Với kết quả thống kê mà Tòa án nhân dân tối cao công bố, chúng ta dễ dàng nhận thấy việc thực thi pháp luật phá sản ở Việt Nam hiện nay đang có vấn đề, không phản ánh trung thực kết quả
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ NGỌC THẮNG
KẾ THỪA NHỮNG ƯU ĐIỂM CỦA LUẬT PHÁ SẢN NĂM 2004 VÀ TĂNG CƯỜNG TÍNH KHẢ THI
TRONG THỰC TIỄN THI HÀNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ NGỌC THẮNG
KẾ THỪA NHỮNG ƯU ĐIỂM CỦA LUẬT PHÁ SẢN NĂM 2004 VÀ TĂNG CƯỜNG TÍNH KHẢ THI
TRONG THỰC TIỄN THI HÀNH
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 62 38 01 07
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Vũ Quang
Hà Nội, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu đã công bố được tham khảo trong Luận án đều trung thực và trích dẫn nguồn đúng quy định
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lê Ngọc Thắng
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ của luận án 4
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
4 Các kết quả mới đạt được của luận án 6
5 Kết cấu của luận án 7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 8
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 8
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.1.3 Những kết quả nghiên cứu được tác giả kế thừa trong quá trình thực hiện luận án 16
1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 18
1.2.1 Cơ sở lý thuyết 18
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21
CHƯƠNG 2: KẾ THỪA NHỮNG ƯU ĐIỂM CỦA LUẬT PHÁ SẢN NĂM 2004 TRONG BỐI CẢNH HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT PHÁ SẢN Ở VIỆT NAM 23
2.1 Lý thuyết về phá sản và pháp luật về phá sản 23
2.1.1 Khái niệm về phá sản 23
2.1.2 Khái niệm về pháp luật phá sản và pháp luật phá sản ở Việt Nam 24
2.1.3 Vai trò của pháp luật phá sản 28
2.1.4 Phân loại phá sản 32
2.2 Những ưu điểm cơ bản của Luật Phá sản năm 2004 35
2.2.1 Về đối tượng áp dụng 35
2.2.2 Về thẩm quyền của Tòa án 38
2.2.3 Về phạm vi điều chỉnh 40
2.3 Pháp luật phá sản ở một số nước trên thế giới 42
Trang 62.3.2 Pháp luật phá sản Cộng hòa Pháp 44
2.3.3 Pháp luật phá sản Trung Quốc 45
2.3.4 Kinh nghiệm đối với Việt Nam 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 49
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT PHÁ SẢN Ở VIỆT NAM 50
3.1 Về bộ máy thực thi pháp luật phá sản 50
3.1.1 Cơ quan Tòa án 50
3.1.2 Về Tổ quản lý và thanh lý tài sản 53
3.2 Về thực tiễn thi hành một số quy định của Luật Phá sản năm 2004 56 3.2.1 Tiêu chí để xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản 56
3.2.2 Chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 60 3.2.3 Tài sản phá sản và bảo toàn tài sản phá sản 68
3.2.4 Phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 97
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG TÍNH KHẢ THI CỦA LUẬT PHÁ SẢN 99
4.1 Một số phương hướng cơ bản nhằm nâng cao tính khả thi của Luật Phá sản 99
4.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao tính khả thi của Luật Phá sản 101
4.2.1 Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách 101
4.2.2 Nhóm giải pháp liên quan đến tổ chức bộ máy thực thi pháp luật phá sản 104
4.2.3 Tiếp tục hoàn thiện Luật Phá sản trên cơ sở kế thừa những ưu điểm và khắc phục một số hạn chế của Luật Phá sản năm 2004 108
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 126
KẾT LUẬN 128
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 132
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 133
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tự do cạnh tranh và phá sản là những thuộc tính vốn có của kinh tế thị trường Trong một môi trường cạnh tranh khốc liệt, câu chuyện “mạnh được yếu thua” là điều hiển nhiên Bên cạnh những doanh nghiệp làm ăn có lãi, cũng sẽ có những doanh nghiệp thua lỗ, thậm chí thua lỗ kéo dài, mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Để loại bỏ những doanh nghiệp này ra khỏi nền kinh tế, đồng thời phòng ngừa, khắc phục những hậu quả rủi ro mà các doanh nghiệp này có thể gây ra cho nền kinh tế, cần có sự can thiệp kịp thời của nhà nước thông qua pháp luật phá sản Tuy nhiên, để xây dựng và thực thi một cơ chế phá sản có hiệu quả là điều không dễ dàng đối với bất cứ quốc gia nào Ở Việt Nam, Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 là văn bản luật đầu tiên quy định về giải quyết phá sản, sau gần chục năm thi hành, văn bản này bị đánh giá thấp về hiệu quả điều chỉnh và ít tính khả thi Luật Phá sản
2004 được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004, có hiệu lực từ ngày 15/10 cùng năm nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại của Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 Với rất nhiều nội dung mới được bổ sung, sửa đổi Luật Phá sản năm 2004 đã được nhà làm luật đặt nhiều kỳ vọng Song, không giống như những kỳ vọng ban đầu, Luật Phá sản năm 2004 đang gặp nhiều vướng mắc khi thực hiện Những số liệu thống kê sau đây sẽ nói lên điều đó
Theo báo cáo xếp hạng môi trường kinh doanh năm 2008 do Ngân hàng thế giới (WB) và Tập đoàn tài chính Quốc tế (IFC) công bố, Việt Nam xếp thứ 91 trên tổng số 178 Quốc gia được khảo sát Trong đó tiêu chí thứ 10
là tiêu chí về đóng cửa doanh nghiệp, báo cáo cho rằng việc giải quyết các trường hợp phá sản ở Việt Nam mất ít nhất 5 năm, tốn kém đến 15% giá trị tài sản của doanh nghiệp Đối với những doanh nghiệp vỡ nợ thì các bên liên quan chỉ thu hồi được 18% giá trị tài sản Vì thế, rất ít doanh nghiệp tuân theo các quy định và thủ tục chính thức của Luật Phá sản khi đóng cửa hoạt động [94]
Trang 8Cùng báo cáo tương tự cho năm 2012 về môi trường kinh doanh ở Việt Nam thì các chỉ số thay đổi theo chiều hướng xấu hơn Cụ thể, Việt Nam bị xếp thứ 99 trên tổng số 183 nền kinh tế được khảo sát Đứng sau thứ hạng trung bình toàn khu vực Đông Á - Thái Bình Dương Trong đó lĩnh vực xử lý doanh nghiệp mất khả năng thanh toán xếp thứ 149/183 trong tổng số mười lĩnh vực được đánh giá và vẫn bị tổ chức này đánh giá chung là: quy trình phá sản ở Việt Nam rất phức tạp, tốn kém, kéo dài và ít hiệu quả Do vậy, các doanh nghiệp mất khả năng thanh toán thường là chọn các hình thức khác để rút khỏi thị trường hoặc tạm ngưng hoạt động thay vì phá sản theo quy định Việc này dẫn đến tình trạng có nhiều doanh nghiệp “chết mà không được chôn” hoặc “chôn” theo cách khác, không theo cách mà Nhà nước thông qua Luật Phá sản đã “cài đặt” sẵn
Báo cáo mới nhất về môi trường kinh doanh “Doing Bussiness 2014”
mà Ngân hàng Thế giới (WB) vừa công bố sáng ngày 29 tháng 10 năm 2013 tại Hà Nội, thứ hạng của Việt Nam không có thay đổi so với năm 2012 Như vậy, theo báo cáo thì môi trường kinh doanh của Việt Nam không hề được cải thiện trong nhiều năm qua Trong đó lĩnh vực về giải quyết phá sản ở Việt Nam bị đánh giá rất thấp (149/189 nền kinh tế) [94]
Về phía Việt Nam, nhìn vào con số thống kê cũng nói lên thực trạng này Theo dự thảo báo cáo tổng kết công tác thi hành Luật Phá sản năm 2004 của Tòa án Nhân dân tối cao, tính đến hết ngày 30 tháng 9 năm 2012, trong tổng số 63 tòa án cấp tỉnh chỉ có 49 Tòa án nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Như vậy có đến 14 Tòa án cấp tỉnh không nhận được đơn yêu cầu, theo đó có thể hiểu là vấn đề giải quyết phá sản hầu như không diễn ra đối với
14 tỉnh thành trên cả nước Cũng theo báo cáo này, tổng số đơn mà các chủ thể gửi đến Tòa án là 336 đơn, trong đó Tòa án đã ra 236 quyết định mở thủ tục phá sản và mới chỉ có 83 quyết định tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp Số còn lại do nhiều nguyên nhân khác nhau mà việc giải quyết phá sản chưa hoặc thậm chí không thể thực hiện được
Trang 9Số liệu thống kê mới nhất của Tòa án nhân dân Tối cao được cập nhật tiếp từ 01 tháng 10 năm 2012 đến hết ngày 28 tháng 02 năm 2014, số lượng đơn yêu cầu có được cải thiện hơn với 284 đơn yêu cầu Tòa án nhận được Tuy nhiên, số vụ Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản và số lượng vụ việc
mà Tòa ra quyết định doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản vẫn ở mức khiêm tốn
Cụ thể, Tòa án ra được 77 quyết định mở thủ tục phá sản và ra 12 quyết định doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản
Như vậy tính từ thời điểm Luật Phá sản năm 2004 có hiệu lực đến ngày
28 tháng 02 năm 2014, tổng số đơn mà Tòa án nhận được là 620 đơn, trong
đó có 331 vụ việc được ra quyết định mở thủ tục phá sản và 95 quyết định doanh nghiệp phá sản được tuyên
Với kết quả thống kê mà Tòa án nhân dân tối cao công bố, chúng ta dễ dàng nhận thấy việc thực thi pháp luật phá sản ở Việt Nam hiện nay đang có vấn đề, không phản ánh trung thực kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, không giải quyết được những đòi hỏi mà thực tiễn giải quyết yêu cầu phá sản đặt ra Với gần chục năm thực hiện và áp dụng (Luật Phá sản
có hiệu lực từ ngày 15/10/2004) mà toàn hệ thống Tòa án trên cả nước mới chỉ ra được 95 quyết định phá sản, như vậy tính bình quân mỗi một năm trên toàn Việt Nam có chưa đầy chục doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản Điều này rất không bình thường, khi mà ở nước ta thời gian qua mỗi năm có hàng chục ngàn doanh nghiệp ra đời (năm 2010 có 83.600 doanh nghiệp được thành lập mới, năm 2011 con số này là 75.000) và hàng năm cũng có quá nửa số đó rút khỏi thị trường (năm 2010 có 43.505 doanh nghiệp đóng cửa, năm 2011 con
số này là 53.972).[81]
Với sứ mệnh thay thế Luật Phá sản doanh nghiệp 1993, Luật Phá sản
2004 đã bổ sung nhiều quy định mới và có những ưu điểm nhất định Tuy nhiên, với những gì diễn ra trong thời gian qua, khi đánh giá về hiệu quả điều chỉnh của Luật Phá sản 2004, nhiều chuyên gia cho rằng văn bản này có hiệu
Trang 10quả điều chỉnh thấp, ít tính khả thi, không phản ánh hết yêu cầu và thực trạng giải quyết phá sản ở Việt Nam Thậm chí có ý kiến cho rằng Luật Phá sản
2004 đang “phá sản” Ở một mức độ nào đó tác giả đồng ý với những nhận định trên Tuy nhiên, tác giả cho rằng, bên cạnh một số vướng mắc ở các quy định cụ thể trong Luật Phá sản 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành (thuộc luật nội dung) thì việc tổ chức thực thi pháp luật phá sản, một mảng pháp luật thuộc luật hình thức (tố tụng phá sản) cũng là một trong những nguyên nhân làm sai lệch hiện tượng phá sản ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua Trước thực trạng đó, việc sửa đổi bổ sung Luật Phá sản năm 2004 nói riêng và tiếp tục hoàn thiện pháp luật phá sản nói chung là một yêu cầu cấp bách Hiện tại Luật Phá sản năm 2014 đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày
01/01/2015 Xuất phát từ những lý do cơ bản này NCS đã chọn đề tài "Kế
thừa những ưu điểm của Luật Phá sản năm 2004 và tăng cường tính khả thi trong thực tiễn thi hành” làm luận án tiến sĩ
2 Mục đích, nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án là phân tích, luận giải và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, qua đó chỉ ra những ưu điểm nhất định mà Luật Phá sản năm 2004
có được nên và đã được kế thừa khi ban hành Luật phá sản năm 2014 Bên cạnh đó, luận án cũng nhấn mạnh đến thực trạng thi hành pháp luật phá sản tại Việt Nam trong thời gian qua, phân tích đánh giá về tính khả thi cũng như những vướng mắc bất cập ở Luật Phá sản 2004 và các văn bản có liên quan Đồng thời đưa ra những đề xuất, kiến nghị về những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao tính khả thi của pháp luật phá sản
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
Một là, về phương diện lý luận, luận án hệ thống hóa và làm rõ thêm
các vấn đề lý luận về phá sản, pháp luật phá sản cũng như các vấn đề thực thi
Trang 11pháp luật phá sản Trên cơ sở đó, nhận diện được một cách đầy đủ và chính xác mô hình và đặc trưng cơ bản của pháp luật phá sản Việt Nam
Hai là, về thực tiễn, luận án tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng
thi hành pháp luật phá sản ở Việt Nam thông qua các thiết chế thi hành và tính khả thi của một số quy định thuộc Luật Phá sản năm 2004 Thông qua các nội dung này, luận án sẽ chỉ ra một số hạn chế, bất cập của Luật Phá sản năm
2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng như những bất cập của văn bản này với các văn bản pháp luật có liên quan
Ba là, luận án nghiên cứu, so sánh và giới thiệu kinh nghiệm về quan
điểm xây dựng, hoàn thiện pháp luật phá sản của một số nước và rút ra bài học cho Việt Nam
Bốn là, luận án nghiên cứu và đề xuất các giải pháp góp phần nâng
cao hiệu quả thực thi pháp luật phá sản cũng như việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật phá sản trong tương lai
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Pháp luật phá sản và thực thi pháp luật phá sản là một lĩnh vực khá rộng, do vậy luận án chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến thực tiễn thực thi pháp luật phá sản ở Việt Nam, đề cập đến vấn đề
tổ chức bộ máy thực thi pháp luật phá sản và một số nội dung cơ bản của luật phá sản năm 2004 như: phạm vi và đối tượng áp dụng; thẩm quyền của Tòa án; tiêu chí xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản; chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn; tài sản phá sản và bảo toàn tài sản phá sản
Về thời gian, xuất phát từ tình hình thực tiễn là nền kinh tế Việt Nam chúng ta đang trong quá trình chuyển đổi và hội nhập, do vậy, luận án chỉ giới hạn nghiên cứu trong giai đoạn chủ yếu từ năm 2004 trở lại đây, đặc biệt là trên cơ sở các quy định của Luật Phá sản năm 2004 và một số vấn đề thuộc Luật Phá sản năm 2014
Trang 12Về không gian, luận án giới hạn việc tìm hiểu, so sánh ở mức độ nhất định với pháp luật phá sản của một số quốc gia điển hình như: Cộng hòa Pháp (đại diện cho hệ thống pháp luật Civil Law), Hoa Kỳ (điển hình của trường phái Common Law) và Trung Quốc một quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi
và có nhiều nét tương đồng với Việt Nam
4 Các kết quả mới đạt được của luận án
Những điểm mới của luận án là:
- Luận án đã giới thiệu một cách tổng quan các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến phá sản, pháp luật phá sản, thực thi pháp luật phá sản và bước đầu đã có những nhận xét, đánh giá chung về kết quả nghiên cứu của các công trình này Đồng thời, chỉ rõ những kết quả nghiên cứu đã được kế thừa cũng như những vấn đề được tiếp tục nghiên cứu trong luận án
- Trên phương diện lý thuyết, luận án đã kế thừa và làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về phá sản và pháp luật phá sản theo pháp luật về phá sản của Việt Nam Phân tích, đánh giá và khẳng định một số ưu điểm nổi bật của Luật Phá sản năm 2004, có thể và đã được kế kế thừa, so sánh với pháp luật một
số nước và rút ra bài học cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật phá sản
- Ở giác độ thực tiễn, luận án đã nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật phá sản ở Việt Nam thông qua thiết chế thi hành Luật Phá sản và tính khả thi của một số quy định thuộc Luật Phá sản năm 2004
- Luận án đưa ra một số định hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao tính khả thi của của pháp luật phá sản, gồm nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách, nhóm giải pháp về tổ chức bộ máy thực thi pháp luật phá sản, nhóm giải pháp trên cơ sở kế thừa những ưu điểm và khắc phục những hạn chế của Luật Phá sản năm 2004 Luận án cũng đề xuất một số vấn đề nhằm tiếp tục hoàn thiện Luật Phá sản năm 2014 trong thời gian tới
Trang 135 Kết cấu của luận án
Ngoài mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo chủ yếu, luận án được kết cấu với 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Kế thừa những ưu điểm của Luật Phá sản 2004 trong bối cảnh hoàn thiện pháp luật phá sản ở Việt Nam
Chương 3: Đánh giá thực trạng thi hành pháp luật phá sản ở Việt Nam Chương 4: Phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường tính khả thi của Luật Phá sản
Trang 14CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Phá sản và pháp luật phá sản là vấn đề không mới lạ đối với đa số các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, tự do và hoàn hảo Do vậy để có
cơ sở lý luận và khoa học cho các nhà làm luật hoạch định chính sách phá sản, các nhà nghiên cứu đã có nhiều công trình chuyên sâu về vấn đề này Với giới hạn hiểu biết của tác giả thì hiện nay trên thế giới đã hình thành các học thuyết về phá sản cơ bản sau đây:
Thứ nhất, học thuyết về chính sách phá sản (bankruptcy-policy Theory)
Tác giả của học thuyết này là Elizabeth Warren Tư tưởng chủ đạo của học thuyết là: pháp luật phá sản không chỉ là giải quyết vấn đề đòi nợ tập thể, ngoài việc giải quyết đòi nợ tập thể pháp luật phá sản còn phải chú trọng đến các vai trò xã hội khác, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế khủng hoảng, do vậy, tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh, thể chế chính trị, cơ chế kinh tế của từng quốc gia cụ thể mà ở đó pháp luật phá sản nên được hình thành theo các thủ tục không nhất thiết phải giống nhau [88]
Thứ hai, học thuyết về chia sẻ rủi ro (Risk-Sharing Theory)
Người đề xuất học thuyết này là Thomas H Jackson và Robert E Scott Mục đích mà học thuyết này hướng tới là làm rõ các cơ sở khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện các quy định của luật phá sản về tái tổ chức hoạt động của con nợ Tư tưởng chủ đạo của học thuyết này: Pháp luật phá sản mục tiêu quan trọng là tối đa hóa giá trị tài sản của con nợ, bên cạnh đó việc các chủ nợ cùng tham gia chia sẻ nguy cơ thất bại với các chủ nợ cũng được coi là mục tiêu thứ yếu Do vậy, pháp luật phá sản chú trọng đến khả năng thương lượng,
Trang 15tạo hành lang pháp lý để các bên có cơ hội hòa giải thông qua đó nhằm hướng
chủ nợ và con nợ đến việc chia sẻ rủi ro và cả hai nhóm chủ nợ này cũng phải
đối phó với nguy cơ mất khả năng thanh toán của con nợ [88]
Thứ ba, công trình nghiên cứu về tính đặc thù, khuynh hướng xây
dựng và áp dụng Luật Phá sản của các quốc gia có nền kinh tế chuyển đối
Ngoài những học thuyết cơ bản tác giả nêu trên, năm 1996 (sau khi nền
kinh tế kế hoạch của một loạt các quốc gia Đông Âu sụp đổ) tác giả Michael
Kim đã có công trình nghiên cứu giới hạn trong phạm vi bài viết đăng tải trên
tạp chí Fordham LawRewiew với tiêu đề “ When nonuse is useful:
Bankruptcy law in post – Communist Central and Eastern Europe” tạm dịch là
“Khi Luật phá sản không được sử dụng một cách có hiệu quả ở các nước
Trung và Đông Âu thời kỳ hậu chủ nghĩa cộng sản” Đối tượng nghiên cứu
Michael Kim hướng tới là Luật Phá sản ở hai quốc gia: Cộng hòa Séc và
Hungary vào thời điểm chủ nghĩa cộng sản ở khu vực này đã thực sự sụp đổ Giả
thuyết tác giả đặt ra khi nghiên cứu là “nếu các quốc gia này có một nền kinh tế
thị trường hoàn hảo” để có thể áp dụng luật phá sản hiện đại một cách có hiệu
quả
Công trình nghiên cứu của Michael Kim chỉ ra rằng: Từ sự sụp đổ của
chủ nghĩa cộng sản ở Trung và Đông Âu (CEE) đã làm nảy sinh nhiệm vụ
khó khăn cho những nền kinh tế thị trường đang phát triển [92] Các quốc gia
CEE phải đối mặt với một di sản của chủ nghĩa cộng sản, đó là sự đi ngược
lại nền kinh tế thị trường Dưới chủ nghĩa cộng sản, chính phủ sở hữu tất cả
tài sản và lập kế hoạch hoạt động của phần lớn các đối tượng tham gia vào
nền kinh tế (chủ thể kinh tế) thông qua sự điều hành tập trung thống nhất từ
Trung ương Nhà nước đảm bảo một nền kinh tế giả tạo [92] Nhà nước điều
khiển sự phối hợp và các khoản đầu tư, tín dụng và tiền lương, việc đầu tư và
bao cấp trong các Ngân hàng doanh nghiệp, thậm chí ngay cả khi chúng
không tạo ra lợi nhuận, kết quả của nền kinh tế là sự thiếu vắng của hiện
Trang 16tượng phá sản và không có thất nghiệp Do đó các chủ thể kinh tế dưới thời chủ nghĩa cộng sản không bị sức ép về mặt tài chính nhưng cũng không giỏi tạo ra lợi nhuận hay đạt được những thành công trong kinh doanh [92] Những quyết định đầu tư trong thành phần kinh tế Nhà nước không xuất phát
từ động cơ lợi nhuận Dưới chủ nghĩa cộng sản, mọi người bỏ qua những quy luật thị trường cơ bản (quy luật tối đa hóa lợi nhuận) và đứng ngoài cuộc cạnh tranh Do đó không cần thiết cho một cơ chế thị trường căn bản, chẳng hạn như Luật Phá sản hay Luật Cạnh tranh [92]
Sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, các quốc gia CEE đua nhau bắt đầu
sự chuyển đổi nền kinh tế sang kinh tế thị trường Nền kinh tế chuyển đổi vừa hướng tới kinh tế thị trường vừa bắt bản thân nó phải chấp nhận tính khắc nghiệt của kinh tế thị trường
Với sự phân tích sâu sắc và toàn diện tác giả chỉ ra các mô hình áp dụng Luật Phá sản ở các quốc gia này Ví dụ: Ở Cộng hòa Séc đã xây dựng luật phá sản theo mô hình “tăng tốc” tiếp cận nhanh hơn với nền kinh tế thị trường, trong khi đó Hungary thì lại áp dụng mô hình phá sản “từ từ” để phù hợp với đặc trưng của một nền kinh tế chuyển đổi
Tóm lại, qua sự khảo sát, phân tích đánh giá, Tác giả đã đi đến nhận định: Luật Phá sản khó có thể sử dụng một cách có hiệu quả ở những quốc gia
có nền kinh tế chuyển đổi (chưa hoàn hảo) Những dự đoán của các chuyên gia phương tây về việc sử dụng Luật Phá sản tràn khắp các nước CEE dựa trên sự chấp nhận thị trường đã không tồn tại [82]
Có thể thấy “When nonuse is useful: Bankruptcy law in post – Communist Central and Eastern Europe” là công trình nghiên cứu hữu ích cho Việt Nam khi hoàn thiện pháp luật Phá sản trong thời gian tới về việc lựa chọn mô hình phá sản phù hợp để đảm bảo tính khả thi cao
Trang 171.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Pháp luật phá sản nói chung và vấn đề thực thi pháp luật phá sản nói riêng là một lĩnh vực khá mới mẻ ở một quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi nói chung và Việt Nam nói riêng Chính vì vậy vấn đề này đã được nhiều học giả đặc biệt quan tâm, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này phải kể đến như:
Thứ nhất, ở bình diện khái quát mang tính lý luận chung có các công trình tiêu biểu như:
“ Phá sản doanh nghiệp - một số vấn đề thực tiễn” của Nguyễn Tấn
Hơn, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia 1995; “Pháp luật về phá sản doanh
nghiệp trong Luật kinh tế Việt Nam” của Bùi Nguyên Khánh, nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996; “Đi tìm triết lý Luật Phá sản” của Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 16 năm 2003; “Chuyên
khảo Luật Kinh tế” của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, nhà xuất bản Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2004; “Luật Phá sản 2004 với việc cải thiện môi trường liên
doanh tại Việt Nam” của PGS.TS Dương Đăng Huệ - Tạp chí dân chủ và
pháp luật- số 03/2005; “Một số suy nghĩ về Luật Phá sản năm 2004” của Tô
Nguyễn Cẩm Anh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 06/2005;
Thứ hai, ở giác độ pháp luật so sánh với pháp luật phá sản nước ngoài có các công trình điển hình như:
“Pháp luật về phá sản của Việt Nam và pháp luật Phá sản Úc: Những
nét tương đồng và khác biệt” của T.S Dương Đăng Huệ, Tạp chí Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội, số 03/1995; “Pháp luật quốc tế về phá sản và
vận dụng vào việc xây dựng Luật Phá sản (sửa đổi) ở nước ta”, công trình
nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Hà Nội, 2001; “Luật Phá sản doanh nghiệp
Việt Nam dưới góc độ luật so sánh và phương hướng hoàn thiện” Luận án
tiến sĩ Luật học của Trương Hồng Hải - Đại học Luật Hà Nội 2004; “ Luật
Trang 18Phá sản của Việt Nam và Luật Phá sản của cộng hòa Pháp- những nét tương đồng và khác biệt” Luận văn thạc sĩ của An Phương Huệ, 2004; “So sánh pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước về phá sản và định hướng sửa đổi Luật phá sản 2004” của PGS.TS Ngô Huy Cương - tham luận hội
nghị tổng kết thực tiễn thi hành Luật Phá sản tại Đà Nẵng;
Thứ ba, ở giác độ nghiên cứu pháp luật phá sản nước ngoài có công trình tiêu biểu như:
“Luật Phá sản của Hoa Kỳ” của TS Bùi Nguyên Khánh, Viện nghiên
cứu Nhà nước và Pháp luật năm 2002
Thứ tư, vấn đề hoàn thiện pháp luật phá sản có các công trình điển hình sau:
“Những giải pháp pháp lý cần xây dựng và hoàn thiện nhằm đảm bảo
doanh nghiệp rút khỏi thị trường” của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
năm 2002; “Một số ý kiến về dự thảo pháp luật phá sản (sửa đổi)” của
PGS.TS Dương Đăng Huệ và Cao Đăng Vinh- Tạp chí Tòa án nhân dân tối
cao - số 01/2004; “ Đánh giá thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2004” của
Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao- tài liệu phục vụ hội nghị chuyên đề
năm 2008; “ Hoàn thiện pháp luật phá sản Việt Nam theo các khuyến nghị
