1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự theo quy định hiện hành của pháp luật việt nam luận văn ths luật

99 908 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hàng năm, có hàng chục nghìn vụ án tranh chấp về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự được tòa án nhân dân các cấp thụ lý và giải quyết nhưng lại gặp phải sự thiếu đồng bộ và ch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VŨ TIẾN VINH

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

THEO QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH CỦA

PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2006

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

Trang 2

VŨ TIẾN VINH

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

THEO QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH CỦA

PHÁP LUẬT VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ

MÃ SỐ: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHÙNG TRUNG TẬP

HÀ NỘI - NĂM 2006

Trang 3

Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam : Luận văn ThS / Vũ Tiến Vinh ; Nghd : TS Phùng Trung Tập -

H : Khoa Luật, 2006 - 84 tr + Đĩa mềm + Tóm tắt

3 Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, phương pháp nghiên

cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn ……… 4

4 Mục đích nghiên cứu của luận văn ……… 5

5 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

……

6

6 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn ……… 7

7 Kết cấu của luận văn ……… 7

Chương 1 Khái niệm về trách nhiệm dân sự và Trách

nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự 9 1.1 Trách nhiệm dân sự 9

Trang 4

1.2 Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự 11

1.2.1 Khái niệm trách nhiệm dân sự do vi phạm

đồng dân sự và trách nhiệm dân sự ngoài hợp

Chương 2 Các điều kiện phát sinh và nội dung của trách

nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự …… 27

2.1 Các điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự do vi

phạm hợp đồng ……… 28

2.1.1 Có hành vi vi phạm hợp đồng ……… 28

2.1.2 Có thiệt hại xảy ra ……… 35

2.1.3 Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm

hợp đồng và thiệt hại xảy ra ……… 38

2.2.2 Trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại … 56

2.2.3 Bị phạt vi phạm nếu có thỏa thuận ………… 60

Trang 5

Chương 3 Phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp

luật dân sự về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự ……… 63 3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện những quy định của

pháp luật dân sự về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự ……… 63

3.1.1 Những quan điểm chỉ đạo nhằm hoàn thiện

3.1.2 Thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân các

cấp đối với các tranh chấp liên quan đến trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng

3.2 Đề xuất phương hướng hoàn thiện các quy định

liên quan và nâng cao hiệu quả xét xử của tòa án các cấp đối với các tranh chấp liên quan đến trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự 77 Kết luận ……… 82 Tài liệu tham khảo ……… 88

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với sự ra đời của Nhà nước và Pháp luật, bên cạnh chế định quyền nhân thân, quyền sở hữu, nghĩa vụ và hợp đồng dân sự, trách nhiệm dân sự được xem là một trong những chế định pháp luật quan trọng Xã hội loài người đã trải qua nhiều kiểu nhà nước khác nhau, và ở mỗi kiểu Nhà nước lại có một hình thái kinh tế - xã hội tương ứng nhưng bất kỳ kiểu nhà nước nào cũng đều thông qua pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với thực tiễn phát triển của kiểu nhà nước và pháp luật đó

Hợp đồng dân sự là một hình thức thỏa thuận phổ biến trong xã hội có tư hữu Nghiên cứu về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự là một vấn đề rất thiết thực, được nhiều người quan tâm tìm hiểu

Dựa trên tinh thần của Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự (“BLDS”) năm

2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2006 là một bước phát triển mới trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự của Việt Nam Trách nhiệm dân sự và Hợp đồng dân sự đã được pháp điển hóa trong Bộ luật Dân sự, bảo

vệ trực tiếp quyền lợi của các cá nhân, tổ chức khi tham gia các giao dịch dân

sự

Trước yêu cầu đổi mới đất nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (“XHCN”) Việt Nam Ngày 2 tháng 1 năm 2002, Bộ Chính trị

đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ/BCT “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và ngày 2 tháng 6 năm 2005 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49/NQ-TW “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020” đề ra mục tiêu “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ,

nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng

Trang 8

sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu lực và hiệu quả cao” Ngày 22 tháng 2 năm

2006, Ban chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương đã đề ra “Chương trình trọng

tâm công tác tư pháp năm 2006” với nội dung: “Nghiên cứu đề xuất các vấn

đề cần sửa đổi, bổ sung hoặc quy định mới theo tinh thần và nội dung Chiến lược cải cách tư pháp vào Bộ luật dân sự Đẩy nhanh tiến độ và khẩn trương xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự”

Có một điều khó tránh khỏi là với xu thế phát triển ngày càng phổ biến và đa dạng của Hợp đồng, nhiều quan hệ dân sự nói chung và quan hệ hợp đồng nói riêng lại chưa được pháp luật điều chỉnh hoặc điều chỉnh chưa triệt để đã gây

ra không ít khó khăn cho cơ quan xét xử Hàng năm, có hàng chục nghìn vụ

án tranh chấp về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự được tòa án nhân dân các cấp thụ lý và giải quyết nhưng lại gặp phải sự thiếu đồng bộ và chưa thống nhất trong các quy định pháp luật dân sự hiện hành khiến nhiều vụ

án phải xét xử nhiều lần hoặc tính thuyết phục của bản án chưa cao

Tranh chấp về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự là một loại tranh chấp mang tính đặc thù, đặc biệt là số lượng các giao dịch dân sự ngày một tăng Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật để giải quyết các tranh chấp về trách nhiệm trong hợp đồng dân sự cũng đã gặp nhiều vướng mắc, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện

Bộ luật Dân sự năm 2005 đang đặt ra một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách là trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật dân sự hiện hành, phải phân tích để làm sáng tỏ về mặt khoa học những vấn đề lý luận về trách nhiệm dân

sự và hợp đồng dân sự, từ đó đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả xét xử của tòa án về những tranh chấp hợp đồng Trước đòi

hỏi của công dân và xã hội, các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của

nhân dân trong việc bảo vệ công lý, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ

Trang 9

pháp chế xã hội chủ nghĩa Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Trách nhiệm dân

sự do vi phạm hợp đồng dân sự theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam”, mang tính cấp thiết, không những về lý luận, mà còn đáp ứng những

đòi hỏi của thực tiễn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu

Từ năm 1991 trở lại đây, pháp luật về hợp đồng dân sự của Việt Nam được xây dựng và hoàn thiện phù hợp với các quan hệ xã hội theo định hướng XHCN, theo đó quyền và lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân, tổ chức trong quan hệ hợp đồng được pháp luật bảo

Đã có nhiều đề tài và công trình nghiên cứu của các nhà luật học trong nước viết về hợp đồng dân sự và trách nhiệm dân sự Tuy nhiên, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng dân sự chỉ được đề cập đến như là một phần của một công trình nghiên cứu nào đó, hoặc chỉ là những nghiên cứu nhỏ lẻ, riêng rẽ Tác giả Ngô Văn Thâu có tác phẩm “Một số điều cần biết trong các quyền dân sự của công dân” (Nxb Pháp lý, 1987); Tác giả Đỗ Văn Đại với bài viết “Về điều chỉnh nguy cơ không thực hiện hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam” (Tạp chí Nhà nước & Pháp luật, 1-2005)

Có thể thấy những nghiên cứu về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng dân sự là những nghiên cứu có ý nghĩa nhưng đều được thực hiện trước khi có Bộ luật Dân sự năm 2005 Trách nhiệm dân sự do vi phạm Hợp đồng dân sự là một vấn đề phức tạp và chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện, có hệ thống về chế định này Tính đến thời điểm hiện nay thì chưa

có công trình nào phân tích sâu về trách nhiệm dân sự trong hợp đồng để rút

ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự nhằm nâng cao hiệu quả xét

Trang 10

xử của tòa án các cấp đối với trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân

sự

3 Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, phương pháp nghiên cứu, phạm vi

nghiên cứu của luận văn

 Cơ sở lý luận của luận văn:

Là cơ sở lý luận về nhà nước và pháp luật, bộ luật dân sự hiện hành của Việt Nam, pháp luật dân sự của một số nước trên thế giới, các cơ sở khoa học về lịch sử pháp luật, xã hội học pháp luật, triết học Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các văn bản pháp luật có liên quan, các công trình nghiên cứu, các sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên các báo và tạp chí

 Cơ sở thực tiễn của luận văn:

Dựa trên tình hình thực tế của các tranh chấp liên quan đến trách nhiệm dân

sự do vi phạm hợp đồng dân sự; tính khả thi trong việc áp dụng các quy định điều chỉnh trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự trong pháp luật dân sự hiện hành

 Phương pháp nghiên cứu của luận văn:

Trong khi thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu

hệ thống, phân tích, so sánh, tổng hợp, lịch sử, cụ thể, lôgic để phân tích, tổng hợp các tri thức khoa học luật dân sự về trách nhiệm dân sự và hợp đồng dân

sự

 Phạm vi nghiên cứu của luận văn:

Luận văn nghiên cứu trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam

4 Mục đích nghiên cứu của luận văn

 Mục đích của luận văn

Trang 11

Mục đích của luận văn là nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự Trên cơ sở lý luận và thực tiễn xét

xử các tranh chấp liên quan đến trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân

sự, nêu ra những giải pháp mang tính hệ thống để hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự trong hợp đồng, nâng cao hiệu quả xét xử của tòa án, góp phần ổn định các quan hệ xã hội về trách nhiệm dân sự trong hợp đồng

 Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết các nhiệm

vụ sau:

- Phân tích khái niệm trách nhiệm dân sự và trách nhiệm dân sự do

vi phạm hợp đồng dân sự;

- Phân tích điều kiện phát sinh và nội dung của trách nhiệm dân sự

do vi phạm hợp đồng dân sự để thấy được những tồn tại trong việc

áp dụng pháp luật dân sự trong giải quyết trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự, tìm ra sự cần thiết và từ đó có những đề xuất nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm dân

sự trong hợp đồng;

- Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự nhằm góp phần nâng cao hiệu quả xét xử các tranh chấp liên quan đến trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự

5 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

Đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam ở cấp độ luận văn thạc sỹ luật học, nghiên cứu một cách toàn diện,

Trang 12

có hệ thống về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới về khoa học của luận văn:

- Thông qua việc phân tích những vấn đề lý luận chung về trách nhiệm dân sự và trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự, đưa ra vấn đề tổng quan và toàn diện về trách nhiệm dân sự và trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự trong pháp luật dân sự hiện hành của Việt Nam

- Giúp người đọc nắm rõ và đầy đủ về các điều kiện phát sinh và nội dung của trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự; nhận định đúng về tầm quan trọng của việc ký kết và thực hiện hợp đồng dân sự, từ đó tránh được các vi phạm hợp đồng dân sự

- Đề xuất hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật về phân định trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự

6 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống về trách nhiệm dân sự

do vi phạm hợp đồng dân sự theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam

Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thiện những quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự

do vi phạm hợp đồng dân sự và nâng cao hiệu quả xét xử các tranh chấp có liên quan đến trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự tại các cấp tòa

án ở Việt Nam Thông qua kết quả nghiên cứu và các kiến nghị, tác giả mong muốn góp phần nghiên cứu khiêm tốn của mình vào hệ thống lý luận luật dân

sự, cũng như ổn định các quan hệ xã hội về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự có tính thiết thực và phức tạp này

Trang 13

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật dân sự, trách nhiệm dân sự và hợp đồng dân sự nói riêng và cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại cơ quan Viện kiểm sát, Tòa án và các cơ quan pháp luật có liên quan

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn này gồm có

Chương 3: Phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật dân

sự về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự

Trang 14

Chương 1 KHÁI NIỆM VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ VÀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

1.1 Trách nhiệm dân sự

Trách nhiệm dân sự là một phạm trù rộng bao hàm những công việc phải làm (phần trách nhiệm) của một cá nhân, một tổ chức đối với các công việc trong lĩnh vực dân sự Nội hàm của trách nhiệm dân sự cho ta thấy mọi cá nhân, tổ chức là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự đều phải tự mình chịu trách nhiệm đối với những công việc mà họ đã cam kết thực hiện Đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật nói chung là nội dung của quan hệ pháp luật được cấu thành bởi các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà việc thực hiện được đảm bảo bằng sự cưỡng chế nhà nước Cũng như vậy, ở quan hệ pháp luật dân sự nói riêng, tổng hợp các quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên tham gia vào quan

hệ pháp luật dân sự tạo thành nội dung của quan hệ đó, các bên vừa có quyền đồng thời vừa có nghĩa vụ với nhau Nghĩa vụ dân sự trong quan hệ pháp luật dân sự là một bộ phân không thể tách rời của nội dung quan hệ đó Khái niệm nghĩa vụ dân sự được quy định tại Điều 258 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm

2005 như sau: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo quy định của pháp luật thì một hoặc nhiều chủ thể (gọi là người có nghĩa vụ) phải làm một công việc hoặc không được làm một công việc vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (gọi là người có quyền)” [2]

Trách nhiệm dân sự ràng buộc các cá nhân, tổ chức khi tham gia vào các giao dịch dân sự phải thực hiện đúng các nghĩa vụ đã cam kết Nếu họ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự bằng việc bồi thường thiệt hại do có hành vi vi phạm hợp đồng Việc giải quyết các vi phạm liên quan đến trách nhiệm dân sự bằng phương thức

Trang 15

bồi thường chính là việc các chủ thể đã tự nguyện hoặc bị bắt buộc phải gánh chịu hậu quả của những vi phạm dân sự đó để thực hiện trách nhiệm dân sự giữa người có nghĩa vụ và người có quyền trong một giao dịch hoặc quan hệ dân sự Việc thực hiện trách nhiệm dân sự theo nguyên tắc bên có hành vi vi phạm phải bồi thường đối với cá nhân, tổ chức có quyền, lợi ích bị xâm phạm Theo nghĩa thông thường thì trách nhiệm dân sự được hiểu là: “Việc bắt buộc phải sửa chữa một thiệt hại do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự” [24] Trách nhiệm dân sự, quyền và nghĩa vụ dân sự có mối quan hệ mật thiết với nhau Quyền của một bên làm phát sinh nghĩa vụ của bên kia trong một quan hệ dân sự Nghĩa vụ dân sự này có thể được các bên thỏa thuận thông qua quan hệ dân sự hoặc là nghĩa vụ dân sự do pháp luật dân

sự quy định (ví dụ: nghĩa vụ dân sự đối với bất động sản của cá nhân, pháp nhân) Trên cơ sở đó, trách nhiệm dân sự phát sinh để ràng buộc các bên tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự Hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ dân sự là hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước quy định các chế tài dân sự như là sự phản ứng của Nhà nước đối với những chủ thể vi phạm pháp luật dân sự và một trong những quy định chế tài đó là trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự của một chủ thể Các chủ thể trong một quan hệ pháp luật dân sự tự nguyện cam kết thực hiện các nghĩa vụ dân

sự Do vậy, các chủ thể tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình hoặc thực hiện công việc theo thỏa thuận của các bên

Không giống với trách nhiệm hình sự là chủ thể vi phạm pháp luật thường không thấy trước trách nhiệm của mình khi thực hiện hành vi vì mục đích và hậu quả của hành động theo phán quyết của toà án mới quyết định đến trách nhiệm hình sự của chủ thể phạm tội, các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự luôn có thể xác định trước được trách nhiệm dân sự khi tham

Trang 16

gia các quan hệ pháp luật dân sự vì bản chất của trách nhiệm dân sự là tồn tại không phụ thuộc vào hậu quả của sự việc

