- Những tranh chấp về dân sự bao gồm tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam; tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về hợp đồng dân sự; tranh chấp về quyền sở
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN BÁ DIẾN
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Đức Cường
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁ NHÂN VÀ PHÁP NHÂN NƯỚC NGOÀI TRONG QUAN HỆ TỐ TỤNG DÂN SỰ 4
1.1 Khái niệm và những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự quốc tế 4
1.1.1 Khái niệm tố tụng dân sự quốc tế 4
1.1.2 Những nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự quốc tế 9
1.2 Khái niệm cá nhân và pháp nhân nước ngoài 10
1.2.1 Khái niệm cá nhân nước ngoài 10
1.2.2 Khái niệm pháp nhân nước ngoài 13
1.3 Khái niệm địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài 19
1.3.1 Định nghĩa 19
1.3.2 Cơ sở xác định địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong tố tụng dân sự 20
1.3.3 Đặc điểm địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân nước ngoài 27
1.4 Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của cá nhân, pháp nhân nước ngoài 28
1.4.1 Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của cá nhân nước ngoài 28
1.4.2 Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của pháp nhân nước ngoài 30
1.5 Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của cá nhân, pháp nhân nước ngoài theo pháp luật Việt Nam 31
Trang 41.5.1 Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự
của cá nhân nước ngoài theo pháp luật Việt Nam 32
1.5.2 Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của pháp nhân nước ngoài trong pháp luật Việt Nam 35
Chương 2:QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁ NHÂN VÀ PHÁP NHÂN NƯỚC NGOÀI TRONG QUAN HỆ TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM 37
2.1 Khái quát về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 37
2.1.1 Các văn bản pháp luật trong nước 37
2.1.2 Các điều ước quốc tế mà Việt Nam gia nhập hoặc ký kết 38
2.1.3 Tập quán quốc tế 43
2.2 Quyền và nghĩa vụ của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong quan hệ tố tụng dân sự tại Việt Nam 43
2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của đương sự 43
2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng khác 58
2.3 Quyền và nghĩa vụ của cá nhân và pháp nhân nước ngoài theo quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam gia nhập và ký kết 64
2.3.1 Quyền và nghĩa vụ của cá nhân và pháp nhân theo các điều ước quốc tế đa phương 64
2.3.2 Quyền và nghĩa vụ của cá nhân trong quan hệ tố tụng dân sự theo các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam ký kết với các nước 76
2.4 Kinh nghiệm nước ngoài 86
2.4.1 Chế định cược án phí trong pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài 86
2.4.2 Pháp luật tố tụng dân sự nước Cộng hoà Pháp 89
2.4.3 Pháp luật tố tụng dân sự Anh - Mỹ 95
2.4.4 Pháp luật tố tụng dân sự Nhật Bản 95
Chương 3: ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁ NHÂN VÀ PHÁP NHÂN NƯỚC NGOÀI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ TẠI VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 98
Trang 53.1 Thực tiễn giải quyết các vụ v i ệ c dân sự có yếu tố nước ngoài 98
3.1.1 Thực trạng giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 98
3.1.2 Giải pháp hoàn thiện 100
3.2 Về quyền và nghĩa vụ của cá nhân và pháp nhân nước ngoài 101
3.2.1 Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cá nhân và pháp nhân nước ngoài 101
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện 112
KẾT LUẬN 119
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự
2 BLDS Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005
3 CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, xu thế chung trên thế giới là quá trình quốc tế hóa mọi mặt đời sống, đặc biệt đời sống kinh tế ngày càng được đẩy mạnh Do sự phát triển mạnh
mẽ của quá trình khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, giao lưu kinh tế, thương mại, khoa học - công nghệ và văn hoá giữa các quốc gia phát triển với tốc
độ hết sức nhanh chóng đã dẫn đến việc gia tăng số lượng người nước ngoài đầu tư kinh doanh, lao động, học tập, du lịch… hoặc pháp nhân nước ngoài trực tiếp thực hiện các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh trên lãnh thổ của mỗi quốc gia
Trong bối cảnh đó, ngày càng xuất hiện nhiều những vụ việc phát sinh từ các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mà một bên chủ thể là cá nhân và pháp nhân nước ngoài Do đó, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa vụ của cá nhân và pháp nhân nước ngoài cũng như các biện pháp đảm bảo của Nhà nước trong lĩnh vực TTDS, đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết, tồn tại, đối chiếu với các cam kết hội nhập nhằm đưa ra và phân tích các yêu cầu hoàn thiện pháp luật về vấn đề này là một việc làm cần thiết, có tác động mạnh mẽ tới quá trình thúc đẩy phát triển giao lưu về mọi mặt giữa các quốc gia, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân, pháp nhân nước ngoài khi tham gia vào quan hệ TTDS tại Việt Nam
Việc xây dựng quy chế pháp lý cho cá nhân, pháp nhân nước ngoài nói chung và trong lĩnh vực TTDS nói riêng tại Việt Nam đã được nghiên cứu, sửa đổi theo hướng ngày càng phù hợp với xu thế chung của thời đại và pháp luật quốc tế Song đây vẫn là một vấn đề mang tính lý luận phức tạp và cần không ngừng được nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm, để đưa ra những luận chứng có tính thuyết phục, góp phần tạo một môi trường pháp lý thuận lợi cho cá nhân và pháp nhân nước ngoài ở Việt Nam đồng thời vẫn giữ vững chủ quyền lãnh thổ, an ninh
quốc gia Vì vậy, đề tài: “Địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài
trong quan hệ tố tụng dân sự trước Toà án Việt Nam” mang tính cấp thiết cả về lý
Trang 8luận và thực tiễn Đề tài nhằm tìm hiểu, nghiên cứu những nội dung cơ bản về lý luận và pháp lý liên quan tới địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân nước ngoài trong TTDS tại Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tính đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này như:
- Quy chế pháp lý dân sự của công dân nước ngoài ở các nước xã hội chủ nghĩa
và Việt Nam, Đoàn Năng, Luận án phó tiến sĩ khoa học Luật, Bacu, 1986
- Đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nước đối với người nước ngoài ở nước ta hiện nay, Bùi Quảng Bạ, Luận án phó tiến sĩ khoa học Luật, Hà Nội, 1996
- Địa vị pháp lý của người nước ngoài ở Việt Nam trong tư pháp quốc tế giai đoạn hiện nay, Trần Hưng Bình, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, 2002
- Hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của người nước ngoài tại Việt Nam, Trần Thị Hồng Thu, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật - ĐHQGHN, 2011
Tuy nhiên, các công trình, bài viết nói trên mới chỉ tiếp cận vấn đề địa vị pháp lý của người nước ngoài tại Việt Nam một cách khái quát và tổng thể, mà chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể, phân tích, làm rõ và đưa ra kiến nghị về địa vị pháp lý của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài trong lĩnh vực TTDS theo quy định của pháp luật Việt Nam
Trang 9- Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong một lĩnh vực cụ thể: TTDS quốc tế Bao gồm các nội dung: cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài; phân tích về năng lực chủ thể của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong TTDS tại Việt Nam; phân tích về quyền
và nghĩa vụ của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong TTDS tại Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh
về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, quá trình nghiên cứu đề tài luận văn các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác cũng được sử dụng như: phân tích, diễn giải, tổng hợp, thống kê…
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong quan hệ TTDS tại Việt Nam Luận văn
có thể áp dụng vào thực tế xây dựng và hoàn thiện địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân nước ngoài trong lĩnh vực TTDS tại Việt Nam Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu pháp luật về địa vị pháp lý của
cá nhân, pháp nhân nước ngoài trong lĩnh vực TTDS tại Việt Nam và cho những người quan tâm tới lĩnh vực này
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương
- Chương 1: Khái quát về địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước
ngoài trong quan hệ tố tụng dân sự
- Chương 2: Quyền và nghĩa vụ của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong
quan hệ tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam
- Chương 3: Địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong tố
tụng dân sự tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Trang 10Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁ NHÂN VÀ PHÁP NHÂN
NƯỚC NGOÀI TRONG QUAN HỆ TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1 Khái niệm và những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự quốc tế
1.1.1 Khái niệm tố tụng dân sự quốc tế
