1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích so sánh chi phí lợi ích mở rộng giá thành sản xuất nhiệt điện và phong điện hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu

79 564 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BIỂU ĐỒ - HÌNH VẼ Trang Hình 1.1 Sơ đồ động học tua bin gió trục đứng theo nguyên lý mới 18 Hình 1.2 Tuabin gió trục đứng cánh tùy động kiểu mới do Mitech sản Hình 3.1 Sơ đồ quy

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SAU ĐẠI HỌC

LƯU THỊ TOÁN

PHÂN TÍCH SO SÁNH CHI PHÍ LỢI ÍCH MỞ RỘNG GIÁ THÀNH SẢN XUẤT NHIỆT ĐIỆN VÀ PHONG ĐIỆN HƯỚNG TỚI GIẢM THIỂU BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SAU ĐẠI HỌC

LƯU THỊ TOÁN

PHÂN TÍCH SO SÁNH CHI PHÍ LỢI ÍCH MỞ RỘNG GIÁ THÀNH SẢN XUẤT NHIỆT ĐIỆN VÀ PHONG ĐIỆN HƯỚNG TỚI GIẢM THIỂU BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: TS Dư Văn Toán

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng tài liêu, thông tin đăng tải trên các ấn phẩm, tạp chí và các trang web đều được trích dẫn, các số liệu sử dụng đều là các số liệu điều tra chính thống

Tác giả luận văn

Lưu Thị Toán

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Qua một quá trình dài theo đuổi đề tài khoa học này, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới Ts Dư Văn Toán - người đã hỗ trợ tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, các cô trong khoa Sau đại học – Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức chuyên môn quý báu trong suốt quá trình học tập, góp phần cho tác giả hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS TS Lưu Đức Hải – người cung cấp những nguồn tư liệu quý, đồng thời cũng là người đặt những nền móng đầu tiên trong quá trình học tập để tác giả lựa chọn hướng nghiên cứu này

Tác giả xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo các tổ chức GreenID, CEWAREC, chuyên gia Donna Lisenby của mạng lưới Than quốc tế, các chuyên gia của Viện Năng Lượng đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập tư liệu cập nhật

Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn của mình đến bạn bè trong khoa Sau đại học đã động viên và giúp đỡ tác giả cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài

Hà Nội, tháng 03/2015 HỌC VIÊN THỰC HIỆN

Lưu Thị Toán

Trang 5

MỤC LỤC Trang MỤC LỤC

1.1 Khái quát chung về tình hình sản xuất điện năng 5

1.2 Khái quát về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 20

1.3 Tính toán giá thành điện trên thế giới và ở Việt Nam 26

2.3 Các phương pháp hạch toán giá thành điện 33

Trang 6

2.3.2 Phương pháp hạch toán giá thành điện dựa vào CPMT 39

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CPMT Chi phí môi trường

CPSX Chi phí sản xuất

Tập đoàn điện lực Việt Nam GTNĐ Giá thành nhiệt điện

IPCC Intergovernmental Panel on Climate Change

Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu

MONRE Ministry Of Natural Resources and Environment

Bộ Tài nguyên và Môi trường NĐN Nhiệt điện ngưng hơi

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 1.1 Các nhà máy nhiệt điện khí ở Việt Nam 8 Bảng 1.2 Cơ cấu nguồn điện theo công suất và sản lượng cho giai

đoạn 2010-2020 tầm nhìn 2030

9

Bảng 1.3 Hiệu suất và giá trị gia tăng trong các NMNĐ ở Pháp 27 Bảng 1.4 Các loại chi phí ở NMNĐ được tính toán ở Đức 28 Bảng 1.5 Giá nhiên liệu hóa thạch đến các NMNĐ ở Đức 28 Bảng 1.6 Hệ số quy đổi suất vốn đầu tư theo công suất NMNĐ 29 Bảng 1.7 So sánh giá điện bình quân ở Việt Nam và so một số các

Bảng 3.5 Các mức thuế CO2 đã được quy đổi áp dụng cho các

NMNĐ theo quy định của các nước trên thế giới

62

Bảng 3.6 Giá thành nhiệt điện khi tính tới thuế các-bon 62 Bảng 3.7 Bảng tổng hợp GTNĐ theo hướng tiếp cận mới 63 Bảng 3.8 Lộ trình loại bỏ trợ giá nhiên liệu hoá thạch 66

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ - HÌNH VẼ

Trang Hình 1.1 Sơ đồ động học tua bin gió trục đứng theo nguyên lý mới 18 Hình 1.2 Tuabin gió trục đứng cánh tùy động kiểu mới do Mitech sản

Hình 3.1 Sơ đồ quy trình chung xử lý nước thải nhà máy nhiệt điện

Hình 3.4 So sánh lượng thải CO2 theo các nguồn năng lượng 60 Hình 3.5 So sánh các chất thải từ các nguồn năng lượng 60 Hình 3.6 So sánh tổng thể về giá cả của các loại hình năng lượng 60

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, cùng với tăng trưởng kinh tế và tốc độ gia tăng dân số thì nhu cầu sử dụng năng lượng ngày càng gia tăng Theo thống kê từ các nghiên cứu gần đây, chỉ trong vòng 5 năm, lượng điện năng tiêu thụ bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng lên gấp hai lần, từ 288kWh một năm (năm 2000) lên đến 540kWh một năm (năm 2005) [7] Đến năm 2009, con số này đã lên đến 917 Kwh/người/năm [26] Vì vậy, vấn đề cạn kiệt nguồn năng lượng nói chung và điện năng nói riêng đang là mối đe dọa không chỉ đối với doanh nghiệp, đối với người dân mà đối với cả nền kinh tế của đất nước

Trong bối cảnh chung toàn cầu, Biến đổi khí hậu và gia tăng ô nhiễm môi trường đang tạo sức ép lên các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Tiêu dùng than đang gia tăng trong khi nguồn than dữ trữ dần cạn kiệt Việt Nam sẽ trở thành nước nhập khẩu thuần về nhiên liệu hóa thạch trong tương lai gần (dự kiến nhập khẩu than đá từ năm 2015) và chịu tác động ngày càng lớn từ giá nhiên liệu hóa thạch thế giới Trước thực trạng, Chính phủ Việt Nam đã bước đầu có những chính sách đặc biệt ưu tiên phát triển các nguồn năng tái tạo như điện gió, điện mặt trời, điện sóng, địa nhiệt, thủy triều, sinh khối [11] Các cấp các ngành đã bắt đầu nhận định điều này là cần thiết để hạn chế các sức ép tài khóa Giảm tốc độ gia tăng sử dụng năng lượng nội địa thông qua tăng cường hiệu quả năng lượng cùng với việc mở rộng năng lượng tái tạo

sẽ làm giảm sự phụ thuộc vào thị trường năng lượng thế giới

Tuy nhiên, dường như năng lượng tái tạo vẫn chưa được phát triển đúng mức do giá thành khá cao Hiện tại, giá thành của điện gió được xem là có tính cạnh tranh nhất với hai dạng năng lượng phổ biến ở Việt Nam là thủy điện và nhiệt điện, cũng có giá khoảng 10 cent/1 kwh Trong khi giá thành của thủy điện

Trang 11

chỉ vào khoảng 4 cent và nhiệt điện vào khoảng 6 cent thì nhà nước vẫn chưa thật sự chú trọng tới việc phát triển năng lượng tái tạo vì vẫn phải bù lỗ

Phân tích sơ khảo về giá thành của thủy điện và nhiệt điện hiện nay cho thấy, dường như EVN đang bao cấp đối với hai dạng năng lượng truyền thống này Nhiên liệu hóa thạch, đặc biệt là than đá là nguyên liệu chính trong quá trình sản xuất điện của các nhà máy nhiệt điện than Việc chính phủ Việt Nam trợ cấp tiêu dùng nhiên liệu hóa thạch dẫn đến nguồn thu của Chính phủ bị suy giảm đáng kể và khoản nợ ngày càng tăng của các doanh nghiệp nhà nước trong ngành năng lượng, và cuối cùng chính người dân nộp thuế sẽ phải gánh chịu Chủ tịch nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng các nhà lãnh đạo nhóm

20 nền kinh tế lớn (G-20) đã đồng thuận loại bỏ “các trợ cấp nhiên liệu hóa thạch không hiệu quả” vào năm 2009 Chủ đề này cũng được thảo luận tại Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về môi trường (Rio+20) vào tháng 6 năm

2012 Tuy nhiên, cho đến nay, Việt Nam vẫn đang gặp nhiều khó khăn, thách thức trong quá trình hiện thực hóa, đáng chú ý là mức trợ cấp cho cả ngành điện

và ngành than đã tăng lên 2,89 tỷ USD năm 2012, gấp 2 lần so với mức trợ cấp 1,69 tỷ USD năm 2007 [16] Trước thực trạng trên, việc giải quyết các khó khăn trong việc “gỡ bỏ trợ cấp nhiên liệu hóa thạch” đòi hỏi có sự tham gia của nhiều ngành nhằm đạt được những lợi ích từ việc gỡ bỏ trợ cấp

