn chỉnh

4.2 Qui trình sản xuất đồ mộc gia dụng:

Qui trình sản xuất đồ mộc gia dụng theo hai phương thức tương đối giống nhau, chỉ khác nhau ở công cụï sản xuất Mặt khác, các sản phẩm khác nhau sẽ có các chi tiết khác nhau nên qui trình sản xuất cụ thể cho từng loại sản phẩm cũng sẽ khác nhau Tuy nhiên, ta chỉ giới thiệu qui trình chung để sản xuất đồ mộc gia dụng:

Trang 15

Trong đó:

Đối với việc sản xuất bằng công cụ thủ công thì công việc tạo hình bao gồm cả việc chạm, trổ, điêu khắc,… và sản phẩm thường được lắp ráp hoàn chỉnh trước khi phun vẹc ni nên không có bước công việc lắp ráp thành phẩm sau cùng

Nói chung, qui trình sản xuất đồ mộc gia dụng thường trải qua 3 công đoạn sau:

- Công đoạn chuẩn bị phôi: bao gồm các bước công việc như Bào, Ghép phôi, Rong, Cắt, Lọng

- Công đoạn gia công: bao gồm các bước công việc như Khoan, Đục mộng, Tạo hình, Ghép thô, Chà nhám

- Công đoạn hoàn chỉnh: bao gồm các bước công việc như Chà nhám, Phun vẹc ni, Lắp ráp thành phẩm

Trang 16

CHƯƠNG II:

THỰC TRẠNG NGÀNH CHẾ BIẾN ĐỒ GỖ GIA DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH

1 Nguồn nguyên liệu

1.1 Nguồn nguyên liệu gỗ tại thành phố Hồ Chí Minh

1.2 Nguồn nguyên liệu gỗ của các tỉnh lân cận

1.3 Xu hướng sử dụng nguồn gỗ từ rừng trồng và rừng tự nhiên để chế biến

1.4 Nguồn nguyên liệu gỗ nhập khẩu

2 Công nghệ, máy móc thiết bị

3 Trình độ lực lượng lao động

3.1 Lao động gián tiếp

3.2 Lao động trực tiếp

4 Vấn đề tiêu thụ sản phẩm, khách hàng

4.1 Thị trường nội địa

4.2 Thị trường nước ngoài

5 Chủ trương, chính sách phát triển ngành chế biến gỗ

6 Sự tham gia của các thành phần kinh tế vào ngành chế biến gỗ thành phố Hồ Chí Minh

16

Trang 17

Để đánh giá thực trạng ngành chế biến đồ gỗ gia dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, ta hãy lần lượt xét từng nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển của nó và từ đó, rút ra những mặt thuận lợi cũng như không thuận lợi của từng nhân tố Đây là cơ sở rất quan trọng để đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành

1 Nguồn nguyên liệu

Trong ngành chế biến đồ gỗ gia dụng, gỗ là nguyên liệu chính để cấu tạo nên sản phẩm và giá trị nguyên liệu gỗ chiếm một tỷ trọng rất lớn, từ 50% đến 70% giá thành sản phẩm Hơn thế nữa, chất lượng của nguyên liệu gỗ quyết định chất lượng của sản phẩm: nếu nguyên liệu gỗ được cưa xẽ, ngâm tẩm, sấy tốt và chất lượng gỗ cao thì sẽ giảm hao hụt gỗ trong quá trình chế biến, sản phẩm được tạo thành sẽ có chất lượng rất cao và ngược lại Thế nhưng, rừng ở thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu là rừng phòng hộ ở huyện Cần Giờ, Củ Chi, Bình Chánh,… do đó, các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh phải mua nguồn nguyên liệu gỗ từ các tỉnh lân cận như Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh,…hoặc nhập khẩu nguyên liệu gỗ từ các nước trong khu vực

Trước hết, ta xét đến nguồn nguyên liệu gỗ tại chỗ: diện tích rừng hiện có trên địa bàn thành phố Hồ Chí minh