TTDS quốc tế là hoạt động của Tòa án một nước trong việc giải quyết các vụ việc phát sinh từ các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án theo một thể thức luật định [33]
Khái niệm “quan hệ dân sự” trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
cũng được hiểu theo nghĩa rộng là các quan hệ phát sinh chủ yếu giữa các cá nhân, pháp nhân của các nước khác nhau trong lĩnh vực pháp lý thuộc hệ thống pháp luật tư; bao gồm quan hệ phát sinh trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động… Quan hệ pháp luật dân sự được coi là quan hệ
“gốc” của luật tư, còn các quan hệ pháp luật khác trong lĩnh vực thương mại, hôn
nhân và gia đình, lao động… cũng có tính chất luật tư nhưng là các quan hệ luật riêng (luật chuyên ngành) Đặc trưng lớn nhất của các quan hệ pháp luật thuộc lĩnh vực tư là các quan hệ pháp luật này có mục đích để điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể tư, nên trước hết nhằm bảo vệ lợi ích của các chủ thể tư Các quan
hệ pháp lý này luôn dựa trên các nguyên tắc tôn trọng sự tự do ý chí, tự do thỏa thuận, nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ pháp lý… Trong khi các quan hệ pháp luật thuộc lĩnh vực công lại có mục đích tối cao là bảo vệ lợi ích nhà nước, như các quan hệ trong lĩnh vực Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Hình sự… Điều này được quy định rất rõ và sử dụng thống nhất trong hai văn bản pháp lý quan trọng của tư pháp quốc tế Việt Nam là BLDS và BLTTDS
Về mặt lý luận cũng như trên thực tế, thuật ngữ “TTDS quốc tế” là thuật ngữ
mang tính ước lệ, bởi vì thực tế, một số lượng khá lớn các vụ việc không thuộc nhóm vụ việc dân sự (hiểu theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài cũng được giải
Trang 11quyết theo thể thức TTDS quốc tế Chẳng hạn như việc xác định thẩm quyền xét xử quốc tế, xác định địa vị pháp lý của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia vào TTDS quốc tế, vấn đề chứng cứ tư pháp và thực hiện các uỷ thác tố tụng quốc tế riêng biệt, vấn đề công nhận và thi hành các bản án, quyết định dân sự, thương mại của Toà án nước ngoài… Tuy nhiên, về mặt lý luận, chỉ có các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài mà luật quy định thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án mới thuộc phạm vi nghiên cứu của TTDS quốc tế
Theo quy định tại khoản 2 Điều 405 BLTTDS năm 2004 thì vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự có ít nhất một trong các đương sự là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc các quan hệ dân sự giữa các đương sự là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài [19] Theo quy định này, một vụ việc dân sự được coi là vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài khi có một trong các yếu tố sau:
- Đương sự trong vụ việc dân sự là người nước ngoài, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài;
- Căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài;
- Tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài
Khoản 2 Điều 405 BLTTDS năm 2004 không đề cập tới trường hợp đương sự trong vụ việc dân sự là pháp nhân nước ngoài, tuy nhiên, trong thực tiễn có các trường hợp phát sinh các việc dân sự có một bên đương sự là pháp nhân nước ngoài cũng sẽ được coi là TTDS có yếu tố nước ngoài Như vậy, trong quan hệ TTDS, khi một bên đương sự là cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài, quan hệ TTDS đó sẽ được xác định là quan hệ TTDS có yếu tố nước ngoài hay TTDS quốc tế
Theo quy định từ Điều 25 đến Điều 32 của BLTTDS năm 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011, Toà án có thẩm quyền thụ lý và giải quyết theo thủ tục TTDS đối với những tranh chấp, những yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Cụ thể:
Trang 12- Những tranh chấp về dân sự bao gồm tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam; tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về hợp đồng dân sự; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, giữa các cá nhân, tổ chức với nhau mà chỉ một bên có mục đích lợi nhuận hoặc các bên đều không có mục đích lợi nhuận; tranh chấp về thừa kế tài sản; tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật; tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định
- Những yêu cầu về dân sự: Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự; yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó; yêu cầu tuyên bố một người mất tích, huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích; yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, huỷ bỏ quyết định tuyên
bố một người là đã chết; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; các yêu cầu khác về dân sự mà pháp luật có quy định
Trang 13- Những vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật về hôn nhân và gia đình gồm: Những tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con nuôi, chia tài sản khi ly hôn; tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi
ly hôn; tranh chấp về việc xác định cha, mẹ; tranh chấp về cấp dưỡng; các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình gồm: Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật; yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn; yêu cầu chấm dứt việc nuôi con; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản
án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định
- Những vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật về kinh doanh, thương mại gồm: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều
có mục đích lợi nhuận bao gồm: Mua bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng;
tư vấn, kỹ thuật; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ
có giá khác; đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân,
tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất,
Trang 14chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định Những yêu cầu về kinh doanh, thương mại gồm: Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước ngoài; các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định
- Những vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật về lao động gồm: Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động mà Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động của cơ quan quản lý nhà nước về lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoà giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hoà giải không thành hoặc không hoà giải trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp sau đây không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở gồm: Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc
về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; về bồi thường thiệt hại giữa người lao động và người sử dụng lao động; về trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động; giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động; về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về lao động; về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Tranh chấp lao động tập thể về quyền giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động đã được Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết
Trang 15định của Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh không giải quyết Các tranh chấp khác về lao động mà pháp luật có quy định Những yêu cầu về lao động gồm: Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định lao động của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định lao động của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định lao động của Trọng tài nước ngoài; các yêu cầu khác về lao động mà pháp luật có quy định [19]; [28]
1.1.2 Những nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự quốc tế
TTDS quốc tế là một bộ phận của tư pháp quốc tế, cho nên TTDS quốc tế phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản của tư pháp quốc tế, đồng thời TTDS quốc
tế cũng có những nguyên tắc cơ bản đặc thù của mình, bao gồm [33]:
- Tôn trọng chủ quyền, an ninh quốc gia của nhau: Chủ quyền quốc gia là tuyệt đối, không thể bị xâm hại hay phân biệt, vì vậy nếu không hoạt động TTDS quốc tế đó sẽ bị xem là hành vi vi phạm pháp luật quốc tế
- Tôn trọng quyền miễn trừ tư pháp của Nhà nước nước ngoài và những người được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao
- Bảo đảm quyền bình đẳng của các bên tham gia tố tụng: Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong hoạt động TTDS, cho dù quan hệ có yếu tố nước ngoài hay không có yếu tố nước ngoài, thì hoạt động TTDS luôn phải bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể về địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự
- Nguyên tắc có đi có lại, cùng có lợi
- Nguyên tắc Luật Toà án (Lex fori): Đây là nguyên tắc đặc thù của TTDS quốc tế Theo nguyên tắc này, khi giải quyết các vụ việc dân sự theo nghĩa rộng
có yếu tố nước ngoài, về mặt tố tụng, Toà án có thẩm quyền chỉ áp dụng luật tố tụng của nước mình (trừ trường hợp ngoại lệ được quy định trong pháp luật của từng nước hoặc trong các điều ước quốc tế mà nước đó tham gia) Đây là quan điểm được tất cả các quốc gia trên thế giới thừa nhận
