ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SAU ĐẠI HỌC CAO TRUNG HIẾU ỨNG PHÓ CỦA NGƯỜI DÂN NHẬP CƯ ĐỐI VỚI NGẬP LỤT Ở HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
CAO TRUNG HIẾU
ỨNG PHÓ CỦA NGƯỜI DÂN NHẬP CƯ
ĐỐI VỚI NGẬP LỤT Ở HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
CAO TRUNG HIẾU
ỨNG PHÓ CỦA NGƯỜI DÂN NHẬP CƯ
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Ứng phó của người dân nhập cư đối với ngập lụt ở Hà Nội trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay” là nghiên cứu của bản thân tôi Các kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào Trong luận văn có sử dụng các tài liệu tham khảo được trích dẫn rõ ràng, số liệu thu thập phục vụ nghiên cứu là các số liệu chính thống
Hà Nội, ngày 08 tháng 12 năm 2014 Tác giả
Cao Trung Hiếu
Trang 4Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Ủy ban nhân dân huyện Thanh Trì,
Ủy ban nhân dân xã Tân Triều, Tả Thanh Oai, xã Thanh Liệt, và các đơn vị đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu tại địa phương
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh, người Thầy đã tâm huyết giảng dạy và hướng dẫn tôi trong quá trình tôi học tập tại Khoa Sau đại học và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Sau cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp và gia đình, đã giúp đỡ, động viên tôi học tập và nghiên cứu
Trong luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý quý báu của các Quý Thầy Cô, bạn bè và đồng nghiệp những người quan tâm đến nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nôi, ngày 08 tháng 12 năm 2014
Tác giả
Cao Trung Hiếu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục tiêu nghiên cứu 3
5 Câu hỏi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
6.1 Phương pháp phân tích tài liệu 4
6.2 Phương pháp quan sát 4
6 3 Phương pháp phỏng vấn sâu 5
7 Ý nghĩa của nghiên cứu 5
8 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 7
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới về ngập lụt và di cư 7
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam về ngập lụt và di cư 14
1.2 Các khái niệm làm việc 18
CHƯƠNG 2: BIẾN ĐỐI KHÍ HẬU VÀ NGẬP LỤT Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 21
2.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của thành phố Hà Nội 21
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 21
2.1.2 Kinh tế xã hội 26
Trang 62.2 Hiện trạng thoát nước của thành phố Hà Nội 34
2.3 Biến đổi khí hậu 36
2.3.1 Biến đối khí hậu ở Việt Nam 37
2.3.2 Biến đổi khí hậu khu vực Hà Nội 38
2.4 Kịch bản biến đổi khí hậu cho khu vực Hà Nội 40
2.5 Ngập lụt tại thành phố Hà Nội 42
2.6 Thiệt hại ngập lụt đối với TP Hà Nội 46
CHƯƠNG 3: ỨNG PHÓ CỦA NGƯỜI DÂN NHẬP CƯ Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 52
ĐỐI VỚI NGẬP LỤT GIAI ĐOẠN 2008 - 2012 52
3.1 Đặc điểm vùng nghiên cứu 52
3.2 Tình hình ngập lụt tại huyện Thanh Trì 53
3.3 Tình hình nhập cư ở huyện Thanh Trì 54
3.4.Nguồn lực và hoạt động phòng chống lụt bão của chính quyền địa phương 56 3.5 Ứng phó của người dân nhập cư với ngập lụt 66
3.5.1 Chuẩn bị ứng phó của người dân nhập cư 67
3.5.2 Ứng phó của người dân nhập cư khi xảy ra ngập lụt 70
3.5.3 Người dân nhập cư khắc phục hậu quả sau khi ngập 75
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 85
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu
BPCLB Ban phòng chống lụt bão
IPCC Intergovernmental Panel on Climate Change
Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
GIS Geographic Information System – Hệ thống thông tin địa lý
UBND Ủy ban nhân dân
WB World Bank – Ngân hàng thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Trung bình nhiệt độ và lượng mưa khu vực Hà Nội 2008 22
Bảng 2.2 Một số đặc trưng mực nước sông Hồng thời khì 1956 – 2010 25
Bảng 2.3 Các thông số một số hồ đập lớn trong Hà Nội 26
Bảng 2.4 Tỉ suất nhập cư vào Hà Nội giai đoạn 2005 – 2013 (%) 31
Bảng 2.5 Hiện trạng phân vùng tiêu và hình thức tiêu 35
Bảng 2.6 Mực nước hiện trạng và cho phép tại các vị trí trên sông 36
Bảng 2.7 Tình hình gập lụt tại thành phố Hà Nội từ 1984 – 2008 43
Bảng 2.8 Tổng hợp số lượng điểm úng ngập ứng với các trận mưa từ 50mm đến 100 mm trong 8 năm (từ năm 2003 đến 2010) 44
Bảng 2.9 Thống kê lượng mưa tháng 10/2008 45
Bảng 2.10 Thiệt hại về nhà của và vật dụng tháng 10/2008 47
Bảng 2.11 Thiệt hại về Nông nghiệp tháng 10/2008 47
Bảng 2.12 Thiệt hại về thủy sản tháng 10/2008 48
Bảng 3.1 Tổng số lượng di cư thuần tuý trong 5 năm 2003-2007 của 29 quận/huyện 55
Bảng 3.2 Vật tư phương tiện phòng chống lụt bão của Huyện năm 2012 61
Bảng 3.3 Công tác chuẩn bị cứu trợ của các xã năm 2012 63
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Số lượng các trận lụt được báo cáo trên toàn cầu 7
Hình 1.2 Bản đồ nguy cơ ngập lụt thế giới 8
Hình 2.1 Mối quan hệ giữa khí nhà kính và sự biến động của nhiệt độ toàn cầu 37
Hình 2.2 Xu thế nhiệt độ giai đoạn 1900 – 2002 tại Hà Nội 39
Hình 2.3 Biến động lượng mưa trung bình năm giai đoạn 1886 – 2001 40
Hình 2.4 Kịch bản nhiệt độ tại trạm Hà Đông – Hà Nội 41
Hình 2.5 Kịch bản lượng mưa tại trạm Hà Đông – Hà Nội 41
Hình 2.6 Bản đồ độ sâu ngập lụt cực đại khu vực nội thành Hà Nội trong trận ngập lụt từ 31/10-2/11/2008 42
Hình 3.1 Bản đồ huyện Thanh Trì 53
Hình 3.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ban phòng chống lụt bão huyện Thanh Trì 58
Hình 3.3 Hình ảnh trước nhà chị Nguyễn Thị Mai 69
Hình 3.4 Hình ảnh trước nhà chị Lê Thị Bình 69
Hình 3.5 Hình ảnh trước nhà số 35 Ngõ 168 Tả Thanh Oai 70
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay Biến đổi khí hậu (BĐKH) được nhân loại đánh giá là một trong những thách thức lớn nhất thế kỷ 20, đồng thời là một hiểm họa tiềm tàng đối với loài người trong tương lai, bởi vì nó đang đe dọa xóa bỏ những thành quả nhiều năm trong công cuộc chống đói nghèo, cản trở việc thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và sự phát triển con người cả hiện nay và các thế hệ mai sau
Tác động của BĐKH làm gia tăng số lượng và mức độ khắc nghiệt của những thiên tai hiện hữu như bão, lũ, lụt, hạn hán, v.v Đối với khu vực nông thôn BĐKH làm cho người nông dân ở những nước nghèo trên thế giới cũng như ở nước ta trở nên trắng tay sau nhiều năm lao động vất vả, cực nhọc Nóng lên toàn cầu và sự dâng lên của mực nước biển làm tăng diện tích ngập lụt, xâm nhập mặn và xói lở ở những vùng đồng bằng châu thổ có thể làm cho người nông dân mất đi cơ hội sản xuất, nguồn sinh sống duy nhất của họ
Đối khu vực thành phố, đặc biệt là các thành phố ở những nước đang phát triển khi cơ sở hạ tầng còn đang thấp kém, dân số quá đông, dẫn đến việc thích ứng với các hiện tượng bất thường của thời tiết còn rất yếu kém Ví dụ như, năm
2008 sau trận mưa lịch sử chưa từng thấy trong vòng 40 năm qua đã làm cho thành phố Hà Nội ngập lụt nghiêm trọng, dẫn đến sự xáo trộn mạnh mẽ trong đời sống của cư dân thành phố, giá cả các mặt hàng thức phẩm gia tăng đột biến
do khan hiếm, dịch bệnh sau lũ hoành hành dẫn đến sự quá tải ở các bệnh viên, các vấn đề về môi trường chở nên nghiêm trọng, cuộc sống bị xáo trộn đặc biệt với nhóm người nghèo thu nhập thấp [22] Năm 2011 lũ lụt khủng khiếp xảy ra
ở Thái Lan làm 500 người chết, thiệt hại lên đến 5 tỉ đô la, các thành phố lớn trong đó có thủ đô Băng Cốc bị tê liệt hoàn toàn, sự xáo trộn mạnh mẽ trong đời sống người dân xảy ra nghiêm trọng dẫn tới sự bất đồng lớn giữa người dân với chính phủ trong việc tiêu thoát lũ khi chính phủ kiên quyết không xả lũ để bảo
vệ các khu công nghiệp và trung tâm thủ đô Ngoài những trận lũ lụt lịch sử được nêu trên, hằng năm các thành phố trên thế giới vẫn phải đối mặt với rất