của hướng dẫn xây dựng Luật Phá sản của UNCITRAL năm 2005” Luận văn
thạc sĩ Luật học của Nguyễn Văn Nam, năm 2010; “Thực trạng pháp luật về
phá sản và việc hoàn thiện pháp luật kinh doanh tại Việt Nam” của Bộ Tư
pháp và MPI-GTZSME Development Programme, năm 2008; “Dự thảo báo
cáo tổng kết đánh giá tác động của Luật Phá sản Việt Nam năm 2004” Tổng
kết của Tòa án nhân dân tối cao năm 2013; “Thủ tục Phá sản - thực trạng và
hướng hoàn thiện” của Đào Thị Hồng Phương, Luận văn thạc sĩ Luật học
năm 2009; “Hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp
ở Việt Nam giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Luật học của Đào Thị Thu
Trang năm 2009; “Các giải pháp pháp lý nhằm giải quyết tốt hơn việc phá
Trang 19sản doanh nghiệp ở Việt Nam”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của Bộ Tư
pháp năm 2009 do PGS.TS Dương Đăng Huệ làm chủ biên; “Thực trạng thi
hành pháp luật phá sản ở Việt Nam và hướng hoàn thiện” của Lê Ngọc Thắng
- Tạp chí Khoa học và đào tạo Ngân hàng số 12 năm 2013; và đặc biệt là bài
viết “Thi hành Luật Phá sản năm 2004 - thực trạng và giải pháp” của
PGS.TS Dương Đăng Huệ tại hội nghị chuyên đề đánh giá thực tiễn thi hành
Luật Phá sản 2004
Thứ năm, liên quan đến vấn đề thực thi pháp luật phá sản ở Việt Nam có các công trình như:
“ Luật Phá sản 2004 - Một số điểm mới và tính khả thi” của Lê Ngọc
Thắng - Tạp chí Giáo dục lý luận số 5/2004; “Kế thừa những ưu điểm của
Luật phát sản năm 2004 trong bối cảnh hoàn thiện pháp luật phá sản ở Việt Nam” của Lê Ngọc Thắng - Tạp chí Dân chủ & Pháp luật (266) năm 2014;
“Bàn về quyền của người lao động trong thủ tục phá sản doanh nghiệp” của
Lê Ngọc Thắng - Tạp chí Lao động và xã hội (478) năm 2014; “Hoàn thiện
quy định về các giao dịch bị coi là vô hiệu theo Luật Phá sản năm 2004" của
Lê Ngọc Thắng - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (314) năm 2014; “Tìm hiểu
các quy định của Luật Phá sản năm 2004 - về thủ tục phục hồi và thanh lý tài sản, tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản và một kiến nghị” của Bùi
Thị Dung Huyền, Chuyên đề khoa học xét xử, Viện Khoa học xét xử, Tòa án
nhân dân tối cao; “Một số vấn đề về Luật Phá sản” của Nguyễn Thái Hà, Bùi
Hữu Toàn, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng - số 3,4/2005;
Thứ sáu, ở giác độ nghiên cứu về các thiết chế thực thi pháp luật phá sản Việt Nam có:
“Một số vấn đề về hoạt động của Tổ quản lý và Thanh lý tài sản trong
thủ tục giải quyết phá sản”, bài tham luận của Đinh Thị Thu Hương tại Hội
thảo về pháp luật phá sản những vướng mắc và hướng khắc phục, tổ chức tại
TP.HCM năm 2006; “Quy chế pháp lý của tổ quản lý và thanh lý tài sản theo
Trang 20pháp luật phá sản Việt Nam” của Đặng Văn Huy, Luận văn thạc sĩ Luật học,
năm 2010; “Vai trò của Tòa án trong giải quyết yêu cầu phá sản doanh
nghiệp” của Lê Tuấn Anh, Luận văn thạc sĩ Luật học, năm 2013;
Thứ bảy, ở giác độ đi sâu vào nghiên cứu về các vấn đề như tài sản phá sản, bảo toàn và xử lý tài sản phá sản có các công trình điển hình sau:
“Quản lý và xử lý tài sản phá sản theo quy định của pháp luật Việt
Nam” của Vũ Thị Hồng Vân, Luận án tiến sĩ Luật học năm 2008; “ Bảo toàn tài sản doanh nghiệp trong quá trình giải quyết thủ tục phá sản- một số tồn tại vướng mắc cần khắc phục” của thạc sĩ Cao Đăng Vinh, bài viết tham luận
hội thảo pháp luật về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã ở nước ta, Viện Nghiên cứu lập pháp, Ủy ban thường vụ Quốc hội tổ chức năm 2013
Về cơ bản các công trình này chủ yếu phân tích đánh giá về pháp luật phá sản của Việt Nam trên các phương diện: chức năng, vị trí, vai trò và các nội dung cơ bản của pháp luật phá sản Việt Nam So sánh sự tương đồng và khác biệt giữa pháp luật phá sản của Việt Nam và pháp luật phá sản một số nước trên thế giới, qua đó tìm ra những ưu và nhược điểm Đa phần các công trình này đã đề cập đến vấn đề thực thi pháp luật phá sản và nâng cao tính khả thi của pháp luật phá sản Việt Nam Tuy nhiên, chỉ dừng lại ở mức độ khái quát
Mặc dù các công trình này ít nhiều có sự khác nhau về đối tượng nghiên cứu, nhưng nhìn chung các nghiên cứu trên ở những chừng mực nhất định đã có sự phân tích đánh giá về thực tiễn thực thi pháp luật phá sản ở Việt Nam và phương hướng nâng cao tính khả thi của Luật Phá sản Tuy nhiên, các nghiên cứu này về cơ bản chỉ dừng lại ở thực trạng thực thi thông qua số liệu báo cáo tổng kết của cơ quan chức năng và chủ yếu là đề cập tới những vướng mắc cụ thể của hầu hết các nội dung của Luật Phá sản (luật nội dung) mà chưa có một công trình nào đề cập một cách sâu rộng về việc tổ chức bộ máy
Trang 21thực thi pháp luật phá sản - một trong những yếu tố vô cùng quan trọng để pháp luật phá sản được thực thi một cách có hiệu quả
Về bản chất phá sản là một vụ tranh chấp dân sự Do vậy việc giải quyết phá sản thuộc lĩnh vực tư pháp Tuy nhiên, pháp luật của Việt Nam cũng như pháp luật của nhiều nước trên thế giới đều quy định thẩm quyền giải quyết vụ phá sản thuộc về Tòa án - với tư cách là một thiết chế công, cho dù
có giới hạn là Tòa án chỉ tham gia khi các bên có yêu cầu Trong pháp luật phá sản của Việt Nam, Tòa án có vai trò quyết định ở mọi giai đoạn của thủ tục tố tụng, vai trò này được thể hiện thông qua thẩm quyền của Thẩm phán đối với việc giải quyết hầu hết các vấn đề phát sinh trong thủ tục phá sản
Bên cạnh Thẩm phán, còn có cơ quan quản lý và thanh lý tài sản với vai trò là người giúp việc cho Thẩm phán Tuy nhiên, sự khác biệt của pháp luật phá sản ở nước ta so với pháp luật phá sản của nhiều nước trên thế giới là
bộ phận quản lý và thanh lý tài sản (quản tài viên), không có sự độc lập tương đối với Tòa án trong việc xử lý nhiều vấn đề liên quan tới phá sản Hơn nữa, với cơ cấu hình thành chủ thể này như quy định của Luật Phá sản năm 2014 thì rõ ràng là những thành viên của bộ phận này không thực sự chuyên nghiệp
so với yêu cầu mà lẽ ra họ cần phải đáp ứng Đây cũng chính là nguyên nhân
cơ bản làm cho hoạt động thực thi pháp luật phá sản ở Việt Nam không cao
Pháp luật phá sản nói chung và việc nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật phá sản là vấn đề cần được quan tâm, vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách nghiên cứu thông qua rất nhiều công trình khoa học như đã được trình bày ở trên; kết quả của những nghiên cứu đó đã
có những đóng góp không nhỏ cho việc hoàn thiện pháp luật phá sản trong thời gian qua Tuy nhiên, để đáp ứng hơn nữa yêu cầu giải quyết phá sản, nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường Việt Nam trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế sâu rộng thì việc tiếp tục nghiên cứu và
Trang 22hoàn thiện các quy định liên quan đến việc nâng cao hiệu lực thực thi của pháp luật phá sản là vấn đề cấp bách hiện nay
1.1.3 Những kết quả nghiên cứu được tác giả kế thừa trong quá trình thực hiện luận án
Thứ nhất, về mục đích và vai trò của luật phá sản
Việt Nam cũng như hầu hết các nước trên thế giới đều coi pháp luật phá sản là công cụ nhằm thể hiện sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thông qua việc giải quyết những vấn đề mang tính lợi ích như: duy trì sự phát triển ổn định của nền kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên liên quan đến vụ phá sản: ổn định trật tự xã hội
Thứ hai, về phạm vi và đối tượng áp dụng của Luật Phá sản
Hiện nay trong các công trình nghiên cứu có đề cập nhiều đến vấn đề này Theo quy định của pháp luật hiện hành thì chỉ có các chủ thể kinh doanh tồn tại dưới hình thức pháp lý là doanh nghiệp mới thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật Phá sản Tuy nhiên, để tương thích với pháp luật trên thế giới trong điều kiện Việt Nam đã và đang trong tiến trình hội nhập có những công trình đã đề cập đến vấn đề mở rộng đối tượng áp dụng của pháp luật phá sản Đây cũng là quan điểm cần cân nhắc Luận án sẽ kế thừa kết quả nghiên cứu của những công trình này
Thứ ba, về tiêu chí để xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Một nội dung được coi là khá quan trọng đối với bất cứ Luật Phá sản
nào Hiện nay có nhiều nghiên cứu trong các công trình kể trên liên quan tới vấn đề này Nội dung này cũng sẽ được tác giả luận án tiếp tục kế thừa