1.1 Nguồn nguyên liệu gỗ tại thành phố Hồ Chí Minh:

Theo báo cáo tổng kết năm 1999 của Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn thành phố Hồ Chí Minh (14/01/2000 )thì tổng diện tích rừng và đất rừng phòng hộ trên địa bàn thành phố Hồ Chí minh là 39.072ha, trong đó:

- Huyện Cần Giờ : 38.664 ha

- Huyện Củ Chi : 191 ha

- Huyện Bình Chánh : 217 ha

Rõ ràng, đây là điều bất lợi cho các doanh nghiệp chế biến đồ gỗ gia dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh vì nguồn nguyên liệu này không thể dùng để chế biến đồ gỗ gia dụng, do đó, các doanh nghiệp này phải lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu gỗ của các tỉnh lân cận hay phải nhập khẩu gỗ từ nước ngoài

Tiếp theo, ta hãy xét nguồn nguyên liệu gỗ của các tỉnh lân cận

1.2 Nguồn nguyên liệu gỗ của các tỉnh lân cận:

Đây là nguồn cung cấp nguyên liệu gỗ chủ yếu cho các doanh nghiệp chế biến gỗ tại thành phố Hồ Chí Minh trong suốt thời gian qua, do đó, giá cả và khối lượng gỗ được cung cấp trên thị trường tùy thuộc vào trữ lượng rừng, chính sách,… của các tỉnh này

Bảng 8: Diện tích rừng các tỉnh miền Đông Nam Bộ tính đến 31/12/1997

23,7 19,7 19,2 3,8 2,3 13,5 4,6 44,9 19,8

30,7 550,7 396,2 169,4 7,6 211,8 35,4 175,0 44,3 Tổng cọng 1.469,6 151,5 1.621,1

Trang 18

Nguồn: Số liệu thống kê Nông-Lâm nghiệp-Thủy sản Việt Nam 1990-1998 và dự báo năm 2000 _ Nhà

xuất bản Thống Kê Hà Nội-1999

Trong tổng số diện tích 1.621.100 ha rừng của các tỉnh miền Tây Nam Bộ thì diện tích rừng trồng chỉ có 151.500 ha, chiếm tỷ trọng 9,34% Rõ ràng, đây là con số khá khiêm tốn, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay- giai đoạn mà nhà nước đang khuyến khích xuất khẩu sản phẩm gỗ từ rừng trồng, hạn chế xuất khẩu sản phẩm gỗ từ rừng tự nhiên Để có thể thấy rõ ràng hơn, ta hãy đi vào phân tích xu hướng sử dụng nguồn gỗ để chế biến trong thời gian vừa qua

1.3 Xu hướng sử dụng nguồn gỗ từ rừng trồng và rừng tự nhiên để chế biến

Để có thể thấy rõ sự biến động về tỷ lệ và xu hướng sử dụng gỗ từ rừng tự nhiên và rừng trồng trong việc chế biến sản phẩm qua các năm, ta hãy xét đến tình hình sử dụng gỗ của các doanh nghiệp trong các năm qua Bảng 9: Tình hình sử dụng nguyên liệu gỗ qua các năm

Đơn vị tính: m3 tròn

1995 1996 1997 1998 Loại gỗ Khối

lượng

Tỷ trọng

Khối lượng

Tỷ Trọng

Khối Lượng

Tỷ trọng

Khối lượng

Tỷ trọng Rừng tự nhiên

Rừng trồng

99.552 0.448

62,22 37,78

53.371 76.929

40,96 59,04

68.036 99.000

40,73 59,27

41.950 75.400

35,74 64,26 Tổng cọng 160.000 100 130.300 100 167.036 100 117.350 100

Nguồn: Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh

Qua bảng trên, ta nhận thấy rằng việc sử dụng gỗ từ rừng tự nhiên để chế biến có xu hướng giảm từ năm

