Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu * Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu một cách có hệ thống một số vấn đề lý luận và thực tiễn các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ quyết định hình phạt tiền, tịc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VĂN DIỄN
THI HµNH NGHÜA Vô D¢N Sù TRONG B¶N ¸N
Vµ QUYÕT §ÞNH H×NH Sù CñA TßA ¸N ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số: 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN NGỌC CHÍ
Trang 2
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Diễn
Trang 3VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ
CỦA TÒA ÁN Ở VIỆT NAM 6 1.1 KHÁI NIỆM NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT
ĐỊNH HÌNH SỰ 6 1.1.1 Khái niệm hình phạt tiền và căn cứ áp dụng hình phạt tiền 6 1.1.2 Khái niệm hình phạt tịch thu tài sản và căn cứ áp dụng hình phạt
tịch thu tài sản 10 1.1.3 Khái niệm quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự và
căn cứ áp dụng quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự 12 1.1.4 Khái niệm nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự 13
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN,
QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ 13
1.3 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN
SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ 14 1.3.1 Khái niệm thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định
hình sự 14 1.3.2 Đặc điểm thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định
hình sự 20
Trang 41.4 CƠ SỞ CỦA QUI ĐỊNH THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ
TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ 20
1.4.1 Cơ sở của qui định nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự 20
1.4.2 Cơ sở của qui định thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự 24
1.5 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA QUI ĐỊNH THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ 26
1.5.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1989 26
1.5.2 Giai đoạn từ 01/01/1990 - 30/6/1993 30
1.5.3 Giai đoạn từ 1993 đến nay 32
1.6 LUẬT CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ 38
1.6.1 Thi hành án công 38
1.6.2 Tổ chức thi hành án bán công 39
1.6.3 Tổ chức thi hành án tư nhân 40
Chương 2: QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM 41
2.1 QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ 41
2.1.1 Qui định pháp luật về nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự thuộc loại chủ động thi hành án 41
2.1.2 Qui định pháp luật về nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự thuộc loại thi hành án theo đơn yêu cầu 45
2.2 QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ 51
Trang 52.2.1 Qui định pháp luật về thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án,
quyết định hình sự thuộc loại thi hành án chủ động 51
2.2.2 Qui định pháp luật về thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự thuộc loại thi hành án theo đơn yêu cầu 53
2.3 ƢU ĐIỂM, TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 55
2.3.1 Ƣu điểm 55
2.3.2 Tồn tại 56
2.3.3 Nguyên nhân 57
2.4 THỰC TIỄN THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ VÍ DỤ CỤ THỂ 61
2.4.1 Thực tiễn thi hành thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự 61
2.4.2 Một số ví dụ cụ thể 66
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN Ở VIỆT NAM 78
3.1 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TÒA ÁN ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TIỀN, HÌNH PHẠT TỊCH THU TÀI SẢN VÀ CÁC QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ KHÁC 78
3.1.1 Hình phạt tiền 78
3.1.2 Hình phạt tịch thu tài sản 79
3.1.3 Các quyết định dân sự khác 81
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 82
Trang 63.2.1 Hoàn thiện pháp luật 82
3.2.2 Hoàn thiện cơ sở vật chất 86
3.2.3 Hoàn thiện về bộ máy tổ chức, con người 86
3.2.4 Tăng cường sự phối hợp của các cơ quan liên quan 88
3.2.5 Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật 89
3.2.6 Tăng cường hợp tác quốc tế về thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự 92
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả thi hành thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án
quyết định hình sự (về tiền) từ 01/10/2013 đến 31/3/2014 65 Bảng 3.1: Số bị cáo bị áp dụng hình phạt tiền ở nước ta giai đoạn
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự mang tính quyền lực nhà nước nhằm thực hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa
án trong thực tiễn Nhiệm vụ của giai đoạn này nhằm thi hành các hình phạt tiền, tịch thu tài sản và thi hành các quyết định dân sự khác mà Tòa án áp dụng đối với người bị kết án Đó cũng chính là việc tước bỏ một phần hay toàn bộ tài sản của người bị kết án để sung quỹ Nhà nước hoặc để thu hồi, khắc phục những hậu quả về vật chất mà người phạm tội đã gây ra; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân góp phần giữ vững kỷ cương, phép nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Với ý nghĩa là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án, thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự có mối quan hệ hữu cơ với các giai đoạn tố tụng: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Nếu mục đích của thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự không đạt được thì hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng: điều tra, truy tố, xét xử trước đó cũng trở nên vô nghĩa
Thực tiễn thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự đã bộc lộ một số mặt hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới Do vậy việc nghiên cứu
đề tài: "Thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án và quyết định hình sự của
tòa án ở Việt Nam" để trên cơ sở đó giải quyết các vướng mắc trong lý luận
và thực tiễn và góp phần hoàn thiện hơn về mặt lập pháp các qui định thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay các nhà luật học đã có tương đối nhiều công trình nghiên
Trang 9cứu, bài viết về thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự trên các sách báo, tạp chí (Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí kiểm sát, Tạp chí dân chủ và pháp luật, Tạp chí luật học v.v ) Tuy nhiên các công trình, bài viết mới chỉ đi vào những vấn đề chung mà chưa đi sâu vào việc nghiên cứu về cơ
sở lý luận cũng như những bất cập đang tồn tại trong thực tiễn
Trong các giáo trình giảng dạy cũng chỉ đề cập rất ít và ở góc độ
cơ bản về vấn đề này
Tác giả của luận văn có thể nêu một vài ví dụ các công trình, bài viết
sau: GS.TSKH Lê Cảm: "Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự", Tạp chí Kiểm sát, số 02/2004; PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí:
"Bàn về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự", Tạp chí Khoa học, (Luật học), số 26, 2010; Hoàng Thị Sơn: "Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự", Tạp chí Luật học, số 6, 1998, Nguyễn Thanh Thủy: "Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự", Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2001; Lê Kim Dung: "Civil Execution in
ViêtNam; Reality Problems and Suggestion Towrds a
và những gợi ý hướng tới một hệ thống hoàn thiện), Luận văn thạc sĩ Luật học, 2002; Lê Xuân Hồng: "Xã hội hóa một số nội dung thi hành án dân sự",
Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2002; Nguyễn
Quang Thái: "Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam",
Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2003;
Yến Minh: "Luật thi hành án dân sự còn nhiều bất cập", báo điện tử Bắc Ninh, ngày 21/8/2012; "Công tác thi hành án dân sự còn nhiều vướng mắc, bất cập", đăng trên trang thông tin điện tử của Tổng Cục thi hành án dân sự -