Đối với nhiệt điện, quá trình đốt than đá sinh ra các chất khí gây ra hiệu ứng nhà kính như CO2, SO2, NO, bụi khí Trong khi những công nghệ sản xuất điện ở các nhà máy nhiệt điện hiện nay thì mới xử lý được SO2 và một phần bụi, chưa xử lý được CO2 phát thải ra môi trường, đây được cho là nguyên nhân chủ yếu chính hiệu ứng nhà kính, góp phần gia tăng biến đổi khí hậu Trong khi giá thành sản xuất hiện tại của Nhiệt điện ở Việt Nam vào khoảng 6 cent và chưa tính đến thuế CO2 được ước tính khoảng cần trả cho một kWh Với những ước lượng ban đầu, nếu cộng cả tiền thuế CO2, thuế môi trường, gỡ bỏ trợ cấp nhiên liệu hoá thạch có thể sẽ làm gia tăng giá thành điện từ các lò đốt than lên khoảng

10 €/kWh, ngang bằng với giá thành của điện gió

Trang 12

Với mức giá thành nhiệt điện than ngang bằng với giá thành điện gió và giá thị trường điện đi vào hình thức kinh doanh thương mại thì nhà nước không cần phải bù lỗ Giá thành điện cao nên người dân thường có ý thức tiết kiệm điện hơn Đây có thể là hướng mới để phát triển ngành điện ở Việt Nam, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia về giảm thiểu biến đổi khí hậu và

phát triển bền vững Vì vậy, đề tài: "Phân tích so sánh chi phí lợi ích mở rộng

giá thành sản xuất nhiệt điện và phong điện hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu" được lựa chọn và triển khai

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tính được sơ bộ các chi phí bị bỏ qua trong quá trình tính toán giá thành nhiệt điện hiện nay nhằm hạch toán lại giá thành nhiệt điện, cụ thể là tính toán lại các chi phí trong quá trình sản xuất điện năng

- Tính được sơ bộ giá thành ở một số nhà máy nhiệt điện khi tính tới các chi phí môi trường (thuế môi trường, phí môi trường), thuế các-bon, trợ giá của chính phủ đối với mặt hàng nhiên liệu hóa thạch, trợ giá điện năng

- Đề xuất định hướng chính sách liên quan tới thuế và trợ cấp của chính phủ liên quan tới lĩnh vực sản xuất điện sử dụng nhiên liên hóa thạch và phi hóa thạch

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là các nhân tố cấu thành giá điện với đầy đủ chi phí môi trường (tổn thất môi trường)

* Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung nghiên cứu: Do giá điện là một đề tài khá nhạy cảm ở Việt Nam và giá điện hiện nay phụ thuộc lớn vào giá thành nhiệt điện Chính vì vậy,

Trang 13

nghiên cứu trong luận văn không thể bao quát được tất cả các lĩnh vực trong sản xuất điện mà chỉ giới hạn trong việc tính toán giá thành sản xuất điện từ thực tiễn sản xuất của ba dạng nhiệt điện (than, khí gaz, dầu) và so sánh với giá sản xuất phong điện

- Về thời gian, nghiên cứu dựa trên các số liệu mới nhất được sử dụng và cập nhật từ năm 2004 cho tới tháng 12/2014 và đưa ra lộ trình áp dụng tới năm

2030

4 Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài

Kết quả của đề tài sẽ cung cấp thông tin về sự biến động của năng lượng,

cụ thể là giá thành nhiệt điện sẽ ngang bằng với giá thành của phong điện, thậm chí cao hơn nếu bị đánh thuế CO2, tính đủ thuế môi trường Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ lựa chọn phong điện để rót vốn đầu tư Lượng phát thải CO2 từ các nhà máy nhiệt điện sẽ giảm đáng kể, có thể sử dụng kinh doanh tín chỉ cácbon ra thị trường thế giới

5 Cấu trúc luận văn thạc sĩ

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Tổng quan – tài liệu

Chương 2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Kết quả và thảo luận

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái quát chung về tình hình sản xuất điện năng

1.1.1 Tình hình sản xuất điện năng trên thế giới và ở Việt Nam

Trong tổng sản lượng điện năng sản xuất ra trên thế giới, phần tỷ lệ điện năng do các nguồn nhiên liệu hữu cơ chiếm tỷ trọng chủ yếu, tỷ lệ thủy điện ngày càng giảm Tỷ lệ điện hạt nhân tăng rất nhanh trong các thập kỷ 70 và 80 của thế

kỷ trước, nhưng mấy năm gần đây, đặc biệt là sau sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima (Nhật Bản) thì điện hạt nhân có xu hướng chững lại, ở một số nước bắt đầu giảm

Sản lượng điện của 7 nước G7 chiếm một nửa tổng sản lượng điện của thế giới Trừ Canada là nước có tỷ lệ thủy điện chiếm khoảng 2/3 tổng sản lượng điện

và Pháp là nước có tỷ lệ điện hạt nhân tăng rất nhanh (từ 23,8% năm 1980 tăng lên 77,1% năm 1995), năm nước còn lại có tỷ lệ nhiệt điện dùng nhiên liệu hữu cơ

từ 2/3 tổng sản lượng điện trở lên, trong đó Mỹ và Đức có tỷ lệ nhiệt điện đốt than chiếm trên 50% trong suốt một thời gian dài mấy chục năm Hiện nay, ở hai nước này, tỷ lệ nhiệt điện vẫn chiếm trên 50% (chỉ tính riêng nhiệt điện đốt than) và có

xu hướng tăng dần

Trong thập kỷ 70 và những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, nhiều dự báo lạc quan đã dự kiến tỷ lệ điện hạt nhân có thể tới 50% tổng sản lượng điện của thế giới vào nửa đầu thế kỷ này Tuy nhiên từ sau sự cố Trec-nô-bưn (1986), các dự báo về điện hạt nhân đã chững lại; ở một số nước phát triển đã có xu hướng giảm Để bù lại, xu hướng phát triển nhiệt điện lại tăng lên, nhiều nhà máy điện đốt than với công suất tổ máy lớn (khoảng trên dưới 1000 MW) có thông số trên tới hạn (áp suất 250-300 bar, nhiệt độ hơi 580-600oC) đã được xây dựng Hiện nay, hiệu suất phổ biến của nhà máy nhiệt điện là 32-42%, cá biệt tới 49-50% Nhìn chung trong vài chục năm tới, tỷ lệ nhiệt điện vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số sản lượng điện năng của thế giới (khoảng từ 40% trở lên)

Trang 15

Tại Việt Nam, để có thể đáp ứng được nhu cầu điện năng, Chính phủ Việt Nam đã đề ra mục tiêu cụ thể về sản xuất và nhập khẩu cho ngành điện Trong Tổng sơ đồ VII cho giai đoạn 2010-2020 tầm nhìn 2030 các mục tiêu bao gồm: [1]

1) Sản xuất và nhập khẩu tổng cộng 194-210 tỉ kWh đến năm 2015,

330-362 tỉ kWh năm 2020, và 695-834 tỉ kWh năm 2030;

2) Ưu tiên sản xuất điện từ nguồn năng lượng tái tạo bằng cách tăng tỷ lệ điện năng sản xuất từ nguồn năng lượng này từ mức 3.5% năm 2010 lên 4.5% tổng điện năng sản xuất vào năm 2020 và 6% vào năm 2030;

3) Giảm hệ số đàn hồi điện/GDP từ bình quân 2.0 hiện nay xuống còn bằng 1.5 năm 2015 và 1.0 năm 2020;

4) Đẩy nhanh chương trình điện khí hoá nông thôn miền núi đảm bảo đến năm 2020 hầu hết số hộ dân nông thôn có điện;

Các chiến lược được áp dụng ở Việt Nam để đạt các mục tiêu nói trên cũng

đã được đề ra bao gồm:

1) Đa dạng hoá các nguồn sản xuất điện nội địa bao gồm các nguồn điện truyền thống (như than và ga) và các nguồn mới (như Năng lượng tái tạo và điện nguyên tử);

2) Phát triển cân đối công suất nguồn trên từng miền: Bắc Trung và Nam, đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện trên từng hệ thống điện miền nhằm giảm tổn thất truyền tải, chia sẻ công suất nguồn dự trữ và khai thác hiệu quả các nhà máy thuỷ điện trong các mùa;

3) Phát triển nguồn điện mới đi đôi với đổi mới công nghệ các nhà máy đang vận hành;

4) Đa dạng hoá các hình thức đầu tư phát triển nguồn điện nhằm tăng cường cạnh tranh nâng cao hiệu quả kinh tế;

1.1.2 Khái quát chung về các nhà máy nhiệt điện

Nhà máy điện nhiệt là một nhà máy điện, trong đó có năng lượng nguồn bằng

hơi nước Nước được đun nóng, chuyển thành hơi nước và quay một tua bin hơi nước và tuabin này làm chạy một máy phát điện Sau khi đi qua tuabin, hơi nước

