DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Ký hiệu viết tắt Ý nghĩa của từ viết tắt BĐKH Biến đổi khí hậu BOD Nhu cầu ôxy sinh học COD Nhu cầu oxy hóa học COP Hội nghị các nước tham gia công ước DBTT Dễ b
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
NGUYỄN VĂN VŨ
ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN VƯỜN QUỐC GIA
XUÂN THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
NGUYỄN VĂN VŨ
ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN VƯỜN QUỐC GIA
XUÂN THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: Biến đổi khí hậu
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Chu Hồi
HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu và kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố ở các nghiên cứu khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Nguyễn Văn Vũ
Trang 4LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đối với PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Giảng viên Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, người đã gợi ý, góp ý và tận tìnhhướng dẫn tôi thực hiện đề tài luận văn thạc sỹ này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong Khoa Sau đại học, Đại học Quốc gia Hà Nội; các cán bộ của Trung tâm Nghiên cứu Hệ sinh thái Rừng ngập mặn, Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi được học tập, nghiên cứu khoa học và hoàn thành chương trình nghiên cứu đề tài luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và cung cấp thông tin của Ban Giám đốc Vườn Quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Nam Định; cán bộ và người dân các xã Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc,Giao Xuân và Giao Hảitrong quá trình tôi thực hiện luận văn
Nhân đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới cơ quan tôi công tác, gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản Luận văn này
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã rất cố gắng, song với thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, chỉ dẫn của các thầy cô giáo và bạn bè
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 12 năm 2014
Học viên
Nguyễn Văn Vũ
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH SÁCH BẢNG 5
DANH SÁCH HÌNH 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 7
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 7
1.2 Biến đổi khí hậu và tác động của nó đến vùng ven biển 10
1.2.1 Khái quát về Biến đổi khí hậu 10
1.2.2 Tác động của BĐKH đến vùng ven biển 12
1.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 14
1.3.1 Trên thế giới 14
1.3.2 Tại Việt Nam 15
1.4 Điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 16
1.4.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên VQG Xuân Thủy 16
1.4.2 Đặc điểmdân số, kinh tế-xã hội khu vực VQG Xuân Thủy 18
1.4.3 Khai thác và nuôi trồng thủy sản 20
1.5 Hiện trạng sử dụng đất, mặt nước trong VQG Xuân Thuỷ 23
CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 25
2.1.1 Mục tiêu 25
2.1.2 Nội dung nghiên cứu 25
2.2 Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Đối tượng 26
2.2.2 Thời gian: 26
2.2.3 Địa điểm 26
2.2.4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Hệ sinh thái RNM ở Vườn Quốc gia Xuân Thủy 32
3.1.1 Vai trò của HST RNM ở VQG Xuân Thủy trong bối cảnh BĐKH 32
3.1.2 Chức năng và dịch vụ HST RNM ở VQG Xuân Thủy 32
3.1.3 Các yếu tố sinh thái trong HST RNM 42
3.2.Biến động RNM ở VQG Xuân Thủy theo thời gian 43
Trang 63.3.1 Đánh giá chung 47
3.3.2 Đa dạng thực vật và thảm thực vật ngập mặn 48
3.3.3 Đa dạng thủy sinh vật 50
3.3.4 Đa dạng chim 51
3.3.5 Đa dạng bò sát 53
3.4 Khai thác tài nguyên sinh vật 54
3.4.1 Khai thác thủy sản 54
3.4.2.Nuôi trồng thủy sản 55
3.4.3 Du lịch sinh thái 56
3.5 Các áp lực đến ĐDSH ở VQG Xuân Thuỷ 57
3.5.1 Khai thác trái phép tài nguyên sinh vật 57
3.5.2 Thay đổi phương thức sử dụng bãi triều, mặt nước 58
3.5.3 Ô nhiễm môi trường từ các hoạt động kinh tế 59
3.5.4 Biến đổi khí hậu 61
3.6 Tính dễ bị tổn thương hệ sinh thái rừng ngập mặn 62
3.6.1 Kết quả tính toán 62
3.6.2 Ảnh hưởng đến hệ rễ 64
3.6.3 Ảnh hưởng đến thân và lá 65
3.6.4 Ảnh hưởng đến khả năng phát tán của cây RNM 66
3.6.5.Ảnh hưởng đến khả năng tái sinh của CNM 66
3.7 Xu hướng biến động đa dạng sinh học 66
3.7.1 Xu hướng chung 66
3.7.2 Tác động của BĐKH đến khu vực VQG Xuân Thủy 68
3.7.3 Tác động của BĐKH và NBD đến RNMở VQG Xuân Thủy 69
3.8 Các giải pháp thích ứng và giảm thiểu mức độ tổn thương 72
3.8.1 Đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học: 72
3.8.2 Đối với các công trình xây dựng 72
3.8.3 Đối với sinh kế cộng đồng 73
3.8.4 Các giải pháp và các vấn đề ưu tiên 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Ý nghĩa của từ viết tắt
BĐKH Biến đổi khí hậu
BOD Nhu cầu ôxy sinh học
COD Nhu cầu oxy hóa học
COP Hội nghị các nước tham gia công ước
DBTT Dễ bị tổn thương
DEM Mô hình số độ cao
IPCC Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu
IUCN Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới
KT-XH Kinh tế - xã hội
LHQ Liên hiệp quốc
NLTS Nguồn lợi thủy sản
UBND Ủy ban nhân dân
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học, Văn hóa Liên hiệp quốc UNFCCC Công ước Khung của Liên hiệp quốc về Biến đổi khí hậu
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1.1: Diện tích, dân số và mật độ dân số các xã vùng đệm 18
Bảng 1.2:Cơ cấu dân số và lao động của các xã vùng đệm năm 2013 19
Bảng 1.3: Loại hình khai thác thủy sản của người dân 21
Bảng 1 4: Địa điểm khai thác thủy sản của người dân 21
Bảng 1 5: Thống kê hiện trạng sử dụng đất ở vùng đệm 23
Bảng 1 6: Diện tích nuôi ngao tại phân khu phục hồi sinh thái ở Cồn Lu 24
Bảng 2.1: Bảng xếp hạng chỉ số tổn thương………31
Bảng 3.1: Các chức năng và giá trị dịch vụ của RNM ở VQG Xuân Thủy 32
Bảng 3 2: Cây ngập mặn khu vực ven biển khu vực VQG Xuân Thuỷ, Nam Định 33
Bảng 3.3: Các loài chim qúy hiếm có giá trị bảo tồn 35
Bảng 3.4: Mức độ bồi tụ của đất tại khu RNM Giao Thủy qua 10 tháng 38
Bảng 3 5: Tỷ lệ và khối lượng khô (DW) của các bộ phận của cây ở các loại tuổi rừng trang và rừng tự nhiên 40
Bảng 3.6: Sinh khối tổng số của các loại trang và RNM huyện Giao Thủy 40
Bảng 3 7: Uớc lượng năng suất thuần của RNM Giao Thủy 41
Bảng 3 8: Đa dạng thành phần loài sinh vật đã biết ở khu vực VQG Xuân Thuỷ 47
Bảng 3 9: Các loài cá có giá trị bảo tồn ở VQG Xuân Thuỷ 51
Bảng 3 10: Các loài chim quý, hiếm có giá trị bảo tồn ở VQG Xuân Thuỷ 52
Bảng 3 11: Diễn biến số lượng cá thể (con) các loài chim di cư hàng năm 53
Bảng 3 12: Các loài bò sát quý, hiếm có giá trị bảo tồn ở VQG Xuân Thuỷ 53
Bảng 3 13: Sản lượng thủy sản năm 2011 của các xã vùng đệm năm 2011 54
Bảng 3 14: Sản lượng khai thác trung bình của một số loại thủy sản 54
Bảng 3 15: Sản lượng nuôi các loại thuỷ sản giai đoạn 2006-2011 55
Bảng 3 16: Sản lượng trung bình thủy sản nuôi trồng của các hộ gia đình 55
Bảng 3 17: Sản lượng và thu nhập của NTTS và KTTSở vùnglõiVQG Xuân Thủy 56
Bảng 3 18: Doanh thu, số lượng khách du lịch tham quan VQG Xuân Thủy 56
Bảng 3 19: Số lượng khách tham quan VQG Xuân Thủy và doanh thu năm 2013 57
Bảng 3 20: Tình trạng KTTS trong vùng lõi VQG Xuân Thủy năm 2013 57
Bảng 3 21: Kết quả điều travà cho điểm các tiêu chí đánh giá tính DBTT của RNM VQG Xuân Thủy 62
Bảng 3 22: Mực nước biển dâng 64
Bảng 3 23: Tốc độ NBD trung bình cho mỗi năm 64
Bảng 3 24: Xu hướng biến động ĐDSH ở VQG Xuân Thuỷ do tác động của con người 67
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
Hình 1.1: Vườn Quốc gia Xuân Thủy……….17
Hình 2 1: Tính chống chịu sinh thái-xã hội: kết quả của sự tương táchữu cơ giữa tính chống chịu của HST và hệ xã hội 28
Hình 2 2: Khung đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH 30
Hình 2.1: Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ……….17
Hình 3 1: Các mối quan hệ dinh dưỡng trong hệ sinh thái RNM……… 39
Hình 3.2: Diễn biến năm số lượng cá thể (con) loài Cò mỏ thìa ở VQG Xuân Thuỷ .53
Hình 3.3: Nồng độ dầu mỡ khoáng trong nước mặt khu vực VQG Xuân Thuỷ 2010 60
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Rừng ngập mặn (RNM) là hệ sinh thái có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đời sống con người và môi trường RNM cung cấp các nguyên vật liệu cho cuộc sống của người dân như gỗ, củi, thủy sản…RNM giúp điều hoà nhiệt độ, duy trì tính ổn định và sự màu mỡ của đất, giảm bớt tình trạng nhiễm mặn, cung cấp thức ăn, là nơi trú ngụ và nơi sinh sản cho cả động vật dưới nước cũng như trên cạn Ngoài ra, RNM còn điều hoà khí hậu, tham gia kiến tạo bảo vệ cảnh quan ven bờ, hạn chế bão gió, lũ lụt, hạn hán, bảo vệ đê ven biển, chống xói lở bờ biển, Đặc biệt, RNM góp phần làm sạch môi trường do có thể làm giảm hàm lượng kim loại nặng có trong nước thải nội địa đổ ra vùng cửa sông, ven biển, đồng thời giữ cân bằng sinh thái tự nhiên cho những vùng đất ngập nước và vùng cửa sông ven biển
