1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và năng lực ứng phó của cộng đồng miền núi xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái

108 629 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 3,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả thuyết nghiên cứu Với việc áp dụng cách tiếp cận liên ngành, dựa trên hệ sinh thái, dựa vào cộng đồng và các phương pháp nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương và năng lực VCA, đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SAU ĐẠI HỌC

LƯƠNG NGỌC CƯƠNG

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

VÀ NĂNG LỰC ỨNG PHÓ CỦA CỘNG ĐỒNG MIỀN NÚI

XÃ Y CAN, HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SAU ĐẠI HỌC

LƯƠNG NGỌC CƯƠNG

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

VÀ NĂNG LỰC ỨNG PHÓ CỦA CỘNG ĐỒNG MIỀN NÚI

XÃ Y CAN, HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Trương Quang Học

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Lương Ngọc Cương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn khoa học, Thầy giáo GS.TSKH Trương Quang Học là người đã nhiệt tình hướng dẫn, góp ý, chỉnh sửa và động viên trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ Khoa Sau đại học - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện và hướng dẫn hoàn thành chương trình học tập và thực hiện luận văn

Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ và người dân xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái – những người đã cung cấp thông tin giúp tôi hoàn thiện luận văn này

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và những người luôn động viên, khích lệ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Hà nội, năm 2015

Tác giả

Lương Ngọc Cương

Trang 5

i

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC HÌNH iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT iv

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 9

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, ĐỊA ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.2 Phạm vi nghiên cứu 16

2.3 Địa điểm nghiên cứu 16

2.4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 16

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25

3.1 Đặc trưng về tự nhiên, kinh tế và xã hội khu vực nghiên cứu 25

3.2 Diễn biến của các yếu tố BĐKH tại xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 34

3.3 Tình hình, đặc điểm của nhóm hộ điều tra 51

3.4 Tác động và tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đối với xã Y Can 58

3.5 Năng lực ứng phó với BĐKH của cộng đồng 64

3.6 Đề xuất các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu cho xã Y Can 75

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79

Kết luận 79

Khuyến nghị 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHIẾU ĐIỀU TRA 88

DANH SÁCH NGƯỜI THAM GIA TRẢ LỜI PHIẾU ĐIỀU TRA 93

DANH SÁCH CÁN BỘ THAM GIA PHỎNG VẤN SÂU 100

Trang 6

ii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Đặc trưng mực nước sông Hồng tại trạm Yên Bái năm 2009 27

Bảng 3.2: Đặc trưng nhiệt độ tháng (0C) tại Yên Bái 34

Bảng 3.3: Đặc trưng mưa tháng (mm) tại trạm Yên Bái 37

Bảng 3.4: Thiên tai chính tại xã Y Can 41

Bảng 3.5: Các khu vực và diện tích xảy ra khi ngập úng 43

Bảng 3.6 Hệ số tương quan của nhiệt độ 44

Bảng 3.7: Mức tăng nhiệt độ (oC) trung bình so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) của tỉnh Yên Bái 45

Bảng 3.8: Mức tăng nhiệt độ (oC) trung bình năm so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) cho tỉnh Yên Bái 47

Bảng 3.9 Mức tăng nhiệt độ tối cao trung bình (oC) theo mùa qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980-1999 của Yên Bái ứng với kịch bản phát thải TB (B2) 47

Bảng 3.10 Mức tăng nhiệt độ tối thấp trung bình (oC) theo mùa qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980-1999 của Yên Bái ứng với kịch bản phát thải TB 48

Bảng 3.11: Mức thay đổi (%) lượng mưa so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) của tỉnh Yên Bái 49

Bảng 3.12: Mức thay đổi (%) lượng mưa năm so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) của Tỉnh Yên Bái 49

Bảng 3.13: Mức thay đổi lượng mưa ngày lớn nhất (%) vào cuối thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980-1999 51

Bảng 3.14: Đặc điểm các hộ gia đình tham gia điều tra 52

Bảng 3.15: Sinh kế của các hộ gia đình 54

Bảng 3.16: Đánh giá của người dân về BĐKH 56

Bảng 3.17: Đánh giá về mức độ ảnh hưởng của BĐKH đến đời sống, KT-XH 57

Bảng 3.18: Các loại thiên tai tại địa phương 58

Bảng 3.19 Những kinh nghiệm để ứng phó với thiên tai 74

Trang 7

iii

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững của DFID 6

Hình 1.2 Khung lý thuyết nghiên cứu 8

Hình 1.3: Xu thế nhiệt độ 2m 13

Hình 1.4: Xu thế lượng mưa ngày và lươngh mưa trung bình năm 14

Hình 2.1 Sơ đồ mối tương tác của BĐKH và các hợp phần của hệ sinh thái - nhân văn (A) và tính liên ngành cao của các kiến thức trong nghiên cứu - triển khai và ứng phó với BĐKH 17

Hình 3.1: Bản đồ xã Y Can trong huyện Trấn Yên 25

Hình 3.2: Xu thế biến đổi nhiệt độ 36

Hình 3.3: Xu thế lượng mưa trung bình năm 38

Hình 3.4: Xu thế lượng mưa mùa mưa 39

Hình 3.5: Xu thế lượng mưa mùa khô 40

Hình 3.6: Hồ sơ lịch sử thiên tai xã Y Can 41

Hình 3.7: Dấu tích còn lại sau trận lũ năm 1968 42

Hình 3.8: Diễn biến nhiệt độ trung bình từ năm 2020-2100 theo kịch bản B2 46

Hình 3.9: Diễn biến lượng mưa trung bình từ năm 2020-2100 theo kịch bản B2 50

Hình 3.10: Sâu ăn lá cây bồ đề làm thiệt hại hàng trăm ha mỗi năm 59

Hình 3.11: Sơ đồ thiên tai xã Y Can 61

Hình 3.12 Chương trình hành động của Huyện ủy Trấn Yên 66

Hình 3.13: Mô hình VAC 76

Trang 8

iv

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

CBA Community Based Approach Tiếp cận dựa vào cộng đồng

COP Conference of the Parties Hội nghị cấp cao Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu

IPCC Intergovernmental Panel on Climate Change Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu IUCN International Union for

Conservation of Nature Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế

MONRE Ministry of Natural Resources and Environment Bộ Tài nguyên và Môi trường

PRA Participatory Rural Appraisal Bộ công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia PTBV Suitainable development Phát triển bền vững

UNDP United Nations Development Programme Chương trình phát triển Liên hợp quốc UNEP United Nations Environment Programme Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc UNFCCC United Nations Framework Convention on Climate Change Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu

WMO World Meteorological Organization Tổ chức Khí tượng Thế giới

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức to lớn với nhân loại và Việt Nam trong thế kỷ 21 Việt Nam được nhận diện là một trong năm quốc gia chịu tác động nặng nề nhất của nước biển dâng và là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi BĐKH (WB, 2007) Trong 10 năm gần đây (1997 - 2006), các loại thiên tai như: bão, lũ, hạn hán và các thiên tai khác đã làm thiệt hại đáng kể về người và tài sản, đã làm chết và mất tích gần 7.500 người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP Mức độ thiên tai ở Việt Nam ngày càng gia tăng cả

về quy mô cũng như chu kỳ lặp lại kèm theo những đột biến khó lường (Quyết định của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020, 2007)

Hậu quả của BĐKH đối với Việt Nam là nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ

và sự phát triển bền vững của đất nước Các lĩnh vực, ngành, địa phương dễ bị tổn thương và chịu tác động mạnh mẽ nhất của BĐKH là: tài nguyên nước, nông nghiệp

và an ninh lương thực, sức khoẻ (Bộ Tài nguyên và Môi Trường, 2008)

Báo cáo Phát triển Con người của UNDP năm 2007/2008 đã chỉ ra rằng thiên tai là một nguyên nhân chính gây ra đói nghèo và tính dễ bị tổn thương tại Việt Nam Hầu hết những người nghèo sống tại nông thôn và kiếm sống bằng các hoạt động nông – lâm nghiệp Hiện nay, Việt Nam vẫn là một quốc gia nông nghiệp với 75% dân số là nông dân và 70% diện tích đất đai là nông thôn, nơi đời sống của người dân phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên thiên nhiên và điều kiện tự nhiên Hơn nữa, sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam vẫn là sản xuất qui mô nhỏ với đầu tư khoa học công nghệ không đáng kể Điều đó có nghĩa là sản xuất nông nghiệp vẫn còn quá lệ thuộc vào điều kiện thiên nhiên Đây là một thách thức rất lớn trong bối cảnh BĐKH vì bất kỳ sự thay đổi nhiệt độ nào hay sự bất thường của thời tiết khí hậu đều sẽ có tác động lớn đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với gieo trồng Sự bất thường của chu kỳ khí hậu nông nghiệp sẽ không chỉ dẫn đến gia tăng dịch bệnh ở cây trồng mà còn làm giảm sản lượng cũng như các bất lợi không lường trước khác nữa Sự gia tăng thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan như bão, lụt, hạn hán… sẽ có tác động trực tiếp và mạnh

mẽ đến lâm nghiệp và thủy sản Đã có khá nhiều thiệt hại về cây trồng tại nhiều vùng

Trang 10

2

ở Việt Nam trong những năm gần đây do ngập lụt và hạn hán Tại miền núi (Tây Bắc, Đông Bắc và Tây Nguyên), sinh kế của người dân, đặc biệt là người dân tộc, phụ thuộc chủ yếu vào rừng và đa dạng sinh học trong rừng Trong bối cảnh BĐKH, sự mất đa dạng sinh học có thể ảnh hưởng đến sinh kế của người dân trong tương lai Ngoài ra, năng lực của người nghèo (cả về tài chính và cơ sở vật chất) là rất hạn chế khiến họ khó có thể thích ứng với BĐKH Nhìn chung, BĐKH sẽ tác động nhiều nhất

và nặng nề nhất đến người nghèo, đặc biệt người nghèo tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Tác động của BĐKH là không như nhau trên khắp Việt Nam

Do sự bất bình đẳng giới còn phổ biến nên phụ nữ là nhóm bị ảnh hưởng nhiều hơn so với nam giới Sự nhạy cảm đối với BĐKH cũng không như nhau giữa các nhóm người Những người nghèo, các hộ gia đình ở nông thôn và phụ nữ, những người phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên và có các hoạt động kiếm sống phụ thuộc nhiều vào thời tiết là những nhóm người nhạy cảm hơn cả với BĐKH Năng lực thích ứng cũng khác nhau giữa nam và nữ và các nhóm người trong xã hội do sự khác biệt về giới, sự khác nhau trong mối quan hệ xã hội và mức độ nghèo khó (Trương Quang Học và Nguyễn Đức Ngữ, 2010)

