1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý, điều hành hợp tác xã cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng luận văn ths kinh tế

83 546 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước sang cơ chế thị trường, Nhà nước quản lý xã hội dưới góc độ vĩ mô và cùng với việc ra đời Luật hợp tác xã năm 1996, đã có một số đề tài khoa học nghiên cứu về hợp tác xã theo quan đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Quang

Hµ néi - 2005

Trang 3

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

UBND Ủy ban nh©n d©n

HTX theo mô hình 1 Hợp tác xã thành lập một bộ máy vừa

quản lý vừa điều hànhHTX theo mô hình 2 Hợp tác xã thành lập riêng bộ máy quản

lý và bộ máy điều hành

Trang 4

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP TÁC XÃ

1.1.1 Khái niệm và các đặc trƣng của hợp tác xã 1.1.2 Các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của hợp tác xã

1.1.3 Sơ lƣợc lịch sử hình thành và phát triển của hợp tác xã 1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH HỢP TÁC XÃ

1.2.1 Khái niệm quản lý, điều hành hợp tác xã 1.2.2 Vai trò của quản lý, điều hành trong nội bộ hợp tác xã

HÀNH HỢP TÁC XÃ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1 PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH HỢP TÁC XÃ

2.1.1 Qui định về quản lý, điều hành theo Luật Hợp tác xã năm

2003 2.1.2 Những điểm mới trong Luật Hợp tác xã năm 2003 về quản lý, điều hành

2.1.3 Phân biệt quản lý, điều hành trong nội bộ hợp tác xã với quản lý, điều hành trong các loại hình doanh nghiệp khác

2.2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH HỢP

Trang 5

Chương 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH HỢP TÁC XÃ

3.1 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN

3.2 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ

QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH HỢP TÁC XÃ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

CHỈ THỊ, NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG VỀ QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH HỢP TÁC XÃ

VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH HỢP TÁC XÃ

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong giai đoạn phát triển kinh tế của nước ta hiện nay, yêu cầu về phát triển nguồn nội lực một cách đồng đều, toàn diện và hiệu quả đặt ra một bài toán cho các nhà hoạch định chính sách là phải tạo ra được một cơ chế đồng bộ, thông thoáng cho các thành phần kinh tế, cởi bỏ mọi vướng mắc nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất và phát huy tốt nhất các nguồn lực của xã hội

Hợp tác xã là một thành phần kinh tế tồn tại rất lâu, gắn liền với công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước của nhân dân ta Trong những giai đoạn khác nhau, HTX đóng vai trò lịch sử nhất định Tuy nhiên, trước công cuộc đổi mới một cách toàn diện, sâu sắc của đất nước ta vào những năm đầu của thập kỷ 90,

đã nảy sinh những vấn đề mới bức xúc và buộc chúng ta phải xem xét lại sự tồn tại của HTX, hiệu quả kinh tế mà HTX mang lại, cơ chế hoạt động trong giai đoạn hiện nay, sở hữu trong HTX, đặc biệt là vấn đề quản lý và điều hành HTX

Nhìn nhận một cách khái quát tình hình tồn tại và phát triển của loại hình hợp tác xã trong khoảng 20 năm gần đây, ta thấy có những thăng trầm rõ rệt Sau khi đất nước giải phóng, bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, mô hình hợp tác xã đã phát triển mạnh mẽ mà cao điểm là năm 1987 nước ta có khoảng 33.000 hợp tác xã với hàng triệu lao động Đến năm 1990 giảm xuống còn 13.000 hợp tác xã với 450.000 lao động và năm 1991 giảm xuống còn 6.900 hợp tác xã với 337.000 lao động [14,tr.5] Đây là một sự sụt giảm đáng báo động cho thấy mô hình hợp tác xã kiểu cũ có nguy cơ tan rã

Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta nhận thấy sự cần thiết phải vực dậy thành phần kinh tế tập thể Vì vậy, năm 1996, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật hợp tác xã Sau khi ra đời và có hiệu lực, Luật HTX đã phát huy tác dụng nhất định, tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng,

Trang 7

tạo ra môi trường thuận lợi cho việc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã kiểu mới Tuy nhiên, sau 7 năm đi vào hoạt động, Luật hợp tác xã 1996 đã bộc lộ nhiều bất cập và không đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển Vì vậy, tại Kỳ họp lần thứ 4, Quốc hội khoá XI, Luật hợp tác xã 2003 đã được Quốc hội thông qua, Luật hợp tác xã 2003 với những điểm mới có tính đột phá đã tạo ra được khung pháp lý phù hợp với yêu cầu hiện tại của các mô hình hợp tác xã, nhưng làm thế nào để đưa nó vào cuộc sống, hoạt động phát huy hiệu quả tối đa theo mục tiêu, tư tưởng của Đảng và Nhà nước thì không phải đơn giản

Trước yêu cầu của cơ chế thị trường là phải mềm dẻo trong quản lý và điều hành hoạt động nội bộ của hợp tác xã, Luật hợp tác xã 2003 quy định như thế nào về vấn đề này, đây là yếu tố then chốt thúc đẩy sự phát triển của thành phần kinh tế tập thể Để góp phần làm rõ các quy định pháp lý về vấn đề quản lý, điều hành hợp tác xã theo Luật hợp tác xã 2003, đánh giá, nghiên cứu thực tiễn

áp dụng, tôi chọn đề tài “Quản lý, điều hành hợp tác xã - Cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng” làm Luận văn thạc sỹ luật học của mình

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Hợp tác xã đã xuất hiện trên thế giới gần 160 năm và gần 60 năm ở Việt Nam, đã gắn bó với lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng phát triển kinh tế đất nước Vì vậy phạm trù hợp tác xã đã tự nói lên bản chất lịch sử, chính trị, kinh tế Mức độ ảnh hưởng là rất lớn, thời gian ảnh hưởng rất dài Do đó, các nhà khoa học, luật học nước ta đã dày công nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau trong suốt lịch sử tồn tại và phát triển của hợp tác xã

Trong thời kỳ bao cấp, đã có nhiều công trình của tác giả đề cập đến vấn

đề này dưới góc độ kinh tế và pháp luật, như:

- Khảo sát các hình thức tổ chức hợp tác xã của công dân nước ta hiện nay (Đào Thế Tuấn - chủ biên - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội 1995)

Trang 8

- Hợp tác xã và thời vàng son của kinh tế gia đình (Trần Đức - NXB Tư tưởng văn hoá - Hà Nội, 1991)

- Chống quan liêu bao cấp trong hợp tác xã và tập đoàn sản xuất (Vũ Trọng Khái, Nguyễn Thế Văn - NXB thành phố Hồ Chí Minh - 1987)

- Hoàn thiện khoán sản phẩm thực hiện hạch toán kinh doanh Xã hội chủ nghĩa trong hợp tác xã nông nghiệp (Hữu Thọ - NXB Sự thật - Hà Nội, 1989)…

Trong giai đoạn trên, việc nghiên cứu dưới góc độ pháp lý chưa được quan tâm tới, mà chủ yếu chỉ ở góc độ kinh tế - xã hội

Bước sang cơ chế thị trường, Nhà nước quản lý xã hội dưới góc độ vĩ mô

và cùng với việc ra đời Luật hợp tác xã năm 1996, đã có một số đề tài khoa học nghiên cứu về hợp tác xã theo quan điểm mới như:

- Luận cứ khoa học về đổi mới tổ chức, hoạt động và quản lý HTX trong nền kinh tế thị trường ở nước ta - Hà Nội, 1995 (Đề tài KX.D3.15 do Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Quang Quýnh chủ nhiệm đề tài);

- Phát triển và đổi mới quản lý HTX theo Luật HTX - Hà Nội, 1997 (Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Văn Bích - Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương);

- Kinh tế hợp tác - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Hà Nội 1998 (Hội đồng Trung ương Liên minh các HTX Việt Nam)

- Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở nước ta hiện nay NXB Chính trị Quốc gia, 2002 (Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Văn Kỷ chủ biên)

Việc nghiên cứu dưới góc độ pháp lý chuyên ngành về HTX đã được quan tâm đáng kể trong những năm gần đây thông qua các luận văn cao học, luận án tiến sĩ, như:

- Những vấn đề pháp lý về đổi mới hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch

vụ của các doanh nghiệp tập thể - Luận văn cao học của Nguyễn Đức Long,

Trang 9

1996; - Chế độ pháp lý xã viên HTX - Những vấn đề lý luận và thực tiễn - Luận văn cao học luật của Nguyễn Thị Ngọc Hà, 1997;

- So sánh Luật HTX ở một số nước trên thế giới - Luận văn cao học luật của Phan Hùng Dũng, 1997;

- Một số vấn đề pháp lý cơ bản trong quá trình chuyển đổi HTX - Luận văn cao học luật của Hoàng Thị Vịnh, 1999;

- Cơ sở lý luận của đổi mới tổ chức và quản lý các HTX - Luận án tiến sĩ Luật học của Trần Thị Thơ

- Địa vị pháp lý của các cơ quan quản lý và kiểm soát của HTX - Luận văn cao học luật của Vũ Văn Tuấn, 2003…

Tuy nhiên, do những đòi hỏi thay đổi rất nhanh của môi trường pháp lý và việc vận dụng Luật HTX vào thực tiễn phải có cái nhìn tổng quát và mềm dẻo nên các công trình chưa đi sâu nghiên cứu tới vấn đề quản lý, điều hành HTX theo tinh thần đổi mới của Luật HTX năm 2003, chưa so sánh đánh giá được thực tiễn áp dụng cho tới thời điểm này

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN

Đề tài nghiên cứu nhằm những mục đích sau:

- Hệ thống hoá những quy định của pháp luật hiện hành về quản lý, điều hành HTX

- Tìm hiểu so sánh công tác quản lý, điều hành nội bộ HTX trước và sau khi Luật HTX năm 2003 ra đời