Theo nghiên cứu của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu, dự đoán đến cuối thế kỷ này mực nước biển có khả năng dâng 18-59cm [40] Nguyên nhân là do nhiệt độ tăng ở các đại dương, băng tan ở đảo Greenland và Nam Cực (thêm một số nơi khác), sự thay đổi của địa hình trên các lục địa [45] Ở Việt Nam, trong một thập
kỷ qua mực nước biển đã dâng trung bình từ 2,5-3 mm/năm [3] Hiện tượng này tăng làm gia tăng xuất hiện lũ lụt và xâm nhập mặn, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của RNM và dần dần dẫn đến thay đổi phân bố của các loài [13]
Đối với RNM, nước biển dâng (NBD) được coi là thách thức lớn nhất do biến đổi khí hậu (BĐKH) đem lại [37] Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng RNM có nguy
cơ mất đi với một tỷ lệ nhất định khi mực nước biển tăng đều 1cm/năm [43] Việt Nam
có đường bờ biển dài 3.260 km và có hai trong số các đồng bằng trũng nhất thế giới đó
là Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Các nghiên cứu về kịch bản nước biển dâng của Viện khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường [3] đã mô phỏng mực nước biển dâng 40 cm vào năm 2050 và 100 cm vào năm 2100 Kết quả nghiên cứu này cho thấy Việt Nam hiện đang được đánh giá ở mức rủi ro cao bởi các kịch bản nước biển dâng Trong một phân tích so sánh giữa 84 quốc gia đang phát triển của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam được xếp trong danh sách 5 nước hàng đầu chịu ảnh hưởng bất lợi của mực NBD [45]
Dọc ven biển phân bố nhiều vùng đất thấp rất dễ bị tổn thương do BĐKH và nước biển dâng (NBD) Khoảng 50% dân số, 50% các khu đô thị lớn và nhiều khu dân
Trang 11cư ở Việt Nam phát triển tập trung ở dải ven biển và có sinh kế phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên của vùng này Các nghiên cứu gần đây cho thấy, BĐKH và NBD ở Việt Nam có khả năng gây tổn thương cho toàn vùng ven biển và vùng ĐBSH và ĐBSCL
Dasgupta vànnk (2007)[32] dựa trên các kết quả phân tích cho thấy Việt Nam là một trong 5 nước trên thế giới sẽ bị tổn thương cao nhất do NBD và là nước có khả năng bị tổn thương cao nhất ở Đông Á Theo các tác giả này, mực nước biển dâng 1m
sẽ làm ảnh hưởng khoảng 5% diện tích, 11% dân số, 7% sản lượng nông nghiệp và làm giảm 10% GDP của Việt Nam Carew-Reid (2007) [30] sử dụng số liệu địa hình
số để mô phỏng ngập lụt do nước biển dâng 01m và đã xác định rằng ĐBSH và ĐBSCL là hai khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, (2012) [4], xây dựng chi tiết kịch bản BĐKH, NBD cho Việt Nam Trong đó có tính toán cho khu vực ĐBSH cho thấy nếu mực NBD 1m, một phần khá lớn diện tích các tỉnh, thành phố Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên và một phần của các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình có cao độ mặt đất thấp hơn mực nước trung bình, do vậy sẽ bị ngập lụt nặng nếu vỡ đê
Nước biển dâng sẽ gây hậu quả nghiêm trọng tới sinh kế và cuộc sống của người dân tại khu vực ven biển Mức độ ảnh hưởng tới kinh tế, xã hội của NBD là rất lớn Các vùng đất trũng thấp (lowland) mầu mỡ với các hệ sinh thái ven biển khác nhau sẽ bị ngập lụt và nhiễm mặn Các vùng nuôi trồng thủy sản phải di chuyển tới những nơi khác Nghề cá nhỏ ven bờ bị ảnh hưởng nặng nề Các đặc trưng của các khu vực lân cận không bị ngập lụt thường xuyên có thể bị ảnh hưởng và do vậy các khu vực này không còn phù hợp cho sản xuất nông nghiệp Thí dụ, công tác cấp nước tưới cho cây trồng có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng do nước bị nhiễm mặn Các vùng cửa sông có thể bị thay đổi do thay đổi chế độ triều và dòng chảy Đa dạng sinh học vùng ven biển của Việt Nam có thể bị suy giảm mạnh và các nơi sinh cư (habitat) đặc thù của động vật biển có thể bị biến mất
Các quan trắc gần đây cho thấy, tăng độ muối gây ra sự thay đổi từ từ trong phân bố các loài thực vật trong RNM Điều này dẫn tới sự suy giảm hay biến mất hoàn toàn của RNM tại các khu vực đất thấp Khu vực có RNM càng bị suy giảm thì càng bị ảnh hưởng mạnh bởi xâm nhập mặn và xói lở bờ biển, và càng tăng mức độ dễ bị tổn
Trang 12sinh sống của nhiều loài thủy sản và chim nước, chim di cư sẽ bị đe doạ do nước biển dâng Tương tự như thế, các bãi cát là khu vực các loài rùa biển đẻ trứng có thể bị ngập sâu hơn ở mức độ khác nhau so với ban đầu Nhiệt độ nước biển, bức xạ tăng, độ
pH giảm (hiện tượng nước biển bị axit hóa) và các loài tảo độc bùng phát, sẽ tác động mạnh đến các giá trị dịch vụ của các hệ sinh thái (HST) ven biển – cơ sở hạ tầng tự nhiên của vùng bờ biển và là chỗ dự sinh kế của cộng đồng dân địa phương ven biển
Nguồn nước ngọt sinh hoạt có thể bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn Cộng đồng dân cư sinh sống ở ven biển dễ bị tổn thương do ngập lụt có thể sẽ phải di dời Điều này gián tiếp làm tăng áp lực khai thác các HST ven biển, đặc biệt gia tăng nạn phá RNM để chuyển đổi mục đích sử dụng Kết quả là đa dạng sinh học sẽ bị suy giảm, xói lở bờ biển gia tăng và ngập lụt vùng ven biển trở nên nghiêm trọng hơn Do đó, nhiệm vụ nghiên cứu các tác động và đánh giá mức độ tổn thương của BĐKH tới các HST, tới sinh kế và cộng đồng dân cư ven biển, từ đó đưa ra các giáp pháp ứng phó (thích ứng và giảm nh ) thiệt hại do BĐKH gây ra là rất cấp thiết
Tỉnh Nam Định nói chung và khu vực huyện ven biển Giao Thủy nói riêng, trong đó có Vườn Quốc gia (VQG) Xuân Thủy thuộc ven biển ĐBSH, là nơi thường xuyên hứng chịu nhiều thiên tai liên quan tới BĐKH như bão, lũ lụt, sạt lở, hạn hán, NBD, xâm nhập mặn, VQG Xuân Thủy cũng là Khu Ramsar quốc tế, nơi trú đông của nhiều loài chim nước từ các vùng cực của thế giới bay tới cư trú Trong VQG này, RNM là HST tiên phong, cùng với các HST khác như bãi triều lầy, cồn cát, bãi cát, đã cung cấp các giá trị dịch vụ quan trọng, đặc biệt có khả năng thu và giữ cacbon thừa gây hiệu ứng nhà kính và nhiều chức năng quan trọng khác
Tuy nhiên, khu vực VQG Xuân Thủy cũng đang đứng trước các thách thức do BĐKH diễn ra ngày càng rõ ràng và để chủ động giảm nh tác động của BĐKH đến sinh kế của cộng đồng dân cư sống trong và lân cận khu VQG Xuân Thủy Cho nên,
việc chọn đề tài luận văn: “Đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đối với
hệ sinh thái rừng ngập mặn Vườn Quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Nam Định” là việc làm
cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễnđối với hoạt động quản lý và bảo tồn khu vực quan trọng này
Trang 131.2 Biến đổi khí hậu và tác động của nó đến vùng ven biển
1.2.1 Khái quát về Biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình theo một
xu hướng nhất định và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn
Biến đổi khí hậu có thể do hai nguyên nhân: tự nhiên và do con người (nhân
tác) BĐKH xảy ra trong quá khứ là do các nguyên nhân tự nhiên nhưng BĐKH hiện nay chủ yếu do con người gây ra, đã thúc đẩy và cường hóa những biến đổi tự nhiên vốn có Các hoạt động phát triển với nhịp độ cao trong các lĩnh vực khác nhau đã làm tăng nồng độ các khí gây hiệu ứng nhà kính (N2O, CH4, H2S, các khí CFCs và nhất là
CO2) trong khí quyển, làm Trái đất nóng lên, làm biến đổi hệ thống khí hậu và ảnh hưởng tới môi trường toàn cầu Mặc dù BĐKH tự nhiên là một quá trình tự vận động của Trái đất, nhưng BĐKH ngày nay lại là sự thay đổi nhanh chóng của khí hậu hiện
tại với các nguyên nhân do con người gây ra [IPCC, 2007] [38]
Các biểu hiện chính của BĐKH toàn cầu đã quan sát được gồm:
- Nhiệt độ trung bình, tính biến động và dị thường của thời tiết và khí hậu tăng;
- Lượng mưa thay đổi làm thay đổi dòng chảy ở các hệ thống sông;
- Mực nước biển dâng lên do băng tan ở các Cực, các đỉnh núi cao và sự dãn nở của nước biển do nhiệt độ tăng;
- Các thiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan (nắng nóng, giá rét, bão, lũ lụt, hạn hán ) xảy ra với tần suất, mức độ bất thường và có thể cả cường độ tăng lên
BĐKH tác động lên tất cả các thành phần môi trường bao gồm cả các lĩnh vực của môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và sức khoẻ con người trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, mức độ tác động của BĐKH có khác nhau: nghiêm trọng ở các vùng