Thứ tư, về thẩm quyền của Tòa án và Tổ quản lý và thanh lý tài sản
Về địa vị pháp lý của Tòa án: Pháp luật về phá sản của hầu hết các nước trên thế giới đều có quy định Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền
Trang 23giải quyết vụ phá sản Tuy nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống lập pháp cũng như nguyên tắc xây dựng bộ máy nhà nước của mỗi nước có sự khác nhau nên việc phá sản có thể được phân công giải quyết ở các Tòa án khác nhau Ở hầu hết các quốc gia Châu Âu lục địa, Tòa án có tên là Tòa thương mại với nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại có liên quan đến thương nhân và thực hiện cả việc giải quyết phá sản [1] Trong khi đó, ở một số nước như Hoa Kỳ, Thụy Điển, Nam Tư… lại hình thành Tòa án phá sản riêng để chuyên trách một công việc duy nhất là phá sản Ở Việt Nam cũng không là ngoại lệ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản hiện tại được giao cho Tòa Kinh tế thuộc hệ thống Tòa án nhân dân Tòa Kinh tế ở Việt Nam với vai trò là Tòa chuyên trách có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại và phá sản
Thứ năm, về thẩm quyền và vai trò của Tòa án
khi lâm vào tình trạng phá sản chủ nợ thường có khuynh hướng tẩu tán, cất dấu tài sản do vậy rất cần có một thiết chế đủ mạnh, đủ tin cậy và đủ năng lực đứng ra quản lý tài sản phá sản và sau đó nếu doanh nghiệp không
có khả năng phục hồi thì họ sẽ thực hiện thủ tục thanh lý đối với khối sản nghiệp của con nợ Các nghiên cứu của các công trình kể trên cũng đã đề cập tới vấn đề này Nhìn chung bản chất của thiết chế này được gọi là bộ phận quản lý tài sản Ở mỗi quốc gia khác nhau tên gọi của chủ thể này cũng khác nhau Thông thường chủ thể này được gọi là nhân viên quản lý và tài sản hay quản tài viên (Trustee) Ở Việt Nam cho đến trước khi Luật phá sản năm 2014 được thông qua, chủ thể này là một tập thể và được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: như chấp hành viên cơ quan thi hành án, nhân viên tòa án, chủ nợ, con nợ và được gọi là Tổ quản lý và thanh lý tài sản
Ngoài ra luận án còn kế thừa kết quả của các nghiên cứu trước đó ở
các nội dung khác như: Quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu phá sản doanh
Trang 24nghiệp; Trình tự thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp; các nghiên cứu về quy định liên quan đến chủ thể quản lý và thanh lý tài sản…
1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Cơ sở lý thuyết
1.2.1.1 Lý thuyết nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên nền tảng quan điểm của chủ nghĩa Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đường lối của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền với việc thừa nhận đa hình thức sở hữu và phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN
Mác-Ngoài ra, luận án được thực hiện trên cơ sở tiếp thu, kế thừa có chọn lọc những quan điểm, luận cứ khoa học, các tư tưởng pháp lý đã được khẳng định cả về lý luận lẫn thực tiễn, cũng như các thành tựu lập pháp của một số quốc gia trên thế giới có sự phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội của Việt Nam
1.2.1.2 Giả thuyết nghiên cứu
Để thực hiện và hoàn thành luận án, từ cơ sở lý thuyết, Luận án xây
dựng ba giả thuyết nghiên cứu sau đây:
- Phá sản, pháp luật phá sản và thực thi pháp luật phá sản là lĩnh vực đặc thù của kinh tế thị trường
- Thực tiễn thực thi pháp luật phá sản ở Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi khách quan của nền kinh tế ở giác độ tái cấu trúc thị trường
và đóng cửa doanh nghiệp
- Việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật phá sản ở Việt Nam là cần thiết Một
số giải pháp có thể được sử dụng để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật phá sản
1.2.1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Từ giả thuyết nghiên cứu, một số câu hỏi đã được đặt ra trong quá trình nghiên cứu luận án
Trang 25- Bản chất của phá sản, pháp luật phá sản và thực thi pháp luật phá sản là gì?
- Thực trạng thực thi pháp luật phá sản ở Việt Nam như thế nào? Rào cản của thực trạng này là gì?
- Các quy định của pháp luật phá sản Việt Nam hiện tại có đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế không? Phải chăng việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật phá sản là cần thiết? Để nâng cao tính khả thi của pháp luật phá sản cần những giải pháp cơ bản nào?
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên quan điểm về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài bao gồm: phương pháp phân tích đánh giá các quy phạm pháp luật thực định, phương pháp thu nạp các phân tích có sẵn, phương pháp điều tra khảo cứu tại Tòa, phương pháp luật học so sánh, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp phỏng vấn chuyên gia, phương pháp phân tích kinh tế luật, phương pháp dự báo qua những tài liệu thứ cấp Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu đã được tác giả áp dụng như sau:
- Phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp phân tích kinh tế luật, phương pháp luật học so sánh, nghiên cứu gián tiếp thông qua phân tích, tổng hợp tư liệu đã được sử dụng chủ yếu cho chương 2 nhằm làm sáng tỏ các vấn
đề lý luận chung về phá sản và pháp luật phá sản, nhận định đánh giá về pháp luật phá sản Việt Nam trong tương quan với pháp luật phá sản của một số nước điển hình
- Tại chương 3, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu trực tiếp thông qua khảo sát thực tế, phỏng vấn chuyên gia, phương pháp điều tra khảo cứu tại Tòa án, phương pháp thu nạp các phân tích đã có sẵn, phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng để làm sáng tỏ những vấn đề nảy sinh trong
Trang 26thực tiễn thực thi pháp luật phá sản trong thời gian qua Đánh giá thực trạng cũng như việc chỉ ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng đó
- Tại chương 4, khi đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao tính khả thi của Luật Phá sản tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích và dự báo khoa học, phương pháp luật học so sánh, phương pháp phân tích và tổng hợp
Trang 27KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả luận án tập trung làm rõ tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về phá sản và pháp luật phá sản Có nhiều công trình đề cập đến những vấn đề lý thuyết liên quan đến phá sản và pháp luật phá sản Nhiều công trình trong nước tiếp cận pháp luật phá sản của Việt Nam trên nhiều góc độ khác nhau, đa phần đề cập đến vấn đề thực thi pháp luật phá sản và nâng cao tính khả thi của pháp luật phá sản của Việt Nam, có so sánh với một số nước trên thế giới Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, chi tiết về Luật Phá sản năm 2004, tìm ra những ưu điểm cơ bản của nó đặc biệt liên quan đến tổ chức bộ máy thực thi pháp luật phá sản - một trong những yếu tố góp phần quan trọng để pháp luật phá sản được thực thi một cách có hiệu quả ở Việt Nam
Nghiên cứu về Luật Phá sản năm 2004, đưa ra những ưu điểm cần kế thừa trong việc tăng cường tính khả thi của thực tiễn thi hành, luận án dựa căn bản vào những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về nhà nước và pháp luật, căn cứ vào đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam
về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới Ngoài ra, luận án cũng được thực hiện trên cơ sở quan điểm khoa học, các tư tưởng pháp lý khác được đúc kết từ những công trình nghiên cứu của các tác giả trước đó
Để giúp nhìn nhận vấn đề đa chiều hơn, chính xác hơn, trong chương 1, tác giả luận án đã đưa ra một số câu hỏi cũng như giả thuyết nghiên cứu Những câu hỏi và giả thuyết này là cơ sở, là sợi chỉ dẫn dắt tác giả nghiên cứu một cách hệ thống, mạch lạc hơn trong những chương tiếp sau
Giống như nhiều ngành xã hội khác, luận án này lấy phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp nghiên cứu cơ bản Ngoài
Trang 28ra, trong mỗi chương có sử dụng nhiều phương pháp đặc thù khác nhau để phân tích, đánh giá vấn đề