- So sánh hoạt động quản lý, điều hành HTX với một số loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam

Trang 10

- Tìm hiểu cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động của các cơ quan quản lý, điều hành HTX theo Luật HTX năm 2003; đối chiếu vào thực tiễn để làm rõ tính hợp lý của các chế định này

- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý, điều hành HTX theo Luật HTX năm 2003, để từ đó đánh giá được những ưu, nhược điểm của các quy định pháp luật hiện hành về quản lý, điều hành HTX

- Đánh giá một số tồn tại của hoạt động quản lý, điều hành HTX, để từ đó kiến nghị phương hướng hoàn thiện những quy định pháp luật về quản lý, điều hành hợp tác xã

4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

về tổ chức và quản lý, điều hành HTX, các phương pháp lôgic học, triết học, sử học, kinh tế học…

Cơ sở lý luận về các vấn đề liên quan tới các khía cạnh quản lý, điều hành HTX đã được nghiên cứu và công bố sẽ được sử dụng làm tài liệu cho việc nghiên cứu đề tài, đó là các khái niệm, các nguyên tắc, số liệu, các kết luận, tổng hợp đã được công bố trong các công trình khoa học có liên quan

Trong luận văn này, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với lý luận về hình thái kinh tế - xã hội

Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê, điều tra chuyên ngành để có được các con số cụ thể sinh động

5 NHỮNG ĐÓNG GÓP KHOA HỌC CỦA LUẬN VĂN

Trang 11

- Hệ thống hoá các quy định pháp luật Việt Nam quy định về hoạt động quản lý, điều hành HTX Trích dẫn sử dụng các luận điểm, quy định của pháp luật nước ngoài về vấn đề này

- Tìm hiểu, đánh giá các quy định pháp luật trước đây về quản lý, điều hành HTX

- Làm rõ các quy định pháp luật, bản chất pháp lý và bản chất kinh tế xã hội đối với vấn đề quản lý, điều hành HTX theo Luật HTX năm 2003

- So sánh, phân tích công tác quản lý, điều hành HTX theo Luật HTX năm

2003 với Luật HTX của một số nước tìm ra những ưu nhược điểm của các quy định quản lý, điều hành HTX ở Việt Nam

- Chỉ rõ những quy định phù hợp và những hạn chế trong công tác quản lý, điều hành HTX

- Đưa ra một số đánh giá, kiến nghị để hoàn thiện quy định của pháp luật

về công tác quản lý, điều hành HTX, góp phần đưa công tác quản lý, điều hành hoàn thiện hơn trong thực tiễn

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Luận văn ngoài lời mở đầu, các phần kết luận, danh mục ký hiệu viết tắt, danh mục văn bản, tài liệu tham khảo, được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về hợp tác xã và quản lý, điều hành hợp tác xã Chương 2: Pháp luật hiện hành về quản lý, điều hành hợp tác xã và thực

tiễn áp dụng

Chương 3: Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý,

điều hành hợp tác xã

Trang 12

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP TÁC XÃ VÀ QUẢN LÝ,

ĐIỀU HÀNH HỢP TÁC XÃ

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP TÁC XÃ

1.1.1 Khái niệm và các đặc trưng của hợp tác xã

 Khái niệm hợp tác xã

Ngay trong buổi bình minh của lịch sử loài người, con người đã biết hợp tác với nhau để cùng tồn tại, cùng lao động và cùng phát triển Vì thế, có thể nói hợp tác là một thuộc tính cơ bản của xã hội con người, hợp tác giúp con người chế ngự thiên nhiên, tồn tại và phát triển mạnh mẽ

Hợp tác là sự kết hợp các yếu tố tinh thần và thể chất tạo ra một sức mạnh, một ý chí tập thể Đó là sự kết hợp sức lực, trí tuệ của các cá nhân đơn lẻ lại, của các đơn vị nhỏ thành các lực lượng lớn hơn nhằm thực hiện một công việc mà mỗi cá nhân, mỗi đơn vị sẽ gặp khó khăn, thậm chí không thể thực hiện được nếu thiếu sự hợp tác

Hợp tác có tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội cũng như trong quá trình lao động, sáng tạo của con người, nó là yếu tố thúc đẩy kinh tế phát triển Hợp tác bắt nguồn từ tính chất xã hội, do vậy xã hội càng phát triển thì các quá trình hợp tác càng chặt chẽ về tính chất, lớn mạnh về quy mô

Có nhiều loại hợp tác trong các lĩnh vực của đời sống xã hội như: hợp tác kinh tế, hợp tác chính trị, hợp tác quân sự, hợp tác lao động, hợp tác trong và ngoài nước, hợp tác ngẫu nhiên, hợp tác thường xuyên, ổn định, hợp tác nhất thời… Trong các loại hợp tác này thì hợp tác kinh tế có vai trò vô cùng quan

Trang 13

trọng, thúc đẩy xã hội loài người phát triển, thúc đẩy kinh tế quốc gia, kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể phát triển

Hợp tác kinh tế là sự kết hợp với nhau trong lĩnh vực kinh tế nhằm tạo ra một sức mạnh kinh tế lớn hơn, một ưu thế, một khả năng tốt hơn

Hợp tác kinh tế diễn ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, phân phối Với mỗi loại hình đơn vị kinh tế sẽ có những đặc thù hợp tác khác nhau Có rất nhiều loại hình hợp tác trong nền kinh tế tuỳ thuộc vào tính chất, kết quả của sự hợp tác, trong đó có một loại hình hợp tác kinh tế mà lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển đã gần 160 năm, đó là hợp tác xã (HTX)

HTX là loại hình kinh tế hợp tác phát triển ở trình độ cao, là một tổ chức kinh tế giống như doanh nghiệp nhưng có những đặc thù khác các doanh nghiệp

Liên minh HTX quốc tế (International coooperative alliance - ICA) được thành lập tháng 9 năm 1895 tại Luân Đôn - Vương quốc Anh, đã định nghĩa

HTX như sau: “HTX là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp

lại để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ” Năm 1995,

định nghĩa này được hoàn thiện: “HTX dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự

chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết Theo truyền thống của những người sáng lập ra tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc người khác”

Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa HTX là sự liên kết của những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết lại trên cơ sở bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao vào HTX phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung [14,tr.28]

Trang 14

Theo tinh thần các định nghĩa trên thì HTX là một tổ chức được điều chỉnh và quản lý theo Luật HTX và dựa trên nền tảng vững chắc của sự tự nguyện, liên kết, hợp tác, bình đẳng Căn cứ vào các cách định nghĩa về HTX trên thì Luật HTX của một số nước đã cụ thể hoá rất rõ nét được tính chất, đặc điểm, các nguyên tắc của HTX, theo tinh thần chung của quốc tế và lấy đó làm nền tảng để xây dựng các phần tiếp theo của Luật HTX

Theo luật HTX của một số nước như Canađa, Anh, Cộng hoà Liên bang Đức, Philipin, Inđônêxia… đều quan niệm HTX là một tổ chức kinh tế do những

cá nhân, tập thể tự nguyện liên kết lại với nhau vì mục đích chung nhằm hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau tiến hành công việc sản xuất, kinh doanh nhằm đạt hiệu quả cao nhất dựa trên một nguyên tắc cao nhất là bình đẳng về vai trò của các xã viên

Khái niệm HTX ở nước ta cũng được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau tuỳ thuộc vào thời kỳ, tính chất ngành nghề… trong thời kỳ kế hoạch hoá, vai trò của HTX được nhìn nhận dưới góc độ xã hội, còn vai trò kinh tế rất mờ nhạt, vì vậy đã không phát huy được sức mạnh của kinh tế tập thể mà trái lại đã trở thành rào cản đối với kinh tế hộ gia đình, kinh tế tư nhân

Nhận thức đầy đủ về cả chức năng kinh tế lẫn chức năng xã hội của HTX trong nền kinh tế thị trường, tại Điều 20 Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận về tổ

chức kinh tế tập thể như sau: “Kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp

tác sản xuất kinh doanh đưọc tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả”

Tại Điều 1 Luật HTX ngày 26/11/2003 định nghĩa HTX như sau:

“Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp

nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các

Trang 15

hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật”

Với cách định nghĩa trên ta thấy Luật HTX đã cụ thể hoá được đối tượng tham gia hợp tác xã (cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân), kết hợp với nhau tạo nên một tập thể mới có sức mạnh lớn hơn nhằm thực hiện có hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh Bên cạnh mục tiêu kinh tế, định nghĩa này cũng đã đề cập được đến mục tiêu xã hội, một đặc trưng rất cơ bản của hợp tác xã

 Các đặc trưng của HTX

- Thứ nhất, HTX là một tổ chức kinh tế tập thể Điều này được thể hiện: (1)

HTX được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật; (2) Hoạt động của HTX phải hiệu quả Để thực hiện có hiệu quả hơn hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ thì HTX phải hoạt động có lãi hơn so với hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hoặc tổ chức; (3) Trong thời gian tồn tại, HTX phải tiến hành các hoạt động kinh tế có cùng tính

chất Theo mục b, khoản 2, Điều 42 Luật hợp tác xã 2003: "HTX ngừng hoạt

động trong 12 tháng liền" thì sẽ bị giải thể bắt buộc Như vậy, HTX nếu đã đăng

ký ngành nghề kinh doanh thì phải hoạt động liên tục trong lĩnh vực mình đăng

ký Với vai trò là một tổ chức kinh tế, HTX tạo ra một đơn vị kinh tế mới, trong

đó người lao động có công ăn việc làm, có thu nhập, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và hoạt động theo chế độ hạch toán độc lập (4) HTX cũng thực hiện vai trò xã hội như là nơi mà các xã viên giúp đỡ lẫn nhau, hỗ trợ nhau thực hiện các mục đích kinh tế và các chính sách kinh tế, chính trị của Đảng và Nhà nước