Bộ Tư pháp ngày 13/08/2013 v.v Các công trình nói trên đã đề cập đến các
Trang 10khía cạnh khác nhau của việc thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và tương đối có hệ thống về thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án và các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án dưới cấp độ một luận văn thạc sĩ Luật học
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một cách có hệ thống một số vấn đề lý luận và thực tiễn các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ quyết định hình phạt tiền, tịch thu tài sản và các quyết định dân sự khác trong bản án, quyết định hình sự cũng như lý luận
và thực tiễn thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa
án để đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án ở nước ta
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả của luận văn đã đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ quyết định hình phạt tiền, tịch thu tài sản và các quyết định dân sự khác trong bản án, quyết định hình sự cũng như lý luận và thực tiễn về thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án
- Đánh giá thực tiễn thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án; nêu ra mặt được, mặt chưa được của việc thi hành nghĩa
vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 11Đối tượng nghiên cứu của luận văn là qui định của pháp luật về nghĩa
vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án bao gồm các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ quyết định hình phạt tiền, tịch thu tài sản và các quyết định dân sự khác trong bản án, quyết định hình sự và thực tiễn áp dụng Luận văn cũng đồng thời nghiên cứu thực tiễn thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản
án, quyết định hình sự của tòa ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là qui định của pháp luật và thực tiễn thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản và các quyết định dân sự khác trong bản án, quyết định hình sự với thời gian từ năm 2005 đến năm 2013
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, về chính sách thi hành nghĩa vụ dân
sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án Đề tài được thực hiện trên cơ
sở quán triệt các nghị quyết và chỉ thị của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước về pháp luật hình sự và pháp luật về thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án Cơ sở thực tiễn của các báo cáo chuyên
đề vÒ thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án, của Tổng Cục thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Vụ Kiểm sát thi hành án - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao v.v
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp sau: phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, lịch sử, lôgíc,
so sánh, thống kê
6 Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình
Trang 12sự của tòa án ở Việt Nam Việc đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án có ý nghĩa góp phần hoàn thiện các qui định của pháp luật về thi hành nghĩa vụ dân
sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án, hướng dẫn áp dụng thống nhất các qui định về thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án, giúp cơ quan thi hành án có các biện pháp hữu hiệu nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người có ích và tái hòa nhập với xã hội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thi hành nghĩa vụ dân sự trong
bản án, quyết định hình sự của tòa án ở Việt Nam
Chương 2: Qui định pháp luật về thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản
án, quyết định hình sự của tòa án và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành nghĩa vụ dân sự
trong bản án, quyết định hình sự của tòa án ở Việt Nam
Trang 131.1.1 Khái niệm hình phạt tiền và căn cứ áp dụng hình phạt tiền
1.1.1.1 Khái niệm hình phạt tiền
Theo Điều 26 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009, định nghĩa: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được qui định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định” [29]
Mục đích của hình phạt là nhằm trừng trị người phạm tội, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội đồng ngoài ra còn nhằm đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
Mặc dù được ghi nhận khá sớm trong pháp luật hình sự, song vẫn chưa có một khái niệm pháp lý chính thức nào về hình phạt tiền trong các văn bản pháp luật hình sự và cho đến nay hình phạt tiền mới chỉ được ghi nhận trong các giáo trình, sách báo pháp lý chuyên ngành Có thể kể đến một số quan điểm sau:
- Phạt tiền là một loại hình phạt được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung, khi hình phạt chính là loại hình phạt khác Phạt tiền do Tòa
án quyết định trong những trường hợp do luật định mà theo đó người bị kết án
bị tước một số tiền tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm, đồng thời xem xét đến tình hình tài sản của người bị kết án và sự biến động của giá cả
- Phạt tiền là hình phạt không tước tự do, nhẹ hơn hình phạt cải tạo
Trang 14không giam giữ, buộc người bị kết án phải nộp sung công quỹ nhà nước một khoản tiền nhất định
- Phạt tiền là hình phạt tước của người phạm tội một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước
Các khái niệm trên mặc dù đã cố gắng chỉ ra các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của hình phạt tiền nhưng còn dài dòng, chưa phù hợp với một khái niệm mang tính chất pháp lý Khái niệm "Phạt tiền là hình phạt tước của người phạm tội một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước" sử dụng thuật ngữ pháp lý "người phạm tội" để chỉ đối tượng bị áp dụng hình phạt tiền là chưa hợp lý vì chỉ những người bị Tòa án quyết định áp dụng hình phạt tiền mới bị tước một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước Do vậy, sẽ là chính xác hơn nếu sử dụng thuật ngữ "người bị kết án" thay cho thuật ngữ
"người phạm tội"
Phạt tiền là hình phạt được qui định trong Bộ luật hình sự Việt Nam
tước đi của người bị kết án một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước
là khái niệm ngắn gọn phản ánh tương đối đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng cũng như nội dung pháp lý của hình phạt tiền
e) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; [29]
Trong hệ thống hình phạt Việt Nam, hình phạt tiền có thể được áp
Trang 15dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung Trong tổng số 272 điều luật qui định về tội phạm cụ thể, số điều luật qui định hình phạt tiền là hình phạt chính có 74/272 chiếm tỷ lệ 27,2%
Khoản 1 Điều 30 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 qui định căn cứ để
áp dụng phạt tiền là hình phạt chính như sau: “1 Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật này qui định” [29]
Như vậy, phạt tiền được qui định là hình phạt chính cho ba nhóm tội phạm sau:
+ Nhóm tội phạm có tính chất vụ lợi, ví dụ như: tội buôn lậu; tội vận
chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm; tội đầu cơ; tội trốn thuế; tội lừa dối khách hàng
+ Nhóm tội phạm dùng tiền làm phương tiện phạm tội, ví dụ như: tội đánh bạc; tội tổ chức đánh bạc; tội gá bạc
+ Nhóm tội phạm khác: đây là một số tội tuy không thuộc hai trường
hợp trên nhưng nhà làm luật thấy rằng cần thiết áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với người phạm tội nhằm đạt được tối đa mục đích của hình phạt
Ví dụ như: tội gây rối trật tự công cộng; tội hành nghề mê tín dị đoan; tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy; tội vi phạm qui chế về khu vực biên giới; tội xuất nhập cảnh trái phép; tội ở lại nước ngoài hoặc ở lại Việt Nam trái phép