Như vậy, nội dung của chương 1 chính là bộ công cụ hết sức cơ bản và quan trọng giúp tác giả định hướng, đi sâu khảo sát những nội dung về Luật Phá sản năm 2004, chỉ ra những ưu điểm nổi trội cũng như những hạn chế nhất định của văn bản này có thể và đã được kế thừa, khắc phục khi ban hành Luật Phá sản năm 2014 để góp phần nâng cao tính khả thi pháp luật phá sản
ở Việt Nam hiện trong những chương tiếp theo
Trang 29Thuật ngữ phá sản bắt nguồn từ chữ “ruin” trong tiếng La tinh, có nghĩa
là “sự khánh tận” Khái niệm này dùng để chỉ tình trạng mất cân đối giữa thu
và chi của một chủ thể kinh doanh mà biểu hiện trực tiếp của sự mất cân đối
ấy là tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn
Trong thuật ngữ tiếng Anh, phá sản là “bankruptcy” hoặc “Banqueroute” trong tiếng Pháp Cả hai danh từ này đều bắt nguồn từ chữ “Bancanetta” của
La mã, có nghĩa là “chiếc ghế bị gãy” Ở thời La mã các thương gia ở thành phố thường họp nhau lại để xem xét việc làm ăn và công nợ Người nào mất khả năng thanh toán công nợ sẽ bị mất quyền tham gia đại hội thương gia và ghế của họ cũng bị đem ra khỏi hội trường
Cùng với cách hiểu trên, các luật gia Mỹ khi tiếp cận về thuật ngữ phá sản lại cho rằng phá sản bắt nguồn từ chữ Latin “Banque” có nghĩa là cái bàn hoặc cái ghế dài và từ “Ruptus” có nghĩa là bị gãy Hình tượng này được sử dụng để chỉ sự thất thế của một thương gia trên thương trường khi mất khả năng thanh toán nợ đến hạn Như vậy, thuật ngữ phá sản dù được lý giải rất khác nhau về xuất xứ, song khái niệm này đều được sử dụng để chỉ sự đổ vỡ trong hoạt động kinh doanh của một thương nhân hay của một doanh nghiệp
Theo từ điển tiếng Việt thì “Phá sản” là tình trạng tài sản chẳng còn gì
và thường là vỡ nợ, thất bại do kinh doanh bị thua lỗ “Vỡ nợ” là lâm vào tình trạng bị thua lỗ, thất bại liên tiếp trong kinh doanh, phải bán hết tài sản mà
Trang 30người mắc nợ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thường là Toà án) tuyên bố phá sản và phân chia tài sản còn lại của người mắc nợ cho các chủ nợ theo thủ tục pháp luật quy định Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thuật ngữ này dường như không được biết đến Pháp luật phá sản và thuật ngữ phá sản chỉ thực sự được sử dụng trở lại kể từ khi có sự chuyển đổi cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường Theo đó, hiện tượng phá sản dưới tác động của cạnh tranh đã trở thành hiện tượng bình thường và tất yếu Phá sản doanh nghiệp là tình trạng một doanh nghiệp do làm ăn thua lỗ dẫn đến việc hoàn toàn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và bị Toà án ra quyết định bắt buộc doanh nghiệp thanh lý tài sản để trả nợ cho các chủ nợ và đóng cửa doanh nghiệp theo thủ tục luật định Tuy nhiên, pháp luật của một
số nước, thuật ngữ “phá sản” được sử dụng với nghĩa hẹp hơn để chỉ một số trường hợp cụ thể, khi người mắc nợ thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật hình sự gây thiệt hại cho các chủ nợ Pháp luật của các quốc gia này thường sử dụng thuật ngữ “insolvency” (không có khả năng trả nợ hay khánh tận) để thay thế cho thuật ngữ “bankruptcy” (phá sản) Nhìn chung, những nước có nền kinh tế thị trường phát triển, chế định “vỡ nợ” hay “phá sản” luôn là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật về kinh doanh
Tóm lại, theo ngôn ngữ tiếng Việt phổ thông thì phá sản được hiểu là
sự “vỡ nợ”, “khánh tận” là “khuynh gia bại sản” mà thực chất là làm ăn thua
lỗ đến mức không thể trả được nợ
2.1.2 Khái niệm về pháp luật phá sản và pháp luật phá sản ở Việt Nam
Từ những phân tích trên về khái niệm phá sản, chúng ta có thể hiểu một cách ngắn gọn khái niệm về pháp luật phá sản như sau: Pháp luật phá sản là
hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận qua
đó điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết việc mất khả năng thanh toán của các chủ thể kinh doanh
Trang 31Phá sản là một hiện tượng tất yếu trong đời sống và xã hội và chỉ xuất hiện một cách phổ biến trong nền kinh tế thị trường Để điều chỉnh những vấn
đề liên quan đến phá sản, Nhà nước cần phải có (ban hành hoặc thừa nhận) các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh những vấn đề như: điều kiện
để một chủ thể mắc nợ bị coi là đã lâm vào tình trạng phá sản, chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu giải quyết phá sản; cơ quan có thẩm quyền giải quyết phá sản; thủ tục giải quyết phá sản; nguyên tắc phân chia tài sản phá sản; trách nhiệm của các chủ thể mắc nợ sau phá sản… Tổng hợp những văn bản pháp luật này tạo thành một lĩnh vực pháp luật được gọi là pháp luật phá sản [35]
Đối với các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, phá sản được coi là hiện tượng bình thường, là xu thế tất yếu của quá trình cạnh tranh khốc liệt, quá trình đào thải và chọn lọc tự nhiên Theo đó các chủ thể kinh doanh làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả tất yếu phải chấm dứt sự tồn tại của mình thông qua việc bị Nhà nước tuyên bố phá sản và đương nhiên chỉ có những chủ thể kinh doanh thực sự hiệu quả mới có thể tiếp tục tồn tại trong nền kinh tế Rõ ràng, phá sản là hiện tượng luôn tồn tại một cách khách quan; nó góp phần làm lạnh mạnh hóa thị trường, cơ cấu lại nền kinh tế, làm cho nền kinh tế thị trường trở nên đúng với bản chất của nó hơn [22, Tr443]
Ở Việt Nam, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, pháp luật không đề cập tới vấn đề phá sản Điều này có nghĩa là về mặt lý luận phá sản không tồn tại trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung Đây là một tất yếu bởi lẽ, trong cơ chế tập trung - bao cấp, mọi hoạt động nói chung cũng như là hoạt động sản xuất, kinh doanh nói riêng đều chịu sự điều tiết một cách quá chi tiết của Nhà nước Các đơn vị kinh tế cơ sở lúc bấy giờ đều do Nhà nước thành lập và Nhà nước đứng ra thực hiện việc quản lý một cách toàn diện Vì vậy, nếu có kinh doanh thua lỗ thì Nhà nước sẽ can thiệp bằng các biện pháp hành chính như sáp nhập, hợp nhất, cơ cấu lại các doanh nghiệp, khoanh nợ,
Trang 32giãn nợ, xóa nợ, thậm chí là cấp thêm vốn để tiếp tục duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp
Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, nước ta bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới một cách toàn diện, trong đó đặc biệt quan trọng
là đổi mới kinh tế Việc đổi mới kinh tế được xác định theo hướng: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, theo cơ chế của thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN” để thay thế cho nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp trước đây Cùng với tiến trình đổi mới về kinh tế, lĩnh vực pháp luật về kinh tế đã và đang dần được hoàn thiện Bên cạnh việc Nhà nước ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, theo đó thể chế hóa quyền tự do kinh doanh của công dân - một trong những quyền cơ bản được ghi nhận lần đầu tiên ở Hiến pháp năm 1992 thì vấn đề phá sản và pháp luật
về phá sản cũng được nhìn nhận một cách nghiêm túc và toàn diện Những văn bản pháp luật đầu tiên đề cập tới khái niệm phá sản một cách tương đối rõ ràng là Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty năm 1990 Theo Điều 24 Luật Công ty năm 1990 thì:
“ Công ty gặp khó khăn thua lỗ trong hoạt động kinh doanh đến mức
tại một thời điểm tổng số các tài sản của công ty không đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn là công ty lâm vào tình trạng phá sản” Tuy nhiên, văn
bản này chỉ mới đề cập đến phá sản bằng việc đưa ra các dấu hiệu nhận biết doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, và ngay cả dấu hiệu này cũng còn nhiều điều phải bàn thêm Rõ ràng, chỉ với một quy định đó về phá sản thì chưa thể đủ căn cứ để giải quyết phá sản đối với một công ty, mặc dù công ty
đó đã lâm vào tình trạng phá sản
Để khắc phục những hạn chế liên quan tới dấu hiệu phá sản được đề cập tới trong Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, đồng thời để nhận thức về phá sản được toàn diện hơn, ngày 30/12/1993 Quốc hội
đã thông qua Luật phá sản doanh nghiệp Có thể nói, đây là văn bản đầu tiên ở
Trang 33Việt Nam đưa ra các quy định đối với vấn đề phá sản một cách toàn diện và