Có thể đưa ra định nghĩa về trách nhiệm dân sự như sau: “Trách nhiệm dân sự

được hiểu là một loại trách nhiệm về tài sản của chủ thể trong một quan hệ pháp luật dân sự nhất định, buộc phải thực hiện một việc, kiềm chế không được thực hiện một việc, phải bồi thường một thiệt hại hoặc phải gánh chịu các chế tài dân sự khác, do đã có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác”

Như vậy, có thể nói trách nhiệm dân sự là việc chủ thể của quan hệ pháp luật phải chịu trách nhiệm bồi thường bằng vật chất trong trường hợp gây ra thiệt hại cho một chủ thể khác Quan hệ trách nhiệm dân sự có hai chủ thể: một chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và một chủ thể có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại Ngay cả trong trường hợp người gây thiệt hại mong muốn bồi thường cho người bị thiệt hại, thì sự mong muốn đó cũng không phải là nguồn của nghĩa vụ bồi thường Nghĩa vụ bồi thường do luật quy định, còn người có nghĩa vụ chỉ thực hiện một nghĩa vụ mà ý chí của mình không tạo

ra

Pháp luật dân sự không xác định hoặc xác định không đầy đủ trách nhiệm dân

sự trong các quan hệ dân sự sẽ dẫn tới tình trạng các chủ thể không có ý thức

tự nguyện thực hiện các cam kết dân sự hoặc thực hiện nửa vời Từ đó, tính nghiêm minh và hiệu lực thực thi của pháp luật sẽ bị giảm sút Xác định rõ và chi tiết hoá trách nhiệm dân sự sẽ góp phần tăng cường tính thực thi của pháp luật dân sự, giúp pháp luật dân sự ngày một hoàn thiện và dễ áp dụng hơn

1.2 Trách nhiệm dân sự do vi phạm Hợp đồng dân sự

1.2.1 Khái niệm trách nhiệm dân sự do vi phạm Hợp đồng dân

sự

Trang 17

Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự là một loại trách nhiệm dân

sự và là một hình thức chế tài do Nhà nước quy định để áp dụng đối với các hành vi vi phạm các quyền và nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận trong một hợp đồng dân sự Giống như trách nhiệm dân sự nói chung, trách nhiệm dân

sự do vi phạm hợp đồng dân sự cũng xuất phát trên cơ sở có hành vi vi phạm các cam kết, thỏa thuận của các bên trong hợp đồng Tuy nhiên, trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự lại bao hàm nội dung riêng không giống với các trách nhiệm dân sự khác Đó là việc khi các cá nhân, pháp nhân buộc phải thực hiện trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự thì hoặc (1) các chủ thể này buộc phải tiếp tục thực hiện hợp đồng; và (2) các chủ thể này buộc phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản cho các chủ thể bị vi phạm Đặc thù riêng này là của trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự, và thấy rằng đây là một loại chế tài dân sự có liên quan mật thiết đến hợp đồng dân

sự Nghĩa vụ dân sự được phát sinh từ hợp đồng và được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước Các nghĩa vụ dân sự này mang tính chất tài sản và được xác định giá trị bằng tiền

Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng là trách nhiệm hình thành từ việc không thực hiện một nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng Chủ thể không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết mà gây thiệt hại cho chủ thể mang quyền, thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật

Trong BLDS hiện hành, trách nhiệm dân sự trong hợp đồng được chi phối bởi các nguyên tắc được thiết lập trong khuôn khổ xây dựng chế độ pháp lý về hợp đồng Tuy nhiên, có thể ghi nhận đặc điểm của trách nhiệm dân sự theo hợp đồng là trách nhiệm phát sinh từ sự vi phạm một quy tắc xử sự Đó là sự

vi phạm nghĩa vụ dân sự (trách nhiệm dân sự trong hợp đồng) Đồng thời, theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành, trách nhiệm dân sự

Trang 18

trong hợp đồng chịu sự chi phối, trên nguyên tắc, của các quy định chung về điều kiện trình tự thực hiện nghĩa vụ được các bên xác lập theo thỏa thuận

Hợp đồng dân sự được coi là căn cứ để xem xét trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự Hợp đồng là công cụ chủ yếu để xác lập quan hệ giữa các cá nhân và pháp nhân với nhau liên quan đến tài sản trong một xã hội có

tổ chức Hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ dân sự theo một cơ chế chung là các bên giao kết thống nhất về ý chí và bị ràng buộc trong một mối quan hệ nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu của bên kia Theo nguyên tắc chung của pháp luật dân sự thì mọi hợp đồng dân sự đều được thực hiện dưới hình thức thoả thuận dù là hợp đồng miệng hoặc bằng văn bản Thông qua hợp đồng dân sự, các bên thỏa thuận các quyền và nghĩa vụ phải thực hiện Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự chính là việc một hoặc hai bên phải chịu trách nhiệm dân sự khi có hành vi vi phạm các cam kết Việc vi phạm hợp đồng dân sự làm phát sinh trách nhiệm dân sự của một trong hai bên tham gia vào hợp đồng đã không thực hiện hoặc thực hiện không đẩy đủ các nghĩa vụ

mà hai bên đã cam kết trong hợp đồng

Căn cứ xác định trách nhiệm dân sự là việc vi phạm nghĩa vụ phát sinh theo hợp đồng Nghĩa vụ bị vi phạm có thể là nghĩa vụ chính (nghĩa vụ đặc thù) tương ứng với chủ thể của hợp đồng, hoặc là một nghĩa vụ phụ phát sinh từ hợp đồng Hợp đồng là một sự kiện pháp lý, và nghĩa vụ là hệ quả của sự kiện

đó Ví dụ, nghĩa vụ bảo đảm an toàn cho hành khách trong hợp đồng vận chuyển hành khách

Qua những phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa về trách nhiệm dân sự do

vi phạm hợp đồng dân sự như sau: “Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng

dân sự được hiểu là trách nhiệm của chủ thể hợp đồng đã không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng

Trang 19

do các bên xác lập, mà gây thiệt hại cho bên kia thì phải tiếp tục thực hiện hợp đồng, phải bồi thường thiệt hại và chịu khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng theo thoả thuận hoặc phải chịu những hậu quả bất lợi khác, do bên có quyền theo hợp đồng bị vi phạm, theo đó bên có quyền có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc huỷ bỏ hợp đồng và được bồi thường thiệt hại”

Có thể nói, trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự là một trong những chế tài quan trọng của pháp luật dân sự để điều chỉnh một đối tượng thông dụng và thiết thực trong đời sống xã hội là hợp đồng dân sự Dưới đây

sẽ là những phân tích về đặc điểm của trách nhiệm dân sự theo hợp đồng để làm rõ hơn về loại trách nhiệm này

1.2.2 Đặc điểm của trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân

sự

Bên cạnh những đặc điểm chung như các trách nhiệm dân sự khác, trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự có những đặc điểm riêng Các đặc điểm riêng này để phân biệt trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự với các loại trách nhiệm dân sự khác Đặc điểm của trách nhiệm dân sự theo hợp đồng có thể được phân tích như sau:

Đặc điểm 1: Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự là

Trang 20

đồng, sẽ xem bên nào phải chịu trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng Quyết định mang tính chế tài của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ buộc bên vi phạm chịu trách nhiệm đền bù thiệt hại cho bên bị vi phạm