Trang 11nhiều các vấn đề nảy sinh khi đứng trước các hiện tượng thiên tai cực đoan, gây không ít những khó khăn và thiệt hại cho dân cư khu vực thành phố [40]
Trước tình hình như vậy, thích ứng với BĐKH là yêu cầu bức thiết đối với tất cả các nước, song đặc biệt là đối với các nước đang phát triển Thích ứng với BĐKH nhằm ngăn ngừa và hạn chế tác động xấu của BĐKH đối với các hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội, đồng thời khai thác những cơ hội thuận lợi, nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững
Hà Nội là một trong những địa phương có tốc độ đô thị hóa nhanh nhất trong cả nước Tính đến nay, dân số của Hà Nội gần 6,9 triệu người, với tốc độ tăng bình quân 192.000 người/năm, trong đó tăng cơ học khoảng 63%, chủ yếu
là dân di cư từ nông thôn ra đô thị Mật độ dân cư đông tập trung chủ yếu ở các quận nội thành, nhất là khu vực đô thị “lõi” (với 4 quận nội thành cũ là Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng và Đống Đa), tạo nên nhiều vấn đề kinh tế, xã hội, nhất là tạo nên sức ép rất lớn đối với môi trường sinh thái, sự quá tải các hệ thống cơ sở hạ tầng đáp ứng nhu cầu dân sinh Hơn nữa, mật độ dân số đông, với tỷ lệ người nhập cư cao dẫn đến công tác ứng phó với các thiên tai hiệu quả còn hạn chế, còn mang tính tự phát và không đồng bộ [29]
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, diễn biến của các hiện tượng thời tiết cực đoan là rất bất thường, khó dự đoán Trên địa bàn thành phố Hà Nội những năm qua cũng đã xuất hiện nhiều hiện tượng thời tiết tiêu cực, gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân, nhất là cộng đồng người nhập cư Một trong những hiện tượng thời tiết tiêu cực dễ nhận thấy là tình trạng mưa lớn gây ngập lụt cục bộ, đã và đang ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống, sức khỏe của người dân và tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của Thành phố
Trong điều kiện cơ sở hạ tầng còn yếu kém, phát triển chưa đồng bộ, người dân thành phố hầu như ít có kinh nghiệm thích ứng với lũ lụt, mặt khác các hiện tượng bất thường như mưa lớn trước kia ít xảy ra nay lại thường xuyên xuất hiện Vì vậy, khả năng thích ứng với thiên tai ở thành phố đặc biệt là thích
Trang 12ứng với lũ lụt còn rất yếu kém, cho nên rất cần có những đánh giá cụ thể về khả năng thích ứng của người dân ở khu vực thành phố, qua đó để có những biện pháp và chính sách phù hợp nhằm nâng cao năng lực thích ứng cho cộng đồng dân cư thành phố, đặc biệt là nhóm người nghèo, có thu nhập thấp
Việc lựa chọn đề tài “Ứng phó của người dân nhập cư đối với ngập lụt
ở Hà Nội trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay” là do những vấn đề được
nêu ở trên Nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin chi tiết về thực trạng, khả năng ứng phó với hiện tượng ngập lụt của bộ phận người dân nhập cư tại một số địa điểm trên khu vực thành phố Hà Nội đồng thời đề xuất những phương án tối ưu
có thể áp dụng vào thực tế nhằm cải thiện khả năng thích ứng với các hiện tượng bất thường của thiên nhiên có thể xảy ra
2 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là: Cách thức ứng phó của người dân nhập cư đối với ngập lụt trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Khách thể nghiên cứu:
- Các thành viên thuộc Ban phòng chống lụt bão các cấp huyện, xã
- Người dân nhập cư trong khu vực nghiên cứu
3 Phạm vi nghiên cứu
Về phạm vi không gian: Nghiên cứu được khú trú trên địa bàn Huyện Thanh Trì – Thành phố Hà Nội
Về phạm vi thời gian: Bắt đầu từ 2012
4 Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, tìm hiểu thực trạng ngập lụt và tác động của ngập lụt đến đời sống của người dân nhập cư
Thứ hai, tìm hiểu cách thức ứng phó với ngập lụt của người dân nhập cư trên địa bàn nghiên cứu
5 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Thực trạng ngập lụt tại Hà Nội đang xảy ra như thế nào ?
Trang 13Câu hỏi 2: Tác động của ngập lụt đến đời sống của người dân nhập cư như thế nào ?
Câu hỏi 3: Người dân nhập cư ở địa phương ứng phó với ngập lụt như thế nào ?
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp này được tác giả sử dụng nhằm khai thác những tài liệu có sẵn từ các tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được công bố có liên quan đến ngập lụt thành phố và cách thức ứng phó, ngoài ra tác giả còn sử dụng tài liệu từ các báo cáo liên quan đến kinh tế xã hội, phòng chống lụt bão của địa phương Những tài liệu mà tác giả phân tích sẽ có liên quan tới luận văn này như về phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu các trường hợp tương tự hay các số liệu phục
vụ cho nghiên cứu
6.2 Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được tác giả sử dụng trong nghiên cứu nhằm ghi chép, mô tả, phân tích đánh giá các yếu tố liên quan đến ứng phó với ngập lụt của người dân nhập cư, cụ thể là:
Thứ nhất, mục tiêu tác giả sử dụng phương pháp quan sát nhằm thu thập, ghi chép thông tin về người nhập cư trong khu vực nghiên cứu bao gồm, điều kiện sống cơ bản, mức độ quan tâm của chính quyền địa phương qua đó có cái nhìn tổng quan về đời sống của bộ phận người nhập cư trong khu vực
Thứ hai, đối tượng tác giả quan sát ghi chép thông tin là công tác chuẩn bị ứng phó với ngập lụt của Ban phòng chống lụt bão các cấp huyện, thị trấn, xã trong khu vực nghiên cứu, trong đó có công tác thành lập Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão, các công tác chuẩn bị vật tư, công tác tuyên truyền
Thứ ba, tác giả quan sát trong suốt quá trình thu thập thông tin về chuẩn
bị ứng phó, ứng phó khi xảy ra ngập và xử lý sau khi ngập của bộ phận người dân nhập cư trên địa bàn nghiên cứu
Trang 146 3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Ngoài phương các phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp quan sát, tác giả còn sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu Đây là phương pháp chủ yếu tác giả sử dụng để tìm hiểu cách thức ứng phó với ngập lụt của người dân nhập
cư trên địa bàn
Trước khi phỏng vấn, tác giả đã định hướng trước được những nội dung cần hỏi, cần thu thập thông qua đề cương phỏng vấn Trong quá trình phỏng vấn tác giả tiến hành phỏng vấn một cách linh hoạt đối với từng trường hợp, thông tin phỏng vấn được tác giả ghi chép dưới dạng văn bản
Trong nghiên cứu này tác giả thực hiện 22 cuộc phỏng vấn sâu, trong đó các đối tượng được phỏng vấn bao gồm:
Thứ nhất, cán bộ thuộc Ban phòng chống lụt bão các cấp huyện, xã, nhằm tìm hiểu thông tin về tình hình ngập lụt, nguồn lực, cách thức hoạt động của Ban phòng chống lụt bão các cấp (7 cuộc phỏng vấn)
Thứ hai, tác giả phỏng vấn sâu đối với bộ phận người dân nhập cư, nội dung phỏng vấn xoay quanh các vấn đề như: Việc chuẩn bị ứng phó trước khi ngập; Thường làm gì khi xảy ra ngập và sau khi ngập họ thường làm những việc
gì (15 cuộc phỏng vấn)
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã được người cung cấp thông tin cho phép ghi chép lại toàn bộ cuộc phỏng vấn, với mục đích phục vụ nghiên cứu và đảm bảo tính khuyết danh, tác giả đã đổi tên và sử dụng những tên tác giả gán cho từng trường hợp phỏng vấn Do đó, tên của những người trả lời phỏng vấn
sử dụng trong nghiên cứu này không phải là tên thật
7 Ý nghĩa của nghiên cứu
Đối với khu vực đô thị, mức độ tác động ngập lụt không mãnh mẽ như những khu vực khác, tuy nhiên việc thường xuyên ngập đã ảnh hưởng ít nhiều đến đời sống sinh hoạt của người dân Trong luận văn này, mục tiêu được xác định là đánh giá được khả năng ứng phó với ngập lụt của người dân, tác giả mong muốn nghiên cứu này sẽ là một kênh thông tin cung cấp cho các cấp cơ sở