cụ thể nhất cho đến thời điểm này Đạo luật này quy định về hầu hết những vấn đề có liên quan tới phá sản như: đối tượng áp dụng, dấu hiệu xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, trình tự thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, thủ tục thanh lý phá sản, hậu quả pháp lý của chủ sở hữu doanh nghiệp đối với phá sản…
Tuy nhiên, xuất phát từ nhiều lý do khác nhau mà với gần chục năm thi hành (Luật phá sản doanh nghiệp 1993 có hiệu lực kể từ ngày 01/07/1994), Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 được coi là văn bản thiếu tính khả thi và
có hiệu quả điều chỉnh tương đối thấp, như một học giả đã từng nhận định:
“Hiếm thấy một đạo luật nào tốn tiền biên soạn mà ít được dùng như Luật
Phá sản Việt Nam” [37, Tr689] Cụ thể, theo thống kê của Tòa án nhân dân
tối cao về thực trạng giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp tại Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước thì qua
9 năm thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, các Tòa án đã thụ lý tổng số 151 vụ việc nhưng chỉ giải quyết được 95 vụ việc Với sự ra đời của rất nhiều loại hình doanh nghiệp mỗi năm, nhìn vào mỗi con số đó chúng ta
có thể thấy rằng Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 chưa thực sự đi vào đời sống thực tế, chưa đáp ứng được nhiệm vụ mà cuộc sống đang đòi hỏi, không phản ánh trung thực nền kinh tế và thật sự thiếu tính khả thi
Phá sản bao giờ cũng kéo theo những hậu quả kinh tế - xã hội nhất định
và như vậy, đương nhiên chúng ta không mong muốn phải giải quyết nhiều yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu có số vụ việc yêu cầu
mở thủ tục phá sản xảy ra quá ít, không phản ánh đầy đủ, chính xác về thực trạng phá sản của các doanh nghiệp như tình hình hiện nay thì sẽ không bảo
vệ được các quyền và lợi ích chính đáng của các bên và không phát huy hết vai trò của Luật phá sản doanh nghiệp Điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực cạnh tranh và sự lành mạnh của nền kinh tế nước ta, đặc biệt là trong bối
Trang 34cảnh nền kinh tế hiện nay Vì vậy, để khắc phục những bất cập của Luật Phá sản doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, Luật Phá sản đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004 Văn bản này chính thức bắt đầu có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10 cùng năm
Sự ra đời của Luật Phá sản năm 2004 đã thể chế hóa việc thực hiện chính sách kinh tế của Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, hợp tác xã trong tình trạng sản xuất, kinh doanh khó khăn, thua lỗ có cơ hội
để rút khỏi thị trường một cách có trật tự, góp phần tái phân phối tài sản nhằm mục đích sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn vốn, thúc đẩy sự lưu thông vốn trong nền kinh tế thị trường, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ nợ và đóng vai trò là một trong những công cụ quan trọng của quá trình thu hồi nợ
Có thể nói, nhà làm luật mong muốn góp phần tạo ra một sân chơi thực sự bình đẳng cho các chủ thể kinh doanh trong giai đoạn hiện nay thông qua sự
ra đời của văn bản này [22,Tr445]
2.1.3 Vai trò của pháp luật phá sản
Có thể khẳng định, phá sản là hiện tượng riêng có của kinh tế thị trường Kinh nghiệm chung cho thấy, bất kỳ ở đâu, trong bất kì giai đoạn phát triển nào, khi cạnh tranh ngày càng trở nên nghiệt ngã thì tình trạng phá sản cũng diễn ra phổ biến và phức tạp hơn Để phát triển kinh tế và duy trì trật tự,
kỷ cương xã hội, nhiệm vụ của Nhà nước là phải thông qua công cụ pháp luật tạo “sân chơi” - hành lang pháp lý - an toàn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời ngăn ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực do quan hệ thị trường gây ra
Trong số các chế định về giải quyết hậu quả và hạn chế rủi ro như tài phán kinh tế, thanh lý, giải thể pháp luật về phá sản có vị trí hết sức quan trọng không chỉ riêng với các chủ thể kinh doanh mà còn đối với cả trật tự kinh tế - xã hội nói chung Vai trò này thể hiện ở chỗ:
Trang 35Thứ nhất, Pháp luật về phá sản là công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của nhà đầu tư Trước hết, pháp luật về phá sản “thiết kế” sẵn một thủ tục đặc thù nhằm bảo đảm các quyền về tài sản của chủ nợ trước những rủi ro
do tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn của con nợ gây ra [22, Tr445] Thông qua việc yêu cầu tuyên bố phá sản đối với con nợ, chủ nợ có cơ hội thu hồi lại giá trị tài sản đầu tư dưới dạng các khoản cho vay Xét về bản chất, đó
là cơ chế pháp lý nhằm hạn chế những rủi ro thị trường mà trong điều kiện cạnh tranh, lúc nào cũng có thể xảy ra với nhà đầu tư Mặt khác, vai trò bảo
vệ chủ nợ còn thể hiện ở chỗ pháp luật về phá sản góp phần vào việc tạo ra sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh: Bên cạnh việc bảo vệ quyền và lợi ịch hợp pháp của chủ nợ, điều đáng chú ý là pháp luật về phá sản còn đóng vai trò
“chiếc lá chắn” cho con nợ trước những sức ép và phương thức đòi nợ mang tính tự phát rất nghiệt ngã dưới dạng “luật rừng” mà trong nhiều trường hợp
có thể đẩy con nợ vào tình trạng cùng quẫn Với việc tuyên bố phá sản, con
nợ được “giải phóng” khỏi những ràng buộc về mặt pháp lý để có cơ hội tiếp tục trở lại môi trường kinh doanh Điều này có thể thấy qua việc pháp luật quy định nhiều quyền cho doanh nghiệp mắc nợ trong quá trình giải quyết phá sản Chẳng hạn, kể từ thời điểm Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, tất cả quyền đòi nợ đều được đình chỉ và giải quyết theo một thủ tục chung duy nhất do Toà án tiến hành, đồng thời nghiêm cấm việc đòi
nợ một cách riêng lẻ Toà án chỉ ra quyết định mở thủ tục thanh lý khi Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án tổ chức lại hoạt động sản xuất, kinh doanh, hay trong trường hợp doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không thành công phương án tổ chức lại hoạt động sản xuất, kinh doanh đã được Hội nghị chủ nợ thông qua Ngoài ra, người mắc nợ còn có quyền cử người đại diện tham gia Tổ quản lý và thanh lý tài sản, quyền được yêu cầu Toà án ra quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực; quyền được khiếu nại danh sách chủ nợ, khiếu nại quyết định tuyên bố phá sản Khi
có quyết định mở thủ tục thanh lý, tài sản còn lại của doanh nghiệp sẽ được
Trang 36thanh toán cho các chủ nợ theo thứ tự nhất định Sau khi thanh toán, mọi khoản nợ của doanh nghiệp, cho dù chưa được thanh toán đầy đủ cũng được coi là đã thanh toán và các chủ nợ không có quyền đòi nợ nữa
Thứ hai, pháp luật về phá sản góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người lao động Hậu quả xã hội đáng lưu ý nhất do sự phá sản gây
ra là những ảnh hưởng về việc làm và thu nhập của người lao động Điều này trước hết thể hiện ở chỗ, chính vì doanh nghiệp phá sản mà người lao động phải mất việc làm, lâm vào tình cảnh thất nghiệp Do vậy, muốn bảo vệ người lao động, trước hết là phải làm sao để doanh nghiệp không bị phá sản Cơ chế phục hồi doanh nghiệp được pháp luật đề ra chính là để thực hiện chủ trương này vì trên thực tế, cứu được doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng phá sản cũng chính là cứu được người lao động thoát khỏi tình trạng thất nghiệp Nhưng mặt khác, khi người lao động làm việc mà không được trả đủ lương trong một thời gian dài thì Nhà nước cũng cần phải tạo ra một phương thức nào đó để họ
có thể đòi được số tiền lương mà doanh nghiệp nợ
Vì vậy, bảo vệ quyền và lợi ích của người làm công ăn lương luôn luôn
là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật phá sản Bằng những quy định cụ thể, pháp luật về phá sản xác định những nguyên tắc, căn cứ pháp
lý cho việc bảo vệ quyền và lợi ích vật chất của người lao động cũng như quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ và các bên
có liên quan Theo quy định của pháp luật phá sản nước ta, người lao động không những có quyền được đệ đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà còn được quy định về thứ tự ưu tiên khi phân chia các giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp đến cả chế độ trợ cấp, bảo hiểm thôi việc đều thể hiện tinh thần bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản
Thứ ba, pháp luật về phá sản là công cụ tổ chức lại doanh nghiệp, hợp