Không giống với các chế tài pháp lý khác như chế tài hình sự, hành chính, đặc điểm của chế tài dân sự hoàn toàn mang tính chất tài sản thông qua việc bồi thường thiệt hại (vật chất, tinh thần…) cho chủ thể bị vi phạm Nhà nước quy định tính chế tài cho trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng nhằm đảm bảo

sự ổn định và lành mạnh trong các quan hệ hợp đồng dân sự, một trong những quy định quan trọng của pháp luật dân sự và ở trong bất kỳ giai đoạn nào Việc đưa ra các biện pháp chế tài nhằm ổn định các quan hệ hợp đồng dân sự

sẽ giúp nền kinh tế vận động một cách có hiệu quả hơn, an toàn hơn với mọi chủ thể Từ đó tạo được động lực để các chủ thể tham gia nhiều hơn, tích cực

và yên tâm hơn vào các quan hệ hợp đồng dân sự

Đặc điểm 2: áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật

Trách nhiệm pháp lý là áp dụng với các chủ thể vi phạm pháp luật thì một đặc điểm khác của trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự là áp dụng đối với các chủ thể vi phạm các cam kết liên quan đến hợp đồng dân sự hay nói cách khác là vi phạm các quy định của pháp luật dân sự liên quan đến hợp đồng dân sự Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, các cam kết trong hợp đồng dân sự có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào hợp đồng dân sự và cá nhân hoặc pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự là những chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định này Chủ thể không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng dân sự bị coi là vi phạm các quy định của pháp luật dân sự và phải chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật dân sự

Trang 21

Nếu một chủ thể không bị coi là vi phạm pháp luật dân sự nói chung và hợp đồng dân sự nói riêng thì đương nhiên họ sẽ không phải chịu trách nhiệm dân

sự Trách nhiệm dân sự chỉ phát sinh khi có sự vi phạm hợp đồng dân sự Việc xác định một hợp đồng dân sự có bị vi phạm hay không là một việc làm quan trọng và cần thiết để xác định một chủ thể có vi phạm pháp luật dân sự hay không và có bị áp dụng chế tài dân sự hay không Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm của chủ thể vi phạm pháp luật, bị áp dụng các chế tài do pháp luật quy định

Đặc điểm 3: Được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

trong phạm vi pháp luật cho phép

Đây là một đặc điểm mang tính hướng dẫn của pháp luật dân sự đối với các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật dân sự Sẽ chỉ có các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật thụ lý và giải quyết các tranh chấp dân sự cũng như đưa ra phán quyết về việc chủ thể nào sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự Đặc điểm này có thể được hiểu là việc bắt buộc một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các cam kết trong hợp đồng dân sự phải chịu trách nhiệm dân sự và việc phán quyết sẽ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đảm trách

Trong một vụ án dân sự, việc thụ lý quy kết trách nhiệm dân sự cho các bên tham gia vào giao dịch dân sự sẽ do Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định (Tòa án nhân dân cấp quận, huyện; Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) Sau khi có quyết định cuối cùng của tòa

án, việc yêu cầu các bên đương sự thực hiện đúng trách nhiệm dân sự của mình sẽ do cơ quan thi hành án cấp tương đương thực hiện theo quy định Khác với các quyết định hình sự do cơ quan công an thực hiện hình phạt, các quyết định dân sự thường phụ thuộc nhiều vào các cơ quan thi hành án và thường không mang tính cưỡng chế cao Việc quy định chỉ có cơ quan Nhà

Trang 22

nước có thẩm quyền mới có thẩm quyền phán quyết và đưa ra các biện pháp

áp dụng có liên quan đối với trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự cho thấy tính chất tối cao và nghiêm khắc của các quy định pháp luật dân sự

về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự

Đặc điểm 4: Sử dụng một số biện pháp chế tài nhất định do luật

định để buộc người vi phạm phải chịu hậu quả bất lợi

Bản chất của pháp luật là mọi chủ thể khi thực hiện các hành vi mà pháp luật nghiêm cấm sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật và

sẽ bị pháp luật áp dụng một số chế tài nhất định buộc chủ thể có hành vi vi phạm phải chịu hậu quả bất lợi do hành vi vi phạm pháp luật của mình Nguyên tắc của pháp luật là chỉ có những người chịu trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự mới bị pháp luật áp dụng các biện pháp chế tài theo quy định của pháp luật Tùy theo đối tượng và giá trị của từng hợp đồng dân

sự mà các hình thức chế tài áp dụng sẽ khác nhau Chế tài theo quy định của pháp luật dân sự có thể là việc buộc chủ thể vi phạm hợp đồng dân sự phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự đã cam kết trong hợp đồng; hoặc là việc chủ thể

vi phạm phải bồi thường một phần hoặc toàn bộ giá trị hợp đồng cho chủ thể

bị vi phạm; hoặc là việc chủ thể vi phạm phải thực hiện một nghĩa vụ dân sự bắt buộc nào đó với bên thứ ba có quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hợp đồng

áp dụng các biện pháp chế tài dân sự là một đặc điểm cần thiết và quan trọng trong pháp luật dân sự Nếu không có các biện pháp chế tài đủ mạnh đối với các hành vi vi phạm pháp luật dân sự nói chung và hợp đồng dân sự nói riêng thì trách nhiệm dân sự của một chủ thể chỉ mang tính hình thức mà không có tác dụng răn đe Đồng thời, các quy định của pháp luật dân sự cũng thiếu tính cưỡng chế cần thiết để đảm bảo trật tự của các quan hệ pháp luật dân sự Việc

Trang 23

đưa ra các chế tài phù hợp và có tính cưỡng chế đủ mạnh đối với từng hành vi

vi phạm pháp luật dân sự sẽ giúp cho pháp luật dân sự được thực thi một cách nghiêm minh hơn do mọi cá nhân, pháp nhân đều có trách nhiệm phải tuân thủ các biện pháp chế tài đủ mạnh

Các biện pháp chế tài không minh bạch hoặc thiếu tính răn đe dễ làm cho các chủ thể của các quan hệ pháp luật dân sự không tuân thủ pháp luật, từ đó làm cho pháp luật thiếu tính cưỡng chế, lỏng lẻo, giảm đi vai trò là công cụ của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội tương ứng, từ đó làm cho các cá nhân, tổ chức thiếu lòng tin vào pháp luật Ngược lại, nếu các biện pháp chế tài quá cứng nhắc hoặc quá nghiêm khắc so với các hành vi vi phạm pháp luật tương ứng sẽ lại gây ra các hậu quả tiêu cực đối với đối với đời sống kinh tế,

xã hội Từ việc cố gắng tránh thực hiện các hành vi được coi là vi phạm pháp luật dân sự, phải chịu trách nhiệm dân sự, các chủ thể pháp luật dân sự sẽ ít tham gia hơn hoặc tham gia hạn chế hơn các hợp đồng dân sự Hậu quả là các giao dịch dân sự sẽ bị giảm đi về quy mô, thiếu tính tự do và đa dạng dẫn đến việc kìm hãm các quan hệ dân sự, thương mại trong xã hội Đảm bảo được tính nghiêm khắc của các biện pháp chế tài nhưng cũng phải đảm bảo được mức độ cưỡng chế đủ mạnh phù hợp để kích thích số lượng và tính đa dạng của các giao dịch dân sự là yêu cầu cần thiết trong quá trình thiết lập và áp dụng chế tài của pháp luật dân sự

Đặc điểm 5: Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự

mang tính chất tài sản

Về bản chất, các quan hệ pháp luật dân sự chủ yếu là các quan hệ mang tính tài sản và quan hệ nhân thân có liên quan đến tài sản Ví dụ, quan hệ hợp đồng mua bán, cho tặng, v.v Tính chất tài sản trong trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự thể hiện ở việc khi chủ thể vi phạm pháp luật gây hậu

Trang 24

quả xấu cho người khác thì Tòa án buộc bên vi phạm phải bồi thường bằng chính tài sản của mình cho bên bị vi phạm Nguyên tắc của trách nhiệm dân

sự do vi phạm hợp đồng dân sự là nguyên tắc chịu trách nhiệm bằng tài sản

mà không có hình thức thay thế

Tính chất tài sản trong trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự thể hiện qua việc các chủ thể, bằng tài sản của mình, bồi thường tương ứng về giá trị thiệt hại do hành vi của chủ thể đó gây ra Trách nhiệm bồi thường bằng tài sản (tiền, động sản, bất động sản) hoặc giá trị vật chất là bắt buộc và là một đặc điểm của pháp luật dân sự Đặc điểm này bảo đảm trách nhiệm dân sự do

vi phạm hợp đồng dân sự luôn luôn được giải quyết bằng tài sản và giúp phân biệt với các trách nhiệm pháp lý khác mà đặc điểm thực hiện hoặc áp dụng chế tài không mang tính chất tài sản