1995 với tỷ trọng 62,22% xuống còn 35,74% trong năm 1998 Ngược lại, việc sử dụng gỗ từ rừng trồng (chủ yếu là gỗ cao su) để chế biến có xu hướng ngày càng tăng: từ năm 1995 với tỷ trọng 37,78% lên đến 64,26% trong năm 1998 Rõ ràng, điều này hoàn toàn phù hợp với diện tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng bị thu hẹp và cũng phù hợp với những chính sách bảo vệ - phát triển rừng tự nhiên do Nhà nước đề ra Cụ thể, ngày 24 tháng 03 năm 1998, Thủ Tướng đã có quyết định 65/1998/ QĐ-TTg nghiêm cấm xuất khẩu tất cả các sản phẩm gỗ từ rừng tự nhiên, trừ mặt hàng gỗ thủ công mỹ nghệ và sản phẩm có nguồn gốc nguyên liệu gỗ được nhập từ nước ngoài, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm gỗ từ rừng trồng Mặt khác, ta nhận thấy rằng khối lượng gỗ tròn được sử dụng qua từng năm có xu hướng giảm dần, từ 160.000 m3 năm 1995 xuống còn 117.350 m3 vào năm 1998, điều này cũng đồng nghĩa với qui mô sản xuất của ngành chế biến gỗ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh không những không tăng mà còn có xu hướng giảm dần trong giai đoạn này Sở dĩ xảy ra tình trạng này, theo tôi, là do ba nguyên nhân chính sau đây:

• Diện tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng cạn kiệt và chủ trương bảo vệ – phát triển rừng của Nhà nước đã hạn chế khối lượng gỗ được khai thác và sử dụng từ rừng tự nhiên Mặt khác, từ năm 1990 đến năm 1995 một khối lượng rất lớn gỗ từ rừng trồng ( chủ yếu là gỗ cao su ) đã được khai thác để chế biến đồ mộc gia dụng xuất khẩu, do đó, trữ lượng gỗ rừng trồng cũng không còn nhiều so với trước Hơn thế nữa, việc nhập gỗ nguyên liệu từ nước ngoài còn nhiều khó khăn và chỉ có những doanh nghiệp có qui mô sản xuất lớn, có đơn hàng dài hạn mới có đủ điều kiện để nhập khẩu nguyên liệu gỗ Tất cả những lý do trên đã làm giảm khối lượng gỗ nguyên liệu cung cấp cho các doanh nghiệp chế biến gỗ và điều này làm cho giá thành nguyên liệu gỗ tăng lên, nâng cao giá thành sản phẩm, do đó, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh

18

Trang 19

• Ngày 18 tháng 10 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 664/TTg về việc xuất khẩu sản phẩm gỗ và lâm sản Theo quyết định này, Nhà nước cấm xuất khẩu: gỗ tròn các loại, gỗ xẻ các loại, các loại sản phẩm hay bán sản phẩm tiêu hao nhiều nguyên liệu Quyết định này đã buộc các cơ sở, doanh nghiệp chế biến gỗ phải đầu tư thêm máy móc thiết bị để có thể sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh và đây là nguyên nhân làm giảm đáng kể khối lượng gỗ được sử dụng

• Sau khi cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực Đông Nam Á xảy ra từ giữa tháng 7 năm 1997, nhu cầu tiêu dùng của các nước trong khu vực này đã giảm Mặt khác, do đồng tiền của các nước bị khủng hoảng kinh tế bị mất giá nên hàng hoá của các nước như Indonesia, Malaysia, Myanma, Thái Lan,…trở nên rẽ hơn hàng hoá Việt Nam Điều này đã gây sự bất lợi trong việc cạnh tranh về giá cho các sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam trên thương trường quốc tế và các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đã mất một số lượng lớn khách hàng trong thời gian này

Cuối cùng, ta hãy xét đến nguồn gỗ được nhập khẩu từ nước ngoài để chế biến thành sản phẩm hoàn chỉnh và sau đó được xuất khẩu trở lại