Trong bối cảnh BĐKH trên toàn cầu và ở Việt Nam, vùng miền núi Tây Bắc là nơi chịu tác động lớn của BĐKH chỉ sau vùng đồng bằng sông Cửu Long, sông Hồng

và duyên hải miền Trung Trong khi đó điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ

hộ nghèo khu vực Tây Bắc cao nhất cả nước 25,86% (trong khi đó tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 7,8%) (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, 2013), tỷ lệ người dân tộc thiểu

số cao 63% Trong những năm gần đây, có nhiều loại thiên tai xảy xa gây thiệt hại lớn như lũ quét, lũ ống, sạt lở đất, lũ sông, lũ suối, rét đậm, rét hại, hạn hán

Xã Y Can có thể đại diện cho vùng miền núi Tây Bắc, là một xã miền núi, địa hình phức tạp Địa hình của xã có cả vùng thấp ven sông và vùng núi cao Xã có cả người Kinh và người dân tộc thiểu số sinh sống Sinh kế của người dân chủ yếu từ nông lâm nghiệp, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên Nơi đây thường đối mặt với các loại thiên tai như: lũ sông, lũ suối, lũ quét, rét đậm, rét hại và hạn hán ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông lâm nghiệp và đời sống của người dân

Nhằm đánh giá tác động của BĐKH và năng lực ứng phó của cộng đồng, từ đó khuyến nghị các biện pháp ứng phó sao cho phù hợp cho xã Y Can, huyện Trấn Yên

và vùng Tây Bắc, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH và năng

Trang 11

3

lực ứng phó của cộng đồng miền núi xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.” cho

luận văn tốt nghiệp

Hơn nữa trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, thu thập tài liệu, thông tin, lập kế hoạch thực hiện, phân tích số liệu, viết luận văn là một quá trình học hỏi từ thực tế sau khi tôi đã được trang bị các kiến thức trên lớp Đây là quá trình tự học hỏi, học hỏi thông qua trải nghiệm, học hỏi từ nhiều kênh khác nhau, từ những người dân địa phương đến các cán bộ trực tiếp làm việc Là cơ hội tốt để tôi củng cố thêm những kiến thức về BĐKH

2 Mục tiêu nghiên cứu

 Đánh giá được tác động của BĐKH đến tự nhiên, KT-XH, đặc biệt là sinh kế tại

3 Câu hỏi nghiên cứu

 Những đặc trưng về tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương có liên quan đến BĐKH là gì?

 Các yếu tố thời tiết, khí hậu diễn biến như thế nào tại địa phương trong quá khứ, hiện nay và trong tương lai?

 Tác động của BĐKH đến đời sống, xã hội, sức khỏe và sinh kế của cộng đồng

Y Can như thế nào?

 Năng lực về ứng phó của cộng đồng miền núi xã Y Can với BĐKH như thế nào?

 Các giải pháp nào để nâng cao tính chống chịu của cộng đồng nhằm ứng phó

với BĐKH?

4 Giả thuyết nghiên cứu

Với việc áp dụng cách tiếp cận liên ngành, dựa trên hệ sinh thái, dựa vào cộng đồng và các phương pháp nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương và năng lực (VCA), đánh giá nông thông có sự tham gia (PRA) và việc thu thập các thông tin định lượng và định tính, số liệu thời tiết, khí hậu, nghiên cứu kịch bản BĐKH, sẽ đánh giá được tác động, năng lực ứng phó với BĐKH của địa phương nghiên cứu Từ đó cũng sẽ đề xuất

được các giải pháp ứng phó/tăng cường tính chống chịu với BĐKH cho địa phương

Trang 12

4

5 Kết cấu luận văn

Luận văn có cấu trúc theo quy định, gồm các phần chính sau:

Phần mở đầu: Đây là phần nêu lên tính cấp thiết cấp thiết nghiên cứu này, lý do tại sao cần nghiên cứu, đưa ra các mục tiêu nghiên cứu cũng như các câu hỏi nghiên cứu Bên cạnh đó đưa ra giả thuyết cho nghiên cứu này

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu Chương này đưa ra một số khái niệm đề cập trong luận văn, thống nhất về cách hiểu một số khái niệm Phần này cũng đề cập đến tính liên ngành trong nghiên cứu BĐKH Khung lý thuyết cho nghiên cứu này được tóm tắt và sơ đồ hóa toàn bộ tiến trình thực hiện Ngoài ra, phần rất quan trọng của chương này đó là tìm hiểu, xem xét các nghiên cứu trong và ngoài nước cũng như địa bàn nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu đó như thế nào, điểm nào chưa làm, để nghiên cứu này không bị trùng lặp Cũng từ đó xem có thể kế thừa các kết quả nghiên cứu đã công bố

Chương 2: Đối tượng, phạm vi, địa điểm, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu Chương này mô tả chi tiết các phương pháp nghiên cứu đã thực hiện, cách tiếp cận đã sử dụng Cũng như mô tả về phạm vi về thời gian, không gian, quy mô, địa bàn nghiên cứu Cho biết các đối tượng nghiên, những ai đã tham gia trong quá trình nghiên cứu, yếu tố nào được nghiên cứu

Chương 3: Kết quả và thảo luận Đây là chương mô tả chi tiết kết quả nghiên cứu, các phát hiện trong quá trình nghiên cứu Bên cạnh đó là các bàn luận, thảo luận, nhận định, đánh giá về các phát hiện

Kết luận và khuyến nghị Đây là phần tóm tắt từ kết quả nghiên cứu Xem xét mục tiêu nghiên cứu có đạt hay không? Các câu hỏi nghiên cứu đã được trả lời chưa? Giả thuyết nghiên cứu đã đáp ứng chưa? Từ kết quả nghiên cứu đưa ra các kết luận, nhận định ngắn gọn của nghiên cứu Từ đó đưa ra một vài khuyến nghị cho địa phương và các bên liên quan nghiên cứu này

Trang 13

5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm

BĐKH: Biến đổi khí hậu là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có

thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của

nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển (IPCC, 2007)

Ứng phó với BĐKH: Là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm

nhẹ BĐKH Như vậy, ứng phó với BĐKH gồm hai hợp phần chính là thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008)

Giảm nhẹ BĐKH là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí nhà kính (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008)

Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008)

Thích ứng và giảm nhẹ BĐKH đóng vai trò quan trọng và là nền tảng cơ bản để giải quyết các vấn đề của BĐKH Các khái niệm về thích ứng và giảm nhẹ BĐKH cho thấy giảm nhẹ BĐKH sẽ giảm tất cả các tác động (tích cực và tiêu cực) của BĐKH và do

đó giảm các cơ hội thích ứng; trong khi đó thích ứng BĐKH có thể phát huy các tác động tích cực và giảm các tác động tiêu cực của BĐKH

Sinh kế: Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực

vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống (DFID, 1999, 2007)

Sinh kế bền vững: Một sinh kế được gọi là bền vững khi có khả năng ứng phó

và phục hồi khi bị tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng của các nguồn lực tự nhiên (DFID, 2007)

Khung sinh kế bền vững được DFID xây dựng với các nhân tố: khung hoàn cảnh dễ bị tổn thương, tài sản sinh kế, cấu trúc chuyển đổi và quá trình thực hiện, các chiến lược sinh kế và kết quả Trong các nhân tố trên thì nhân tố đóng vai trò trung

Trang 14

6

tâm của khung sinh kế bền vững là tài sản sinh kế với 5 loại vốn: tự nhiên, nhân lực, tài chính, vật chất và xã hội

(Nguồn DFID, 2007)

Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững của DFID

Cộng đồng: Cộng đồng được khái niệm như là một hệ thống xã hội, một nhóm

người cùng có những đặc điểm chung Ví dụ: đặc quyền, đặc lợi, sống với nhau, cùng

chia sẻ những tài nguyên và lợi ích chung…Nói một cách khác, Cộng đồng là một

nhóm người cùng sống với nhau trong một khu vực nhất định, họ có chung đặc điểm

về tâm lý, tác động qua lại và sử dụng các tài nguyên vốn có để đạt được mục đích chung (Phí Thị Hồng Minh, 2005)

Xây dựng năng lực: Xây dựng năng lực trong bối cảnh BĐKH là quá trình phát

triển các kỹ năng công nghệ và những năng lực thể chế ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi để giúp họ có thể tham gia vào tất cả các lĩnh vực: thích ứng, giảm nhẹ và nghiên cứu về BĐKH nhằm thực hiện Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (UNFCCC) và Nghị định thư Kyoto (KP) (Trương Quang Học, 2011)

Tính chống chịu: là khả năng của một hệ thống chịu được các nhiễu loạn mà

không bị phá vỡ và chuyển sang một trạng thái biến đổi về chất khác Một hệ thống có khả năng chống chịu có thể hấp thu các nhiễu loạn, thay đổi hoặc điều chỉnh, sau đó tái

tổ chức và vẫn giữ được các cấu trúc cơ bản và cách vận hành của nó (Trương Quang Học, 2013)

CHIẾN LƯỢC SINH

KẾ

KẾT QUẢ SINH KẾ

- Tăng thu nhập

- Tăng mức sống

- Giảm tình trạng dễ bị tổn thương

- Cải thiện an ninh lương thực

- Tăng tính bền vững khi sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên

H

S

P F

N

H: Nguồn vốn con người (Human Capital) F: Nguồn vốn tài chính (Financial Capital)

N: Nguồn vốn tự nhiên (Natural Capital) P: Nguồn vốn vật chất (Physical Capital)

S: Nguồn vốn xã hội (Social Capital)

Trang 15

7

1.1.2 Tính hệ thống và liên ngành trong nghiên cứu biến đổi khí hậu

Theo báo cáo tổng hợp “BĐKH 2007” của IPCC, chiến lược giảm nhẹ BĐKH cũng như chiến lược thích ứng đều là hợp phần của chính sách ứng phó với BĐKH

Do đó, nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH, nguy cơ tổn thương nhằm có giải pháp ứng phó kịp thời là rất cần thiết Để thích ứng với BĐKH cần phải lường trước được tác động của BĐKH sẽ gây ảnh hưởng như thế nào đối với từng đối tượng cụ thể

Mà muốn đánh giá được tác động của nó cần phải xác định được kịch bản của BĐKH Những tính toán này càng chính xác bao nhiêu thì công tác ứng phó với BĐKH (nhằm thích ứng và giảm nhẹ BĐKH) càng hiệu quả bấy nhiêu

Vì vậy, nghiên cứu triển khai về BĐKH cần phải đặt dưới sự liên kết của nhiều ngành khoa học khác nhau Việc nghiên cứu BĐKH có thể được chia thành 3 nhóm nhiệm vụ lớn: (i) Bản chất, nguyên nhân và cơ chế vật lý của sự BĐKH; (ii) Đánh giá tác động của BĐKH, tính dễ bị tổn thương do BĐKH và giải pháp thích ứng; (iii) Giải pháp, chiến lược và kế hoạch hành động nhằm thích ứng và giảm thiểu BĐKH Xét trên quy mô toàn cầu, về logic, việc nghiên cứu BĐKH cần phải được thực hiện một cách tuần tự theo các bước trên (Trương Quang Học, 2007, 2011a)