Trang 16Ở Việt Nam, khi giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động có yếu tố nước ngoài, về nguyên tắc, Toà án Việt Nam chỉ áp dụng luật TTDS Việt Nam Tuy nhiên, trong quan hệ với các nước đã ký kết hiệp định TTTP với Việt Nam, thì Toà án Việt Nam khi thực hiện uỷ thác tư pháp, theo đề nghị của bên yêu cầu, có thể áp dụng pháp luật của nước ký kết có cơ quan yêu cầu đó, với điều kiện chúng không mâu thuẫn với pháp luật Việt Nam
Những nguyên tắc cơ bản nêu trên của TTDS quốc tế luôn luôn gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau tạo cơ sở pháp lý vững chắc bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích chính đáng của các bên tranh chấp, góp phần thúc đẩy phát triển giao lưu dân sự quốc tế
1.2 Khái niệm cá nhân và pháp nhân nước ngoài
1.2.1 Khái niệm cá nhân nước ngoài
Khái niệm người nước ngoài xuất hiện từ rất sớm và gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội Ngay từ thời phong kiến, ngoài những người được gọi là thần dân của quốc gia, bao giờ cũng còn một số lượng nhất định không phải là thần dân của quốc gia sở tại Những người này được gọi là người ngoại quốc hay ngoại kiều Ngày
nay trên cơ sở lý luận của khoa học pháp lý thì họ chính là “người nước ngoài”
Thuật ngữ “người nước ngoài” được sử dụng rộng rãi ở tất cả các nước trên
thế giới nhưng nội dung khái niệm này ở tất cả các nước không phải trong mọi trường hợp đều giống nhau Ở Bun-ga-ri, người nước ngoài là người không có quốc tịch Bun-ga-ri, nghĩa là đối với Bun-ga-ri người nước ngoài gồm cả người có quốc tịch nước ngoài và người không có quốc tịch của nước nào Trong khi đó, ở Liên
Xô cũ, trong nhiều năm, khái niệm người nước ngoài đồng nhất với khái niệm công dân nước ngoài trên lãnh thổ Liên Xô Như vậy, những người không phải là công dân Liên Xô cư trú ở ngoài phạm vi lãnh thổ Liên Xô thì không được xác định có phải là người nước ngoài đối với Liên Xô hay không Từ khi ban hành Hiến pháp Liên Xô năm 1917 đến khi chấm dứt tồn tại Liên bang Xô Viết, khái niệm người nước ngoài được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả công dân nước ngoài và người không có quốc tịch
Trang 17Theo các nhà nghiên cứu, từ xa xưa để chỉ những người nước ngoài cư trú hay làm ăn sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, nhân dân ta dùng thuật ngữ ngoại kiều hay kiều dân nước ngoài; còn thuật ngữ Việt kiều hay kiều bào ta ở nước ngoài để chỉ những người của nước ta cư trú, làm ăn sinh sống ở nước ngoài Trong những thập kỷ gần đây, những thuật ngữ này không còn được dùng một cách phổ biến nữa, riêng các văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành các thuật ngữ này hoàn toàn không được sử dụng và thay vào đó là các thuật ngữ người nước ngoài và người Việt Nam
ở nước ngoài
Tuy nhiên, ở nước ta vấn đề xác định thống nhất nội dung khái niệm người nước ngoài không phải lúc nào cũng đạt được Đáng lưu ý là còn không ít quan điểm lệch lạc như coi người nước ngoài bao gồm cả pháp nhân nước ngoài, thậm chí bao gồm cả nhà nước nước ngoài Trên cơ sở quan điểm khoa học về vấn đề này, tác giả cho rằng các quan điểm vừa nêu là không hợp lý và không lô gích
Thứ nhất, nếu coi phạm trù người nước ngoài bao gồm cả pháp nhân nước
ngoài Theo cách hiểu chung nhất, pháp nhân là tổ chức của những con người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập hoặc công nhận, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ trên cơ sở của điều lệ, có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó, pháp nhân giao dịch với bên ngoài thông qua người đại diện Do vậy, khái niệm pháp nhân nói chung hay pháp nhân nước ngoài nói riêng không thể có các quyền và nghĩa vụ cơ bản phát sinh từ quyền công dân - một khái niệm luôn gắn với quốc tịch thể hiện quan hệ của một quốc gia với công dân của quốc gia đó
Thứ hai, nếu nội dung khái niệm còn bao hàm cả nhà nước nước ngoài thì
càng không hợp lý hơn nữa, bởi vì quốc gia là một thực thể độc lập, có chủ quyền, bình đẳng trong quan hệ với các quốc gia khác Do vậy, nếu coi quốc gia nước ngoài cũng là người nước ngoài thì quốc gia nước sở tại phải xây dựng quy chế pháp lý của quốc gia nước ngoài đó bao gồm: Quyền năng chủ thể, hệ thống các quyền và nghĩa vụ, các lợi ích của nước đó tại nước sở tại Điều này sẽ vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, xâm phạm chủ quyền của quốc gia nước ngoài
Trang 18đó Vì vậy, không có cơ sở, không hợp lý nếu chấp nhận quan điểm cho rằng khái niệm người nước ngoài gồm cả pháp nhân nước ngoài hoặc cả nhà nước nước ngoài, cho dù chỉ là quy ước
Khái niệm người nước ngoài chỉ có thể dùng để chỉ cá nhân (có tài liệu gọi là tự nhiên nhân hay thể nhân) có quốc tịch nước ngoài hoặc cá nhân không
có quốc tịch
Trong từ điển Tiếng Việt, chữ “người” được dùng để chỉ cá nhân chứ không
dùng để chỉ các tổ chức của cá nhân như các tổ chức được hưởng tư cách pháp nhân
và nhà nước [37]
Trong pháp luật Việt Nam, khi định nghĩa về người nước ngoài luôn lấy dấu hiệu quốc tịch làm dấu hiệu đặc trưng để xác định, điều này hoàn toàn phù hợp với pháp luật và thông lệ của đa số các nước trên thế giới
Trong Quyết định số 122/CP ngày 25/4/1977 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với người nước ngoài cư trú và làm ăn sinh sống ở Việt Nam quy định tại
Điều 1 như sau: “Người nước ngoài (gọi tắt là ngoại kiều) là những người cư trú và
làm ăn sinh sống ở Việt Nam, có quốc tịch nước khác, hoặc không có quốc tịch” [6]
Theo Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của BLDS về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
quy định: “Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người
có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch” [1, Điều 3, Khoản 2]
Theo Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, tại khoản 1 quy định: “Quốc tịch
nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải quốc tịch Việt Nam”; tại
khoản 5 quy định: “Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài
và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam” [26, Điều 3]
Nghị định số 51/2009/NĐ/CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 19/2008/QH12 ngày 03/6/2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở
tại Việt Nam định nghĩa: “Cá nhân nước ngoài là người không có quốc tịch Việt
Nam” [2, Điều 3, Khoản 1]
Trang 19Theo quy định tại Luật Nhập cảnh, Xuất cảnh, Quá cảnh, Cư trú của người nước
ngoài tại Việt Nam ban hành ngày 16/6/2014 (có hiệu lực ngày 01/01/2015): “Người
nước ngoài là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam” [31, Điều 3, Khoản 1]
Từ các định nghĩa về người nước ngoài trong các văn bản nói trên, có thể hiểu người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm hai loại: người có quốc tịch người nước ngoài và người không quốc tịch
Như vậy, trong các văn bản pháp luật nêu trên, tiêu chí để xác định một cá nhân là người nước ngoài đối với Việt Nam không phải là nơi cư trú mà là có quốc tịch hay không có quốc tịch Việt Nam Những người không có quốc tịch Việt Nam có thể định cư hoặc tạm trú trên lãnh thổ Việt Nam Song vấn đề đặt ra là tại sao chúng
ta xếp người có quốc tịch nước ngoài và người không có quốc tịch vào khái niệm người nước ngoài? Trước hết phải khẳng định rằng, người nước ngoài là công dân nước ngoài và người không có quốc tịch là hai khái niệm khác nhau Tuy nhiên, nội dung địa vị pháp lý của công dân nước ngoài và người không quốc tịch tại một quốc gia giống nhau về cơ bản Ví dụ: Họ đều không có những quyền và nghĩa vụ gắn liền với quốc tịch của nước sở tại, đều có những quyền và nghĩa vụ giống nhau trong các quan hệ dân sự, hôn nhân, gia đình, thừa kế… do pháp luật nước sở tại quy định Vì vậy, hoàn toàn có cơ sở khi xét hai khái niệm công dân nước ngoài và người không
quốc tịch vào khái niệm người nước ngoài khi xem xét địa vị pháp lý của họ
Như vậy, có thể suy ra rằng khái niệm “người nước ngoài” được hiểu là
người không có quốc tịch Việt Nam, họ có thể là người mang quốc tịch một nước khác, một vài nước khác, hoặc không mang quốc tịch nước nào, họ có thể cư trú trên lãnh thổ Việt Nam hoặc có thể cư trú ngoài lãnh thổ Việt Nam
1.2.2 Khái niệm pháp nhân nước ngoài
- Khái niệm pháp nhân
Trước khi tìm hiểu khái niệm pháp nhân nước ngoài, chúng ta cần xác định
khái niệm “pháp nhân” Có quan điểm cho rằng, khái niệm pháp nhân với tư cách là
một chủ thể pháp luật dân sự có từ thời kỳ La Mã cổ đại Người ta nhận thấy trong xã
Trang 20hội thời đó có những tổ chức như nhà hát, nhà thờ… có tài sản, mà tài sản này không phải là của riêng từng thành viên Sự thay đổi của các thành viên không ảnh hưởng gì đến tính chất độc lập của tổ chức Đồng thời, khi tham gia vào các quan hệ dân sự thời bấy giờ các tổ chức nói trên luôn thể hiện với tư cách là một chủ thể thông qua người đại diện, nhân danh cho tổ chức chứ không phải cho cá nhân Tuy nhiên, trong thời kỳ La Mã cổ đại khái niệm về pháp nhân chưa thực sự hình thành