1.4 Nguồn nguyên liệu gỗ nhập từ nước ngoài:

Thực ra, chỉ có các doanh nghiệp có qui mô sản xuất lớn, có đơn đặt hàng dài hạn mới đủ khả năng và điều kiện để nhập nguyên liệu gỗ từ nước ngoài Tuy nhiên, ta hãy xét đến tình hình sử dụng gỗ và nhập khẩu gỗ trên địa bàn thành phố Hồ Chí minh trong năm 1999

Bảng 10: Khối lượng gỗ được sử dụng trên địa bàn t.p HCM năm 1999

Đơn vị tính: m3 tròn Rừng tự nhiên Rừng trồng Tổng cọng

47,62%

15,84%

33.000 34.000

52,38%

84,16%

63.000 40.400

60,93% 39,07%

Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 1999 của Sở NN và PTNT thành phố Hồ Chí Minh

Qua bảng trên, ta nhận thấy rằng trong năm 1999:

- Khối lượng nguyên liệu gỗ từ rừng trồng được sử dụng nhiều hơn khối lượng nguyên liệu gỗ từ rừng tự nhiên, kể cả nguồn nguyên liệu gỗ trong nước cũng như nhập khẩu Đặc biệt trong 40.400 m3 gỗ nhập khẩu có tới 34.000 m3 gỗ rừng trồng, chiếm tỷ trọng 84,16% trong tổng số gỗ nhập Một lần nữa, điều này chứng tỏ rằng các doanh nghiệp chế biến gỗ có xu hướng dùng nguồn nguyên liệu gỗ từ rừng trồng để chế biến sản phẩm

- Trong tổng số 103.400 m3 được sử dụng, các doanh nghiệp phải nhập khẩu 40.400 m3 gỗ nguyên liệu từ nước ngoài, chiếm tỷ trọng 39,07%, trong đó chủ yếu là nguồn gỗ từ rừng trồng Vấn đề là tại sao các doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên liệu gỗ rừng trồng từ nước ngoài? Rõ ràng, nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng trong nước không đủ cung cấp cho các doanh nghiệp chế biến gỗ tại thành phố Hồ Chí Minh Ngoài các vấn đề đã nêu trên, còn có một vấn đề rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm: Chất lượng gỗ phôi nguyên liệu cung cấp cho các doanh nghiệp chế biến gỗ Như chúng ta đã biết, quy trình sản xuất gỗ phôi nguyên liệu: Gỗ tròn được cắt khúc → Cưa CD4 xẽ thành từng phách gỗ → Cưa mâm xẽ thành từng thanh gỗ → Ngâm, tẩm chống mối-mọt → Sấy khô Thế nhưng, việc sản xuất gỗ phôi nguyên liệu chủ yếu là do các cơ sở tư nhân với quy mô nhỏ ở các tỉnh lân cận đảm nhận Do vậy, chất lượng gỗ phôi hiện nay trên thị trường rất kém: đường cưa CD4, cưa mâm không thẳng; ngâm tẩm thuốc chống mối mọt không đạt yêu cầu; sấy không đúng quy trình kỹ thuật, không đạt độ ẩm cần thiết gây cong, vênh, nứt, tét…

Trang 20

sản phẩm đã hoàn chỉnh Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm chất lượng sản phẩm và mất uy tín với khách hàng, có thể gây thiệt hại rất nghiêm trọng cho doanh nghiệp

Nói tóm lại, các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu gỗ nói chung cũng như nguồn gỗ phôi chất lượng cao nói riêng để phục vụ cho sản xuất Mặt khác, ta nhận thấy rằng xu hướng sử dụng nguồn gỗ rừng trồng để chế biến sản phẩm ngày càng tăng đối với các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và điều này hoàn toàn phù hợp với điều kiện rừng tự nhiên của chúng ta hiện nay cũng như xu thế trong tương lai