Trang 15có được cái nhìn tổng quát về công tác tự ứng phó của người dân trên địa bàn, qua đó dựa trên ý kiến của cộng đồng dân cư, chính quyền và người dân sẽ có
những biện pháp nhằm cải thiện khả năng ứng phó trước vấn đề ngập lụt
8 Kết cấu của luận văn
Để làm sáng tỏ vấn đề, bố cục luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương này nói những nghiên cứu
trên thế giới và Việt Nam về vấn đề ngập lụt đô thị; điều kiện tự nhiên, kinh tế
xã hội và nhập cư tại Hà Nội
Chương 2: Biến đổi khí hậu và ngập lụt ở Thành phố Hà Nội Nội dung
chính của chương này nói về biến đổi khí hậu ở Việt Nam, Hà Nội và tình hình diễn biến ngập lụt ở Hà Nội trong thời gian gần đây
Chương 3: Ứng phó của người dân nhập cư ở Thành phố Hà Nội đối với ngập lụt giai đoan 2008 – 2012 Chương này nói về kết quả nghiên cứu về
ứng phó của bộ phận người dân nhập cư đối với ngập lụt tại khu vực nghiên cứu
Nội dung của đề tài tác giả xin được trình bày chi tiết dưới đây:
Trang 16
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới về ngập lụt và di cư
Hiện nay ngập lụt đô thị là một trong những vấn đề phổ biến và đáng quan ngại nhất ở nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả các nước phát triển và đang phát triển Theo nghiên cứu về ngập lụt đô thị của 3 tác giả Jha, Bloch và Lamond, dựa trên các dữ liệu từ Trung tâm EM-DAT (Emergency Events Database), chỉ trong vòng 2 thế kỷ qua, số lượng các trận ngập lụt đô thị toàn cầu đã tăng lên đáng kể, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của tất cả các lĩnh vực như kinh tế, xã
hội và môi trường (Jha, Bloch and Lamond 2012) [30]
Hình 1.1 Số lượng các trận lụt được báo cáo trên toàn cầu (Nguồn:
EM-DAT/CRED internet)
Trong bối cảnh phát triển quá nhanh của nền kinh tế dẫn đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng chưa phù hợp, hơn nữa sự bất thường của các hiện tượng thời tiết do biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra dẫn đến thách thức về ngập lụt đô thị ngày càng gia tăng Theo tổng hợp của các nhà nghiên cứu gồm: Jha, Bloch
và Lamond trong vòng 2 năm 2010 – 2011, nhiều trận lũ lụt tàn phá đã xảy ra dọc theo lưu vực sông tại Pakistan vào tháng 10/2010; tại Queensland, Australia, Nam Phi, Sri Lanka và Philippines vào cuối năm 2010 và đầu năm 2011; trận lụt
Trang 17xảy ra cùng với dòng bùn chảy tại vùng Serrana của Brazil vào tháng 1/2011; trận lụt tiếp theo đợt sóng thần do động đất tại khu vực ven biển đông bắc của Nhật Bản vào tháng 3/2011; trận lụt dọc theo sông Mississippi vào giữa năm 2011; trận lụt do hậu quả của cơn bão trên bờ biển phía Đông nước Mỹ vào tháng 8/2011; trận lụt tại tỉnh Sindh phía Nam của Pakistan vào tháng 11/2011
và trên khu vực rộng lớn của Thái Lan, bao gồm cả Bangkok vào tháng 10 và 11/2011 [30]
Hình 1.2 Bản đồ nguy cơ ngập lụt thế giới - Nguồn:World Resouce Institute
(WRI) (2012) Internet [45])
Lũ lụt là hiện tượng thiên tai phổ biến nhất trong các thảm họa từ thiên
nhiên Đặc biệt, theo báo cáo của Adam B.Smith (NOAA- National Climatic
Data Center, Asheville, North Carolina) và Richard W.Kaiz (National Center for Atmospheric Research, Boulder, Colorado) trong vòng 20 năm qua, số trận
lụt được báo cáo đã tăng lên một cách đáng kể Số người bị ảnh hưởng bởi lũ lụt và thiệt hại về kinh tế và bảo hiểm cũng đều gia tăng Tính riêng năm 2011,
có 178 triệu người bị ảnh hưởng bởi lũ lụt Tổng số người bị thiệt mạng trong
những năm ngoại lệ như 1998 và 2001 là trên 40 triệu người Số người bị thiệt
mạng trực tiếp do lũ lụt tăng chậm hoặc thậm chí giảm dần theo thời gian, phản
Trang 18ánh việc chúng ta đã thực hiện có hiệu quả các biện quản lý rủi ro ngập úng Mặc dù đây là một điều đáng khích lệ, nhưng số người bị thiệt mạng vẫn còn cao tại các nước đang phát triển, nơi ngập úng gây ảnh hưởng một cách không cân đối tới người nghèo và người yếu thế trong xã hội, đặc biệt là phụ nữ và
trẻ em [30]
Do dân số đô thị chiếm tỷ lệ cao hơn trong tổng dân số thế giới, ngập lụt
đô thị sẽ chiếm một phần lớn hơn trong tổng tác động của lũ lụt Ngập lụt đô thị
do đó sẽ trở nên nguy hiểm hơn và việc quản lý sẽ trở nên tốn kém hơn do hầu hết dân số sinh sống ở khu vực đô thị Điều này gây ảnh hưởng đến tất cả các loại quy mô định cư: trong khi vào năm 2030 dự đoán có khoảng 75 khối dân cư với quy mô trên 5 triệu người, dân số đô thị ở tất cả các loại quy mô dự kiến cũng sẽ tiếp tục tăng Đến năm 2030, đa phần dân số thành thị trên thực tế sẽ sinh sống tại các thị trấn và thành phố có quy mô dân số dưới 1 triệu người nơi thể chế và cơ sở hạ tầng đô thị ít có khả năng đối phó [30]
Để ứng phó với vấn đề ngập lụt ở các đô thị, trên thế giới hiện nay có rất nhiều nghiên cứu phục vụ cho vấn đề này Ví dụ như:
Tập hợp các nghiên cứu trong cuốn “Cities and Flooding, a guide to
integrated Urban flood risk managament for the 21st century” của nhóm tác giả
Abhas K Jha, Robin Bloch, Jessica Lamond Khẳng định, lũ lụt là kết quả của sự kết hợp các hiện tượng khí tượng thủy văn như lượng mưa cực đoan và dòng chảy, tuy nhiên cũng có thể do các hoạt động của con người như lũ lụt có thể là kết quả của sự phát triển không đồng bộ, không có kế hoạch trong vùng lũ Thay đổi sử dụng đất không hợp lý cũng là một nguyên nhân, sự phát triển quá nóng của các đô thị làm giảm tính thấm nước của đất, tăng dòng chảy mặt, trong nhiều trường hợp hệ thống thoát nước không được thiết kế để ứng phó với các dòng chảy tăng cường Trên thế giới, những người di chuyển từ nông thôn lên thành phố thường định cư ở những khu vực có độ tiếp xúc cao với lũ lụt, thiếu cơ chế
tự bảo vệ trước lũ lụt là nguyên nhân chính dẫn đến tính dễ bị tổn thương của đối tượng này [30]
Trang 19Theo nghiên cứu “Urban flood Management”của Carlos E.M Tucci and
Juan Carlos Bertoni nghiên cứu cho Brazil, cho thấy Brazil là một trong những quốc gia tiên tiến ở châu Mỹ Latinh trong việc phân tích và xử lí các vấn đề về
hệ thống thoát nước thành phố, họ nghiên cứu các trường hợp ở các thành phố Estrela, União da Vitoria / Porto União, Curitiba và Porto Alegre Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguyên nhân ngập lụt chủ yếu là do xây dựng cơ sở hạ tầng không phù hợp, ví dụ như trước khi chưa có con đập Foz de Areia và COPEL thì không có lũ lụt xảy ra sau khi con đập được hoàn thành vào năm
1983 thì thành phố Porto União thường xuyên xảy ra ngập lụt, hiện tượng ngập lụt đã tác động rất lớn đến đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt là tầng lớp người nghèo và vô gia cư ở những khu vực thành phố này Những biện pháp xử lý vấn
đề được nghiên cứu đưa ra là khoanh vùng các khu vực ngập lụt, bố trí lại cơ sở
hạ tầng, xây dựng đê bao và hệ thống thoát nước hợp lý [32]
Theo nghiên cứu “Adapting to climate change in Urban areas” David
atterthwaite, Saleemul Huq, Mark Pelling, Hannah Reid and Patricia Romero Lankao Nghiên cứu cho rằng nhóm người nghèo ở khu vực thành thị phần lớn cuộc sống của họ buộc phải thích nghi với sự biến đổi của điều kiện kinh tế, việc
ưu tiến các điều kiện kinh tế có ý nghĩa sống còn đối với họ Nghiên cứu chỉ ra những khu định cư có thu nhập thấp có nguy cơ bị lũ lụt thường phải thích nghi tạm thời và vĩnh viễn không sẵn sàng di chuyển đến những nơi an toàn hơn, bởi
vì những khu vực đó liên quan đến cơ hội thu nhập của họ, việc di chuyển họ đến những địa điểm mới an toàn phải kèm theo việc cung cấp cơ sở hạ tầng và các dịch vụ [33]
Nghiên cứu về nhóm người thu nhập thấp trong “Low – income
households’ adaptation to flooding in Indore, India” SOURCE: Stephens,