Khái niệm pháp nhân và các quy định về pháp nhân chỉ thực sự phát triển trong giai đoạn thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản - giai đoạn mà luật thương mại xuất hiện, nó hiện diện trong hệ thống pháp luật ở các nước châu Âu lục địa như là một nhánh trong cây đại thụ là luật dân sự Trong khoa học luật dân sự trên thế giới đã xuất hiện những học thuyết về pháp nhân như: Học thuyết giả tưởng (Học thuyết giả tưởng cho rằng pháp nhân không có ý chí mà chỉ có con người mới
có ý chí, nên con người mới là chủ thể thực sự của các quyền, nếu tổ chức có tư cách pháp nhân thì điều đó có nghĩa là tổ chức có một ý chí Như vậy đã tạo ra một
sự giả tưởng); học thuyết thực tại (Học thuyết thực tại cho rằng pháp nhân không phải là sự tạo lập của người làm luật mà là một thực tế phải được thừa nhận Pháp nhân phải có các quy tắc về đời sống pháp lý, về sự điều hành và phải được công nhận về danh tính, quốc tịch và cư xử)… Qua các quan điểm, các học thuyết về pháp nhân, mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng tựu trung lại các pháp nhân vẫn được coi là một chủ thể pháp luật đích thực bởi vì pháp nhân cũng có những đặc điểm thể hiện năng lực chủ thể
Thứ nhất, việc hình thành pháp nhân làm cho đời sống pháp luật được đơn
giản hơn Nếu chỉ có cá nhân là chủ thể pháp luật mà không có pháp nhân thì khi đó, mỗi thể nhân thành viên sẽ phải tham gia vào việc ký kết các giao dịch pháp lý Điều này sẽ xảy ra một tình huống vô cùng phức tạp rằng: Một người đi mua một chiếc xe
ô tô sẽ phải ký hợp đồng với hàng triệu cổ đông có vốn trong công ty cổ phần có xe bán Hậu quả đó đủ để chứng minh rằng việc hình thành pháp nhân là cần thiết Bởi
vì, việc hình thành pháp nhân sẽ cho các bên có thể trực tiếp làm việc với pháp nhân, tức là làm việc với một đầu mối
Trang 21Thứ hai, việc hình thành pháp nhân làm cho đời sống pháp luật được ổn định
và lâu dài Đây là một yếu tố hết sức quan trọng Có những pháp nhân tồn tại lâu dài hơn rất nhiều so với đời sống của một con người, điển hình là các công ty, doanh nghiệp có thể tồn tại hàng thế kỷ
Thứ ba, việc củng cố địa vị cho các tổ chức kinh tế bằng phương tiện pháp
lý để các tổ chức này tham gia vào các quan hệ dân sự, thương mại là nhu cầu cấp thiết với các loại hình tổ chức khác nhau Để xác định tư cách pháp lý độc lập cho các tổ chức này và tránh rủi ro trong kinh doanh đòi hỏi phải tạo ra một khả năng về sự tách bạch về tài sản giữa phần đưa vào lưu thông và phần còn lại
mà chủ sở hữu có nhu cầu sử dụng vào các mục đích khác Khi thực hiện nguyên tắc tách bạch về tài sản cũng là khi xuất hiện một nhân cách pháp lý mới tách bạch với nhân cách của chủ sở hữu hoặc cộng đồng sở hữu Để đặt tên cho nhân cách pháp lý mới đó, khái niệm pháp nhân ra đời
Tuy nhiên, không có một định nghĩa chung về pháp nhân ở bất cứ pháp luật của một nước nào mà chỉ dừng lại ở việc quy định các dấu hiệu của pháp nhân với
tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, đó là pháp nhân tồn tại không phụ thuộc vào sự thay đổi các thành viên trong pháp nhân đó Vì vậy, pháp nhân được
coi là “cá thể riêng biệt”, có tài sản riêng độc lập với tài sản của các thành viên của
nó, có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản và thực hiện những hành vi pháp
lý nhân danh mình; có quyền làm nguyên đơn, bị đơn trước Tòa án, có trách nhiệm độc lập về tài sản
Ở Việt Nam, luật cổ Việt Nam không có khái niệm pháp nhân Pháp nhân là một chế định pháp lý du nhập Qua mỗi thời kỳ đều đánh dấu sự thay đổi lớn về quan điểm pháp lý ở Việt Nam Trong thời kỳ Pháp thuộc và thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chế định pháp nhân là vấn đề pháp lý ít được nhắc đến và đều phục vụ cho chủ trương chính sách quản lý và ký kết hợp đồng kinh tế, tức là với mục đích rất hẹp Đồng thời, quy chế về pháp nhân không được xây dựng trên nền tảng khoa học mà được ban hành nhằm phục vụ cho mục tiêu chủ quan của nhà nước Thời kỳ này, các quan hệ dân sự chưa phát triển, nhiều quan hệ kinh tế của
Trang 22nền kinh tế thị trường chưa được đặt ra như phá sản, giải quyết tranh chấp về hợp đồng kinh tế nên chế định pháp nhân chưa được quy định đầy đủ ở các khía cạnh pháp lý của nó Trong thời kỳ kinh tế thị trường, nền kinh tế nước ta đã bắt đầu có những chuyển biến tích cực theo hướng kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước BLDS đã quy định khái niệm pháp nhân với những nội dung cụ thể Theo quy
định tại BLDS: “Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện
sau: Được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với
cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập” [20, Điều 84]
Từ phân tích trên, khái niệm pháp nhân được hiểu là một tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật một quốc gia nhằm thực hiện những chức năng hoặc mục đích nhất định
- Khái niệm pháp nhân nước ngoài
Trong tư pháp quốc tế của hầu hết các nước trên thế giới đều thống nhất quan điểm cho rằng việc xác định như thế nào là pháp nhân nước ngoài phải dựa vào dấu
hiệu quốc tịch của pháp nhân Trong cuốn “Bình luận Bộ luật Dân sự Nhật Bản” của Xaca Vacaxum và Tori Aritdumi có viết: “Pháp nhân nước ngoài là những pháp
nhân không phải là pháp nhân Nhật Bản” [48] Trong khoa học về tư pháp quốc tế
Việt Nam cũng thừa nhận, pháp nhân nước ngoài là tổ chức hưởng tư cách pháp nhân theo pháp luật nước ngoài và được công nhận là có quốc tịch nước ngoài
Quốc tịch của pháp nhân là một trong những dấu hiệu thuộc về thân phận pháp lý của một pháp nhân Điều đó thể hiện ở mối liên hệ pháp lý gắn bó, ràng buộc giữa một pháp nhân với một nhà nước nhất định Khi pháp nhân mang quốc tịch một nước nào đó, thì khi hoạt động ở nước ngoài pháp nhân được nhà nước mà mình mang quốc tịch đứng ra bảo hộ về mặt ngoại giao Hơn nữa, yếu tố quốc tịch của pháp nhân còn quyết định đến thân phận của chính pháp nhân Tức là, mọi việc liên quan đến vấn đề chia, tách, sáp nhập, giải thể và phá sản của pháp nhân đều do pháp luật của chính nước mà pháp nhân mang quốc tịch quyết định
Khác với cá nhân (thể nhân), việc xác định quốc tịch của pháp nhân không
Trang 23phải là chuyện đơn giản mà đôi khi còn hết sức phức tạp Dưới góc độ luật quốc tế, việc xác định quốc tịch đối với thể nhân là kết quả của sự kết hợp hai nguyên tắc cơ bản trong lĩnh vực quốc tịch Đó là, nguyên tắc quyền huyết thống (nguyên tắc Jus sanguinis) và nguyên tắc quyền nơi sinh (nguyên tắc Jus soli) Nhưng đối với pháp nhân thì việc xác định quốc tịch không thể dựa vào hai nguyên tắc nói trên Hiện nay, pháp luật của các nước có quy định những tiêu chí xác định quốc tịch của pháp nhân khác nhau Chính điều này cũng đã dẫn đến xung đột pháp luật trong pháp luật của các nước Chẳng hạn, theo quy định của pháp luật Pháp thì một công ty đặt trụ
sở giao dịch ở Pháp thì mang quốc tịch Pháp Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 quy
định: “Mọi công ty có trụ sở trên lãnh thổ Pháp thì phải tuân theo pháp luật Pháp”
[17, Điều 1838] Tiêu chí này gây ra tranh cãi bởi vì một pháp nhân có thể tiến hành phần lớn các hoạt động của mình tại một quốc gia khác ngoài quốc gia nơi đặt trụ
sở giao dịch Pháp luật của Anh, Mỹ quy định rằng quốc tịch của pháp nhân được xác định dựa trên cơ sở nơi đăng ký điều lệ của pháp nhân khi nó thành lập Pháp luật một số nước lại xác định quốc tịch của pháp nhân tuỳ thuộc vào nơi tập trung hoạt động chính của pháp nhân
Đối với Việt Nam, pháp luật không có điều khoản nào quy định các nguyên tắc riêng để xác định quốc tịch của pháp nhân, nhưng nếu xem xét các quy định khác của pháp luật như: Tại khoản 1 Điều 765 BLDS quy định về căn cứ để xác
định năng lực pháp luật của pháp nhân nước ngoài: “Năng lực pháp luật dân sự của
pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó được thành lập” [20]; khoản 20 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định:
“Quốc tịch của doanh nghiệp là quốc tịch của nước, vùng lãnh thổ nơi doanh nghiệp thành lập, đăng ký kinh doanh” [21]; khoản 1 Điều 16 Luật Thương mại
năm 2005 quy định: “Thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập,
đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận” [23]; theo Điều 3 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày
15/11/2006 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành các quy định của BLDS về
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, tại khoản 4 quy định: “Cơ quan, tổ chức nước
Trang 24ngoài là các cơ quan, tổ chức không phải là cơ quan, tổ chức Việt Nam được thành lập theo pháp luật nước ngoài, bao gồm cả cơ quan, tổ chức quốc tế được thành lập theo pháp luật quốc tế”, tại khoản 5 quy định: “Pháp nhân nước ngoài là pháp nhân được thành lập theo pháp luật nước ngoài” [1] Như vậy, pháp luật Việt Nam
đã gián tiếp thừa nhận nguyên tắc xác định quốc tịch của pháp nhân tùy thuộc vào
“nơi thành lập” của pháp nhân Do đó, doanh nghiệp có vốn 100% nước ngoài hay
doanh nghiệp liên doanh thành lập theo Luật Đầu tư năm 2005 thì đều mang quốc tịch Việt Nam Ngoài ra, những pháp nhân không có quốc tịch Việt Nam thì đều coi
là pháp nhân nước ngoài