tác xã kinh doanh thua lỗ và góp phần cơ cấu lại nền kinh tế Có thể nói, đây
Trang 37là vai trò hết sức quan trọng mà hầu hết các đạo luật phá sản hiện đại trên thế giới đều hướng tới Thông qua cơ chế hòa giải, pháp luật về phá sản tạo cơ hội để doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính có cơ hội phục hồi hoạt động kinh doanh của mình Theo quy định của Luật Phá sản nước ta, sau khi Tòa án mở thủ tục giải quyết phá sản, nếu đủ điều kiện theo quy định thì doanh nghiệp, hợp tác xã được quyền xây dựng phương án hòa giải và giải pháp tổ chức lại kinh doanh để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán
nợ đến hạn Như vậy, cả khi Tòa án đã ra quyết định mở thủ tục phá sản thì doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn chưa hết cơ hội phục hồi, tìm những giải pháp thích hợp để duy trì sự tồn tại, thay vì bị tuyên bố phá sản Bên cạnh đó, vai trò là công cụ cơ cấu lại nền kinh tế của pháp luật về phá sản còn thể hiện ở chỗ: cơ chế phá sản chính là sự “răn đe” thường trực đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã đang hoạt động trên thương trường Mọi doanh nghiệp, hợp tác xã muốn tồn tại trước hết phải là doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh
có hiệu quả Ngược lại, nếu làm ăn thua lỗ kéo dài thì sớm muộn cũng không
có lý do gì để tồn tại Hay nói cách khác, pháp luật về phá sản, góp phần loại trừ khỏi thương trường những doanh nghiệp, hợp tác xã làm ăn không hiệu quả - những tế bào yếu để duy trì “cơ thể kinh tế” thực sự khỏe mạnh
Thứ tư, pháp luật về phá sản góp phần thiết lập trật tự, kỷ cương trong
xã hội Như phần trên đã đề cập, việc phá sản có thể dẫn đến nhiều hậu quả kinh tế - xã hội nghiêm trọng Những hậu quả này nhiều khi là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự xáo trộn, phát sinh những biểu hiện tiêu cực trong đời sống
xã hội Vì vậy, thông qua việc giải quyết một cách thỏa đáng mối quan hệ về lợi ích giữa con nợ và chủ nợ, giữa các chủ nợ với nhau, pháp luật về phá sản góp phần hạn chế những mâu thuẫn và xung đột lợi ích giữa các chủ thể có liên quan, bảo vệ trật tự kỉ cương xã hội
Tóm lại, đúng như tinh thần Lời nói đầu Luật Phá sản năm 2014, mục đích ban hành Luật là “để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ,
Trang 38doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ, những người có liên quan, xác định trách nhiệm của doanh nghiệp mắc nợ khi giải quyết việc phá sản doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động kinh doanh có hiệu quả và bảo đảm trật tự, kỉ cương xã hội”, các quy định của Luật Phá sản đã và đang thể hiện được các mong muốn đó của Nhà nước Sự ra đời của Luật Phá sản đã khắc phục được một số (không phải là đã khắc phục được tất cả) những hạn chế mà Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 để lại và góp phần tạo ra một “sân chơi” thực sự bình đẳng cho các nhà đầu tư, thể hiện đúng các quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường Sự điều chỉnh có hiệu quả của văn bản pháp luật này sẽ góp phần không nhỏ vào công cuộc phát triển kinh tế của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, phồn thịnh và văn minh [22,Tr455]
2.1.4 Phân loại phá sản
Cũng như việc phân loại các hiện tượng khác trong xã hội, khi phân loại phá sản, chúng ta có thể dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau Nhìn chung, việc phân loại này chỉ có ý nghĩa về mặt học thuật: giúp cho việc nghiên cứu
về phá sản được cặn kẽ và đầy đủ, qua đó có thế thấy được những hợp lý và những bất cập của pháp luật về phá sản hiện nay và tìm ra phương hướng hoàn thiện chúng trong tương lai Dựa vào các tiêu chí khác nhau, chúng ta đưa ra một số cách phân loại phá sản phổ biến hiện nay như sau:
Thứ nhất, căn cứ vào tính chất của tình trạng mất khả năng thanh toán
của các khoản nợ đến hạn, chúng ta có thể chia phá sản thành hai loại là phá sản trung thực và phá sản gian trá:
Phá sản trung thực: Đây là việc phá sản của chủ thể kinh doanh mà
tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn của họ là có thực Việc mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn của các chủ thể này là hậu quả khách quan của những nguyên nhân khác nhau như: tình trạng làm ăn
Trang 39thua lỗ kéo dài hoặc gặp những rủi ro không thể lường trước được (những nguyên nhân khách quan) như: thiên tai, lũ lụt, bão, do rủi ro của thị trường
Phá sản gian trá: Đây là việc một chủ thể kinh doanh bị tuyên bố phá
sản dựa trên tình trạng mất khả năng thanh toán không có thật Hiện tượng mất khả năng thanh toán của con nợ thực chất là hậu quả của những thủ đoạn gian trá, có sự sắp đặt trước của con nợ thông qua các hành vi bất hợp pháp để tẩu tán tài sản, nhằm lợi dụng cơ chế phá sản để chiếm đoạt tài sản của chủ
nợ Chủ thể đại diện thực hiện hành vi này trong chừng mực nào đó đã có dấu hiệu hình sự của các tội danh như: lừa đảo; lạm dụng tín nhiệm…
Thứ hai, căn cứ vào chủ thể đệ đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, chúng ta
có thể chia phá sản thành hai loại là phá sản tự nguyện và phá sản bắt buộc:
Phá sản tự nguyện là việc một chủ thể kinh doanh bị tuyên bố phá sản
do chính đơn yêu cầu tuyên bố phá sản của chủ sở hữu của chủ thể kinh doanh (hoặc đơn yêu cầu của một trong những người chủ chủ thể kinh doanh, trong trường hợp đó là chủ thể kinh doanh có nhiều chủ sở hữu) Trường hợp này, các nhà đầu tư muốn tự giải thoát cho mình khỏi các ràng buộc về nợ nên
đã tự làm đơn yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành việc giải quyết phá sản đối với chủ thể kinh doanh do mình làm chủ sở hữu (hoặc đồng chủ sở hữu)
Phá sản bắt buộc là việc một chủ thể kinh doanh bị tuyên bố phá sản
dựa trên đơn yêu cầu của các chủ nợ của chủ thể kinh doanh đó Trường hợp này, người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không phải là những người chủ của chủ thể kinh doanh mắc nợ mà là chính những chủ nợ (hoặc người lao động làm thuê trong trường hợp họ là chủ nợ lương) của chủ thể kinh doanh
đó Những người này nhận thấy, chủ thể kinh doanh này lâm vào tình trạng phá sản nên đã nộp đơn yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với chủ thể đó để học có thể thu được một phần các khoản nợ của mình
Trang 40Thứ ba, căn cứ vào đối tượng bị phá sản có thể chia phá sản thành phá
sản doanh nghiệp, phá sản hợp tác xã và phá sản hộ kinh doanh:
Phá sản doanh nghiệp: Đối tượng bị tuyên bố phá sản trong trường hợp
này có hình thức pháp lý là doanh nghiệp
Phá sản hợp tác xã: Đối tượng bị tuyên bố phá sản có hình thức pháp lý
là hợp tác xã
Phá sản hộ kinh doanh: Đối tượng bị tuyên bố phá sản là các hộ gia
đình kinh doanh, nhóm người kinh doanh và cá nhân kinh doanh - đây chỉ là cách nhìn nhận theo hình thức pháp lý của các chủ thể kinh doanh đang tồn tại trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay mà thôi, vì không có nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận hộ gia đình là một chủ thể độc lập của pháp luật về kinh doanh
Cần phải lưu ý, tiêu chí được dùng để phân loại phá sản trong trường hợp này có liên quan tới đối tượng điều chỉnh của Luật Phá sản [22, Tr442] Pháp luật của nhiều nước trên thế giới không có sự phân biệt này vì, bất kể là
cá nhân hay doanh nghiệp, thương gia hay không phải là thương gia khi lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Phá sản Trong khi đó, theo quy định tại Điều 2 Luật Phá sản năm 2004 và Luật Phá sản năm 2014 thì thủ tục phá sản được áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (được gọi tắt là hợp tác xã) được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Như vậy, khác với Luật Phá sản của một số nước, pháp luật về phá sản của Việt Nam đã xác định đối tượng áp dụng là doanh nghiệp và hợp tác xã Như vậy, điều này cũng không có gì mới so với Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 Có chăng, sự khác biệt chỉ là: Luật Phá sản 2004 và Luật Phá sản hiện hành quy định cụ thể ngay khi xác định đối tượng áp dụng của văn bản bao gồm cả doanh nghiệp
và hợp tác xã (Điều 2), còn trước đây Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 xác định đối tượng áp dụng chỉ là doanh nghiệp để rồi nghị định số 189/CP