có vĩ độ thấp và ít hơn tại các vùng khác, lớn hơn ở các nước nhiệt đới, nhất là các nước đang phát triển công nghiệp ở châu Á Trong đó, người nghèo là những người ít góp phần gây ra BĐKH thì lại phải gánh chịu những thiệt hại sớm nhất và nghiêm trọng nhất do BĐKH gây ra (Crutzen, 2005) [31] Rõ ràng, BĐKH đang là mối đe dọa chủ yếu đến phát triển bền vững của mỗi quốc gia (IPCC, 2007) [38]
Tính dễ bị tổn thương trước BĐKH là: “mức độ mà một hệ thống nhạy cảm,
hoặc không thể đối phó với những tác động tiêu cực do BĐKH, bao gồm những thay
Trang 14dễ bị tổn thương là hàm của 3 biến số cơ bản nhất: mức độ xuất lộ(exprosure), tính nhạy cảm (sensitivity) và khả năng thích ứng (adaptive capacity) Đánh giá nguy cơ tổn thương mô tả một tập hợp nhiều phương pháp được sử dụng để tổng hợp và nghiên cứu sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh một cách có hệ thống
Ứng phó với BĐKH là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm
nh BĐKH Với nhận thức rằng BĐKH là một quá trình không thể đảo ngược được, chúng ta cần có những nỗ lực để ổn định khí nhà kính (KNK) trong khí quyển ở mức
có thể ngăn ngừa sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu
(giảm nh BĐKH) và giảm nh các thiệt hại do BĐKH gây ra (thích ứng với BĐKH)
Cơ sở pháp lý để cộng đồng quốc tế ứng phó với BĐKH là Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (UNFCCC) và Nghị định thư Kyoto (KP) Công ước khung về BĐKH này đã được 155 nước trong đó có Việt Nam ký kết tham gia tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất của LHQ tại Rio de Janeiro (1992) Mục tiêu của Công ước nhằm đạt được sự ổn định KNK trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu Mức độ phải đạt được trong khung thời gian đủ để cho phép các HST thích nghi một cách tự nhiên với BĐKH và không gây hại cho sản xuất lương thực, tạo khả năng phát triển kinh tế một cách bền vững
Để đạt được mục tiêu này, Công ước khung đưa ra những biện pháp dựa trên nguyên tắc về tính công bằng, trách nhiệm chung nhưng có phân biệt, khả năng tương thích cùng các điều kiện KT - XH của các nước phát triển và đang phát triển, nhu cầu về các biện pháp phòng ngừa, sự phát triển và một hệ thống kinh tế mở.Công ước có hiệu lực ngày 19/3/1994 và đến nay đã có 189 nước trên toàn thế giới tham gia phê chuẩn Công ước quốc tế này Nghị định thư Kyoto có hiệu lực từ ngày 16/02/2005 và hết hạn vào năm 2012.Sau khi UNFCCC được ký kết, hàng năm LHQ tổ chức Hội nghị các nước tham gia Công ước (COP) để kiểm điểm và thúc đẩy việc thực hiện Công ước
Qua những phân tích trên cho thấy BĐKH là thách thức lớn nhất đối với tất cả các quốc gia trên phạm vi toàn cầu BĐKH đã, đang và sẽ ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá, tác động nghiêm trọng tới sinh kế của con người Để hoạt động ứng phó với BĐKH một cách hiệu quả đòi hỏi phải có sự đồng thuận và quyết tâm cao giữa các quốc gia, sự hợp tác giữa các bên liên quan, sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng Trong
Trang 15ứng phó ưu tiên các giải pháp thích ứng - là những giải pháp điều chỉnh các hệ thống
tự nhiên (HST tự nhiên) hoặc nhân tạo nhằm giảm thiểu thiệt hại gây ra do tác động của BĐKH và NBD, hoặc khai thác những mặt lợi ích do BĐKH mang lại
1.2.2 Tác động của BĐKH đến vùng ven biển
1.2.2.1 Những hiện tượng thời tiết cực đoan
Số lượng thảm họa có liên quan đến khí hậu cực đoan được nghi nhận ngày càng tăng và số dân thế giới phải chịu thảm họa tự nhiên tăng lên vì dân số và cơ sở hạ tầng thường tập trung ở các vùng ven biển -nơi thường xảy ra lụt lội, bão và sóng gió
Tần suất xuất hiện các hiện tượng thời tiết cực đoan cũng ngày một tăng lên, như: Khả năng tăng cường độ tối đa của gió, lượng mưa trung bình và lượng mưa đỉnh điểm; dân số phải chịu lũ lụt do các cơn bão mạnh sẽ tăng lên trong thế kỷ 21
Hiện tượng ấm lên toàn cầu do nồng độ KNK tăng là một yếu tố tác động quan trọng và khối lượng các tảng băng trên đất liền tan ra Hơn nữa, sự tan băng đã góp phần làm mực nước biển dâng cao, khoảng từ 0,3mm/năm thành 0,8mm/năm
Các vùng ven biển đặc biệt nhạy cảm với những tác động liên quan đến NBD
và vấn đề này trở thành mối quan tâm lớn đối với các nhà quản lý tài nguyên ven biển Các vùng ven bờ bị chìm xuống kết hợp với NBD có thể làm biến mất các vùng đất thấp ven bờ IPCC ước tính trong thế kỷ 21 mực nước biển trung bình toàn cầu tăng từ 0,18 đến 0,59m
Các đại dương có vai trò như các bể chứa CO2, các đại dương vốn có tính bazơ
và CO2 từ khí quyển hòa tan một cách tự nhiên vào nước biển tạo thành carbonic axit (H2CO3) - một axit yếu Ion hydro giải phóng từ axit này làm giảm đi độ pH, đây là một phản ứng của hệ thống đệm tự nhiên So với thời kỳ tiền công nghiệp độ pH của đại dương đã giảm 0,1 đơn vị tương đương 30% lượng ion hydro tăng lên
Quá trình axit hóa đại dương ngày một tăng do lượng CO2 trong khí quyển tăng
sẽ làm giảm quá trình canxi hóa sinh học vỏ và xương của hầu hết động vật sống ở biển Quá trình axit hóa có thể tác động tới các chuỗi thức ăn từ các loài thực vật phù
du phụ thuộc vào carbonat đến những bậc dinh dưỡng cao hơn
Hiện tượng nhiệt độ nước biển tăng:
Trong vòng 50 năm qua, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy sự di chuyển
về phía vùng cực của các loài sống ở vùng ấm Sự di chuyển này quan sát được cả ở
Trang 16thực vật phù du tại vùng Đông bắc Atlantic nơi mà các loài giáp xác sống ở nước ấm hơn đã di chuyển về phía bắc 100 theo vĩ độ và hiện nay vẫn tiếp tục di chuyển
Các loài đại điện của vùng Bắc cực và các vùng nước lạnh có dầu hiệu di chuyển về phía bắc Nhiều nghiên cứu cho thấy số lượng các loài cá vùng bán nhiệt đới và ôn đới ấm áp tăng lên ở các vùng phía bắc Trong một số trường hợp nhiều loài tạo thành quần thể sinh sản ở phía bắc rất xa so với những số liệu ghi chép trước đây Những thay đổi này tại vùng Đông bắc Atlantic có liên quan đến nhiệt độ nước biển tăng lên cùng với việc nước biển ấm lên, các loài thay đổi phân bố ảnh hưởng tới toàn
bộ chuỗi thức ăn và khả năng sản xuất của đại dương
1.2.2.2 Thay đổi về sự vận động của các dòng hải lưu và lượng mưa
- Thay đổi về sự vận động của các dòng hải lưu
Một tác động nghiêm trọng của BĐKH là tác động đến sự vận động của đại dương Dòng hải lưu nghịch bắc bán cầu bị chậm lại hoặc thay đổi do các tảng băng tan và nhiệt độ nước biển tăng Một số thay đổi về sự vận động này của nước biển như thay đổi về năng xuất của HST biển, khả năng hấp thụ CO2 của đại dương, nồng độ ôxy ở biển và những chuyển đổi ở nghề cá
- Thay đổi về lượng mưa:
Những thay đổi về lượng mưa cũng đe dọa các khu vực ven biển vì thế ảnh hưởng cả những loài sinh vật cảnh ven biển Các mô hình của sự vận động tổng hợp (GCMs: General Circulation Models) đã tính toán những thay đổi lớn về CO2 có trong nước mưa khi hiện tượng ấm lên toàn cầu xảy ra
1.2.2.3 Sự nhạy cảm của RNM với biến đổi khí hậu
Phân bố RNM bị giới hạn bởi nhiệt độ, chủ yếu ở khu vực nhiệt đới Trong phạm vi vùng, lượng mưa quyết định loài và tính đa dạng của RNM Vì thế khí hậu nóng lên và lượng mưa thay đổi có ảnh hưởng rất lớn tới HST RNM
RNM hình thành ở ven biển, nơi môi trường ngập thủy triều định kỳ và nhạy cảm đối với BĐKH và nước biển dâng Tuy nhiên, nhiều yếu tố có thể làm thay đổi tính nhạy cảm của HST RNM ở một vị trí cụ thể nào đó, bao gồm các yếu tố địa lý và địa hình như độ cứng của nền đáy và nguồn lắng đọng trầm tích/phù sa
Khi nhiệt độ trung bình của không khí vào tháng lạnh nhất cao hơn 200C và sự chênh lệch nhiệt độ theo mùa không quá 100C, HST RNM có thể phát triển Những thay đổi về nhiệt độ nước biển, nhiệt độ không khí và sự xuất hiện sương giá phủ mặt
Trang 17đất kết hợp với khô hạn đã hạn chế các loài cây ngặp mặn Hơn nữa, nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đến tốc độ quang hợp mà còn ảnh hưởng đến cân bằng nước thông qua quá trình đóng mở khí khổng và quá trình thoát hơi nước, sự thu hút hay mất muối của cây Vì vậy, ảnh hưởng của BĐKH cần phải được xem xét kết hợp với sự thay đổi về lượng mưa và những ảnh hưởng trực tiếp của nồng độ CO2 khí quyển tăng lên
Các tác động khác của khí hậu, như: (i) CO2 tăng lên ảnh hưởng trực tiếp đến
sự sinh trưởng và phát triển của thực vật; (ii) RNM dường như không thể thích nghi với tốc độ dâng cao của mực nước biển; (iii) Xói mòn nền đất RNM khi nước biển dâng, tầng đất RNM có thể phát triển, mất đi và quá trình lắng đọng xảy ra phía ngoài khu RNM Xói mòn xảy ra ở phần bề mặt trên cùng khiến rễ cây ngập mặn lộ ra làm nền đất không chặt và càng làm thấp nền đất RNM, cửa sông rộng ra cũng khiến cây ngập mặn tiến sâu vào đất liền; (iv) Hai đặc điểm sinh lý thích nghi của cây ngập mặn