Từ phân tích trên, khái niệm pháp nhân nước ngoài là pháp nhân được thành lập ở nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài nhưng thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam, hoặc có các hoạt động thương mại tại Việt Nam
- Xác định quốc tịch của pháp nhân
Mỗi pháp nhân luôn chịu sự điều chỉnh của một hệ thống pháp luật nhất định Nói cách khác, không có pháp nhân nào nằm ngoài sự điều chỉnh của một hệ thống pháp luật của một quốc gia Việc xác định quốc tịch của pháp nhân không chỉ
có ý nghĩa để phân biệt pháp nhân nước này với pháp nhân nước khác, mà đây còn
là cơ sở mang tính nền tảng cho mọi vấn đề liên quan đến quy chế pháp lý của pháp nhân, cũng như để xác định pháp luật điều chỉnh năng lực chủ thể của pháp nhân khi tham gia vào quan hệ pháp luật có tính chất quốc tế Tuy nhiên, trên thực tế khái
niệm “quốc tịch của pháp nhân” ít được sử dụng hơn so với quốc tịch của cá nhân
Mối liên hệ giữa pháp nhân với hệ thống pháp luật một nước được thể hiện ở chỗ pháp nhân phải được thừa nhận theo pháp luật một nước có tư cách pháp lý (tư cách pháp nhân), theo đó, pháp nhân đương nhiên phải tuân thủ một số quy định (các điều kiện được cấp phép) và được pháp luật dành cho một số quy chế pháp lý
mà cụ thể là các quyền và nghĩa vụ theo pháp luật nước này Tư pháp quốc tế gọi đây là hệ thống pháp luật nơi thành lập pháp nhân (Lex Societatis) [32] Tuy nhiên, cần phân biệt vấn đề quốc tịch của pháp nhân và việc công nhận pháp nhân có tư cách chủ thể là hai vấn đề liên quan gần gũi nhưng có sự khác biệt Thông thường,
Trang 25pháp nhân có quốc tịch một nước sẽ đương nhiên được công nhận có tư cách chủ thể theo pháp luật nước đó
Mỗi nước dựa trên các tiêu chí khác nhau để xác định quốc tịch cho pháp nhân Hiện nay trên thế giới có các trường pháp xác định quốc tịch của pháp nhân như sau:
- Thuyết nơi thành lập pháp nhân: Theo thuyết này, quốc tịch pháp nhân được xác định theo nơi pháp nhân thành lập, nơi cấp phép, nơi làm các thủ tục đăng ký pháp nhân Đây là quan điểm được nhiều nước thừa nhận như các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật Anh - Mỹ và một số quốc gia thuộc Liên Xô cũ…
- Thuyết nơi đặt trụ sở chính của pháp nhân: Quốc tịch của pháp nhân được xác định theo pháp luật nước nơi đặt trụ sở chính của công ty Các quốc gia theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa như Pháp, Đức, Ba Lan… lựa chọn theo thuyết này
là cơ sở xác định quốc tịch của pháp nhân Đây là nơi pháp nhân có trụ sở chính của
cơ quan điều hành, nơi ban lãnh đạo làm việc trên thực tế chứ không phải trụ sở ghi trên giấy tờ kinh doanh
- Thuyết nơi pháp nhân thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh: Dựa trên tiêu chí nơi hoạt động để xác định quốc tịch của pháp nhân vì nhiều pháp nhân thành lập
ở nước ngoài nhưng lại hoạt động chủ yếu trên lãnh thổ quốc gia khác Đây chủ yếu
là các quốc gia Trung Đông mà nền kinh tế dựa vào khai thác dầu mỏ, nơi thực hiện nhiều hợp đồng khai thác dầu mỏ của công ty nước ngoài
Tóm lại, mặc dù pháp luật các nước khác nhau trong việc đưa ra các tiêu chí xác định quốc tịch của pháp nhân, có quan điểm cho rằng có xung đột phát luật trong việc xác định quốc tịch pháp nhân, nhưng trên thực tế vấn đề này rất hiếm xảy
ra, các học thuyết chủ yếu tập trung xem xét các vấn đề về pháp luật áp dụng đối với pháp nhân và các quyền, nghĩa vụ của pháp nhân
1.3 Khái niệm địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài
1.3.1 Định nghĩa
Định nghĩa “địa vị pháp lý” theo nghĩa hẹp được hiểu là tổng hợp các quyền
và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho một chủ thể pháp luật, tạo cho chủ thể đó có khả năng tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập
Trang 26Tuy nhiên, khi tìm hiểu về địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân nước ngoài,
cần phải tiếp cận khái niệm “địa vị pháp lý” với một phạm vi rộng hơn Theo nghĩa rộng, “địa vị pháp lý” là một khái niệm pháp lý phức tạp có nội dung rộng được thể
hiện ở nhiều yếu tố như quyền năng chủ thể (năng lực hưởng quyền và năng lực hành
vi của chủ thể), hệ thống quyền và nghĩa vụ pháp lý, cùng các nguyên tắc pháp lý làm
cơ sở xây dựng hệ thống quyền và nghĩa vụ pháp lý, các lợi ích hợp pháp cùng với những bảo đảm pháp lý đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể Trong đó thì quyền năng chủ thể, hệ thống các quyền và nghĩa vụ pháp lý, các lợi ích hợp pháp của chủ thể là những yếu tố cơ bản cấu thành nên địa vị pháp lý của chủ thể
1.3.2 Cơ sở xác định địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong tố tụng dân sự
Xuất phát từ chủ quyền quốc gia, tất cả các cá nhân cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia nhất định hay pháp nhân hoạt động trên lãnh thổ của quốc gia đó đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia sở tại mà không phân biệt cá nhân, pháp nhân đó có mang quốc tịch của nước sở tại hay không Nói cách khác, mỗi nước có thẩm quyền riêng biệt trong việc xác định chế độ pháp lý dành cho các bộ phận dân
cư sinh sống trên lãnh thổ của mình Địa vị pháp lý dành cho các bộ phân dân cư khác nhau đương nhiên sẽ không thể đồng nhất Sự khác biệt này được lý giải bởi mối quan hệ quốc tịch giữa các chủ thể với quốc gia sở tại Nói cách khác, các cá nhân có quốc tịch khác nhau thì sẽ có chế độ pháp lý khác nhau
Tuy nhiên các quốc gia đều bình đẳng với nhau về mặt chủ quyền nên việc quy định chế độ pháp lý dành cho cá nhân, pháp nhân nước ngoài được giải quyết theo nguyên tắc không phân biệt đối xử và trên cơ sở có đi có lại
Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, có nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến cá nhân nước ngoài, pháp nhân nước ngoài chỉ có thể giải quyết hiệu quả trên cơ sở các điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia hữu quan như địa vị pháp lý của những người hưởng quy chế ngoại giao lãnh sự, người hai quốc tịch… Chính vì vậy, khi xây dựng các chế độ pháp lý dành cho người nước ngoài, mỗi quốc gia cần tôn trọng nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế và các điều ước quốc tế mà nước đó là
Trang 27thành viên Đó chính là cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ mà người nước ngoài được hưởng, phù hợp với quy định của pháp luật nước sở tại
Theo thực tiễn và pháp luật của các nước trên thế giới, địa vị pháp lý của
cá nhân, pháp nhân nước ngoài nói chung và trong TTDS nói riêng được xây dựng trên các cơ sở: Chế độ đối xử như công dân; chế độ đối xử tối huệ quốc; chế độ đối xử đặc biệt và chế độ có đi có lại
- Chế độ đối xử như công dân (NT - National Treatment)
Đây là chế độ được thể hiện phổ biến trong luật pháp của đông đảo các quốc gia trên thế giới Nội dung cơ bản của chế độ này được hiểu như sau: Chế độ cho phép người nước ngoài được hưởng các quyền cũng như thực hiện các nghĩa vụ ngang hoặc tương đương với những quyền và nghĩa vụ mà công dân nước sở tại đang được hưởng và sẽ được hưởng trong tương lai (trừ những ngoại lệ theo pháp luật quy định trong các trường hợp cụ thể)
Có thể nói chế độ đối xử như công dân đã thể hiện được mối quan hệ giữa người nước ngoài với công dân nước sở tại Thể hiện được mối quan hệ bình đẳng
về hưởng quyền và nghĩa vụ giữa người nước ngoài với công dân nước sở tại Và hơn thể nữa chế độ đối xử như công dân cũng thể hiện việc tôn trọng nhân quyền của pháp luật nước sở tại dành cho những người không phải công dân nước mình
Thông thường, người nước ngoài được hưởng các quyền dân sự, lao động, thương mại và văn hóa như công dân nước sở tại Tuy nhiên, trong một số quan hệ
xã hội, người nước ngoài có quyền hạn chế hơn thậm chí không được hưởng các quyền mà công dân nước sở tại được hưởng: Ví dụ như: Quyền bầu cử, ứng cử, quyền theo học ở các trường an ninh, quân sự, quyền cư trú, quyền hành nghề… Những quy định này rất phổ biến trong pháp luật các nước, sở dĩ quy định như vậy
là để bảo vệ lợi ích và an ninh của quốc gia
Bởi vậy, khi người nước ngoài được hưởng chế độ đối xử như công dân thì vấn đề xác định địa vị pháp lý của người nước ngoài tại quốc gia sở tại phụ thuộc vào vấn đề xác định địa vị pháp lý của công dân sở tại và những vấn đề hạn chế về quyền của người nước ngoài so với công dân nước sở tại ở nước đó Những hạn chế như vậy
Trang 28đối với người nước ngoài khác nhau cũng không giống nhau, ví dụ như quy định đối với người nước ngoài định cư và người nước ngoài không định cư Tuy nhiên, nhìn từ góc độ pháp luật quốc tế, những hạn chế đó chỉ được chấp nhận khi nó không làm phương hại đến các chuẩn mực quốc tế về nhân quyền (ví dụ như những hạn chế đó không được dựa trên cơ sở phân biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo…)
Chế độ đối xử quốc gia thường được quy định trong luật pháp các nước Ở Việt Nam, theo Quyết định số 122/CP ngày 25/4/1977 của Hội đồng Chính phủ về
chính sách đối với người nước ngoài cư trú và làm ăn ở Việt Nam: “Ngoại kiều
được hưởng quyền sở hữu cá nhân về thu nhập hợp pháp, về tư liệu sinh hoạt và tư liệu sản xuất theo pháp luật Việt Nam”; “Ngoại kiều được quyền thừa kế tài sản theo pháp luật Việt Nam” [6, Điều 7, 8] BLDS quy định: “Người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật CHXHCN Việt Nam có quy định khác” [20, Điều 761, Khoản 2]