Vai trò hỗ trợ của kinh tế tập thể được thể hiện: “Các hợp tác xã trong cơ chế

Trang 16

mới chủ yếu giữ vai trò hỗ trợ, dịch vụ cho các họ xã viên Hình thức hợp tác mới với chức năng làm làm dịch vụ cho các hộ xã viên trước và sau sản xuất chú

ý đến cả đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất” [5,tr.138]

- Thứ hai, Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế có tƣ cách pháp nhân Đây là

một đặc trƣng pháp lý nhằm phân biệt HTX với các tổ chức kinh tế khác không

có tƣ cách pháp nhân Theo các quy định hiện hành, một tổ chức muốn đƣợc công nhận là pháp nhân phải thoả mãn đầy đủ cả 4 điều kiện đƣợc quy định tại Điều 94 Bộ luật dân sự, gồm: Đƣợc thành lập hợp pháp; Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; Có tài sản độc lập với các cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập Tất cả những điều kiện này, HTX đều đáp ứng đầy đủ: (1) Hợp tác xã đƣợc thành lập trên cơ sở đã có văn bản báo cáo với Uỷ ban nhân dân cấp xã, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật tại các Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh hoặc cấp huyện Điều này cho thấy, sự thành lập và tồn tại của HTX là hợp pháp; (2) Hợp tác xã có cơ cấu tổ chức chặt chẽ thể hiện ở việc trong các HTX có thành lập các bộ phận quản lý, điều hành HTX, có cơ cấu các

xã viên và mỗi bộ phận cấu thành nên hợp tác xã đều đƣợc quy định những quyền hạn, nghĩa vụ xác định, tất cả các bộ phận cấu thành nên HTX ấy đều đƣợc gắn kết chặt chẽ với nhau trên cơ sở Điều lệ của hợp tác xã và các quy định pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã; (3) Hợp tác xã có tài sản đƣợc hình thành do việc góp vốn của các xã viên Khối tài sản này là khối tài sản riêng của hợp tác xã, thuộc quyền sở hữu của hợp tác xã và nó tách biệt với các khối tài sản thuộc quyền sở hữu của các cá nhân, tổ chức khác Trong quá trình hoạt động, nếu phải chịu trách nhiệm bằng tài sản thì hợp tác xã chỉ có trách nhiệm trong phạm vi khối tài sản hiện có Nếu toàn bộ những tài sản hiện có tại thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả nợ không đủ trả nợ thì các xã viên không phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ còn thiếu ấy Điều này cũng cho thấy hợp tác

xã thuộc loại chịu trách nhiệm hữu hạn; (4) Hợp tác xã xác lập các quan hệ bằng

Trang 17

tên gọi riêng của mình, có trụ sở xác định với tài sản của mình, con dấu của mình

đã thể hiện việc tham gia của hợp tác xã vào các quan hệ pháp luật là hoàn toàn độc lập

- Thứ ba, HTX là tổ chức kinh tế tập thể do cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân

tự nguyện góp vốn và góp sức lập ra theo các quy định của pháp luật Đây là một đặc điểm rất cơ bản để phân biệt HTX với các loại hình khác Đối với các doanh nghiệp thì góp vốn và góp sức thường không đồng thời là nhân tố song song, còn trong hợp tác xã thì xã viên tham gia góp cả vốn và bỏ cả công sức vào công việc của hợp tác xã Xã viên góp tài sản vào và cũng tham gia lao động, hưởng thành quả từ lợi nhuận của HTX và đảm bảo sự bình đẳng trong vấn đề quyết định, biểu quyết của HTX, điều này được khẳng định tại Đ.23 Luật HTX năm

2003: “Việc biểu quyết tại Đại hội xã viên và các Hội nghị xã viên không phụ

thuộc vào số vốn góp hay chức vụ của xã viên trong hợp tác xã Mỗi xã viên hoặc đại biểu xã viên chỉ có một phiếu biểu quyết”

1.1.2 Các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của hợp tác xã

Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX là toàn bộ tư tưởng, quan điểm chủ đạo để xây dựng nên các quy định về HTX, nó là kim chỉ nam xuyên suốt quá trình tổ chức và hoạt động của HTX Các nguyên tắc này được pháp luật thừa nhận và đảm bảo thực hiện, các chủ thể tham gia có nghĩa vụ tuân thủ trong quá trình thực hiện Lịch sử hình thành và phát triển HTX đã ghi nhận các nguyên tắc cơ bản của HTX, cụ thể là đại Đại hội Liên minh HTX quốc tế (ICA) lần thứ 31 (19/9-23/9/1995) đề ra 7 nguyên tắc: (1)Tự nguyện mở rộng đối với những người muốn trở thành xã viên HTX; (2) Xã viên kiểm soát một cách dân chủ; (3) Xã viên tham gia vào hoạt động kinh tế của hợp tác xã; (4) Độc lập và tự chủ; (5) Giáo dục và đào tạo thông tin; (6) Hợp tác giữa các HTX; (7) Quan tâm đến cộng đồng [25, tr.24-25]

Trang 18

Thực tế thì sáu nguyên tắc đã được ghi nhận và thực hiện từ năm 1966, còn nguyên tắc thứ bảy được ICA bổ sung vào năm 1995 với mục đích nâng cao tính phát triển bền vững của toàn thể cộng đồng Các nước trên thế giới cũng lấy các nguyên tắc trên làm cơ sở xây dựng pháp luật trong nước, đưa nó thành các nguyên tắc của HTX trong nước Thuỵ Điển và Canađa cũng ghi nhận 6 nguyên tắc đầu của ICA làm nguyên tắc của Luật HTX quốc gia mình Tuỳ theo đặc thù kinh tế trong nước mà các quốc gia sẽ áp dụng một cách linh hoạt các nguyên tắc này cho phù hợp với tình hình thực tế

Luật HTX Việt Nam cũng ghi nhận và thể chế hoá các nguyên tắc này Điều 5 Luật HTX năm 2003 ghi nhận 4 nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX: Tự nguyện gia nhập và ra khỏi hợp tác xã; Dân chủ, bình đẳng và công khai; Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; Hợp tác và phát triển cộng đồng

So với các nguyên tắc được quy định trong Luật HTX năm 1996, Luật HTX năm 2003 giảm đi một nguyên tắc là: đảm bảo kết hợp lợi ích của xã viên và sự phát triển của HTX Đó là về hình thức, còn về bản chất thì nguyên tắc này đã được lồng ghép trong nguyên tắc: tự chủ, tự nguyện và cùng có lợi, nó thể hiện

trong nội hàm của nguyên tắc này là: "… Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp

thuế và trang trải các khoản lỗ của HTX, lãi được trích một phần vào các quỹ HTX, một phần chia theo vốn góp và công sức đóng góp của xã viên, phần còn lại chia cho xã viên theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX."(khoản 3 Điều 5

Luật HTX năm 2003)

Có thể khẳng định rằng các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX ở Việt Nam là sự kế thừa, đúc kết kinh nghiệm về HTX của Quốc tế và trong nước Đây là cách để giúp cho HTX trong nước có cơ hội tự khẳng định mình trong hệ thống pháp lý trong nước và quốc tế, nó cũng khẳng định sự hoà nhập,

Trang 19

giao thoa giữa nền pháp lý trong nước với quốc tế, qua đó chúng ta sẽ dần dần hội nhập với quốc tế và khu vực

Nguyên tắc tự nguyện gia nhập và ra khỏi hợp tác xã Sự hợp tác, liên kết

giữa các cá nhân, tổ chức lại với nhau nhằm tạo ra một tập thể với sức mạnh lớn hơn khả năng cao hơn Tuy nhiên, sự hợp tác, liên kết này phải trước tiên xuất phát từ tính tự nguyện, tự giác Đây là cơ sở ý chí đầu tiên của con người trong quá trình hợp tác, liên kết, mà con người luôn luôn đấu tranh để đạt tới sự tự do

về ý chí Sự tự nguyện gia nhập thể hiện ở việc các cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình có nhu cầu, chấp nhận điều lệ của hợp tác xã đều có thể được xem xét để tham gia; không có ai ép buộc, cưỡng bức họ tham gia hợp tác xã Sự tự nguyện

ra khỏi hợp tác xã thể hiện ở việc khi các xã viên không còn có nhu cầu tham gia

sẽ được làm thủ tục ra khỏi hợp tác xã, không có ai níu kéo, ép buộc phải ở lại trong tổ chức của hợp tác xã

Nguyên tắc dân chủ, bình đẳng và công khai Bất kỳ một cá nhân, một tổ

chức khi đã trở thành xã viên HTX thì đều bình đẳng như nhau, có khả năng biểu quyết, quyết định như nhau Có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát HTX, thực hiện công khai phương hướng sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối… của HTX

Nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi Đây là nguyên tắc

thể hiện vai trò tự chủ của HTX trong các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh, trong hoạt động tổ chức bộ máy, phân phối công việc… tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình, tự quyết định vấn đề phân phối thu nhập, phân chia lợi nhuận, trích lập một số quỹ…

Nguyên tắc hợp tác và phát triển cộng đồng Đây là nguyên tắc mà tính

cộng đồng được đề cao, tính tập thể được nhân lên Nguyên tắc này chú trọng tới công tác xây dựng tập thể, hợp tác giữa các xã viên trong HTX và với cộng đồng

xã hội, trong nước và ngoài nước

Trang 20

Như vậy, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX là sự đúc kết kinh nghiệm, tri thức tổ chức quản lý kinh tế tập thể, là sự kế thừa tinh thần HTX trong nước và quốc tế Đây là cơ sở pháp lý để HTX tồn tại, phát triển, hoà nhập với các thành phần kinh tế khác, trong nước và quốc tế