Ở quy mô đề tài này cần xem xét, nghiên cứu đến các lĩnh vực mà đã và đang chịu tác động của BĐKH đó là về nông nghiệp, lâm nghiệp, sức khỏe, tự nhiên, xã hội, thể chế, chính sách và các mặt của đời sống Ngoài ra khi nghiên cứu cho xã Y Can không chỉ nghiên cứu ở quy mô trong xã mà xem xét đến các cấp cao hơn như cấp huyện và cấp tỉnh

1.1.3 Khung lý thuyết nghiên cứu

Khung lý thuyết là mô tả những vấn đề chính được nghiên cứu trong luận văn,

sơ đồ hóa các vấn đề nghiên cứu (hình 1.2)

Trang 16

8

(Nguồn: Lương Ngọc Cương, 2014)

Hình 1.2 Khung lý thuyết nghiên cứu

Nghiên cứu này đánh giá chủ yếu tác động của BĐKH và năng lực của cộng đồng trong ứng phó BĐKH Đánh giá giá tác động của BĐKH trong quá khứ, hiện tại

và tương lai Đánh giá các lĩnh vực chính mà BĐKH tác động đến, các khu vực bị tác động như thế nào Đánh giá năng lực cộng đồng bao gồm đánh giá 6 nguồn lực cộng đồng, cơ cấu tổ chức, thể chế chính sách, kiến thức bản địa, Kế hoạch phát triển kinh

tế xã hội 5 năm (2015-2020), các hỗ trợ từ bên ngoài Từ đó đề xuất các giải pháp ứng phó với BĐKH cho địa phương

Trong các đánh giá này áp dụng đồng thời hai cách tiếp cận đó là cách tiếp cận

từ dưới lên và từ trên xuống Cách tiếp cận từ trên xuống là sử dụng các kết quả nghiên cứu, các phương pháp của các nhà khoa học, các số liệu quan trắc và các kịch bản BĐKH Cách tiếp cận từ dưới lên chủ yếu sử dụng các công cụ PRA để thu thập thông tin cả định lượng và tính từ người dân và cán bộ địa phương

Trang 17

9

1.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

1.2.1 Nghiên cứu trên thế giới

BĐKH đã được nhà khoa học Arrhenius người Thụy Điển, đề cập đến lần đầu tiên vào năm 1896 Ông cho rằng sự đốt cháy nhiên liệu hóa thạch sẽ dẫn đến khả năng cao hiện tượng nóng lên toàn cầu Đến cuối thập niên 1980, khi nhiệt độ bắt đầu tăng lên, các nghiên cứu về hiện tượng nóng lên toàn cầu được các nhà khoa học bắt đầu quan tâm nhiều hơn Ủy ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) được ra đời do Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) cùng với Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) đồng thành lập (năm 1988) nhằm đánh giá "các thông tin khoa học, kỹ thuật

và KT - XH cho phép tìm hiểu các nguy cơ của BĐKH do con người gây ra” Kể từ

đó đến nay nhiều tổ chức quốc tế và các nhà khoa học trên thế giới đã tập trung vào đánh giá tác động của BĐKH tại các khu vực, vùng lãnh thổ và đặc biệt là tại quốc gia được dự báo là sẽ hứng chịu nhiều rủi ro nhất do BĐKH trong đó có Việt Nam

Sự ra đời của IPCC vào thập kỷ 1980 đã đánh dấu bước quan trọng về nhận thức và hành động của toàn thế giới trước thảm họa BĐKH toàn cầu Là một tổ chức tiêu biểu, tập hợp trí tuệ từ nhiều các nhà khoa học từ nhiều các quốc gia trên thế giới, IPCC đã tổng hợp hàng loạt các nghiên cứu từ nguyên nhân đến hệ quả (sự tăng nhiệt

độ bề mặt trái đất, sự tăng lên của mực nước biển, cùng với những biến đổi về thời tiết, thủy văn, hải dương ), từ tác động của nó đối với tự nhiên, môi trường, các đối tượng

KT – XH đến việc xây dựng giải pháp thích ứng và chiến lược ứng phó toàn cầu Các báo cáo của IPCC là cơ sở cho các hội nghị toàn cầu về BĐKH như Hội nghị Thượng đỉnh của LHQ về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janeiro,1992; Hội nghị các bên nước tham gia UNFCCC (từ COP 1 đến COP 18)… Qua các báo cáo của IPCC, từ cuối thế kỷ XIX đến nay có thể nhận thấy được xu thế chung là nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng lên đáng kể Nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ XX

đã tăng lên 0,6oC (+/- 0,2oC); trên đất liền, nhiệt độ tăng nhiều hơn trên biển; thập kỷ

90 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua (IPCC, 2001)

BĐKH không chỉ đơn thuần tác động tới tự nhiên mà còn là thách thức về kinh

tế, xã hội của nhân loại Việc bỏ tiền ra chi phí cho việc khôi phục thiệt hại sau những thiên tai đã làm thâm hụt vào ngân sách các quốc gia Theo Nicolas Stem - chuyên gia kinh tế hàng đầu của Ngân hàng Thế giới (WB), thì trong vòng 10 năm tới, chi phí thiệt hại do BĐKH gây ra cho toàn thế giới ước tính khoảng 7.000 tỉ USD; nếu chúng ta

Trang 18

10

không làm gì để ứng phó thì thiệt hại mỗi năm sẽ chiếm khoảng 5 - 20% tổng sản phẩm nội địa (GDP), còn nếu chúng ta có những ứng phó tích cực để ổn định KNK ở mức 550 ppm tới năm 2030 thì chi phí chỉ còn khoảng 1% GDP (Nicholas Stern, 2007)

Trong phạm vi các nước Đông Nam Á, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố Năm 2010, Phan Văn Tân và một số tác giả đã nghiên cứu xu thế giáng thủy ngày cực đại từ năm 1961 đến năm 1998 cho khu vực Đông Nam Á và nam Thái Bình Dương Kết quả cho thấy số ngày mưa (ngày có lượng mưa từ 2mm trở lên) nhìn chung giảm đáng kể ở khu vực Đông Nam Á Phân tích số liệu giáng thủy ngày ở các nước khu vực Đông Nam Á trong thời kỳ từ 1950 đến 2000, đã chỉ ra rằng số ngày ẩm ướt (ngày có giáng thủy trên 1mm) có xu thế giảm ở hầu hết các nước này, trong khi

đó cường độ giáng thủy trung bình của những ngày ẩm ướt lại có xu thế tăng lên Số ngày khô liên tiếp cực đại năm có xu thế giảm ở những khu vực bị ảnh hưởng bởi giáng thủy trong thời kỳ gió mùa mùa đông Sự giảm hiện tượng mưa trong thời kỳ mùa khô cũng được tìm thấy ở Myanma

Một nghiên cứu của Badjeck và cộng sự năm 2010 ở Bangladesh về tác động của những dao động và thay đổi khí hậu đến sinh kế dựa vào thủy sản cho biết, sự ấm lên toàn cầu ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh lương thực, đe dọa sinh kế của 36 triệu ngư dân và ảnh hưởng đến gần 1,5 tỷ người tiêu dùng thủy sản trên thế giới Và để ứng phó với BĐKH thì cần chú ý: (i) cung cấp trước thông tin dự báo về BĐKH hỗ trợ cho lập kế hoạch ứng phó; (ii) cần công nhận và tận dụng các cơ hội có lợi từ BĐKH đối với ngành thủy sản, (iii) các chiến lược thích ứng với BĐKH cần được thiết kế trên quan điểm đa ngành, liên ngành, và (iv) phải ghi nhận những đóng góp tiềm năng của thủy sản trong các nỗ lực giảm nhẹ (Badjeck et al., 2010)

1.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam đã có nhiều các nghiên cứu đánh giá tác động BĐKH, đánh giá tác động của thiên tai Với vùng miền núi Tây bắc nước ta cũng đã có các nghiên cứu cụ thể trong Báo cáo “Phát triển bền vững miền núi Việt Nam – mười năm nhìn lại và các vấn đề đặt ra” của Trung Tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường – Đại học quốc gia

Hà nội Các nghiên cứu trong báo cáo này nói về phát triển miền núi Việt Nam, các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường; phát triển kinh tế, xã hội miền núi 10 năm qua và các vấn đề đặt ra; môi trường miền núi Việt Nam 10 năm qua: Văn hóa các dân tộc thiểu số miền núi Việt Nam Các lĩnh vực cụ thể như: dân số, phát triển

Trang 19

11

nông lâm nghiệp, kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp và đô thị hóa, thương mại và thị trường miền núi, chính sách đầu từ và phát triển miền núi, các thành phần kinh tế, định canh định cư, xóa đói giảm nghèo, an ninh lương thực, y tế, giáo dục, giới, văn hóa các dân tộc và các vấn đề môi trường, bảo vệ thiên nhiên, đa dạng sinh học, quản

lý rừng cộng đồng

Ngày 02/12/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 158/2008/QĐ – TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH (NTP-RCC) với mục tiêu chiến lược của Chương trình là nhằm nâng cao khả năng ứng phó với BĐKH của Việt Nam trong từng giai đoạn cụ thể; bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước, ổn định cuộc sống của nhân dân Kể từ đó, nhiều hoạt động nghiên cứu, ứng dụng đã được triển khai Một số cơ quan, ban, ngành chuyên phụ trách về vấn đề BĐKH cũng đã được thành lập nhằm nâng cao nhận thức cho cộng đồng về BĐKH và tác động của nó Nhiều dự án do nước ngoài tài trợ đã được triển khai nhằm đánh giá tác động của BĐKH và năng cường năng lực, tăng cường khả năng chống chịu của cộng đồng trước những tác động của BĐKH Một số đề tài, dự án nghiên cứu đánh giá BĐKH và tác động của nó cũng đã được thực hiện dựa trên các nguồn kinh phí của nhà nước và địa phương Đặc biệt, trong khuôn khổ Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với BĐKH, nhiều đề tài, dự án cũng đã và đang được triển khai Những hoạt động trên đã đem lại những hiệu quả nhất định trong vấn đề nâng cao nhận thức của cộng đồng về BĐKH ở Việt Nam

Năm 2010, Phan Văn Tân và cộng sự đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu đến các yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan ở Việt Nam, khả năng dự báo và giải pháp chiến lược ứng phó” và có các kết quả: 1) Đánh giá được mức độ, tính chất và xu thế biến đổi của các yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan ở Việt Nam và tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu đến sự biến đổi đó trong gần nửa thế kỷ qua; 2) Đã lựa chọn và ứng dụng các mô hình thống kê thích hợp vào

dự báo mùa một số yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan và thử nghiệm, đánh giá khả năng áp dụng cho Việt Nam; 3) Đã lựa chọn và thử nghiệm ứng dụng các mô hình khí hậu khu vực thích hợp có khả năng mô phỏng các trường khí hậu cơ bản và các yếu tố, hiện tượng khí hậu cực đoan ở Việt Nam; 4) Đã thử nghiệm ứng dụng các mô hình khí hậu toàn cầu kết hợp khí quyển – đại dương và các mô hình khu vực để dự báo mùa và xây dựng qui trình dự báo mùa các trường khí hậu và các hiện tượng khí hậu cực đoan