Carolyn, Rajesh Patnaik and Simon Lewin (1996) London School of Hygiene and Tropical Medicine, London, 51 pages Nghiên cứu chỉ ra rằng, trong nhiều cộng đồng có thu nhập thấp tại Indore, lũ lụt được coi là một sự kiện theo mùa
tự nhiên, và các hộ gia đình thực hiện các bước để hạn chế thiệt hại nó Những
Trang 20người sinh sống trên những khu đất tiếp giáp với những con sông nhỏ và những nơi có cống thoát nước lớn thường là những nơi nguy hiểm, nhưng những khu vực này được coi là lợi thế đối với họ bởi vì những nới này nó gần gũi với những công việc kiếm sống của họ (nhiều người kiếm sống bằng nghề thu gom rác thải), những khu vực này đất đai thường rẻ hơn, việc gắn kết cộng đồng và gia đình do đặc thù về sinh hoạt được gắn kết hơn Việc thích nghi với lũ lụt được những hộ gia đình này thực hiện cả hai thích nghi là tạm thời và vĩnh viễn, bao gồm những việc như nâng cấp nền nhà, sân, sử dụng vật liệu chống lụt, việc lừa chọn nội thất thiên về tháo lắp vận chuyển dễ dàng, dây điện được đặt cao trên mức lũ, tấm lợp không được gắn trực tiếp vào nhà đảm bảo khả năng loại bỏ
nó khi nhà bị ngập cao, nhiều gia đình có chuẩn bị sẵn vali, túi đựng săn sàng di chuyển nếu nguy hiểm khẩn cấp Người dân ở khu vực này cũng thiết lập và phát triển hệ thống cảnh báo, xây dựng kế hoạch dự phòng cho việc sơ tán đến nơi an toàn, những kinh nghiệm trong việc sơ tán cũng được đúc kết thành kinh nghiệm, ví dụ như người già và trẻ em được sơ tán đến nơi an toàn trước, các vật dụng điện tử được di chuyển sau, đồ gia dụng và quần áo được di chuyển sau cùng, việc thực hiện từng bước này sẽ dễ dàng và nhanh trong hơn tránh được thiệt hại do lụt Người dân cũng có kinh nghiệm hơn trong việc tận dụng sự hỗ trợ từ phía nhà nước, điều này là động lực lớn cho người dân trong việc xây dựng nhà ở tại những khu vực dễ bị tổn thương nhất trước lũ lụt [37]
Trong Luận án tốt nghiệp: Hiểu biết về tác động của biến đổi khí hậu đến
di cư “Understanding the Effect of Climate Change on Human Migration” của
tác giả Sabine Perch-Nielsen, dưới sự hướng dẫn của Prof Dr Dieter Imboden - Michèle Bättig, luận văn được thực hiện tại Sở Khoa học và Công nghệ Liên
bang Thụy Sỹ (Department of Environmental Sciences Swiss Federal Institute of
Technology), tác giả cho biết, trong hai thập kỷ vừa qua một số nhà nghiên cứu
sự di cư hàng loạt như là một hệ quả của biến đổi khí hậu, những nghiên cứu đó
đã thúc đẩy rất nhiều các nghiên cứu khác liên quan đến biến đổi khí hậu và sự
di dân trong đó có Luận văn của tác giả Nghiên cứu của tác giả làm rõ mối quan
Trang 21hệ của biến đổi khí hậu và di dân bằng cách (i) khảo sát khả năng kết nối giữa các mô hình toán học về khí hậu và các mô hình về di dân; (ii) Phát triển 04 mô hình khái niệm quan trọng nhất kết nối giữa biến đổi khí hậu và di cư; (iii) Đánh giá sự đóng góp của cả hai phương pháp Phần đánh giá này trong giai đoạn đầu tiên tác giả thấy mô hình khí hậu và mô hình di cư khác nhau hoàn toàn, mô hình khí hậu và mô hình toán, lý ba chiều phức tạp, còn mô hình di cư có tính chất thực nghiệm, phi không gian và thời gian Tuy nhiên, tác giả nhận thấy rằng
mô hình khí hậu chưa được lồng ghép vào mô hình di cư Vì vậy, tác giả đã lồng ghép và phát triển thành 04 mô hình tác giả gọi là “Mô hình kết nối” bằng cách lồng ghép 4 yếu tố khí hậu mô hình khí hậu gồm: Nước biển dâng, lốc và xoáy thuận nhiệt đới, lũ lụt và hạn hán vào mô hình di cư Kết quả tác giả nhận định:
Có mối liên hệ giữa di cư và biến đổi khí hậu, nhưng biến đổi khí hậu không thể kích thích di cư hàng loạt Hạn hán có thể dẫn đến di cư đáng kể, đối với lốc, bão, xoáy thuận nhiệt đới và lũ lụt ít gây ra di cư dài hạn, còn đối với nước biển dâng tác giả không có đủ thông tin rõ ràng để đánh giá ảnh hướng tới di cư Cuối cùng tác giả nhận định, kết quả không thể bao hàm hết được các tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu, kết quả đánh giá mới chỉ dừng lại ở việc lồng ghép 4 yếu tố nguy hiểm của khí hậu vì thế cần có những nghiên cứu thêm [38]
Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến di dân và xung đột
“Assessing the Impact of Climate Change on Migration and Conflict” của nhóm
tác giả gồm: Clionadh Raleigh, Lisa Jordan and Idean Salehyan của Phòng nghiên cứu phát triển xã hội Ngân hàng Thế giới WB Kết quả khẳng định biến đổi khí hậu đang và sẽ mang lại những thay đổi đáng kể trong vấn đề di cư trên toàn thế giới Sự gia tăng đột ngột của các mối nguy hiểm có nguồn gốc từ môi trường và thiên tai, dự tính sẽ làm thay đổi các hình thức di cư điển hình của cộng đồng và của mỗi quốc gia Kết quả khẳng định được chứng minh qua 05 kết luận chính của nghiên cứu: (i) Các thảm họa khác nhau có khả năng đáng kể trong việc kích thích di cư; (ii) Sinh kế của cá nhân hay cộng đồng bị đe dọa bởi những rủi ro do môi trường, điều này còn phụ thuộc vào tài sản của cá nhân
Trang 22hoặc cộng đồng, lao động di cư từ nông thôn lên thành thị phổ biến ở các nước kém phát triển thường là di cư tạm thời và nội bộ, chủ yếu là để kiếm công ăn việc làm và gia tăng thu thập, bởi vì đa dạng nguồn thu nhập là con đường chủ yếu để giảm thiểu nguy cơ gia tăng các mối nguy hiểm có nguồn gốc khí hậu; (iii) Trong giai đoạn suy thoái môi trường như nhiễm mặn đất, suy thoái đất, hiện tượng phổ biến nhất là gia tăng các hình thức di cư lao động, bởi vì bằng cách đó sẽ có nguồn tiền gửi về cho gia đình ngay lập tức đề giảm bớt gánh nặng
do suy thoái môi trường; (iv) Với sự khởi nguồn của thảm họa bất ngờ hay sự hiện diện liên tục của một thảm họa truyền thống (như hạn hán, lũ lụt, nạn đói) cộng đồng dân cư sẽ tham gia vào các mô hình di dân kiểu di dân bị nạn Các đặc tính của di cư bị nạn rất khác nhau đối với từng quốc gia bởi mức độ nghiêm trọng của các cuộc khủng hoảng và do khác biệt về địa lý, tuy nhiên có một điểm khá chung đó là người di cư phải lựa chọn một trong các kiểu cứu trợ đó là: 1 – Phụ thuộc vào mạng cứu trợ xã hội, 2- Phụ thuộc vào các cơ quan có khả năng viện trợ và có phương án tái định cư, 3 – chuyển đến các nơi ở tập trung chờ được hỗ trợ định cư tạm thời hoặc lâu dài, sự lựa chọn đầu tiên phổ biến trong khi có thiên tai, lựa chọn thứ 2 phổ biến trong các trường hợp xảy ra khủng hoảng môi trường như nước biển dâng, ở các quốc gia dễ bị tổn thương
do biến đổi khí hậu; (v) Di cư môi trường là kiểu di cư nội bộ và ngắn hạn, khả năng tạo thành xung đột là rất ít Tuy nhiên, sẽ làm xáo trộn nhân khẩu, đô thị nông thôn [39]
Nghiên cứu Biến đổi khí hậu và đô thị hóa: Tác động và ý nghĩa đối với
quản lý đô thị - “Climate change and urbanization: Effects and implications for
urban governance” của tác giả David Satterthwaite Tác giả nhận định rằng:
Biến đổi khí hậu tác động lên khu vực đô thị có nhiều khả năng sẽ ngày càng tăng Đối với khu vực dân cư nghèo, một số tác động trực tiếp, ví dụ như lũ lụt xảy ra thương xuyên, nguy hiểm hơn, một vài tác động gián tiếp như giảm nguồn cấp nước sạch cho khu vực dân cư nghèo, BĐKH gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan, làm giá lương thực tăng, gây thiệt hại tài sản của các hộ gia
Trang 23đình nghèo hoặc làm gián đoạn nguồn thu nhập của người nghèo, người dân nhập cư [34]
Ngoài những nghiên cứu trên, còn rất nhiều những nghiên cứu liên quan đến tác động của biến đổi khí hậu, ngập lụt đô thị đến di dân như: Tác động của
ngập lụt đến di dân nội bộ ở Pakistan “Internally Displaced People and the
Human Impact” hay nghiên cứu di dân nông thôn – đô thị ở Guwaihaiti - Ấn Độ
“The Rural – Urban migration pattern in Guwahaiti’s environment” của Trung