Việc áp dụng các nguyên tắc này có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng tồn tại và phát triển kinh tế tập thể Hiểu đúng và đầy đủ các nguyên tắc này là yêu cầu tối thiểu đối với các nhà làm luật, những người hoạch định chính sách và lãnh đạo Nếu hiểu sai thì hậu quả sẽ khôn lường Lịch sử đã chứng minh

là sai sót trong cách hiểu về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX sẽ dẫn tới hậu quả to lớn và lâu dài Cụ thể là trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung ở nước

ta, thực hiện nguyên tắc “tự nguyện gia nhập HTX" và nguyên tắc "bình đẳng"

thì chúng ta đã hiểu sai, khi đó đã có các chính sách khá cứng rắn như đưa nông dân vào HTX và đưa cả tư liệu sản xuất (ruộng đất, trâu bò…) nhập vào khối tài sản chung của HTX, sau đó cho xã viên hưởng theo chế độ công điểm, lao động theo kiểu bình quân Đây là nguyên nhân dẫn tới sự khủng hoảng và tan rã của HTX trong thập kỷ 80 ở nước ta

Vấn đề là việc áp dụng các nguyên tắc sao cho phù hợp với đặc điểm nền kinh tế, bản chất quan hệ hợp tác, tình hình thực tiễn áp dụng thi hành pháp Luật HTX ở trong nước Cũng cần quan tâm tới sứ mệnh lịch sử của mô hình kinh tế này trong từng thời kỳ, ví dụ: trong thời kỳ kháng chiến, khi đó tất cả tập trung cho tiền tuyến thì có thể áp dụng các nguyên tắc tổ chức hoạt động theo kiểu thời chiến, còn khi hoà bình trở lại, cần khuyến khích phát triển kinh tế của các xã viên thì phải có những thay đổi cho phù hợp

Trong cơ chế thị trường, Nhà nước đã đề cao các nguyên tắc của kinh tế tập

thể, “Nhà nước quản lý chủ yếu bằng các biện pháp kinh tế, đảm bảo cho các

HTX được hoàn toàn tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức và điều hành sản xuất kinh doanh Nhà nước còn giúp đỡ HTX trong việc đào tạo cán bộ, thông

Trang 21

tin kinh tế, chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường, cho vay tín dụng, cung cấp giống cây, con mới ""[3, tr.11-tr12]

1.1.3 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của hợp tác xã

HTX có lịch sử ra đời và tồn tại khá sớm, là một trong những mô hình tổ chức kinh tế phổ biến trên thế giới ở thế kỷ XIX Lịch sử đã ghi nhận sự ra đời của HTX vào năm 1844, khi đó tại nước Anh, ở thị trấn Rochdale đã hình thành nên HTX tiêu dùng của 28 người thợ dệt [14, tr.18] Sau khi thành lập, HTX hoạt động với mục tiêu là hỗ trợ lẫn nhau, mua hàng hoá rẻ hơn, chất lượng tốt hơn so với hàng hoá của các cửa hiệu tư nhân, cải thiện địa vị của xã viên, nâng cao lợi ích vật chất, nâng cao đời sống gia đình xã viên Thực tế thì khi thành lập, những người thợ dệt chưa gọi tổ chức của mình là HTX mà họ lấy tên của tổ

chức đó là "Hội của những người khởi xướng về sự công bằng" Tuy nhiên, họ

đã đề ra được một số nguyên tắc tổ chức hoạt động của mô hình HTX sau này Sau khi được thành lập, HTX tiêu dùng Rochdale đã thể hiện được những

ưu điểm của mô hình HTX, đó là phương pháp kinh doanh hiệu quả, khả năng kết hợp và hỗ trợ cao, lợi ích kinh tế đạt được… Đây chính là động lực thúc đẩy

sự ra đời tiếp theo của hàng loạt các HTX tiêu dùng ở Anh “Đến đầu những năm

60 thế kỷ XIX, riêng ở nước Anh đã có 460 HTX tiêu dùng với trên 100.000 xã viên Sau đó, phong trào HTX lan rộng khắp châu Âu, đặc biệt là ở các nước Đan Mạch, Pháp, Đức, Hà Lan” [14, tr.18]

Nguyên nhân HTX ra đời sớm ở Anh là vì: Trong giai đoạn chuyển đổi từ Chế độ phong kiến sang Chủ nghĩa Tư bản đã kéo theo sự thay đổi từ nền kinh tế phong kiến mà đặc trưng của nó là kinh tế hàng hoá giản đơn, sang nền kinh tế thị trường Trong giai đoạn này diễn ra quá trình tích tụ tư bản nguyên thuỷ, phát triển thương nghiệp mà đặc biệt là ngoại thương đã tạo ra được thế và lực cho giai cấp tư sản Không chỉ thống lĩnh thương nghiệp, mà giai cấp tư sản còn làm

Trang 22

chủ trong các ngành công nghiệp và nông nghiệp, điều này dẫn tới việc giai cấp

tư sản tước đoạt đất đai, gia nhập vào thị trường lao động Nước Anh trong quá trình tích tụ tư bản đã đẩy mạnh hoạt động buôn bán quốc tế, đa dạng hàng hoá (kể cả nô lệ), cướp bóc thuộc địa, thực hiện chế độ kinh doanh ruộng đất theo kiểu tư bản chủ nghĩa Khi trở thành cường quốc công nghiệp, nước Anh là nơi diễn ra một cách tập trung nhất, điển hình nhất quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường Đó là quá trình đào thải kinh tế ghê gớm, cá lớn nuốt cá

bé, của cải được tập trung, tích tụ vào trong một số người, những người sản xuất nhỏ bé không có cơ hội tồn tại và phát triển, người lao động bị bóc lột và phải làm thuê cho giai cấp tư sản, nông dân bị tước đoạt ruộng đất và phải làm thuê cho các địa chủ và bị bần cùng hoá một cách cùng cực Từ đó hình thành thị trường sức lao động đông đảo, giúp cho sự phát triển của các doanh nghiệp tổ

chức theo kiểu kinh tế thị trường “Lịch sử ghi nhận rằng: nước nào diễn ra cách

mạng về ruộng đất sớm và triệt để thì ở đó kinh tế thị trường sẽ phát triển sớm

và mạnh mẽ” [9, tr.18]

Tuy nhiên, quá trình này đã thể hiện được những ưu điểm rõ rệt, tạo ra bước ngoặt lịch sử trong việc hình thành nên các mô hình kinh tế, xã hội mới, nó tạo

ra một thị trường vốn và thị trường lao động rộng lớn, tạo ra một khả năng to lớn

để chủ nghĩa tư bản làm biến đổi bộ mặt xã hội, phát triển kinh tế với tốc độ cao Chính trong hoàn cảnh như thế đã tạo ra một yêu cầu là phải kết hợp các nhà sản xuất nhỏ hay những người lao động lại với nhau để chống chọi lại với sức mạnh chủ nghĩa tư bản và trên hết là đủ sức để cạnh tranh và tồn tại trong nền kinh tế thị trường

Phong trào HTX ở nhiều nước Châu Âu phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ XIX đã đưa đến một bước ngoặt mới trong việc thống nhất phong trào HTX quốc tế, đó là Đại hội thành lập Liên minh HTX quốc tế được tổ chức ngày 19/8/1895 tại thủ đô Luân Đôn của nước Anh Tại Đại hội này, với sự tham gia

Trang 23

của 10 quốc gia Châu Âu, Châu Á, và Châu Đại Dương, Liên minh HTX đã được thành lập (viết tắt là ICA), đã thông qua Điều lệ với 12 khoản Năm 1896,

là cờ màu cầu vồng đã trở thành biểu tượng của phong trào HTX quốc tế [14, tr.20]

Trải qua gần 160 năm tồn tại và phát triển của HTX, để hình thành nên hai

mô hình HTX, đó là mô hình HTX với quan hệ chủ đạo là hợp tác hoá(HTH) và

mô hình HTX với quan hệ chủ đạo là tập thể hoá(TTH) Mô hình thứ nhất tồn tại

và phát triển trong các quốc gia có nền kinh tế thị trường và phát triển liên tục,

ổn định, hiệu quả cho tới tận ngày nay Mô hình thứ hai có chủ yếu ở hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa, quá trình tồn tại gặp nhiều biến cố, thăng trầm, không ổn định, dẫn tới khủng hoảng, tan rã hàng loạt hoặc chuyển đổi sang các hình thức khác Cho tới nay, mô hình HTH tồn tại ở trên 100 quốc gia với gần

700 triệu thành viên, trong khi đó mô hình TTH chỉ mới tồn tại ở 13 quốc gia và

số thành viên tham gia tại thời điểm lớn nhất là hơn 200 triệu người

Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự khác nhau giữa hai hệ thống này là do những vấn đề sau:

- Trước hết là quan hệ sở hữu, mô hình HTH vẫn tôn trọng và thừa nhận sở hữu cá nhân Còn mô hình TTH biến xã viên từ những người chủ sở hữu tư liệu sản xuất và tài sản cá nhân trở thành người vô sản thông qua hoạt động tập thể hoá ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác, sở hữu cá nhân không được thừa nhận

- Quan hệ tổ chức, quản lý và hoạt động: trong mô hình HTH quan hệ giữa các xã viên là bình đẳng, không phụ thuộc vào tài sản, công sức đóng góp, mỗi

xã viên đều có quyền biểu quyết ngang nhau, trong quan hệ chỉ huy, vai trò của người đứng đầu và điều hành HTX là quan trọng và được tôn trọng, bên cạnh đó, duy trì, hỗ trợ, phục vụ kinh tế hộ gia đình, không tiến hành sản xuất tập trung

Mô hình TTH thì quan hệ giữa HTX và xã viên là quan hệ phụ thuộc, xã viên là người lao động hưởng thù lao trong HTX Kinh tế hộ gia đình bị xoá bỏ để đưa