có thể giúp chúng sống sót trong mực nước biển: loại bỏ muối ở những loài có khả năng lọc, đặc biệt khi quá trình bay hơi và quang hợp dừng hoặc bị suy giảm khi tiếp xúc với nước biển; muối bị thải ra khi cây tiếp tục quang hợp và sử dụng nước của quá trình thoát hơi nước nhờ các tuyến muối trong lá Các yếu tố này giúp cây ngập mặn cạnh tranh tốt hơn với các loài thực vật sinh trưởng nhanh trong điều kiện độ mặn tăng; (v) Trường hợp bị ngập nước đột ngột hoặc kéo dài dẫn đến khả năng làm nước bay hơi của lá thấp và khí khổng đóng lại, làm giảm diệp lục dẫn đến giảm quang hợp
và cuối cùng có thể thiếu ôxy trong tế bào hoặc cây bị chết
1.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
Năm 2006, công trình "Đánh giá phản ứng của RNM với mực nước biển dâng
và xây dựng lại lịch sử vị trí đường bờ biển" của Eric Gilman, Joanna Ellison, Richard Coleman đã phân tích các hình ảnh viễn thám, hệ thống thông tin địa lý, đo dữ liệu thuỷ triều và dự đoán sự thay đổi của mực nước biển đối với bề mặt RNM Từ đó dự đoán chính xác sự thay đổi ranh giới HST ven biển, bao gồm cả phản ứng của RNM
Trang 18với mực NBD với các mô hình khác nhau, cho phép nâng cao quy hoạch để giảm thiểu
và bù đắp những tổn thất và thiệt hại theo dự đoán [35]
Năm 2007, tập thể các tác giả Eric L Gilman, Joanna Ellison, Norman C Duke, Colin Field nghiên cứu về "Mối đe doạ đến RNM từ BĐKH và các giải pháp thích ứng" cho thấy HST RNM đang bị đe doạ bởi BĐKH, NBD có thể là mỗi đe doạ lớn nhất đối với RNM[36]
Nghiên cứu "Mô hình địa hình kỹ thuật số kiểm tra ảnh hưởng của mực nước biển dâng đến RNM ở giai đoạn đầu" năm 2008 của D.Di Nitto, F.Dahdouh-Guebas, J.G Kairo, H.Decleir, N.Koedam phân tích các động thái cấu trúc thảm thực vật của RNM để khái quát về điều kiện hình thành RNM ở giai đoạn đầu khi được tách từ cây
bố m dưới tác động của mực nước biển dâng dựa trên mô hình nói trên và sử dụng hệ thống thông tin địa lý[33]
Nghiên cứu "Mô hình khái niệm cho các phản ứng RNM với mực NBD" năm
2009 của MLG Soares [42] thấy rằng trong bối cảnh NBD, phản ứng của RNM sẽ phụ thuộc vào một vài đặc điểm chính như tốc độ của mực NBD, trầm tích đầu vào, sự thay đổi độ cao chất nền RNM, đặc điểm khu vực nghiên cứu cũng như địa mạo và địa hình của vùng ven biển khu vực đó
1.3.2 Tại Việt Nam
Một nghiên cứu gần đây của Ngân hàng thế giới [39] dự báo Việt Nam là một trong hai nước đang phát triển (Bangladesh và Việt Nam) bị tác động tồi tệ nhất trên thế giới do NBD Dasgupta vànnk (2007) [32] dựa trên các kết quả phân tích, đã cho thấy Việt Nam là một trong các nước trên thế giới có khả năng chịu tổn thương cao nhất do NBD và là nước có khả năng chịu tổn thương cao nhất ở Đông Á Theo các tác giả này, mực NBD 1m sẽ làm ảnh hưởng tới khoảng 5% diện tích, 11% dân số, 7% sản lượng nông nghiệp và làm giảm 10% GDP của Việt Nam Carew-Reid (2007) sử dụng
số liệu địa hình số để mô phỏng ngập lụt do NBD 1m và xác định rằng ĐBSH và ĐBSCL là hai khu vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất
Năm 2007, nghiên cứu "BĐKH và vai trò của RNM trong việc ứng phó" của Phan Nguyên Hồng, Lê Xuân Tuấn, Vũ Đoàn Thái và Vũ Đình Thái đã đưa ra kết quả
về tác động của BĐKH đối với HST RNM Việt Nam và nêu ra vai trò của RNM trong việc ứng phó với BĐKH và NBD
Trang 19Cũng trong năm 2007, Phan Nguyên Hồng, Lê Xuân Tuấn, Vũ Thục Hiền, Vũ Đình Thái đã tổng hợp và biên soạn về tác dụng của RNM trong việc hạn chế tác hại của sóng thần Bùi Xuân Thông có công trình "NBDvào kỳ triều cường tại các vùng ven biển miền Trung, Đông Nam Bộ trong tổ hợp tác động BĐKH"
Năm 2008, luận án tiến sĩ của Vũ Đoàn Thái đã nghiên cứu về tác dụng của RNM đối với sóng bão ở vùng ven biển Hải Phòng Nghiên cứu này cho rằng RNM che chắn phía ngoài bờ và đê biển có tác dụng làm giảm đáng kể độ cao sóng khi truyền qua, khả năng cản sóng này của RNM tùy thuộc vào bề rộng, cấu trúc rừng; khi
có bão lớn, RNM có ỹ nghĩa quan trong việc làm giảm thiểu tác động phá hủy của sóng bão đối với bờ biển
Năm 2009, nghiên cứu "Đánh giá tính dễ bị tổn thương của vùng đất ngập nước ven biển Việt Nam cho sử dụng bền vững (trường hợp nghiên cứu tại Xuân Thuỷ, Việt Nam)" của Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Nghiêm Quỳnh Hương, Nguyễn Thị Hồng Huệ, Nguyễn Tài Tuệ, Phạm Bảo Ngọc đã đề xuất ra một số giải pháp nhằm sử dụng thích hợp các tài nguyên đất ngập nước và phục vụ PTBV vùng ven biển căn cứ vào mức độ dễ bị tổn thương [16]
Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về RNM và BĐKH, về ảnh hưởng của NBD, nhưng chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể và chuyên sâu về ảnh hưởng của NBD tới thảm thực vật RNM
1.4 Điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
1.4.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên VQG Xuân Thủy
Vườn Quốc gia Xuân Thủy nằm ở phía đông nam huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, ngay tại cửa Ba Lạt của sông Hồng, toạ độ: từ 20010' đến 20015' vĩ độ Bắc và từ
106020' đến 106032' kinh độ Đông
Vùng lõi của VQG XT bao gồm: Phần Bãi trong của Cồn Ngạn, toàn bộ Cồn
Lu và Cồn Xanh Vùng lõi có diện tích đất nổi khi triều kiệt là 3.100 ha và đất còn ngập nước là 4.000 ha Tổng diện tích đất tự nhiên 7.100 ha
Vùng đệm VQG XT có tổng diện tích 7.233,6 ha Vùng này bao gồm 960 ha còn lại của Cồn Ngạn (ranh giới tính từ phía trong đê Vành Lược đến lạch sông Vọp), 2.632 ha của Bãi Trong cùng với phần diện tích tự nhiên rộng 3.641,6 ha của 5 xã Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân, Giao Hải
Trang 20Nhiệt độ trung bình năm là 24oC, cao nhất vào mùa hè là 40,3oC, thấp nhất trong mùa đông là 6,8oC Độ ẩm trung bình 84%[20]
Lượng mưa trung bình năm 1.700 – 1.800 mm, số ngày mưa trong năm là 133 ngày Chế độ mưa phân bố theo hai mùa: hè và đông, mùa Thu Đông có lượng mưa trung bình thấp nhất, biến động từ 25 đến 50 mm/tháng Tháng 8 có lượng mưa lớn nhất trong năm, đạt tới 400 mm và trong tháng này có tới 15 - 18 ngày mưa Lượng bốc hơi hàng năm 1.000 – 1.200 mm
Lũ sông Hồng từ tháng 7 đến tháng 10 và dòng chảy ven bờ tác động mạnh với gió đông bắc Hai ảnh hưởng ngoại lực này chi phối địa mạo của vùng nghiên cứu
Mùa Đông gió thịnh hành hướng Bắc, đầu mùa hè là hướng Đông, sau chuyển hướng Đông Nam và Nam Tốc độ gió mùa Đông từ 3,2 – 3,9 m/s (trong đất liền 2,0 – 2,5 m/s), mùa Hè từ 4,0 – 4,5 m/s (trong đất liền 2,3 – 2,6 m/s) Bão xuất hiện hàng năm nhiều, thí dụ năm 2005 có 7 cơn bão đổ bộ vào miền Bắc Việt Nam trong đó có 3 cơn bão mạnhvới sức gió từ cấp 9 đến cấp 12
Độ mặn biến động từ 11‰ - 30‰ và biến thiên độ mặn tùy thuộc vào các tháng trong năm và không gian cụ thể của từng vùng bãi Xâm nhập mặn ở mức độ muối 1‰ vào sâu đất liền tới 20 km và ở mức 4‰ tới 10 km
Hình 1.1: Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ [20]
Trang 21Trong vùng có chế độ nhật triều, chu kỳ khoảng 23 giờ Biên độ triều trung bình khoảng 180cm, lớn nhất 4,3m, nhỏ nhất 0m Trong khoảng nửa tháng có 1 lần triều cường, 1 lần triều kiệt, đôi khi xảy ra 1 tháng 3 lần triều kiệt, 2 lần triều cường hoặc ngược lại Biên độ triều lớn nhất vào mùa khô và thường xuất hiện vào tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau
1.4.2 Đặc điểm dân số, kinh tế-xã hội khu vực VQG Xuân Thủy
1.4.2.1 Dân số
Theo số liệu thống kê đến tháng 12/2013, toàn bộ 5 xã vùng đệm VQG Xuân Thuỷ
có 50.637 nhân khẩu trong13.478 hộ với diện tích 40,33 km2 Mật độ dân cư các xã tương đối đồng đều, trung bình 1.256 người/km2 Xã Giao Lạc có mật độ dân cao nhất (1.515 người/km2), xã Giao Thiện có mật độ thấp nhất là 952 người/km2 (Bảng 2.1)
Bảng 1.1: Diện tích, dân số và mật độ dân số các xã vùng đệm [28]
Mật độ dân số tại các xã vùng đệm VQG Xuân Thủy cũng tương đương với mật
độ dân số trung bình của khu vực đồng bằng sông Hồng (1.238 người/1km2 vào năm 2007) Tuy nhiên, mật độ dân số trong vùng vẫn cao, gấp 5 lần so với mật độ trung bình của cả nước, gấp gần 3 lần so với đồng bằng sông Cửu Long, gấp 10 lần so với Miền núi và Trung du Bắc Bộ và gấp 17,6 lần so với Tây Nguyên Đây chính là áp lực lớn đối với công tác bảo tồn và PTBV vùng ĐNN tại vùng nghiên cứu
Lao động ở vùng đệm tương đối trẻ, tuổi đời từ 16 - 44 tuổi chiếm 42,9%, trong
đó có khoảng 49,28% là lao động nữ Đây cũng là lực lượng chính tham gia hoạt động khai thác tài nguyên ở khu vực VQG Thời gian dành cho sản xuất nông nghiệp thực chất chỉ chiếm 30% quỹ thời gian trong năm, còn lại chủ yếu là khai thác tài nguyên sinh vật ở khu vực VQG Xuân Thuỷ
Số người trong độ tuổi lao động tại các xã trong khu vực VQG Xuân Thủy được giới thiệu trong bảng 1.2
Trang 22Bảng 1.2:Cơ cấu dân số và lao động của các xã vùng đệm năm 2013[28]