Ngoài ra để quyết định áp dụng phạt tiền là hình phạt chính thì phải căn cứ theo qui định chung tại Điều 45 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009:
“Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào qui định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự” [29]
Trang 16Một điều kiện không thể bỏ qua khi quyết định áp dụng phạt tiền là hình phạt chính là điều kiện kinh tế của người phạm tội phải có khả năng thực hiện nộp một khoản tiền nhất định theo hình thức một lần hay nhiều lần trong thời hạn do Tòa án quyết định
Phạt tiền còn được áp dụng là hình phạt bổ sung trong hệ thống hình phạt Việt Nam Khoản 2 Điều 30 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 qui định
căn cứ để áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung như sau: “2 Phạt tiền được
áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm các tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác do Bộ luật này qui đinh” [29]
Trong tổng số 272 điều luật qui định về tội phạm cụ thể, số điều luật qui định hình phạt tiền là hình phạt bổ sung có 111/272 chiếm tỷ lệ 40,8% Phạt tiền là được qui định là hình phạt bổ sung cho ba nhóm tội phạm sau:
+ Nhóm tội phạm về tham nhũng, ví dụ như: tội tham ô; tội nhận hối lộ;
tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ
+ Nhóm tội phạm về ma túy, ví dụ như: tội trồng cây thuốc phiện hoặc
các loại cây khác có chứa chất ma túy; tội sản xuất trái phép chất ma túy; tội
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy
+ Nhóm tội phạm khác: đây là một số tội tuy không thuộc hai trường
hợp trên nhưng nhà làm luật thấy rằng cần thiết áp dụng phạt tiền là hình phạt
bổ sung đối với người phạm tội nhằm đạt được tối đa mục đích trừng trị người phạm tội và mục đích phòng chống tội phạm Ví dụ như: tội mua bán người; tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em; tội vu khống và một số tội phạm về xâm phạm sở hữu
Để áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung thì Tòa án còn căn cứ vào qui định chung tại Điều 45 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009
Điểm khác biệt so với trường hợp áp dụng phạt tiền là hình phạt chính
Trang 17thì khi áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung, điều kiện kinh tế của người phạm tội không phải là điều kiện bắt buộc để áp dụng
1.1.2 Khái niệm hình phạt tịch thu tài sản và căn cứ áp dụng hình phạt tịch thu tài sản
1.1.2.1 Khái niệm hình phạt tịch thu tài sản
Theo Điều 26 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009, định nghĩa: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được qui định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định” [29]
Mục đích của hình phạt là nhằm trừng trị người phạm tội, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội đồng ngoài ra còn nhằm đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
Điều 40 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009, định nghĩa: “Tịch thu tài sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án sung quỹ nhà nước” [29]
Tịch thu tài sản là biện pháp cưỡng chế rất nghiêm khắc về mặt kinh
tế So sánh với các hình phạt chính không tước quyền tự do và cả với một
số hình phạt bổ sung khác thì hình phạt tịch thu tài sản còn nghiêm khắc hơn rất nhiều
Tính nghiêm khắc của hình phạt này thể hiện ở chỗ người bị kết án có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của họ sung vào quỹ Nhà nước, nhằm mục đích triệt để thu hồi các tài sản của người bị kết án
do thu lợi bất chính mà có, đồng thời triệt tiêu cơ sở kinh tế của họ nhằm ngăn ngừa họ có thể sử dụng các tài sản đó vào hoạt động phạm tội, gây nguy hại cho xã hội, thông qua đó giáo dục người bị kết án ý thức tôn trọng pháp luật, không phạm tội mới và răn đe những người có nguy cơ phạm tội trong xã hội, thực hiện phòng ngừa chung trong xã hội Như vậy, chức năng cơ bản của loại hình phạt này là chức năng phòng ngừa tội phạm
Trang 181.1.2.2 Căn cứ áp dụng hình phạt tịch thu tài sản
Theo qui định tại điểm đ khoản 2 Điều 26 Bộ luật hình sự sửa đổi năm
2009 thì tịch thu tài sản là hình phạt bổ sung nên chỉ được áp dụng cùng các hình phạt chính chứ không được áp dụng một cách độc lập Trong tổng số 272 điều luật qui định về tội phạm cụ thể, số điều luật có qui định hình phạt tịch thu tài sản là 42/272 chiếm tỷ lệ 15,44%
Điều 40 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 qui định điều kiện áp dụng hình phạt tịch thu tài sản như sau:
Tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án
về tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng trong trường hợp do Bộ luật này qui định Khi tịch thu toàn
bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sống [29]
Như vậy với người bị kết án về tội ít nghiêm trọng không bị áp dụng hình phạt tịch thu tài sản Ngoài ra thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước ta thì trong trường hợp người bị kết án bị tịch thu toàn bộ tài sản các cơ quan tố tụng trong quá trình thực hiện vẫn phải để cho người bị kết án và gia đình họ
có điều kiện sinh sống
Các tội có thể bị áp dụng hình phạt tịch thu tài sản là các tội thuộc nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia theo như qui định của Điều 92 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009; các tội xâm phạm sở hữu; các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; các tội về ma túy; các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật
tự công cộng; các tội về chức vụ
Tài sản bị tịch thu phải thuộc sở hữu của người bị kết án hoặc tài sản người phạm tội có được do thu lời bất chính nhưng cơ quan chức năng không thể chứng minh được
Trang 191.1.3 Khái niệm quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình
sự và căn cứ áp dụng quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự
1.1.3.1 Khái niệm quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự
Quyết định dân sự như quyết định về án phí; các quyết định dân sự thuộc phần các biện pháp tư pháp qui định trong chương VI Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 như: quyết định tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm (Điều 41); quyết định trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; quyết định buộc công khai xin lỗi (Điều 42)
1.1.3.2 Căn cứ áp dụng quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự
Cơ sở pháp lý để thực hiện vấn đề này là Bộ luật tố tụng hình sự Điều
28 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định giải quyết vấn đề dân sự trong
vụ án hình sự như sau: Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự
Trong trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự Đây là điều luật mới, được bổ sung vào Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Các hoạt động của cơ quan Nhà nước nói chung và của các cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng đều cần một khoản chi phí nhất định Chính vì vậy
mà Nhà nước buộc người bị kết án phải chịu một khoản chi phí là án phí để
bù đắp các chi phí tiến hành tố tụng hình sự
Người phạm tội trong quá trình thực hiện tội phạm nếu có lỗi và làm phát sinh các thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng và danh dự, nhân phẩm của người khác nên ngoài trách nhiệm hình sự còn phải chịu trách nhiệm về dân sự Khi các cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh, giải quyết trách nhiệm hình sự cũng phải chứng minh, giải quyết các quan hệ dân sự phát sinh do
Trang 20hành vi phạm tội và đó là các căn cứ áp dụng quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự như quyết định: trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, công khai xin lỗi
1.1.4 Khái niệm nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự
Hình phạt phạt tiền và tịch thu tài sản dù với vai trò là hình phạt chính hoặc bổ sung do Tòa án quyết định trong bản án, quyết định hình sự thì đều dẫn đến một hậu quả là tước bỏ của người bị kết án một phần hoặc toàn bộ tài sản, tiền nên về bản chất dưới góc độ pháp luật dân sự thì đó lại là các nghĩa
vụ dân sự phát sinh từ các quyết định hình sự trong bản án, quyết định hình sự
và ngoài ra còn nhiều nghĩa vụ dân sự phát sinh từ các quyết định dân sự khác
mà tòa án quyết định buộc người bị kết án phải chịu
Các quyết định hình phạt tiền, tịch thu tài sản và các quyết định dân sự như trên sau khi được Tòa án quyết định áp dụng thì phát sinh các nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự mà người bị kết án phải thi hành
Do đó có thể đưa ra khái niệm nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự như sau:
Nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự là các nghĩa vụ phát sinh từ các quyết định về hình phạt tiền, hình phạt tịch thu tài sản và các quyết định dân sự khác do Tòa án quyết định trong bản án, quyết định hình sự đối với người bị kết án mà người bị kết án phải chấp hành
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN,
QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ
Các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ các quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, quyết định án phí trong bản án, quyết định hình sự là các hình phạt thể hiện tính tuyệt đối quyền lực Nhà nước, người bị kết án sẽ bị Tòa án quyết định áp dụng mà không có bất cứ sự thỏa thuận nào trong quá trình tố tụng Sau khi các quyết định này có hiệu lực pháp luật thì người bị kết án phải thi
Trang 21hành và người được thi hành là Nhà nước, tiền và tài sản thu được sẽ sung quỹ Nhà nước
Các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ các quyết định về trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, công khai xin lỗi tuy mang tính quyền lực Nhà nước nhưng không phải tuyệt đối vì trong quá trình tố tụng các cơ quan tố tụng có thể cho các bên thỏa thuận giải quyết trừ các trường hợp thiệt hại vật chất là yếu tố thuộc cấu thành của tội phạm Đến giai đoạn thi hành các nghĩa
vụ này các bên vẫn tiếp tục có quyền thỏa thuận thi hành cho dù không được
thỏa thuận ở giai đoạn tố tụng
1.3 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ
vậy, thi hành bản án và quyết định hình sự có thể được hiểu là đem bản án và quyết định hình sự của tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế cho có hiệu quả Bản án, quyết định hình sự của Tòa án được hiểu là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải quyết về các vấn đề trong vụ án hình sự
Hiện nay, xung quanh bản chất pháp lý của khái niệm thi hành án nói chung trong đó có khái niệm thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án, còn có nhiều ý kiến khác nhau
Quan điểm thứ nhất của TS Phan Hữu Thư và ThS Nguyễn Công
Bình cho rằng, thi hành án là một giai đoạn tố tụng
Trang 22Quan điểm thứ hai của PGS.TS Võ Khánh Vinh và TS Đinh Trung
Tụng cho rằng, thi hành án là một giai đoạn mang tính hành chính - tư pháp: Không thể đồng nhất hoạt động thi hành án với hoạt động tố tụng
Các quan điểm trên đều có hạt nhân hợp lý và đều dựa trên những luận cứ khoa học nhất định nhưng về vấn đề này tác giả cho rằng thi hành án
là hoạt động tư pháp, bởi những lý do sau đây:
Thứ nhất, trước hết cần khẳng định, thi hành án là giai đoạn tiếp theo
của giai đoạn xét xử, hoạt động xét xử là tiền đề của hoạt động thi hành án Hoạt động thi hành án lệ thuộc và chịu sự chi phối của hoạt động xét xử, bởi
lẽ thi hành án được tiến hành dựa trên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, nói cách khác, căn cứ pháp lý để thi hành án là bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Cơ quan thi hành án có trách nhiệm
ra quyết định thi hành án và thi hành đúng theo phán quyết của Tòa án, không được suy diễn các phán quyết của Tòa án trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Ngoài sự lệ thuộc nói trên, việc thi hành chịu sự chi phối của hoạt động xét xử còn được thể hiện ở chỗ: nếu bản án, quyết định của Tòa án chưa
rõ ràng, cơ quan thi hành án có thể đề xuất các cơ quan xét xử có thẩm quyền giải thích bản án, quyết định đó Trong quá trình đưa bản án, quyết định ra thi hành, Tòa án có thẩm quyền tạm hoãn thi hành án theo luật định hoặc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, mà hậu quả pháp lý của nó có thể làm thay đổi kết quả thi hành án hay cách thức thi hành án của cơ quan thi hành án Thi hành án là giai đoạn diễn ra ngay sau giai đoạn xét xử và các bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là cơ sở để tiến hành hoạt động thi hành án Song không thể nói đây là cơ sở pháp lý duy nhất, mà mới chỉ là điều kiện cần Để tiến hành hoạt động thi hành án có hiệu quả, phải có các điều kiện đủ là có cơ quan thi hành án, các nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi
Trang 23hành án được qui định cụ thể trong pháp luật thi hành án Cho nên, hoạt động thi hành án không chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng mà chịu sự điều chỉnh của pháp luật thi hành án
Thứ hai, mặc dù có sự lệ thuộc và chịu sự chi phối như trên, nhưng ở
giai đoạn thi hành án, tính chất tố tụng đã chấm dứt, bởi lẽ khi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, chức năng xét xử đã hoàn thành, chân lý đã được làm sáng tỏ, có tội hay vô tội, đúng hay sai đã được phân xử
rõ ràng Ở thời điểm này, quyền lực của Nhà nước mới chỉ được thể hiện trên các bản án, quyết định công nhận các sự kiện pháp lý, các quan hệ pháp luật hoặc buộc người bị kết án có nghĩa vụ phải làm một việc hoặc không làm một việc vì lợi ích của Nhà nước hoặc của người được thi hành án, chứ việc công nhận này chưa được thể hiện trên thực tế Để thực hiện nhiệm vụ đưa các phán quyết của Tòa án trở thành hiện thực trên thực tế, cơ quan thi hành án phải có sự phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan, trong đó có Tòa án
Thứ ba, thi hành án không mang tính chất hành chính, bởi hành chính
là hoạt động chấp hành, điều hành, các quyết định hành chính được đưa ra trên cơ sở mệnh lệnh có tính bắt buộc thi hành của cấp trên đối với cấp dưới Hoạt động của cơ quan hành chính chủ yếu xoay quanh người đứng đầu là Thủ trưởng cơ quan hành chính, trong khi đó thi hành án là hoạt động tư pháp
có những điểm khác cơ bản
Trước hết, khái niệm tư pháp hiểu theo nghĩa rộng, là một hệ thống các thiết chế, các tổ chức bảo vệ pháp luật, duy trì, bảo đảm công lý, công bằng xã hội, trong đó hoạt động xét xử của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Tòa án giữ vai trò, vị trí quan trọng, là khâu trung tâm Vì vậy, khi nói tới Tòa án là nói tới biểu tượng điển hình của việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, là nơi biểu hiện rực rỡ nhất bản chất của pháp luật Khái niệm tư pháp hiểu theo nghĩa hẹp,
đó là hoạt động xét xử của Tòa án, thông qua những thủ tục tố tụng nhất định,
Trang 24đối với những vụ việc vi phạm pháp luật, tranh chấp của các chủ thể trong đời sống xã hội, nhằm bảo vệ pháp luật, duy trì, bảo đảm công lý, công bằng xã hội Vì vậy, toàn bộ các hoạt động điều tra, truy tố và các hoạt động bổ trợ tư pháp (Giám định, Luật sư, Công chứng, Hộ tịch, Tư vấn pháp luật ) đều nhằm phục vụ cho quá trình làm sáng tỏ chân lý, tìm ra sự thật của các vụ việc đã diễn ra trên thực tế, để trên cơ sở đó, Tòa án đưa ra phán quyết theo qui định của pháp luật Kết thúc giai đoạn xét xử, Tòa án quyết định những vấn đề thuộc
về nội dung vụ án, xác định trách nhiệm pháp lý và chế tài thích hợp cho từng đối tượng cụ thể, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan,
tổ chức và của công dân Các bản án và quyết định xét xử của Tòa án không những nhân danh Nhà nước mà còn thể hiện quyền lực tối cao của Nhà nước có