Trang 20

12

ở Việt Nam; 5) Đã dự tính được sự biến đổi của các điều kiện khí hậu cực đoan trong tương lai ở Việt Nam bằng các mô hình khí hậu khu vực dựa theo các kịch bản biến đổi khí hậu; và 6) Đã đề xuất được một số giải pháp chiến lược ứng phó với các hiện tượng khí hậu cực đoan cho một số lĩnh vực và vùng địa lí trên lãnh thổ Việt Nam (Phan Văn Tân, 2010)

Viện Khoa học Khí tượng, Thủy văn và Môi trường (IMHEN) đã thực hiện rất nhiều các công trình, dự án liên quan đến BĐKH, như: Dự án “UNDP/UNITAR/GEF - CC: TRAIN (giai đoạn 1)” (1994-1996) với mục tiêu là giúp các nước xây dựng chính sách về BĐKH để thực hiện UNFCCC; Dự án “Chiến lược giảm nhẹ khí nhà kính với chi phí thấp nhất ở châu Á” (ALGAS) (1995-1997); Dự án “Kinh tế trong hạn chế phát thải khí nhà kính, Pha 1: Xây dựng phương pháp luận cho việc đánh giá giảm nhẹ BĐKH” 1999 Năm 2011 được sự tài trợ của Chương trình phát triển liên Hợp Quốc (UNDP), Viện đã thực hiện nghiên cứu và xây dựng tài liệu hướng dẫn “Đánh giá tác động của BĐKH và xác định các giải pháp thích ứng” Ngoài ra Viện được Bộ TN &

MT giao cho nhiều nhiệm vụ về nghiên cứu có liên quan đến BĐKH, Viện được giao nhiệm vụ xây dựng kịch bản BĐKH cho Việt Nam (2009) và kịch bản cập nhật (2012)

Các tổ chức phi chính phủ Quốc tế và trong nước cũng đã có nhiều nghiên cứu

về BĐKH, đặc biệt là có nhiều các nghiên cứu về đánh giá tác động của BĐKH Trong các nghiên cứu về BĐKH chủ yếu cho các vùng ven biển nhằm đánh giá tác động của nước biển dâng, sự xâm nhập mặn Các nghiên cứu tác động của BĐKH cho các lĩnh vực cũng được tiến hành trong đó lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, tài nguyên nước

là được nghiên cứu nhiều, trong đó lĩnh vực về sinh kế của người dân được tập trung nghiên cứu Các tổ chức có nhiều nghiên cứu về BĐKH đó là CARE, Oxfam, Plan quốc tế, Tầm nhìn thế giới, Live and Learn, Trung Tâm bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng (MCD), Trung tâm phát triển cộng đồng nông thôn bền vững (SRD)

Tổ chức CARE International nghiên cứu sự thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng trong đó đề cập tới tác động của BĐKH tới an ninh lương thực và thu nhập của người dân, nước sinh hoạt, sức khỏe và di dân Nghiên cứu cho thấy người nghèo và người dân vùng ven biển bị ảnh hưởng nhiều nhất Nghiên cứu ở Thanh Hóa cho thấy rằng các hiện tượng thời tiết cực đoan: hạn hán, ngập lụt, thay đổi mùa đã tác động tới sản xuất nông nghiệp làm cho thiếu đói, gia cầm, khai thác thủy sản bị ảnh hưởng (Morten Fauerby Thomsen, 2010, CARE International)

Trang 21

13

Trung tâm nghiên cứu và phát triển nông thôn (CRD) (Lâm Thị Thu Sửu và nnk, 2010) nghiên cứu thích ứng BĐKH dựa vào cộng đồng tại khu vực sông Hương, tỉnh Thừa Thiên Huế tập trung vào:

- Tìm hiểu những biện pháp thích ứng mà người dân địa phương và nhiều tổ chức đã thực hiện;

- Xác định các biện pháp thích ứng chính liên quan đến quản lý nguồn nước;

- Lựa chọn những giải pháp thích ứng hiệu quả cụ thể để hỗ trợ trực tiếp và làm đầu vào cho các kế hoạch địa phương

Tổ chức Oxfam tại Việt Nam và Viện Sau đại học về nghiên cứu môi trường, Trường Đại học Kyoto, Nhật Bản đã tiến hành nghiên cứu những lựa chọn để giải quyết rủi ro do hạn hán ở Việt Nam Trong nghiên cứu này tập trung vào phân tích ảnh hưởng của tần suất hạn hán tới sinh kế của cộng đồng tại các khu vực thường xuyên bị hán hán của tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đề cập tới cộng đồng cảm nhận như thế nào với hạn hán và thay đổi khí hậu, chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ làm sao để có thể đối phó với thảm họa từ thiên nhiên, đặc biệt đối với hạn hán.(Oxfam Việt Nam, 2010)

Trong một báo cáo nghiên cứu đã được công bố tháng 7 năm 2012 của 2 tác giả Ngô Đức Thành và Phan Văn Tân, Đại học quốc gia Hà nội đăng trên Tạp chí khoa học số 3S, 2012 về kết quả Kiểm nghiệm phi

tham số xu thế biến đổi của một số yếu tố

khí tượng cho giai đoạn 1961-2007 Báo cáo

kết luận xu thế biến đổi của 7 yếu tố khí

tượng trên lãnh thổ Việt Nam được đánh giá

cho giai đoạn 1961-2007 khi sử dụng

phương pháp kiểm nghiệm phi tham số

Mann-Kendall và phương pháp ước lượng

xu thế của Sen Kết quả cho thấy nhiệt độ

tăng rõ rệt trên toàn Việt Nam, trong đó

nhiệt độ cực tiểu tăng nhanh hơn nhiệt độ

cực đại ngày, đặc biệt trên khu vực Nam

Trung Bộ và Tây Nguyên Lượng mưa giảm ở phía Bắc vĩ tuyến 17 và tăng lên ở phía Nam Tốc độ gió cực đại ngày thể hiện xu thể giảm khá rõ, đặc biệt là ở khu vực Nam

Hình 1.3: Xu thế nhiệt độ 2m

Trang 22

14

Trung Bộ Sự biến đổi của độ ẩm tương đối cực tiểu ngày không thể hiện rõ qui luật, trong khi đó lượng bốc hơi tiềm năng có xu thế biến đổi rõ rệt, với mức tăng, giảm phụ thuộc vào từng vùng cụ thể Kết quả nghiên cứu cụ thể như sau:

- Về nhiệt độ: Trên toàn Việt Nam, T2m tăng rõ rệt trên hầu khắp các trạm Mức tăng cao (~0.035ºC/năm) được xác định cho khu vực miền Trung và một số trạm thuộc vùng Bắc Bộ Mức tăng phổ biến vào khoảng 0.015-0.025ºC/năm Một số trạm thể hiện xu thế nhiệt độ tăng nhưng giá trị tương đối nhỏ như trạm Hà Nam, Đà Lạt, Bảo Lộc, Phan Thiết (~0.012ºC/năm) Một số trạm khác tuy cho xu thế tăng nhưng không thoả mãn mức ý nghĩa 10% là Sapa, Bắc Quang, Thái Bình, Hà Tĩnh, Trường Sa Trạm Huế cho xu thế giảm, tuy nhiên lại không thoả mãn mức ý nghĩa 10% (hình 1.3)

- Về lượng mưa: Có thể thấy không giống như nhiệt độ, xu thế của lượng mưa biến động khá mạnh theo không gian Nhìn chung, khu vực phía Bắc giảm mưa trong khi khu vực từ Trung Trung Bộ (khoảng vĩ tuyến 17) trở vào lượng mưa có xu hướng tăng Điều này phù hợp với các nhận định từ các nghiên cứu trước đây Một điểm đáng lưu ý là xu thế giảm mưa từ Bắc Trung

Bộ trở ra nhìn chung là nhỏ và ít thoả

mãn mức ý nghĩa 10%, ngoại trừ một

số trạm thuộc khu vực đồng bằng sông

Hồng Trong khi đó, lượng mưa có xu

thế tăng rõ rệt nhất trên một số trạm

thuộc khu vực Nam Trung Bộ và Tây

Nguyên Khu vực Nam Bộ nhìn chung

có xu thế mưa tăng nhẹ, tuy nhiên

không thật rõ ràng (không thoả mãn

mức ý nghĩa 10%) Lý giải nguyên

nhân về sự phân hoá xu thế tăng mưa

tại hai miền khác nhau của Việt Nam

là một chủ đề khá quan trọng và thú vị

dành cho các nghiên cứu sâu hơn

trong tương lai (hình 1.4)

1.2.3 Nghiên cứu tại khu vực nghiên cứu

Hinh 2: Xu thế nhiệt độ 2m

Hình 1.4: Xu thế lượng mưa ngày và lươngh mưa trung bình năm

Trang 23

15

Thực hiện Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với BĐKH Tỉnh Yên Bái để xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH giai đoạn 2010-2015, UBND tỉnh đã phối hợp với Trung tâm Dữ liệu và Truyền thông phòng ngừa thiên tai – Bộ tài nguyên môi trường tiến hành đánh giá tác động của BĐKH đến các lĩnh vực vào tháng 4 năm 2011

Năm 2010, Trung tâm phát triển nông thôn bền vững (SRD) đã có một nghiên cứu nhỏ về Đánh giá sinh kế bền vững ứng phó với BĐKH Nghiên cứu này chỉ thực hiện cho ba xã của huyện Văn Yên, tuy nhiên báo cáo nghiên cứu chưa sâu về các tác động của BĐKH

Địa bàn xã Y Can và huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái chưa có nghiên cứu nào về đánh giá tác động BĐKH Do đó, với đề tài này là nghiên cứu đầu tiên Nó là căn cứ cho địa phương hoạch định các chính sách, xây dựng các chương trình dự án ứng phó với BĐKH, cũng như giúp cho việc lồng ghép ứng phó với BĐKH vào lập kế hoạch kinh tế xã hội của chính quyền địa phương và các ngành, lĩnh vực

Trang 24

16

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, ĐỊA ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP

LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tác động của BĐKH đến các lĩnh vực (sinh kế, sức khỏe, nguồn nước), vùng cảnh quan (núi cao, núi thấp, ven sông Hồng)

- Năng lực của cộng đồng xã Y Can trong ứng phó với BĐKH

- Các biện giải pháp ứng phó của cộng đồng với BĐKH

2.2 Phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Phạm vi thời gian

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01 năm 2014 đến tháng 11 năm 2014 Các

số liệu về nhiệt độ và lượng mưa được hồi cứu trong giai đoạn 1982 đến năm 2012

Ngoài ra các thông tin thu thập thông qua các công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) như hồ sơ lịch sử thiên tai, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, quan sát thực địa được thực hiện với những người cao tuổi nắm được các thiên tai đã từng diễn

ra tại địa phương

2.2.2 Phạm vi không gian

Nghiên cứu chủ yếu được thực hiện tại xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái Các số liệu về khí nhiệt độ và lượng mưa được thu thập tại trạm Khí tượng Thủy văn gần nhất đó là Trạm khí tượng thủy văn Yên Bái