tâm nghiên cứu chiến lược và Quốc tế - The Center for Strategic and
International Studies Hay tập hợp rất nhiều nghiên cứu trong cuốn “Forced
Migration review – Adapting to Urban displacement” của Trung tâm nghiên cứu
người tị nạn - Refugee Studies Centre – Đại học Oxford Tất cả những nghiên cứu trên đều tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến di dân trong bối cảnh con người bị tác động bởi các mối nguy hiểm xuất phát từ tự nhiên như ô nhiễm môi trường, hạn hán, lũ lụt, thay đổi sử dụng đất, v.v…[36,37]
Như vậy, từ những nghiên cứu trên thế giới chúng ta có thể nhận xét rằng: Thứ nhất, thành phố là nơi mà người dân nhập cư từ khu vực nông thôn lên sinh sống và lao động là thực trạng chung trên thế giới Thứ hai, việc phát triển quá nhanh và quá nóng ở các thành phố, kết hợp với sự quy hoạch không phù hợp đã làm tăng nguy cơ ngập lụt, ô nhiễm môi trường đối với khu vực này; Thứ ba, người dân có thu nhập thấp và người dân nông thôn chuyển lên khu vực thành phố kiếm sống là những bộ phận bị tổn thương nhất trước vấn đề như ngập lụt, ô nhiễm môi trường…, việc hỗ trợ của các cấp nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc ổn định đời sống của bộ phận dân cư này
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam về ngập lụt và di cƣ
Các đô thị ở Việt Nam hầu hết cơ sở hạ tầng đều lạc hậu, hệ thống thoát nước không đảm bảo tiêu thoát nhanh, hơn nữa Việt Nam lại thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, nên lượng mưa rất lớn từ 1500 – 2000 mm/năm Vì vậy, việc ngập lụt ở khu vực thành phố là thường xuyên xảy ra Ở các đô thị Việt Nam, tỉ
lệ người dân từ khu vực nông thôn đổ lên thành phố lao động rất là đông, những
Trang 24đối tượng này thường là thu nhập thấp, không có nhà cửa, nếu ngập lụt xảy ra, việc bị ảnh hưởng thiệt hại đối với những đối tượng này là rất cao Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều nghiên cứu liên quan đến những đối tượng này, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào vấn đế dự báo ngập lụt, tác động của ngập lụt một cách chung chung, chưa đi sâu vào từng đối tượng cụ thể
Trong ấn phẩm “Sống chung với lũ” của nhóm tác giả Michael
DiGregorio, Huỳnh Cao Vân, các tác giả nghiên cứu cộng đồng dân cư thuộc địa bàn Quy Nhơn tỉnh Bình Định trong đợt lũ lụt gây ra bởi cơn bão Marinae Nghiên cứu này với nội dung lũ lụt do bão Mirinae ở ngoại ô thành phố Quy Nhơn đã chỉ ra rằng cư dân ở đây quen với mùa lụt và đã có cách ứng xử với cả các rủi ro lẫn lợi ích trong mùa ngập lụt trải qua nhiều thế hệ Nguời dân cũng nhận biết được những đổi thay gần đây trong khu vực như các đập dâng, đuờng
xá, cầu cống và đê điều được xây mới, cũng như các vùng thoát lũ đang bị san lấp để phát triển đô thị Họ nghĩ rằng các dự án mới này cộng với việc chính quyền chưa cung cấp kịp thời những cảnh báo bão thích đáng là những nhân tố chủ yếu làm nghiêm trọng thêm ảnh huởng của bão Mirinae, chứ không phải là
số luợng và mức độ nghiêm trọng của bão được dự đoán ngày càng tăng làm họ chịu thiệt hại do bão Các bằng chứng cho thấy những ý kiến của người dân đã đúng [27]
Trong nghiên cứu “Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương do lũ lụt khu vực hạ lưu sông Thạch Hãn tỉnh Quảng Trị” của tác giả Đặng Đình Khá, Khoa Khí tượng thủy văn hải dương học, Đại học Khoa học Tự nhiện, Đại học Quốc gia
Hà Nội, trong nghiên cứu tác giả sử dụng hai phương pháp là dùng mô hình thủy văn xây dựng bản đồ ngập lụt và phương pháp khảo sát phỏng vấn thực địa nhằm xây dựng bản đồ tổn thương cho khu vực nghiên cứu Kết quả, tác giả đã đánh giá được mức độ tổn thương và đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao sức chống chịu với lũ lụt cho khu vực này [12]
Theo kết quả của Viện chuyển đổi môi trường và xã hội – quốc tế trong nghiên cứu “Nghiên cứu điển hình về khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu”
Trang 25tại Đà Nẵng nghiên cứu áp dụng đối với các đối tượng như lãnh đạo địa phương, người dân, phụ nữ, các kinh nghiệm về xây dựng nhà cửa chống bão lụt, các phương pháp truyền thông như giáo dục v.v…,qua đó đúc kết được các bài học
và kinh nghiệm trong quá trình phòng chống lụt bão và khuyến nghị nhân rộng
mô hình tại địa phương và làm tham khảo cho các địa phương khác [28]
Trong nghiên cứu “Mô phỏng ngập lụt Hà Nội năm 2008 và đề xuất một
số giải pháp thoát úng cục bộ” của nhóm tác giả Phạm Mạnh Cồn, Đặng Đình
Khá, Đặng Đình Đức, Nguyễn Mạnh Khải, Phạm Quang Hà và Trần Ngọc Anh, bằng việc sử dụng mô hình MIKE FLOOD kết hợp với MIKE URBAN mô phỏng trận ngập lụt ngày 31/10/2008 Kết quả cho thấy, do năng lực tiêu thoát chưa đáp ứng được của các tuyến cống từ trung tâm đến hệ thống 4 sông lớn nội thành Hà Nội Do vậy, nhằm giải quyết tình trạng ngập úng cục bộ, cần có thêm các giải pháp tăng cường và mở rộng các tuyến thoát nước hiện nay từ trung tâm thành phố ra sông Tô Lịch, Lừ và Sét Các kết quả mô phỏng cho 3 kịch bản đề xuất đã chứng minh hiệu quả tiêu thoát úng cục bộ và đồng thời không làm tăng cường mức độ ngập lụt ở các khu vực khác [7]
Trong ấn phẩm “Di cư, tái định cư và biến đổi khí hậu tại Việt Nam” của
Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, Báo cáo tham luận này nghiên cứu mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu, di cư, tái định cư tại Việt Nam Báo cáo nhận định: (i) Động lực di cư phụ thuộc vào những khó khăn hoặc cơ hội kinh tế, mạng lưới xã hôi, tình hình chính trị và áp lực môi trường, trong đó có áp lực về biến đổi khí hậu Di cư được cho là giải pháp tiềm năng để đối phó và giảm nhẹ tác động của các hiểm họa khí hậu và mang lại lợi ích với đối tượng dễ bị tổn thương (ii) Khó khăn về kinh tế và sinh kế là động lực trực tiếp dẫn đến di cư, các yếu tố môi trường cũng đóng vai trò hàng đầu trong các nguyên nhân cơ bản của di cư (iii) Các hình thức phát triển không bền vững cộng với tình trạng biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng là nguyên nhân làm suy thoái môi trường và đây chính
là nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng di cư (iv) Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy di cư có thể giúp nâng cao khả năng chống chịu cho người
Trang 26dân và cộng đồng, đây được coi là một giải pháp thích ứng hiệu quả và đa dạng hóa nguồn sinh kế Nhiều bằng chứng tại Việt Nam cũng chỉ ra rằng người dân tái định cư vẫn di dời đi nơi khác để tìm kiếm cơ hội việc làm và điều kiện sống tốt hơn Nhìn một cách tổng thể, di cư và tái định cư có thể mang lại kết quả tích cực hoặc tiêu cực Nó có thể tạo ra nhiều cơ hội và sinh kế mới cũng như nâng cao khả năng chống chịu, nhưng cũng tạo ra những tổn thương mới, chẳng hạn như người nhập cư tại các đô thị đối mặt với hệ thống cấp thoát nước, phòng chống lũ lụt xuống cấp và giá cả sinh hoạt tăng cao [13]
Theo Nghiên cứu “Di dân ngoại tỉnh vào thành phố Hà Nội - vấn đề đặt
ra và giải pháp” của TS Đinh Văn Thông - ĐH Kinh tế - ĐHQG Hà Nội
Nghiên cứu chỉ ra thực trạng di dân ngoại tỉnh nhập cư vào thành phố Hà Nội, ngoài những mặt tích cực như phần bổ sung nguồn lực lao động cho thành phố, đặc biệt là thúc đẩy phát triển ngành kinh tế dịch vụ, ngoài ra họ tham gia vào phát triển khu vực phi kết cấu góp phần thỏa mãn nhu cầu về các ngành nghề như: mộc, nề, rèn, …Cung cấp các mặt hàng lương thực và thực phẩm Ngoài những mặt tích cực còn có mặt tiêu cực như để gia tăng sức ép về việc làm; gây quá tải về sử dụng các công trình hạ tầng cơ sở; tình trạng di dân có nguy cơ gây
ra mất trật tự công cộng và gia tăng sức ép về quản lý cho các cấp chính quyền của thành phố [18]