hiệu lực thi hành, chính vì vậy, Điều 106 Hiến pháp năm 2013 qui định: "Bản
án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan,
tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành" [32] Tuy nhiên, các bản án và quyết định của Tòa án muốn
trở thành hiện thực trong cuộc sống thì phải thông qua hoạt động thi hành án
Là một trong các hoạt động tư pháp, với mục đích chung là: Bảo vệ pháp chế
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân
Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm thi hành án như sau:
Thi hành án là hoạt động tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật qui định để đưa bản án, quyết định của Tòa án hoặc các quyết định khác theo qui định của pháp luật, được thự c hiệ n trên thự c tế , nhằ m bả o đ ả m lợ i ích
Trang 25chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
Thi hành án đối với bản án, quyết định hình sự của Tòa án gồm hai phần: Phần thứ nhất là thi hành án hình sự (gồm: Thi hành án phạt tù; Thi hành án tử hình; Thi hành án treo; Thi hành án phạt cải tạo không giam giữ; Thi hành án phạt cấm cư trú; Thi hành án phạt quản chế; Thi hành án phạt trục xuất; Thi hành án phạt tước một số quyền công dân; Thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; Thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh; Thi hành biện pháp
tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Thi hành biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng)
Phần thứ hai là thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình
sự của tòa án Theo qui định tại khoản 5 Điều 257 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003: "Cơ quan thi hành án dân sự thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự trong vụ án hình sự" [25] Gồm: Thi hành hình phạt tiền;
thi hành hình phạt tịch thu tài sản và thi hành các quyết định dân sự khác trong bản án, quyết định hình sự như: thi hành nghĩa vụ công khai xin lỗi; thi hành nghĩa vụ sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; thi hành nghĩa vụ hoàn trả tài sản; thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng
Điều này có nghĩa các bản án, quyết định hình sự của tòa án đã có hiệu lực pháp luật mới được đem thi hành theo qui định tại khoản 1, Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (trừ một số trường hợp mặc dù chưa có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn được thi hành ngay theo qui định tại khoản 2, Điều 2 của Luật thi hành án dân sự năm 2008) Đó là các bản án, quyết định hình sự được qui định tại khoản 1, Điều 255 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nhưng chưa quá thời hiệu yêu cầu thi hành án đối với phần thi hành nghĩa vụ công khai xin lỗi; thi hành nghĩa vụ sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; thi hành nghĩa vụ hoàn trả tài sản; thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng Theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 thì những bản án, quyết định hình
Trang 26sự được đưa ra thi hành phần nghĩa vụ dân sự bao gồm hai loại:
Thứ nhất, những bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật Đó là bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án
Thứ hai, những bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp
luật nhưng được thi hành ngay Đó là bản án, quyết định hình sự của Tòa án cấp sơ thẩm về cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần của công dân; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Theo qui định những bản án, quyết định hình sự của Tòa án có hiệu lực pháp luật không được thi hành ngay mà còn phải qua một trình tự, thủ tục,
tổ chức thi hành Đó là việc Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nơi tòa án
đã xét xử sơ thẩm vụ án trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định (chủ động ra quyết định thi hành án đối với quyết định về: hình phạt tiền; tịch thu tài sản; tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính; nộp án phí) hoặc nhận được đơn yêu cầu thi hành án (ra quyết định thi hành án khi có đơn yêu cầu thi hành án đối với quyết định về: công khai xin lỗi; sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; hoàn trả tài sản; cấp dưỡng) theo qui định tại Điều 36 Luật thi hành
án dân sự năm 2008
Từ sự phân tích trên, có thể đi đến kết luận:
Thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án
là hoạt động tư pháp của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên tiến hành theo trình tự thủ tục do pháp luật qui định để đưa bản án, quyết định hình sự của Tòa án được thực hiện trên thực tế buộc người bị kết án phải thực hiện quyết định về hình phạt tiền, hình phạt tịch thu tài sản và các quyết định
Trang 27dân sự khác (bằng tài sản hay phi tài sản) nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợ p pháp củ a các công dân, tổ chứ c, bả o
1.3.2 Đặc điểm thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự
Xuất phát từ đặc điểm nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình
sự mà thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự cũng có những đặc điểm như sau:
Đối với các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ các quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, quyết định án phí trong bản án, quyết định hình sự được
cơ quan thi hành án chủ động thi hành và trong quá trình thi hành không có sự thỏa thuận thi hành án mà thể hiện hoàn toàn đơn phương của quyền lực Nhà nước Tiền, tài sản thu được từ kết quả thi hành các nghĩa vụ này được sung vào quỹ Nhà nước
Đối với các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ các quyết định dân sự khác như: trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, công khai xin lỗi cơ quan thi hành án không chủ động thi hành mà chỉ thi hành khi người được quyền lợi về tiền, tài sản hay nhân thân có đơn yêu cầu thi hành án Trong quá trình thi hành các bên có quyền thỏa thuận với nhau, người bị kết án có khoảng thời hạn nhất định để tự nguyện thi hành và chỉ khi người bị kết án không tự nguyện thi hành thì mới bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án Quyền về nhân thân, tiền, tài sản thu được từ kết quả thi hành các nghĩa vụ này do cá nhân, tổ chức trong bản án, quyết định hình sự đã tuyên được hưởng
1.4 CƠ SỞ CỦA QUI ĐỊNH THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ
TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ
1.4.1 Cơ sở của qui định nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết
Trang 28định hình sự
Hành vi phạm tội là hành vi nguy hiểm cho xã hội và cần phải bị trừng trị nghiêm khắc cũng như để phòng chống tội phạm thì phải sử dụng một hệ thống các hình phạt trong đó có hình phạt tiền, tịch thu tài sản Khi Tòa án quyết định áp dụng hình phạt tiền, tịch thu tài sản cũng có nghĩa là buộc người
bị kết án phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ về tiền, tài sản hay nói cách khác là nghĩa vụ dân sự Trong quá trình chứng minh và giải quyết trách nhiệm hình sự của người phạm tội các cơ quan tiến hành tố tụng cần làm rõ các điều kiện về tài sản để áp dụng hình phạt tiền, tịch thu tài sản đối với người phạm tội sao cho chính xác và để các nghĩa vụ dân sự này có tính khả thi
Ngoài ra hành vi phạm tội xảy ra không chỉ xâm hại đến những quan
hệ do pháp luật hình sự bảo vệ mà còn gây thiệt hại cho các quan hệ dân sự nên có hai loại trách nhiệm được đặt ra khi giải quyết vụ án hình sự, đó là: trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 qui định một nguyên tắc cơ bản là vấn đề dân sự được giải quyết đồng thời với trách nhiệm hình sự trong cùng vụ án hình sự Theo đó, khi giải quyết vụ