Ngoài ra các cán bộ có liên quan về thiên tai và BĐKH của huyện, lãnh đạo UBND huyện cũng đã được phỏng vấn sâu Kịch bản BĐKH của tỉnh Yên Bái và của Việt Nam cũng được sử dụng trong nghiên cứu này

2.3 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái Ngoài ra, còn thu thập các thông tin từ cấp huyện thông qua phỏng vấn và thảo luận nhóm với cán bộ huyện

2.4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Cách tiếp cận

2.4.1.1 Cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái

Cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái đã được phát triển từ những năm 90 của thế

kỷ trước, là bước phát triển cao hơn của cách tiếp cận hệ thống, liên ngành Lúc đầu

Trang 25

17

chỉ nhằm mục đích phục vụ cho quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo tồn ĐDSH, sau đó được áp dụng rộng rãi cho PTBV và hiện nay cho ứng phó với BĐKH, theo nguyên tắc xây dựng/tăng cường tính chống chịu, thích ứng của các hệ sinh thái - xã hội

BĐKH và ứng phó với BĐKH là một hệ thống phức hợp nhất bao gồm 7 pha (phase) có tính hệ thống và liên quan chặt chẽ với nhau (IPCC, 2007, Sumi et al., 2011) (hình 2.1) Đó là: i) Pha 1: hoạt động kinh tế xã hội và phát thải khí nhà kính; Pha 2: Chu kỳ các bon và nồng độ các bon trong khí quyển; Pha 3: Ấm lên toàn cầu; Pha 4: Tác động tới các HST và xã hội; Pha 5: Thích ứng; Pha 6: Giảm nhẹ; và Pha 7:

Hệ thống xã hội Cơ sở khoa học để hiểu biết tường tận các pha này, nhất là pha 4, 5, 6

và 7 còn rất hạn chế (Sumi et al., 2011) (hình 2.1B)

Hình 2.1 Sơ đồ mối tương tác của BĐKH và các hợp phần của hệ sinh thái - nhân văn (A) và tính liên ngành cao của các kiến thức trong nghiên cứu - triển khai và

ứng phó với BĐKH (B: Pha 1: Các hoạt động KT-XH và phát thải KNK; Pha 2: Chu

kỳ cácbon và nồng độ CO 2 trong khí quyển; Pha 3: Sự ấm lên toàn cầu/ BĐKH; Pha 4: Tác động của BĐKH đến tự nhiên và đời sống xã hội; Pha 5: Thích ứng với BĐKH; Pha 6: Giảm nhẹ BĐKH; Pha 7: Hệ thống xã hội; Trung tâm của các pha này là sự ổn định của nồng độ CO 2 trong khí quyển) (Nguồn IPCC, 2007)

Thích ứng với BĐKH dựa trên hệ sinh thái (Ecosystem-based Adaptation/EBA)

là sử dụng các hệ tự nhiên và các dịch vụ HST như một hợp phần quan trọng trong chiến lược tổng thể để quản lý tổng hợp tài nguyên, giúp con người thích ứng với các tác động bất lợi từ BĐKH Mục đích của EBA là tăng cường sức chống chịu và khả năng phục hồi của các cộng đồng dân cư cũng như các hệ sinh thái thông qua các hoạt

Trang 26

18

động cụ thể như quản lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, quản lý tổng hợp vùng đầu nguồn… nhằm duy trì và khôi phục tính toàn vẹn các hệ sinh thái và các lợi ích mà hệ sinh thái mang lại (Trương Quang Học, 2008a, b; WB, 2010)

Ở Việt Nam, cách tiếp cận dựa trên HST được bắt đầu nghiên cứu và triển khai khá sớm trong quản lý tài nguyên; và hiện nay đang là cách tiếp cận được thử nghiệm trong nhiều chương trình, dự án thích ứng với BĐKH Tính chống chịu và thích ứng với BĐKH, đây đó đã được xây dựng nhưng mới chỉ giới hạn ở từng khía cạnh, từng

bộ phận, từng hợp phần của các hệ thống, mà chưa có cách nhìn và cách làm tổng thể, liên ngành cho toàn hệ thống và ở các cấp Trong tương lai, chúng ta cần tiếp tục xây dựng cơ sở khoa học và quy trình kỹ thuật hướng dẫn triển khai cách tiếp cận hệ sinh thái trong thực tế cho từng lĩnh vực, cho từng cấp và tổng thể cho phát triển bền vững

của đất nước (Trương Quang Học, 2013)

2.4.1.2 Cách tiếp cận dựa vào cộng đồng

BĐKH vừa mang tính toàn cầu lại vừa mang tính đặc thù cho từng vùng, miền, địa phương mà cộng đồng dân cư là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của BĐKH tại đó Theo các chuyên gia, cộng đồng có vai trò chủ chốt trong thích ứng

và ứng phó với BKH Cách tiếp cận dựa vào cộng đồng (CBA) là phương pháp bền vững Tiếp cận dựa vào cộn đồng dựa trên nguyên tắc “Thực hiện từ cộng đồng, dựa vào cộng đồng và làm lợi cho cộng đồng” nhằm nâng cao tính chủ động, tích cực của người dân vào các giải pháp ứng phó với thiên tai và BĐKH Cách tiếp cận dựa vào cộng đồng tạo ra sự linh hoạt, nhạy bén trong thích ứng với BĐKH, tận dụng lực lượng đông đảo cũng như huy động phương tiện sẵn có trong cộng đồng Thích ứng với BĐKH là việc làm cấp bách và có ý nghĩa, nhưng không dễ dàng, đòi hỏi sự tham gia của cộng đồng để có thành công nhanh và hiệu quả hơn Chính vì vậy, việc nâng cao nhận thức của cộng đồng và các biện pháp ứng phó với BĐKH cần được thực hiện rộng rãi hơn, thường xuyên hơn Có như vậy, người dân mới hiểu và có những phản ứng chủ động, có khoa học trước BĐKH

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để đánh giá được xu hướng diễn biến các yếu tố khí hậu trong thời gian qua, tác giả sử dụng chuỗi số liệu thống kê về khí tượng như nhiệt độ, lượng mưa trong 31 năm từ năm 1982 đến 2012 Thống kê độ ẩm năm 2009

Trang 27

19

Nhằm đánh giá tác động tiềm tàng của BĐKH, tác giả đã sử dụng kết hợp cả kịch bản BĐKH của tỉnh Yên Bái năm 2011 và kịch bản BĐKH cập nhật cho Việt Nam năm 2012 Các kịch bản BĐKH tỉnh Yên Bái và Việt Nam đều dựa vào kịch bản phát thải trung binh B2 Kịch bản đã sử dụng cho các yếu tố khí hậu đó là kịch bản về nhiệt độ và lượng mưa

Để đánh giá tác động của BĐKH đến đời sống, sức khỏe và sinh kế của người dân như thế nào, các phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) cũng đã được sử dụng

Các phương pháp trên bổ sung cho nhau, kiểm tra chéo các thông tin, từ đó đưa

ra các kết luận chắc chắn hơn Ví du: với các số liệu về khí tượng cho biết xu hướng thay đổi về các yếu tố thời tiết thông qua quan trắc, khi phỏng vấn, điều tra, thảo luận nhóm thì các nhận định của cộng đồng đưa ra sẽ chứng minh và có thêm các bằng chứng tại thực địa Hoặc các thông tin nhận định cộng đồng đưa ra sẽ chắc chắn hơn khi có các số liệu quan trắc chứng minh điều đó

Nghiên cứu này gồm hai phần: Nghiên cứu tại văn phòng và nghiên cứu thực địa Các phương pháp được sử dụng bao gồm:

2.4.2.1 Phương pháp thu thập thông tin tư liệu thứ cấp

Thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu là phương pháp phổ biến và mang lại hiệu quả cao trong quá tình nghiên cứu và đỡ tốn kém Trong nghiên cứu này các số liệu thứ cấp đã thu thập bao gồm các tài liệu đã được công bố như sau:

- Các Báo cáo nghiên cứu của các nhà khoa học: Các báo cáo khoa học chủ yếu

đã sử dụng từ tạp chí Khoa học – Đại học Quốc gia Hà nội, Kỷ yếu hội thảo khoa học Ngoài việc tham gia các hội thảo còn làm việc các nhà khoa học để được cung cấp các bài báo khoa học, kỷ yếu hội thảo đã được xuất bản

- Các báo cáo của xã và huyện được sử dụng là các báo cáo cập nhật nhất, là các báo cáo chính thức của địa phương, được thu thập bằng cách liên hệ trực tiếp với Chủ tịch UBND xã, Bí thư Đảng bộ xã như các báo cáo về phát triển KT-XH của UBND xã năm 2013, Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020 của xã Y Can,

Kế hoạch phòng chống lụt bão – tìm kiếm cứu nạn xã Y Can năm 2014 Các báo cáo thiệt hại về thiên tai của xã Báo cáo về tình hình thiên tại của huyện được sử dụng bản chính thức của Ban chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn huyện do

Trang 28

Kịch bản BĐKH cho Việt Nam năm 2012 (bản cập nhật) của Bộ Tài nguyên và Môi trường do NXB Tài nguyên - Môi trường và Bản đồ Việt nam

Các tài liệu, dữ liệu cơ bản về khí hậu chủ yếu thu thập từ Đài khí tượng Thủy văn Yên Bái bằng cách liên hệ trực tiếp với lãnh đạo Đài và được cung cấp (anh Tiến – Phó giám Đốc)

Các chính sách và Chương trình quốc gia về ứng phó với BĐKH, Chiến lược quốc gia về phòng tránh thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan đến năm 2020 Ngoài ra trong quá trình thực hiện còn tham khảo các thông tin, tài liệu trên mạng internet, sách, báo, truyền hình tỉnh Yên Bái, các báo cáo hội nghị khoa học, hội thảo,

kỷ yếu hội thảo quốc gia về nâng cao sức chống chịu trước BĐKH v.v…Kết quả thử nghiệm các mô hình sinh kế tại địa phương

Các tài liệu sau khi thu thập được phân tích, tổng hợp, lưu trữ có hệ thống để tiện cho việc sử dụng Các thông tin trước khi sử dụng cho nghiên cứu được xem xét và có

sự đối chiếu, tham khảo từ nhiều tài liệu khác nhau để đảm bảo độ tin cậy cao

2.4.2.2 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin bổ sung tại thực địa

Quá trình nghiên cứu điều tra, khảo sát tại thực địa được tổ chức thành các đợt với các đối tượng khác nhau Các đợt khảo sát được tiến hành theo kế hoạch lập trước, lần lượt từ cấp xã sau đó đến các thôn bản