Khu vực 5 xã vùng đệm VQG Xuân Thuỷ là nơi sinh sống chủ yếu của người dân tộc Kinh Số dân theo đạo thiên chúa giáo chiếm 41% tổng số dân trong khu vực Trong đó, tỷ lệ người theo đạo ở xã Giao Thiện chiếm 72%, xã Giao An 32%, xã Giao Lạc 71%, Giao Xuân 27% và Giao Hải 3,6%
1.4.2.2.Đặc điểm kinh tế-xã hội của các xã vùng đệm
Sản xuất nông nghiệp
Cơ cấu cây trồng đã được đa dạng, không còn độc canh cây lúa hay cây màu, gồm trồng lúa, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày cùng rất nhiều loài cây ăn quả Loài cây trồng có diện tích đáng kể là cây lúa nước, phát triển khá ổn định Năm 2011 năng suất lúa nước vụ chiêm bình quân 76 tạ/ha, vụ mùa 59 tạ/ha.Các cây ăn quả được người dân lựa chọn để đưa vào trồng là cam, quýt, chanh, bưởi, nhãn, vải, chuối, song hầu hết ở mức độ ít, chưa phát triển thành hàng hoá Chăn nuôi trên khu vực các xã vùng đệm phát triển còn thấp, đàn gia súc tương đối ít và chủ yếu thuộc sở hữu tư nhân, nên chỉ góp phần cải thiện sinh kế hàng ngày, tăng thu nhập cho kinh tế hộ gia đình và tận dụng phân bón cho nông nghiệp
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Theo số liệu Thống kê huyện Giao Thủy (2011) [18], các ngành nghề trong khu vực các xã vùng đệm chủ yếu là các ngành nghề truyền thống, ngành chế biến nông sản, thuỷ hải sản và cơ khí sửa chữa.Thành phần tham gia vào hoạt động sản xuất công
Trang 23nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn các xã chủ yếu là các cơ sở tư nhân Năm
2011, tổng giá trị hàng hoá sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp khối tư nhân chiếm hơn 83%
Tình hình đời sống nhân dân và cơ sở hạ tầng các xã trong vùng đệm
Gần đây kinh tế trong khu vực đã có những bước phát triển đáng kể, điều kiện sinh hoạt trong các hộ gia đình cũng từng bước được cải thiện, chủ yếu nhà xây kiên
cố và bán kiên cố (chiếm 63%), nhà cấp 4 chiếm 37%, Điện lưới đã xuống tới các thôn, xóm và hiện nay 100% số hộ trong các xã vùng đệm đã được dùng điện cho sinh hoạt, sử dụng cho sản xuất chưa nhiều
Trong vùng đệm có gần 50% bà con sử dụng giếng khoan và giếng đào nhưng chỉ khoảng 20 - 30% là sử dụng nước hợp vệ sinh Nước sinh hoạt chủ yếu dựa vào nước mưa và nước qua bể lọc Tuy nhiên, tình hình thiếu nước sinh hoạt thường vẫn diễn ra hàng năm vào mùa hè, nhất là những năm ít mưa.Phần lớn người dân trong vùng quan tâm đến vấn đề vệ sinh
Giao thông đường bộ từ tất cả các nơi đến VQG khá thuận lợi Từ ranh giới đê quốc gia đi ra vùng lõi của VQG có một đường trục Cồn Ngạn dài khoảng 4km là con đường giao thông huyết mạch của VQG Ranh giới giữa vùng lõi và vùng đệm ở phía Tây Bắc là đê bao bề mặt được thảm nhựa hoặc rải đá dăm - là tuyến đường bộ duy nhất để tuần tra bảo vệ và phục vụ khách tham quan du lịch trong khu vực Tuy nhiên, mặt đường h p, chưa bằng phẳng nên việc đi lại cũng còn khó khăn.Trong khu vực VQG Xuân Thủy có cácsông nhánh như sông Vọp, sông Trà và nhiều lạch triều, du khách có thể đi thuyền máy nhỏ dọc theo các dòng sông lạch để du ngoạn trong VQG Tuy nhiên, giao thông đường thuỷ ở VQG phụ thuộc vào thuỷ triều, nên khi triều kiệtdu khách thăm quan bằng đường thuỷ gặp rất nhiều khó khăn
1.4.3 Khai thác và nuôi trồng thủy sản
1.4.3.1 Khai thác thuỷ sản: Trong VQG Xuân Thủy có 15,2% hộ gia đình tham
gia khai thác thuỷ sản tự nhiên, tập trung ở các xã Giao Thiện (16%), Giao Xuân (19%) và Giao Hải (28%) Phương tiện đánh bắt chủ yếu là các công cụ thô sơ như: bẫy tự làm bằng tay (chiếm 65%), gần 3% số hộ sử dụng thuyền thô sơ để đánh bắt gần bờ và ở các bãi; các phương tiện hiện đại như thuyền máy chỉ có gần 25% số hộ sử dụng chủ yếu để khai thác ở ngoài biển quy mô lớn
Trang 24Các hộ sử dụng công cụ thô sơ để đánh bắt thủy sản tập trung ở các xã: Giao Thiện (74,29%), Giao An (88,24%), Giao Xuân (86,36%), Giao Lạc (62,50%) Số hộ
sử dụng thuyền máy tập trung chủ yếu ở xã Giao Hải (51,52%)
Bảng 1.3: Loại hình khai thác thủy sản của người dân (%)
Nghề khai thác Thiện Giao Giao
An
Giao Xuân
Giao Hải
Giao Lạc
Trung bình Khai thác thủ công tự do ngoài bãi 86,11 76,47 90,70 50,00 75,00 72,84
Khai thác, đánh bắt thủy sản trong VQG 16,43 8,13 19,72 27,27 3,96 15,20
Nguồn: Kết quả điều tra sinh kế hộ gia đình VQG Xuân Thủy (2012)
Hoạt động khai thác khác nhau: thủ công bằng tay, tàu đánh cá biển, đăng đáy,
lờ bát quái Bảng 2.3 chỉ ra có 72,84% số hộ khai thác thủ công và tự do ngoài bãi triều, số hộ đánh bắt cá biển (26,88%) và chủ yếu ở xã Giao Hải (66,67%) Các hộ đánh bắt bằng hình thức đăng đáy chiếm 3,13% và tập trung ở xã Giao Lạc (25%) Tổ chức đánh bắt thủy sản theo cá nhân (hơn 70%), khai thác theo nhóm hay hợp tác với người khác cùng đi khai thác chiếm dưới 20%, khoảng 10% số còn lại đi khai thác theo hình thức gia đình
Địa điểm người dân đánh bắt rất đa dạng, tập trung ở RNM tự nhiên, khu vực bãi bồi Cồn Lu và vùng biển (trên 20%) Tùy vào vị trí địa lý của các xã mà khu vực khai thác cho các hộ dân của các xã khác nhau (Bảng 1.4) Địa điểm khai thác của người dân xã Giao thiện và Giao Hải đa dạng nhất, trong khi người dân các xã khác chỉ được khai thác ở một số nơi Ví dụ, xã Giao Lạc người dân ở đây chỉ có thể khai thác ở các bãi bồi Cồn Ngạn và Cồn Lu
Bảng 1 4: Địa điểm khai thác thủy sản của người dân (%)
Địa điểm Giao Thiện Giao An Giao Xuân Giao Hải Giao Lạc Chung
Trang 25Người dân đánh bắt thủy sản trong tất cả các tháng của năm và chủ yếu vào những lúc nông nhàn Một số hộ khai thác quanh năm, nhiều nhất vào các tháng 3, 4
và từ tháng 9 đến tháng 11 Các tháng mùa Đông người dân khai thác ít hơn, bình quân một tháng các hộ khai thác 14,53 ngày, cá biệt có hộ khai thác toàn thời gian (30ngày/tháng) Trung bình mỗi chuyến đánh bắt thủy sản khoảng 19 ngày, khai thác thủ công trên bãi bồi và ven biểnlà 7,6 giờ/ngày, chủ yếu từ 14h-18h và một số đánh bắt vào ban đêm (từ 19h-5h sáng) ở ngư trường gần bờ
Các loại thuỷ sản được người dân đánh bắt rất đa dạng, nhiều nhất là cá (chiếm 42,77%), tiếp sau là ngao và các loại nhuyễn thể khác Giao Hải có bến cá và nhiều hộ dân đi tàu đánh cá biển, nên cá là loại được khai thác nhiều nhất Giao Xuân là xã có diện tích lớn về đất bãi cát thuộc Cồn Lu có khả năng nuôi ngao rất tốt, là xã đi tiên phong (hơn 80% số dân nuôi ngao) và có nhiều kinh nghiệm trong nuôi và khai thác nguồn lợi ngao Giao Thiện và Giao An là hai xã có diện tích RNM rộng, nên phát triển các hoạt động khai thác thủ công và đăng đáy
1.4.3.2 Hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản
Vùng đệm VQG Xuân Thuỷ có điều kiện thuận lợi cho phát triển NTTS, nhất là trong các đầm và trên bãi triều Kết quả điều tra (12/2012) của VQG Xuân Thủy cho thấy chỉ có 6,6% hộ gia đình NTTS Số hộ nuôi tôm chiếm 51%, các hộ nuôi cá và nuôi ngao, vạng đều chiếm 15%, và nuôi các loài thủy sản khác
NTTS nhiều nhất ở Bãi trong (chiếm 31,94%số hộ nuôi trồng), ở Cồn Lu (26,39%), còn ở ao kênh, ruộng đồng chiếm 11,11%, cồn Ngạn chiếm 13,89% Ngoài
ra, có những hộ NTTS trong các khu RNM cồn Ngạn (rừng trồng) chiếm 8,33%, và nuôi trong RNM tự nhiên chiếm 5% Khoảng 700ha bãi triều không có RNM ở phân khu phục hồi sinh thái của VQG Xuân Thủy cuối Cồn Lu được sử dụng để nuôi ngao, vạng.Trung bình một vụ tôm thả nuôi khoảng 3-4 tháng (tôm Thẻ chân trắng), 6-7 tháng (tôm Sú) và thời gian nuôi tôm quảng canh khoảng 9 tháng Thời gian nuôi ngao thịt từ 2-4 năm, nuôi các loài cá và cua biển trung bình mất khoảng 7 tháng
Trung bình các hộ đầu tư khoảng 100 triệu đồng cho các khoản chi phí để nuôi thuỷ sản tuỳ thuộc vào diện tích của các vây, các đầm.Trong số các khoản đầu tư cho nuôi tôm, ngao, cua, cá, lớn nhất là con giống, tiếp đến là cải tạo vùng nuôi, đấu thầu
và thuê nhân công Vốn đầu tư lớn, thời gian nuôi các loại thủy hải sản dài nên dễ gặp
Trang 26rủi ro do thiên tai, dịch bệnh Cũng đồng nghĩa với các hộ gia đình nghèo không thể có tiền đầu tư cho NTTS
1.5 Hiện trạng sử dụng đất, mặt nước trong VQG Xuân Thuỷ
Theo Quy hoạch quản lý Bảo vệ và Phát triển VQG Xuân Thuỷ giai đoạn
2004-2020, vùng đệm của VQG Xuân Thuỷ được phê duyệt năm 1995 bao gồm phần đất còn lại của Cồn Ngạn được giới hạn bởi đê Vành lược và lạch sông Vọp, với tổng diện tích 960 ha Đây là một bất cập lớn, vì diện tích Vùng đệm cũ quá h p không đủ bao
hàm ý nghĩa của một vùng đệm: "là khu vực áp sát khu bảo tồn (KBT), có dân cư sinh
sống, từ đây gây ra áp lực xâm hại tài nguyên và môi trường vào vùng lõi của KBT"