2 Công nghệ, máy móc thiết bị

Quy trình công nghệ, máy móc thiết bị sản xuất của một ngành phản ảnh trình độ, quy mô sản xuất trong ngành đó Như đã phân tích ở trên, sau khi trải qua thời kỳ chiến tranh, đất nước ta phải mất một thời gian khá lâu để khắc phục hậu quả của chiến tranh và từng bước xây dựng đất nước Chính vì vậy, trình độ khoa học kỷ thuật về ngành chế tạo máy của chúng ta, đặc biệt là máy móc chế biến gỗ còn nhiều hạn chế so với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới Chúng ta chỉ sản xuất được một số máy móc chế biến gỗ rất đơn giãn như: máy cưa vòng CD4, máy cưa mâm, máy bào liên hợp, máy khoan, máy lọng, máy tourpi (tạo hình), máy tiện, máy chà nhám cạnh Dĩ nhiên, những máy móc này có độ chính xác thấp và năng suất không cao Tuy nhiên, trong suốt quá trình phát triển, các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh không ngừng đầu tư máy móc thiết bị chế biến gỗ, chủ yếu là từ Đài Loan, để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất lao đông nhằm hạ giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh Theo báo cáo tổng kết năm 1999 của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, toàn thành phố hiện có 140 doanh nghiệp và 467 cơ sở chế biến đồ mộc gia dụng với tổng số 9.871 lao động được trang bị máy móc thiết bị sản xuất chủ yếu như sau:

20

Trang 21

Bảng 11: Máy móc thiết bị chủ yếu sản xuất đồ mộc gia dụng của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh năm 1999 (Đơn vị tính: 1.000 đ )

Việt Nam sản xuất Nước ngoài sản xuất Tổng cọng Tên máy móc thiết bị

1 Máy bào liên hợp

2 Máy bào 2 mặt

3 Máy bào 3 mặt

4 Máy bào 4 mặt

5 Máy rong gỗ

6 Máy ghép gỗ

7 Máy cắt 1 lưỡi

8 Máy cắt 2 lưỡi

9 Máy lọng

10 Máy khoan đứng

11 Máy khoan nằm

12 Máy khoan nhiều lưỡi

13 Máy tạo hình

14 Máy router

15 Máy copy shaper

16 Máy tiện gỗ

17 Máy chà nhám mặt

18 Máy chà nhám cạnh

19 Máy nhám băng

20 Máy nhám diã

21 Máy đóng gói

0 1.435.445

0 6.214.425 111.652 64.685 128.231 672.245 39.824

0 487.254

0 386.648 689.576 210.415

0 659.096

Nguồn: Báo cáo tổng kết của Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn năm 1999

Qua bảng trên, ta nhận thấy rằng trong tổng số 7.452 máy móc thiết bị sản xuất đồ mộc gia dụng có đến 4.646 cái do Việt Nam sản xuất, chiếm tỷ lệ 62,34% Như đã phân tích ở trên, máy móc thiết bị do Việt Nam sản xuất có độ chính xác không cao, công nghệ lạc hậu và năng suất thấp Điều này chứng tỏ trình độ chế biến đồ mộc gia dụng của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói chung còn rất thấp Mặt khác, tổng trị giá máy móc thiết bị chủ yếu dùng để sản xuất đồ mộc gia dụng của các cơ sở trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là 54.289.691.000 đ Thế nhưng, nếu tính bình quân thì trị giá máy móc thiết bị cho một doanh nghiệp là 89.439.359 đ và cho một lao động là 5.499.918 đ Rõ ràng, với giá trị đồng tiền Việt Nam hiện nay thì số tiền đầu tư như trên là không cao đối với mỗi doanh nghiệp cũng như mỗi lao động Đây là nguyên nhân chính làm cho sản phẩm đồ mộc gia dụng của các doanh nghiệp có chất lượng không cao, năng suất lao động thấp và giá thành cao Hiện nay, ngành chế biến đồ mộc gia dụng của chúng ta đang gặp phải sự cạnh tranh gay gắt về mẫu mã, chất lượng, giá cả của các nước trong khu vực như Thái Lan, Miến