án hình sự mà tội phạm xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản… của cá nhân, tổ chức thì ngoài việc điều tra, truy tố, xét xử về hình sự, áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, các cơ quan tiến hành tố tụng còn phải giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại theo qui định của pháp luật Luật tố tụng hình
sự Việt Nam từ năm 1945 đã qui định vấn đề dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm được giải quyết đồng thời với trách nhiệm hình sự trong cùng
vụ án hình sự, nhưng chỉ đến Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 mới được coi
là một nguyên tắc cơ bản
Khi thực hiện hành vi phạm tội, một mặt người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự, mặt khác họ còn phải chịu trách nhiệm dân sự với tính
Trang 29chất là một chế tài được áp dụng đối với người gây thiệt hại Do đó, khi áp dụng trách nhiệm dân sự đối với người phạm tội không chỉ làm tăng khả năng trừng trị mà còn có ý nghĩa giáo dục đối với bản thân họ và có tác dụng răn
đe, phòng ngừa chung Hơn nữa, quan hệ dân sự trong vụ án hình sự không đơn thuần chỉ là một quan hệ dân sự thông thường mà việc thực hiện trách nhiệm dân sự của bị can, bị cáo còn nhằm thực hiện trách nhiệm hình sự của
họ Chẳng hạn, trường hợp người phạm tội bị buộc trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại do họ gây ra (kể cả thiệt hại về tinh thần) là để thực hiện một biện pháp tư pháp được qui định tại Điều 42 Bộ luật hình sự năm
2009, tức là để thực hiện một yêu cầu của trách nhiệm hình sự Ngoài ra, việc giải quyết vấn đề dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đồng thời còn có giá trị như là chứng cứ để chứng minh về tội phạm, là cơ sở để áp dụng trách nhiệm hình sự
đối với bị can, bị cáo
Chương II Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 qui định những nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự, trong đó có nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự (Điều 28 Bộ luật tố tụng hình sự) Trong quá trình
tố tụng, ngoài việc phải chứng minh và giải quyết phần trách nhiệm hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng còn phải chứng minh và giải quyết phần trách nhiệm dân sự trong vụ án một cách chính xác, khách quan, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Định hướng này không những có tác dụng giải quyết triệt để, khách quan những quan hệ dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm mà còn góp phần làm sáng tỏ những nội dung thuộc trách nhiệm hình sự của người phạm tội trong việc định tội danh và định khung hình phạt hoặc việc khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra Vì vậy, quan niệm cho rằng giải quyết trách nhiệm dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm chỉ xuất hiện ở giai đoạn xét xử và thuộc thẩm quyền của Tòa án là
Trang 30không đúng với qui định của Điều 28 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự Nguyên tắc này đòi hỏi ngay từ giai đoạn khởi tố vụ án hình sự vấn đề dân sự đã phải là một trong những nội dung cần phải thu thập chứng cứ đề chứng minh làm rõ và thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự Tòa án, với chức năng của mình trên cơ sở những chứng cứ đã thu thập được của Cơ quan điều tra và trong phạm vi quyết định truy tố của Viện kiểm sát tiến hành xét xử, ra phán quyết những vấn đề thuộc trách nhiệm dân sự cùng với việc giải quyết những nội dung của trách nhiệm hình sự trong cùng một bản án Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chỉ có phạm vi áp dụng đối với những quan hệ về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng xuất hiện do việc thực hiện tội phạm Có nhiều vấn đề dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm gây thiệt hại cho các quan hệ dân sự, bao gồm: Hành vi phạm tội xâm hại đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, tài sản thì ngoài việc làm phát sinh trách nhiệm hình sự còn làm phát sinh trách nhiệm dân sự của những người tham gia tố tụng Hoặc những vấn đề có liên quan đến tiền và tài sản như: tang vật, án phí, tịch thu vật, tiền hoặc tài sản do phạm tội mà có, đòi lại tài sản, đòi bồi thường thiệt hại… Tuy nhiên, không phải tất cả vấn đề dân sự nào liên quan đến tiền hoặc tài sản mà cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết cũng đều nằm trong phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc qui định tại Điều 28 Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2003 Theo đó, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chỉ bao gồm việc đòi trả lại tài sản bị chiếm đoạt, đòi bồi thường giá trị tài sản do bị can, bị cáo chiếm đoạt nhưng bị mất hoặc bị hủy hoại, buộc phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng, đòi bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt; đòi bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm Nói cách khác, vấn đề dân sự
trong vụ án hình sự chỉ được xác định trong phạm vi "trách nhiệm bồi thường
Trang 31thiệt hại ngoài hợp đồng" theo qui định tại chương XXI Bộ luật dân sự năm
2005 là những quan hệ bồi thường thiệt hại phát sinh do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của tổ chức, cá nhân bị tội phạm xâm hại Vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được giải quyết khi khởi tố vụ án hình sự mà không cần có đơn khởi kiện của đương sự Khi vụ án hình sự có vấn đề dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm bị khởi tố thì việc dân sự đó đương nhiên được xem xét và giải quyết mà không cần phải khởi kiện riêng bằng một thủ tục khác nữa Đây là một điểm khác biệt so với việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án dân sự Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự phải tuân theo các qui định của luật tố tụng hình sự Tuy về thực chất vấn đề dân
sự trong vụ án hình sự là quan hệ pháp luật hình sự nhưng nó lại phát sinh trên cơ sở hành vi phạm tội, nên nó không chỉ đơn thuần là những quan hệ dân sự mà còn là căn cứ quan trọng cho việc xác định tội phạm, hình phạt cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Vì vậy, khi xem xét, giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự về nội dung phải tuân theo các qui định của Bộ luật dân sự năm 2005 nhưng về hình thức (về mặt thủ tục) phải tuân theo trình tự, thủ tục của Luật tố tụng hình sự chứ không phải là trình tự, thủ tục của Luật tố tụng dân sự như trong
vụ án dân sự thuần túy
1.4.2 Cơ sở của qui định thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự
Điều 22 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 qui định về bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của Tòa án như sau:
1 Bản án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được các cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng Cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan trong phạm vi trách nhiệm của mình phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết
Trang 32định của Toà án và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc chấp hành đó
2 Trong phạm vi trách nhiệm của mình, các cơ quan nhà nước, chính quyền xã, phường, thị trấn, tổ chức và công dân phải phối hợp với cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án trong việc thi hành án
Các cơ quan nhà nước, chính quyền xã, phường, thị trấn có trách nhiệm tạo điều kiện và thực hiện yêu cầu của cơ quan, tổ chức
có nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án trong việc thi hành án [25]
Tại khoản 5 Điều 257 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 qui định cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án và quyết định của Tòa án:
5 Cơ quan thi hành án dân sự thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự trong vụ án hình sự Chính quyền
xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giúp chấp hành viên trong việc thi hành án Nếu cần phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thì cơ quan Công an và các cơ quan hữu quan khác có nhiệm vụ phối hợp [25]
Điều 267 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 qui định về thi hành hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản:
Quyết định đưa bản án phạt tiền hoặc tịch thu tài sản ra thi hành phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, chấp hành viên, người bị kết án và chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người bị kết
Trang 33tịch thu tài sản, quyết định về án phí và các quyết định dân sự khác đã làm phát sinh nghĩa vụ dân sự của người bị kết án và các nghĩa vụ dân sự này phải
có các qui định pháp luật để thi hành Vì là các nghĩa vụ dân sự nên các qui định để thi hành sẽ thuộc về pháp luật dân sự và trình tự thủ tục theo qui định của Luật thi hành án dân sự năm 2008
1.5 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA QUI ĐỊNH THI
HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ
Lịch sử hình thành và phát triển của việc qui định thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự chính là lịch sử hình thành và phát triển của việc qui định thi hành án dân sự vì thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự là một phần trong thi hành án dân sự
Dưới thời Pháp thuộc, thi hành án dân sự hình thành với tên gọi Thừa phát lại Nhưng đến khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, công tác thi hành án nói chung, thi hành án dân sự nói riêng đã có sự thay đổi căn bản về chất Nhìn lại chặng đường lịch sử hình thành và phát triển của thi hành án dân sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay, chúng ta có thể chia thành các giai đoạn sau đây
1.5.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1989
Là giai đoạn mà tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự chưa được dựa trên một văn bản pháp luật chính thức có hiệu lực pháp lý cao do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành (Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội) Giai đoạn này, công tác thi hành án dân sự đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tòa án Tuy nhiên, về vấn đề quản lý nhà nước và hình thức tổ chức thi hành
án dân sự có những thay đổi nhất định qua các thời kỳ: 1945 1949, 1950
-1980, 1981 - 1989
* Thời kỳ 1945 - 1949
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
Trang 34hòa ra đời, hệ thống tư pháp mới được thiết lập trong cả nước Trên cơ sở Sắc lệnh ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc giữ tạm thời các luật, lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam bộ cho đến khi ban hành những Bộ luật chung thống nhất cho toàn quốc, nếu những đạo luật ấy "không trái với những nguyên tắc độc lập của Nhà nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa", chế định Thừa phát lại tiếp tục được duy trì Tại Nghị định số 37 ngày 01/12/1945 về tổ chức Bộ Tư pháp, phòng giám đốc Hộ vụ được thành lập, trong đó có Ban công lại thực hiện nhiệm vụ quản lý Thừa phát lại Cũng theo tinh thần Sắc lệnh 10/10/1945 nói trên, những qui định về thủ tục thi hành án dân sự tiếp tục được áp dụng, đáp ứng yêu cầu hoạt động tư pháp trong những năm đầu của chính quyền cách mạng
Ngày 24/01/1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Sắc lệnh số 13 về tổ chức các Tòa án và các ngạch thẩm phán đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho tổ chức thi hành án dân sự Việt Nam Tại khoản 3, Điều 3 của Sắc lệnh qui định: Ban tư pháp xã có quyền thi hành những mệnh lệnh của thẩm phán cấp trên
Như vậy, tổ chức thi hành án dân sự đã được hình thành ngay trong những năm đầu Cách mạng tháng Tám thành công và tồn tại dưới hai hình thức là: Thừa phát lại và Ban tư pháp xã Tuy tồn tại hai lực lượng thi hành
án, nhưng việc thực hiện thi hành án do Thừa phát lại hay Ban tư pháp xã tiến hành, đều thể hiện quyền lực nhà nước và được đảm bảo bởi sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Điều này được thể hiện tại Sắc lệnh số 130 ngày 19/7/1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa Điều thứ nhất của Sắc lệnh này qui định:
Các bản toàn sao hoặc trích sao bản án hoặc mệnh lệnh do các phòng Lục sự phát cho các đương sự để thi hành bản án, hoặc mệnh lệnh của các Tòa án hộ đều có thể thức thi hành, ấn định"
Trang 35"Vậy, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa truyền cho các Thừa phát lại theo yêu cầu của đương sự thi hành bản án này, các ông Chưởng lý, và Biện lý kiểm sát việc thi hành án, Cai thị chỉ huy binh lực giúp đỡ mỗi khi đương sự chiếu luật yêu cầu [3]
Về trình tự thi hành án, Thông tư số 24-BK ngày 26/4/1949 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc thi hành án Hình và Hộ đã qui định cụ thể những nguyên tắc chấp hành, thể thức chấp hành, cách thức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án Thông tư đã xác định trách nhiệm thi hành án của Thừa phát lại, Ban tư pháp xã và nhấn mạnh vai trò của Ủy ban nhân dân cấp
xã và các cơ quan liên quan trong việc hỗ trợ thi hành án
* Thời kỳ 1950 - 1980
Ngày 22/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL về "Cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng" tạo nên sự thay đổi có tính chất bước ngoặt trong tổ chức và hoạt động tư pháp nói chung và thi hành án dân sự nói riêng Tại Điều 9 Sắc lệnh qui định: "Thẩm phán huyện dưới sự kiểm soát của biện lý có nhiệm vụ đem chấp hành các án Hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn và các án Hộ mà chính Tòa án huyện và Tòa án trên đã tuyên" [3] Theo qui định này, việc thi hành án dân sự do Thừa phát lại và Ban tư pháp xã thực hiện trước đây được thay thế bằng thẩm phán huyện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh án Điều này đã làm thay đổi căn bản cơ chế tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự Thi hành án dân sự từ chỗ căn cứ vào yêu cầu của đương sự
đã trở thành trách nhiệm của Nhà nước Tòa án chủ động thi hành án dân sự
mà không chờ yêu cầu của người được thi hành án
Trên cơ sở Hiến pháp 1959, Quốc hội ban hành Luật tổ chức Tòa án
nhân dân 1960 Tại Điều 24 của Luật xác định: "Tại các Tòa án nhân dân địa phương có nhân viên thi hành án làm nhiệm vụ thi hành những bản án, quyết định dân sự, những khoản xử về bồi thường và tài sản trong các bản án, quyết
Trang 36định hình sự" [23] Vấn đề vị trí, chức năng, nhiệm vụ của nhân viên chấp
hành án được xác định rõ trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự Ngày 13/10/1972, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ra Quyết định số 186/CT về
tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên
Nhà nước không tổ chức cơ quan thi hành án dân sự riêng mà chỉ đặt Chấp hành viên tại các Tòa án nhân dân địa phương để thực hiện chuyên trách việc thi hành án dân sự Chấp hành viên có nhiệm vụ thi hành những bản án, quyết định dân sự, những khoản xử phạt tiền, tịch thu tài sản, bồi thường, hoàn trả lại tài sản trong các bản án, quyết định hình sự; giúp Chánh án Tòa
án nhân dân đôn đốc, kiểm tra công tác thi hành án tại các Tòa án nhân dân cấp dưới Chấp hành viên thực hiện nhiệm vụ dưới sự chỉ đạo của Chánh án Tòa án nhân dân nơi mình công tác Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, Chấp hành viên có quyền định cho đương sự một thời hạn để thi hành án, áp dụng biện pháp cưỡng chế mà pháp luật cho phép sau khi có sự thỏa thuận của Chánh án nơi Chấp hành viên công tác, yêu cầu lực lượng bảo vệ trật tự trị an giúp sức khi cần thiết, đề nghị Tòa án cấp có thẩm quyền hoãn, tạm đình chỉ thi hành án Đồng thời, Chấp hành viên có trách nhiệm thi hành đầy đủ và nhanh chóng bản án, quyết định của Tòa án (Điều 4, Điều 5 Quyết định số 86/TC ngày 13/10/1972)