Đặc điểm 6: Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong Hợp đồng

dân sự tương ứng với nhau

Trong quan hệ pháp luật dân sự, giữa các chủ thể tồn tại mối liên hệ quyền của chủ thể này tương ứng với nghĩa vụ của chủ thể kia Khi xác định trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự, hành vi vi phạm gây thiệt hại phải tương xứng với tính chất của sự vi phạm Nếu không sự có sự tương xứng giữa hành vi vi phạm với tính chất vi phạm của một chủ thể thì pháp luật sẽ không thể xác định trách nhiệm dân sự của chủ thể có liên quan Qua đó, trách nhiệm dân sự quy định đặc điểm mang tính chất đền bù tương đương buộc bên vi phạm hợp đồng dân sự phải đền bù cho bên bị vi phạm nhằm khôi phục tình trạng tài sản và xác lập lại các quyền, lợi ích bị xâm phạm của người bị thiệt hại Quyền của chủ thể này luôn tương ứng với nghĩa vụ của chủ thể kia Trong hợp đồng dân sự, một chủ thể không chỉ có riêng quyền hoặc riêng nghĩa vụ Đặc điểm qua lại giữa quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia

Trang 25

một quan hệ pháp luật dân sự quy định sự tồn tại của một hợp đồng dân sự Vì thế, trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự của một chủ thể chính là việc chủ thể đó không thực hiện các nghĩa vụ dân sự đã cam kết của mình để đổi lại các quyền mà chủ thể đó được hưởng từ hợp đồng dân sự Trách nhiệm dân sự buộc chủ thể vi phạm phải bồi thường giá trị tương ứng với lợi ích mà

họ được hưởng từ quyền dân sự trong hợp đồng dân sự Qua đặc điểm này, có thể thấy trách nhiệm dân sự đồng nhất với việc thực hiện nghĩa vụ dân sự trong trật tự cưỡng chế Do đó, có thể kết luận: “Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự là sự cưỡng chế của nhà nước buộc bên vi phạm phải tiếp tục thực hiện đúng những nghĩa vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của mình gây ra cho phía bên kia” [24] Trách nhiệm dân sự không những chỉ nhằm đền bù tổn thất đã gây ra mà còn bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự không bị xâm phạm bởi các hành vi trái pháp luật

Các quyền dân sự của công dân Việt Nam cũng như nhiều quyền quan trọng khác có cơ sở kinh tế là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là cơ sở và chỗ dựa vững chắc để bảo đảm các quyền dân sự được thực hiện và phát triển Do vậy, Nhà nước Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện pháp luật dân sự nói riêng và toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, chính trị trong khu vực và trên thế giới, và điều không kém phần quan trọng là dùng các biện pháp có hiệu lực pháp luật cao để bảo hộ và bảo vệ quyền dân sự của các tổ chức và các cá nhân khi những quyền ấy bị vi phạm Một nguyên tắc để bảo vệ quyền dân sự của các tổ chức và các cá nhân là trách nhiệm phải thi hành đầy đủ, đúng đắn những điều đã thỏa thuận và cam kết trong hợp đồng dân sự, và phải bồi thường nếu vi phạm các điều khoản và điều kiện của hợp đồng dân sự mà gây thiệt hại cho bên kia

Trang 26

1.3 Khái quát các quy định về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp

đồng dân sự

Chế định về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự là một chế định pháp luật quan trọng trong Bộ luật Dân sự của hầu hết các nước Do có sự khác nhau về văn hoá, phong tục tập quán, chính trị, kinh tế – xã hội và thể chế nhà nước của mỗi quốc gia mà quy định pháp luật về trách nhiệm dân

sự theo hợp đồng dân sự cũng được pháp luật mỗi quốc gia quy định khác nhau

Tại miền bắc Việt Nam, ngày 10 tháng 7 năm 1959 Tòa án tối cao ra Chỉ thị

số 772/TATC để “đình chỉ việc áp dụng luật pháp cũ của phong kiến, đế quốc” Từ thời điểm đó trở đi, tại miền bắc Việt Nam thiếu hẳn bộ luật dân sự thực thụ Một số lĩnh vực của pháp luật dân sự được tách ra và quy định trong nhiều văn bản luật và các văn bản pháp quy dưới luật như thông tư, chỉ thị, nghị định, pháp lệnh Tuy nhiên, nhiều lĩnh vực dân sự như thừa kế, quyền sở hữu trí tuệ v.v không được điều chỉnh trực tiếp Các quy định được điều chỉnh

về nghĩa vụ dân sự chủ yếu là các vấn đề về nhà ở, vàng bạc, kim loại quý, đá quý v.v và nói chung mang nặng tính chất hành chính Có thể liệt kê một số văn bản pháp luật trong lĩnh vực dân sự liên quan đến hợp đồng như Pháp lệnh về Hợp đồng dân sự (1991), Pháp lệnh về nhà ở (1991) v.v Vấn đề gặp phải trong việc áp dụng pháp luật thời kỳ này là tuy có nhiều văn bản pháp quy nhưng đôi khi các văn bản này chồng chéo và mâu thuẫn với nhau, gây ra nhiều khó khăn cho việc áp dụng pháp luật

Pháp lệnh Hợp đồng dân sự do Hội đồng Nhà nước Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (“CHXHCNVN”) thông qua ngày 29/3/1991, được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 52-LCT/HĐNN8 ngày 7/5/1991 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/1991 là văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao đầu

Trang 27

tiên quy định khá đầy đủ về hợp đồng dân sự, một trong những chế định quan trọng và cơ bản của pháp luật dân sự Việc ra đời Pháp lệnh Hợp đồng Dân sự phần nào bổ sung sự thiếu hụt các quy định về pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật Việt Nam trong khoảng thời gian này Đồng thời, đáp ứng được phần nào xu thế phát triển của các quan hệ pháp luật dân sự

Pháp lệnh Hợp đồng dân sự là văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam điều chỉnh riêng về lĩnh vực hợp đồng dân sự bao gồm cả trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng Pháp lệnh Hợp đồng dân sự đã giành toàn bộ Chương IV, từ Điều 43 đến Điều 55 để quy định về trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng dân

sự Điều 43 Pháp lệnh đã quy định rõ “Trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng” như sau: “Bên có lỗi trong việc không thực hiện hoặc thực hiện hợp đồng không đúng thỏa thuận, thì phải chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, nếu pháp luật không có quy định khác” Đồng thời, Pháp lệnh Hợp đồng dân sự cũng đề cập đến một loạt các trách nhiệm có liên quan đến Hợp đồng dân sự như: Điều 44 - Trách nhiệm do không thực hiện hợp đồng; Điều 45 - Trách nhiệm do chậm thực hiện hợp đồng; Điều 46 - Trách nhiệm do thực hiện hợp đồng không đủ số lượng; Điều 47 - Trách nhiệm do thực hiện hợp đồng không đúng chất lượng; Điều 48 - Trách nhiệm do thực hiện hợp đồng không đồng bộ; Điều 49 - Trách nhiệm do giao một vật không đúng chủng loại; Điều

50 - Trách nhiệm do chậm thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền; Điều 51 - Phạt vi phạm hợp đồng…

Pháp lệnh Hợp đồng dân sự đã xác định một khuôn khổ pháp lý tương đối đầy

đủ và chi tiết trong việc giải quyết trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự, một chế định quan trọng nhưng đã thiếu những quy định pháp luật chi tiết để điều chỉnh trong một thời gian dài kể từ năm 1991 đến năm 1995 Mốc thời gian năm 1991 có thể coi là giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ nhất của nền kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế quốc tế