Các công cụ PRA được sử dụng chính để thu thập thông tin tại thực địa Các thông tin cần thu thập được chuẩn bị trước thông qua các phiếu điều tra, phiếu phỏng vấn, câu hỏi định hướng trong thảo luận nhóm Các công cụ sử dụng có hướng dẫn cụ thể Trước khi đưa vào sử dụng chính thức các phiếu điều tra, câu hỏi phỏng vấn được thử trước, sau đó được chỉnh sửa sao cho câu, chữ đơn giản, phù hợp với bối cảnh địa phương và sự hiểu biết người dân

Trang 29

21

Căn cứ vào tình hình thực tế về kinh tế, xã hội địa hình, giao thông Kế hoạch được lập và gửi cho xã và thôn trước 5 ngày làm việc Các cuộc thảo luận, phỏng vấn cấp xã được gửi cho chủ tịch UBND xã, Bí thư Đảng ủy xã để chuẩn bị Các cuộc thảo luận nhóm, phỏng vấn, điều tra ở cấp thôn được gửi cho trưởng thôn và bí thư chi bộ thôn Sau khi các cuộc thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu, điều tra với cán bộ xã đến người dân và cán bộ thôn Tổng số thời gian làm việc cấp xã là 3 ngày (ngày 4, 5 và 6 tháng 8 năm 2014) Với cấp thôn mỗi thôn làm 2 ngày/thôn (từ 11 tháng 8 đến 20 tháng 9 năm 2014)

Các cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu với cán bộ huyện được thực hiện trong 3 ngày (24, 25 và 26 tháng 9 năm 2014)

Kết quả điều tra với 276 chủ hộ gia đình, 13 thảo luận nhóm, 8 cuộc phỏng vấn sâu, 10 hồ sơ hiểm họa, 10 hồ sơ lịch sử thiên tai, 8 lịch mùa vụ, 6 sơ đồ VENN, 3 phân tích SWOT, 2 câu chuyện về thiên tại đã được thực hiện

Trong quá trình thu thập thông tin, số liệu luôn luôn kết hợp với quan sát thực địa, kiểm tra tính xác thực của thông tin, đối chiếu những số liệu sẵn có với thực tế khu vực nghiên cứu Để chứng minh cho các thông tin, số liệu trong quá trình thu thập thông tin có chụp lại ảnh quá trình nghiên cứu cũng như ảnh minh họa thông tin và kết quả

Sau khi các thông tin số liệu thu thập được rà soát, phân tích, đối chiếu với yêu cầu, nếu còn thiếu hay chưa chính xác, tiến hành phỏng vấn và thảo luận nhóm bổ sung

Bên cạnh đó tác giả còn tham gia một số hội thảo, thăm các mô hình sinh kế tại địa phương, cùng với địa phương đánh giá tính phù hợp, khả năng áp dụng của các mô hình sinh kế cũng như các phương pháp nâng cao nhận thức cộng đồng về BĐKH

2.4.2.3 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA)

Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) nhằm thu thập thông tin định tính cũng như định lượng để qua đó có thể hiểu rõ hơn về thực trạng, điều kiện kinh tế xã hội địa phương và các nguồn sinh kế chính Biết được những tác động của BĐKH, những thiệt hại do thiên tai gây ra, hiểu được các cơ hội bên cạnh những thách thức địa phương đang gặp phải và cách ứng phó

Phương pháp này cũng cho biết năng lực của cộng đồng trong việc ứng phó với BĐKH Người dân có những kinh nghiệm dân gian hay kiến thức bản địa trong việc ứng phó với thiên tai và BĐKH

Trang 30

22

PRA là quá trình liên tục, là phương pháp khuyến khích, lôi cuốn cộng đồng cùng tham gia chia sẻ, thảo luận và phân tích kiến thức của họ về đời sống họ Nghiên cứu này sử dụng phương pháp PRA như là một công cụ chính để tiến hành làm việc với chính quyền và người dân địa phương

Các công cụ PRA được sử dụng bao gồm: Thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu có định hướng, sơ đồ hiểm họa, hồ sơ lịch sử thiên tai, lịch mùa vụ, sơ đồ VENN, phân tích SWOT, quan sát, thẻ màu, câu chuyện về thiên tai

Trước khi tiến hành điều tra, phỏng vấn và thảo luận nhóm với người dân đã có một buổi làm việc với lãnh đạo và đại diện các ban ngành của huyện Trấn Yên, xã Y Can Trong buổi làm việc, các thông tin cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội đã được thu thập, xác định và phân tích biểu hiện, các tác động của BĐKH đến cộng đồng, các nguồn vốn của cộng đồng trong ứng phó với BĐKH Sau đó thảo luận với lãnh đạo các thôn để xây dựng kế hoạch họp với người dân, ban ngành đoàn thể của thôn, tiến hành điều tra, phỏng vấn và thảo luận nhóm Trong các buổi họp có các cuộc thảo luận nhóm như: thảo luận nhóm với nhóm ban ngành đoàn thể của thôn theo bộ câu hỏi định hướng thảo luận nhóm, thảo luận nhóm với chủ hộ gia đình về bản đồ thiên tai và BĐKH, thảo luận nhóm với người nông dân về lịch mùa vụ, thảo luận nhóm với các cụ cao niên (người cao tuổi) về hồ sơ lịch sử thiên tai

Phương pháp phỏng vấn sâu cũng được sử dụng trong quá trình thu thập thông tin như: Phỏng vấn cán bộ cấp xã (chủ tịch UBND xã, cán bộ xã phụ trách về nông nghiệp, cán bộ phụ trách về thiên tai), cán bộ huyện có liên quan đến thiên tai và BĐKH (Trưởng phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trưởng phòng tài nguyên

và môi trường huyện, Phó phòng tài chính kế hoạch huyện, Phó chủ tịch UBND huyện) Ngoài ra còn phỏng vấn một số người cao tuổi trong xã để tìm hiểu về thông tin lịch sử thiên tai, các câu chuyện về thiên tai

Đã điều tra 276 hộ/12 thôn và tổ chức 3 cuộc thảo luận nhóm bổ sung để tìm hiểu sâu hơn, kiểm tra chéo thông tin về thiên tai, BĐKH Tìm hiểu về vai trò của chính quyền

và các cơ quan, đơn vị trên địa bàn trong việc hỗ trợ người dân ứng phó với thiên tai, BĐKH Kết hợp với với quan sát hiện trường để phân tích, tìm hiểu và đánh giá vấn đề nghiên cứu

Trang 31

23

2.4.2.4 Phương pháp phân tích thông tin

 Phương pháp phân tích bằng công cụ PRA (điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội

- thách thức (SWOT))

Tại các thôn cũng như cấp xã các thảo luận nhóm đã được tiến hành, người dân và cán bộ xã cùng phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của cộng đồng trong bối cảnh BĐKH Từ đó, xây dựng các biện pháp thích ứng dựa trên kinh nghiệm

và nguồn lực sẵn có của cộng đồng Phương pháp này cũng được sử dụng với lãnh đạo

và đại diện các ban ngành cấp huyện nhằm có được những thông tin đa chiều và sự đồng thuận của các cấp trong ứng phó với BĐKH

 Phương pháp kiểm chứng thông tin

Trong quá trình thu thập thông tin và phân tích thông tin luôn sử dụng các phương pháp kiểm tra chéo để kiểm chứng tính chính xác của thông tin Kết hợp với các thông tin thứ cấp trong các báo cáo, số liệu quan trắc từ Trạm khí tượng thủy văn và kết quả điều tra, phỏng vấn Các nội dung được phỏng vấn nhiều đối tượng ở các cương vị khác nhau, nhằm tìm kiếm những bằng chứng khác nhau Trong quá trình thảo luận nhóm và phỏng vấn tuy đã có các câu hỏi định hướng để tránh sót thông tin, còn lưu ý dùng các câu hỏi mở và câu hỏi sâu nhằm tìm hiểu sâu thông tin Ngoài ra trong quá trình thu thập thông tin kết hợp với quan sát và chụp ảnh lại, lưu lại thông tin trên giấy A0 trong suốt quá trình thực hiện để phục vụ cho việc lưu giữ, phân tích thông tin đầy

đủ, chính xác

Trong quá trình phân tích thông tin, có các thông tin chưa rõ hay chưa chắc chắn, tiếp tục tìm hiểu sâu hơn thông qua phỏng vấn, xác nhận lại thông tin sao cho đảm bảo độ chính xác

 Phương pháp tổng hợp kết quả

Các phiếu điều tra được tổng hợp vào bảng tính Excel và tính toán số lượng và tỷ lệ Kết quả của các cuộc thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu được đọc kỹ, mã hóa theo các câu hỏi và tổng hợp chung lại kết quả, từ đó đưa ra kết quả chung

Các kết quả từ điều tra, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm được xem xét, kiểm tra, tổng hợp và đưa ra nhận định và kết luận chung cho mỗi nhận định

Trong quá trình phân tích thông tin luôn lưu ý kết hợp các thông tin quan trắc được

từ Trạm khí tượng thủy văn, thông tin trong các báo cáo và các thông tin điều tra,

Trang 33

(Nguồn: UBND huyện Trấn Yên, 2014)

Hình 3.1: Bản đồ xã Y Can trong huyện Trấn Yên

 Địa hình, địa mạo

Xã Y Can có địa hình phức tạp, các thôn ven sông Hồng như Quyết Tiến, Hòa Bình, Bình Minh, Tự Do, Thắng Lợi với địa hình đồi thấp xen kẽ với các cánh đồng nhỏ ven sông, nên đây là vùng thường xuyên xảy ra ngập úng và thiệt hại khá lớn hàng năm Các thôn Hạnh Phúc, Khe Chè, Quyết Thắng có địa hình là đồi cao xen kẽ là những thửa ruộng nhỏ, do các thôn này người dân thường đào taluy, san đồi cao để làm nhà nên nguy cơ sạt lở đất lớn Còn lại các thôn Minh An, An Phú, An Thành và

An Hòa có địa hình núi cao, ven các suối, ngòi với những thửa ruộng nhỏ, đất lâm

Xã Y Can

Trang 34

26

nghiệp chủ yếu ở 4 thôn này, hơn nữa dân cư sinh sống nơi đây chủ yếu là người Dao, đây cũng là nơi nguy cơ xảy ra lũ quét và lốc xoáy cục bộ cao Do địa hình phức tạp nên giao thông đi lại gặp khó khăn

 Khí hậu

Khí hậu ở Y Can mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, do ảnh hưởng của địa hình miền núi nên tính chất gió mùa bị biến đổi khác biệt đó là mùa đông bớt lạnh

và hơi khô, mùa hè oi bức

- Các mùa trong năm

Xã Y Can có thể chia làm hai mùa rõ rệt là mùa nóng và mùa lạnh:

+ Mùa lạnh: từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, vùng thấp lạnh kéo dài từ

115-125 ngày Ở đây, thường bị hạn hán vào đầu mùa lạnh (tháng 12, tháng 1), cuối mùa thường có mưa phùn