Ngoài ra, chế độ đối xử như công dân còn được ghi nhận trong các điều ước quốc tế song phương và đa phương như là các nguyên tắc pháp luật quốc tế nhằm bảo hộ pháp lý cho công dân các nước hữu quan làm ăn, sinh sống trên lãnh thổ của nhau Ví dụ như: Trong Hiệp định TTTP giữa Việt Nam và Bun-ga-ri tại khoản 1
Điều 1 quy định: “Công dân nước ký kết này được hưởng trên lãnh thổ nước ký kết
kia sự bảo hộ pháp lý về quyền nhân thân và quyền tài sản mà nước ký kết kia dành cho công dân nước mình” [39]; Hiệp định TTTP giữa Việt Nam và Nga tại khoản 1
Điều 1 quy định: “Công dân của bên ký kết này được hưởng trên lãnh thổ của bên
ký kết kia sự bảo hộ pháp lý đối với nhân thân và tài sản như công dân của bên ký kết kia” [43]… Trong các điều ước quốc tế đa phương như các công ước về quyền
sở hữu trí tuệ: Công ước Berne năm 1886, Công ước Giơnevơ 1952 về bảo hộ quyền tác giả, Công ước Pari năm 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, mà nội dung cơ bản của công ước này đều lấy nguyên tắc đối xử như công dân làm nền tảng bảo hộ trên cơ sở có đi có lại
Tuy nhiên, cũng như những quốc gia khác, chế độ đối xử quốc gia của Việt Nam dành cho người nước ngoài cũng có những hạn chế nhất định nhằm bảo đảm
Trang 29lợi ích và an ninh quốc gia Lấy ví dụ như vấn đề sở hữu và thừa kế tài sản, người nước ngoài được hưởng chế độ đối xử như công dân, có quyền và nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trong đó có quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác với tài sản theo Điều 766, Điều 767, Điều 768 BLDS Tuy nhiên, đối với tài sản là bất động sản ở Việt Nam người nước ngoài chỉ được hưởng một số quyền nhất định hạn chế hơn so với công dân Việt Nam theo khoản 2 Điều 9 và khoản 1, 2 Điều 125 Luật Nhà ở năm 2005
Ngoài ra, người nước ngoài có thể được được mua, nhận, tặng cho và sở hữu nhà ở tại Việt Nam nếu thuộc các đối tượng được quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 19/2008/QH12 ngày 03/6/2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam
Như vậy, chế độ đối xử quốc gia là cơ sở để xác định năng lực pháp luật của người nước ngoài tại nước sở tại
- Chế độ đối xử tối huệ quốc (MFN - Most Favoured Nation)
Chế độ đối xử tối huệ quốc là chế độ theo đó một nước dành cho công dân và pháp nhân của nước kia những quyền và ưu đãi đang hoặc sẽ dành cho công dân và pháp nhân của một nước thứ ba
Khác với chế độ đối xử quốc gia, chế độ đối xử tối huệ quốc được áp dụng chủ yếu trong các lĩnh vực hợp tác kinh tế, thương mại và hàng hải Chế độ tối huệ quốc dành riêng cho công dân và pháp nhân nước này hay nước kia cần phải được quy định rõ ràng và cụ thể trong các hiệp định quốc tế (thông thường là trong các hiệp định về thương mại và hàng hải, hiệp định thuế quan và mậu dịch, hiệp định về thị trường chung hay thị trường tự do…)
Nội dung cơ bản của chế độ tối huệ quốc thể hiện ở hai khía cạnh sau:
Thứ nhất, công dân nước ngoài được quốc gia sở tại dành cho sự đối xử đặc
biệt, bao gồm các quyền ưu đãi
Thứ hai, sự đối xử trên sẽ không kém thuận lợi hơn đối xử mà nước sở tại
dành cho công dân của một nước thứ ba
Ví dụ: Thuế nhập khẩu linh kiện xe máy vào Việt Nam được áp dụng ở mức
Trang 3050% Sau đó, Việt Nam ký kết hiệp định thương mại song phương với Nhật Bản, quy định mức thuế đối với linh kiện xe máy nhập từ Nhật Bản là 30% Khi đó nếu trong hiệp định về thuế giữa Việt Nam và Trung Quốc có quy định về việc hai bên dành cho nhau chế độ tối huệ quốc thì lúc này, mức thuế nhập khẩu đối với linh kiện xe máy từ Trung Quốc vào Việt Nam sẽ tự động và ngay lập tức được điều chỉnh xuống còn 30%
Theo chế độ tối huệ quốc thì công dân nước ngoài cũng như pháp nhân nước ngoài được hưởng đầy đủ và hoàn toàn các quyền hợp pháp mà một quốc đang hoặc
sẽ dành cho công dân, pháp nhân của bất kỳ một nước khác Như vậy, chế độ tối huệ quốc đảm bảo bình đẳng giữa các quốc gia Điều này thể hiện ở việc một quốc gia dành cho công dân cũng như pháp nhân của các nước các điều kiện và cơ hội ngang nhau trong thương mại, hàng hải và các quan hệ kinh tế khác nữa, đồng thời xóa bỏ mọi sự kỳ thị, phân biệt đối xử với các lý do khác nhau trong hoạt động thương mại quốc tế Ngoài ra, chế độ tối huệ quốc trong các hiệp định quốc tế còn củng cố và thúc đẩy sự hợp tác kinh tế thương mại và các quan hệ toàn diện khác giữa các quốc gia trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc hưởng chế độ đối xử tối huệ quốc mà nước sở tại dành cho công dân và pháp nhân nước ngoài luôn trên cơ sở các thỏa thuận quốc
tế giữa các nước hữu quan mà không có nghĩa là chế độ phổ cập đương nhiên mà nước sở tại dành cho công dân, pháp nhân nước khác Đồng thời, việc áp dụng chế
độ tối huệ quốc cũng có thể có các ngoại lệ nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia cũng như các giá trị truyền thống của dân tộc
Ở Việt Nam áp dụng chế độ tối huệ quốc trong những trường hợp sau: (1) Pháp luật Việt Nam có quy định về áp dụng đối xử tối huệ quốc; (2) Điều ước quốc tế
mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định áp dụng đối xử tối huệ quốc; (3) Quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trên thực tế đã áp dụng đối xử tối huệ quốc đối với Việt Nam; (4) Các trường hợp khác do chính phủ quy định [35] Tuy nhiên chế độ tối huệ quốc được ghi nhận trước hết và chủ yếu trong các điều ước quốc tế song phương và
đa phương mà Việt Nam là thành viên
Trang 31Đến nay, Việt Nam đã ký nhiều hiệp định đầu tư song phương với các quốc gia khác nhau Ngoài ra, Việt Nam cũng ký kết Hiệp định thương mại song phương với Mỹ (năm 2001) mà những cam kết liên quan đến đầu tư là một phần trong hiệp định này Là một phần trong các thỏa thuận đầu tư quốc tế này, những quy định liên quan đến đối xử tối huệ quốc của Việt Nam không có một khuôn mẫu thống nhất và thường nằm rải rác trong nhiều điều khoản khác nhau Mong muốn tạo sự thống nhất trong cách hiểu, quy định và áp dụng chuẩn mực đối xử này Ngày 25/5/2002,
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam đã đưa ra Pháp lệnh số UBTVQH10 về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế,
41/2002/PL-có hiệu lực ngày 01/9/2002 Theo đó, Việt Nam quy định các trường hợp và các lĩnh vực mà chế độ tối huệ quốc áp dụng là thương mại hàng hóa, thương mại dịch
vụ, đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ Cho đến nay, Pháp lệnh này vẫn là văn kiện pháp
lý cơ bản và toàn diện nhất, thể hiện thiện chí của Việt Nam, trong việc mong muốn việc cải thiện môi trường pháp lý tốt hơn
- Chế độ đối xử đặc biệt dành cho cá nhân nước ngoài
Theo chế độ này, cá nhân nước ngoài được hưởng các quyền và ưu đãi đặc biệt mà chính công dân của nước sở tại cũng không được hưởng Đồng thời, người nước ngoài cũng không phải chịu trách nhiệm pháp lý mà công dân nước sở tại phải gánh chịu trong các trường hợp tương tự
Người nước ngoài chỉ được hưởng chế độ đối xử đặc biệt này trên cơ sở pháp luật quốc gia của nước sở tại hoặc điều ước quốc tế mà nước này tham gia Trên thực tế, các chế độ đối xử đặc biệt này thường được áp dụng trong các quan hệ
về ngoại giao, quan hệ lãnh sự
Theo Điều 29 Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao thì nhân viên ngoại giao của nước ngoài ở nước sở tại được hưởng chế độ đặc biệt:
Thân thể của viên chức ngoại giao là bất khả xâm phạm Họ không thể bị bắt hoặc bị giam giữ dưới bất cứ hình thức nào Nước tiếp nhận cần có sự đối xử trọng thị xứng đáng với họ và áp dụng mọi biện pháp thích đáng để ngăn chặn mọi hành vi xúc phạm đến thân thể, tự do hay
phẩm cách của họ [14]
Trang 32Có thể thấy, nhân viên ngoại giao sẽ không bị bắt hoặc bị giam giữ tại nước sở tại dưới bất kỳ hình thức nào Đây là chế độ đối xử đặc biệt mà các nước tham gia công ước áp dụng cho nhân viên ngoại giao nước ngoài và công dân của nước sở tại
sẽ không thể được hưởng quyền này Hơn nữa, chế độ đối xử đặc biệt này còn quy định viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ xét xử về hình sự của nước tiếp nhận, họ cũng được hưởng quyền miễn trừ xét xử về dân sự và hành chính, trừ những trường hợp họ thực hiện với tư cách cá nhân hoặc ngoài phạm vi hoạt động của họ Ngoài ra, họ còn có thể không bắt buộc phải ra làm chứng Những quy định
về chế độ đối xử đặc biệt này nhằm mục đích tạo cho một hoặc một số cá nhân nước ngoài ở nước sở tại dễ dàng thực hiện các công việc chuyên môn nghiệp vụ mà nước
sở tại cảm thấy việc này là có lợi cho mình trong quan hệ quốc tế
Bên cạnh với việc được hưởng những chế độ đặc biệt, công dân nước ngoài còn có nghĩa vụ tôn trọng và tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật của nước sở tại Trong trường hợp vi phạm pháp luật họ có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật nước sở tại hoặc theo các điều ước quốc tế hữu quan mà nước này tham gia Việc này, nhằm đảm bảo chủ quyền và các lợi ích chính đáng của nước sở tại khi bị xâm hại
- Chế độ có đi có lại