Trang 28

Cùng với kinh tế là những biến đổi lớn về chế độ xã hội và pháp luật nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu pháp luật hóa các mối quan hệ xã hội ngày càng đa dạng trong xu thế toàn cầu hóa Một yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với Nhà nước Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới thời kỳ này là phải tạo ra một môi trường

xã hội và pháp lý thuận lợi, ổn định, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển để tận dụng tối đa nguồn vốn đầu tư nước ngoài và tư nhân trong sự nghiệp hiện đại hóa đất nước

Trong xu thế đó, Bộ luật Dân sự đầu tiên của Việt Nam đã được Quốc hội khóa IX nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ

8 ngày 28/10/1995 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/1996 Chế định trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự trong BLDS năm 1995 đã kế thừa hầu hết các quy định về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự của Pháp lệnh Hợp đồng Dân sự Đồng thời, có những bổ sung và tham khảo các quy định về pháp luật dân sự của nhiều quốc gia có nền pháp luật dân sự phát triển trên thế giới như Cộng hoà Pháp, Nhật Bản để tạo ra một khung pháp lý về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự đầy đủ và phù hợp với thực tiễn kinh tế - xã hội và pháp luật của Việt Nam tại thời điểm ra đời BLDS năm 1995 ra đời đã đáp ứng được kỳ vọng của đại bộ phận quần chúng

về sự ổn định và luật hóa của một lĩnh vực lớn của xã hội là lĩnh vực dân sự

Nó cũng tạo ra một sự ổn định về mặt xã hội và tạo được lòng tin từ phía các nhà đầu tư trong và ngoài nước về một môi trường đầu tư an toàn và thuận lợi

Trong giai đoạn này, BLDS có thể được xem là thành tựu lớn nhất của năm mươi năm xây dựng hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại Những nguyên tắc và khái niệm cơ bản về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự theo hợp đồng dân sự đã được quy định trong BLDS năm 1995 nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức tham gia vào quan

Trang 29

hệ hợp đồng dân sự hợp pháp Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân

sự được quy định trong BLDS năm 1995 là bước tiến quan trọng trong quá trình lập pháp của Việt Nam nhằm khắc phục kịp thời sự thiếu tập trung, không đầy đủ của pháp luật về trách nhiệm dân sự theo hợp đồng dân sự được quy định trước đó

Sự ra đời và đồng hành của BLDS năm 1995 trong hơn 10 năm Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước đã cho thấy tính đúng đắn và phù hợp của các quy định pháp luật dân sự nói chung và những quy định về trách nhiệm dân sự theo hợp đồng dân sự nói riêng với tương quan của các mối quan hệ xã hội ngày càng đa dạng, phức tạp trong nền kinh tế đa chiều Những chế định pháp lý liên quan đến nghĩa vụ dân sự, trách nhiệm dân sự được quy định trong nhiều loại hợp đồng dân sự khác nhau như Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Hợp đồng mua bán doanh nghiệp và nhiều những quan hệ khác có liên quan đến trách nhiệm dân sự Bên cạnh đó, BLDS năm 1995 còn có nhiều quy định không rõ ràng, không đầy đủ hoặc còn mang tính hành chính

Vì vậy, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua và ban hành BLDS năm 2005 cho phù hợp và mang tính khả thi hơn trong giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế – xã hội BLDS năm 2005 quy định sửa đổi, bổ sung về Nghĩa vụ Dân sự tại Điều 280 và Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự tại Điều 302 với sự điều chỉnh về câu từ và thuật ngữ luật pháp cho phù hợp với thông lệ quốc tế, đảm bảo tính chính xác, trong sáng của ngôn từ luật nhằm tạo ra căn cứ thực thi pháp luật hiệu quả và ổn định hơn

Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự tuy chỉ là một quy định trong chế định nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự của BLDS năm 2005 nhưng do có rất nhiều thay đổi qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, cùng với sự

Trang 30

hội nhập và phát triển mạnh mẽ của pháp luật Việt Nam nên chế định này vẫn còn rất nhiều điều cần nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn, nhất là trong thời điểm BLDS năm 2005 vừa bắt đầu có hiệu lực thi hành

1.4 So sánh trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự và trách

nhiệm dân sự ngoài hợp đồng

Để hiểu rõ thêm về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự (trách nhiệm dân sự theo hợp đồng), từ đó áp dụng pháp luật dân sự một cách đúng đắn hơn, làm cho các quy định của pháp luật dân sự trở thành một công cụ pháp lý thực sự có hiệu quả để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các

cá nhân, pháp nhân, tổ chức xã hội, của Nhà nước thì việc so sánh, làm rõ và nhận thức đúng sự giống và khác nhau giữa trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một việc làm cần thiết và mang tính logic

Trách nhiệm dân sự theo hợp đồng là loại trách nhiệm phát sinh do một bên không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ mà các bên đã cam kết trong hợp đồng dân sự Trong trường hợp này, giữa hai bên chủ thể phải có quan hệ hợp đồng dân sự phát sinh hiệu lực và có thiệt hại xảy ra do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng Trước thời điểm vi phạm và áp dụng trách nhiệm đã tồn tại một quan hệ pháp luật hợp pháp theo ý chí của hai bên Cả hai loại trách nhiệm này đều là hình thức của trách nhiệm dân sự nên đều có đặc điểm là người gây thiệt hại phải gánh chịu hậu quả đã xảy ra bằng chính tài sản của mình Bên cạnh đó, hai hình thức trách nhiệm này cũng có những điểm khác biệt như sau:

- Trong trách nhiệm dân sự theo hợp đồng, việc bồi thường thiệt hại không giải phóng người có nghĩa vụ khỏi trách nhiệm thực hiện nghĩa

vụ một cách thực tế (giao vật, thực hiện công việc) (Điều 303, 304

Trang 31

BLDS năm 2005) [2], còn đối với trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường sẽ làm chấm dứt trách nhiệm bồi thường

- Người gây thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân sự chỉ phải bồi thường những thiệt hại trực tiếp và những thiệt hại có thể tiên liệu được khi ký kết hợp đồng còn đối với người gây thiệt hại khi thực hiện trách nhiệm ngoài hợp đồng thì người này phải bồi thường toàn bộ thiệt hại (cả trực tiếp lẫn gián tiếp)

- Chủ thể chịu trách nhiệm dân sự theo hợp đồng dân sự có thể bị phạt vi phạm còn trong trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng chỉ phát sinh trách nhiệm bồi thường mà không có phạt vi phạm hợp đồng

- Trách nhiệm dân sự theo hợp đồng dân sự có thể phát sinh cả khi do lỗi của người khác (Điều 293) [2], còn đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì chủ thể có thể phải chịu trách nhiệm cả khi

họ không có lỗi nếu pháp luật có quy định (Điều 623) [2], nhưng họ không chịu thiệt hại về lỗi của người khác

- Trong trách nhiệm dân sự theo hợp đồng thì trách nhiệm liên đới chỉ phát sinh nếu có thỏa thuận trước còn những người gây thiệt hại trong trách nhiệm ngoài hợp đồng thì phải chịu trách nhiệm liên đới nếu có

đủ các điều kiện luật định

- Về thời điểm phát sinh nghĩa vụ và trách nhiệm, trong trường hợp của trách nhiệm dân sự theo hợp đồng, khi giữa các chủ thể tham gia ký kết hợp đồng đã thỏa thuận với nhau về một nghĩa vụ phải bồi thường Nếu bên nào vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho bên kia thì mới phát sinh trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự Nhưng đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, do thời điểm phát sinh

Trang 32

nghĩa vụ và trách nhiệm bồi thường xuất hiện cùng lúc nên thiệt hại được coi là điều kiện phát sinh cả nghĩa vụ và trách nhiệm