Trang 24

vào sản xuất tập trung Tập thể Ban quản trị lãnh đạo theo nguyên tắc: Tập thể lãnh đạo, cá nhân ra quyết định, vai trò của cá nhân bị xem nhẹ, trách nhiệm không rõ ràng

- Quan hệ phân phối: Mô hình HTH tiến hành trả công theo lao động, theo mức độ sử dụng dịch vụ của các xã viên và được hưởng lợi nhuận theo vốn góp

Mô hình TTH sử dụng chế công điểm: số điểm tính trong 1 ngày công lao động, phân phối sản phẩm, lợi ích mang nặng tính bình quân chủ nghĩa, cào bằng

- Mô hình HTH phát triển chủ yếu trong các ngành dịch vụ, thương mại va thường gắn liền với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, trong khi đó mô hình TTH thường gắn với các ngành sản xuất, còn các ngành dịch vụ và thương mại chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ bé

- Quan hệ giữa Nhà nước và HTX: Trong mô hình HTH, HTX là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ trong kinh doanh, hạch toán độc lập, chịu trách nhiệm về hoạt động của mình, Nhà nước đóng vai trò định hướng và quản lý vĩ mô HTX thông qua việc ban hành hệ thống pháp luật liên quan tới HTX và HTX không phải gánh vác các chính sách phúc lợi xã hội Mô hình TTH, HTX là đơn vị kinh

tế phụ thuộc, hoạt động dựa vào kế hoạch hoá nền sản xuất, HTX được tổ chức phụ thuộc theo các cấp, hoạt động sản xuất theo kế hoạch do Nhà nước giao, Nhà nước cung ứng cho HTX vật tư, thiết bị, vốn theo kế hoạch, sau đó HTX bán lại sản phẩm cho Nhà nước với giá cả và số lượng theo kế hoạch đã giao HTX phải thực hiện các chính sách phúc lợi xã hội đối với cộng đồng dân cư ở địa phương Kết quả thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh của HTX được Nhà nước trả công và trả bằng các sản phẩm tiêu dùng khác thông qua việc phân phối sản phẩm giữa các ngành

Ở Việt Nam, HTX đã ra đời và tồn tại ngay sau khi Cách mạng tháng tám thành công Khi mới ra đời, mục tiêu hoạt động cả HTX là nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả hoạt động sản xuất để cung cấp được đầy đủ cho tiền tuyến

Trang 25

Đây là giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước ta mà HTX đóng vai trò quan trọng trong việc thống nhất đất nước Suốt từ khi ra đời cho tới đất nước hoà bình, tồn tại trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, HTX được điều chỉnh bằng các văn bản pháp luật nhưng chưa có Luật riêng của mình Cho tới năm 1996, Quốc hội nước ta thông qua và ban hành Luật HTX, đây là bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự đổi mới tổ chức và hoạt động của HTX trong cơ chế mới, trước sự đòi hỏi, sự cạnh tranh của kinh tế thị trường Luật HTX năm 1996 bước đầu đã cải tạo được bộ mặt cũng như tình hình thực hiện, tuy vậy, vẫn còn nhiều bất cập, các quy định pháp luật cũ lỏng lẻo, chậm thay đổi, không theo kịp tốc độ phát triển của kinh tế, xã hội

Mục tiêu của việc sửa đổi, bổ sung Luật HTX năm 1996 là thể chế hoá chính sách, tư tưởng của Đảng về kinh tế tập thể trong Nghị quyết Trung ương 5, xác lập môi trường thể chế và tâm lý xã hội thuận lợi cho kinh tế tập thể phát triển, tạo ra một cơ chế hoạt động thuận tiện, đồng bộ Chính vì vậy, ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật HTX Đây là lần sửa đổi quan trọng để pháp luật về HTX theo kịp trình độ cũng như tốc độ phát triển của loại hình kinh tế tập thể

1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH HỢP TÁC XÃ

1.2.1 Khái niệm quản lý, điều hành hợp tác xã

Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động Việc phát hiện quản lý được coi như là kết quả tất yếu của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình lao động được phối

hợp lại C Mác đã viết: “Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến

hành trên quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có sự chỉ đạo, điều hoà những hoạt động cá nhân Một nhạc sỹ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [18, tr.5] Quản lý là một hoạt động khách

Trang 26

quan nảy sinh khi cần nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn

ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Trình độ xã hội hoá càng cao, yêu cầu quản lý càng cao và vai trò của nó càng tăng lên

Quản lý ra đời cùng với sự phân công lao động xã hội Mác viết: “Mọi lao

động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào được tiến hành trên một quy mô tương đối, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung” [17, tr.373]

Về nội dung, thuật ngữ „„quản lý’’ có nhiều cách diễn đạt khác nhau Theo

Từ điển Tiếng Việt, quản lý được hiểu là việc tổ chức và điều khiển các hoạt

động theo những yêu cầu nhất định [26, tr.800] Theo cuốn Thuật ngữ pháp lý, quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý và nhằm đạt được những mục đích đã định trước [7, tr.258] Ngoài ra, quản lý còn được hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định

[18,tr.5]

Như vậy, quản lý có thể hiểu một cách chung nhất là việc các chủ thể quản lý sử dụng các công cụ quản lý tác động lên các đối tượng quản lý theo những nguyên tắc và cách thức nhất định nhằm đạt được những mục tiêu đã

đề ra

Với cách hiểu như vậy, quản lý bao gồm các yếu tố sau :

- Chủ thể quản lý : là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể luôn là con người hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định

Trang 27

- Đối tượng quản lý : tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý Tuỳ theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau

- Khách thể quản lý chịu sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý,

đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội

- Mục tiêu quản lý là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm đã định do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý trực tiếp thực hiện các hoạt động quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp Điều hành là việc tổ chức thực hiện các yêu cầu quản lý, trong hoạt động hàng ngày của tổ chức hay đơn vị, là quá trình tác nghiệp, bố trí, thực thi các phương án của chủ thể lên khách thể trong một quy trình định trước

Khái niệm quản lý, điều hành HTX được hiểu theo hai nghĩa: theo nghĩa rộng, quản lý, điều hành hợp tác xã là nói đến quản lý của Nhà nước đối với hợp tác xã; theo nghĩa hẹp, quản lý, điều hành HTX mang nội dung là quản lý, điều hành trong tổ chức nội bộ của HTX Trong phạm vi luận văn này chỉ đề cập đến nghĩa hẹp, tức là quản lý, điều hành trong nội bộ HTX

Căn cứ vào khái niệm quản lý, điều hành ở trên, có thể định nghĩa quản lý, điều hành HTX như sau :

- Quản lý trong nội bộ HTX quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của Ban quản trị nhằm xây dựng phương hướng, đường lối hoạt động sản xuất, kinh doanh, là quá trình kiểm tra, giám sát công tác điều hành của HTX

- Điều hành trong nội bộ HTX là việc chủ nhiệm HTX thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh và điều hành các công việc hàng ngày của hợp tác xã Việc điều hành của chủ nhiệm HTX nhằm thực hiện các quyết định của Ban quản trị HTX

Trang 28

Cũng giống như bất kỳ đơn vị kinh tế nào cũng có các hoạt động quản lý, điều hành, HTX hoạt động được là nhờ có các cơ quan quản lý, điều hành Đây

là hoạt động có tính chất quyết định đối với quá trình sản xuất kinh doanh của HTX, các bộ phận của guồng máy HTX có hoạt động nhịp nhàng trơn tru được hay không là phụ thuộc rất nhiều vào công tác quản lý, điều hành HTX Trong

HTX, người quản lý "phải biết tác động bằng cách nào đó để người bị quản lý

luôn hồ hởi, phấn khởi, đem hết năng lực, trí tuệ của mình để sáng tạo ra lợi ích cho mình, cho Nhà nước và cho xã hội"[18, tr.7]

Công tác điều hành đưa ra các quyết định, các phương án nhằm giải quyết những vấn đề trong hoạt động thường ngày của HTX, đưa ra các quyết định về những vấn đề đột xuất cần phải xử lý phát sinh trong quá trình hoạt động của HTX Hoạt động quản lý trong nội bộ HTX được thực hiện bởi Ban quản trị, đây

là cơ quan do Đại hội xã viên bầu trực tiếp, làm việc theo nhiệm kỳ Ban quản trị thực hiện chức năng quản lý trong nội bộ HTX dựa trên các Nghị quyết của Đại hội xã viên, cũng như các quyền hạn, nhiệm vụ được ghi nhận trong Điều lệ HTX Đối tượng quản lý trong nội bộ hợp tác xã là Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm HTX, kế toán trưởng, các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ và các xã viên HTX Các nguyên tắc quản lý dựa trên Nghị quyết của Đại hội xã viên, Điều lệ của HTX và các quy định của pháp luật có liên quan đến công tác quản lý nội bộ HTX Hoạt động điều hành trong nội bộ HTX được thực hiện bởi chủ nhiệm HTX, chủ nhiệm HTX có thể do trưởng Ban quản trị kiêm nhiệm hoặc được bầu, hoặc thuê Chủ nhiệm HTX tiến hành hoạt động điều hành dựa trên cơ sở các quyết định quản lý của Ban quản trị, nghị quyết của Đại hội xã viên, Điều lệ của HTX Trong đó, quan trọng nhất là các quyết định quản lý của Ban quản trị, bởi

nó quy định trực tiếp những công việc, nhiệm vụ mà hoạt động điều hành phải đạt được