Từ những tập hợp nghiên cứu ở trên, chúng ta có thể nhận xét rằng: Thứ nhất, việc nghiên cứu về ngập lụt, ngập lụt đô thị ở Việt Nam mới chỉ tập trung vào việc cảnh báo ngập lụt bằng việc xây dựng bản đồ ngập từ các mô hình thủy văn; Thứ hai, việc nghiên cứu về vấn đề di cư, nhập cư mới chỉ nghiên cứu đưa
ra nguyên nhân của việc di cư, nhập cư, việc nghiên cứu sự ứng phó với các tai biến của người dân nhập cư như ngập lụt chưa nhiều
Trong nghiên cứu “Ứng phó của người dân nhập cư đối với ngập lụt ở Hà
Nội trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay” ngoài việc chỉ ra thực trạng ngập
lụt trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, nghiên cứu con đi sâu vào phân tích ứng phó của người dân nhập cư với ngập lụt trong giai đoạn 2008 - 2012
Trang 271.2 Các khái niệm làm việc
Trong nghiên cứu này tác giả sẽ sử dụng một số khái niệm làm việc sau đây:
Biến đổi khí hậu: Theo IPCC (2007) biến đổi khí hậu là sự biến đổi về
trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết thông qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động về các thuộc tính của nó, được duy trì trong một khoảng thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ và dài hơn Biến đổi khí hậu
có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu, hoặc do bên ngoài, hoặc do tác động thường xuyên của con người làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển hoặc sử dụng đất [35]
Người dân nhập cư: Theo Tổng cục dân số kế hoạch hóa gia đình, Người
dân nhập cư hay còn gọi là người di cư đến là người đến nơi mới để sinh sống [19]
Ngập lụt: Là hiện tượng nước ngập trên một khoảng diện rộng trong một
thời gian dài, nguyên nhân do mưa lớn nước không tiêu thoát kịp, hoặc do nước tràn vào vùng trũng từ các con sông Ngập lụt thường xảy ra ở các vùng đất trũng với năng lực tiêu thoát nước kém, hiện tượng ngập lụt thường gây xáo trộn đời sống dân sinh và gây ô nhiễm môi trường tại nơi xảy ra ngập [27]
Ứng phó với ngập lụt: Là các hành động nhằm thích ứng và giảm nhẹ tác
động có hại của ngập lụt [27]
Trên thế giới có nhiều cách khác nhau ứng phó với ngập lụt, ví dụ tại một
số vùng như Queensland (Australia) thường bị lũ lụt, chính phủ nước này thường khuyến cáo dân cư khu vực này nên di tản đến nới khác; đối với các quốc gia giàu có họ thường có dư nguồn tài chính cho việc ứng phó và khắc phục với thiên tai lũ lụt ví dụ như Hà Lan, với hệ thống đê ngăn nước biển, họ
có những mô hình nhà “lưỡng cư” có thể nổi khi bị ngập nước, hệ thống nước sinh hoạt và hệ thống gas được đặt trong các ống cơ động, v.v… Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, vấn đề ngập lụt thành phố là một trong những vấn đề bức xúc trong quy hoạch phát triển của các đô thị trên thế giới, đặc biệt trong bối cảnh phức tạp của BĐKH hiện nay Ở Việt Nam, vấn để ngập lụt do triều cường
Trang 28thường xuyên xảy ra ở các thành phố khu vực phía Nam như TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ …, đã trở thành vấn đề của xã hội Tại Hà Nội, sau những trận mưa to
là hầu hết các tuyến đường đều ngập sâu, giao thông hỗn loạn, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống sinh hoạt của đại bộ phận dân chúng Từ xưa người dân Việt Nam thường có câu “Sống chung với lũ” để nói lên rằng lũ lụt xảy ra thường xuyên, việc thích nghi, thích ứng “sống chung” với nó đã trở thành những kinh nghiệm dân gian Đối với vấn đề ngập lụt ở các thành phố hiện nay, việc sống chúng với ngập cũng chính là quan điểm của đa số người dân, họ biết rằng khu vực họ sinh sống đã ngập, đang ngập và sẽ còn ngập trong thời gian tới, những biện pháp ứng phó mang tích chất thô sơ, cục bộ, vẫn được tiến hành mỗi khi có ngập và những quan điểm về ngập úng đã trở thành bình thường trong cộng đồng, thì việc xáo trộn đời sống xã hội khi ngập vẫn còn trong mức chịu đựng giới hạn của người dân vùng ngập [27]
Trên quan điểm lý thuyết chung, ứng phó là bao gồm các biện pháp giảm thiểu và các biện pháp thích ứng Tuy nhiên các quan điểm về ứng phó cũng có nhiều điểm khác nhau, đó là đối với các nước phát triển, với khoa học kỹ thuật cao, việc ứng phó với ngập thường sử dụng các biện pháp công trình, các biện pháp này chủ yếu nhằm giảm thiểu ngập lụt và thường do chính phủ hay các nhà quản lý đô thị đảm nhiệm; đối với những nước có nền kinh tế kém phát triển hơn, biện pháp giảm thiểu ngập có vẻ yếu kém hơn, các biện pháp ứng phó chủ yếu là các biện pháp thích ứng trong đó biện pháp thích ứng dựa vào cộng đồng
là được phát triển, tức là người dân sẽ là người chủ động trong công tác ứng phó, điều này đòi hỏi người dân phải được trang bị các kiến thức liên quan đến ứng phó trong đó kiến thức bản địa và kinh nghiệm dân gian được phát huy Tuy nhiên hiện nay, trước sự biến đổi không có quy luật của thời tiết có nguyên nhân
từ BĐKH, việc các thiên tai xảy ra trong đó hệ quả xảy ra ngập lụt ngày càng gia tăng đòi hỏi cơ quan quản lý phải có kế hoạch ứng phó và sự gắn kết giữa các cấp chính quyền và người dân, giữa người dân với người dân càng phải trở nên thiết thực hơn nhằm tăng hiệu quả trong công tác ứng phó với ngập lụt [22]
Trang 29Tiểu kết:
Từ việc nghiên cứu tài liệu liên quan đến vấn đề ngập lụt, biến đổi khí hậu
và di cư trên thế giới và ở Việt Nam, đều cho thấy tác động của biến đổi khí hậu
và mức độ ngập lụt ở các thành phố trên thế giới ngày càng trở nên trầm trọng hơn trong bối cảnh sự biến động phức tạp của các hiện tượng thời tiết Ở Việt Nam các nghiên cứu về ngập thành phố cũng được nghiên cứu nhiều, đối với thành phố Hà Nội sau trận lụt lịch sử cuối năm 2008, các nghiên cứu về mô phỏng ngập lụt và lượng giá tổn thất về ngập lụt được quan tâm hơn
Về vấn đề di cư, những nghiên cứu đã chứng minh được rằng, sự di cư có mối liên hệ với sự gia tăng của các hiện tượng thiên tai và suy thoái môi trường
Trang 30CHƯƠNG 2 BIẾN ĐỐI KHÍ HẬU VÀ NGẬP LỤT Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của thành phố
Hà Nội
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Nằm trong vùng trung tâm của đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hà Nội có
vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°15' đến 106°02' kinh độ Đông; phía Bắc tiếp giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên; phía Nam tiếp giáp với Hà Nam, Hòa Bình; phía Đông tiếp giáp với Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên và phía Tây tiếp giáp Hòa Bình, Phú Thọ Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện tích 3.324,92km2, nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn [41]
b Địa hình
Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển Nhờ phù sa bồi đắp, ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm bên hữu ngạn sông Đà, ở hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc các khu vực của các huyện Mỹ Đức, Quốc Oai, Sóc Sơn,
Ba Vì chủ yếu là đồi núi thấp dưới 1000m [41]
c Khí hậu
Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè thì nóng và mưa nhiều, còn mùa đông lạnh và ít mưa, cuối mùa ẩm ướt, với hiện tượng mưa phùn Hà Nội thuộc vùng nhiệt đới, thành phố quanh nǎm tiếp nhận một lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao
Do tác động của biển, độ ẩm và lượng mưa trung bình tại Hà Nội khá lớn, trung bình 114 ngày mưa một năm Một đặc điểm rõ nét của khí hậu Hà Nội là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng
9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 29,2ºC Từ tháng 11 tới tháng 3
Trang 31năm sau là khí hậu của mùa đông với nhiệt độ trung bình 19,6ºC Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 và tháng 10 thì thành phố có đủ bốn mùa xuân,
hạ, thu và đông