Trang 33

Chương 2 CÁC ĐIỀU KIỆN PHÁT SINH VÀ NỘI DUNG CỦA

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

Trách nhiệm dân sự được quy định tại Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005, Phần thứ ba, Chương XVII, Mục 3 từ Điều 302 đến Điều 308 Như đã phân tích tại Chương I, trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam Chế định này điều chỉnh một lĩnh vực rất phổ biến và nhạy cảm là trong đời sống kinh tế, xã hội hiện nay, đó là hợp đồng dân sự Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự gắn liền với hợp đồng dân sự Chế định trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự nhằm khắc phục những hậu quả xẩy ra do vi phạm hợp đồng dân sự, ngăn ngừa các hiện tượng vi phạm hợp đồng dân sự và giáo dục các

cá nhân, pháp nhân trang bị tốt hơn những kiến thức và kinh nghiệm cần thiết trong việc nghiên cứu, ký kết và thực hiện các hợp đồng dân sự Từ đó, giữ gìn sự ổn định và lành mạnh của các quan hệ hợp đồng nói chung và quan hệ hợp đồng dân sự nói riêng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, pháp nhân khi tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự

Trong thực tế, việc vi phạm hợp đồng dân sự xảy ra rất đa dạng Bộ luật Dân

sự không thể quy định bao quát hết mọi trường hợp vi phạm hợp đồng Để khắc phục tình trạng này, các nhà làm luật đã sử dụng phương pháp Pandeten Trước hết quy định các điều khoản chung mang tính chất nguyên tắc, khái quát cho mọi trường hợp vi phạm hợp đồng dân sự và trách nhiệm nhân sự do

vi phạm hợp đồng dân sự Sau đó, Bộ luật Dân sự đưa ra quy định cụ thể về các qui phạm này trong phần các hợp đồng dân sự thông dụng

Khi nghiên cứu về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự, là xem xét tính pháp lý của chế định trách nhiệm dân sự này Tìm hiểu tính pháp lý

Trang 34

của trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự giúp cho việc vận dụng các quy định pháp luật dân sự có liên quan một cách chính xác hơn, linh hoạt hơn Từ đó, có thể biết được những điểm chưa phù hợp trong các quy định liên quan đến trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự nhằm đưa ra những kiến nghị và ý kiến xây dựng pháp luật dân sự hoàn thiện hơn

Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 được xây dựng và sửa đổi trên cơ sở tham khảo pháp luật dân sự của một số quốc gia có cấu trúc pháp luật tương

tự của Việt Nam Qua đó, các quy định của BLDS 2005 đã khá tương đồng và phù hợp với xu thế phát triển chung của pháp luật dân sự trên thế giới Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự cũng không nằm ngoài xu thế này

và được quy định khá đầy đủ, rõ ràng trong BLDS 2005 Trách nhiệm dân sự

do vi phạm hợp đồng dân sự sẽ được nghiên cứu và phân tích qua các vấn đề chính sau đây

2.1 Các điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng

dân sự

2.1.1 Có hành vi vi phạm hợp đồng

Hành vi vi phạm hợp đồng là một trong các hành vi dân sự của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự Theo giải thích của Từ điển thuật ngữ luật học thì “Hành vi dân sự là hành vi của chủ thể quan hệ pháp luật dân sự nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [23] Hành vi

vi phạm hợp đồng là một trong bốn điều kiện cấu thành trách nhiệm dân sự do

vi phạm hợp đồng dân sự Đây là điều kiện cơ bản và là tiền đề trong việc xác định trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự Có thể định nghĩa hành

vi vi phạm hợp đồng là hành vi vi phạm những thỏa thuận của các bên trong hợp đồng

Trang 35

Hợp đồng là một quan hệ pháp luật dân sự được xác lập trên cơ sở tự nguyện của các bên chủ thể và theo đó quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên phát sinh Hợp đồng là công cụ chủ yếu để xác lập quan hệ giữa người với người liên quan đến tài sản trong một xã hội Các quan hệ hợp đồng hình thành trong rất nhiều lĩnh vực như thương mại, lao động, và dân sự Mỗi loại hợp đồng, trong mỗi lĩnh vực, có những đặc điểm rất riêng, được chi phối bởi những quy định pháp luật đặc thù Trong đó, hợp đồng dân sự có thể được xem là có ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của đời sống, xã hội Khi bên có nghĩa vụ phải thực hiện hợp đồng vi phạm những điều đã cam kết thì được coi

là quy tắc xử sự do pháp luật quy định và đó là ý chí của các bên liên quan tạo

ra (trách nhiệm dân sự trong hợp đồng) Nguyên tắc của trách nhiệm dân sự trong hợp đồng, là chịu sự chi phối của các quy định chung về điều kiện xác lập và về hiệu lực thực hiện

Hành vi vi phạm hợp đồng liên quan đến nhiều yếu tố và có thể là việc làm sai các cam kết, vi phạm đối tượng hợp đồng, thực hiện công việc không đúng thời hạn của hợp đồng, vi phạm về giá cả trong hợp đồng, thực hiện không

Trang 36

đúng nghĩa vụ thanh toán, không tiếp nhận lợi ích hợp đồng từ bên có nghĩa

vụ đúng hạn, v.v…

Trong một hợp đồng nói chung và hợp đồng dân sự nói riêng, đối tượng của hợp đồng là một trong những nội dung cơ bản và quan trọng Đối tượng của hợp đồng thường phải được xác định cụ thể và có thể là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện một việc Hành vi vi phạm hợp đồng liên quan đến đối tượng hợp đồng của một chủ thể là việc chủ thể đó không thực hiện đúng việc chuyển giao các đối tượng đã cam kết trong hợp đồng Khi đối tượng hợp đồng là một vật, chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện đúng nghĩa vụ giao vật như quy định tại Điều 289 BLDS năm 2005 “Khi vật phải giao là vật đặc định thì bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó và đúng tình trạng như đã cam kết; nếu là vật cùng loại thì phải giao đúng số lượng và chất lượng như đã thỏa thuận và nếu không có thỏa thuận về chất lượng thì phải giao vật đó với chất lượng trung bình; nếu là vật đồng bộ thì phải giao đồng bộ”, [2]

Dù cố ý hay vô ý, khi chủ thể có nghĩa vụ trong hợp đồng chuyển giao vật hoặc tài sản không đúng tính chất đã cam kết trong hợp đồng thì bị coi là có hành vi vi phạm hợp đồng Trên thực tế, đây là một loại vi phạm rất thường gặp do tính chất của vật hoặc tài sản liên quan mật thiết đến giá trị hợp đồng

và quyền lợi của các bên Nếu tính chất của vật bị thay đổi do việc bên có nghĩa vụ chuyển giao không đúng chất lượng của vật, tài sản như đã cam kết trong hợp đồng mà bên có quyền nhận vật hoặc tài sản không phát hiện ra hành vi vi phạm của bên có nghĩa vụ giao vật hoặc tài sản thì đương nhiên bên có nghĩa vụ sẽ được hưởng lợi một cách không chính đáng từ hành vi gian dối của mình và gây ra thiệt hại cho bên có quyền Hành vi vi phạm về chất lượng đối tượng của hợp đồng thường xảy ra trong trường hợp giao vật cùng loại nhưng khác nhau về chất lượng

Trang 37

Liên quan đến đối tượng hợp đồng, hành vi vi phạm hợp đồng cũng có thể là việc bên có nghĩa vụ chuyển giao không đầy đủ số lượng của vật hoặc tài sản phải chuyển giao Hành vi vi phạm này thường xảy ra với vật phải chuyển giao là vật đồng bộ, vật chính có vật phụ đi kèm

Hợp đồng dân sự là một loại hợp đồng phổ biến và quan trọng điều chỉnh một phạm vi rộng các quan hệ xã hội hiện nay Đối tượng hợp đồng không đơn thuần là tài sản mà còn là những công việc phải thực hiện (thường gặp trong các hợp đồng dịch vụ) hoặc không được thực hiện một công việc BLDS năm