Trang 16

được ngưng tụ trong bình ngưng và tuần hoàn lại đến nơi mà nó đã được làm nóng, quá trình này được gọi là chu trình Rankine Khác biệt lớn nhất trong thiết

kế của nhà máy nhiệt điện là do các nguồn nhiên liệu khác nhau Một số thiết kế

thích sử dụng thuật ngữ trung tâm năng lượng hạn bởi vì các cơ sở đó chuyển đổi

hình thức của năng lượng từ nhiệt năng thành điện năng Một số nhà máy nhiệt điện cũng cung cấp năng lượng nhiệt cho mục đích công nghiệp, để sưởi ấm, hoặc

để khử muối trong nước cũng như cung cấp năng lượng điện Một tỷ lệ lớn khí

CO2 được tạo ra từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch ở các nhà máy nhiệt điện, được coi như là nguyên nhân chính gia tăng biến đổi khí hậu

Theo loại công nghệ, nhà máy nhiệt điện được phân thành hai loại:

- Nhiệt điện rút hơi (NĐR): Một phần năng lượng của hơi được sử dụng

vào mục đích công nghiệp và sinh hoạt của nhân dân vùng lân cận

- Nhiệt điện ngưng hơi (NĐN): Toàn bộ hơi dùng sản xuất điện năng

Theo nguyên liệu sử dụng, các nhà máy nhiệt điện được phân thành

- Nhà máy nhiệt điện than: sử dụng nhiên liệu đốt là than đá

- Nhà máy nhiệt điện dầu: sử dụng nhiên liệu đốt là dầu

- Nhà máy nhiệt điện khí: sử dụng nhiên liệu đốt là khí đốt

Trong đó, than đá được sử dụng rộng rãi nhất, các nhà máy nhiệt điện than chiếm tỉ trọng cao trong sản xuất và phân phối điện năng

Để quay máy phát điện, trong nhà máy nhiệt điện dùng tuabin hơi nước, máy hơi nước (lô cô mô bin), động cơ đốt trong và tuabin khí Tuabin hơi nước cho công suất cao và vận hành kinh tế nên được sử dụng rộng rãi nhất

Ưu điểm:

- Có thể xây dựng gần khu công nghiệp và nguồn cung cấp nhiên liệu để giảm chi phí xây dựng đường dây tải điện và chuyên chở nhiên liệu,

- Thời gian xây dựng ngắn (từ 3 -> 4 năm),

- Có thể sử dụng được các nhiên liên liệu rẻ tiền như than cám, than bìa ở các khu khai thác than, dầu nặng của các nhà máy lọc dầu, trấu của các nhà máy xay lúa

Trang 17

Nhược điểm:

- Cần nhiên liệu trong quá trình sản xuất, do đó giá thành điện năng cao,

- Khói thải gây ra ô nhiễm môi trường

- Khởi động chậm từ 6 -> 8 giờ mới đạt công suất tối đa, điều chỉnh công suất khó, khi giảm đột ngột công suất phải thải hơi nước ra ngoài vừa mất năng lượng vừa mất nước,

- Hiệu suất thấp: ŋ= 30 -> 40% (NĐN), ŋ = 6 -> 70% (NĐR)

* Tình hình phát triển chung của các nhà máy nhiệt điện ở Việt Nam

- Nhiệt điện khí: Có tỷ trọng đóng góp lớn nhất trong cơ cấu nguồn sản xuất nhiệt điện với tỷ trọng hơn 60% tổng công suất của nhiệt điện Nguồn nguyên liệu để sản xuất ra điện là khí tự nhiên được mua lại từ Tập đoàn dầu khí và nhập khẩu, giá bán khí sẽ biến động theo giá dầu Mặc dù nguồn khí tự nhiên nước ta khá dồi dào, tuy nhiên do giá thành sản xuất điện khí ở mức cao do đó mặc dù công suất của các nhà máy điện khí rất lớn nhưng tỷ lệ khai thác lại không cao Các dự án nhiệt điện khí chủ yếu được quy hoạch tập trung ở khu vực miền Nam, nơi có nguồn cung cấp khí dồi dào từ Tập đoàn dầu khí Tính đến thời điểm cuối 2009 cả nước có 4 nhà máy nhiệt điện khí (Bảng 1.1)

Bảng 1.1 Các nhà máy nhiệt điện khí ở Việt Nam

- Nhiệt điện than: Đứng thứ 2 trong cơ cấu các nguồn nhiệt điện nước ta, nguồn nguyên liệu hiện nay toàn bộ được mua từ nguồn than đá trong nước của Tập đoàn Than Khoáng Sản Việt Nam với giá ưu đãi, trong tương lai cùng với sự phát triển của các dự án này thì nhiều khả năng nước ta sẽ phải nhập khẩu thêm nguồn

Trang 18

than bên ngoài Chi phí nhiên liệu để vận hành các nhà máy nhiệt điện than thấp hơn nhiều so với nhiệt điện khí khoảng 60% để đạt được cùng mức công suất và nhiệt lượng Do đó nhiệt điện than là nguồn năng lượng được ưu tiên sử dụng thậm chí hơn cả thủy điện do tính ổn định

Miền Bắc có vị trí thuận lợi với trữ lượng than lớn tại Quảng Ninh nên đã xây dựng các nhà máy nhiệt diện chạy than lớn như: Phả Lại (1.040 MW), Uông

Bí (300 MW) và Ninh Bình (300 MW) Trong tương lai EVN sẽ tiếp tục phát triển thêm nhiều dự án nhiệt điện than lớn như: Dự án Duyên Hải 1 (Trà Vinh) công suất 2 x 600 MW, Dự án Vĩnh Tân 2 (Bình Thuận) công suất 2 x 600 MW,

Dự án Hải Phòng 3, công suất 4 x 600 MW…

- Nhiệt điện dầu: Các nhà máy nhiệt điện dầu thường được xây dựng chung trong

tổ hợp các khu nhiệt điện khí, dầu như khu tổ hợp điện dầu khí Phú Mỹ, do chi phí sản xuất điện cao nên nhiệt điện dầu chỉ được khai thác nhằm bù đắp lượng điện thiếu tức thời, do đó đóng góp trong cơ cấu nhiệt điện của nhóm này là thấp

Cơ cấu các nguồn điện cho giai đoạn 2010-2020 tầm nhìn 2030 đã được đề

ra trong Tổng sơ đồ VII và được tóm tắt ở bảng bên dưới Nguồn điện quan trọng nhất vẫn là than và nhiệt điện Điện nguyên tử và năng lượng tái tạo chiếm tỉ trọng tương đối cao vào giai đoạn 2010-2020 và sẽ dần trở nên tương đối quan trọng trong giai đoạn 2020-2030 Thuỷ điện vẫn duy trì thị phần không đổi trong giai đoạn 2010-2020 và 2020-2030 vì thuỷ điện gần như đã được khai thác hết trên toàn quốc

Bảng 1.2 Cơ cấu nguồn điện theo công suất và sản lượng cho giai đoạn

2010-2020 tầm nhìn 2030 [7]

STT Nguồn điện

Tổng công suất lắp đặt (MW)

Thị phần trong tổng

Thị phần trong tổng

Tổng công suất lắp đặt (MW)

Thị phần trong tổng

Thị phần trong tổng sản

Trang 19

công suất lắp đặt (%)

sản lượng điện (%)

công suất lắp đặt (%)

lượng điện (%)

1 Nhiệt điện than 36,000 48.0 46.8 75,000 51.6 56.4

Nguồn: Tóm tắt các thông tin được trong Tổng sơ đồ VII [7]

Cụ thể là vào năm 2020, cơ cấu các nguồn điện liên quan đến sản lượng là 46.8% cho nhiệt điện than, 19.6% cho thuỷ điện và thuỷ điện tích năng, 24% cho

Trang 20

nhiệt điện chạy khí và khí LNG, 4.5% cho Năng lượng tái tạo, 2.1% cho năng lượng nguyên tử và 3.0% từ nhập khẩu từ các quốc gia khác

1.1.3 Khái quát chung về các nhà máy phong điện

Từ xa xưa, con người đã dùng năng lượng gió để di chuyển thuyền buồm, khinh khí cầu hay cối xay gió Ý tưởng dùng năng lượng gió để sản xuất điện hình thành ngay sau các phát minh ra điện và máy phát điện Từ sau cuộc khủng hoảng dầu lửa trong thập niên 70 của thế kỷ 20, việc nghiên cứu sản xuất năng lượng từ các nguồn khác, nhất là từ gió, được đẩy mạnh trên toàn thế giới Điện gió cũng là một trong những công nghệ phát điện bằng năng lượng tái tạo với giá thành tương đối thấp và có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới hiện nay Theo Báo cáo Năng lượng gió thế giới năm 2012 của Hiệp hội Năng lượng gió thế giới (World Wind Energy Association - WWEA) cho biết: Trong năm

2012, trên toàn thế giới mới lắp đặt thêm được 44 609MW điện gió, nâng tổng công suất lắp đặt của điện gió đạt 282 275MW đóng góp khoảng 580 TWh điện mỗi năm, đáp ứng 3% nhu cầu tiêu thụ điện trên toàn thế giới, doanh thu từ điện gió ước tính là 75 tỷ USD