Ngoài ra, pháp luật còn qui định trách nhiệm của Ủy ban hành chính
xã, phường cùng các cơ quan có liên quan trong việc tổ chức hỗ trợ thi hành án.Viện kiểm sát nhân dân các cấp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc chấp hành bản án, quyết định của Tòa án nhân dân (Điều 17 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960)
* Thời kỳ 1981 - 1989
Hiến pháp 1980 ra đời đã tạo tiền đề cho sự ra đời các văn bản pháp
Trang 37luật khác Trong đó có các Đạo luật về tổ chức của bộ máy nhà nước, nhằm kiện toàn bộ máy nhà nước, phân tích rõ chức năng của từng loại cơ quan, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước bằng pháp luật Theo qui định tại Điều
16 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 thì việc quản lý Tòa án nhân dân địa phương về mặt tổ chức được giao cho Bộ Tư pháp Nghị định số 143 /HĐBT ngày 22/11/1981 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã qui định: Bộ Tư pháp có chức năng quản lý Tòa án nhân dân địa phương về mặt
tổ chức, trong đó bao gồm cả việc quản lý công tác thi hành án dân sự
Sau khi thực hiện việc chuyển giao công tác thi hành án dân sự, ngày 18/7/1982, Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao đã ký Thông tư liên ngành
số 472 về "quản lý công tác thi hành án trong thời kỳ trước mắt" đã qui định:
ở địa phương tại các Tòa án cấp tỉnh có Phòng thi hành án nằm trong cơ cấu
bộ máy của Tòa án để giúp Chánh án chỉ đạo công tác thi hành án; ở các Tòa
án cấp huyện có Chấp hành viên hoặc cán bộ làm công tác thi hành án dưới sự chỉ đạo của Chánh án Việc quản lý, chỉ đạo và tổ chức thực thi nhiệm vụ của Chấp hành viên vẫn do Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp đảm nhiệm Cơ chế thi hành án này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan tư pháp
và Tòa án từ Trung ương đến địa phương
Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp hành viên
Trang 38theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân địa phương
Theo Pháp lệnh này, cơ chế kết hợp quyền tự định đoạt của đương sự với sự chủ động của cơ quan thi hành án và Chấp hành viên đã tạo ra sự phát triển mới trong công tác thi hành án dân sự Điều đó được thể hiện bằng việc qui định: người bị kết án phải có đơn yêu cầu thi hành án thì Tòa án có thẩm quyền mới tiến hành việc thi hành án (Điều 14 Pháp lệnh); Cơ quan thi hành
án chủ động ra quyết định thi hành án trong những trường hợp nhất định nhằm bảo vệ kịp thời lợi ích của Nhà nước, quyền lợi hợp pháp của tập thể và công dân như đối với những bản án, quyết định phạt tiền, tịch thu tài sản và
án phí, bồi thường thiệt hại tài sản xã hội chủ nghĩa…
Để hướng dẫn và cụ thể hóa Pháp lệnh 1981, hàng loạt những văn bản pháp luật đã được ban hành như: Thông tư liên ngành số 06-89/ TTLN ngày 17/7/1989 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ
Tư pháp; Thông tư liên ngành số 07- 89/TTLN ngày 10/12/1989 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ Cùng với sự hoàn thiện hơn về pháp luật, đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án cũng được củng cố và tăng cường, được chuyên môn hóa, có chức danh, tiêu chuẩn riêng và chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc thực hiện các phán quyết của Tòa án
Tuy vậy, sự điều hành chỉ đạo công tác thi hành án vẫn chưa được thay đổi phù hợp Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên thuộc Tòa án, do Tòa
án trực tiếp chỉ đạo về nghiệp vụ và chịu trách nhiệm báo cáo trước cấp trên
về kết quả hoạt động thi hành án Mọi quyết định quan trọng trong thủ tục thi hành án đều thuộc thẩm quyền của Chánh án, Chấp hành viên với trách nhiệm
là "người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định của Tòa án" thực ra chỉ là những người thừa hành sự chỉ đạo của Chánh án, không
có quyền năng thực sự để đảm bảo thực thi nhiệm vụ của mình Mặt khác,
Trang 39Chánh án với tư cách là người chịu trách nhiệm về tổ chức và hoạt động xét
xử lại là người chỉ đạo việc thi hành những phán quyết của Tòa án nên không khách quan và quá tải về công việc Đội ngũ cán bộ thi hành án luôn bị xáo trộn, không được qui hoạch, đào tạo bồi dưỡng thường xuyên Cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ hoạt động thi hành án hầu như không được trang bị làm ảnh hưởng đến công tác thi hành án
1.5.3 Giai đoạn từ 1993 đến nay
Để khắc phục hạn chế nói trên, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa IX ngày 06/10/1992 đã thông qua nghị quyết về việc bàn giao công tác thi hành
án từ Tòa án nhân dân các cấp sang cơ quan của Chính phủ Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 thay thế Pháp lệnh thi hành án dân sự dân sự năm 1989
đã tạo bước ngoặt lớn về tổ chức và hoạt động thi hành án, đưa công tác này sang một giai đoạn mới, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong thì kỳ đổi mới Theo đó, công tác thi hành án dân sự được chuyển từ Tòa án nhân dân các cấp sang các cơ quan của Chính phủ Mô hình tổ chức cơ quan thi hành án dân sự được thiết lập với hai loại cơ quan: Cơ quan quản lý thi hành án dân sự và Cơ quan thi hành án dân sự Địa vị pháp lý của Chấp hành viên, quyền tự định đoạt của đương sự tiếp tục được khẳng định Ngoài ra, Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 cũng có những qui định nhằm xác lập cơ chế phối hợp của các ngành, cấp trong công tác thi hành án dân sự Tuy nhiên, do được ban hành trong điều kiện khẩn trương nhằm kịp thời triển khai thi hành nghị quyết về bàn giao công tác thi hành án dân sự từ Tòa án nhân dân các cấp sang cơ quan của Chính phủ, nên những sửa đổi, bổ sung của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 là rất khiêm tốn, chủ yếu tập trung vào sự chuyển đổi cơ chế thi hành án, mà không có sự sửa đổi, bổ sung về mặt trình tự, thủ tục thi hành án
Do đó việc sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 là nhu cầu cấp bách nhằm đáp ứng thực tiễn đòi hỏi
Trang 40Ngày 14/01/2004, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, với 8 chương, 70 điều So với Pháp lệnh năm
1993, đã tăng thêm 1 chương, 20 điều Về mặt nội dung, Pháp lệnh năm 2004
đã được sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản, có nhiều nội dung đã được phát triển thêm, có nhiều nội dung hoàn toàn mới được bổ sung cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, với tiến trình cải cách tư pháp và cải cách hành chính hiện nay
Những kết quả đạt được sau hơn bốn năm thực hiện Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 là cơ bản Tuy nhiên, so với đòi hỏi của thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới thì Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước, tính nghiêm minh của Pháp luật; quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và Nhà nước theo bản án, quyết định của Tòa án chưa được bảo đảm, nhiều việc gây bức xúc trong xã hội
Thực tiễn này đã đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện về thể chế thi hành án; đổi mới qui trình, thủ tục thi hành án dân sự; nâng cao vị thế, vai trò, trách nhiệm của hệ thống tổ chức thi hành án dân sự trong bộ máy nhà nước
để đáp ứng đòi hỏi của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
xã hội chủ nghĩa Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt đó của công tác thi hành án dân sự đối với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị
về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã qui định: "Xây dựng cơ chế bảo đảm mọi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, các cơ quan hành chính vi phạm bị xử lý theo phán quyết của Tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành" [20]
Để tiếp tục đưa các chủ trương, đường lối đó của Đảng về cải cách tư pháp trong lĩnh vực thi hành án dân sự vào thực tiễn cuộc sống, ngày