Trang 29

Cơ quan quản lý, điều hành HTX được lập ra một cách dân chủ: HTX là đơn vị kinh tế tự chủ do người lao động tự nguyện thành lập vì nhu cầu về lợi ích chung Các xã viên làm chủ, có quyền lập ra các cơ quan quản lý, điều hành HTX của mình một cách công khai, dân chủ Các cơ quan quản lý đại diện cho

xã viên thực hiện những công việc theo quy định của pháp luật Tính dân chủ trong cách thức tổ chức, thiết lập các cơ quan quản lý, điều hành HTX thể hiện ở chỗ mọi xã viên đều có quyền ứng cử, được bầu cử vào các cơ quan quản lý, điều hành HTX nếu họ có khả năng và được tín nhiệm Mặt khác, xã viên có quyền xây dựng điều lệ, nội quy, quy chế của HTX để có thể cụ thể hoá các quyền và nghĩa vụ của các cơ quan này Khi thực hiện những công việc như trên

xã viên đều có quyền ngang nhau

Các cơ quan quản lý, điều hành thực hiện công tác đối nội và đối ngoại của HTX, trong đó đối nội là thực hiện công tác sản xuất, kinh doanh của HTX,

và đối ngoại là thay mặt cho các xã viên, đại diện cho HTX trong quan hệ làm ăn với các đối tác bên ngoài, quan hệ với các tổ chức xã hội, chính quyền đoàn thể Mỗi cơ quan quản lý hoặc điều hành HTX có những thẩm quyền nhất định, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các bộ phận khác tạo ra một hệ thống đồng bộ, nhịp nhàng Các cơ quan quản lý, điều hành HTX phải tuân thủ các nguyên tắc dân chủ, công khai, tự chịu trách nhiệm, nguyên tắc lãnh đạo tập thể kết hợp với trách nhiệm cá nhân để đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động của mình

Bên cạnh các cơ quan quản lý, điều hành HTX, thì vai trò của xã viên trong công tác quản lý, điều hành HTX là rất lớn Trước hết việc xây dựng (bầu ra) các cơ quan quản lý là do xã viên Trên cơ sở nguyên tắc tự do dân chủ, xã viên được ứng cử, bầu cử vào cơ quan quản lý, điều hành HTX Nếu có ý kiến

gì, xã viên có thể đề đạt ý kiến trực tiếp tới cơ quan quản lý, điều hành HTX và

có thể yêu cầu triệu tập Đại hội xã viên bất thường

Trang 30

Tóm lại, quản lý, điều hành không chỉ là nhiệm vụ riêng của cơ quan hay

cá nhân nào, đó là nhiệm vụ mang tính thống nhất ý chí của toàn thể HTX, mọi thành viên HTX đều có thể tham gia với mức độ khác nhau

1.2.2 Vai trò của quản lý, điều hành trong nội bộ hợp tác xã

Trong bất cứ cơ quan đơn vị nào cũng phải có bộ phận làm công tác quản

lý, điều hành nhằm hướng toàn đơn vị tới mục tiêu đã định HTX cũng vậy, cần phải có cơ quan quản lý, điều hành để làm các chức năng chỉ đạo, quyết định, hỗ trợ đối với toàn bộ HTX và đối với các xã viên

Ngay từ những ngày đầu, công tác quản lý, điều hành HTX đã nhận được

sự quan tâm của Đảng và Bác Hồ Bác đã nói nhiều về công tác quản lý, điều

hành HTX Người đã chỉ đạo : "Ban quản trị phải gồm những người do xã viên

lựa chọn và bầu cử ra, nếu không làm tròn nhiệm vụ thì xã viên có quyền cách chức Mọi công việc của HTX phải đem ra bàn bạc với xã viên, hỏi ý kiến xã viên Ban quản trị phải công bằng, không thiên vị Ban quản trị phải minh bạch, Ban quản trị phải chống tham ô, lãng phí"[2, tr.11] Người cho rằng: “Ban quản trị tốt thì HTX mới tốt” [19, tr.334].

Trong bài nói chuyện với nông dân Thái Bình năm 1967, Bác nói: “Các

HTX cần phải: Đoàn kết chặt chẽ giữ các xã viên với nhau, đoàn kết giữa Ban quản trị với xã viên Thực hành dân chủ, nghĩa là công việc đều phải làm việc với xã viên Cán bộ không được quan liêu, mệnh lệnh Tài chính phải công khai, tuyết đối chống tham ô, lãng phí “"[13, tr.93] Người còn nhấn mạnh: “muốn quản lý tốt HTX, các bộ quản trị phải thật giỏi” "[1, tr.50].

Trong cơ chế thị trường, quản lý, điều hành HTX có ý nghĩa quan trọng,

nó thể hiện ở chỗ:

- Thứ nhất, quản lý, điều hành HTX nhằm quản lý rủi ro Mỗi xã viên nếu

tiến hành hoạt động một cách đơn lẻ hoặc có sự kết hợp với nhau thì trong quá

Trang 31

trình hoạt động cũng có nhiều lúc không tránh khỏi rủi ro Mặt khác, do vốn ít, sức mạnh kinh tế cá thể yếu nên nếu gặp phải rủi ro thì khó lòng vực dậy được

Vì vậy khi tham gia HTX, với tính chất quản lý và phân chia rủi ro, HTX sẽ làm chức năng hỗ trợ đối với những xã viên gặp phải rủi ro, tạo điều kiện cho xã viên tránh được các rủi ro này HTX là sự kết hợp từ những cá nhân, đơn vị riêng

lẻ, sau khi được tạo nên sẽ có sức mạnh lớn hơn, kinh doanh quy củ hơn, được hưởng các chế độ như đối với một doanh nghiệp, được quản lý vận hành một cách hoàn chỉnh hơn, đồng bộ Vì vậy, khả năng gặp rủi ro và khắc phục rủi ro là khả quan hơn Nhà quản lý có thể tiên liệu được rủi ro và đưa ra các biện pháp phòng tránh, xử lý Đây là điểm khác biệt mà các cá thể kinh doanh đơn lẻ khó làm được

- Thứ hai, quản lý, điều hành HTX nhằm tạo ra sức mạnh cạnh tranh

Trong đời sống xã hội, các cá nhân, hộ gia đình nếu hoạt động riêng lẻ sẽ rất yếu

ớt trước sức cạnh tranh của các thành phần kinh tế khác Vì vậy, họ đã tập hợp lại hoạt động cùng với nhau trong HTX để trở thành lực lượng kinh tế có sức mạnh to lớn nhằm hoạt động có hiệu quả hơn và có sức cạnh tranh tốt hơn

Trong cơ chế thị trường, sự cạnh tranh là tất yếu, vì vậy HTX muốn có khả năng cạnh tranh cao thì ngoài các yếu tố cần thiết, phải có khả năng quản lý, điều hành HTX một cách khoa học, hợp lý, phù hợp với khả năng, với tình hình thực tiễn Một bộ máy quản lý, điều hành tốt sẽ giúp cho HTX sản xuất kinh doanh hiệu quả, có chỗ đứng trên thương trường, có khả năng cạnh tranh mạnh

mẽ với các thành phần kinh tế khác

- Thứ ba, quản lý, điều hành HTX nhằm hướng tới một mô hình bình

đẳng HTX được hình thành từ việc góp vốn và góp sức của xã viên, và các xã viên được chia lợi tức tương ứng với số vốn góp và sự đóng góp sức lao động, tỷ

lệ sử dụng dịch vụ Bên cạnh đó, sự bình đẳng còn thể hiện trong ý kiến tán thành hay bác bỏ một vấn đề nào đó của mỗi xã viên Mọi cá nhân, tổ chức khi

Trang 32

tham gia vào HTX thì đều trở thành xã viên và có địa vị pháp lý nhƣ nhau, không phân biệt góp nhiều vốn hay ít vốn

Trang 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

1 Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định pháp luật để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật Với đặc trưng là một tổ chức kinh tế tập thể, trong đó có sự kết hợp giữa yếu tố kinh

tế với yếu tố xã hội đã tạo nên các nguyên tắc cơ bản về tổ chức hoạt động của hợp tác xã, đó là: nguyên tắc tự nguyện; dân chủ, bình đẳng và công khai; tự chủ,

tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; hợp tác và phát triển cộng đồng

2 Trong nền kinh tế thị trường hiện nay tồn tại nhiều mô hình tổ chức kinh doanh mà hợp tác xã chỉ là một mô hình trong số các mô hình tổ chức kinh doanh đó Mỗi mô hình tổ chức kinh doanh đều có những đặc trưng riêng biệt,

có những lợi thế riêng để người đầu tư chọn lựa khi tiến hành đầu tư kinh doanh Hợp tác xã khi so sánh với các mô hình tổ chức kinh doanh khác có nhiều điểm khác biệt về chế độ góp vốn, tính chất sở hữu, chế độ trách nhiệm, nguyên tắc hoạt động, quản lý điều hành

3 Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp và vì vậy không thể thiếu vai trò của công tác quản lý, điều hành hợp tác xã Việc thiết lập quản lý, điều hành trong hợp tác xã nhằm: quản lý rủi ro; tạo ra cơ chế tự do cạnh tranh; tạo ra một mô hình kinh tế có sự bình đẳng cao giữa các thành viên

Trang 34

và tự vươn lên của các thành viên và bộ máy quản lý Vừa phát triển tốt kinh tế của mình, vừa phải cùng nhau vun đắp cho sở hữu tập thể của hợp tác xã mà họ tham gia Luật hợp tác xã năm 2003 cũng quy định rõ hơn về quan hệ nội bộ trong hợp tác xã, vừa tạo điều kiện phát huy sức mạnh của hợp tác xã vừa tạo điều kiện thu hút các thành viên tham gia hợp tác xã Theo luật hợp tác xã năm

2003, cơ cấu tổ chức quản lý hợp tác xã bao gồm: Đại hội xã viên, Ban quản trị, Chủ nhiệm và Ban kiểm soát hợp tác xã

Đại hội xã viên là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của hợp tác xã