Tốc độ tăng trưởng điện gió trên toàn thế giới là trong năm 2012 là 19,3%, đây là mức tăng thấp nhất trong 10 năm qua Trong đó, châu Á là khu vực dẫn đầu về công suất điện gió mới được lắp đặt (chiếm 36,3% toàn thế giới), tiếp theo là Bắc Mỹ (31,3%) và châu Âu (27,5%), còn lại là các khu vực khác: châu Mỹ Latinh (3,9%), Australia (0,8%) và châu Phi (0,2%) Hiện nay, trên thế giới có 100 nước đang sử dụng điện gió Trong đó, 10 nước đứng đầu về công suất điện gió là: Trung Quốc, Mỹ, Đức, Tây Ban Nha, Ấn Độ, Anh, Italy, Pháp, Canada, Bồ Đào Nha Chỉ riêng 10 nước này đã chiếm 86% công suất điện gió trên toàn thế giới Việt Nam là nước có công suất điện gió đứng thứ 59/100 theo xếp loại của WWEA WWEA cũng dự đoán công suất điện gió trên toàn thế giới

có thể sẽ đạt 500.000MW vào năm 2016 và đạt ít nhất là 1.000.000MW vào cuối năm 2020

Trang 21

Một nghiên cứu về năng lượng gió GIZ/MoIT do Viện Năng lượng thực hiện cho thấy đối với các dự án điện gió sử dụng công nghệ Hoa Kỳ và châu Âu đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn IEC (Hội đồng Kỹ thuật điện Quốc tế), chi phí đầu tư ban đầu ước tính 2.250USD/kW và giá thành điện bình quân 10,68 cent/kWh Trong khi đó, đối với công nghệ Trung Quốc suất đầu tư 1.700USD/kW và giá thành khoảng 8,6 cent/kWh Trong suất đầu tư cho 1 dự án điện gió, giá thành của tuabin chiếm 70-80%, còn lại là các chi phí như xây dựng móng, bảo trì, làm mới đường vận chuyển, lắp đặt cột và tuabin, thiết lập hệ thống điện nội bộ và đấu nối điện, thuê tư vấn…

Theo các nhà đầu tư, một dự án điện gió trên bờ công suất 30MW có vốn đầu tư gần 65 triệu USD, trong đó khoảng 80% vốn vay Với giá 7,8 cent/kWh,

để dự án có hiện quả nhà đầu tư phải vay được vốn với lãi suất nhỏ hơn 1,1%/năm là điều rất khó Với mức thu mua điện gió được Bộ Công Thương phê duyệt đối với dự án điện gió tỉnh Bạc Liêu là 9,8 cent/kWh (khoảng 2.100 đồng/kWh) đang khiến nhà đầu tư lưỡng lự bởi với giá mua điện trên, thời gian hoàn vốn 1 dự án điện gió kéo dài trên 15 năm Các nhà đầu tư lo ngại giá bán điện gió ở mức 9,8 cent/KWh cũng chưa an toàn cho doanh nghiệp đầu tư, mà phải ở mức 12,8 cent (gần 2.700 đồng/kWh), sau 10 năm khai thác sẽ điều chỉnh giảm xuống 10% [16]

* Phát triển điện gió ngoài khơi

Từ một tua-bin gió đầu tiên được xây dựng ngoài khơi ở Thụy Điển vào năm

1990 với công suất 300kWh, qua 15 năm phát triển rất chậm, đến năm 2005 các công trình điện gió ngoài khơi đã tăng mạnh Năm 2006 đã có 18 dự án điện gió ngoài khơi được xây dựng trên toàn thế giới với tổng công suất 804MW Đến cuối năm 2012, theo báo cáo Năng lượng gió thế giới năm 2012 của WWEA, toàn thế giới có 5.426MW điện gió ngoài khơi chiếm tỷ lệ 4,3% trong tổng công suất điện gió, trong đó có 1.903 KW mới lắp đặt, tốc độ tăng trưởng lên tới 54% Hiện nay, có 13 nước trên thế giới có điện gió ngoài khơi, đứng đầu là 5 nước:

Trang 22

Anh, Đan Mạch, Trung Quốc, Bỉ, Đức Hầu hết các tua-bin gió đã hoạt động đều được xây dựng ở vùng nước nông có độ sâu dưới 30m và cách xa bờ không quá

1 km Tua-bin gió đều thuộc loại tháp đơn với đế trọng lực (Tomoaki Utsunomiya, 2013)

Điện gió ngoài khơi ở đây được hiểu là điện gió được xây dựng trên mặt nước, bao gồm cả trên biển và các hồ trong lục địa Cho tới nay, phần lớn những nhà máy điện gió đều ở trên đất liền Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các nhà máy điện gió đã được xây dựng So với điện gió trên đất liền, điện gió trên biển có những ưu điểm sau:

- Tiềm năng năng lượng gió trên biển lớn hơn nhiều so với trên đất liền Theo nguồn số liệu về gió được thu thập chủ yếu từ các trạm khí tượng thuỷ văn, tốc

độ gió trung bình năm đo được từ các trạm ở trong đất liền tương đối thấp, khoảng 2-3m/s Tuy nhiên, ở khu vực ven biển có tốc độ gió cao hơn, từ 3-5m/s

Ở khu vực các đảo, tốc độ gió trung bình có thể đạt tới 5-8m/s Do đó, có thể nói vùng biển và các hải đảo ở nước ta có tiềm năng khá tốt để phát triển điện gió

- Trên đất liền địa hình và mặt đệm khá đa dạng dẫn đến tốc độ gió phân bố rất phức tạp, phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm và độ gồ ghề của lớp bề mặt, không chỉ làm chậm việc tốc độ gió tăng theo độ cao mà còn có thể tạo ra sự khác nhau rất nhiều trên một khu vực không lớn Việc chọn địa điểm để đặt tua-bin gió trở nên khó khăn, dễ dẫn đến năng lượng thực thấp hơn mức dự báo hoặc ngược lại Đối với các tua-bin gió ngoài khơi, do bề mặt thoáng và đồng đều nên tốc độ gió không bị ảnh hưởng bởi địa hình

- Cho đến nay, vùng ven biển đều là những khu vực phát triển, bao gồm các thành phố, khu công nghiệp, khu dân cư tập trung Đó chính là những khu vực tiêu thụ lớn nguồn điện năng, mạng lưới tải điện cũng phát triển Như vậy các nhà máy điện gió trên biển sẽ gần các trung tâm tiêu thụ và dễ dàng kết nối với mạng điện quốc gia, giảm chi phí và tiêu hoa do truyền tải điện

Trang 23

* Phát triển năng lượng điện gió ở Việt Nam

Gần đây Chính phủ Việt Nam đã bước đầu có những chính sách đặc biệt ưu tiên phát triển các nguồn NLTT như điện gió, điện mặt trời, điện sóng, địa nhiệt, thủy triều, sinh khối

Theo Bộ Công Thương, cả nước hiện có gần 50 dự án điện gió đã đăng ký trong hơn 3 năm nay với tổng công suất đăng ký 4.876MW Tuy nhiên, mới chỉ

có 3 nhà máy điện gió phát điện thương mại là Bình Thuận, Phú Quý và Bạc Liêu Đây là con số rất khiêm tốn so với tiềm năng năng lượng điện gió của Việt Nam Nguyên nhân do suất đầu tư của dự án điện gió khá cao, trong khi giá mua điện khoảng 1.614 đồng/kWh (tương đương 7,8 cent/kWh), cao hơn 310 đồng/kWh so với mức giá điện bình quân hiện nay là 1.304 đồng/kWh, nhưng thấp hơn nhiều nước trong khu vực, được xem chưa hấp dẫn nhà đầu tư trong và ngoài nước [16]

Thập niên vừa qua, một số công trình nghiên cứu được thực hiện bởi các tổ chức trong và ngoài nước đã phác thảo sơ lược được bức tranh về tiềm năng năng lượng gió ở Việt Nam Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu phần lớn tập trung nghiên cứu, đánh giá tiềm năng năng lượng gió ở trong đất liền, gần đây mới có một số nghiên cứu về năng lượng gió ngoài biển Tại cấp độ quốc gia, một số đề án, dự án, công trình nghiên cứu khoa học đã được thực hiện, có thể

kể đến là:

- “Atlas tài nguyên năng lượng gió khu vực Đông Nam Á” (Wind Energy Resource Atlas of Southeast Asia) gồm 04 nước: Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan, được Ngân hàng Thế giới tài trợ thực hiện và ấn hành vào tháng 9 năm 2001

- “Đánh giá tài nguyên gió cho sản xuất điện tại các tỉnh duyên hải Việt Nam” do EVN tài trợ thực hiện năm 2007

Trang 24

- “Đánh giá tài nguyên gió tại các địa điểm lựa chọn ở Việt Nam”, dự án này cũng được Ngân hàng Thế giới tài trợ thực hiện thông qua Bộ Công Thương, dự

án bắt đầu triển khai vào năm 2008, kéo dài trong 02 năm

- “Quy hoạch phát triển điện gió toàn quốc giai đoạn đến năm 2020, có xét đến 2030” do Tổng cục Năng lượng - Bộ Công Thương thực hiện vào năm