Khí hậu Hà Nội cũng đã ghi nhận những biến đổi bất thường Vào tháng 5 năm 1026, nhiệt độ tại thành phố được ghi lại ở mức cao kỷ lục 42,8°C Tháng 1 năm 1955, nhiệt độ xuống mức thấp nhất, 2,7°C [41]
Bảng 2.1 Trung bình nhiệt độ và lƣợng mƣa khu vực Hà Nội 2008
Khí hậu của Hà Nội
Lượng bốc hơi trung bình năm giữa các khu vực biến đổi không nhiều, dao động trong khoảng 800mm đến dưới 1000mm Các tháng đầu mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 7) là các tháng có lượng bốc hơi lớn nhất trong năm; các tháng cuối đông và mùa xuân (tháng 1 đến tháng 4) có lượng bốc hơi nhỏ nhất -
là những tháng có nhiều mưa phùn và độ ẩm không khí tương đối cao [41]
Hà Nội có lượng mưa khá lớn so với các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ Phân bố lượng mưa trong địa bàn biến đổi theo không gian, thời gian, chịu ảnh hưởng mạnh của đặc điểm địa hình và hướng gió Mưa ở khu vực đồng bằng nhỏ hơn vùng núi Ba Vì là trung tâm mưa lớn nhất Hà Nội, với tổng lượng mưa
Trang 32trung bình năm đạt 2100mm Khu vực đập Đáy là nơi ít mưa nhất, với tổng lượng mưa trung bình chỉ đạt 1500mm Tại khu vực đồng bằng, lượng mưa tăng dần từ Bắc xuống Nam Các trận mưa lớn xảy ra ở khu vực đồng bằng tương đối đồng đều Số ngày mưa trung hình hàng năm khoảng 130 đến 140 ngày Mỗi năm có 5-10 ngày mưa có cường độ mưa từ 50-100mm, trong đó 2-3 ngày mưa
có cường độ mưa lớn hơn 100mm Lượng mưa ngày lớn nhất đạt đến 550mm Trong tương lai, theo kịch bản khí hậu đến năm 2050 và 2100, lượng mưa còn tăng 5-15% [6][41]
Các con sông nhỏ chảy trong đô thị trung tâm của Hà Nội có sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Lừ, sông Sét Đây là những hệ thống tiêu thoát nước chính của khu vực Do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, phần lớn các sông chảy trong đô thị trung tâm đều trong tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng Sông Tô Lịch, trục tiêu thoát nước chính của thành phố, hàng ngày phải tiếp nhận khoảng 150.000 m3 nước thải Sông Kim Ngưu nhận khoảng 125.000 m3 mỗi ngày Tương tự sông Lừ và sông Sét trung bình mỗi ngày cũng đổ vào sông Kim Ngưu khoảng 110.000m3
Trang 33Hà Nội là một thành phố có nhiều đầm hồ, dấu vết còn lại của các dòng sông cổ Trong khu vực nội đô, Hồ Tây có diện tích lớn nhất khoảng hơn 500
ha, đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu Ngoài ra, những hồ đầm lớn khác như khu vực Đồng Mô, Suối Hai, Xuân Khanh, Vân Trì, Linh Đàm…[17]
Sông Hồng
Sông Hồng chảy qua địa phận Hà Nội dài khoảng 118km có lưu lượng bình quân hàng năm 2640m3/s với tổng lượng nước khoảng 85.5 triệu m3 độ dốc qua Hà Nội rất nhỏ chỉ khoảng 23cm/ km, đây là nguyên nhân khu vực Hà Nội nước lũ sông Hồng thường lên nhanh Mùa lũ thường bắt đầu từ tháng 6 kết thúc vào tháng 10, mùa kiệt từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau [17]
Sông Đà
Sông Đà là phụ lưu lớn nhất của sông Hồng, đoạn chảy qua Hà Nội dài khoảng 31km từ Đá Chông đến Trung Hà Chế độ dòng chảy không khác nhiều so với các chi lưu lớn nhưng nó ảnh hướng lớn đến quy luật phân bố dòng chảy của sông Hồng Đoạn chảy qua Hà Nội khá rộng và sâu Mực nước mùa kiệt thấp hơn mực nước canh tác từ 4 đến 5m, về mùa lũ thì cao hơn từ 3 đến 4m [17]
1937, công trình đã giải cứu tích cực cho Thủ Đô Hà Nội trong những năm lũ lớn 1940, 1945, 1947 và 1971 [17]
Sông Nhuệ
Sông Nhuệ dài 74km nối liền với sông Hồng qua cống Liên Mạc, nối với sông Đáy qua cống Lương Cổ Sông Nhuệ là trục chính tưới tiêu và thoát lũ,
Trang 34ngoài ra còn một số con sông nhỏ có chức năng thoát nước cho Hà Nội như sông
Tô Lịch (dài 13.5km), sông Kim Ngưu (dài 11.9km), sông Sét (dài 6.7km), sông
Lừ (dài 6.8km), tất cả tạo thành mạng lưới các con sông bé vừa cung cấp nước tưới vừa thoát lũ cho khu vực thành phố [17] [24]
Hà Nội
TB 3.2 2.92 2.67 2.90 3.47 3.98 Max 5.58 5.15 6.06 4.81 8.90 10.22 Min 2.26 2.08 1.73 1.83 1.90 2.02
Hà Nội
TB 7.93 8.70 7.67 6.00 4.88 3.78 5.04 Max 12.05 14.13 11.95 10.43 9.52 6.76 14.13 Min 3.77 4.88 4.54 4.15 3.20 2.63 1.73
Nguồn Sở xây dựng Hà Nội
e Hệ thống hồ đầm
Ngoài hệ thống sông, Hà Nội còn có nhiều hồ đầm, hệ thông kênh tưới tiêu chằng chịt Hệ thống ao hồ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp, cung cấp nước tưới tiêu, làm hồ điều tiết nước trong mùa lũ, tạo cảnh quan thiên nhiên, điều hòa khí hậu
Trang 35Bảng 2.3 Các thông số một số hồ đập lớn trong Hà Nội
TT Tên Hồ Địa Điểm Lưu vực
(ha)
Diện tích (ha)
Dung tích (10 6 m 3 )
Nguồn Sở xây dựng Hà Nội
Theo dữ liệu GIS (HAIDEP) đã xác định có khoảng 900 hồ có diện tích từ 1ha trở lên trong phạm vi Hà Nội cũ Trong đó đáng kể là Hồ Tây rộng 500ha, đầm Vân Trì 270ha, hồ Linh Đàm 78ha, hồ Định Công 25ha, hồ Bẩy Mẫu 22ha,
hồ Yên Sở 136 ha Các hồ chính trong nội thành đều đã phát triển thành công viên, các hồ ngoại thành đều được sử dụng kết hợp với nuôi cá [17]
2.1.2 Kinh tế xã hội
a Kinh tế
Năm 2007, GDP bình quân đầu người của Hà Nội lên tới 31,8 triệu đồng, trong tổng GDP của cả Việt Nam là 13,4 triệu.Hà Nội là một trong những địa phương nhận được nhiều nguồn đầu tư nước ngoài nhất, với 1.681,2 triệu USD
và 290 dự án Thành phố cũng là địa điểm của 1.600 văn phòng đại diện nước
Trang 36ngoài, 14 khu công nghiệp cùng 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp Nhưng đi đôi với sự phát triển kinh tế, những khu công nghiệp này đang khiến Hà Nội phải đối mặt với vấn đề môi trường Bên cạnh những công ty nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Hà Nội Năm 2003, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 77% giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố với gần 300.000 lao động Ngoài ra, 15.500 hộ sản xuất công nghiệp cũng thu hút tới gần 500.000 lao động Tổng cộng, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 22% tổng đầu tư xã hội, hơn 20% GDP, 22% ngân sách thành phố và 10% kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội [41]
Sau khi mở rộng địa giới hành chính, với hơn 6 triệu dân, Hà Nội có 3,2 triệu người đang trong độ tuổi lao động Mặc dù vậy, thành phố vẫn thiếu lao động có trình độ chuyên môn cao Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn phải đào tạo lại, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu
cơ cấu ngành kinh tế Hà Nội còn phải đối đầu với nhiều vấn đề khó khăn khác Năng lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm dịch vụ cũng như sức hấp dẫn môi trường đầu tư của thành phố vẫn còn thấp Việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế vẫn chậm, đặc biệt cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩm chủ lực mũi nhọn Chất lượng quy hoạch phát triển các ngành kinh tế ở Hà Nội không cao và thành phố cũng chưa huy động tốt tiềm năng kinh tế trong dân cư [8] [21]
Giai đoạn phát triển của đầu những năm 1990 cũng cho thấy Hà Nội đã
có những thay đổi về cơ cấu kinh tế Từ 1990 tới 2000, trong khi tỷ trọng ngành công nghiệp tăng mạnh từ 29,1% lên 38% thì nông–lâm nghiệp và thuỷ sản từ 9% giảm xuống còn 3,8% Tỷ trọng ngành dịch vụ cũng giảm trong khoảng thời gian này, từ 61,9% xuống còn 58,2% Ngành công nghiệp của Hà Nội vẫn tập trung vào 5 lĩnh vực chính và chiếm tới 75,7% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, là cơ–kim khí, điện–điện tử, dệt–may–giày, chế biến thực phẩm và công nghiệp vật liệu Bên cạnh đó, nhiều làng nghề truyền thống như
Trang 37gốm Bát Tràng, may ở Cổ Nhuế, đồ mỹ nghệ Vân Hà…cũng dần phục hồi và phát triển [20] [41]
b Dân số lao động và việc làm