Đại hội xã viên họp thường kỳ mỗi năm một lần do Ban quản trị triệu tập Đại hội xã viên có thể là Đại hội toàn thể hay Đại hội đại biểu Đại hội xã viên bất thường do Ban quản trị hoặc Ban kiểm soát triệu tập Đại hội xã viên được tiến hành khi có ít nhất 2/3 tổng số đại biểu được triệu tập có mặt Tại Đại hội các quyết định được biểu quyết thông qua khi có ít nhất 1/2 tổng số đại biểu có mặt tán thành Riêng đối với việc sửa đổi Điều lệ, tổ chức lại, giải thể hợp tác xã thì cần phải có ít nhất 3/4 tổng số đại biểu có mặt tán thành Ở đây mỗi xã viên có một lá phiếu biểu quyết có giá trị ngang nhau, không phụ thuộc vào số vốn góp

Trang 35

hay chức vụ trong hợp tác xã Quyền hạn và nghĩa vụ của Đại hội xã viên được quy định tại Điều 22 Luật hợp tác xã

Ban quản trị là bộ máy quản lý hợp tác xã Ban quản trị do Đại hội xã viên bầu ra với nhiệm kỳ từ 2- 5 năm, gồm Trưởng Ban quản trị và các thành viên khác Số lượng thành viên Ban quản trị do Điều lệ hợp tác xã quy định Ban quản trị họp ít nhất mỗi tháng một lần do Trưởng Ban quản trị hoặc thành viên Ban quản trị được uỷ quyền triệu tập và chủ trì Ban quản trị có thể họp bất thường theo đề nghị của 1/3 thành viên Ban quản trị hoặc Trưởng Ban quản trị, Trưởng Ban kiểm soát, Chủ nhiệm hợp tác xã Cuộc họp được coi là hợp lệ khi

có ít nhất 2/3 tổng thành viên Ban quản trị tham dự Tại cuộc họp các quyết định được tuân theo nguyên tắc đa số

Chủ nhiệm hợp tác xã là người thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh và điều hành công việc hàng ngày của hợp tác xã, tổ chức thực hiện các nghị quyết,

kế hoạch của Ban quản trị hợp tác xã

Đối với hợp tác xã tổ chức một bộ máy vừa quản lý vừa điều hành Chủ nhiệm hợp tác xã sẽ đồng thời là Trưởng ban quản trị, do Đại hội xã viên bầu ra, đảm nhiệm vai trò là người đại diện của hợp tác xã Đối với hợp tác xã có bộ máy quản lý, bộ máy điều hành riêng thì Chủ nhiệm hợp tác xã do Ban quản trị

bổ nhiệm, miễn nhiệm, thuê hoặc chấm dứt hợp đồng thuê theo đề nghị quyết của Đại hội xã viên Khi vắng mặt, Chủ nhiệm ủy quyền cho một Phó chủ nhiệm điều hành công việc của hợp tác xã Trường hợp Chủ nhiệm hợp tác xã là xã viên hoặc thành viên Ban quản trị hợp tác xã thì ngoài việc phải thực hiện đầy đủ các quyền và nhiệm vụ của Chủ nhiệm hợp tác xã theo quy định của Điều này, phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của xã viên hoặc thành viên Ban quản trị hợp tác xã Trường hợp Chủ nhiệm hợp tác xã được thuê thì phải thực hiện đầy đủ các quyền và nhiệm vụ của Chủ nhiệm hợp tác xã quy định tại Điều này và tại hợp đồng thuê Chủ nhiệm hợp tác xã Chủ nhiệm hợp tác xã được tham gia các cuộc họp của Ban quản trị và Đại hội xã viên nhưng không được quyền biểu

Trang 36

quyết và không được hưởng các quyền khác của xã viên, thành viên Ban quản trị hợp tác xã

Ban kiểm soát là cơ quan giám sát và kiểm tra mọi hoạt động của hợp tác

xã theo đúng pháp luật và Điều lệ hợp tác xã Ban kiểm soát do Đại hội xã viên trực tiếp bầu ra theo nhiệm kỳ của Ban quản trị, số lượng thành viên do Điều lệ hợp tác xã quy định

2.1.2 Những điểm mới trong Luật Hợp tác xã năm 2003 về quản lý, điều hành

a, Các quy định pháp luật về quản lý, điều hành hợp tác xã trước khi có Luật Hợp tác xã năm 2003

* Các quy định pháp luật về quản lý, điều hành hợp tác xã trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung

Trong thời kỳ vận hành nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, Nhà nước thực hiện việc quản lý bằng các kế hoạch mang tính chất hành chính Các chủ thể hoạt động kinh tế trong thời kỳ này chủ yếu là các đơn vị quốc doanh và các hợp tác xã Các chủ thể chịu sự can thiệp sâu của các cơ quan quản

lý nhà nước, quyền tự do, tự chủ của đơn vị bị hạn chế Hàng năm, Nhà nước giao các chỉ tiêu kế hoạch cho các đơn vị và các đơn vị phải thực hiện các chỉ tiêu được giao này như một nghĩa vụ bắt buộc Để thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch này, đầu năm Nhà nước sẽ thông qua các đơn vị cung ứng vật tư để cung ứng các yếu tố đầu vào cho hợp tác xã để các hợp tác xã tiến hành tạo ra sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ theo kế hoạch được giao, sau khi thực hiện xong sẽ nộp lại cho Nhà nước để Nhà nước tiến hành phân phối (các vật tư còn thừa cũng nộp lại cho Nhà nước) Hợp tác xã thời kỳ này không phải hoạch toán kinh doanh - tức là không cần biết lỗ, lãi - mà chỉ cần lo hoàn thành chỉ tiêu được giao Như vậy, trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, Nhà nước thực hiện sự quản

lý, bao cấp toàn diện đối với các hợp tác xã, không chỉ ở cấp độ vĩ mô mà còn thực hiện cả ở cấp độ vi mô Chính sự can thiệp sâu của Nhà nước vào các hoạt

Trang 37

động vi mô trong hợp tác xã mà hoạt động của các hợp tác xã trở nên hình thức, cứng nhắc và sơ cứng, không vận hành theo đúng bản chất của một đơn vị kinh doanh

Không những chịu sự quản lý bằng các kế hoạch hành chính khắt khe mà hợp tác xã còn được coi như là một thành phần thứ yếu trong nền kinh tế, là đơn

vị phụ thuộc vào các đơn vị quốc doanh, do các đơn vị quốc doanh lãnh đạo Tư tưởng này được thể hiện rõ tại Điều 4 thông tư số 297/TTg ngày 13/6/1958 về

ban hành Bản quy tắc tổ chức tạm thời hợp tác xã thủ công nghiệp: “Hợp tác xã

thủ công nghiệp phải chấp hành đúng đường lối, chính sách, kế hoạch kinh tế và luật lệ của Nhà nước và phải chịu sự lãnh đạo của kinh tế quốc doanh” Những

chủ trương, chính sách này đã biến hợp tác xã trở thành tổ chức kinh tế tuy hoạt

động song song cùng với các đơn vị quốc doanh, nhưng lại "là vệ tinh và bổ trợ

cho kinh tế quốc doanh, phụ thuộc vào kinh tế quốc doanh, quản lý theo kiểu kinh tế quốc doanh" [12, tr 52]

Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, chưa có một đạo luật điều chỉnh thống nhất đối với các hợp tác xã Tổ chức và quản lý nội bộ hợp tác xã được quy định tại Điều lệ mẫu của từng loại hình hợp tác xã Chính vì vậy, quy định

về tổ chức, điều hành hợp tác xã có nhiều điểm không thống nhất, mẫu thuẫn Điều này thể hiện rõ trên một số nội dung như:

- Đối với quy định pháp luật về cơ quan quản lý hợp tác xã, về cơ bản các hợp tác xã đều có bộ máy quản lý bao gồm: Đại hội xã viên, Ban quản trị, chủ

nhiệm hợp tác xã, Ban kiểm soát Tuy vậy, "có một số Điều lệ cụ thể còn đưa

thêm các quy định về các bộ phận nghiệp vụ, kế toán trưởng, về tổ sản xuất và tổ trưởng, tổ phó sản xuất" [15, tr.25]

- Đối với vấn đề thời gian tiến hành Đại hội xã viên của từng loại hợp tác

xã được quy định không thống nhất Có Điều lệ hợp tác xã quy định Đại hội xã viên do Ban quản trị triệu tập và ít nhất 3 tháng một lần, có Điều lệ quy định Đại hội xã viên họp mỗi năm 2 lần, có Điều lệ quy định họp ít nhất mỗi năm 1 lần

Trang 38

- Đối với vấn đề bầu các chức danh quản lý, điều hành hợp tác xã Về cơ bản có 3 cách bầu: (1) Đại hội xã viên bầu trực tiếp các chức danh Ban quản trị, Chủ nhiệm hợp tác xã, Ban kiểm soát; (2) Đại hội xã viên bầu Ban quản trị, Ban quản trị bầu Chủ nhiệm hợp tác xã, các Phó chủ nhiệm hợp tác xã; (3) Đại hội xã viên bầu Chủ nhiệm hợp tác xã, Ban kiểm soát và xem xét công nhận các Phó chủ nhiệm hợp tác xã và kế toán trưởng

- Đối với vấn đề nhiệm kỳ của Ban quản trị và Ban kiểm soát, có Điều lệ quy định nhiệm kỳ là một năm, có Điều lệ quy định là 2 năm, có Điều lệ quy định là 3 năm

Tóm lại, trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, do cơ chế quản lý kinh tế bằng kế hoạch nên các hợp tác xã chịu sự can thiệp sâu của Nhà nước, hoạt động của các hợp tác xã không có sự tự do, tự chủ Hệ thống các văn bản pháp luật về

tổ chức, điều hành hợp tác xã mang tính chất tản mạn, được điều chỉnh bởi các văn bản có tính pháp lý thấp, chưa có nguồn điều chỉnh thống nhất

* Pháp luật về quản lý, điều hành hợp tác xã trong cơ chế thị trường, giai đoạn trước khi có Luật hợp tác xã năm 2003