- Vốn ODA: 02 dự án (Phú Lạc - KfW, Lợi Hải - Danida)

- Ngân sách quốc gia: 01 dự án (đảo Phú Quý)

- Bảo lãnh của Chính phủ: 01 dự án (Bạc Liêu do American Eximbank tài trợ)

- Các nhà máy điện độc lập: tất cả các nguồn khác

* Sự tham gia đầu tư năng lượng gió của các công ty ngoài quốc doanh và một số thành tựu đáng kể

Trang 25

Với những chính sách và đầu tư mở cửa với năng lượng điện gió, ngoài các công ty có vốn đầu tư nước ngoài bắt đầu để ý tới việc đầu tư khai thác tiềm năng năng lượng gió của Việt Nam, thì một số doanh nghiệp tư nhân trong nước cũng đã có những đầu tư nghiên cứu và bước đầu khai thác nguồn năng lượng tái tạo này Dù thành tựu đạt được mới chỉ ở bước đầu, nhưng đây là những dấu hiệu đáng mừng cho thị trường điện cạnh tranh Sự đầu tư của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang tập trung nhiều vào các loại tuabin gió cỡ nhỏ

Tuabin gió cỡ nhỏ có thể dùng cho nhu cầu an ninh, quốc phòng, đèn biển, các trạm khí tượng – thủy văn Các đài thu phát sống, các trạm hướng dẫn bayv.v…nhưng chủ yếu dùng cho dân sinh như các nhà hàng, khách sạn, các hộ dân, sau đó là dùng cho các mục đích an ninh, quốc phòng (các đơn vị bộ đội đóng trên các đảo nổi, đảo chìm, nhà dàn) còn lại là các trạm khí tượng, thủy văn, các đèn biển Nếu ước tính thì nhu cầu có thể đến vài ngàn chiếc, để có thể hiện thực hơn ta lấy con số nhu cầu là 1.000 chiếc trong 7 năm để tính toán cho

dự án là hợp lý

Tuy nhiên, đây lại là những nơi khí hậu rất khắc nghiệt nên các turbine gió

đã lắp đặt có nhiều thiết bị bằng sắt thường xuyên bị hỏng chủ yếu là do không khí ẩm có muối biển tích tụ bên trong gây hiện tượng ôxy hóa, và hay hỏng nhất

là máy phát điện Với điều kiện khí hậu như trên ngay cả các tuabin gió nhập khẩu từ Mỹ, có giá thành cao nhưng tuổi tho cũng không cao Cụ thể năm 2012 chúng ta đã lắp tại Trường Sa 108 chiếc tua gió 3kw dạng hai cánh thì đến tháng 6/2014 chúng ta đã phải thay thế toàn bộ bằng loại ba cánh Vì vậy, việc đưa ra một loại tuabin gió kiểu mới có thể chịu được thời tiết và khí hậu tại những nơi này, với gía thành hạ, dễ lắp đặt, bảo trì, bảo hành chắc sẽ chiếm được thị trường trên

Hiện nay trong nước chưa có một trường đại học nào dạy về tua bin gió, điện gió, chưa có phòng thí nghiệm có trang thiết bị nghiên cứu về gió Trước đây đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu thiết kế chế tạo tua bin gió trục đứng và

Trang 26

trục ngang ở các cấp từ trung tâm, viện, trường, bộ đến cấp nhà nước, các đề tài này đều dựa trên các mẫu sẵn có của nước ngoài để chế tạo Tuy nhiên, do không có phòng thí nghiệm đo kiểm cũng như loại vật liệu phù hợp để chế tạo nên không có đơn vị nào thành công, các tua bin gió được các đề tài chế tạo có giá thành quá cao, tuổi thọ thấp, vì vậy kết quả mới chỉ dừng tại mức độ đưa ra một sản phẩm nhưng không có nơi nào áp dụng để sản xuất Hiện tại Việt Nam hiện chưa cơ sở sản xuất tua bin gió nguyên chiếc chỉ có một số Công ty sản xuất thiết bị cho tua bin gió như:

a) GE tại Khu công nghiệp Nomura - Hải Phòng

Ngày 15/10/ 2009, tại Khu công nghiệp Nomura - Hải Phòng, Tập đoàn

GE (Mỹ) đã tổ chức lễ khánh thành và chính thức đưa vào hoạt động Nhà máy sản xuất máy tuabin gió phát điện đầu tiên tại Việt Nam (thuộc Công ty GE Energy) sau gần một năm ruỡi xây dựng

Hiện nhà máy đã xuất xưởng các sản phẩm đầu tiên và xuất khẩu được hơn 200 máy phát điện tuabin gió ra thị trường nước ngoài tính đến thời điểm nàyTrước đó, Bộ Công Thương và Tập đoàn GE Hoa Kỳ đã ký kết Biên bản ghi nhớ (MOU) hợp tác chiến lược dài hạn Theo đó, GE cam kết đầu tư nhiều hơn vào các lĩnh vực năng lượng, cùng Bộ Công Thương phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, đào tạo nhân lực trình độ cao, chuyển giao công nghệ và chia sẻ kinh nghiệm quản trị doanh nghiệp Bộ công thương cam kết sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các dự án của GE được triển khai thành công phục vụ thị trường Việt Nam cũng như xuất khẩu

Trong giai đoạn đầu, nhà máy sẽ chế tạo máy phát điện cho loại tuabin gió công suất 1,5 MW và có kế hoạch tiếp tục đầu tư, mở rộng quy mô hoạt động trong tương lai, phục vụ việc xuất khẩu toàn bộ các sản phẩm ra nước ngoài Với vốn đầu tư 61 triệu USD trên diện tích gần 8,5 ha, Nhà máy có thể sản xuất khoảng 10.000 tấn linh kiện cho bộ phận máy phát điện và tuabin các

Trang 27

loại/năm, sau đó sẽ được chuyển đến các cơ sở chế tạo và trung tâm bảo hành của GE trên toàn cầu để cấu thành các sản phẩm hoàn thiện, góp phần đáp ứng nhu cầu máy phát điện bằng sức gió trên thế giới

Nhà máy là một phần trong chiến lược toàn cầu hóa của Tập đoàn GE nhằm phát triển và tận dụng năng lực sản xuất tập trung, giảm chi phí và nâng cao chất lượng

b) Công ty TNHH Một thành viên tháp UBI

Vốn đầu tư: 1000.000.000.000 VNĐ Công nghệ sản xuất: sản xuất cột tháp tuabin gió công suất lớn Công suất: 300 cột tháp/ năm;

c) Công ty Cổ phần Mitech Việt Nam

Hiện Công ty Cổ phần Mitech Việt Nam đang là đơn vị đi đầu trong việc tự

bỏ vốn cho nghiên cứu và sản xuất tua bin gió trục đứng cánh tuỳ động kiểu mới

có công suất 3, 5, 10 KW phục vụ cho vùng biên giới, hải đảo Trong đó, chú trọng chủ yếu sản xuất loại tuabin gió 5kw do thuận tiện cho việc chuyên chở, lắp đặt, bảo hành, bảo trì và giá thành hợp lý Đây là loại tua bin gió dựa trên nguyên lý mới, cho phép đạt hiệu suất cao hơn, giá thành rẻ hơn và vận hành đơn giản hơn

Hình 1.1 Sơ đồ động học tua bin gió trục đứng theo nguyên lý mới [16]

Trang 28

Loại tua bin gió mà Mitech nghiên cứu là một loại tua bin có hai cánh 1 và

2 vừa quay quanh trục tua bin và vừa tự quay theo trục cánh, sao cho khi một cánh nằm song song với hướng gió thổi thì cánh còn lại sẽ vuông góc với hướng gió để tận dụng tối đa năng lượng gió, tạo hiệu suất làm việc cao hơn Trong quá trình làm việc hai cánh tua bin tự thay đổi vị trí, nhưng tại vị trí làm việc tối ưu hai cánh luôn vuông góc với nhau Trục tâm đảm bảo cho chế độ làm việc tối ưu của tua bin Về kết cấu, cánh có thể dạng phẳng hoặc có biên dạng cong đối xứng hai phía Như vậy có sự khác biệt về bản chất so với các tua bin gió trục đứng đã được chế tạo trên thế giới

Hiện nay, hầu hết các tuabin gió trên thế giới khi làm việc gió thổi cả về hai phía, phần gió làm cho tua bin quay chỉ là phần gió phản xạ lại theo độ cong của cánh nên hiệu suất các tuabin gió này có hiệu suất rất thấp chỉ từ 8 đến 12% (hiệu suất lý thuyết, còn hiệu suất thực tế còn nhỏ hơn) Việc đưa ra loại tuabin kiểu mới khí gió thổi vuông góc với một cánh, cánh còn lại song song với hướng gió sẽ làm cho hiệu suất của tuabin gió tăng lên nhiều lần, hiệu suất lý tưởng đạt tới 50% (trong thực tế đạt 40%)

Trang 29

1.2 Khái quát về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

1.2.1 Chi phí sản xuất

1.2.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác mà doanh nghiệp chỉ ra để tiến hành các hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định