Theo các thống kê trong lịch sử thì dân số Hà Nội tăng mạnh mẽ trong nửa thế kỷ gần đây Vào thời điểm năm 1954, thành phố có 53 nghìn dân, trên một diện tích là 152 km2 Đến năm 1961, thành phố được mở rộng với diện tích lên tới 584 km² và dân số là 91.000 người Năm 1976, từ khi quyết định mở rộng thủ đô lần thứ hai thì diện tích đất tự nhiên là 2.136 km² và dân số 2,5 triệu người Tới năm 1991, địa giới Hà Nội tiếp tục thay đổi chỉ còn 924 km², nhưng dân số vẫn ở mức hơn 2 triệu người Trong suốt thập niên 1990, cùng việc các khu vực ngoại ô dần được đô thị hóa, dân số Hà Nội tăng đều đặn và đạt con số 2.672.122 người vào năm 1999 Sau đợt mở rộng địa giới gần đây nhất vào tháng 8 năm 2008, thành phố Hà Nội có 6,23 triệu dân Theo số liệu thống kê đến tháng 12 năm 2011, tổng dân số Hà Nội là 6.870.200 người, trong đó dân số thành thị là 2.585.536 người, nông thôn là 4.285.200 người Tỷ lệ dân số thành thị chiếm 38% trên tổng số dân của Hà Nội Tỷ lệ tăng dân số giai đoạn 1999 -
2011 là 2% Mật độ dân số là 2.063 người/km2 Mật độ dân số hiện nay, cũng như trước khi mở rộng địa giới hành chính, không đồng đều giữa các quận nội ô
và khu vực ngoại thành Trên toàn thành phố, mật độ dân cư trung bình 2.063 người/km2, nhưng tại quận Đống Đa, mật độ lên tới 38.963 người/km2 Trong khi đó, ở những huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, Thạch Thất mật độ không tới 1.000 người/km2 [8] [1] [21]
Do sức hút của quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt là quá trình phát triển công nghiệp và tốc độ đô thị hóa ngày càng cao, tạo ra các dòng di cư đến thành phố Hà Nội tìm việc làm ngày càng lớn, làm cho tốc độ tăng cơ học luôn lớn hơn vùng đồng bằng sông Hồng Số người cư trú không được đăng ký quản lý ngày một tăng, đây đang là sức ép lớn về mọi mặt cho quá trình phát triển kinh
tế của Hà Nội Luồng nhập cư vào khu vực đô thị trung tâm (khu vực Hà Nội cũ) từ tất cả các tỉnh, thành trong cả nước nhưng chủ yếu từ các tỉnh phía Bắc,
Trang 38nhiều nhất là dân các tỉnh thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng và khu Bốn cũ Ngoài ra họ còn tập trung đến các khu đô thị mới và một số vùng ven đô, nơi có nhiều cơ hội việc làm Số lượng dân cư nông thôn quanh khu vực đô thị do không đủ diện tích đất sản xuất nông nghiệp nên nông dân có xu hướng dịch chuyển vào khu vực đô thị với tốc độ cao, mục đích tìm việc làm [1][11]
Hiện tượng di cư nội tỉnh cũng tạo ra luồng dịch cư đáng kể của một bộ phận dân chúng Giải pháp thoát khỏi sự chật chội và nêm cứng trong khu vực đô thị cũ bằng cách người dân đã chuyển đến các quận mới được thành lập (Long Biện, Hoàng Mai, Thanh Xuân, Tây Hồ, Cầu Giấy) hoặc vùng ngoại thành ven đô
Hiện nay mật độ dân số Hà Nội, cũng như trước khi mở rộng địa giới hành chính, không đồng đều giữa các quận nội thành và khu vực ngoại thành Trên toàn thành phố, mật độ dân cư trung bình là 1.875 người/km² nhưng quận Đống Đa mật độ lên tới 35.341 người/km² Trong khi đó ở những huyện như ngoại thành như Ba Vì, Mỹ Đức, Sóc Sơn, mật độ không tới 1.000 người/km²
Sự khác biệt giữa nội thành và huyện ngoại thành còn thể hiện ở mức sống, điều kiện giáo dục, y tế Về cơ cấu dân số, theo số liệu ngày 1 tháng 4 năm 1999, cư dân Hà Nội và Hà Tây khi đó chủ yếu là người Kinh với tỷ lệ 99,1% Các dân tộc khác như Mường, Dao, Tày chiếm 0,9% [29] [41]
c Diễn biến đô thị hóa
Nhiều nhà nghiên cứu đã cho thấy quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh
và mạnh mẽ ở Việt Nam nói chung và các thành phố lớn như Hà Nội nói riêng
Hà Nội đã được mở rộng để xứng tầm thủ đô quốc gia đang trên đà phát triển cao Nhiều vùng ven đô, ngoại thành cũ nay được nằm trong quy hoạch của các
đô thị, các trung tâm kinh tế, chính trị mới của thủ đô trong tương lai gần [29]
Trong quá trình đô thị hóa, những nhân tố như sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp thành đất đô thị, sự hình thành các khu công nghiệp mới, quá trình nhập cư của dân cư ngoại tỉnh, quá trình chuyển cư dãn dân nội thành, quá trình tự chuyển đổi nghề nghiệp trong các làng xã đô thị hoá, từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp… là những yếu tố tác động rất lớn đến đời sống của nguời
Trang 39dân vùng các huyện phía Nam của thành phố Hà Nội Dân số cơ học tăng nhanh cộng với đô thị hóa mạnh đã tác động sâu sắc tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các huyện ven đô, nhưng cũng đang nảy sinh nhiều bất cập trong công tác quản lý dân cư ở huyện các huyện phía Nam của thành phố Hà Nội Thời gian qua, bộ mặt nông thôn đã có nhiều thay dổi, hệ thống đuờng làng, ngõ xóm đuợc nâng cấp, đời sống sinh hoạt đô thị dần thay thế thói quen của nguời nông dân… Tuy nhiên sự gia tăng dân số một cách nhanh chóng đã đẩy cơ sở hạ tầng như hệ thống điện, đuờng, bệnh viện, truờng học vào tình trạng quá tải [9][10][29]
Sau thời kỳ bao cấp, từ cuối thập niên 1990, sự phát triển về kinh tế dẫn đến các khu vực ngoại ô Hà Nội nhanh chóng được đô thị hóa Những cao ốc mọc lên ở khu vực nội đô và các trung tâm công nghiệp cũng được xây dựng ở những huyện ngoại thành Sự phát triển đó cũng kéo theo những hệ lụy mang tính tiêu cực Do không được quy hoạch tốt, giao thông thành phố thuờng xuyên
ùn tắc khi số lượng xe máy tăng cao Nhiều khu phố phải chịu tình trạng ngập úng mỗi khi mưa lớn Mật độ dân số quá cao khiến những dân cư nội ô phải sống trong tình trạng chật chội và thiếu tiện nghi Vào năm 2003, 30% dân số
Hà Nội sống dưới mức 3m² một nguời [15] [29]
d Tình trạng nhập cƣ
Hà nội là thủ đô cả nước, với các mạng lưới dịch vụ thuận tiện, hiện đại,
có nhiều cơ hội thuận lợi trong đào tạo, nghề nghiệp… nên đã tạo sức hút lớn dân cư từ các nơi về định cư Tỉ lệ nhập cư vào Hà Nội có xu hướng ngày càng
tăng Theo số liệu trong nghiên cứu “Quản lý nhà nước đối với lao động di cư
trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Thủ đô Hà Nội” của Tiến sỹ
Phạm Thị Hồng Điệp, đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội số
26, thì năm 1999 tỉ lệ nhập cư vào Hà Nội là 2.12%, đến năm 2004 tỉ lệ là 2,96%, năm 2005 là 3.56%, bình quân mỗi năm Hà Nội tăng lên khoảng 55.000 người, trong đó di dân khoảng 22.000 người (chiếm 40%) và ¾ trong số này là
di cư vào nội thành Người di cư vào Hà Nội tập trung chủ yếu trong độ tuổi lao
Trang 40động, trong đó nhóm 20 đến 29 tuổi chiếm hơn 50%, từ 30 đến 39 tuổi chiếm hơn 6% [9] [11]
Theo ngành chức năng, các tiêu chuẩn về mức sống, chất lượng sống của người nhập cư kém người bản địa Cụ thể, người nhập cư vào Hà Nội tập trung chủ yếu trong độ tuổi lao động, trong đó nhóm tuổi từ 20 đến 29 chiếm hơn 50%, 30-34 tuổi chiếm 14% và 35-39 tuổi chiếm hơn 6% Có hơn 80% người nhập cư khẳng định tình trạng công việc cũng như thu nhập của họ tốt hơn nhiều
so với khi ở quê, nhưng ít có điều kiện tích lũy, khiến họ dễ gặp khó khăn khi có đột biến về kinh tế xã hội Người nhập cư và nhóm người khác có sự khác nhau trong cơ cấu nghề nghiệp Người nhập cư chiếm 24,2% với các nghề thủ công
có kỹ thuật, 11% trong nhóm ''thợ kỹ thuật vận hành, lắp ráp máy móc thiết bị (cao hơn so với người bản địa, tương ứng là 17,5% và 8,9%) Hiện, người nhập
cư là lao động cơ bản của nhiều ngành công nghiệp ở Hà Nội, nhất là các ngành dệt may, sản xuất hàng gia dụng, bán hàng, thợ cơ khí, thực phẩm chế biến, dịch
vụ vận tải Đặc biệt, hơn 82% số người nhập cư cho biết, họ là những người làm việc được trả lương, đã nhận được phụ cấp từ nơi làm việc Nhà ở là lĩnh vực người nhập cư còn khó khăn, vì có tới 49% ở nhà thuê hoặc nhà trọ, trong khi nhà ở của bản thân chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ, người nhập cư ở nhà của bố mẹ 13,4%,
ở nhờ người thân hoặc họ hàng 5,6% [9]
Bảng 2.4 Tỉ suất nhập cƣ vào Hà Nội giai đoạn 2005 – 2013 (%)