Ngày đăng: 21/10/2015, 11:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Đề án đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh và hiệu quả nông lâm sản xuaỏt khaồu Vieọt nam.Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh và hiệu quả nông lâm sản xuaỏt khaồu Vieọt nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Năm: 1998
19. Báo cáo tổng kết công tác ngành Lâm nghiệp thành phố Hồ Chí Minh các năm 1996, 1997, 1998, 1999 của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Khác
20. Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 1999 và tổng kết 21 năm khôi phục và phát triển rừng phòng hộ Cần giờ Khác
22. Niên giám thống kê thành phố Hồ Chí Minh các năm 1996, 1997, 1998 Khác
23. Niên giám thống kê Việt nam các năm 1996, 1997, 1998 Khác
24. Số liệu thống kê Nông –Lâm nghiệp – Thủy sản Việt nam 1990-1998 và dự báo năm 2000. Nhà xuất bản thống kê Hà nội 1999 Khác
25. Số liệu kinh tế xã hội các đô thị lớn của Việt nam và Thế giới. Nhà xuất bản thống kê năm 1998 Khác
26. Kinh tế xã hội Việt nam ba năm (1996-1998 ) và dự báo năm 2000. Nhà xuất bản thống kê Hà nội năm 1999 Khác
27. Các báo: Thời báo kinh tế Sài gòn, Phát triển Kinh tế, Nghiên cứu kinh tế, Thương mại, Tuổi trẻ, Thanh nieân,… Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1:  Diện tích rừng và độ che phủ qua các năm. - MỘT số GIẢI PHÁP CHIẾN lược NHẰM THÚC đẩy sự PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN đồ gỗ GIA DỤNG TRONG THẬP NIÊN đầu THẾ kỷ 21 TRÊN địa bàn TP  HCM
Bảng 1 Diện tích rừng và độ che phủ qua các năm (Trang 6)
Bảng 2: Sản lượng khai thác gỗ, củi hàng năm. - MỘT số GIẢI PHÁP CHIẾN lược NHẰM THÚC đẩy sự PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN đồ gỗ GIA DỤNG TRONG THẬP NIÊN đầu THẾ kỷ 21 TRÊN địa bàn TP  HCM
Bảng 2 Sản lượng khai thác gỗ, củi hàng năm (Trang 7)
Bảng 4: Khối lượng các sản phẩm gỗ được xuất khẩu từ năm                                                                    1992  đến năm 1999 - MỘT số GIẢI PHÁP CHIẾN lược NHẰM THÚC đẩy sự PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN đồ gỗ GIA DỤNG TRONG THẬP NIÊN đầu THẾ kỷ 21 TRÊN địa bàn TP  HCM
Bảng 4 Khối lượng các sản phẩm gỗ được xuất khẩu từ năm 1992 đến năm 1999 (Trang 10)
Bảng 7:  Xu hướng phát triển ngành (So sánh cả nước với t.p. HCM) - MỘT số GIẢI PHÁP CHIẾN lược NHẰM THÚC đẩy sự PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN đồ gỗ GIA DỤNG TRONG THẬP NIÊN đầu THẾ kỷ 21 TRÊN địa bàn TP  HCM
Bảng 7 Xu hướng phát triển ngành (So sánh cả nước với t.p. HCM) (Trang 12)
Bảng 8: Diện tích rừng các tỉnh miền Đông Nam Bộ tính đến 31/12/1997. - MỘT số GIẢI PHÁP CHIẾN lược NHẰM THÚC đẩy sự PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN đồ gỗ GIA DỤNG TRONG THẬP NIÊN đầu THẾ kỷ 21 TRÊN địa bàn TP  HCM
Bảng 8 Diện tích rừng các tỉnh miền Đông Nam Bộ tính đến 31/12/1997 (Trang 17)
Bảng 10: Khối lượng gỗ được sử dụng trên địa bàn t.p. HCM  năm 1999. - MỘT số GIẢI PHÁP CHIẾN lược NHẰM THÚC đẩy sự PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN đồ gỗ GIA DỤNG TRONG THẬP NIÊN đầu THẾ kỷ 21 TRÊN địa bàn TP  HCM