1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất

Dựa vào tính chất, nội dung kinh tế của chi phí khác nhau để chia ra các yếu tố chi phí, mỗi yếu tố chi phí bao gồm những chi phí có cùng một nội dung kinh tế, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu, ở lĩnh vực hoạt động nào và mục đích hoặc tác dụng của chi phí như thế nào Cách phân loại này còn được gọi là phân loại chi phí theo yếu tố

Theo cách phân loại này, chi phí được chia thành:

- Chi phí nguyên liệu, vật liệu,

- Chi phí nhân công,

Trang 30

b) Phân loại chi phí theo mục đích và công cụ kinh tế

Dựa vào mục đích của từng loại hoạt động trong doanh nghiệp, căn cứ vào công cụ kinh tế của chi phí trong sản xuất để chia chi phí thành các khoản mục khác nhau, mỗi khoản mục chi phí bao gồm những chi phí có cùng mục đích và công cụ, không phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế như thế nào

 Chi phí hoạt động kinh doanh thông thường

Chi phí hoạt động kinh doanh thông thường bao gồm chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí hoạt động tài chính

- Chi phí sản xuất kinh doanh

Chi phí sản xuất kinh doanh bao gồm chi phí sản xuất, chi phí ngoài sản xuất, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Trong đó, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến việc chế tạo sản phẩm, lao động dịch vụ trong một thời kỳ nhất định Loại chi phí này bao gồm các khoản mực chi phí như sau:

 Chi phí khác

Trang 31

Chi phí khác là các chi phí và các khoản lỗ do các sự kiện hay các nghiệp

vụ bất thường mà doanh nghiệp không thể dự kiến trước được như: nhượng bán TSCĐ, tiền phạt do vi phạm hợp đồng, các khoản phạt, truy thu thuế Các chi phí khác có tác dụng trong việc quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho việc tính toán, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm, làm cơ sở lập định mức chi phí sản xuất và kế hoạch giá thành sản phẩm cho kỳ sau

lao vụ sản xuất trong kỳ

Căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ để chia chi phí sản xuất kinh doanh thành chi phí khả biến và chi phí bất biến

- Chi phí khả biến (biến phí) là những khoản mục chi phí có mối quan hệ

tỷ lệ thuận với sự thay đổi của khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ Chi phí khả biến thường bao gồm chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung khả biến

- Chi phí bất biến (định phí) là những khoản chi phí không biến động khi

mức hoạt động của sản xuất hay khối lượng sản phẩm sản xuất, công việc, lao vụ, dịch vụ hoàn thành trong kỳ thay đổi Chi phí bất biến thường bao gồm chi phí khấu hai TSCĐ, chi phí thuê tài sản, chi phí quảng cáo

Cách phân loại này giúp nhà quản trị trong việc phân tích mối quan hệ Chi phí – Khối lượng – Lợi nhuận, phân tích điểm hòa vốn để phục vụ cho việc tạo

ra các quyết định quản lý cần thiết nhằm tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và tăng hiệu quả kinh doanh

Trang 32

d) Phân loại chi phí theo phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và mối quan

hệ với đối tượng chịu chi phí

- Chi phí trực tiếp: Là những khoản mục chi phí có quan hệ trực tiếp với

việc sản xuất một loại sản phẩm hay một công việc nhất định Những khoản chi phí này kế toán có thể căn cứ vào số liệu chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho các đối tượng chịu chi phí

- Chi phí gián tiếp: Là những khoản mục chi phí có liên quan cùng một

lúc đến việc sản xuất nhiều loại sản phẩm, nhiều công việc, nhiều đối tượng khác nhau Những loại chi phí này kế toán phải tiến hành tổng hợp và phân bổ cho những đối tượng có liên quan theo những tiêu thức phân bổ thích hợp

Cách phân loại có ý nghĩa đối với việc xác định phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho các đối tượng một cách đúng đắn và hợp lý

Theo nội dung cấu thành chi phí, chi phí được chia thành chi phí đơn nhất và chi phí tổng hợp

- Chi phí đơn nhất: là những khoản chi phí do một yếu tố duy nhất cấu

thành như nguyên liệu, vật liệu chính dung trong sản xuất, tiền lương của công nhân sản xuất

- Chi phí tổng hợp: là những khoản chi phí do nhiều yếu tố khác nhau tập

hợp lại theo cùng một công dụng như chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng

Cách phân loại này sẽ giúp nhà quản trị nhận thức được vị trí của từng loại chi phí trong việc hình thành sản phẩm, từ đó tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất thích hợp với từng loại

Trang 33

1.2.2 Tính giá thành sản phẩm

1.2.2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm

Giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất cho một khối lượng hoặc đơn vị sản phẩm (công việc, lao vụ dịch vụ) do doanh nghiệp sản xuất đã hoàn thành Hoặc giá thành sản phẩm sản xuất được xác định bao gồm những chi phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác được dùng để sản xuất hoàn thành một khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định

1.2.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm

Theo cơ sở số liệu tính giá thành, giá thành sản phẩm được chia thành 03 loại là giá thành kế hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế

sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch Việc tính giá thành kế hoạch do bộ phận kế hoạch của doanh nghiệp thực hiện và được tiến hành trước khi bắt đầu quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm Giá thành kế hoạch của sản phẩm là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh phân loại đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp

trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm Giá thành định mức được xác định trên cơ sở các định mức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp từng thời kỳ Việc tính giá thành định mức cũng được thực hiện trước khi tiến hành sản xuất, chế tạo sản phẩm

Giá thành định mức là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là thước đo chính xác để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong sản xuất, qua đó đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình sản xuất nhằm đem lại hiệu quả kinh tế

Trang 34

- Giá thành thực tế: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu chi

phí sản xuất thực tế đã phát sinh tập hợp được trong kỳ và sản lượng sản phẩm thực tế đã phát sinh sản xuất ra trong kỳ

Theo phạm vi tính toán, giá thành sản xuất được chia làm hai loại là giá thành sản xuất sản phẩm và giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ:

- Giá thành sản xuất sản phẩm hay còn gọi là giá thành công xưởng:

bao gồm các chi phí sản xuất như: chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí SXC tính cho những sản phẩm, công việc hoặc lao vụ đã hoàn thành, giá thành sản xuất của sản phẩm được sử dụng ghi số của sản phẩm đã hoàn thành nhập kho hoặc giao cho khách hàng Giá thành sản xuất của sản phẩm được sử dụng để hạch toán thành phẩm, xác định giá vốn hàng bán xuất bán và mức lãi gộp trong kỳ của doanh nghiệp

- Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ: bao gồm giá thành sản xuất tính

theo khối lượng sản phẩm tiêu thụ cộng chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phát sinh trong kỳ tính cho số sản phẩm đó Giá thành toàn bộ của sản phẩm chỉ được tính toán xác định khi sản phẩm, công việc hoặc lao vụ đã được tiêu thụ Giá thành toàn bộ của sản phẩm là căn cứ để tính toán, xác định lợi nhuận thuần trước thuế của doanh nghiệp

1.2.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Về bản chất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là biểu hiện hai mặt của quá trình sản xuất

Giống nhau: Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm giống nhau về chất vì

chúng đều biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống, lao động vật hóa

và những chi phí khác mà doanh nghiệp đã chi ra để sản xuất sản phẩm

Khác nhau: Chi phí sản xuất và giá thành khác nhau về lượng

Trang 35

- Chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí chi ra để tiến hành sản xuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định, không phân biệt là dùng cho loại sản phẩm nào, đã hoàn thành hay chưa

- Giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính theo một khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ Giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ bao gồm chi phí sản xuất của kỳ trước chuyển sang và một phần chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ

Chi phí sản xuất luôn gắn với từng thời kỳ đã phát sinh chi phí còn giá thành lại gắn với khối lượng sản phẩm, công việc lao vụ đã sản xuất hoàn thành Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm đã hoàn thành

mà còn liên quan đến sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng, còn giá thành sản phẩm không liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang cuối

kỳ và sản phẩm hỏng mà lại liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang kỳ trước chuyển sang

Tuy nhiên, giữa hai khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết vì nội dung cơ bản của chúng đều là biểu hiện bằng tiền của những chi phí doanh nghiệp đã bỏ ra cho hoạt động sản xuất Chi phí sản xuất trong kỳ là cơ sở để tính giá thành của sản phẩm, công việc lao vụ đã hoàn thành Sự tiết kiệm hoặc lãng phí của doanh nghiệp về chi phí sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm cao hay hạ, quản lý giá thành phải gắn liền với quản lý chi phí sản xuất

1.3 Tính toán giá thành điện trên thế giới và ở Việt Nam

1.3.1 Tính toán giá thành điện trên thế giới

Thông thường các quốc gia trên thế giới đều thực hiện mô hình thị trường điện một người mua (SB), giống như giai đoạn đầu của thị trường điện Việt Nam, nhưng mỗi nước có những đặc thù riêng; đặc biệt là vai trò của các nhà đầu tư tư nhân trong lĩnh vực phát triển nguồn điện và mức độ cạnh tranh trong thị trường Khi mô hình một người mua được chuyển sang giai đoạn khác của thị trường điện cạnh tranh (PPA), thì quá trình chuyển đổi các hợp đồng mua bán điện