Chuyển sang cơ chế thị trường, Nhà nước đã thừa nhận các hình thức sở hữu khác nhau, thừa nhận nhiều thành phần kinh tế khác nhau Từ năm 1990, Luật công ty ra đời và đến năm 1995 là Luật doanh nghiệp nhà nước tạo nên những cơ sở pháp lý cho một số hình thức tổ chức kinh doanh trong điều kiện mới Trong khi đó, các hợp tác xã vẫn chưa có nguồn luật điều chỉnh mới mà vẫn

sử dụng các văn bản của thời kỳ kế hoạch hoá tập trung Tư tưởng ban hành Luật hợp tác xã chung đã dần được hình thành để tạo cơ sở pháp lý cho các hợp tác xã hoạt động trong điều kiện tình hình mới, điều này được thể hiện rõ thông qua một số văn bản như: Chỉ thị số 67/HĐBT ngày 20/4/1988 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp; Nghị

Trang 39

định số 171/HĐBT ngày 14/11/1988 ban hành bản quy định về chấn chỉnh tổ chức, đổi mới quản lý hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp; Chỉ thị số 234/CT ngày 18/8/1988 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ chính trị

về đổi mới chính sách và cơ chế quản lý đối với các cơ sở sản xuất thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh… Thông qua các văn bản này, tư tưởng coi hợp tác xã là một đơn vị kinh tế tập thể hoạt động theo nguyên tắc tự quản của tập thể xã viên, có tư liệu sản xuất và các vốn khác, tự quyết định mọi vấn đề sản xuất, kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về thu nhập và lỗ lãi, có tư cách pháp nhân, địa vị pháp lý bình đẳng với các loại hình tổ chức kinh doanh khác

Ngày 20/3/1996, Luật hợp tác xã đã được thông qua và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1/1/1997 Sau khi Luật hợp tác xã được ban hành, có nhiều văn bản quy định chi tiết thi hành và các văn bản hướng dẫn thực hiện được ban

hành Luật HTX 1996 đã ghi nhận : "Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tự chủ do

những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản suất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế- xã hội của đất nước"(Điều 1)

Các hợp tác xã theo quy định của Luật hợp tác xã năm 1996 đã được trao quyền tự chủ, tự do kinh doanh Nhà nước chỉ thực hiện việc quản lý vĩ mô, thực hiện những chính sách hỗ trợ cho hợp tác xã phát triển, các hoạt động nội bộ do hợp tác xã chủ động quyết định Thời kỳ này, quản lý, điều hành hợp tác xã được quy định thống nhất, gồm: Đại hội xã viên, Ban quản trị, Chủ nhiệm hợp tác xã, Ban kiểm soát

Đại hội xã viên gồm Đại hội toàn thể hoặc Đại hội đại biểu xã viên của hợp tác xã, các xã viên này có thể là cá nhân hay hộ gia đình góp vốn, góp sức vào hợp tác xã Đại hội xã viên là cơ quan quyết định cao nhất trong hợp tác xã, làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số, mỗi xã viên có một phiếu

Trang 40

biểu quyết, không phụ thuộc vào vốn góp và địa vị của xã viên trong hợp tác xã Đại hội xã viên họp thường kỳ mỗi năm 1 lần

Ban quản trị là cơ quan quản lý của HTX Các thành viên của Ban quản trị

do Đại hội xã viên bầu ra Trưởng ban quản trị cũng do Đại hội xã viên bầu

Chủ nhiệm hợp tác xã là người điều hành hoạt động hàng ngày của hợp tác

xã, là người đại diện của hợp tác xã, do Đại hội xã bầu trực tiếp

Tóm lại, Luật HTX 1996, một đạo luật thống nhất điều chỉnh đối với các hợp tác xã, đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng đối với sự phát triển của pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam Tuy vậy, vấn đề quản lý, điều hành hợp tác

xã theo quy định của Luật HTX 1996 còn nhiều điểm chưa hợp lý, như: Chủ nhiệm hợp tác xã là thành viên của Ban quản trị, do Đại hội xã viên bầu trực tiếp Điều đó có nghĩa là Chủ nhiệm đồng thời là người đứng đầu Ban quản trị thực hiện nhiệm vụ quản lý trong hợp tác xã, đồng thời là người điều hành công việc hàng ngày của hợp tác xã Với quy định này thì trong trường hợp hợp tác xã không có xã viên có đủ năng lực đảm nhiệm công việc trên, hợp tác xã không được quyền thuê người ngoài có năng lực để quản lý, điều hành hợp tác xã

Một số vấn đề của Luật HTX 1996 còn chưa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các hợp tác xã, chưa phát huy được hết thế mạnh của mô hình tổ chức kinh doanh này Bên cạnh đó, một số điều khoản của Luật hợp tác xã có liên quan đến các văn bản pháp luật khác như: Luật đất đai, Luật ngân hàng, Luật các tổ chức tín dụng, Luật thuế… nhưng chưa có sự thống nhất Chính vì vậy, hình thành nhu cầu phải đổi mới Luật hợp tác xã năm 1996, khắc phục những nhược điểm của Luật hợp tác xã năm 1996, đưa những tinh thần mới, những quy định mới đã được khẳng định trong các văn bản luật gần đây vào Luật hợp tác xã

Theo quy định của Luật hợp tác xã năm 1996, tổ chức quản lý, điều hành hợp tác xã gồm có các cơ quan: Đại hội xã viên, Ban quản trị, Chủ nhiệm hợp tác xã Trong đó, Đại hội xã viên là cơ quan có quyền quyết định cao nhất trong

Ngày đăng: 20/10/2015, 16:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Anh (1986), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và tổ chức hợp tác xã ở Việt Nam, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và tổ chức hợp tác xã ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Năm: 1986
2. Trần Ngọc Dũng (2001), Chủ tịch Hồ Chí Minh với quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về các tổ chức kinh tế tập thể ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 2 năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về các tổ chức kinh tế tập thể ở Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Dũng
Năm: 2001
3. Trần Ngọc Dũng (2003), Vai trò của pháp luật đối với sự phát triển của hợp tác xã, Tạp chí Luật học, số 1 năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của pháp luật đối với sự phát triển của hợp tác xã
Tác giả: Trần Ngọc Dũng
Năm: 2003
4. Trần Ngọc Dũng (2005), Những điểm mới cơ bản trong Luật hợp tác xã năm 2003, Tạp chí Luật học, số 1 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới cơ bản trong Luật hợp tác xã năm 2003
Tác giả: Trần Ngọc Dũng
Năm: 2005
5. Phạm Đắc Duyên, Trần Hải Hiệp (1987), Tổ chức và quản lý hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và quản lý hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp
Tác giả: Phạm Đắc Duyên, Trần Hải Hiệp
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1987
6. Nguyễn Điền (1996), Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp nông thôn trên thế giới và Việt Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp nông thôn trên thế giới và Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Điền
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1996
7. Nguyễn Ngọc Điệp (1999), Thuật ngữ pháp lý Việt Nam, Nxb TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ pháp lý Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điệp
Nhà XB: Nxb TP HCM
Năm: 1999
8. Dương Đăng Huệ -Trần Thị Thơ (2004), Một số nội dung mới của Luật Hợp tác xã năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nội dung mới của Luật Hợp tác xã năm 2003
Tác giả: Dương Đăng Huệ, Trần Thị Thơ
Năm: 2004
9. Nguyễn Thị Luyến (1996), Kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường ở các nước ASEAN và khả năng vận dụng vào Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường ở các nước ASEAN và khả năng vận dụng vào Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Luyến
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
10. Nguyễn Văn Luyện (9/1999), Luận cứ khoa học của việc xây dựng pháp luật kinh tế ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học của việc xây dựng pháp luật kinh tế ở Việt Nam
11. Nguyễn Ngọc Phúc, Vai trò và triển vọng của kinh tế tập thể trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, Trang kinh tế, báo VnExpress ngày 25/4/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò và triển vọng của kinh tế tập thể trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước
12. Nguyễn Quang Quýnh (1995), Luận cứ khoa học về đổi mới tổ chức, hoạt động và quản lý hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, Đề tài khoa học KX 03.15, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học về đổi mới tổ chức, hoạt động và quản lý hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường ở nước ta
Tác giả: Nguyễn Quang Quýnh
Nhà XB: Đề tài khoa học KX 03.15
Năm: 1995
13. Trương Thị Tiến (1998), Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Trương Thị Tiến
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
14. Trần Thị Thơ (2001), Cơ sở lý luận của đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã, Luận án tiến sĩ luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận của đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã
Tác giả: Trần Thị Thơ
Nhà XB: Luận án tiến sĩ luật học
Năm: 2001
15. Báo cáo tổng kết kinh tế hợp tác xã và hợp tác xã nông nghiệp (1996 – 2000) phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới và củng cố hợp tác xã trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết kinh tế hợp tác xã và hợp tác xã nông nghiệp (1996 – 2000) phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới và củng cố hợp tác xã trong thời gian tới
16. Báo cáo thực hiện Luật Hợp tác xã và các chính sách khuyến khích phát triển hợp tác xã (1997 - 2002), kiến nghị hướng sửa đổi bổ sung, Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, Viện nghiên cứu quản lý kính tế Trung ƣơng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực hiện Luật Hợp tác xã và các chính sách khuyến khích phát triển hợp tác xã (1997 - 2002), kiến nghị hướng sửa đổi bổ sung
17. C.Mác - Ăngghen (1982), Tuyển tập - Tập 3, Nxb Sự thật, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C.Mác - Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
18. Học viện Hành chính Quốc gia (1998), Giáo trình quản lý hành chính Nhà nước - Tập II, Nxb Lao động, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý hành chính Nhà nước
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1998
20. Học viện Hành chính Quốc gia (1998), Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước - tập II, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước - tập II
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 1998
21. Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (1998), Kinh tế hợp tác một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hợp tác một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Liên minh Hợp tác xã Việt Nam
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w