2005 quy định tại điều 291 “…phải thực hiện một công việc là nghĩa vụ mà theo đó bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng công việc đó” Công việc phải thực hiện là một việc mà bên có nghĩa vụ cam kết với bên có quyền phải làm trong thời hạn hợp đồng Nếu bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ công việc đã cam kết thì được coi là có hành vi vi phạm hợp đồng Ví dụ: một công ty du lịch cam kết cung cấp cho khách hàng dịch vụ du lịch trọn gói đến Thái Lan bao gồm phương tiện đi lại, ăn, ở, vé tham quan và hướng dẫn viên du lịch Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, công

ty du lịch đã không cung cấp đầy đủ dịch vụ đã cam kết như không đảm bảo chất lượng nơi ăn, ở… thì trong trường hợp này, công ty du lịch được xem là

đã không hoàn thành công việc đã cam kết với khách hàng và có hành vi vi phạm hợp đồng

Yếu tố không thực hiện một công việc cũng được xem là đối tượng của hợp đồng dân sự và cũng có hành vi vi phạm như nhiều loại đối tượng khác của hợp đồng Cũng theo Điều 291 BLDS năm 2005 “…không được thực hiện một công việc là nghĩa vụ mà theo đó bên có nghĩa vụ không được thực hiện công việc đó”, [2] Chủ thể có nghĩa vụ trong hợp đồng có tình thực hiện công việc mà mình đã cam kết trong một hợp đồng là sẽ không thực hiện được xem

là có hành vi vi phạm và phải chịu trách nhiệm dân sự Ví dụ: hai nhà sống

Trang 38

liền kề có khoảng không gian chung ở giữa và có cam kết không trổ lỗ thông gió, cửa thông hơi, cửa sổ ra khoảng không gian chung đó để không làm ảnh hưởng đến cuộc sống riêng của mỗi nhà Việc một trong hai nhà thực hiện bất

kỳ công việc nào vi phạm các cam kết nêu trên được coi là có hành vi vi phạm hợp đồng và phải chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật Một nội dung khác trong hợp đồng cũng thường bị vi phạm dẫn đến tranh chấp hợp đồng là yếu tố thời hạn thực hiện hợp đồng Hành vi vi phạm hợp đồng là việc chủ thể có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ không đúng thời hạn đã cam kết, bao gồm việc thực hiện nghĩa vụ sớm hơn hoặc muộn hơn thời hạn

đã cam kết Việc một bên thực hiện nghĩa vụ muộn hơn thời hạn cam kết đương nhiên sẽ gây thiệt hại cho bên có quyền và bị coi là hành vi vi phạm hợp đồng Tuy nhiên Điều 285 BLDS năm 2005 cũng quy định việc thực hiện hợp đồng sớm hơn thời hạn đã cam kết là hành vi vi phạm hợp đồng vì không tuân thủ đúng cam kết hợp đồng và có thể gây thiệt hại cho chủ thể còn lại của hợp đồng

Hành vi vi phạm hợp đồng cũng có thể là việc khi thời hạn của hợp đồng đã kết thúc mà bên có nghĩa vụ vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng Bên có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm dân sự từ việc không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng đúng thời hạn Trong trường hợp này, các biện pháp bảo đảm thực hiện sẽ được áp dụng Ví dụ: xử lý tài sản cầm cố, tài sản thế chấp, tài sản đặt cọc… hoặc nghĩa vụ của bên bảo lãnh phải được thực hiện Trong hợp đồng dân sự, trách nhiệm dân sự do có hành vi vi phạm hợp đồng không những áp dụng cho các chủ thể có nghĩa vụ mà còn áp dụng cho cả các chủ thể có quyền Các chủ thể có quyền cũng phải thực hiện những nghĩa vụ dân sự để đổi lại lợi ích mà họ nhận được từ quyền dân sự của mình Các nghĩa vụ đó bao gồm hành động tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ giao vật hoặc thực hiện công việc

Trang 39

Khi bên có nghĩa vụ theo cam kết trong hợp đồng đã hoàn thành công việc cam kết đúng thời hạn và tiến hành việc chuyển giao đối tượng hợp đồng cho bên có quyền thì lúc đó bên có quyền phát sinh nghĩa vụ phải tiếp nhận đối tượng hợp đồng đúng thời hạn đã cam kết Hành vi chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của bên có quyền được xem là hành vi vi phạm hợp đồng vì đã không đảm bảo được quyền lợi của bên có nghĩa vụ là thực hiện một công việc hoặc giao vật đúng hạn Bên chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự phải chịu trách nhiệm dân sự đối với hành vi vi phạm hợp đồng của mình do bên có nghĩa vụ đã bị thiệt hại từ việc phải áp dụng các biện pháp cần thiết (như chi phí thuê kho bãi, chi phí trông giữ, vận chuyển vật, tài sản) để bảo quản tài sản

Hành vi vi phạm hợp đồng của bên có quyền trong hợp đồng cũng xuất phát

từ nghĩa vụ thanh toán Khi bên có nghĩa vụ đã tiến hành chuyển giao đối tượng hợp đồng đúng chủng loại, số lượng, chất lượng, địa điểm, thời hạn như

đã cam kết trong hợp đồng, nhưng bên có quyền lại không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền như trả tiền không đủ về số lượng, trả tiền không đúng thời hạn, trả tiền không đúng địa điểm hoặc không đúng thời hạn đã cam kết thì bị coi là có hành vi vi phạm hợp đồng Việc xác định hành vi vi phạm loại này rất quan trọng và cần thiết vì nó có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của bên

có nghĩa vụ trong hợp đồng Ngoài ra, hành vi vi phạm đối với nghĩa vụ thanh toán cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra các tranh chấp hợp đồng

Trong thực tiễn áp dụng pháp luật và giải quyết tranh chấp, có nhiều hành vi được xác định là vi phạm hợp đồng không bị áp dụng trách nhiệm dân sự Đó

là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng liên quan đến các trường hợp bất khả kháng Trong trường hợp này, mặc dù có hành vi vi phạm hợp đồng nhưng trách nhiệm dân

Trang 40

sự lại không xuất hiện do pháp luật dân sự đã quy định các trường hợp bất khả kháng là nguyên nhân không tạo nên lỗi của bên có hành vi không thực hiện hợp đồng

Tham khảo pháp luật dân sự của các quốc gia khác như Cộng hoà Pháp, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Trung Hoa, Nhật Bản, chúng ta thấy ở đây có một loạt câu hỏi cần phải giải quyết như ai là người gây nên vi phạm hợp đồng, ai là người chịu trách nhiệm dân sự về các hành vi vi phạm đó, nếu có nhiều tác nhân gây nên một vi phạm hợp đồng thì mức độ chịu trách nhiệm của từng tác nhân đến đâu

Bộ luật Dân sự Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quy định về hành vi vi phạm hợp đồng liên quan đến trách nhiệm dân sự như sau:

- Điều 106 (trích): “Công dân hoặc pháp nhân vi phạm hợp đồng hay không thực hiện các nghĩa vụ khác đều phải chịu trách nhiệm dân

sự Trong trường hợp do pháp luật quy định công dân có thể phải chịu trách nhiệm dân sự cả khi không có lỗi”

- Điều 107: “Công dân hoặc pháp nhân không phải chịu trách nhiệm dân sự khi không thực hiện hợp đồng hoặc không phải chịu trách nhiệm đối với những mất mát xảy ra do có sự kiện bất khả kháng trừ truờng hợp pháp luật có quy định khác”

- Điều 113: “Khi cả hai bên đều vi phạm hợp đồng thì mỗi bên phải chịu trách nhiệm về phần vi phạm của mình”

Nghiên cứu các quy định này nói riêng cũng như pháp luật về trách nhiệm dân

sự và hợp đồng dân sự nói chung, có thể rút ra nhận xét: trách nhiệm mà các bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng phải chịu là trách nhiệm dân sự Trách nhiệm dân sự gồm nhiều hình thức khác nhau Tùy theo quy định của pháp luật dân sự của từng quốc gia mà các hình thức trách nhiêm dân sự có

Ngày đăng: 20/10/2015, 15:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w