Nội dung cơ bản của chế độ có đi có lại thể hiện ở chỗ là một quốc gia dành một chế độ pháp lý nhất định cho thể nhân và pháp nhân nước ngoài tương ứng như nước đó đã dành và sẽ dành cho công dân nước ngoài tương ứng như nước đó đã dành và sẽ dành cho công dân và pháp nhân của mình ở đó trên cơ sở có đi có lại
Chế độ có đi có lại thường được ghi nhận trong các điều ước quốc tế bởi lẽ các quốc gia muốn bảo đảm quyền và lợi ích của công dân và pháp nhân của nước mình ở nước ngoài
Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, chế độ có đi có lại được thực hiện dưới hai hình thức là có đi có lại thực chất và có đi có lại hình thức
Có đi có lại thực chất được hiểu là một nước dành cho thể nhân và pháp nhân nước ngoài một số quyền và nghĩa vụ hoặc những ưu đãi nhất định đúng bằng những quyền và nghĩa vụ giống như ưu đãi thực tế mà các thể nhân và pháp nhân của nước
Trang 33đó đã được hưởng ở nước ngoài kia Quy định trên đôi khi mới chỉ được áp dụng ở những nước có cùng chế độ kinh tế, chính trị, xã hội
Có đi có lại hình thức được thể hiện ở chỗ một nước dành cho thể nhân và pháp nhân nước ngoài một chế độ pháp lý nhất định như chế độ đãi ngộ như công dân hoặc chế độ tối huệ quốc mà ở nước ta đã giành cho công dân và pháp nhân nước mình một chế độ tương ứng như thế Quy định trên được áp dụng rất hữu hiệu giữa các quốc gia có chế độ chính trị, xã hội khác nhau
1.3.3 Đặc điểm địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân nước ngoài
- Đặc điểm địa vị pháp lý của cá nhân nước ngoài
Hiện nay, ở tất cả các nước trên thế giới, người nước ngoài được công nhận
là chủ thể của pháp luật dân sự (theo nghĩa rộng) nói chung và pháp luật TTDS nói riêng Điều đặc biệt ở đây là cá nhân nước ngoài vừa là chủ thể pháp luật dân sự và TTDS của nước sở tại, vừa là chủ thể pháp luật của nước mà người đó là công dân
Do đó, người nước ngoài này cùng một lúc họ phải tuân theo hai hệ thống pháp luật: pháp luật của nước nơi cư trú (nơi tạm trú) và pháp luật của nước nơi họ mang quốc tịch (nơi thường trú) Nhưng trước hết, họ vẫn phải tuân theo quy định của pháp luật nước sở tại nơi mà họ đang cư trú, sinh sống
- Đặc điểm địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài
Pháp nhân mang quốc tịch của một nước nhất định và được tổ chức và hoạt động theo pháp luật của nước đó Tuy nhiên, khi hoạt động với tư cách là pháp nhân nước ngoài ở một nước nào đó, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân trên lãnh thổ nước sở tại tuỳ thuộc vào quy định của pháp luật nước sở tại nhưng các vấn đề
về tổ chức, nội bộ, giải thể… thì vẫn theo quy định của pháp luật của nước mà pháp nhân mang quốc tịch
Việc cho pháp nhân nước ngoài vào hoạt động hay không, cho phép vào để tiến hành những hoạt động gì, trong lĩnh vực nào, ở phạm vi nào, cho pháp nhân đó hưởng thêm những quyền gì và có những nghĩa vụ gì cụ thể, là quyền của nước sở tại ký kết hoặc tham gia, ví dụ như theo Điều 16 Luật Thương mại Việt Nam năm
2005 thì pháp nhân nước ngoài chỉ có thể hoạt động ở Việt Nam dưới hai hình thức:
“Chi nhánh và Văn phòng đại diện” [23]
Trang 34Như vậy, đặc điểm địa vị pháp lý trong các quan hệ pháp luật nói chung và trong TTDS nói riêng của pháp nhân nước ngoài còn được thể hiện trước hết là cùng một lúc pháp nhân nước ngoài phải tuân theo hệ thống pháp luật của hai quốc gia là pháp luật của nước mà pháp nhân mang quốc tịch và pháp luật nơi pháp nhân hoạt động, trước hết là tuân theo pháp luật của nước sở tại
1.4 Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân
sự của cá nhân, pháp nhân nước ngoài
Năng lực pháp luật TTDS và năng lực hành vi TTDS là hai thuộc tính cơ bản của chủ thể pháp luật Chính vì thế, khi tìm hiểu địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân nước ngoài trong TTDS Việt Nam không thể bỏ qua việc giải quyết xung đột pháp luật về năng lực pháp luật và năng lực hành vi của các chủ thể này trong TTDS
Hiện nay, trong khoa học pháp lý của Việt Nam cũng như một số nước, năng lực pháp luật TTDS của cá nhân, pháp nhân nước ngoài là khả năng được hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ theo pháp luật quy định Còn năng lực hành vi TTDS của cá nhân, pháp nhân nước ngoài là khả năng của chính chủ thể đó bằng các hành vi của mình thực hiện các quyền và gánh vác các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật
1.4.1 Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân
sự của cá nhân nước ngoài
Về nguyên tắc, năng lực chủ thể của cá nhân sẽ do pháp luật nước mà cá nhân có quốc tịch điều chỉnh Tuy nhiên, do các nguyên nhân kinh tế, xã hội, đặc biệt với sự tác động của quá trình toàn cầu hoá phát triển mạnh mẽ, tồn tại một thực trạng dân cư có quốc tịch nước này nhưng lại làm ăn, sinh sống trên lãnh thổ quốc gia khác Điều đó đặt ra vấn đề pháp lý cần xem xét địa vị pháp lý của những cá nhân này tại quốc gia sở tại như thế nào Trên cơ sở mối quan hệ pháp lý quốc tịch, người nước ngoài được quốc gia mà họ là công dân bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp Tuy nhiên, khi người nước ngoài cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia khác, họ đồng thời đặt dưới sự bảo hộ của pháp luật quốc gia nơi cư trú Sự bảo hộ này ràng buộc các chủ thể phải tuân thủ pháp luật nước sở tại Vì vậy, năng lực
Trang 35hưởng quyền cũng như khả năng thực hiện các nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của người nước ngoài ở nước sở tại nói chung và trong lĩnh vực TTDS nói riêng vừa phải trên cơ sở pháp luật của nước mà họ mang quốc tịch, vừa phải trên cơ sở pháp luật của nước mà họ đang cư trú
- Năng lực pháp luật TTDS của người nước ngoài
Thông thường, ở các nước nói chung cũng như Việt Nam thì năng lực hưởng quyền của mỗi người ở nơi cư trú do pháp luật của nước nơi người đó cư trú quyết định Vì vậy, dẫn đến trường hợp một người nước ngoài có những quyền và nghĩa vụ nhất định ở nước mình là công dân, song lại không có các quyền và nghĩa vụ đó ở nước sở tại Việc chọn pháp luật để xác định năng lực hưởng quyền TTDS của người nước ngoài còn được đề cập trong một số điều ước quốc tế Khoản 1 Điều 15 Hiệp định TTTP giữa Việt Nam và Tiệp Khắc quy
định: “Năng lực sử dụng quyền và hành vi của công dân mỗi nước ký kết do
pháp luật của nước mà người đó là công dân quy định” [45]; khoản 1 Điều 28
Hiệp định TTTP giữa Việt Nam và Hung-ga-ri quy định: “Năng lực pháp lý và
năng lực hành vi được xác nhận theo pháp luật của nước ký kết mà đương sự là công dân” [40] Quy định này là bất hợp lý, vì một nước này không có quyền
quy định khả năng hưởng quyền và nghĩa vụ của công dân nước mình trên lãnh thổ của quốc gia khác Nếu xảy ra điều đó, thì quốc gia có quy định đã can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia sở tại, vi phạm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia của luật quốc tế Như vậy, sự quy định năng lực hưởng quyền của người nước ngoài rộng hay hẹp, trên cơ sở đãi ngộ quốc gia hay đãi ngộ đặc biệt… đều do pháp luật nước sở tại quyết định, sao cho phù hợp với yêu cầu và tình hình của đất nước
- Năng lực hành vi TTDS của cá nhân nước ngoài
Khác với năng lực hưởng quyền, năng lực hành vi TTDS của cá nhân nước ngoài là khả năng thực hiện quyền của các đương sự nước ngoài tại hệ thống pháp luật của một nước khác, năng lực hành vi này được xác định không theo một quy tắc thống nhất chung Các nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (Civil law) thường áp
Trang 36dụng tiêu chí quốc tịch, còn các nước theo hệ thống Anh - Mỹ (Common law) lại áp dụng tiêu chí nơi cư trú để xác định năng lực hành vi TTDS của người nước ngoài
Nhìn chung, thì một người có đủ năng lực hành vi ở nước mình thì cũng có
đủ năng lực hành vi ở nước khác Theo pháp luật của nước mình người đó bị hạn chế năng lực hành vi ở nước mình thì không hẳn bị hạn chế năng lực hành vi ở nước khác, nếu như sự hạn chế đó không đúng như nội dung pháp luật nước sở tại Đối với người không mang quốc tịch, năng lực hành vi thường do luật pháp của nước
mà người đó có mối quan hệ chặt chẽ trong thực tế quy định
Trong từng mối quan hệ xã hội cụ thể được pháp luật điều chỉnh thì người nước ngoài được hưởng những quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp cụ thể Song nội dung của các quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp đó của người nước ngoài ở từng quan hệ, còn phụ thuộc vào pháp luật của nước nào sẽ được áp dụng
1.4.2 Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân
sự của pháp nhân nước ngoài
Pháp luật TTDS nói riêng và pháp luật dân sự nói chung chỉ đề cập đến năng lực pháp luật TTDS của cá nhân nước ngoài mà không đề cập đến năng lực hành vi TTDS của pháp nhân nước ngoài, bởi vì pháp nhân thực hiện các quan hệ TTDS thông qua chế định người đại diện hợp pháp
Pháp luật các quốc gia trên thế giới đều quy định, năng lực chủ thể nói chung