Bảng 10 Khối lượng gỗ được sử dụng trên địa bàn t.p. HCM năm 1999 (Trang 19)
Bảng 12: Trình độ lực lượng quản lý trong ngành chế biến gỗ năm 1999. - MỘT số GIẢI PHÁP CHIẾN lược NHẰM THÚC đẩy sự PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN đồ gỗ GIA DỤNG TRONG THẬP NIÊN đầu THẾ kỷ 21 TRÊN địa bàn TP  HCM
Bảng 12 Trình độ lực lượng quản lý trong ngành chế biến gỗ năm 1999 (Trang 22)
Bảng 14: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động thành phố HCM năm 1995. - MỘT số GIẢI PHÁP CHIẾN lược NHẰM THÚC đẩy sự PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN đồ gỗ GIA DỤNG TRONG THẬP NIÊN đầu THẾ kỷ 21 TRÊN địa bàn TP  HCM
Bảng 14 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động thành phố HCM năm 1995 (Trang 23)
Bảng 15: Kim ngạch xuất khẩu sản phẫm gỗ theo từng nước trong thời gian qua trên địa bàn thành phố Hồ Chí - MỘT số GIẢI PHÁP CHIẾN lược NHẰM THÚC đẩy sự PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN đồ gỗ GIA DỤNG TRONG THẬP NIÊN đầu THẾ kỷ 21 TRÊN địa bàn TP  HCM
Bảng 15 Kim ngạch xuất khẩu sản phẫm gỗ theo từng nước trong thời gian qua trên địa bàn thành phố Hồ Chí (Trang 25)
Bảng 16: Một số văn bản về ngành chế biến gỗ trong thời gian qua. - MỘT số GIẢI PHÁP CHIẾN lược NHẰM THÚC đẩy sự PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN đồ gỗ GIA DỤNG TRONG THẬP NIÊN đầu THẾ kỷ 21 TRÊN địa bàn TP  HCM
Bảng 16 Một số văn bản về ngành chế biến gỗ trong thời gian qua (Trang 27)
Bảng 17: Sự tham gia của các thành phần kinh tế trong ngành chế biến gỗ thành phố Hồ Chí Minh - MỘT số GIẢI PHÁP CHIẾN lược NHẰM THÚC đẩy sự PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN đồ gỗ GIA DỤNG TRONG THẬP NIÊN đầu THẾ kỷ 21 TRÊN địa bàn TP  HCM
Bảng 17 Sự tham gia của các thành phần kinh tế trong ngành chế biến gỗ thành phố Hồ Chí Minh (Trang 28)
Bảng 18: Tóm tắt những thuận lợi và khó khăn nổi bật ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của - MỘT số GIẢI PHÁP CHIẾN lược NHẰM THÚC đẩy sự PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN đồ gỗ GIA DỤNG TRONG THẬP NIÊN đầu THẾ kỷ 21 TRÊN địa bàn TP  HCM
Bảng 18 Tóm tắt những thuận lợi và khó khăn nổi bật ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của (Trang 30)
Bảng 20: Dự kiến kim ngạch xuất khẩu sản phẩm mộc gia dụng qua các năm. - MỘT số GIẢI PHÁP CHIẾN lược NHẰM THÚC đẩy sự PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN đồ gỗ GIA DỤNG TRONG THẬP NIÊN đầu THẾ kỷ 21 TRÊN địa bàn TP  HCM
Bảng 20 Dự kiến kim ngạch xuất khẩu sản phẩm mộc gia dụng qua các năm (Trang 33)
Sơ đồ 2: Các giải pháp chiến lược của ngành chế biến đồ mộc gia dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh - MỘT số GIẢI PHÁP CHIẾN lược NHẰM THÚC đẩy sự PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN đồ gỗ GIA DỤNG TRONG THẬP NIÊN đầu THẾ kỷ 21 TRÊN địa bàn TP  HCM
Sơ đồ 2 Các giải pháp chiến lược của ngành chế biến đồ mộc gia dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w