Vì vậy, gần đây các dự án về vùng đệm đã được Ban quản lý KBT triển khai ở vùng dân cư áp sát KBT gồm các xã: Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc và Giao Xuân Kết quả khả quan của các dự án đã chứng minh tính khả thi của diện tích vùng đệm được mở rộng như trong Quyết định số 01/2003/QĐ-TTg ngày 21/1/2003 của Thủ tướng Chính phủ
Diện tích rừng trồng Đất Tổng D
tích tự nhiên
Có rừng
Đất trống
Nguồn: Kết quả điều tra sinh kế hộ gia đình VQG Xuân Thủy (2012)
Ở Bãi Trong, đầm tôm he chân trắng thâm canh hiệu quảrất thấp, rủi ro nhiều Diện tích RNM mới trồng đã phát huy hiệu quả đối với nguồn lợi thủy sản Ở cồn Ngạn, những đầm tôm nuôi quảng canh cải tiến có rừngđạt hiệu quả tốt nhất (đầu tư ít, thu nhập ổn định, ít rủi ro) Ngay trong vùng lõi của VQG Xuân Thuỷ ở Cồn Lu, 56-
66 ha RNM đã được cải tạo thành 4 đầm nuôi tôm, cua quảng canh cải tiến và RNM bị tàn lụi Điều tra thực địa năm 2013đã xác định có 138 ha diện tích NTTS ở vùng lõi của VQG Xuân Thủy [28]
Khoảng 700 ha bãi triều tự nhiên không có RNM thuộc phân khu phục hồi sinh thái của VQG Xuân Thủy ở phần cuối Cồn Lu, Cồn Ngạn thuộc các xã Giao Xuân, Giao Hải được cải tạo và quây nuôi ngao, vạng Tổng diện tích nuôi ngao năm 2013 tại Cồn Lu xã đang quản lý là 688,38 ha (số liệu do địa chính các xã cung cấp)
Trang 27Bảng 1 6: Diện tích nuôi ngao tại phân khu phục hồi sinh thái ở Cồn Lu
Tổng(ha) Giao An Giao Lạc Giao Xuân Giao Hải
Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nam Định (2013)
Đất ở vùng đệm gồm: đất thổ cư, đất canh tác nông nghiệp, đất NTTS, đất bãi bồi có RNM và một số ít đất còn ngập nước ven theo các sông lạch Đất nông nghiệp chủ yếu trồng 2 vụ lúa nước có năng suất khá cao, nhưng do bình quân diện tích quá thấp nên thu nhập từ trồng lúa và làm nông nghiệp nói chung không đủ sống.Vùng đất NTTS gồm khu đầm tôm nuôi quảng canh cải tiến (2.000ha) và nuôi ngao (700ha) NTTS đã tạo công việc làm và nguồn thu đáng kể cho cộng đồng địa phương Diện tích RNM gần 800ha mới được phục hồi từ dự án DRC (Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch)
đã có tác động rất tích cực đến môi trường sinh thái của khu vực
Trang 28CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
2.1.2 Nội dung nghiên cứu
i) Công việc thực hiện để đạt được mục tiêu (a)
- Thu thập số liệu sơ cấp liên quan đến VQG Xuân Thủy, liên quan đến HST RNM, sinh kế và cộng đồng dân cư sống trong khu vực VQG và lân cận;
- Phỏng vấn, thảo luận với các bên liên quan và cộng đồng dân cư sống trong và lân cận VQG Xuân Thủy về tình hình bảo tồn HST RNM, đa dạng sinh học và nguồn lợi từ RNM đem lại, các đe dọa đến các HST RNM, sinh kế người dân, ;
- Phân tích tổng quan vai trò, chức năng của HST RNM trong bối cảnh BĐKH
và NBD, bao gồm khả năng thu và giữ cácbon;
- Phân tích mối quan hệ giữa: HST RNM – sinh kế - cộng đồng dân cư sống trong và lân cận VQG Xuân Thủy
ii) Công việc thực hiện để đạt được mục tiêu (b)
- Nghiên cứu lựa chọn và mô tả kịch bản BĐKH và NBD cho khu vực ven biển tỉnh Nam Định và huyện ven biển Giao Thủy;
- Phân tích các tác động có thể của BĐKH và NBD theo kịch bản đến HST RNM;
- Phân tích các tác động có thể của BĐKH và NBD theo kịch bản đến sinh kế của cộng đồng liên quan tới HST RNM;
- Phân tích các tác động có thể của BĐKH và NBD theo kịch bản đến các cộng đồng dân cư sống trong và lân cận VQG Xuân Thủy;
Trang 29- Đánh giá mức độ dễ bị tổn thương do BĐKH và NBD đến HST rừng ngập mặn trong VQG Xuân Thủy
iii) Công việc thực hiện để đạt được mục tiêu (c)
- Đề xuất các giải pháp thích ứng với BĐKH và NBD nhằm quản lý hiệu quả và cải thiện sức chống chịu của VQG Xuân Thủy;
- Đề xuất các giải pháp giảm thiểu tác động xấu của BĐKH và NBD đến HST RNM nói riêng và VQG Xuân Thủy nói chung;
- Đưa ra một số khuyến nghị để có thể nhân rộng kết quả nghiên cứu sang các khu bảo tồn thiên nhiên biển-ven biển khác có điều kiện tương tự
2.2 Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu là HST rừng ngập mặn trong VQG Xuân Thủy, mức độ
dễ bị tổn thương của chúng trước các tác động của BĐKH và NBD Tuy nhiên để đạt được hiệu quả nghiên cứu cao nhất, trong nội dung của luận văn này, học viên chỉ tập trung vào nghiên cứu đánh giá tính dễ tổn thương bởi NBD do tác động của BĐKH
2.2.2 Thời gian:
2 năm (2012-2014)
2.2.3 Địa điểm
Vườn Quốc gia Xuân Thủy, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
2.2.4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
2.2.4.1 Cách tiếp cận
a) Tiếp cận hệ thống và liên ngành
Đây là cách tiếp cận chủ đạo được quán triệt trong quá trình thực hiện luận án Các thực thể (vật lý, sinh vật và con người,…) trong phạm vi vùng nghiên cứuvà phụ cận đều nằm trong các hệ thống nhất định Trong khi BĐKH cùng các biểu hiện của chúng đã tác động tới tất cả các lĩnh vực, các thực thể nói trên theo một quan hệ tương tác lẫn nhau Vì thế, BĐKH cũng mang tính hệ thống và mối quan hệ giữa các yếu tố BĐKH với các lĩnh vực, các thành phần môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bị tác động, cũng như sức chống chịu/thích ứng của các hệ thống trong vùng nghiên cứu luôn thống nhất
Con người là một bộ phận hữu cơ của HST, là một thành viên đặc biệt của HST theo nghĩa con người, một mặt có những tác động mạnh mẽ nhất vào HST theo cách
Trang 30nghiên cứu HST nào cũng phải hướng tới để đem lại phúc lợi cho họ (Trương Quang Học, 2006 [7])
b) Cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái (ecosystem-based approach - EBA)
Do Công ước ĐDSH đề xuất là một chiến lược quản lý tổng hợp tài nguyên thiên nhiên (đất, nước và sinh vật) nhằm tăng cường bảo vệ và sử dụng bền vững các dạng tài nguyên này một cách công bằng (IUCN, 1997) [14] Gần đây, cách tiếp cận này được áp dụng rộng rãi trong phát triển bền vững và ứng phó với BĐKH, khi đặt con người và thực tiễn sử dụng tài nguyên là trung tâm của các HST
Một cách khái quát có thể định nghĩa cách tiếp cận dựa HST là cách tiếp cận có
sự liên kết các nguyên tắc sinh thái, kinh tế và xã hội để quản lý các hệ sinh thái - xã hội (socio-ecological system), bao gồm hệ tự nhiên (natural system), HST (ecosystem)
và hệ xã hội (social system), bằng cách bảo vệ tính bền vững của các hệ thống này một cách lâu dài
Cách tiếp cận dựa trên HST được thực hiện trên 12 nguyên tắc cơ bản có sự hỗ trợ, tương tác lẫn nhau (Smith and Maltby, 2003) và được tổng kết thành 5 bước thực hiện (Shepherd, 2004) là: (i) Xác định những bên có liên quan và định biên HST; (ii) Nghiên cứu cấu trúc, chức năng và quản lý hệ sinh thái; (iii) Xác định những vấn đề từ góc độ kinh tế; iv) Quản lý thích nghi theo không gian, và v) Quản lý thích nghi theo thời gian
Trong thực tế, con người một mặt sống nhờ vào HST thông qua các dịch vụ của
nó, như: (i) Dịch vụ cung cấp (cung cấp các loại vật liệu, cây thuốc, thực phẩm, nước ); ii) Dịch vụ điều tiết (điều tiết lũ lụt, hạn hán, chống xói mòn đất, điều hòa nguồn nước, dịch bệnh…); iii) Dịch vụ văn hóa-tinh thần (các giá trị du lịch, giải trí, nghỉ dưỡng, nghiên cứu, giáo dục, tôn giáo, nghệ thuật và các lợi ích phi vật chất khác); và iv) Dịch vụ hỗ trợ (hình thành đất, duy trì các chu trình dinh dưỡng, chu trình sinh địa hóa, dòng năng lượng,…) Mặt khác, con người lại tác động vào HST thông qua các hoạt động sinh kế trực tiếp (nguyên nhân trực tiếp) và các hoạt động phát triển KT-XH (nguyên nhân sâu xa/cơ bản) – tác động chính làm suy thoái các HST và ĐDSH Cần nhấn mạnh rằng mối tương tác giữa con người và HST có sự thay đổi theo thời gian (từ quá khứ, tới hiện tại và đến tương lai) và chịu sự tác động ở các cấp độ khác nhau
Trang 31HST và BĐKH có sự tương tác lẫn nhau Tác động của BĐKH, về thực chất, là tác động lên các thành phần của HST và lên toàn HST nói chung và ứng phó với BĐKH về nguyên tắc cũng là các giải pháp phục hồi, duy trì tính cân bằng của HST Theo đó, EBA lựa chọn HST như cách tiếp cận chủ đạo trong ứng phó với BĐKH theo nguyên tắc ứng phó với BĐKH là duy trì và tăng cường tính chống chịu, khả năng thích ứng, giảm nh tính dễ bị tổn thương/rủi ro khí hậu với sự tham gia của các bên liên quan (đặc biệt là cộng đồng) nhằm hạn chế thiệt hại do BĐKH gây ra cho các HTS - xã hội (Ban thư ký Công ước Đa dạng Sinh học, 2010 [1])
Hình 2 1: Tính chống chịu sinh thái-xã hội: kết quả của sự tương tác hữu cơ giữa tính
chống chịu của HST và hệ xã hội (Trương Quang Học, 2012) [8]
2.4.4.2 Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu (số liệu thứ cấp):
Đây là phương pháp khá phổ biến và mang lại hiệu quả cao trong quá trình nghiên cứu Trong nghiên cứu này, thông qua việc tiếp xúc, làm việc với các cơ quan chức năng học viên đã thu thập các tài liệu, số liệu liên quan đến nội dung của luận văn Tất cả các số liệu, tài liệu sau khi thu thập được thống kê, phân tích và tổng hợp