và năng lực chủ thể trong TTDS nói riêng của pháp nhân chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia mà pháp nhân có quốc tịch Tuy nhiên, pháp nhân hoạt động trên lãnh thổ của một quốc gia khác thì hoạt động của các pháp nhân này sẽ đồng thời tuân thủ pháp luật quốc gia nước sở tại nơi pháp nhân thực tế hoạt động Vì vậy, năng lực hưởng quyền cũng như khả năng thực hiện các nghĩa vụ của pháp nhân nước ngoài ở nước sở tại vừa phải trên cơ sở pháp luật nước mà pháp nhân mang quốc tịch, vừa phải trên cơ sở của pháp luật nước nơi pháp nhân thực tế hoạt động Hiệu lực điều chỉnh của pháp luật nước sở tại đối với việc xác định năng lực chủ thể pháp nhân nước ngoài dựa trên cơ sở dấu hiệu nơi có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc nơi thực hiện hoạt động của pháp nhân
Trang 371.5 Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân
sự của cá nhân, pháp nhân nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
BLTTDS năm 2004 đã quy định về năng lực pháp luật và năng lực hành vi của đương sự Theo đó, tại khoản 1 Điều 57 BLTTDS năm 2004, năng lực pháp luật TTDS là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong TTDS do pháp luật quy định Năng lực pháp luật TTDS là điều kiện cần để một chủ thể trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật TTDS [3]
Nội dung của năng lực pháp luật TTDS là các quyền và nghĩa vụ TTDS mà pháp luật quy định cho đương sự Nhìn chung, pháp luật TTDS của các nước và pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành đều quy định mọi cá nhân, tổ chức có năng lực pháp luật TTDS như nhau trong việc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Việc pháp luật ghi nhận mỗi quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương
sự là nhằm bảo đảm cho đương sự có điều kiện tốt nhất, thuận lợi nhất để tham gia
tố tụng nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp về nội dung của mình
Điều 56 BLTTDS năm 2004 không quy định về thời điểm bắt đầu, chấm dứt năng lực pháp luật TTDS của đương sự Tuy nhiên, về nguyên tắc năng lực pháp luật TTDS có liên quan mật thiết với năng lực pháp luật dân sự Vì vậy, năng lực pháp luật TTDS của cá nhân cũng xuất hiện từ khi cá nhân đó được sinh ra và mất
đi khi cá nhân đó chết, năng lực pháp luật của tổ chức xuất hiện khi tổ chức đó được thành lập và chấm dứt khi tổ chức đó chấm dứt
Xuất phát từ địa vị pháp lý của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài trong quan hệ tư pháp quốc tế, quyền và nghĩa vụ TTDS quốc tế của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài cũng được đảm bảo trên cơ sở nguyên tắc đối xử quốc gia nhằm đảm bảo sự bình đẳng cho các bên chủ thể khi tham gia tố tụng tại Toà án một quốc gia trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của mình trong các tranh chấp dân
sự quốc tế Theo BLTTDS năm 2004 quy định:
Công dân nước ngoài, người không quốc tịch, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế (sau đây gọi chung là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài) có quyền khởi kiện đến Toà án Việt Nam để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm hoặc có tranh chấp
Trang 38Khi tham gia tố tụng dân sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài có quyền, nghĩa vụ tố tụng như công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam
Đặc biệt, Nhà nước Việt Nam cũng có thể áp dụng nguyên tắc có đi
có lại để hạn chế quyền TTDS tương ứng của công dân nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài mà Toà án của nước đó đã hạn chế quyền tố tụng đối với công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam của đương sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài [19, Điều 406, Khoản 1, 2, 3]
1.5.1 Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân
sự của cá nhân nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
Như đã phân tích ở trên, năng lực pháp luật TTDS và năng lực hành vi TTDS của công dân nước ngoài, người không quốc tịch là khả năng có quyền và khả năng thực hiện quyền của các đương sự nước ngoài tại hệ thống Toà án Việt Nam Cụ thể, khi một tranh chấp phát sinh giữa một bên là chủ thể nước ngoài và một bên là chủ thể Việt Nam hoặc tranh chấp xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam thì dựa vào hệ thống pháp luật nào để xác định tư cách chủ thể của họ (ví dụ như liệu họ có quyền khởi kiện hay không, có quyền tham gia quá trình tố tụng tại các hệ thống cơ quan tư pháp Việt Nam hay không, có được thực hiện mọi biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay không…?)
Cơ sở pháp lý để bảo đảm quyền năng chủ thể của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài về cơ bản trước hết được ghi nhận trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết với các nước Hiện nay, các quy định về bảo hộ pháp lý cho công dân chủ yếu nằm trong các hiệp định TTTP Một trong những mục tiêu và nội dung của các hiệp định này là đảm bảo cho công dân hai nước ký kết được bảo hộ về mặt pháp lý, miễn cược án phí… tại hệ thống các cơ quan tư pháp của nhau
Ví dụ: Hiệp định TTTP giữa Việt Nam và Lào, tại Điều 1 quy định:
Công dân, pháp nhân của nước ký kết này được hưởng trên lãnh thổ của nước ký kết kia sự bảo hộ pháp lý về các quyền nhân thân và tài sản
mà nước ký kết kia dành cho công dân nước mình
Công dân, pháp nhân của nước ký kết này có quyền tự do liên hệ với
cơ quan tư pháp và các cơ quan khác có thẩm quyền về các vấn đề dân sự
Trang 39và hình sự của nước ký kết kia Họ có quyền trình bày ý kiến của mình, khởi kiện trước Toà án theo cùng những điều kiện như công dân của nước
ký kết kia [41, Điều 1]
Công dân của nước ký kết này không phải nộp một khoản tiền cược án phí nào chỉ vì họ là nguyên đơn hoặc là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến
vụ việc hoặc là người đại diện hợp pháp của những người đó trước Toà án của nước
ký kết kia mà không cư trú tại lãnh thổ của nước ký kết đó
Tuy nhiên, trong trường hợp không có điều ước quốc tế, năng lực chủ thể của người nước ngoài sẽ được xác định theo các nguyên tắc của luật TTDS Việt Nam, BLTTDS năm 2004 quy định:
1 Năng lực pháp luật TTDS và năng lực hành vi TTDS của công dân nước ngoài, người không quốc tịch được xác định như sau:
a) Theo pháp luật của nước mà công dân đó có quốc tịch; trong trường hợp công dân có quốc tịch Việt Nam và quốc tịch nước ngoài thì theo pháp luật Việt Nam; trong trường hợp công dân có nhiều quốc tịch của nhiều nước ngoài khác nhau thì theo pháp luật của nước nơi công dân đó sinh sống, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác; b) Theo pháp luật Việt Nam, nếu công dân nước ngoài cư trú, làm
ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;
c) Theo pháp luật của nước nơi người không quốc tịch cư trú, làm
ăn, sinh sống lâu dài;
d) Theo pháp luật Việt Nam, nếu hành vi TTDS được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam
2 Công dân nước ngoài, người không quốc tịch có thể được công nhận có năng lực hành vi TTDS trên lãnh thổ Việt Nam, nếu theo quy định của pháp luật nước ngoài thì họ không có năng lực hành vi TTDS, nhưng theo quy định của pháp luật Việt Nam thì họ có năng lực hành vi TTDS [19, Điều 407]
Như vậy, việc xác định năng lực pháp luật TTDS và năng lực hành vi TTDS của công dân nước ngoài, người không quốc tịch được phân chia thành các trường hợp sau:
Trang 40- Người có một quốc tịch nước ngoài thì năng lực pháp luật TTDS và năng lực hành vi TTDS được xác định theo pháp luật của nước mà công dân đó có quốc tịch
- Người vừa có quốc tịch Việt Nam vừa có quốc tịch nước ngoài thì xác định theo pháp luật Việt Nam
- Người có nhiều quốc tịch của nhiều nước ngoài khác nhau thì năng lực pháp luật TTDS và năng lực hành vi TTDS xác định theo pháp luật của nước nơi người không quốc tịch cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài
Điểm b và d khoản 1 Điều 407 BLTTDS năm 2004 quy định hai trường hợp năng lực pháp luật TTDS và năng lực hành vi TTDS của người nước ngoài được xác định theo pháp luật Việt Nam Các quy định này nhằm bảo đảm các quyền và nghĩa vụ tố tụng của công dân nước ngoài, người không quốc tịch đã có thời gian sinh sống lâu dài tại Việt Nam được đối xử công bằng như công dân Việt Nam cũng như bảo đảm triệt để nguyên tắc chủ quyền quốc gia khi hành vi TTDS được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam Cụ thể như sau:
- Nếu người nước ngoài cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài tại Việt Nam thì năng lực pháp luật TTDS và năng lực hành vi TTDS của công dân nước ngoài và người không quốc tịch được xác định theo quy định của pháp luật Việt Nam
- Nếu hành vi TTDS được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam thì năng lực pháp luật TTDS và năng lực hành vi TTDS của công dân nước ngoài, người không quốc tịch được xác định theo quy định của pháp luật Việt Nam [19]
BLTTDS năm 2004 cũng quy định trong trường hợp:
Công dân nước ngoài, người không quốc tịch có thể được công nhận có năng lực hành vi TTDS trên lãnh thổ Việt Nam, nếu theo quy định của pháp luật nước ngoài thì họ không có năng lực hành vi TTDS, nhưng theo quy định của pháp luật Việt Nam thì họ có năng lực hành vi TTDS [19, Điều 407, Khoản 2]
Quy định này tạo điều kiện cho người nước ngoài có cơ hội được tham gia các quan hệ TTDS tại Việt Nam
Ví dụ: Tư cách khởi kiện và tham gia tranh tụng của công dân Mỹ tại Toà án