Trang 36

* Hợp đồng mua bán điện của các nhà máy nhiệt điện ở Brazil

Các giải pháp được đề ra trong năm 2004 nhằm mục đích giúp cho thị trường điện hoạt động hiệu quả trong thời gian ngắn hạn Thị trường điện của Brazil hiện nay đã tương đối phát triển với sự đấu thầu cung cấp dài hạn, đối với các nhà máy nhiệt điện là 10 năm và các dàn xếp thương mại khác với cách cách định giá trong thị trường tức thời Điều này nhằm nâng cao tỷ lệ và vai trò của các hợp đồng giữa phía nhu cầu và phía nguồn phát điện, do đó chi phí/giá và rủi

ro được chuyển cho các nhà đầu tư tư nhân thay cho nhà nước trước đây

Giá thành điện được tính theo nhà đầu tư cung cấp giá thành điện thấp nhất Đây cũng là nhà đầu tư tư nhân trúng thầu

* Định giá nhiệt điện ở Pháp

Nghiên cứu về chi phí cho sản xuất điện được thực hiện với sự cộng tác của các nhà đầu tư phát triển nguồn điện Giá điện bình quân của các loại công nghệ được đưa ra với các hệ số chiết khấu khác nhau Hệ số chiết khấu 8% sử dụng trước đây được lấy theo quy định của Ủy ban Kế hoạch Pháp [24] và phù hợp với yêu cầu về lợi nhuận của các nhà đầu tư trong ngành điện Phân tích độ nhậy của chi phí sản xuất điện, bao gồm thay đổi giá nhiên liệu, tỷ giá hối đoái euro/dollar

Công thức xác định giá nhiệt điện:

M: phần cộng thêm theo hiệu suất, giá trị M theo bảng 2

Bảng 1.3 Hiệu suất và giá trị gia tăng trong các NMNĐ ở Pháp [24]

Hiệu suất V Giá trị M (€/kWh)

Trang 37

* Định giá điện từ nhiệt điện ở Đức [22]

Chi phí sản xuất điện được đánh giá trong các nghiên cứu khác nhau Tất

cả các chi phí của các nhà máy được xác định trên cơ sở các nhà máy đã xây dựng hoặc đã được áp dụng trên thế giới Các chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật được áp dụng tính toán chi phí sản xuất điện của các loại công nghệ

Bảng 1.4 Các loại chi phí ở NMNĐ được tính toán ở Đức [22]

Công suất điện Mwe 1590 800 450 425 1050 1000

Suất vốn đầu tư €/kWe 1550 820 1200 1500 1150 440 Chi phí O & M cố định

€/kWe/năm

30.0 36.6 56.4 68.9 35.5 18.8

O & M var €/Mwhe 3.6 2.7 3.2 3.8 1.0 1.6

Bảng 1.5 Giá nhiên liệu hóa thạch đến các NMNĐ ở Đức [22]

Năm Than bùn Than Antraxit Khí

Tổng chi phí phát điện = chi phí đầu tư + chi phí O & M cố định + chi phí O &

M var + chi phí nhiên liệu

Như vậy, theo kinh nghiệm của quốc tế, những quốc gia bắt đầu cải tổ bằng giai đoạn SB, SB tiếp tục các hợp đồng bán điện hiện tại theo đúng thời hạn Trong đó, thời hạn của PPA là dài hạn, thường là 10 năm đối với các nhà máy nhiệt điện Giá hai thành phần luôn được áp dụng ở đây trong đó:

- Một phần là thanh toán theo giá cố định bù đắp chi phí cố định

- Một phần theo giá biến đổi để bù đắp các chi phí biến đổi

Trang 38

1.3.2 Tính toán giá thành điện ở Việt Nam

Đối với các nhà máy điện, các đặc điểm kinh tế đầu tiên và quyết định chính tới giá điện là chi phí về vốn đầu tư xây dựng nhà máy Đối với các công trình nhiệt điện dùng công nghệ có các loại công suất tổ máy khác nhau thì điều chỉnh theo chỉ tiêu suất vốn đầu tư theo loại công suất tổ máy chuẩn

Theo tài liệu tham khảo của ngân hàng thế giới (được Việt Nam tham khảo

áp dụng) về kinh nghiệm quy đổi suất vốn đầu tư công trình nhiệt điện các loại

tổ máy như sau:

(3) [26]

Trong đó:

C: Suất vốn đầu tư loại tổ máy cần tính quy đổi (đồng/kW)

Cknow: Suất vốn đầu tư loại tổ máy chuẩn đã biết (Đồng/kW)

Sknow: Công suất loại tổ máy chuẩn đã biết (kW)

S: Công suất loại tổ máy cần tính quy đổi (kW)

n: Hệ số tính đến cho loại nhà máy

Hệ số n được quy đổi theo bảng 1.6

Bảng 1.6 Hệ số quy đổi suất vốn đầu tư theo công suất NMNĐ [26]

Nhiệt điện ngưng hơi 0.28 Với giá thành thực tế khoảng 6 cent/kWh thì giá bán bán điện hiện nay của Việt Nam vào khoảng 7.5 €/kWh Có thể thấy thống kê giá điện bình quân ở Việt Nam và so sánh với các quốc gia trên thế giới ở bảng 1.7

Trang 39

Bảng 1.7 So sánh giá điện bình quân ở Việt Nam và một số các quốc gia [16]

So sánh về con số tuyệt đối, sau lần tăng giá gần nhất (ngày 01/08/2013), giá điện bình quân đang ở mức 1.590 đồng/KWh (khoảng 7.6 cent) Khung giá điện bán lẻ cho sinh hoạt nằm trong khoảng 1.418 – 2.420 đồng/KWh, cho sản xuất từ 792 – 2.542 đồng/KWh Khung giá điện bán buôn cho cụm dân cư (nông thôn, thành thị) là 1.120 – 2.357 đồng/Kwh, và cho khu công nghiệp là 743 – 2.234 đồng/KWh [4]. Điều này cho thấy giá điện dành cho khu công nghiệp khá

rẻ sẽ giúp cho các doanh nghiệp nước ngoài được lời từ nguồn điện giá rẻ, trong khi cụm dân cư đang chịu mức giá điện đắt hơn khá nhiều

Từ ngày 14/12/2010, ở Việt Nam, giá thành điện nói chung và giá thành nhiệt điện nói riêng được quy định trong Thông tư số 41/2010/TT-BCT ngày 14/12/2010 của Bộ Công Thương về “Quy định phương pháp xác định giá phát điện; trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành khung giá phát điện và phê duyệt hợp đồng mua bán điện”