để đưa ra bức tranh tổng quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội cũng như những tác động của BĐKH lên khu vực nghiên cứu
Ngoài ra, phương pháp này còn được sử dụng ở giai đoạn nghiên cứu trong phòng, giúp làm rõ hơn cơ sở lý luận và các hướng nghiên cứu cũng như các công trình nghiên cứu đã thực hiện Việc phân tích và tổng hợp các tài liệu và các công trình nghiên cứu trước mang lại một số lợi ích cơ bản: giúp tránh sự trùng lặp; thừa kế các kết quả nghiên cứu trước; biết được các hạn chế của các nghiên cứu trước đó và đề ra định
Trang 32hướng nghiên cứu cho đề tài Các tài liệu này liên tục được cập nhật, bổ sung và được phân tích một cách chi tiết để tìm ra các nội dung phù hợp và cần thiết
b) Phương pháp điều tra khảo sát thực địa (thu thập số liệu sơ cấp):
Học viên đã tiến hành 02 đợt điều tra thực địa (vào tháng 12/2012 và tháng 7/2013) tại khu vực nghiên cứu theo 4 tuyến điều tra (Phụ lục 1) theo mặt cắt vuông góc với đê biển (với chiều rộng 10m chạy ra phía biển), kiểu địa hình và các khu vực sản xuất đặc trưng cho từng địa bàn nghiên cứu Tập trung điều tra những khu vực nhạy cảm với BĐKH Các kết quả nghiên cứu, khảo sát thực tế đã giúp học viên hiểu và làm rõ hơn về các đặc điểm điều kiện tự nhiên, hiện trạng phát triển KT – XH và các vấn đề
về BĐKH, các mô hình sinh kế của người dân trong vùng nghiên cứu theo cách tiếp cận
từ dưới lên
c) Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA):
PRA là quá trình liên tục, là phương pháp khuyến khích, lôi cuốn người dân nông thôn cùng tham gia chia sẻ, thảo luận và phân tích kiến thức của họ về đời sống
và điều kiện thực tế của họ để lập kế hoạch hành động và thực hiện
PRA là phương pháp không chỉ được dùng trong quá trình thu thập, xử lý thông tin, mà còn được thực hiện xuyên suốt quá trình nghiên cứu Thông qua PRA, mỗi thành viên trong cộng đồng nhận thấy tiếng nói của chính mình được lắng nghe, được ghi nhận để cùng thúc đẩy sự đóng góp chung
Nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp PRA như là một công cụ chính để tiến hành làm việc với chính quyền và người dân địa phương nhằm tìm hiểu, phân tích, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội, những tác động của BĐKH và khả năng thích ứng của người dân địa phương với BĐKH tại khu vực nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, học viên đã tiến hành phỏng vấn (bảng phỏng vấn – phụ lục 2) theo nhóm, người dân đánh bắt tự do, người nuôi trồng thủy sản, cán bộ bảo vệ rừng, cán bộ quản lý VQG, cán bộ các xã vùng đệm (danh sách điều tra, phỏng vấn – phụ lục 3)
d) Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương của HST RNM
Để đánh giá mức độ tổn thương cho khu vực VQG Xuân Thủy, trước hết cần xác định chỉ số DBTT do BĐKH đối với HST RNM – yếu tố quan trọng đối với VQG này Mặc dù còn có những cách tính chỉ số dễ bị tổn thương khác nhau, nhưng chủ yếu
là cách tính theo hàm của 3 yếu tố: mức độ phơi lộ (exposure), mức độ nhạy cảm (sensitivity) và khả năng thích ứng (adaptive capacity)
Trang 33Theo IPCC (2007) [38]: “Tính dễ bị tổn thương là mức độ mà ở đó một hệ thống dễ bị ảnh hưởng và không thể ứng phó với các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, gồm các dao động theo quy luật và các thay đổi cực đoan của khí hậu Tính dễ bị tổn thương là hàm số của tính chất, cường độ và mức độ (phạm vi) của các biến đổi và dao động khí hậu, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống” Từ đó ta có hàm sau:
Tính dễ tổn thương (V) = f[mức độ phơi lộ (E), mức độ nhạy cảm (S), khả năng thích ứng (AC)]
Như vậy, chỉ số DBTT do BĐKH có thể được xác định theo trình tự như sau:
- Đánh giá mức độ phơi lộ bằng cách sử dụng thông tin từ những ghi chép lịch
sử của BĐKH liên quan tới các hiểm họa
- Đánh giá mức độ nhạy cảm của HST RNM tại VQG Xuân Thủytrước mức độ phơi lộ của những hiểm họa do BĐKH
-Đánh giá khả năng thích ứng theo quan điểm cá nhân và xã hội, các chỉ tiêu cụ thể
Hình 2 2: Khung đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH
Nguồn: Allison và nnk, 2009
Thông qua đánh giá chung về các đặc trưng của các yếu tố thời tiết do BĐKH bao gồm: NBD, sự thay đổi của nhiệt độ và lượng mưa việc đánh giá chỉ số tổn thương theo các lĩnh vực dựa trên các dạng thiên tai chính như sau:
- Các tác động của lũ lụt và ngập lụt đi kèm với các hiện tượng thời tiết cực đoan (đặc biệt là bão)
- Các tác động của nhiễm mặn + xâm nhập mặn đi kèm với những biến đổi thủy văn và mực NBD
- Các tác động của nước dâng do bão đi kèm với những biến đổi liên quan đến mực NBD và các hiện tượng thời tiết cực đoan
Trang 34Để xác định giá trị cho mỗi chỉ số, có thể sử dụng sự phụ thuộc hàm giữa các chỉ số và khả năng DBTT (theo phương pháp tính chỉ số phát triển con người của UNDP) đưa về khoảng cho phép từ 0-1 Trong đó nhóm yếu tố nào mà có giá trị càng lớn tương ứng với khả năng DBTT càng cao thì giá trị chỉ số sẽ được tính dựa trên công thức:
Trong đó Xij là giá trị của yếu tố j tương ứng với vùng i
Ngược lại, nhóm yếu tố nào có giá trị lớn mà có thể làm giảm khả năng dễ bị tổn thương thì chỉ số sẽ được tính theo công thức:
Hay đơn giản hơn: (2b)
Khi đó chỉ số DBTT có thể được lấy là trung bình trọng số của tất cả các yếu tố
và xếp hạng theo thứ tự từ chỉ số lớn nhất (dễ tổn thương nhất) đến chỉ số nhỏ nhất (ít tổn thương nhất) Trên cơ sở phương pháp đánh giá tính DBTT của HST RNM Áp dụng vào khu vực nghiên cứu vùng RNM Vườn Quốc gia Xuân Thủy, để đánh giá xếp hạng chỉ số tính DBTT được chia thành 5 nhóm như sau:
Trang 35CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hệ sinh thái RNM ở Vườn Quốc gia Xuân Thủy
3.1.1 Vai trò của HST RNM ở VQG Xuân Thủy trong bối cảnh BĐKH
Từ kết quả điều tra thực địa, tổng hợp các kết quả thu thập từ các đề tài nghiên cứuvà tham vấn địa phương (người dân, cán bộ xã và cán bộ quản lý tại VQG Xuân Thủy) cho thấy trong bối cảnh BĐKH hiện nay, RNM ở đây có một số vai trò quan trọng:
- RNM có tác dụng làm chậm dòng chảy và phát tán rộng nước triều [13] nhờ
hệ thống rễ dày đặc trên mặt đất của các loài thực vật ngập mặn cản sóng, tích lũy phù
sa và mùn bã thực vật tại chỗ, cũng như thích nghi với NBD Nhờ các trụ mầm (cây con) và quả, hạt có khả năng sống dài ngày trong nước nên cây ngập mặn có thể phát tán rộng vào đất liền khi nước biển dâng làm ngập các vùng này
- RNM có tác dụng làm giảm độ cao của sóng và bảo vệ đê khi thủy triều dâng
- RNM hạn chế xâm nhập mặn và bảo vệ nước ngầm nhờ có nhiều kênh rạch cùng với hệ rễ cây chằng chịt trên mặt đất làm giảm cường độ của sóng nên hạn chế dòng chảy vào nội địa khi triều cường
- RNM còn là nơi bảo vệ các động vật khi nước triều dâng và sóng lớn Nhiều loài động vật đáy sống trong hang hoặc trên mặt bùn, khi thời tiết bất lợi, nước triều cao, sóng lớn đã trèo lên cây để tránh sóng như cá lác, các loài còng, cáy, ốc Khi lặng gió và triều xuống thấp chúng trở lại nơi sống cũ Do đó, tính đa dạng sinh học trong HST RNM tương đối ổn định Nhờ các mùn bã được phân hủy tại chỗ và các chất thải
do sông mang đến được phân giải nhanh tạo ra nguồn thức ăn phong phú, thuận lợi cho sự hồi phục và phát triển của động vật sau thiên tai
3.1.2 Chức năng và dịch vụ HST RNM ở VQG Xuân Thủy
Trên cơ sở kết quả điều tra thực địa tại VQG Xuân Thủy và tổng hợp một số kết quả nghiên cứu của các tác giả [12, 28] cho thấy HST RNM ở đây có các chức năng và dịch vụ cơ bản được giới thiệu ở bảng 3.1
Bảng 3.1: Các chức năng và giá trị dịch vụ của RNM ở VQG Xuân Thủy
vào chức năng
1
Nơi ở có giá trị cho các chu kỳ của các loài cây và động vật
quan trọng (các loài địa phương hoặc các loài khác trong thời
gian ngắn)
- Tôm, cua, cá
Trang 36TT Chức năng và dịch vụ Các yếu tố đóng góp
vào chức năng phẩm được trích ra như các loại nguyên liệu tươi hoặc thức
Khả năng chứa, giảm thiểu và đảm bảo tính toàn v n trong sự
đối phó của HST đối với những thay đổi bất thường của môi
trường (ngăn chặn gió, bão,…)
- CNM
6 Bảo vệ bờ biển và kiểm soát xói lở Hệ thống rễ của CNM
7 Lưu giữ phù sa (quá trình hình thành đất) Hệ thống rễ của CNM
8
Xử lý chất thải, lưu giữ chất dinh dưỡng, chất độc hại (sự phục
hồi của các chất dinh dưỡng dễ biến đổi và sự dời chuyển, phá
vỡ các chất dư thừa và các hợp chất của nó)
Khả năng hấp thụ của CNM và các loài sinh vật khác
9 Giao thông thuỷ (hạn chế việc nâng cao đáy sông) Cây ngập mặn
10 Kiểm soát lũ lụt và dòng chảy (điều hoà dòng thuỷ văn) Cây ngập mặn
11 Góp phần duy trì quá trình hiện tại hoặc hệ thống tự nhiên Chim di cư Các loài bò sát, thú quý
hiếm