+ Mùa nóng: kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, đây là thời kỳ nóng ẩm, nhiệt độ trung bình ổn định trên 25oC, tháng nóng có nhiệt độ 35oC -37oC, mùa nóng cũng chính là mùa mưa nhiều, lượng mưa trung bình 1.500-2.200mm/năm và thường kèm theo gió xoáy, mưa đá gây ra lũ quét và ngập lụt

- Chế độ khí lưu và gió

Vị trí địa lý và cấu trúc địa hình ảnh hưởng rất lớn đến chế độ gió Gió mùa đông bắc thổi theo hướng đông bắc - tây nam gặp các dãy núi thuộc hệ thống núi của vòng cung Lô - Gâm ngăn cản làm chuyển hướng phần lớn về vùng thấp theo thung lũng sông Hồng, nên cường độ giảm dần và bớt lạnh Gió mùa hè mang tính chất khí hậu xích đạo thổi theo hướng đông nam dọc thung lũng sông Hồng lên phía bắc Gió thổi mạnh nhất là vào thời kỳ chuyển tiếp giữa mùa đông và mùa hè Khi đó các thung lũng hay xuất hiện gió xoáy cục bộ có khi với tốc độ gió trung bình đạt 1,6- 2,2m/s Các cơn bão lớn hình thành từ biển Đông chưa bao giờ vào tới xã

- Chế độ mưa

Nhìn chung Y Can thuộc vùng có lượng mưa trung bình theo số liệu của cơ quan khí tượng thuỷ văn tỉnh thì tổng lượng mưa trung bình năm của 10 năm trở lại đây ở trạm Yên Bái là 17.517mm

Phân bố lượng mưa không đồng đều theo các tháng trong năm Tháng mưa nhiều nhất là tháng 5 đến tháng 9 (từ 149,8 - 294,9mm), các tháng mưa ít nhất là từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau

Trang 35

27

Do lượng mưa phân bố không đồng đều giữa các tháng trong năm vào những tháng mùa khô lượng mưa trung bình chỉ đạt 52,5mm/tháng nên thường xảy ra tình

trạng hạn hán, thiếu nước phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân

Vào mùa mưa, lượng mưa quá lớn gây ra tình trạng lũ lụt gây thiệt hại nặng nề cho mùa màng, tính mạng và tài sản của nhân dân Nhiều công trình giao thông, thuỷ

lợi, trường học, nhà ở cũng bị phá huỷ và hư hại nghiêm trọng Đặc biệt mùa mưa năm

2008 lũ lụt nghiêm trọng xảy ra tại Y Can đã làm thiệt hại vật chất lên đến hàng trăm

triệu đồng

 Thủy văn

Xã có sông Hồng chảy qua địa bàn của xã là 4,5 km về phía Đông, ngoài ra có suối Gùa chảy qua địa bàn 6 thôn và đổ vào sông Hồng Sông Hồng đoạn chảy qua địa bàn

xã hẹp, có đoạn chỉ khoảng 50m Lưu lượng nước sông Hồng thay đổi thất thường,

mùa khô lưu lượng xuống quá mức so với trung bình, gây ra tình trạng thiếu nước cho

sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân Trong mùa mưa, lưu lượng và mực nước

tăng nhanh, nước lũ tràn về đột ngột gây ra tình trạng ngập lụt, thiệt hại mùa màng và

các công trình thuỷ lợi, giao thông Hàng năm, vào mùa mưa lũ do nước sông Hồng

dâng cao và nước lũ từ các khe suối đổ về gây ra lũ quét và ngập lụt các tuyến đường

giao thông và các khu vực dân cư ở các vùng thấp, trũng có thể gây thiệt hại về người,

tài sản và sạt lở đất ách tắc giao thông đi lại (Kế hoạch phòng chống lụt bão và tìm

kiếm cứu nạn xã năm 2014)

Bảng 3.1: Đặc trưng mực nước sông Hồng tại trạm Yên Bái năm 2009

Đơn vị tính: cm

Htb 2,594 2,557 2.510 2.577 2.682 2.708 2.847 2.793 2.735 2.641 2.550 2.533 2.645 Hmax 2.642 2.591 2.569 2.688 2.939 2.886 3.016 2.943 2.856 2.787 2.582 2.562 3.016 Hmin 2.576 2.499 2.482 2.504 2.551 2.638 2.722 2.702 2.660 2.583 2.530 2.512 2.482

(Nguồn: Niêm giám thống kế năm 2009)

Sông Hồng có vai trò quan trọng trong đời sống và sản xuất của người dân xã Y Can, đặc biệt cung cấp nước cho vùng sản xuất Tuy nhiên, lưu lượng nước cũng như

chất lượng nước sông không đảm bảo, lưu lượng nước thất thường, không thuận lợi

cho sản xuất, gia tăng cường độ lũ

Trang 36

28

Qua kết quả phỏng vấn sâu người dân và cán bộ xã Y Can cho thấy, sự thay đổi chế độ thủy văn của sông Hồng qua địa bàn xã Y Can thay đổi rõ rệt Trước đây, nước sông Hồng ổn định hơn hiện nay cụ thể là mùa khô thì mực nước không quá cạn, về

mùa mưa thì nước sông không lên nhanh mà lên từ từ, và xuống từ từ “Mấy chục năm

trước đây nước sông Hồng về mùa cạn không quá cạn vẫn có nước phục vụ tưới tiêu

vụ Đông, và mùa lũ thì nước lên dần dần, có đợt nước lên to ngập đồng nhưng cả tuần mới xuống, nay thì lên nhanh 1 đêm là ngập đồng luôn, sau đó 2 hôm là lại xuống nên

có nhiều nhà, nước lên to không chạy kịp nên ngập mất hết tài sản” (Phỏng vấn Ông

Trần Văn Quang – cán bộ xã đội phụ trách về thiên tai của xã)

Sông Hồng bắt nguồn từ Trung Quốc chảy vào Việt Nam trên địa phận thành phố Lào Cai, qua tỉnh Yên Bái về xuôi Ngoài vùng thượng lưu thuộc địa phận tỉnh Vân Nam Trung Quốc, ven sông Hồng từ Lào Cai đến địa phận xã Y Can có nhiều các nhà máy chế biến, cơ sở sản xuất như Apitit, xưởng đãi vàng, quặng sắt, nhà máy sắn, nhà máy giấy, nhà máy chế biến hoa quả, thực phẩm xả thải trực tiếp ra sông Hồng, do

đó trong những năm gần đây nước sông Hồng có sự thay đổi, ô nhiễm Qua trao đổi

với chủ bến đò xã Y Can đã cho biết “những năm trước nước sông Hồng luôn có màu

hồng đặc trưng có nhiều phù sa, nhưng khi lội xuống sông thì rất mát nhưng mấy năm gần đây nước sông Hồng thay đổi, không còn màu đỏ đặc trưng nữa, có lúc đỏ, có lúc màu nâu, đặc biệt về mùa cạn lội xuống sông Hồng thấy có mùi rất tanh và hay bị ngứa, nên trước đây thường xuyên tắm sông Hồng nhưng nay thì khi cần mới lội xuống sông”

Suối Gùa cũng là nguồn nước chính phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất của xã, đặc biệt là các thôn vùng cao Theo kết quả phỏng vấn người dân và cán bộ xã cho biết: Trước đây nước suối Gùa rất sạch, nước suối ổn định ít khi nước lên cao nhưng từ năm 2008 đến nay nước suối bị ôm nhiễm do người dân sử dụng nhiều thuốc diệt cỏ, thuốc sâu, rừng đầu nguồn bị suy giảm nên ảnh hưởng đến sản xuất, lũ lên cao, ngập lúa và hoa màu

Hồ lớn ở Y Can có 2 hồ là hồ Tự Do và hồ Khe Sặt, đây là nguồn nước chính phục vụ cho sản xuất của xã và xã lân cận (xã Minh Tiến) Tổng diện tích mặt nước hồ khoảng 19,9 ha

3.1.1.2 Các vùng cảnh quan

Xã Y Can tạm chia làm 3 vùng cảnh quan:

Trang 37

29

- Vùng cảnh quan núi cao: bao gồm địa bàn 4 là Thôn An Phú, Minh An, An Hòa và An Thành Vùng này có địa hình chủ yếu là núi cao, người dân chủ yếu canh tác trên núi cao, họ trồng rừng, cây lâm nghiệp như keo, quế và bảo vệ rừng đầu nguồn Nông nghiệp chủ yếu trồng lúa nương trên núi và cấy lúa nước ven suối, thung lung nhỏ và những ruộng bậc thang Về chăn nuôi chủ yếu nuôi trâu bò, ngoài ra các

hộ gia đình nuôi gà và lợn nhưng chăn nuôi nhỏ lẻ khác Người dân chủ yếu làm nhà dọc theo các con suối và sườn núi ở dưới thấp, nhóm dân tộc chủ yếu là người Dao Thiên tai vùng này chủ yếu là lũ quét, sạt lở đất, lốc xoáy, rét đậm, rét hại, ngoài ra vùng này thường đối mặt với hạn hán Theo thống kê của xã năm 2014 (từ đâu năm đến tháng 6 năm 2014) tại khu vực này đã có hơn 9ha lúa, 0,2ha ngô bị chết bởi rét đậm, rét hại Người dân nơi đây có tính đoàn kết cao, những người trong dòng họ luôn sẵn sàng giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn

- Vùng cảnh quan núi thấp: Vùng này bao gồm các thôn Khe Chè, Hạnh Phúc, Thắng Lợi, Quyết Thắng Với đặc điểm có địa hình đồi núi thấp, người dân canh tác chủ yếu trên các núi thấp, các thửa ruộng ven suối và các thung lũng nhỏ Cây trồng chủ yếu là cây bồ đề, chè, quế, sắn, ngô và lúa nước Người dân ở vùng này chủ yếu là người Kinh, đa số họ từ các tỉnh miền xuôi đến cách đây vài chục năm hoặc có thể trên

100 năm nay Bên cạnh đó, tại thôn Khe Chè đa số người dân là công nhân Lâm trường Việt Hưng Thiên tai vùng này chủ yếu là ngập lụt do nước suối dâng cao, sạt

Do trồng nhiều rau cung cấp cho cả xã Người dân chủ yếu là người Kinh từ miền xuôi lên sinh sống từ nhiều năm nay Thiên tai chủ yếu là lũ sông Hồng gây ngập lụt hàng năm, ngoài ra có hạn hán, rét đậm, rét hại Sinh kế ngoài dựa vào nông nghiệp có một

số hộ kinh doanh buôn bán nhỏ hay đi làm thuê, làm xây dựng

Trang 38

 Phong tục truyền thống

Người Kinh đa số có nguồn gốc từ miền xuôi đến, họ có các phong tục thờ cúng đình, chùa, mong muốn những điều không may qua khỏi, cầu mong những điều may mắn, mùa màng bội thu, chăn nuôi trồng trọt không bị dịch bệnh