Ngày đăng: 20/10/2015, 16:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Ban QLDA Nhiệt điện 1 (2004). Báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn 600MW, Tổng công ty điện lực Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn 600MW
Tác giả: Ban QLDA Nhiệt điện 1
Năm: 2004
[2] Ban QLDA NMNĐ Mạo Khê – Vinacomin (2013). Báo cáo kết quả thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án “Nhà máy Nhiệt điện Mạo Khê – Vinacomin”, Tổng công ty Điện lực – Vinacomin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án “Nhà máy Nhiệt điện Mạo Khê – Vinacomin”
Tác giả: Ban QLDA NMNĐ Mạo Khê – Vinacomin
Nhà XB: Tổng công ty Điện lực – Vinacomin
Năm: 2013
[3] Ban QLDA Điện lực Dầu khí Long Phú - Sông Hậu (2014). Báo cáo đánh giá ĐTM dự án nhiệt điện Long Phú 1, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá ĐTM dự án nhiệt điện Long Phú 1
Tác giả: Ban QLDA Điện lực Dầu khí Long Phú - Sông Hậu
Năm: 2014
[4] Báo Nhiệt điện Việt Nam (2013). Giá điện tại Việt Nam rẻ hay đắt, đăng ngày 18/12/2013, Truy cập ngày 17/01/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá điện tại Việt Nam rẻ hay đắt
Tác giả: Báo Nhiệt điện Việt Nam
Năm: 2013
[7] Bộ Khoa học và Đầu tư (2008). Tiềm năng và phương hướng khai thác các dạng năng lượng tái tạo ở Việt Nam, Văn phòng Chương trình Nghị sự 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiềm năng và phương hướng khai thác các dạng năng lượng tái tạo ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Khoa học và Đầu tư
Năm: 2008
[9] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012). Chính sách thuế cácbon của các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương: Chìa khóa giảm phát thải CO 2 , Đăng ngày 14/09/2012, Truy cập ngày 17/01/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách thuế cácbon của các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương: Chìa khóa giảm phát thải CO"2
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2012
[10] Donann Lisenby (2014). Báo cáo tác động của than, điện than và tác động tiềm tàng đến nguồn nước, sức khoẻ cộng đồng, Hội thảo “Nghiên cứu tác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tác động của than, điện than và tác động tiềm tàng đến nguồn nước, sức khoẻ cộng đồng
Tác giả: Donann Lisenby
Năm: 2014
[11] Dư Văn Toán (2011). Kịch bản phát triển năng lượng tái tạo trên thế giới và đề xuất với Việt Nam, Hội nghị khoa học quốc tế "Năng lượng tái tạo và phát triển bền vững", Viện KHCN Việt Nam, NXB KHTN&CN 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch bản phát triển năng lượng tái tạo trên thế giới và đề xuất với Việt Nam
Tác giả: Dư Văn Toán
Nhà XB: NXB KHTN&CN
Năm: 2011
[12] Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh (2000). Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững, NXB ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững
Tác giả: Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
Năm: 2000
[13] Lưu Đức Hải (chủ biên) (2006). Cẩm nang quản lý môi trường, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang quản lý môi trường
Tác giả: Lưu Đức Hải
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
[14] Lưu Thị Toán, Dư Văn Toán (2014). Hạch toán giá thành nhiệt điện ở Việt Nam khi khí Các bon sinh ra trong quá trình đốt nhiên liệu không được xử lý, Tạp chí Môi trường, ISSN: 1859-042X, số 10/2014, trang 39 – 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạch toán giá thành nhiệt điện ở Việt Nam khi khí Các bon sinh ra trong quá trình đốt nhiên liệu không được xử lý
Tác giả: Lưu Thị Toán, Dư Văn Toán
Nhà XB: Tạp chí Môi trường
Năm: 2014
[15] Lưu Thị Toán, Dư Văn Toán (2014). Tính liên ngành trong hạch toán lại giá thành nhiệt điện than hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu, Hội nghị Khoa học liên ngành năm 2014, Khoa Sau đại học, Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 103-112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính liên ngành trong hạch toán lại giá thành nhiệt điện than hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu
Tác giả: Lưu Thị Toán, Dư Văn Toán
Nhà XB: Hội nghị Khoa học liên ngành năm 2014
Năm: 2014
[16] Phòng Nghiên cứu – Đánh giá (2014). Đầu tư sản xuất tuarbin gió trục đứng kiểu mới, Đề án năm 2014, Công ty Cổ phần Mitech Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư sản xuất tuarbin gió trục đứng kiểu mới
Tác giả: Phòng Nghiên cứu – Đánh giá
Năm: 2014
[17] Phòng Nghiên Cứu – Phân tích (2014). Ngành điện Việt Nam, Báo cáo phân tích năm 2014, Công ty cổ phần chứng khoán Phú Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành điện Việt Nam
Tác giả: Phòng Nghiên Cứu – Phân tích
Năm: 2014
[18] Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2010). Luật thuế bảo vệ môi trường, luật số 57/2010/QH12, truy cập ngày 06/12/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thuế bảo vệ môi trường
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Năm: 2010
[19] Viện năng lượng (2009). Nghiên cứu tính toán xác định khung giá điện của các loại hình công nghệ phát điện truyền thống ở Việt Nam trong giai đoạn đầu thị trường phát điện cạnh tranh, Đề tài cấp Bộ, mã số I-143, Viện Năng lượng, Bộ Công Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính toán xác định khung giá điện của các loại hình công nghệ phát điện truyền thống ở Việt Nam trong giai đoạn đầu thị trường phát điện cạnh tranh
Tác giả: Viện năng lượng
Nhà XB: Viện Năng lượng
Năm: 2009
[20] Alex Robson (2013). Australia's Carbon Tax: An Economic Evaluation, Department of Accounting, Finance and Economics Griffith University, Brisbane, Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Australia's Carbon Tax: An Economic Evaluation
Tác giả: Alex Robson
Năm: 2013
[21] IA and AE (1997). A back - of - the - envelope approach to assess the cost of capital for network regulators, Ian Alexander and Antonio Estache, 12/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A back - of - the - envelope approach to assess the cost of capital for network regulators
Tác giả: Ian Alexander, Antonio Estache
Năm: 1997
[22] IEA (2003). World Energy Investment Outlook, OECD/IEA, Paris, France Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Energy Investment Outlook
Tác giả: IEA
Nhà XB: OECD/IEA
Năm: 2003
[23] IAEA (2003a). Power Generation Investment in Electricity Markets, IEA, Paris, France Sách, tạp chí
Tiêu đề: Power Generation Investment in Electricity Markets
Tác giả: IAEA
Nhà XB: IEA
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Cơ cấu nguồn điện theo công suất và sản lượng cho giai đoạn - Phân tích so sánh chi phí lợi ích mở rộng giá thành sản xuất nhiệt điện và phong điện hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu
Bảng 1.2. Cơ cấu nguồn điện theo công suất và sản lượng cho giai đoạn (Trang 18)
Hình 1.1. Sơ đồ động học tua bin gió trục đứng theo nguyên lý mới [16] - Phân tích so sánh chi phí lợi ích mở rộng giá thành sản xuất nhiệt điện và phong điện hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu
Hình 1.1. Sơ đồ động học tua bin gió trục đứng theo nguyên lý mới [16] (Trang 27)
Bảng 1.4. Các loại chi phí ở NMNĐ được tính toán ở Đức [22] - Phân tích so sánh chi phí lợi ích mở rộng giá thành sản xuất nhiệt điện và phong điện hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu
Bảng 1.4. Các loại chi phí ở NMNĐ được tính toán ở Đức [22] (Trang 37)
Bảng 1.7. So sánh giá điện bình quân ở Việt Nam và một số các quốc gia [16] - Phân tích so sánh chi phí lợi ích mở rộng giá thành sản xuất nhiệt điện và phong điện hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu
Bảng 1.7. So sánh giá điện bình quân ở Việt Nam và một số các quốc gia [16] (Trang 39)
Bảng 2.2. Mức thuế tuyệt đối được quy định đối với mặt hàng than đá [8] - Phân tích so sánh chi phí lợi ích mở rộng giá thành sản xuất nhiệt điện và phong điện hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu
Bảng 2.2. Mức thuế tuyệt đối được quy định đối với mặt hàng than đá [8] (Trang 54)
Bảng 2.1. Hệ số T C  được tính cho Việt Nam theo quy định của các nước [14] - Phân tích so sánh chi phí lợi ích mở rộng giá thành sản xuất nhiệt điện và phong điện hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu
Bảng 2.1. Hệ số T C được tính cho Việt Nam theo quy định của các nước [14] (Trang 54)
Hình 3.1. Sơ đồ quy trình chung xử lý nước thải nhà máy nhiệt điện Mạo - Phân tích so sánh chi phí lợi ích mở rộng giá thành sản xuất nhiệt điện và phong điện hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu
Hình 3.1. Sơ đồ quy trình chung xử lý nước thải nhà máy nhiệt điện Mạo (Trang 59)
Bảng 3.1. Vốn đầu tư phân bổ cho dự án NMNĐ Nghi Sơn (USD) - Phân tích so sánh chi phí lợi ích mở rộng giá thành sản xuất nhiệt điện và phong điện hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu
Bảng 3.1. Vốn đầu tư phân bổ cho dự án NMNĐ Nghi Sơn (USD) (Trang 62)
Hình 3.2. Vị trí nhà máy nhiệt điện Long Phú 1 [1] - Phân tích so sánh chi phí lợi ích mở rộng giá thành sản xuất nhiệt điện và phong điện hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu
Hình 3.2. Vị trí nhà máy nhiệt điện Long Phú 1 [1] (Trang 64)
Bảng 3.2. Đặc tính than sử dụng - Phân tích so sánh chi phí lợi ích mở rộng giá thành sản xuất nhiệt điện và phong điện hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu
Bảng 3.2. Đặc tính than sử dụng (Trang 64)
Hình 3.3. Quy trình sản xuất ở NMNĐ Long Phú 1 [1] - Phân tích so sánh chi phí lợi ích mở rộng giá thành sản xuất nhiệt điện và phong điện hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu
Hình 3.3. Quy trình sản xuất ở NMNĐ Long Phú 1 [1] (Trang 66)
Hình 3.4. So sánh lượng thải CO 2  theo các nguồn năng lượng [16] - Phân tích so sánh chi phí lợi ích mở rộng giá thành sản xuất nhiệt điện và phong điện hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu
Hình 3.4. So sánh lượng thải CO 2 theo các nguồn năng lượng [16] (Trang 69)
Hình 3.6. So sánh các chất thải từ các nguồn năng lượng [16] - Phân tích so sánh chi phí lợi ích mở rộng giá thành sản xuất nhiệt điện và phong điện hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu
Hình 3.6. So sánh các chất thải từ các nguồn năng lượng [16] (Trang 69)
Hình 3.5. So sánh tổng thể về giá cả của các loại hình năng lượng [16] - Phân tích so sánh chi phí lợi ích mở rộng giá thành sản xuất nhiệt điện và phong điện hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu
Hình 3.5. So sánh tổng thể về giá cả của các loại hình năng lượng [16] (Trang 69)
Bảng 3.5. Các mức thuế CO2 đã được quy đổi áp dụng cho các NMNĐ theo - Phân tích so sánh chi phí lợi ích mở rộng giá thành sản xuất nhiệt điện và phong điện hướng tới giảm thiểu biến đổi khí hậu
Bảng 3.5. Các mức thuế CO2 đã được quy đổi áp dụng cho các NMNĐ theo (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w