12 Đại diện cho kiểu RNM (sự hiện diện của các quần thể, hệ
sinh thái, cảnh quan, các quá trình xảy ra trong đó) Các quần thể sinh vật, HST RNM
13 Đa dạng sinh học, nguồn của các sản phẩm sinh học Các loài sinh vật
14 Ngân hàng gen (nguồn của các vật chất sinh học) Các loài sinh vật
15 Ý nghĩa văn hoá (đa dạng văn hoá, cơ sở cho việc sử dụng
không thương mại hoá)
Các loài sinh vật, HST, cảnh quan
16 Nơi nghiên cứu và giáo dục (địa điểm để các nhà khoa học,
sinh viên, học sinh tham quan, nghiên cứu)
Các loài sinh vật, quần thể, quần xã, cảnh quan, hoạt động của con người
17 Du lịch (cung cấp cơ hội cho các hoạt động giải trí) Các loài sinh vật, cảnh
Trang 37Aizoaceae Họ Rau đắng
3 Sesuvium portulacastrum L Sam biển C 3 1, 3, 7
4 Nypa fruticans (Thumb) Wurmb
5 Avicennia marina (Forsk) Veirh Mắm biển G 2, 8 3, 5,7
6 Lumnitzera littorea (Jack) Voigt.(+) Cóc đỏ G 3 2,5, 7
7 Lumnitzera racemosa (Gaud)
Excoecaria agalocha L Giá G 1,2,3 1,4,5
9
Aegiceras corniculatum (L) Blanco Sú G 1, 2, 3 1, 4, 5
10 Bruguiera gymnorrhiza (L.) Lam V t dù G 2, 3, 8 2, 5
11 Kandelia obovata Sheue Liu
12 Rhizophora stylosa Griff Đâng G 2,3 2, 5
13 Sonneratia caseolaris (L.) Engl Bần chua G 2, 8 1,2,4,5
14 Sonneratia apetala Buch-Ham(*) Bần không cánh G 2 2, 5, 7
Chú giải bảng 3.2:
(+): Loài mới di chuyển từ Cần Giờ
(*): Loài mới được nhập nội từ Myanmar
Dạng sống:
G – Thân gỗ;
C – Thân cỏ bò, đứng hay thân ngầm;
H – Các dạng khác: cau, dừa, tre, thân cột, khuyết thực vật
Công dụng:
1 – Nhóm cây làm thuốc;
2 – Nhóm cây cho gỗ, củi
3 – Nhóm cây ăn được;
4 – Nhóm cây làm thức ăn cho gia súc;
5 – Nhóm cây bảo vệ đê chắn sóng, gió, xói mòn đất;
2 – Vùng đất ngập triều, tự nhiên, đều đặn;
3 – Vùng đất cao, hay ven bờ đầm, nơi thường chịu tác động hoặc ít chịu tác động của triều cường;
Trang 385 – Cồn cát trồng phi lao;
6 – Bãi cát cao, di động chịu tác động của sóng;
7 – Vùng đất ngập triều đều đặn tự nhiên ở ven các lạch, sông sâu;
8 – Trong các đầm nuôi thủy sản
Nghiên cứu của Đỗ Văn Nhượng và nnk (2004) [17] cho thấy mật độ và sinh khối của động vật đáy ở trong RNM ở VQG Xuân Thủy đa dạng và phong phú hơn phía ngoài RNM, số cá thể cao nhất đạt đến 76 cá thể và sinh khối cao nhất là 84,8gam/m2 ở rừng tự nhiên, đạt đến 275 cá thể và sinh khối tới 134,9g/m2 bao gồm nhiều nhóm động vật đáy ở rừng trồng 3 tuổi
RNM là nguồn cung cấp củi, nguyên liệu hầm than cho các cộng đồng Tuy nhiên, RNM tại VQG Xuân Thuỷ được bảo vệ, chưa có kế hoạch khai thác, tỉa thưa nên gần như không cung cấp lượng gỗ củi nào cho các cộng đồng địa phương Tuy nhiên, để đảm bảo không gian dinh dưỡng của cây, trong tương lai cần phải tiến hành tỉa thưa Người dân có thể sử dụng sản phẩm tỉa thưa làm chất đốt CNM cũng có hiện tượng tự tỉa thưa, cung cấp một lượng nhỏ chất đốt cho người dân địa phương
RNM tại VQG Xuân Thuỷ nằm trong hệ thống rừng đặc dụng ở Việt Nam Với nguồn gen thực vật phong phú, được hình thành trong quá trình tiến hoá lâu dài tạo nên hệ CNM với các loài có đặc điểm cấu tạo, hình thái, sinh lý, độc đáo, thích nghi với môi trường ngập triều và mặn ven biển Bên cạnh các loài CNM thực thụ địa phương, hiện nay tại VQG Xuân Thuỷ có một số loài CNM thực thụ di nhập từ các vùng khác ở Việt Nam hoặc quốc tế như Myamar
Thành phần loài chim khá phong phú, có tới 165 loài thuộc 38 họ, 14 bộ, trong
đó 72 loài chim di cư và 93 loài chim định cư, một số loài thuộc dạng quý hiếm, có giá trị bảo tồn cao (Bảng 3.3)
Bảng 3.3: Các loài chim qúy hiếm có giá trị bảo tồn (Lê Đình Thủy, 2004) [23]
(2000)
SĐVN (2000)
NĐ48 (2002)
1 Bồ nông chân xám Pelecanus philippensis VU Bậc R
3 Choắt chân màng lớn Limnodromus semipalmatus NT Bậc R
4 Choắt mỏ thìa Eurynohynchus pygmaeus VU
6 Cò trắng Trung quốc Egretta eulophotes VU
Trang 39Số lượng của các đàn chim di cư về các bãi triều Cồn Lu, Cồn Ngạn thay đổi thất thường, song có xu hướng giảm dần hàng năm (Vũ Trung Tạng, 2005)[21]
3.1.2.2 Dịch vụ điều hoà
- Điều hoà khí hậu: RNM đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà khí hậu,
ảnh hưởng đến lượng mưa và nhiệt độ Hệ sinh thái RNM giúp cân bằng O2 và CO2trong khí quyển, điều hoà khí hậu địa phương (nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa) và giảm hiệu ứng nhà kính.Theo Lê Xuân Tuấn, Mai Sỹ Tuấn(2005)[27] hàm lượng CO2của nước trong rừng (7,38mg/l) thấp hơn nơi không có rừng (7,63mg/l) Sự khác nhau thể hiện rõ nhất vào tháng 3 (2,6mg/l), các tháng còn lại sự sai khác không đáng kể Mức độ dao động hàm lượng CO2 của nước trong rừng (5,6->9mg/l) thấp hơn nơi không có rừng (5,6 -> 11,3mg/l)
Cả khi triều lên và triều xuống hàm lượng khí CO2 của nước ở trong rừng (6,47mg/l; 8,28mg/l) đều thấp hơn nơi không có rừng(6,85mg/l; 8,42mg/l) Mức độ ảnh hưởng của thủy triều đến hàm lượng khí CO2 của nước ở trong rừng (5,6 -> 9mg/l) thấp hơn nơi không có rừng (5,6 -> 11,3mg/l), điều đó chứng tỏ hoạt động quang hợp của rừng ngập mặn đã góp phần điều hoà lượng khí CO2 ở mức thấp không ảnh hưởng đến sự sống của động vật thủy sinh
Sự khác nhau trên có thể do trong rừng mật độ thủy sinh vật, hàm lượng chất hữu cơ nhiều hơn và khả năng trao đổi khí giữa nước với khí quyển thấp hơn nên hàm lượng khí CO2 thấp hơn và ít biến động hơn Sự giảm hàm lượng khí CO2 nơi có rừng
đã làm cho pH của nước cao phù hợp với điều kiện sống của thủy sinh vật
Theo tính toán của TEPCO/MERD (2005)[46], RNM có khả năng tích luỹ CO2
ở mức độ cao, RNM 15 tuổi giảm được 90,24 tấn CO2/ha/năm, tác dụng lớn làm giảm hiệu ứng nhà kính
- Ngăn ngừa xói lở: Thảm thực vật ngập mặn (TTVNM) đóng vai trò quan
trọng trong việc hạn chế xói lở Nhờ đặc tính thích nghi đặc biệt của hệ rễ, các CNM
đã đứng vững trên vùng đất cửa sông ven biển, thích ứng với các chế độ triều và ảnh hưởng của sóng TTVNM với hệ rễ phát triển dày đặc của các loài CNM Hàng năm các loài cây tiên phong lấn dần tạo ra lớp che phủ tốt cho mặt đất Theo Mazda và nnk (1997)[41], rừng trang trồng ven biển Thụy Hải giúp giảm đáng kể tác động của sóng trong khoảng thời gian 5-8 giây và nhờ vậy giúp bảo vệ bờ biển Dải RNM 6 tuổi rộng
Trang 40Do mật độ TTVNM cao nên luôn mang lại hiệu quả giảm sóng ngay cả khi mực nước dâng cao RNM ở VQG Xuân Thuỷ với nhiều tầng tán (nhiều tuổi rừng khác nhau) đã thể hiện được vai trò của chúng trong việc hạn chế xói lở
- Bảo vệ vùng ven biển khỏi tác động của bão, gió: TTVNM có thể che chắn
bảo vệ các công trình cơ sở hạ tầng, mùa màng, nơi cư trú của người dân, các phương tiện đánh bắt khỏi sự phá hoại của gió mạnh Sự có mặt của RNM hạn chế rất nhiều thiệt hại do sóng, bão dẫn đến tác dụng bảo vệ đê biển ở Giao Thuỷ Ví dụ, tác dụng của RNM Giao Thuỷ đã thể hiện rất rõ qua các cơn bão mạnh đổ bộ vào miền Bắc Việt Nam trong các năm 2004-2005 Nơi nào có RNM đê biển được bảo vệ và không bị xói
lở Sự hiện diện của RNM khiến cho sóng biển giảm biên độ nên nước mặn đã không tràn qua được mặt đê biển, giảm thiệt hại cho đất canh tác ở phía trong đê
- Xử lý chất thải và và làm sạch nước: Hệ sinh thái RNM tham gia vào các quá
trình hấp thụ các chất thải, lọc và làm lắng các chất thải Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào được tiến hành trực tiếp tại RNM Giao Thuỷ
- Khả năng thụ phấn: Việc tăng diện tích RNM dẫn tới tăng khả năng thụ phấn
của các loài ong tốt hơn, tuy nhiên chưa có nghiên cứu minh chứng riêng cho RNM ở giao Thủy
3.1.2.3 Dịch vụ văn hoá
- Giá trị giáo dục: Hệ sinh thái RNM đã cung cấp cơ sở cho việc giáo dục chính
thức và không chính thức Tháng 5 năm 2001, Ban Nghiên cứu Hệ sinh thái Rừng ngập mặn (MERD) của Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (CRES) đã
tổ chức cho 200 học sinh của 4 trườngTHCS ở huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định một
số hoạt động tuyên truyền và giáo dục môi trường của MERD, bao gồm:
+ Hội thảo quốc gia về "Giáo dục môi trường (RNM) trong các trường học", tổ chức tại Hà Nội ngày 5-7 tháng 10
+ Cuộc thi sáng tác: "Vì môi trường của chúng ta" phát động trong bốn tháng từ đầu tháng 5 tới cuối tháng 8, nhằm khuyến khích phong trào sáng tác về môi trường và
về RNM trong giáo viên, sinh viên và học sinh
+ Các lớp tập huấn cho giáo viên, hội viên Hội Chữ thập đỏ của hai tỉnh Nam Định và Thái Bình về phương pháp sưu tập và bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học, giáo dục bảo vệ môi trường và các phương pháp điều tra kinh tế xã hội vùng ven biển
+ Hỗ trợ một số trường THCS ở ven biển Nam Định và Thái Bình xây dựng phòng trưng bày đa dạng sinh học và môi trường, tạo điều kiện cho học sinh nâng cao
ý thức hiểu biết về tài nguyên ven biển và bảo vệ môi trường