Người Dao ở Y Can chủ yếu là người Dao quần chẹt (Người Dao ở Việt Nam

có người Dao đỏ, Dao tiền, Dao Thanh Y, Dao Áo dài, Dao quần Trắng và Dao Quần chẹt) Người Dao có rất nhiều phong tục truyền thống có tính chất nhân văn, trong đó

có các phong tục chính như Lễ cấp sắc, Tết nhảy, phong tục cưới xin, ma chay, lễ cầu mùa Các phong tục mang đậm tính chất tâm linh, thầy cúng luôn có trong các phong tục người Dao Ngoài ra, người Dao còn có nhiều các quy định về săn bắn động vật, bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng rất có ý nghĩa Tuy nhiên, hiện nay nhiều các phong tục đang dần bị lãng quên với nhiều lý do khác nhau như người Kinh đến sinh sống cùng, các phong tục, thói quen bị pha tạp, phai nhạt dần Hơn nữa có nhiều phong tục truyền thống phức tạp tốn kém nên không được tổ chức thường xuyên Trong các phong tục người Dao ở Y Can hiện nay vẫn giữ được đó là Lễ cấp sắc, Tết nhảy, Lễ cưới hỏi, làm ma, đắp mả (đắp mộ)

Trong cộng đồng người Dao ở xã Y Can trước đây quan niệm không được chặt cây to và cây ở những khu rừng già, vì những cây to và khu rừng già có các thần cây trông giữ, nếu chặt thì sẽ bị quả báo, người thân trong gia đình sẽ bị ốm đau, làm ăn

Trang 39

Trong tiềm thức người Dao xã Y Can luôn có ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nước được thể hiện qua các bài cúng và thông qua một số phong tục như trong một năm có một ngày “kiêng hổ”, ngày “kiêng gió” hay ngày “phong vũ”, ngày kiêng chim ri, 3 ngày đầu tiên của năm mới nếu có quét nhà thì quét gọn vào một góc sân, không được quét hay đổ rác ra vườn, ra cổng, hay ngoài đường nhằm giữ gìn vệ sinh cho làng xóm sạch sẽ trong 3 ngày Tết

Với người Dao, rừng và nguồn nước là những nơi thiêng liêng, người dân luôn

có ý thức bảo vệ, họ thần thánh hóa, cho rằng rừng, các nguồn nước, các khe suối đầu nguồn luôn có những ông thần bảo vệ, nên dân làng cần bảo vệ rừng và bảo vệ nguồn nước, nếu ai mà xâm phạm sẽ bị các thần này trừng phạt

Với các loại thú rừng cũng vậy, người Dao cho rằng đó là các con vật quý có ý nghĩa với người dân, là bạn của con người, nên luôn có ý thức bảo vệ Người Dao Y Can chia các loại thú rừng theo 2 nhóm chính là nhóm “đại tài” gồm các loài thú “đại”

từ con lợn rừng, hổ, báo, voi, gấu… còn các loài thú nhỏ hơn là “tiểu tài” là các loài như hươu, nai, nhím, cầy, cáo, gà rừng, chim…Nếu ai mà săn bắn được những con

“tiểu tài” thì cần phải để lại 1 con trống và 1 con mái nhằm duy trì nòi giống, để chúng sinh xôi, phát triển, bảo tồn cho đời sau Còn với những con “đại tài” thì trong cộng đồng (một làng hay bản) trong một năm chỉ săn bắn số lượng hạn chế chỉ săn bắn một vài con (1-3 con), ai đó săn bắt được con “đại tài” thì phải mời thầy cúng đến để cúng, sau đó chia cho cả dân làng cùng hưởng và cũng để thông báo cho dân làng biết, nếu năm đó săn bắt được nhiều rồi thì không được săn bắt nữa

Lễ cấp sắc (một số nơi gọi là lễ Lập Tỉnh, Tập Tĩnh) nhằm giáo dục về kỹ năng sống, tăng cường tính đoàn kết trong cộng đồng và gia đình Đàn ông (kể cả người già) người Dao trải qua lễ cấp sắc mới được coi là người trưởng thành để đảm đương việc làng, việc họ, nếu chưa làm lễ cấp sắc thì đàn ông chưa được coi là người trưởng thành, khi chết lúc làm lễ đưa ma thì chỉ được rải cầu bằng giấy dưới đất để ra khỏi

Trang 40

32

nhà, trong khi những người đã được cấp sắc được đục cửa, bắc một cái cầu cao đưa ra khỏi nhà, coi như được đưa lên trời Lễ cấp sắc của người Dao thường tổ chức vào dịp cuối năm trước Tết nguyên đán Đây là một phong tục hoàn toàn mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc Dao Trong lễ cấp sắc có rất nhiều các hoạt động độc đáo, trong

đó có các lễ cúng với những bài khấn rất nhân văn, khuyên nhủ con người sống thiện, sống có nghĩa tình, ăn ở hiền lành, không gây ô nhiễm môi trường, không sát sinh

Lễ tết nhảy cũng là một phong tục độc đáo, một nghi lễ đặc biệt trong thờ cúng

tổ tiên của người Dao xã Y Can, nhằm hậu tạ tổ tiên và chuẩn bị làm lễ hứa đầu năm mới Theo quan niệm của người Dao, trong cuộc sống con người phải trải qua nhiều trắc trở, rủi ro, hàng năm phải khấn trời đất, thần linh, tổ tiên để được cứu giúp, trừ giải những oan trái, bất hạnh, ban cho những điều may mắn, hạnh phúc Theo phong tục của người Dao thì nếu gia đình tổ chức Tết nhảy chưa lo được hết thì những gia đình khác trong họ sẽ cùng đứng ra tổ chức, và bà con trong bản khi đến dự Tết nhảy cũng góp với gia chủ con gà, cân gạo, chai rượu hoặc tiền Tết nhảy là tết của gia đình nhưng gia đình phải mời cả bản, cả vùng ăn Tết tập thể và lại được cả bản, cả vùng coi như Tết chung Tất cả đều đến tham gia múa nhiều điệu múa truyền thống như múa cờ, múa tế rùa, múa kiếm, múa chuông Điều này tăng tính đoàn kết trong cộng đồng người Dao, thể hiện khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tình cảm gắn bó keo sơn Tết nhảy không chỉ là nghi lễ thể hiện sự biết ơn, tưởng nhớ tới tổ tiên mà còn là nghi lễ cầu phúc, cầu may, với mong muốn tẩy trừ hết những điều bất hạnh, rủi ro của năm cũ, cầu xin trời đất, tổ tiên phù hộ cho do gia đình, dòng họ, làng bản một năm mới dồi dào sức khoẻ, cầu cho mưa thuận gió hòa, công việc làm ăn thuận lợi mà còn răn dạy mọi người, nhắc nhở mọi người về bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ động vật, không được chặt phá rừng bừa bãi, hay săn bắn thú rừng cạn kiệt

Lễ cưới là một trong những mốc quan trọng trong chu kỳ đời người, lễ cưới truyền thống của đồng bào Dao ở Y Can được trải qua nhiều nghi thức đặc sắc mang đậm bản sắc riêng biệt của dân tộc Dao

 Điều kiện kinh tế

Tổng diện tích đất tự nhiên là: 3.519 ha Trong đó đất sản xuất nông nghiệp: 275,21 ha, đất sản xuất phi nông nghiệp: 3.044,78 ha

Ngày đăng: 20/10/2015, 16:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững của DFID - Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và năng lực ứng phó của cộng đồng miền núi xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái
Hình 1.1 Khung sinh kế bền vững của DFID (Trang 14)
Hình 1.2 Khung lý thuyết nghiên cứu - Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và năng lực ứng phó của cộng đồng miền núi xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái
Hình 1.2 Khung lý thuyết nghiên cứu (Trang 16)
Hình 1.4: Xu thế lƣợng mƣa ngày và  lươngh mưa trung bình năm - Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và năng lực ứng phó của cộng đồng miền núi xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái
Hình 1.4 Xu thế lƣợng mƣa ngày và lươngh mưa trung bình năm (Trang 22)
Hình 3.1: Bản đồ xã Y Can trong huyện Trấn Yên - Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và năng lực ứng phó của cộng đồng miền núi xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái
Hình 3.1 Bản đồ xã Y Can trong huyện Trấn Yên (Trang 33)
Bảng 3.2:  Đặc trƣng nhiệt độ tháng ( 0 C) tại Yên Bái - Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và năng lực ứng phó của cộng đồng miền núi xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái
Bảng 3.2 Đặc trƣng nhiệt độ tháng ( 0 C) tại Yên Bái (Trang 42)
Hình 3.2: Xu thế biến đổi nhiệt độ - Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và năng lực ứng phó của cộng đồng miền núi xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái
Hình 3.2 Xu thế biến đổi nhiệt độ (Trang 44)
Bảng 3.3: Đặc trƣng mƣa tháng (mm) tại trạm Yên Bái - Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và năng lực ứng phó của cộng đồng miền núi xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái
Bảng 3.3 Đặc trƣng mƣa tháng (mm) tại trạm Yên Bái (Trang 45)
Hình 3.4: Xu thế lƣợng mƣa mùa mƣa - Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và năng lực ứng phó của cộng đồng miền núi xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái
Hình 3.4 Xu thế lƣợng mƣa mùa mƣa (Trang 47)
Hình 3.5: Xu thế lƣợng mƣa mùa khô - Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và năng lực ứng phó của cộng đồng miền núi xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái
Hình 3.5 Xu thế lƣợng mƣa mùa khô (Trang 48)
Hình 3.7: Dấu tích còn lại sau trận lũ năm 1968 - Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và năng lực ứng phó của cộng đồng miền núi xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái
Hình 3.7 Dấu tích còn lại sau trận lũ năm 1968 (Trang 50)
Hình 3.8: Diễn biến nhiệt độ trung bình từ năm 2020-2100 theo kịch bản B2 - Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và năng lực ứng phó của cộng đồng miền núi xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái
Hình 3.8 Diễn biến nhiệt độ trung bình từ năm 2020-2100 theo kịch bản B2 (Trang 54)
Hình 3.9: Diễn biến lƣợng mƣa trung bình từ năm 2020-2100 theo kịch bản B2 - Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và năng lực ứng phó của cộng đồng miền núi xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái
Hình 3.9 Diễn biến lƣợng mƣa trung bình từ năm 2020-2100 theo kịch bản B2 (Trang 58)
Hình 3.10: Sâu ăn lá cây bồ đề làm thiệt hại hàng trăm ha mỗi năm - Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và năng lực ứng phó của cộng đồng miền núi xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái
Hình 3.10 Sâu ăn lá cây bồ đề làm thiệt hại hàng trăm ha mỗi năm (Trang 67)
Hình 3.11: Sơ đồ thiên tai xã Y Can - Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và năng lực ứng phó của cộng đồng miền núi xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái
Hình 3.11 Sơ đồ thiên tai xã Y Can (Trang 69)
Hình 3.12. Chương trình hành động của Huyện ủy Trấn Yên - Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và năng lực ứng phó của cộng đồng miền núi xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái
Hình 3.12. Chương trình hành động của Huyện ủy Trấn Yên (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w